1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay

110 464 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 43,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCTrang 1 Môi trường sản sinh tầng lớp giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta 6 0 Sự phát triển vể sô lượng doanh nghiệp và vốn đăng ký kinh doanh ở khu vực kinh tế tư nhân 9 3.1

Trang 1

Phạm Thị Hạnh

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Môi trường sản sinh tầng lớp giám đốc doanh nghiệp tư

nhân ở nước ta

6

0 Sự phát triển vể sô lượng doanh nghiệp và vốn đăng ký kinh

doanh ở khu vực kinh tế tư nhân

9

3.1 Doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp ngoài quốc doanh) 11

3.4 Chân dung xã hội giám đốc doanh nghiệp tư nhân 13

5 Phương pháp nghiên cứu chủn dung giám đốc doanh nghiệp

tư nhân

16

1.1 Độ tuổi của giám đốc doanh nghiệp tư nhân 18

1.2 Đặc điểm giới tính của giám đốc doanh nghiộp tư nhân 21

1.3 Trình độ học váh của giám đốc doanh nghiệp tư nhân 21

2.1 Xuất thân của giám đốc doanh nghiệp tư nhân xét theo tầng

lớp xã hội

27

2.2 Xuất thân của giám đốc doanh nghiệp tư nhân xét trong

quan hê với khu vực Nhà nước

Trang 3

4 Đầu tư vốn cho kinh doanh 41

4.2 Mối quan hệ giữa độ tuổi của giám đốc và vốn đầu tư 48

4.3 Mối quan hê giữa xuất thân của giám đốc và vốn đầu tư 51

4.4 Mối quan hệ giữa vốn đầu tư của giám đốc đã và chưa là cán

bộ công nhân viên Nhà nước

55

5 Kết quả kinh doanh (doanh thu) của giám đốc 56

5.3 Mối quan hệ giữa xuất thân của giám đốc và doanh thu 60

6 Khả năng nắm bắt các chính sách Nhà nước của giám đốc 63

7 Những suy nghĩ của giám đốc vể các chính sách của Nhà

nước

64

7.2 Ý kiến của Giám đốc đối với một số chính sách cụ thể 70

Chương in Nâng cao vị thế, phát huy vai trò xã hội của người giám

đốc doanh nghiệp tư nhân

83

I Đánh giá chung vé đội ngũ giám đốc doanh nghiệp tư nhân

ở nước ta hiện nay

83

n Một sô kiến nghị để tiếp tục phát triển đội ngũ giám đốc

doanh nghiệp tư nhân

Trang 4

M Ở Đ Ầ U

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI

Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được khảng định trons Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và lần thứ V II, Nhà nước ta đã thế chế hoá các chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tiến bước chấn hưng đất nước Khu vực kinh tế tư nhân trước đây có lúc không tồn tại, có lúc đóng vai trò rất phụ trong nền kinh tế, nay đã được đưa lên vị trí đáng kể và được yêu cầu đảm đương một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì khu vực tư nhân hiện đang là khu vực năng động nhất của nền kinh tế

Trong mấy năm gần đây, cùng với sự phát triển của thành phần kinh

tế tư nhản, trong cơ cấu xã hội nước ta đã xuất hiện mộl tầng lóp mới - đố

là tầng lớp các nhà doanh nghiệp tư nhân, hay các giám đốc, các chủ doanh nghiệp tư nhân Tầng lớp này hiện đang có mặt trong nhiều lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dán Sự hiện diện của họ đang được xem như một nhân tố mới đóng vai trò tích cực trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Họ chính là chủ thể hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân, là đầu não quyết định sự tồn tại và phát triển của khu vực này Do tính châì mới mẻ và tầm quan trọng của tầng lớp giám đốc doanh nghiệp

tư nhân trong điều kiện nước ta hiện nay, việc nghiên cứu về tầng lớp này

là một yêu cầu bức xuc đang được đặt ra BỞI vậy, việc nhận dạng chán

Trang 5

dune của họ để từ đó có căn cứ, cơ sơ khoa học cho sự định hướng phát triển tầng lớp này lả hết sức cần thiết và cấp bách.

2 MỤC ĐÍCH NGHIÈN c ứ u CỦA ĐỂ TÀI

- Phàn tích, mô tả một tập hợp các đặc điểm xã hội để nhận dạng chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhàn

- Đánh giá ưu, nhược điểm của đội ngũ giám đốc doanh nghiệp tư nhân trong điều kiện nước ta hiện nay

- Kiến nghị một số hiện pháp nhằm nâng cao vị thế, phát huy vai trò

xã hội của đội ngũ giám đốc doanh nghiệp tư nhân Sư kiến nghị này đối với cả hai phía: về phía giám đốc cần phát huy lợi thế, khắc phục nhược điểm của mình; về phía Nhà nước cần có chính sách cư xử thích hợp đối với tầng lớp này, giúp đỡ họ nhanh chóng có thể sánh kịp bạn bè các nước trong khu vực và trên thế giới

3 KHÁCH TH Ể, ĐỐI TƯỢNG, VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u CỦA ĐÊ TÀI

- Khách thể nghiên cứu : giám đốc doanh nghiệp tư nhân

- Đôi tượng nghiên cứu : nhữrm đặc trưng xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân

- Phạm vi nghiên cứu : các doanh nghiệp lư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần ở hai địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

4 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIẼN c ứ u

Xuất phát từ phương pháp luận xã hội học Mác xít nói chung, Luận văn

sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích

dữ liệu cấp 2; phương pháp toán thống kê; phương pháp mô tả; phương pháp

so sánh

Trang 6

5 GIỚI HẠN VẤN ĐỂ NGHIỀN c ứ u

Trong nghiên cứu nhận diện chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân, Luận văn tập trung nghiên cứu một tập hợp các đặc điểm

xã hôi quan trọng của giám đốc như sau:

- Đặc điểm nhân khẩu học : bao gồm các tiêu chí độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn của giám đốc

- Đặc điểm nguồn gốc xã h ộ i: gồm xuất thân của giám đốc, quan hệ của giám đốc với khu vực Nhà nước, và mối liên quan giữa các tiêu chí này

- Đặc điểm kinh tế - xã hội : mức vốn đầu tư, doanh thu, lý do thành

lập doanh nghiệp, khả năng nắm bắt các chính sách của nhà nước của giám

đốc, và một số tương quan.

- Đánh giá của giám đốc về môi trường kinh tế - xã hội của doanh nghiệp : những suy nghĩ của giám đốc đối với các chính sách của Nhà nước ; cảm nghĩ của giám đốc về tương lai phát triển của doanh nghiệp

6 KẾT CÀU CỦA LUẬN VÃN

Luận văn có tiêu đề: "VÀI NÉT VỀ CHÂN DUNG XÃ HỘI CỦA GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở NƯỚC TA HỆN Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 3 chương như sau:

- Chương 1 : Một số vân đề về cơ sở lí luận và phương pháp luận

- Chương 2 : Chân dung xã hôi giám đốc doanh nghiệp tư nhân

- Chương 3 : Nâng cao vị thế, phát huy vai trò xã hội của người giám

đốc doanh nghiệp tư nhân

Trang 7

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng c s VN, NXB

Sự thật, 1991, tr 118

(2) Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam nãm 1992 - NXB Sự thật 1992

Trang 8

những mô hình có tính chất hành chính phi kinh tế vào nền kinh tế, thừa nhận nội dung kinh tế đa dạng của quá trinh chuyển từ một nền kinh tế kém phát triển sang một nền kinh tế hàng hoá phát triển cao và phúc lợi dổi dào cho nhân dân Quá trinh đổi mới đó bao gồm nhiều giai đoạn với những trình độ đan xen khác nhau, đo hai yếu tô chính quy định, đó là sự tiến hoá tự nhiên của nền kinh tế tự túc sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, và sự hoà nhập của nền kinh tế dân tộc với những khuynh hướnơ khác nhau vào đời sống kinh tế thế giới hiện đại.

Chuyển từ nền kinh tê bao cấp kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh

tê thị trường nhiều thành phán có sự quản lý của Nhà nước đã dãn đến sự biến đổi trong cấu trúc các thành phần tham gia vào nền kinh tế Nếu như trước đây chúng ta chỉ có ba thành phần kinh tế cơ bản là kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và kinh tế hộ gia đình nông dân, thì nay đã xuất hiên ihêm thành phần kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức khác nhau

Với nhiều thành phần kinh tế như vậy, chủ trương của Đảng là phải đổi mới tư duy kinh tế, xoá bỏ những thành kiến trong đánh giá và đối xử với những người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Bậc thang giá trị phải căn cứ vào ai làm ra, làm nhiều hay ít, có chất lượng hay kém chất lượng đối với những của cải, dịch vụ và những việc có ích cho

xã hội, ai thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật đều được tôn trọng, được quyển hưởng thụ tương xứng với kết quả lao động và kinh doanh hợp pháp của họ

Chúng ta biết rằng sau năm 1954, trải qua thời kỳ cải tạo tư bản tư doanh, hầu như kinh tế bản tư nhân ở miền Bắc đã không còn tồn tại Đến cuối năm 1960, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư bản tư

Trang 9

doanh về cơ bán đã hoàn thành, 729 xí nghiệp tư nhàn đã chuyẻn thành

661 xí nghiệp công tư hợp doanh và 68 xí nghiệp hợp tác Còn ở miền Nam, từ sau ngày giải phóns 1975 đến đầu những năm 80, phần lớn trong tổng số hơn 700 công ty và 9000 cơ sở công thương nghiệp tu nhân ở khu Sài Gòn-Gia Định trước đây đã được cải tạo thành xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh, hoặc doanh nghiệp tập thể (1) Như vậy, tưởng chừng điều kiện kinh tế-xã hội cho sự tồn tại của thành phần kinh tế tư bản tư nhân không còn Tuy nhiên, diễn biến trong thực tế có điều khác, ơ miền Bắc, do điều kiện chiến tranh kéo dài và sự cần thiết phái duy trì một nền kinh tế bao cấp cho nên những mám mòng phát triển kinh tế lư bản tư nhàn không có điều kiện sản sinh Còn ở miền Nam, một bộ phận Lớn trong giới tư nhân có đủ vốn liếng, có kinh nghiệm quản lý truyền thống, có người thân, họ hàng ở nước ngoài hỗ trợ vẫn còn tồn tại Một bộ phận khác trong giới tiểu thương tiểu chủ cũng vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh

Xuất phát từ một môi trường kinh tế mới là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Đáng ta đã khảng định chính sách kinh tế và chính sách

xã hôi phải xuất phát từ cách nhìn nhận đó Như vậy, về mặt quan hệ xã hội và cơ cấu xã hội cũng tất yếu phải có những nhận thức mới, đánh giá mới Trong xã hội Việt Nam trong những năm hiện tại và so với những năm tháng trong thời kỳ kinh tế bao cấp kế hoạch hoá tập trung trước đây

rõ ràng là đã xuất hiện môt tầng lớp mới và khá đặc thù đòi hỏi chúng ta phải quan tâm nghiên cứu, đó là tầng lớp giám đốc doanh nghiệp tư nhân

(1) Hoàng Kim Giao, Kinh tế ngoài quốc doanh và chân dung một số nhà doanh nghiệp Việt Nam - Tạp chí Kinh tế và Dự báo (Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước), Hà Nội 1993, tr.52

Trang 10

2 S ự PH AT TRIỂN VÊ s ố LƯỢNG DOANH NGHIỆP VÀ V ố N ĐẢNG KÝ KINH DOANH Ở KHU vự c KINH TẾ T ư NHÂN

Từ sau khi Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty được ban hành (tháng 4-1991) đến nay số lượng doanh nghiệp và vốn đăng ký kinh doanh của khu vực ngoài quốc doanh đã có bước phát triển mạnh mẽ (xem bảngl,

2, 3)

Năm 1993 là năm "được mùa": 1993 so 1992 số doanh nghiệp đăng

ký mới tăng lên 4,7 lần, trong đó tăng mạnh nhất là các công ty trách nhiệm hữu hạn (4,8 lần) So với năm 1992, số doanh nghiệp tư nhân năm

1995 tăng khoảng 9 lần, số công ty ty trách nhiệm hữu hạn tăng khoảng hơn 9 lần, số công ty cổ phán tăng gần 2 lân rưỡi

Vốn đăng ký kinh doanh táng lên khá mạnh, vốn kinh doanh năm

1995 so với 1992 tăng 8,6 lần

Các số liệu cho thấy sự hưởng ứng chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, kết quả là số doanh nghiệp tư nhân và số vốn huy động vào

guồng máy sản xuất chung của khu vực này tăng lên mạnh mẽ Với quv

mô trên 20 nghìn doanh nghiệp tư nhân với tổng số vốn đăng ký kinh doanh gần 9 nghìn tỷ đồng, trên 5 0 % doanh nghiệp đạt mức thu thập bình quân đầu người trên 400 nghìn đồng/tháng, thu hút hàng vạn lao động thường xuyên và đóng góp đáng kể về mặt ngàn sách cho Nhà nước, phúc lợi cho xã h ộ i(1) , các doanh nghiệp tư nhân chiếm vị trí không nhỏ trong nền kinh tế quốc dân, và đã trở thành một tầng lớp khá đông đảo, đóng vai trò quan trọng trong xã hội

(1) Một vài tư liệu vẻ kinh tế tư nhũn - Tạp chí Kinh tô' và Dự báo, số tháng 11 /1995

Trang 11

Bảng 1: Sô lượng doanh nghiệp được cấp đàng ký kinh doanh phân

theo loại hình kinh doanh (Đơn vị tính doanh nghiệp)0 )

Bảng 2: Tốc độ phát triển số lượng doanh nghiệp ngoài quốc

doanh phân theo loại hình kinh doanh (N ăm trước = 100% )

158,6151,0125,5156,2

121,1127.4110.5 122,7

915,3927,9245,0903,2

Bảng 3: Vốn đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp phân theo

loại hình kinh doanh (Đơn vị tính : tỷ dồng)a)

2000,23598.81021.8 6620,8

2637,94750,41493,78882,0

(1 ) và (2) Số liệu các nãm chúng tối dựa trốn các tài liệu sau đây:

- Nãm 1992: Hoàne Kim Giao- Kinh tế ngoài quốc doanh và chân dung một số nhà doanh nghiệp- Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 1993

- Năm 1993 và 1994: Niên giám thống kê 1994

- Nãm 1995: Ban đăns ký doanh nshiệp Vụ Kế hoạch hoá Uy ban Kế hoạch Nhà nước- Tổne hợp số liệu doanh nghiệp đã đănạ ký tính đến 30/9/1995

Trang 12

3 MỘT SÒ KHẢI NIỆM c ơ BẢN.

3 1 D o a n h n g h iệ p tư n h à n (d o a n h n g h iệ p n g o à i q u ố c d o a n h )

Doanh nghiệp tu nhân là tổ chức kinh doanh do tư nhân sáng lập, đầu

tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu Đồng thời là một pháp nhân kinh tế hoạt dộng theo pháp luật và bình đảng trước pháp luật

Doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay bao gồm các loại hình nhưsau:

- Doanh nghiệp tư nhàn: là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tư chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của minh về mọi hoạt động của doanh nghiệp 11 '

- Công ty trách nhiệm hữu hạn và cồng ty cổ phần (gọi chung là công ty): là doanh nghiệp mà trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp, và chỉ chịutrách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi vốn của minh góp

(2)

vào công ty

3 2 G iá m đốc d o a n h n g h iệ p tư n h â n

Trước khi xác định khái niệm giám đốc doanh nghiệp tư nhân, cần lùm rõ khái niệm về giám đốc:

Giám đốc là người đứng đầu và là người điều hành một doanh nghiệp, chịu trách nhiệm hoàn toàn về sự tổn vong của doanh nghiệp trong thời gian mình phụ trách

(1 ) Luật doanh nghiệp tư nhủn được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua khoá VIII ngày 21/12/1990

(2) Luật Công ty được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua khoá VIII ngày 21/12/1990

Trang 13

Căn cứ vào các khái niệm về doanh nghiệp nr nhàn và giám đốc như

đã trình bày ở trên, chúng tôi rút ra khái niệm về giám đốc doanh nghiệp

tư nhàn như sau:

Giám đốc doanh nghiệp tư nhân (ở Việt Nam hiện nay) đa phần đồng thời là người sáng lập ra doanh nghiệp, đầu tư vốn và quản lý doanh nghiệp với tư cách là chủ sở hữu, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động kinh doanh của mình; là nsười đứng đầu và điều hành doanh nghiệp, nắm trong tay vận mệnh của doanh nghiệp

3.3 Chân dung xã hội

Nghiên cứu chân dung xã hội của một nhóm xã hội là một kiểu đặt vấn đề rmhiên cứu trong xã hội học Nó có thể được xem là một phương pháp nghiên cứu và trình bày thông dụng trong xã hội học, trong đó chỉ ra được một tập hợp hợp các đặc trưng xã hôi của nhóm Các đặc trưng xã hội có thể được rút ra từ các dữ liệu thống kê, định lượng và định tính Các đặc trưng xã hội này dược đo lường, được so sánh và phân tích trong mối liên hệ giữa chúng với nhau cũng như trong mối liên hệ của chúng với các biến số xã hội khác Tùy thuộc các công trình nghiên cứu khác nhau, người ta có thể xác định một tập hợp nhất định các đặc trưng xã hội của nhóm cần nghiên cứu, chảng hạn như những đặc trưng nhân khẩu học (tuổi, giới tính, học vấn, hôn nhân v.v ), nguồn gốc xã hội, nghề nghiệp,

và các đặc trưng kinh tế xã hội khác Nhằm đạt tới một trình độ phân tích

xã hội học nhất định, các công trinh nghiên cứu thuộc loại nàv cần phản ánh được hiện trạng cũng như xu hướng của chức năng, vai trò và vị thế xã hội c ủ a nhóm

Trang 14

Nsười ta thườrm nói đến tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân ở

Anh của Ảngghen như là một công trình xã hội học mẫu mực thuộc loại này Trong tác phẩm này Ảngghen đã để cập đến hoàn cảnh sống của giai cấp công nhân Anh qua phân tích, mô tả các điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt, các đặc điểm kinh tế xã hội của họ, và xa hơn nữa ông đã chỉ ra được sứ mệnh lịch sử của giai cấp này Đọc tác phẩm đó người ta có thể thấy được chân dung xã hội toàn diện của giai cấp công nhàn Anh trong thời kỳ công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa nửa đầu thế kỷ 19.

3 4 C h â n d u n g x ã h ộ i c ủ a g iá m đ ố c d o a n h n g h iệ p tư n h à n

Chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân bao gồm một tập hợp các đặc điểm xã hội như : đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm về nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế xã hội, v.v (xem sơ đồ 1)

4 GIỚI HẠN VẤN ĐỂ NGHIÊN c ứ u

Nhận dạng chân dung xã hội của một tầng lớp xã hội không phải việc

dỗ dàng, đặc biệt tầng lớp giám đốc doanh nghiệp tư nhân mà chúng tôi nghiên cứu ở đây lại là tầng lớp có nhiều đặc thù và mới xuất hiện Hơn nữa, do nằm trong điều kiện thiếu thốn thời gian, nguồn số liệa, kinh nghiệm nghiên cứu v.v cho nên trong Luận văn này chúng tôi chưa thể bao quát hết mọi vấn đề về lý luận và phương pháp luận cũng như các kết luận tuyệt đối chính xác về vấn đề nhận dạng chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay V ì vậy, trong Luận văn này chúng tôi tạm dừng phạm vi nghiên cứu ở một số giới hạn sau:

Trang 15

Sơ đổ 1 : Mô hình phân tích chân dung xă hội giám

đốc doanh nghiệp tư nhân

Trang 16

- Về đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu chân dung dám đốc doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp ngoài quốc doanh) thuộc cả 3 loại hình: doanh nghiệp tu nhân một chủ sở hữu, công ty trách nhiệm hữu hạn,

và công ty cổ phần

- V ề địa bàn nghiên cứu: Luận vãn chỉ nghiên cứu chân dung giám

đốc doanh nghiệp tư nhân ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích bước đầu khái quát chân dung giám đốc doanh nghiệp tư nhân nói chung ở đô thị nước ta

- V ề các chỉ báo nghiên cứu nhận dạng chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân: Do hạn chế của nguồn số liệu, nên trong luận văn này chủng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số đặc điểm xã hội quan trọng của giám đốc doanh nghiệp tư nhân như sau:

- Đặc điểm nhân khẩu học: bao gồm các đặc điểm về độ tuổi, giới tính trình độ học vấn của giám đốc

- Đặc điểm về nguồn gốc xã hội: gồm đặc điểm xuất thân của giám đốc; quan hệ của giám đốc với khu vực Nhà nước

- Lý do thành lập doanh nghiệp của giám đốc.

- Đặc điểm đầu tư vốn vào kinh doanh của giám đốc

- Kết quả kinh doanh của giám đốc (doanh thu)

- Khả năng nắm bắt các chính sách của Nhà nước của giám đốc

- Đánh giá của giám đốc về môi trường kinh tế - xã hội của doanh nghiệp

Trang 17

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u CHÂN DUNG GIÁM Đốc DOANH NGHIỆP

T ư NHÂN

l C ơ SỞ d ữ liệ u :

- Đô’ có được nhữrm số liệu ban đầu cần thiết cho mục đích nghiên cứu, Luận văn dựa vào 2 cuộc điều tra xã hội học về doanh nghiệp tư nhân của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tê Trung ương (thuộc u ỷ ban Kế hoạch Nhà nước) Tính cho đến nav, mới chỉ có 2 cuộc điều tra này là lớn nhất

và được tổ chức một cách khoa học nhất, khá đảm bảo tính chất đại diện của mẫu điều tra, do đó có khả năng suy rộng cho toàn bộ tập hợp nghiên cứu Sau đây là một số nét chính về hai cuộc điều tra:

a) Cuộc điều tra xã hội học của Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương tiến hành năm 1992 khảo sát trên một mẫu ngẫu nhiên bao gồm 300 doanh nghiệp tư nhân được chọn ngẫu nhiên ở hai địa bàn là thành phố Hà Nội (100 doanh nghiệp) và thành phố Hồ Chí Minh (200 doanh nghiệp)

b) Cuộc điều tra xã hội học của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương tiến hành nă m 1995 khảo sát trên một mẫu ngẫu nhiên bao gồm 700 doanh rmhiệp tư nhân được chọn ở 3 địa bàn là Hà Nội (226 doanh nghiệp), Hải Phòng (202 doanh nghiệp) và thành phố Hồ Chí Minh (272 doanh nghiệp)

Khách thể nghiên cứu của 2 cuộc điều tra nói trên là giám đốc doanh nghiệp tư nhân một chủ sở hữu, giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn, và giám đốc cồng ty cổ phần (vừa là một trong những chủ sở hữu doanh nghiệp, vừa là người điều hành) Các phương pháp thu thập thông tin được sử

Trang 18

dụng trong cuộc điều tra bao gồm: phươns pháp phỏnư váh miệng trưc tiếp các chủ doanh nghiệp dựa trên bảng hỏi (ăng-két) được gửi đến trước cho các chủ doanh nghiệp nshiên cửu; phương pháp phỏng vấn sâu qua hình thức toạ đàm; phương pháp nshiên cứu tư liệu; phương pháp quan sát.

Trong luận văn, khi sử dụng số liêu của cuộc điều tra 1995, chúng tôi

đã loại trừ số liệu của Hải Phòng để cố gắng tạo điều kiện so sánh giữa hai cuộc điều tra

Dù rằng cả hai cuộc điều tra đều do Viện Nghiên cứu Quán lv Kinh tê Truníi ương tiến hành và có khá nhiều nét tương đồng về phương pháp luận và nội dung, nhưng cũng còn tồn tại một số dị biệt Tại cuộc điều tra năm 1992, cơ quan chủ trì điều tra chú ý một cách toàn diện hơn về nhiều mặt khác nhau có liên quan đến doanh nghiệp tư nhân và giám đốc của doanh nghiệp Còn trong cuộc điều tra năm 1995, do yêu cầu nặng hơn về chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp tư nhân và chuẩn bị cho các chính sách kinh tế - xã hội mới của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ tới, cho nên

cơ quan chủ trì điều tra có phần coi nhẹ hơn việc thu thập các thông tin về giám đốc doanh nghiệp tư nhân, coi như về cơ bản đã có trong cuộc điều tra trước, nay chỉ bổ sung thêm một số điều

Trang 19

CHƯƠNG II

C H Â N D Ư N G X Ã H Ộ I G I Á M Đốc D O A N H

N G H I Ệ P T ư N H Â NNhư chương I đã nêu, để nhận diện chân dung xã hội người giám đốc doanh nghiệp tư nhân, cần nghiên cửu các đặc điểm xã hội của họ dưới những góc độ và chiều cạnh khác nhau Trong chương n, chúng tôi

sẽ lần lượt phân tích, khảo sát từng đặc điểm xã hội của người giám đốc doanh rmhiệp tư nhân

1 V À I Đ Ặ C Đ IỂM NHÂN KHAU HỌ C

1.1 Đ ộ tuổi của giám đốc doanh nghiệp tư nhân

Để đưa ra đặc trưng tổng quát về độ tuổi của giám đốc doanh nghiệp

tư nhân, chúng tôi nghiên cứu các chỉ tiêu: số trung bình, đô lệch chuẩn và

hệ số biến thiên Cách tính được trình bày trong phần Phụ lục của Luậnvăn

Kết quả tính toán'1} cho thấy độ tuổi bình quân của giám đốc doanh nghiệp tư nhân là 44,3 tuổi, sự biến thiên về độ tuổi là không quá lớn, chỉ

có 24 ,4 2% (về lý thuyết, hệ số biến thiên trên 3 3 % là khá phân tán) Độ tuổi phàn tán nhỏ thể hiện giám đốc doanh nghiệp tư nhân có độ tuổi khá tập trung ở một số nhóm tuổi nhất định Điều này thể hiện trong bảng số liệu sau : (xem Bảng 4)

(1) X e m Phụ lục 1

Trang 20

Báng 4: Độ tuổi của giám đốc doanh nghiệp tư nhân.

60 tuổi, nhưng trong khoảng đó, chủ yếu ở độ tuổi 31-50 (65%) Trong khi

đó, tỷ lệ giám đốc ở độ tuổi 20-30 và độ tuổi trên 60 lại thấp hản (xem bảng 4) Xét về mặt xã hội học và nhân khẩu học thì điều này cũng hợp với một quy luật là: thanh niên hăng hái nhưng chưa đủ kinh nghiệm và vốn liếng đế theo nghề kinh doanh; người già có đủ các điều kiện để chuẩn

bị cho kinh doanh như sự tích luỹ kiến thức, kinh nghiệm quản lý, vốn liếng nhưng tuổi tác đã cao, thể chất đã bắt đầu mệt mỏi, ít hăng hái chấp nhận rủi ro hơn, do đó nghề kinh doanh chưa hẳn là hấp dẫn đối với

đa số họ

Song tuy chiếm tỷ lệ thấp trong giới chủ doanh nghiệp, nhưng chưa hản những giám đốc ở độ tuổi 20-30 và độ tuổi trên 60 kinh doanh đạt

Trang 21

hiệu quả thấp hơn so với các nhóm tuổi khác bởi điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yêu tố, nhất là khi nhóm thiểu số đó đã được chọn lọc gia nhập đội ngũ các nhà kinh doanh thì chí ít họ cũng phải có những tố chất đặc biệt (như biệt tài, bí quyết kinh doanh, nghề gia truyền ) mà đối với lĩnh vưc kinh doanh, đó là điểm đáng coi trọng.

So sánh số liệu giữa hai thành phố cho thấy ở Hà Nội đội ngũ giám đốc doanh nghiệp tư nhân có độ tuổi "già" hơn so với Thành phố Hồ Chí Minh: nếu ở Hà Nội có 27% giám đốc ở độ tuổi 51-60 thì ở Thành phố Hổ Chí Minh tỷ lệ này chỉ bằng gần một nửa (12,5%); nếu ở Hà Nội có 15% ìĩiám đốc trên 60 tuổi thì ở Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này cũng khoảng bằng một nửa; và đối với các nhóm tuổi "trẻ" hơn thì ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ cao hơn so với Hà Nội (xem bảng 4) Độ tuổi bình quân của giám đốc ở Hà Nội là 47,2 tuổi với hệ số biến thiên là 24,07%; độ tuổi bình quân của giám đốc ở Thành phố Hổ Chí Minh là 42,85 tuổi với hệ số biến thiên 10,24%(1 \ Điều này cho thấy các giám đốc thành phố Hồ Chí Minh tập trung ở độ tuổi trẻ hơn so với Hà Nội Đây là một trong những yếu tố thể hiện diên mạo khác nhau của tầng lớp này ở hai miền.

Đội ngũ giám đốc ở độ tuổi trung niên, độ tuổi 41-50 chiếm đại đa

số trong giới chủ doanh nghiệp có lẽ phản ánh một thực tế đây là độ tuổi đang sung sức về nhiều mặt, có đủ bề dày kiến thức, kinh nghiệm quản lý,

và có sự tích luỹ nhất định về vốn liếng Lứa tuổi này đã từng có nhiều cơ hôi để trải qua nhiều nghề nghiệp khác nhau và cũng có nhiều điều kiện để lựa chọn cho mình một nghề thích hợp Họ là những người có đủ sức khoẻ

để phát huy năng lực của mình trong kinh doanh Tất cả những điều kiện

đó tạo thành hành trang để bắt đầu cuộc hành trình trên thương trường của

(1 ) X e m phụ lục 2 và 3

Trang 22

các nhà doanh nghiệp Nếu hành trang được chuẩn bị đầy đủ và kỹ càng, thì chuyến đi sẽ nhanh chóng tới đích và đạt kết quả tốt đẹp hơn Bởi một

lẽ khách quan đó mà các chủ doanh nghiệp ở độ tuổi 41-50 đã hiện diện trên thương trường đông đảo hơn so với các chủ doanh nghiệp ở độ tuổi khác.

ỉ 2 Đặc điểm giới tính của giám đốc doanh nghiệp tư nhãn

Kết quả điều tra năm 1995 của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương cho thấy trong toàn bộ chủ doanh nghiệp tư nhân được khảo sát thì

có 15,29% chủ doanh nghiệp là nữ.

Sự hiện diện ít ỏi của các nhà doanh nghiệp nữ trong giới chủ doanh nghiệp chứng tỏ một thực tế là vai trò của phụ nữ đối với việc tham gia hoạt động kinh tế chưa dược phát huy mạnh Thế nhưng, nhiêu phụ nữ đã trở thành chủ doanh nghiệp thì khả năng của họ đã được chứng tỏ bằng sự thành đạt trong kinh doanh Một trong những ví dụ phụ nữ kinh doanh giỏi

là bà Trần Thu Thuỷ, giám đốc Khách sạn Minh Tâm, thành phố Hổ Chí Minh Bà đã tạo cho mình một triết lý kinh doanh " lấy uy tín làm đầu" Cách kinh doanh của bà đã thể hiện những nét độc đáo, mang sắc thái riêng: "Tôi đã chọn con đường gian truân hơn Tôi đã làm công việc của một hướng dẫn viên du lịch, nhưng điểm giới thiệu chỉ là một nếp nhà của Việt Nam, nơi họ đến trọ, không là khách sạn, mà là một nếp nhà ấm

1.3 Trình độ học vấn của giám đốc doanh nghiệp tư nhân

Trình độ học vấn là một chỉ báo quan trong phản ánh sự phát triển của con người Học vấn cao là điều kiện để con người phát triển toàn diên,

(1 ) Quốc Vĩnh, Chống "sextour" vản đứng được, thời báo kinh tế Sài Gòn, số 28/95 (236) ngày 6/7/95.

Trang 23

dễ thích ứng với những biến đổi trong sản xuất, cũng như trong điều kiện khoa học kỹ thuật hiện nay Đối với giám đốc doanh rmhiệp tư nhân, hoạt động của họ chủ yếu bằng trí tuệ, giải quyết các vân đề trên cơ sở tổng hợp và có tính sáng tạo cao, do đó trình độ học vấn là cơ sở để giúp họ thích ứng với môi trường kinh doanh.

Giám đốc doanh nghiệp tư nhân với tư cách là nsười chịu trách nhiệm hoàn toàn vể sự tồn vong của doanh nghiệp do minh làm chủ, nên yêu cầu về năng lực hoạt động kinh doanh lại càng cần thiết hơn Điều đó đòi hỏi anh ta phải có một trình độ nhất định về học vấn.

Học vấn của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta vào thời điếm năm 1992 thể hiện như sau : (Bảng 5).

Bảng 5: Trình độ học vấn của giám đốc doanh nghiệp tư nhân.

Đơn vị tính : %

bô mẫu điều tra

Qua bảng số liêu trên cho thấy trình độ học vấn của đôi ngũ giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta khá cao Đa số giám đốc đạt trình dộ đại học trở lên (65,33 %), đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này là 75,5% Số giám đốc đạt trình độ trên đại học tuy chiếm tỷ lệ không lớn, nhưng con số 10,67% cũng phản ánh một khía cạnh xã hội đáng lưu tâm,

Trang 24

đó là sự chuyển dịch nghề nghiệp của những người có học vị, có Irình độ nghiên cứu khoa học sang hoạt động kinh doanh Vấn để này có hai mặt tốt và chưa hản đã là tốt Thông thường nhữnơ người được đào tạo trên đại học là để nhằm mục đích chuyên sâu nghiên cứu khoa học, nhưng họ lại không theo đuổi con đường đó mà chuyển sang kinh doanh Trên thực tế,

có thể có rất nhiều lý do khiến họ quyết định như vạy, nhưng có lẽ một trong những lý do tác động mạnh đến suy nghĩ và hành động của họ là sự trả công lao động cho nghiên cứu khoa học thấp, chưa đủ đáp ứng nhu cầu của họ Và điều này cũng phản ánh một hiện tượng xã hội đang diễn ra là

sự phí phạm chất xám của đất nước Song xét trên phương diện khác, thì

sự gia nhập đội ngũ các nhà kinh doanh của những người này là một dấu hiệu tốt Bơi lẽ sự bổ sung những gương mặt có trình độ cao, trí tuệ tốt vào tầng lớp các nhà doanh nghiệp tư nhân sẽ góp phần nâng cao chất lượng

cho tầng lớp này, giúp họ theo kịp bè bạn quốc tế Sự hiện diện của các giám đốc có trình độ trung cấp trở xuống với một tỷ lê không nhỏ (34,67%) cũng là lẽ đương nhiên bởi đây là nhóm xã hội đặc thù, khác với một số nhóm xã hội khác Với tư cách vừa là chủ sở hữu vừa là người điều hành doanh nghiệp, nhóm giám đốc doanh nghiệp tư nhân mà chúng ta

nghiên cứu ở đây khác với nghề giám đốc đi làm thuê phổ biến ở các nước

phát triển thường yêu cầu phải có trình độ học vấn Trong bối cảnh hiện nay của nước ta, yêu cầu đối với giám đốc doanh nghiệp tư nhân là phải vừa có "tài" vừa có "vốn" Theo chủng tôi tài năng bao hàm cả hai yếu tố:

có năng lực và có học vấn Song ở đây cần phân biệt sự khác nhau giữa

trình độ học vấncó học vấn. Khi nói đến trình độ học vấn có nghĩa là

nối đến sự tiêu chuẩn hoá đào tạo được thể hiên qua các văn bằng tốt nghiệp Trên thực tế, thông thường phần lỏm những người đã được qua đào tạo chính quy là những người có một hệ thống tri thức nhất định, có một trình độ học vấn nhất định Thế nhưng, có những trường hợp không được qua đào tạo chính quy mà lại tự học hỏi, tự đào tạo nâng cao tri thức, hiểu

Trang 25

biết của minh, những người này được gọi là người có học vấn bơi nền tản2

kiên thức của họ khá rộng lớn, ví dụ điển hình là trường hợp Honda ở Nhật Bàn Như vậy, "trình độ học vấn" không phản ánh được hết tri thức của con người Tuy nhiên, nó vẫn được sử dụng làm thước do thông dụng trong nghiên cứu bởi việc đo chỉ tiêu "có học vấn" khó khăn hơn Qua đó chúng ta có thể nhận thấy rằng nhữns giám đốc chưa tốt nghiệp đại học khôn 2 hoàn toàn là nhữns người kém hiểu biết

Nhìn chung, trình độ học vấn của đội ngũ aiám đốc doanh nghiệp tư nhàn ở nước ta năm 1992 khá cao, đặc biệt ở thành phố Hổ Chí Minh đa

số giám đốc đã tốt nghiệp đại học (63,5%) ở Hà Nội, tỷ lệ này thấp hơn (37%) là do một lực lượng lớn lao động có trình độ học vấn cao được thu hút vào khu vực nhà nước Kinh tế tư nhân tuy đang có xu hướng phát triển nhưng mới chỉ ở chặng đường đầu, do vậy lực lượng các giám đốc doanh nghiệp tư nhân có trình độ học vấn cao ở Hà Nội cũng chỉ chiếm một tỷ lệ nhất định trong cơ cấu chung

Trình độ học vấn của giám đốc tư nhân năm 1995 thể hiện qua bảng

số liệu sau (Bảng 6):

Bảng 6: Trình độ học vấn của giám đốc doanh nghiệp tư

nhân (doanh nghiệp ngoài quốc doanh)

Đ ơ n vị tính : %

Trình độ học vấn H à Nội Tp H ồ Chí Minh Tính chung toàn

bô m ấ u điều tra

Trang 26

So sánh trình độ học vấn của giám đốc doanh nghiệp tư nhản rứt ra

từ hai cuộc điều tra năm 1992 và 1995, chúng ta thấy dường như có sự biến đổi nhất định, đặc biệt ở Hà Nội Năm 1992, tỷ lệ giám đốc ở Hà Nội đạt trình độ đại học trở lên thấp hơn nhiều so với ở thành phố Hồ Chí Minh (ở Hà Nội là 4 5 % , ở thành phố Hồ Chí Minh là 75,5%), nhưng đến năm 1995 thì tỷ lệ này ngược lại ( ở Hà Nội là 7 3 % , ở thành phố Hồ Chí Minh là 54,4%) Tuy nhiên phải lưu ý rằng sự biến đổi này là do mẫu điều tra của hai cuộc khảo sát chưa có tính đồng nhất cao nên sự so sánh như vậy khòng hoàn toàn chính xác Nếu xét trình độ học vấn của giám đốc doanh nghiệp tư nhân theo loại hình doanh nghiệp, thì có sự chênh lệch rõ rệt giữa nhóm giám đốc doanh nghiệp tư nhân một chủ sở hữu và giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (gọi chung là công ty) (xem Bảng 6a)

Các số liệu ở bảng 6a và 6b cho thấy trình độ học vấn của giám đốc cồng ty cao hưn hẩn so với giám đốc doanh nghiệp tư nhân một chủ sở hữu, với tỷ lệ giám đốc đạt trình độ đại học trở lên ở công ty là 78,89%, còn ở doanh nghiệp tư nhân mà chủ sở hữu là 43,86% Căn cứ vào tính chất của loại hình doanh nghiệp, có thể lý giải rằng sở dĩ giám đốc doanh nghiệp tư nhân một chủ sở hữu đạt tỷ lệ trình độ đại học thấp hơn giám đốc công ty là vì đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân, giám đốc doanh nghiệp vừa đóng vai trò chủ sở hữu, vừa điều hành doanh nghiệp, do đó họ chỉ cần có vốn liếng là có thể bước vào kinh doanh được Còn giám đốc loại hình doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thì giám đốc đóng vai trò là một trong những chủ sở hữu công ty và là nsười được tín nhiệm điều hành công ty, do đó ngoài phần vốn góp, họ còn phải được trang bị tốt về trình độ học vấn, chuyên môn, khả năng kinh doanh để có thể đứng ra chịu trách nhiệm điều hành công ty trước các thành viên cùng góp vốn thành lập công ty Qua những số liệu và phân tích trên cho thấy đội ngũ giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay đang có chiều hướng được bổ sung, liên kết tạo thành một khối lực

Trang 27

lượng lao đổng sán xuất có trinh độ, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh

tế quốc dân

Bảng 6a Trình độ học vấn của giám đốc doanh

nghiệp tư nhân một chủ sở hữu

Đơn vị tính : %

Trình độ học vấn H à Nội Tp H ồ Chí Minh Tính chung toàn

bộ mẩu điều tra

Trình độ học vấn H à Nội Tp H ồ Chí Minh Tính chung toàn

bộ mẫu điều tra

Trang 28

trang bị nhiều kiến thức, trinh độ học vấn chỉ dừng lại ở mức thấp Song, điều này khỏng phải là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trên thươns trường, bởi vì trong hoạt động kinh doanh còn rất nhiều yếu tố khác chi phối Điều đáng lưu tâm ở đây là tuy rằng đội ngũ giám đốc doanh nghiệp

tư nhàn nước ta đa phần đã được trang bị trinh độ đại học trở lên, nhưng nếu nhìn nhận vấn đề này theo hoàn cảnh lịch sử thì trình độ đó chưa đảm bảo theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường Đặc biệt đối với tầng lớp giám đốc doanh nghiộp tư nhân ở miền Bắc vốn là sản phẩm của chế độ bao cấp Những kiến thức mà họ được trang bị vẫn còn mang đậm dấu ấn của nền kinh tế chỉ huy Bởi vậy, để thích ứng kịp thời với nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, để hoà nhập với xu hướng phát triển của thê giới hiện tại, các siárn đốc doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cần phải được đào tạo lại và đào tạo thêm nữa mới mong đạt được những kết quả khá quan

Trong quá trình giải phóng sức sản xuất đó, từ mọi tầng lớp dân cư đã dần dần xuất hiện các nhà doanh nghiệp tự bỏ vốn để góp phần làm giàu cho đất nước và cho chính mình Nguồn gốc xuất thân của tầng lớp giám đốc doanh nghiệp tư nhân nước ta rất phong phú: họ vốn là công nhản, trí thức,

Trang 29

thương nuhiệp và nông dàn Tất cả tập hợp lại tạo nên một bức tranh muòn mau muòn vẻ thể hiện diện mạo của một nhóm xã hội mới, nhóm giám đốc doanh nghiệp tư nhân Điều đó được minh chứng qua các số liệu sau (Bảng7):

Bảng 7: Nguồn gốc xuất thân của giám đốc doanh nghiệp tư nhàn

Nguồn: Cuộc điều tra năm 1992 của Viện N C Q LK TTW

Bảng sô liệu trôn cho thấy phần đông giám đốc doanh nghiệp tư nhàn trước đây vốn là công nhân (40,33%) và trí thức (34,67%) Số giám đốc xuất thàn từ thành phần thương nghiệp chiếm tỷ trọnsì thấp hơn (15,67%) Đặc biệt, tỷ lệ giám đốc trước đây là nông dân chiếm con sô rất ít ỏi (1% )

Sở dì nông dân chỉ là nhóm thiểu số trong cơ cấu chung nguồn gốc xuất thân của giám đốc doanh nghiệp tư nhàn là vì một lý do cơ bản: các giám đốc doanh nghiệp tư nhàn được nghiên cứu trong luận vãn chỉ giới hạn ở phạm vi khu vực đồ thị Do đó tuyệt đại đa số họ trước đây làm việc trong những ngành nghề phi nông nghiệp ở đô thị Tỷ lệ 1 % giám đốc có nguồn gốc xuất thân từ nông dân là trường hợp đặc biệt bởi hầu như nông dân rất hiếm có cơ hội để chuyển dịch nghề nghiệp và trở thành giám đốc

Điều đáng lưu tâm hơn là số giám đốc xuất thân từ thành phần thương nghiệp lại chiếm một tỷ lệ khá nhỏ: 15,67% Theo suy luận thông

Trang 30

ihưònu thì lẽ ra những người trước đây đã từng hoạt động kinh doanh phải

có nhiều lợi thế về kinh nghiệm kinh doanh, vốn liếng và dẻ có diều kiện

để trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân Thế nhưna, thực tế lại khác Có nhiều nguyên nhân khiến họ chưa hăng hái theo đuổi sự nghiệp kinh doanh của minh cả về mặt chủ quan lẫn khách quan Có thể do hoạt động kinh doanh ngày nav trong cơ chế thị trường đòi hỏi chủ doanh nshiệp phái có nhiều tiêu chuẩn khác mà nhóm thương nghiệp, trong đó đa số là những nơười làm ăn nhỏ được gọi là "tiểu thương" chưa đảm đương được, cho nên số nu ười được chọn lọc gia nhập đội ngũ giám đốc doanh nghiệp

tư nhàn chiếm tỷ lệ thấp Cũng có thể họ bị hạn chế về mặt tâm lý đối với môi trường kinh doanh do đã từng gặp phái nhiều khó khăn trong thời kỳ bao cấp nên nay họ e ngại, rụt rè chưa muôn tham gia

Xét theo địa bàn nghiên cứu ta thấy có sự khác nhau về nguồn gốc xuất thàn của giám đốc ở hai thành phố: Nếu ở Hà Nội số giám đốc trước đủy vốn là công nhân chiếm tỷ lệ đa số (57%) so với các nhóm thành phần xuất thàn khác, và cao hơn so với thành phô Hồ Chí Minh, thì ở thành phố

Hồ Chí Minh tỷ lệ giám đốc vốn là trí thức lại chiếm con số cao nhất so với các nhóm khác (40,5%) và cao hơn hẳn so với Hà Nội, ở Hà Nội tỷ lệ này chỉ bằng khoảng một nửa (23%) Tỷ lệ giám đốc có xuất thân từ thươns nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn so với Hà Nội, gấp khoảng 3 lần: nếu ở Hà Nội là 7 % thì ở thành phố Hồ Chí Minh là 20 %

2 2 X u ấ t th á n c ủ a g iá m đ ố c d o a n h n g h iệ p t ư n h à n x é t th eo q u a n

h ệ vớ i k h u vực N h à n ư ớ c

Số giám đốc trước đây đã từng làm cán bộ công nhân nhà nước chiếm một tỷ lệ đáng chú ý: Năm 1992 tỷ lệ này là 54,33%, trong đó ở Hà Nội chiếm 66%; thành phố Hồ Chí Minh chiếm 48,5% Năm 1995 tỷ lệ này là 56,29%, trong đó Hà Nội có tới 77,4 3%; thành phố Hồ Chí Minh chỉ có

3 1,6 2 % Như vậy, Hà Nội vẫn là nơi có nhiều giám đốc đã từng là cán bộ

Trang 31

còna, nhan viên nhà nước nhất Điều này cũng dẻ hiểu bởi Hà Nội vốn là nơi mà khu vực Nhà nước phát triển mạnh thu hút nhiều lao động, còn thành phô Hồ Chí Minh là nơi có nền kinh tế thị trường đã phát triển manh, tạo nên một lực lương khá đông chủ doanh nghiệp chưa từng tham gia làm việc ở khu vực Nhà nước.

Việc gia nhập đội n2Ũ các nhà doanh nghiệp tu nhân của lực lượng cán bộ công nhàn viên nhà nước phán ánh nhiểu khía cạnh xã hội, trong

đó một khía cạnh nổi bật là sự mạnh dạn, táo bạo của họ khi quyết định rời

bỏ khu vực Nhà nước để chuyển sang tư kinh doanh Điều này thể hiện rõ nét sự biến chuyến về mặt nhận thức của một bộ phận cán bộ công nhân viên nhà nước trong xã hội ta Đỏ cũng chính là điểm khởi đầu của sự đổi mới tư duy, gạt bỏ quan niệm cũ cho rằng muốn đóng vai trò tích cực trong xã hội phải làm việc trong cơ quan Nhà nước

Xét theo nguồn gốc xuất thân thì số giám đốc đã và chưa từng là cán

hộ công nhân viôn nhà nước được phân bố như sau (Bảng 8):

Bảng 8 : Mối quan hệ giữa xuất thân của giám đốc

vói khu vực Nhà nước.

Đơn vị tính: %

Đ ã là C B C N V N N Chưa là C B C N V N N Xuất thán Hà Nôi Tp H C M Chung Hà Nội Tp H C M Chung

Trang 32

Bản lí số liệu trôn cho thấy công nhàn và trí thức là hai lực lượng

đôns nhất từ khu vực Nhà nước chuyển sang khu vực tư nhân Đặc biệt ở

Hà Nội, tỷ lệ công nhân lèn tới 41% là con số cao nhất trong toàn bộ nhóm

cán bộ côn í nhùn viên nhà nước trở thành chủ doanh nghiệp được điều tra,

trong khi đó ở thành phô Hổ Chí Minh tỷ lệ này thấp hẳn (14%) Thế

nhưng, nếu nhìn nhận vấn đề trên bình diện chung thì giới trí thức là cán

bộ công nhàn viên nhà nước tham gia kinh doanh lại nhiều hơn cả, chiếm

tỷ lệ cao nhất: 28% Ở thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này cao hơn so với Hà

Nội (32% so với 20%).

Xốt theo loại hình doanh nghiệp thì số lượng chủ doanh nghiệp đã từng là cán bộ cồng nhan viên nhà nước và chưa là cán hộ công nhân viên nhà nước được phàn bố như sau (Bảng 9) :

Bảng 9 : Mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp đă là cán

bộ công nhân viên nhà nước và loại hình doanh nghiệp

Trang 33

Bảng 9 cho thấy đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, số giám đốc trước đây đã từng là cán bộ công nhân viên nhà nước chiếm tỷ lệ cao hơn so với sô giám đốc chưa từng là cán bộ công

nhân viên nhà nước Đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân một chủ sở hữu, thì số giám đốc đã và chưa từng là cán bộ công nhân viên nhà nước chiếm tỷ lệ tương đương.

Theo số liệu điều tra năm 1995 thì trong tổng số cán bộ cống nhân viên nhà nước trở thành chủ doanh nghiệp tư nhân, có 10,37% chủ doanh nghiệp trước đây đã từng là giám đốc doanh nghiệp nhà nước Tỷ lệ này ở

Hà Nội là 12,86%; thành phố Hồ Chí Minh là 7,07% Phần lớn trong số họ đều trở thành giám đốc công ty cổ phần, hoặc giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn có danh tiếng Điều này cũng dẽ hiểu bởi những người đã từng là giám đốc doanh nghiệp nhà nước có nhiều điều kiên (về mối quan

hệ, cơ sở vật chất, tinh thần, tâm lý kinh doanh ) và khả năng (kiến thức, kinh nghiêm, phương pháp quản lý, kinh doanh) để đảm đương cồng việc , điều hành loại hình doanh nghiệp khá phức tạp này.

2.3 Mối quan hệ giữa xuất thân của giám đốc doanh nghiệp tư nhân và loại hình doanh nghiệp

Nguồn gốc xuất thân của giám đốc doanh nghiệp tư nhân có ảnh

hưởng nhất định đến loại hình doanh nghiệp mà anh ta quyết định đăng ký

thành lập và hoạt động Qua điều tra thực tế cho thấy (xem bảng 10) đa số giám đốc loại hình doanh nghiệp tư nhân một chủ sở hữu xuất thân từ

công nhân (33%), tỷ lệ này tập trung cao nhất ở Hà Nôi (56%) Đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần thì phần lớn chủ doanh nghiệp xuất thân từ tầng lớp trí thức (18,67%) Loại hình doanh

nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn đòi hỏi giám đốc phải có trình độ

nhất định về tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh và đảm

Trang 34

đương các mối quan hệ đối nội, đối ngoại của doanh nghiệp, cỏn loại hình doanh nghiệp như công ty cổ phần yêu cầu mức trình độ cao hơn Giám đốc công ty cổ phần thường là người có kiến thức rộng về lĩnh vực tài chính, am hiểu sâu sắc mọi vấn đề thuộc thị trườns tài chính và tiền tệ, và cần phải có kha năng điều phối quản lý doanh nghiệp giỏi bởi kết quả hoạt đông kinh doanh của anh ta liên quan trực tiếp đến lợi ích của các thành viên có vốn góp và của bán thân anh ta với tư cách là một trong những chủ sở hữu công ty Do tính chất phức tạp và mới mẻ của loại hình doanh nghiệp này nèn hiện nay ở nước ta số lượng công ty cổ phần khôn® nhiều Cũrm do yêu cầu đặt ra đối với giám đốc công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn như đã nói trẽn đây nên đa sô giám đốc của các công ty này vốn xuất thân từ trí thức - là những người có thể đáp ứng được yêu cầu

đó nhiều hơn so với nhữno người xuất thân từ tầng lớp khác

Kết hợp xem xét hai Bảng số liệu 9 và 10, chúng tôi rút ra một nhận xét là phần lớn những giám đốc công ty (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn

và công ty cổ phần) là những người đã từng là cán bộ công nhân viên nhà nước và thuộc giới trí thức Điều đó cho thấy có một sự phàn định rõ rệt diện mạo của tầng lớp giám đốc doanh nghiệp tư nhân nước ta theo loại hình doanh nghiệp Các yếu tố nguồn xuất thân, quan hệ với khu vực Nhà nước dường như có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự lựa chọn loại hình doanh nghiệp của giám đốc Do vậy căn cứ vào yêu cầu của từng loại hình doanh nghiệp, diện mạo của giám đốc được thể hiện tương ứng

Trang 35

Bang 10 : So sánh xuâì thân của giám đốc và loại hình DN

Đơn vị tính: %

Xuất thân của chủ

Trang 36

3 LÝ DO THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP

Một nhà kinh doanh khi đi đến quyết định khởi sự doanh nghiệp đều

có những lý do riêng của minh Vậy những nguyên nhân nào khiến cho các giám đốc mà chúng ta đang nghiên cứu bắt đầu sự nghiệp kinh doanh của họ? Ta hãy xem xét kết quả điều tra sau (Bảng 11):

Bâng 11 : Lý do thành lập doanh nghiệp của giám

đốc doanh nghiệp tư nhân

Nguồn: Cuộc điều tra năm 1992 của Viện N C Q LK TTW

Hai phương án trả lời "do thích nghề kinh doanh" và "do hưởng ứng chính sách" có tỷ lệ tương đương (43,67%)

Số giám đốc cho biết thành lập doanh nghiệp do hưởng ứng chính sách ở hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có sự chênh lệch:

ở Hà Nội là 3 3 % ; ở thành phố Hồ Chí Minh là 4 9 % Trong khi đó, sự ham muốn kinh doanh là lý do dẫn đến việc thành lập doanh nghiệp của các giám đốc ở cả hai thành phố biểu hiện ở các tỷ lệ được phân bố tương đối đều: ở Hà Nội là 46%; ở thành phố Hồ Chí Minh là 4 2,5 % Rõ ràng là phần lớn các nhà doanh nghiệp tư nhàn đều có chung một sở thích là ham

Trang 37

muốn kinh doanh (43,67%) Tuy rằng đó chưa hản là lý do bức bách để thành lạp doanh nghiệp đối với một số trường hợp, nhưng với một tỷ lệ khá cao như vậy,cũng đủ chỉ ra rằng bất cứ một nhà doanh nghiệp nào khi bước chân vào thương trường cũng đều cố một niềm say mê nhất định trong kinh doanh và khát vọng mong muốn thành đạt Đây là một phẩm chất quan trọng đối với các nhà doanh nghiệp, đặc biệt ià các nhà doanh nghiệp tư nhàn, nó là động lực giúp họ vươn lên khắc phục những khó khăn để cải thiện số phận Nhà tâm lý học Mc Celldad và Winter đã chỉ ra: "Chì có người có nhu cầu thành đạt cao, chứ không phái là người có ít nhu cầu thành đạt mới đủ nghị lực phấn đấu để cải thiện số phận mình" Nhu cầu thành đạt cũng là động lực đế dẫn tới các hành vi làm giàu, tìm tòi các thủ thuật kinh doanh để tạo ra lợi nhuận, là cơ sở để duy trì sự ham muốn kinh doanh, sự tận tâm, tận ỉực"và sáng tạo trong kinh doanh.

Bên cạnh lý do ham muốn kinh doanh, thì sự hưởng ứng chính sách của Nhà nước cũng là một lý do hết sức quan trọng, chiếm tỷ lệ tương đương (43,67%) Điều đó thể hiện tinh thần tự lực, tự cường, tham gia xây dựrm sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của các nhà doanh nghiệp tư nhân nước ta Người xưa có câu "dân có giàu thì nước mới mạnh" Câu nói thích hợp với tư tưởng chủ đạo của các nhà doanh nghiệp tư nhân Việt Nam là: tham gia kinh doanh để làm giàu cho mình và cho đất nước, một mặt nâng cao đời sống cho gia đình mình, và mặt khác đóng góp của cải vật chất cho xã hội

(!) Peter T., Waterman R - Kinh nghiệm quản lý của các công ty tốt nhất nước Mỹ - Viện Kinh tế học, Hà Nội, 1989

Trang 38

Cũns có không ít giám đốc cho biết họ bước vào con đường kinh doanh bởi cuộc sống thúc đẩy, tỷ lệ này khá cao: 38 ,67%, đặc biệt ở Hà Nội lên tới 6 0 % Đối với các chủ doanh nghiệp ở Hà Nội, thì đáng lưu

V là sự nhận thức về một cuộc sống đầy đủ, sung túc của họ khác với các địa phương khác Người Hà Nội thường quan niệm một cuộc sống

dư dật là phái có "của ăn, của để", nghĩa là ngoài nhu cầu chi tiêu cho sinh hoạt đời thườna, họ còn có nhu cầu tích trữ làm giàu để lo cho thế

hệ con cháu Bởi vậy, trong số chủ doanh nghiệp mà chúng tôi điều tra

ở thành phố Hồ Chí Minh, có không ít chủ doanh nghiệp là người miền Bắc, người Hà Nội di cư năm 1954 và sau 1975 và trong nhóm người này đã xuất hiện nhiều nhà kinh doanh có tầm cỡ lớn

Môi trường xung quanh cũng gảy ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định khởi sự doanh nghiệp của cát? giám đốc Có không ít chủ doanh nghiệp bát đầu doanh nghiệp bởi sự động viên, kích thích của bạn bè thân hữu Cũng có không ít người trở thành chủ doanh nghiệp bởi Irào Lưu xã hội thôi thúc, quyết định bước vào con đường kinh doanh của họ

có tính chất "thời thượng"

Xét trong mối tương quan với nguồn gốc xuất thân của chủ doanh nghiệp cho thấy sự khác nhau giữa lý do thành lập doanh nghiệp của giám đốc đã là cán bộ công nhân viên nhà nước và giám đốc chưa từng là cán bộ công nhân viên nhà nước như sau (Bảng 12):

Trang 39

Bạn hè động 7,00 3,00 4,33 4,00 5,00 '•y "> n

3,-33viên

Nguồn: Cuộc điổu tra năm 1992 của Viện NCQLKTTW

Các số liệu so sánh trên cho thấy phần lớn chủ doanh nghiệp trước đày đã từng là cán bộ công nhân viên nhà nước do hưởng ứng chính sách của Nhà nước mà thành lập doanh nghiệp (25,3%) Bên cạnh đó, "ham muốn kinh doanh" cũng là lý do khiến nhiều người đang làm trong khu vực Nhà nước sẵn sàng chuyên sang nghề kinh doanh ở khu vực tư nhân (22%) và tỷ lệ này đối với các giám đốc chưa từng là cán bộ công nhàn viên nhà nước chiếm con số tương đương (21,6 7%) Sự hiện thân của các chủ doanh nghiệp cho dù trước đây đã là cán bộ công nhàn viên nhà nước hoặc chưa từng làm việc cho khu vực Nhà nước cũng đủ chứng minh kinh doanh là một nghề hấp dẫn, khiến cho họ có thể theo đuổi trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và bất chấp sự khác nhau về điểm xuất phát

Trang 40

Trong 38,67% giám đốc trả lời bước vào lĩnh vực kinh doanh do cuộc sông thúc đẩy, có 22,67% trước đây đã từns là cán bộ công nhân viên nhà nước Phải chăn® là thu nhập ở khu vực Nhà nước chưa đủ để đám bảo cuộc sống cho nhữns ông chủ mà trước đây đã từng là cán bộ công nhân viên nhà nước (kể cả nhữna người trước đây đang làm cho Nhà nước chuyển sang kinh doanh, và những người đã về hưu, hoặc về mất sức, rồi mới bước vào hoạt dộng kinh doanh đều được tính vào diện có thu nhập từ khu vực Nhà nước)? Và phải chăng khu vực Nhà nước chưa thoả mãn được nhu cầu của họ khôrm những về vật chất mà cả về yếu tố tâm lý đối với nghề nghiệp, đối với các mối quan hệ nghề nghiệp ?, Chắc chấn sẽ còn nhiều nguyên nhàn khác khiến cho họ trở thành chủ doanh nghiệp, nhưng có thể nói vắn tắt theo lời một giám đốc được kháo sát trong cuộc điều tra mới đây : "Nghề kinh doanh có thể thoả măn được hai điều, hoặc

ít nhất là một trong hai điều: vừa đủ nuôi sống tôi, vừa thoả mãn được đam

mê của tôi"(1 Quả thực ai cũng có nhu cầu sống và làm việc theo sở thích của minh Có những người mong muốn làm nghề ổn định trong trạng thái tĩnh Nhưng lại có những người ưa thích những công việc sôi động, những nghề đòi hỏi phải mạo hiểm và chấp nhận rủi ro, trong đó có nghề kinh doanh Tuy nhiên, kinh doanh vẫn là một nghề hứa hẹn nhiều triển vọng,

có thê’ thay đổi sô phận cho những người có ham muốn theo đuổi nó, và mặt khác nó cũng đủ khả năng để giúp những người đang gặp khó khăn có thể đảm bảo cuộc sống và vươn lên làm giàu So sánh lý do thành lập doanh nghiệp của giám đốc đã và chưa là cán bộ công nhân viên nhà nước xét theo địa bàn nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giưã hai thành phố:

(1 ) B áo c á o p h ỏ n g v ấn c h u y ẽ n s âu từ c u ộ c đ i é u t ra n ă m 1995 c ủ a Vi ện

N C Q L K T T W

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2:  Tốc  độ  phát  triển  số   lượng  doanh  nghiệp  ngoài  quốc  doanh  phân  theo  loại  hình  kinh  doanh  ( N ăm   trước  =   100% ) - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 2: Tốc độ phát triển số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh phân theo loại hình kinh doanh ( N ăm trước = 100% ) (Trang 11)
Bảng 1:  Sô  lượng  doanh  nghiệp  được  cấp  đàng  ký  kinh  doanh  phân - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
Bảng 1 Sô lượng doanh nghiệp được cấp đàng ký kinh doanh phân (Trang 11)
Bảng 5:  Trình  độ  học  vấn  của  giám  đốc  doanh  nghiệp  tư nhân. - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
Bảng 5 Trình độ học vấn của giám đốc doanh nghiệp tư nhân (Trang 23)
Bảng  6:  Trình  độ  học  vấn  của  giám  đốc  doanh  nghiệp  tư  nhân  (doanh  nghiệp  ngoài  quốc  doanh) - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 6: Trình độ học vấn của giám đốc doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp ngoài quốc doanh) (Trang 25)
Bảng  6a.  Trình  độ  học  vấn  của  giám  đốc  doanh  nghiệp  tư nhân  một chủ sở hữu - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 6a. Trình độ học vấn của giám đốc doanh nghiệp tư nhân một chủ sở hữu (Trang 27)
Bảng  8  :  Mối  quan  hệ  giữa xuất thân  của  giám  đốc  vói  khu  vực  Nhà  nước. - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 8 : Mối quan hệ giữa xuất thân của giám đốc vói khu vực Nhà nước (Trang 31)
Bảng  9  :  Mối  quan  hệ  giữa  chủ  doanh  nghiệp  đă  là  cán  bộ  công  nhân  viên  nhà  nước  và  loại  hình  doanh  nghiệp - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 9 : Mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp đă là cán bộ công nhân viên nhà nước và loại hình doanh nghiệp (Trang 32)
Bảng  13  :  Vốn  đẩu tư của giám  đốc  doanh  nghiệp  tư nhân - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 13 : Vốn đẩu tư của giám đốc doanh nghiệp tư nhân (Trang 42)
Bảng  17  :  M ối  quan  hệ  giữa  vốn  đầu  tư của  giám  đốc  đã  và  chưa  là  cán  bộ  công  nhân  viên  nhà  nước - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 17 : M ối quan hệ giữa vốn đầu tư của giám đốc đã và chưa là cán bộ công nhân viên nhà nước (Trang 57)
Bảng  18  :  Doanh  thu  của giám  đốc  doanh  nghiệp  tư  nhân - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 18 : Doanh thu của giám đốc doanh nghiệp tư nhân (Trang 58)
Bảng  19  :  So sánh  vốn  đầu  tư của chủ  doanh  nghiệp  và  doanh  thu - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 19 : So sánh vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp và doanh thu (Trang 60)
Bảng  20  :  So  sánh  xuất thân  của chủ  doanh  nghiệp  và  doanh  thu - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 20 : So sánh xuất thân của chủ doanh nghiệp và doanh thu (Trang 63)
Bảng  21  cho  thấy  đa  số giám đốc  nắm rất vững  về  thuế môn  bài,  thuế  doanh  thu  và  thuế lợi tức - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 21 cho thấy đa số giám đốc nắm rất vững về thuế môn bài, thuế doanh thu và thuế lợi tức (Trang 64)
Bảng 22  :  c ả m  nghĩ của giám  đốc về sự ủng hộ đối  với  doanh  nghiệp - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
Bảng 22 : c ả m nghĩ của giám đốc về sự ủng hộ đối với doanh nghiệp (Trang 67)
Bảng  23  :  Ý  kiến  của giám  đốc  vê  các  chính  sách  quản  lý  vĩ mô  của  Nhà  nước. - Vài nét chân dung xã hội của giám đốc doanh nghiệp tư nhân ở nước ta hiện nay
ng 23 : Ý kiến của giám đốc vê các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w