1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội

90 670 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ TUYẾT NGA VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TUYẾT NGA

VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

(Nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn và

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội- 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ TUYẾT NGA

VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

(Nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn và

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 60 31 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Quý

Hà Nội- 2009

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐHQG HN: Đại học quốc gia Hà Nội

ĐHKHXH&NV: Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn ĐHKHTN: Đại học Khoa học Tự nhiên

NCKH: Nghiên cứu khoa học

NCS: Nghiên cứu sinh

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng

Bảng 2.1 Số liệu về đội ngũ giảng viên một số đơn vị đào tạo 29 Bảng 2.2 Số lượng công trình khoa học công bố giai đoạn 2006-2008 31

Bảng 2.4 Tham gia làm chủ nhiệm đề tài NCKH các cấp phân theo giới

Bảng 2.7 Đánh giá của giảng viên về sự ủng hộ của nhà trường, đồng

nghiệp đối với nam và nữ cán bộ trong hoạt động giảng dạy (%)

56

Bảng 2.8 Đánh giá của giảng viên về sự ủng hộ của nhà trường, đồng

nghiệp đối với nam và nữ cán bộ trong hoạt động NCKH (%)

57

Bảng 2.9 Đánh giá của giảng viên về các yếu tố cá nhân của nam và nữ

cán bộ trong hoạt động giảng dạy

61

Bảng 2.10 Đánh giá của giảng viên về các yếu tố cá nhân

của nam và nữ cán bộ trong hoạt động NCKH (%)

Biểu đồ 2.7 Tương quan giới với việc tham gia đề tài các cấp

trong 5 năm gần đây

44

Biểu đồ 2.9 Tương quan giới về bài viết đăng tạp chí 49 Biểu đồ 2.10 Nhận xét về năng lực NCKH của nữ cán bộ 50 Biểu đồ 2.11 Nhận xét về năng lực NCKH của nữ cán bộ so với nam

cán bộ

51 Biểu đồ 2.12 Thái độ ủng hộ nữ cán bộ làm chủ nhiệm đề tài 52

Trang 5

Minh đã nói “Nói tới phụ nữ là nói tới phần nửa xã hội, nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng được một nửa loài người Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng Nếu không giải phóng phụ nữ thì là xây dựng chủ nghĩa xã hội một nửa” [12, tr 499]

Sau ngày giải phóng miền Bắc năm 1954, Đảng ta đã khẳng định: cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Ngày nay, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đang thực sự trở thành động lực quan trọng của sự phát triển, việc đầu tư để nâng cao trình độ văn hoá chuyên môn nghiệp vụ, phát triển trí tuệ cho con người là sự đầu tư có hiệu quả thiết thực, lâu dài và có tầm quan trọng chiến lược đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để tăng cường sự tham gia của phụ nữ, đặc biệt là năm 2007 luật Bình đẳng giới ra đời Phụ nữ đã có mặt trong nhiều ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, giáo dục và đã có những cống hiến quan trọng trong sự nghiệp giáo dục của đất nước Đến nay, đội ngũ nữ trí thức nước ta đã được hình thành và trở thành một lực lượng lao động trí tuệ hùng hậu, chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng số những người có trình độ đại học và cao đẳng trên cả nước Theo số liệu thống kê của Trung tâm Thông tin Bộ Giáo dục- Đào tạo, năm học 2008-2009 trên toàn quốc có 25.255 nữ giảng viên chiếm 45.0% trên tổng số 56.120 giảng viên cao đẳng, đại học Như

Trang 6

vậy, về số lượng nữ giảng viên đã có sự tăng lên đáng kể so với các năm học trước

Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao hàng đầu, đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước Đại học quốc gia Hà Nội bao gồm các trường thành viên: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Ngoại ngữ, Trường Đại học Công nghệ, Trường Đại học Kinh tế, Trường Đại học Giáo dục và các viện nghiên cứu khoa học, các khoa, các trung tâm nghiên cứu trực thuộc Tổng số cán

bộ viên chức của ĐHQGHN hiện nay là 2.387 người, trong đó có 1.611 giảng viên và nghiên cứu viên ĐHQGHN có 266 GS, PGS (chiếm 16.5%), 555TS và TSKH (chiếm 34,45%) Nhìn tổng quát, cán bộ giảng viên và nghiên cứu viên của ĐHQGHN được đánh giá là mạnh cả về số lượng và chất lượng so với các trường đại học trong nước, nhiều giáo sư đầu ngành

có uy tín không chỉ trong nước mà cả trong khu vực và thế giới Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, cấp Bộ, cấp Nhà nước, các công trình nghiên cứu hợp tác quốc tế của các cán bộ nữ từ nhiều lĩnh vực đào tạo chuyên môn khác nhau đã góp phần phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của tập thể cán bộ và sinh viên Cùng với việc hoàn thành tốt công tác ở trường, nữ cán bộ luôn chăm lo xây dựng cuộc sống gia đình, dành thời gian cho việc nhà, chăm sóc các thành viên và nuôi dạy con cái Có thể nói, những thành tích trong công việc ở trường đã phần nào phản ánh sự đóng góp to lớn của các nữ tri thức Nhưng khác với nam trí thức và nam cán bộ, nữ trí thức phải gánh trọng trách gia đình bên cạnh việc của Khoa, Trường Làm thế nào phụ nữ có thể hài hoà giữa công việc gia đình với những đòi hỏi ngày càng cao của nghiên cứu và giảng dạy là một thách thức rất lớn đối với không ít người, nhất là các nữ trí thức trẻ

Trang 7

Xuất phát từ các yêu cầu đối với việc hoàn thiện công tác giảng dạy

và NCKH trong các trường đại học và từ quan điểm giới, tác giả đã đi sâu

vào nghiên cứu “Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và

nghiên cứu khoa học tại Đại học quốc gia Hà Nội ” (Nghiên cứu tại

Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn và Trường Đại học Khoa học

Tự nhiên) để tìm hiểu vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và

nghiên cứu khoa học trong so sánh với nam cán bộ, những đặc thù của nữ trí thức và những thách thức, yếu tố tác động đến vấn đề này Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả cố gắng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của

nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH; các hỗ trợ của nhà nước, của trường nhằm nâng cao vị thế của nữ trí thức

2 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

2.1 Ý nghĩa lý luận

Quá trình tìm hiểu công tác giảng dạy và NCKH của nữ cán bộ ĐHQGHN, tác giả đã cố gắng đi sâu nghiên cứu về vai trò của nữ cán bộ giảng dạy tại ĐHQGHN trong so sánh với nam cán bộ; vận dụng lý thuyết

xã hội học, đặc biệt là lý thuyết xã hội học về Giới để phân tích về vị thế, vai trò của giảng viên nữ trong các trường đại học

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua nghiên cứu, phân tích những yếu tố tác động đến việc thực hiện vai trò của đội ngũ cán bộ nữ trong công tác giảng dạy và NCKH, kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những thách thức, những nguyên nhân làm hạn chế sự đóng góp của các nữ cán bộ, trong đó có các nguyên nhân từ phía xã hội, gia đình và từ chính các nữ cán bộ Từ những thông tin đó, nghiên cứu góp phần đưa ra những khuyến nghị cụ thể để có những hình thức thích hợp khuyến khích và tạo điều kiện phát huy năng lực của các nữ giảng viên trong trường đại học

Trang 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

 Góp phần đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nữ cán

bộ trong công tác giảng dạy và NCKH tại ĐHQGHN

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Thao tác hoá các khái niệm công cụ và vận dụng các lý thuyết liên quan đến vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Trường ĐHKHXH&NV và Trường ĐHKHTN

 Mô tả và phân tích vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy theo tín chỉ và trong hoạt động NCKH

 Phân tích các yếu tố tác động (chính sách của nhà nước; quy chế của trường; điều kiện gia đình và bản thân nữ cán bộ) đến việc thực hiện vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH tại ĐHQGHN

 Đưa ra các khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao vai trò của các nữ giảng viên trong công tác giảng dạy và NCKH

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại ĐHQGHN

Trang 9

Thời gian nghiên cứu: 2 năm, từ 2008 - 2009

5 Phương pháp luận và phương pháp thu thập thông tin

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử Với tư cách là phương pháp luận khoa học về nhận thức để giải thích các hiện tượng xã hội theo chiều dài lịch sử

và phân tích các hiện tượng xã hội trong các mối quan hệ chặt chẽ với nhau,

từ đó có cái nhìn toàn diện và khách quan về đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về “Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội” như là một hiện tượng

xã hội và đảm bảo tính khách quan khi nghiên cứu Nghiên cứu vai trò của

nữ cán bộ trong mối quan hệ với các sự vật hiện tượng khác như: sự phát triển kinh tế xã hội; quan điểm, đường lối của Đảng; đánh giá của đồng nghiệp, nhà trường đối với nữ cán bộ và sự tác động của gia đình đến các nữ cán bộ

Nghiên cứu “Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học” phải đặt trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể Bởi mỗi hiện tượng trong xã hội đều diễn ra trong quá trình nảy sinh, vận động

và phát triển ĐHQGHN trong những năm qua chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ đã tác động không nhỏ đến công tác giảng dạy và NCKH Trước đây, giảng viên quen giảng theo niên chế, lúc mới đổi qua học chế tín chỉ phải soạn giảng lại, phương pháp giảng dạy cũng có thay đổi Giảng viên dạy

Trang 10

môn học nào thì xây dựng đề cương môn học đó, soạn giáo trình, lên lớp, kiểm tra việc học tập của sinh viên Theo quy định, hàng tuần, tháng mỗi sinh viên phải nộp một bài tập cá nhân, phải làm bài tập nhóm, giảng viên phải mất rất nhiều thời gian chấm bài để đánh giá kết quả học tập của sinh viên Với những điều kiện như vậy đã tác động đến vai trò của cả nam và nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH, đặc biệt là đối với nữ cán bộ

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng lý thuyết vị trí- vai trò và lý thuyết giới để phân tích vai trò của nữ cán bộ trong việc giảng dạy và NCKH của nữ cán bộ trong trường đại học; phân tích những yếu tố tác động đến vai trò nữ cán bộ

Do vị thế xã hội luôn gắn liền với những trách nhiệm và quyền hạn kèm theo nên nó luôn ràng buộc con người Về mặt xã hội học, mỗi cá nhân trong xã hội đều có một vị trí xác định Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội, tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi Như vậy, với vai trò là giảng viên, nữ cán bộ được nhà trường và sinh viên mong đợi những gì? Và trong gia đình, với vai trò là người vợ, người mẹ, các thành viên gia đình mong đợi gì ở họ? Liệu với vai trò quan trọng như vậy họ đã có một vị thế xứng đáng chưa?

Lý thuyết nữ quyền được lựa chọn để giải thích về những định kiến giới trong xã hội Nam và nữ không được hưởng chế độ giáo dục như nhau nên không thể nói phụ nữ không có khả năng trí tuệ như nam giới Hơn nữa, phụ nữ phải mang trách nhiệm nặng nề trong gia đình nên không có nhiều thời gian để phấn đấu Muốn thay đổi vị thế của phụ nữ trong xã hội thì phải thay đổi vai trò của họ, thông qua cải cách và giáo dục một cách công bằng cho cả nam và nữ

5.2 Phương pháp thu thập thông tin

5.2.1 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Trang 11

Nghiên cứu thu thập thông tin từ 220 phiếu trưng cầu ý kiến bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên ( trong đó 110 phiếu trưng cầu ý kiến đối với các cán bộ giảng dạy tại Trường Đại học KHXH&NV và 110 phiếu trưng cầu ý kiến các cán bộ Trường ĐHKHTN) Số phiếu thu về và xử lý là

194 phiếu

Cơ cấu mẫu nghiên cứu như sau:

* Cơ cấu giới

Trang 12

Phỏng vấn nhằm thu thập các thông tin cụ thể về công tác giảng dạy

và nghiên cứu khoa học, những yếu tố tác động đến cán bộ nữ Tổng số phỏng vấn sâu 20 người, bao gồm:

+ 10 cán bộ nữ giảng dạy tại Trường ĐHKHXH&NV và Trường ĐHKHTN Trong đó có 4 nữ cán bộ quản lý cấp khoa, trung tâm; 6 nữ giảng viên

+ 10 nam lãnh đạo và cán bộ của hai trường, bao gồm: 2 cán bộ lãnh đạo cấp phòng, 2 cán bộ quản lý cấp khoa và 6 nam giảng viên

5.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu

Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để nắm bắt được thực trạng của vấn đề nghiên cứu Việc thu thập và phân tích tài liệu bao gồm:

+ Các công trình nghiên cứu: luận án, luận văn, sách, báo, tạp chí…có liên quan đến đề tài

+ Tổng hợp các tư liệu có liên quan đến công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học của các nữ cán bộ ở trường đại học làm cơ sở cho đề

Trang 13

tài nghiên cứu Phân tích các văn bản của ĐHQGHN và các đơn vị trực

thuộc, các Khoa, các phòng ban liên quan đến đề tài nghiên cứu

5.2.4 Phương pháp quan sát

Tác giả thường xuyên quan sát các hoạt động giảng dạy và NCKH diễn ra tại 2 trường thông qua các buổi học trên lớp, các buổi toạ đàm, hội thảo khoa học, tham gia vào các nhóm triển khai NCKH tại Trung tâm nghiên cứu Giới và Phát triển, Khoa Xã hội học Trường ĐHKHXH&NV và Khoa Môi trường, Trường ĐHKHTN

Thông qua việc trưng cầu ý kiến và phỏng vấn sâu các cán bộ tại 2 trường thuộc ĐHQGHN, tác giả cố gắng quan sát thái độ của các đối tượng phỏng vấn để thông tin thu được về vấn đề nghiên cứu được toàn diện hơn

6 Giả thuyết nghiên cứu

Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH ngày càng được nâng cao, số lượng cán bộ nữ tăng về số lượng và chất lượng

Tỷ lệ nữ giảng viên có trình độ chuyên môn cao thấp hơn nhiều so với nam, càng lên chức danh cao tỷ lệ nữ giảng viên càng hạn chế Điều đó chưa thực sự tương xứng với năng lực của cán bộ nữ

Sự hạn chế của nữ cán bộ vào các hoạt động giảng dạy, NCKH không phải do năng lực của phụ nữ yếu kém mà do định kiến giới và thiếu sự hỗ trợ của chính sách và xã hội

Trang 14

7 Khung lý thuyết

Điều kiện Kinh tế - Xã hội

gia đình

Điều kiện Bản thân

Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Công tác giảng dạy

- Dạy đại học, cao

Nghiên cứu khoa học

- Tham gia đề tài nghiên cứu các cấp

+ Cấp trường + Cấp ĐHQG/ cấp Bộ + Cấp Nhà nước

- Viết bài đăng trên báo, tạp chí

Trang 15

- Biến can thiệp:

+ Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước

8 Kết cấu của luận văn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp luận và phương pháp thu thập thông tin

6 Giả thuyết nghiên cứu

7 Khung lý thuyết

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

2.1 Vài nét về công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại ĐHQGHN

Trang 16

2.2 Nữ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

2.3 Những yếu tố tác động đến vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Những lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu

* Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội

Ralph Linton (1983- 1953) được coi là người có công đầu trong việc xác định khái niệm vị thế vai trò Từ góc độ hành vi luận, vị thế là tập hợp các quyền và trách nhiệm mà người nắm giữ vị thế đó phải thực hiện Tuy nhiên, khái niệm vị thế chủ yếu nói đến xuất phát điểm của hành vi chứ chưa nói đến mặt hoạt động của nó Khái niệm vai trò mới nói đến mặt động thái của hành vi: khi một người thực hiện quyền và trách nhiệm của vị thế thì khi đó người này thực hiện vai trò Nói cách khác, vai trò là hành vi của người nắm giữ vị thế mà hành vi đó hướng vào việc đáp ứng những kỳ vọng của người khác về quyền và trách nhiệm gắn với vị thế Theo Linton, trong nghiên cứu khoa học có thể tách biệt vị thế và vai trò nhưng trên thực tế vị thế và vai trò gắn liền với nhau đến mức rất khó tách biệt [13, trang 51]

Lý thuyết về vị trí- vai trò trong xã hội nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận trong cơ cấu xã hội, gắn liền với những quyền lợi và nghĩa

vụ hay kỳ vọng để định hướng cho những hành vi xã hội của cá nhân đó Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau bởi họ có thể tham gia vào nhiều nhóm xã hội khác nhau Vai trò của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi, mô hình hành vi này chính là vai trò tương

Trang 18

Quan điểm lý thuyết vị trí- vai trò trong đề tài này được sử dụng để đánh giá vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và NCKH trong trường đại học, từ đó chỉ ra những yếu tố tác động đến việc thực hiện vai trò

của nữ cán bộ trong so sánh với nam cán bộ

Các lý thuyết và trường phái nữ quyền

Cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, các phong trào nữ quyền ra đời

ở nhiều nước phương Tây Các phong trào này có mục tiêu là xoá bỏ sự thống trị của nhà nước Tư sản với phụ nữ Do tính đa dạng, phong trào nữ quyền không phải là một khối thuần nhất mặc dù họ có cùng mục đích chung là giải phóng phụ nữ Nữ quyền là phong trào xã hội của phụ nữ nhằm đấu tranh bảo vệ và mở rộng các quyền của phụ nữ, xoá bỏ chế độ phụ quyền trên phạm vi toàn cầu Một số đóng góp cơ bản của thuyết nữ quyền là: 1) Lần đầu tiên, vấn đề “phụ nữ” được đặt ra trong các lĩnh vực công cộng và riêng tư Theo đó, vấn đề chế độ phụ quyền và quyền lực tuyệt đối của chế độ này cũng được đem ra phân tích và chứng minh rằng nam giới không thể đại diện cho phụ nữ trong xã hội và khoa học 2) Mục đích của nữ quyền là xây dựng một xã hội nhân đạo, công bằng và văn minh Xây dựng mối quan hệ đoàn kết, tương tác giữa hai giới chứ không phải đối lập hoặc phụ quyền thống trị

Một số đại biểu kinh điển của thuyết nữ quyền: Ann Oakley- nhà nữ quyền người Anh, người đã đưa thuật ngữ giới vào XHH; Simone de Beauvoir- người Pháp, tác giả cuốn “Giới tính thứ hai” đã có những tranh luận với các nhà xã hội học kinh điển về giá trị nhân phẩm và vị trí của phụ

nữ với những tư tưởng nhân văn sâu sắc Tư tưởng của bà đã soi sáng cho các thế hệ sau cả về phương pháp luận lẫn phương pháp nghiên cứu nữ quyền

Trang 19

Một số thuyết nữ quyền tiêu biểu là thuyết nữ quyền Tự do, nữ quyền cấp tiến, nữ quyền Mác xít, nữ quyền xã hội chủ nghĩa, nữ quyền phân tâm học, nữ quyền hiện sinh, nữ quyền hậu hiện đại…

Thuyết nữ quyền Tự do cho rằng mỗi phụ nữ đều có thể tự giải phóng mình với tư cách cá nhân bằng cách bác bỏ các vai trò giới tính truyền thống

của mình là phụ thuộc vào nam giới Cái khác biệt giữa nam giới và phụ nữ

là hình dáng cơ thể chứ không phải trí tuệ Các nhà nữ quyền Tự do đã

thách thức quan niệm phụ quyền truyền thống bằng cách cho rằng phụ nữ cũng có khả năng trí tuệ như nam giới Theo họ, sự bị trị của phụ nữ nằm trong những ràng buộc về tập quán và pháp lý Theo luật pháp và phong tục, phụ nữ bị tước đi việc học hành và bị giam hãm trong gia đình Những ràng buộc này ngăn cản phụ nữ tham gia hoặc thành công trong những nơi được coi là thế giới công cộng Xã hội tin tưởng một cách sai lầm rằng, phụ nữ kém năng lực hơn nam giới về trí tuệ của mình và vì vậy trí tuệ của họ luôn

bị thấp hơn nam giới Do chính sách sai lầm này, tiềm năng đích thực của nhiều phụ nữ không được bộc lộ Muốn thay đổi vai trò của phụ nữ trong xã hội cần phải thông qua cải cách và giáo dục một cách công bằng cho cả nam

và nữ Công bằng giới đòi hỏi phải có cơ hội như nhau và cần xem xét đến từng cá nhân mà không tính đến giới tính của họ theo kiểu định kiến giới

Các nhà nữ quyền Mac xit cho rằng, bản thân chủ nghĩa tư bản là nguyên nhân của sự áp bức phụ nữ Dưới chế độ phong kiến phụ nữ bị giam hãm trong gia đình, không được tham gia vào hoạt động xã hội Chủ nghĩa

tư bản đưa phụ nữ tham gia vào nền sản xuất chung của xã hội nhằm tận dụng nhân công rẻ mạt Phụ nữ lao động trong các xí nghiệp và bắt đầu tham gia các diễn đàn và được học tập Trong xã hội có giai cấp, phụ nữ chịu sự áp bức và không được bình đẳng khi của cải vật chất sản xuất ra bởi một số đông, quyền hành lại nằm trong tay một số ít nam giới đầy quyền lực Nếu muốn giải phóng phụ nữ, hệ thống tư bản chủ nghĩa phải được thay

Trang 20

thế bằng một hệ thống xã hội, trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi người Mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc làm, đồng lương, tư liệu sản xuất là của chung, phụ nữ được tự do về kinh tế như nam giới Chủ nghĩa xã hội đã giải phóng phụ nữ mọi phương diện, đưa phụ nữ ra nền sản xuất xã hội chủ nghĩa [20, tr 152]

1.1.2 Những khái niệm công cụ

* Khái niệm Giới

Giới là một thuật ngữ Xã hội học bắt nguồn từ môn Nhân loại học nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam

và nữ, bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia, các nguồn và lợi ích Giới đề cập đến các quy tắc tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân Vai trò giới được xác định theo văn hoá, không theo khía cạnh sinh vật học và có thể thay đổi theo thời gian, theo xã hội và các vùng địa lý khác nhau Khi mới sinh ra chúng ta không có sẵn đặc tính giới Những đặc tính giới chúng ta có được là do chúng ta học được từ gia đình,

xã hội và nền văn hoá của chúng ta

Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tư cách cá nhân và nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ (tính thay đổi) Quan hệ này thay đổi thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội [20, tr 43]

Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo

điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [20, tr 45]

Định kiến giới

Định kiến giới là nhận thức, thái độ đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ [20, tr.46]

Trang 21

Định kiến giới tạo nên tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, kìm hãm sự phát triển của phụ nữ làm cho phụ nữ an phận, đồng thời cũng tạo nên áp lực đối với nam giới là trụ cột kiếm tiền chính trong gia đình

* Khái niệm vai trò

Theo J.Fighter, vai trò là sự phối hợp, tương tác qua lại của các khuôn mẫu được tập trung thành một nhiệm vụ xã hội

Theo Robertson, vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa

vụ và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định

Vai trò giới bao gồm: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng Vai trò giới là các công việc mà phụ nữ và nam giới thực hiện với tư cách là nam hay nữ Nam và nữ đều tham gia thực hiện cả 3 vai trò trên, tuy nhiên có sự khác biệt về tính chất và mức độ Sự tham gia của nam

và nữ không như nhau trong mọi công việc Nếu như phụ nữ làm hầu hết công việc sinh đẻ, chăm sóc, nuôi dưỡng, nội trợ, tiếp phẩm (nhiều người coi đó là “thiên chức” của phụ nữ) thì nam giới không trông đợi làm việc

đó, họ cho rằng mình trợ giúp phụ nữ mà thôi Cơ hội và điều kiện thăng tiến của nam giới bao giờ cũng tốt hơn phụ nữ

* Nữ cán bộ giảng dạy

Khái niệm cán bộ giảng dạy được hiểu theo nghĩa là giảng viên

Giảng viên ĐHQGHN là cán bộ thuộc ngạch viên chức giảng dạy đại học, làm việc trong biên chế hoặc theo hợp đồng làm việc của ĐHQGHN [19,

tr.2]

Như vậy, nữ cán bộ giảng dạy là những người có đặc trưng giới tính

là nữ, có trình độ học vấn, chuyên môn và tham gia giảng dạy đại học

* Nghiên cứu khoa học

Theo Luật khoa học và công nghệ: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy: sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”

Trang 22

Nghiên cứu khoa học gồm:

- Nghiên cứu cơ bản là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính,

cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác Nói cách khác đó là hoạt động nhằm mục

đích tìm ra bản chất và các quy luật của hiện tượng tự nhiên và xã hội

- Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng kết quả thu được từ nghiên cứu

cơ bản, vận dụng những tri thức khoa học mới để giải thích một sự vật; tạo

ra những nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống Mục đích của nghiên cứu ứng dụng là nhằm cải thiện, khám phá, sáng tạo ra những cách thức mới, phương thức hoạt động sản xuất mới hoặc sản phẩm mới

- Nghiên cứu triển khai là sự vận dụng các quy luật và các nguyên lý

để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật

Trong luận văn này, tác giả sử dụng NCKH với nội hàm: 1) Sự tham gia của nữ cán bộ vào các đề tài/ dự án (đề tài nghiên cứu cấp trường, Đề tài cấp Bộ/ Đại học quốc gia, cấp Nhà nước hay các dự án của nước ngoài, các

tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước); 2) Số lượng các ấn phẩm, tài liệu đã được các nữ cán bộ biên soạn và xuất bản

*Trường đại học (theo Quy chế tổ chức hoạt động của ĐHQGHN)

Trường đại học là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội về một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn, kinh tế - xã hội liên quan với nhau

Trường đại học có chức năng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở các trình độ cao đẳng, đại học, cao học, tiến sỹ về các ngành học thuộc các lĩnh vực của mình, nghiên cứu và triển khai khoa học - công nghệ trong hệ thống chung của Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước [32]

Trang 23

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu

1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về vấn đề giới, nữ trí thức hiện nay đang là mảng đề tài được các nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau Trong phạm vi giới hạn của luận văn, tác giả xin kể đến một số nghiên cứu nổi bật

về cán bộ nữ sau:

Cuốn “Nữ tiến sĩ Đại học quốc gia Hà Nội” do Trung tâm nghiên cứu

về Phụ nữ- ĐHQGHN chủ biên đã đưa ra 149 chân dung các nhà khoa học

nữ, lý lịch và những công trình đóng góp của đội ngũ cán bộ nữ ĐHQGHN Đây là một công trình đồ sộ khẳng định vai trò và vị trí của nữ trí thức ĐHQGHN Cuốn sách giới thiệu những gương mặt các GS, PGS,TS và tổng kết những hoạt động khoa học của các nhà khoa học nữ, khẳng định sự trưởng thành và khuynh hướng phát triển tất yếu của đội ngũ khoa học nữ ĐHQGHN trong tương lai

Cuốn sách “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của tác giả Đỗ Thị Thạch (Nxb Chính trị quốc gia, 2005) tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự phát triển trí tuệ của phụ nữ, phân tích sự hình thành và những đặc điểm của nguồn trí thức nữ ở Việt Nam

Tác giả Lê Thị Quý trong bài viết “Phụ nữ trong đổi mới: thành tựu

và thách thức” đã khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển, thể hiện qua các chính sách về lao động, việc làm, giáo dục, y tế…Phụ nữ có mặt trong mọi hoạt động của nền kinh tế quốc dân, kể cả những lĩnh vực yêu cầu cao về tri thức như khoa học công nghệ, khoa học xã hội, quản lý Đổi mới và phát triển không chỉ là định hướng hành động chung của đất nước mà còn là của chính phụ nữ Bài viết nêu một số thành tựu về bình đẳng giới, tác giả đã phân tích rất sâu sắc về các vấn đề đặt ra trong những năm đổi mới

Trang 24

Về đội ngũ nữ tiến sĩ Trường ĐHKHXH&NV, tác giả Trần Thị Minh Đức có bài viết “Sự phát triển của đội ngũ nữ tiến sĩ trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn” (2006) cho thấy những đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ khoa học nữ đối với sự phát triển của Đại học KHXH&NV Tác giả đã phân chia ra 4 thế hệ các nhà khoa học nữ, đó là thế hệ sinh trước

1940, thế hệ từ 1941- 1950, thế hệ từ 1951-1960 và thế hệ sau 1961 với những thành tựu to lớn về các công trình khoa học

Với bài báo khoa học “Giới và công tác NCKH tại ĐHQGHN” in tại

Kỷ yếu Toạ đàm khoa học quốc tế Chính sách khoa học và giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (2004), tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa và Đặng Ánh Nguyệt đã cung cấp số lượng và tỷ lệ nữ giảng viên đại học tại ĐHQGHN năm 2004, tỷ lệ nữ chủ trì đề tài và tham gia viết bài đăng trong Hội nghị khoa học nữ ĐHQGHN Các tác giả còn chỉ ra một số nguyên nhân của cán bộ nữ tham gia chưa nhiều vào NCKH, đó là sự mâu thuẫn giữa các vai trò của nữ giới trong gia đình, cộng đồng và xã hội, do định kiến giới và do chính bản thân người phụ nữ Theo các tác giả, cần phải đưa các mục tiêu giới vào NCKH nhằm đảm bảo sự tham gia và cơ hội bình đẳng của nam và nữ cán bộ

Bài viết “Nữ giảng viên đại học với hoạt động nghiên cứu khoa học” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết (Tạp chí Gia đình và Giới, số 4, 2007) đề cập đến tình hình tham gia của nữ cán bộ giảng dạy đại học vào hoạt động nghiên cứu khoa học và biên soạn giáo trình Sử dụng kết quả điều tra ở 8 trường đại học và số liệu thống kê của Bộ giáo dục và Đào tạo, tác giả đã chỉ ra sự khác biệt lớn giữa nam và nữ trong việc tham gia làm chủ nhiệm

đề tài nghiên cứu ở các cấp Việc tham gia và làm chủ biên các giáo trình, sách và tài liệu tham khảo của nữ và nam cán bộ giảng dạy cũng có khoảng cách khá lớn, trong đó, đặc biệt là việc viết các bài nghiên cứu cho các tạp chí nói chung và tạp chí nước ngoài nói riêng

Trang 25

Tác giả Trần Thị Bạch Mai có bài viết “Giảng viên nữ và hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, quản lý trong trường đại học” Bài viết tìm hiểu thực trạng đội ngũ nữ giảng viên trong các trường đại học với 241 phiếu hỏi thực hiện với cả nam và nữ giảng viên, ở các trình độ, thâm niên công tác, các lứa tuổi và các lĩnh vực đào tạo khác nhau tại một số trường đại học ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu tác giả tìm ra những nguyên nhân hạn chế trình độ và tiềm năng tham gia của nữ cán bộ

Bài viết “Một vài điểm về bước tiến của các khoa học nữ trong thời

kỳ qua- Mười năm tiến bộ của phụ nữ Việt Nam 1985-1995” của tác giả Hoàng Thị Lịch (Nxb Phụ nữ, 1995) khẳng định tài năng của các nhà khoa học nữ và những bước tiến mà họ đã đạt được Thành tựu khoa học của họ

đã góp phần vinh danh cho khoa học Việt Nam trên thế giới

Nguyễn Thị Hà với Luận án “Định kiến giới đối với cán bộ nữ lãnh đạo cấp cơ sở” đã chỉ ra thực trạng định kiến giới đối với lãnh đạo nữ cấp cơ

sở trên hai bình diện phẩm chất và năng lực, phân tích một số yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến định kiến giới này Luận án cũng đã xác định được một số biện pháp tác động thực nghiệm hướng vào việc tăng cường các quan niệm đúng đắn về giới, định kiến giới, đồng thời nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của người phụ nữ và giảm thiểu định kiến giới đối với đội ngũ này Việc phân tích 02 trường hợp tiêu biểu (01 nam và 01 nữ) trong số 20 người tham gia đã làm sâu sắc thêm kết quả nghiên cứu của luận án

Đề tài nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ trong trường đại học” của tác giả Trịnh Ngọc Thạch khẳng định vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trong trường đại học, tình hình sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học ở ĐHKHXH&NV và đề xuất một số giải pháp tổ chức và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cán bộ khoa

Trang 26

học và công nghệ trong trường đại học Tác giả nhận xét trí thức giáo dục đại học đang đứng trước nguy cơ “khủng hoảng” về đội ngũ cán bộ kế cận, thiếu hụt những chuyên gia giỏi trong một số lĩnh vực khoa học, nhất là một

số ngành khoa học cơ bản Tình trạng “lão hoá” đội ngũ nhà giáo, đặc biệt là những cán bộ khoa học đầu đàn ở các trường lớn, trọng điểm đang diễn ra với tốc độ nhanh Đây cũng là một trong những nguy cơ đang đe doạ đến chất lượng giáo dục

Những nghiên cứu trên đã cung cấp thông tin về công tác giảng dạy

và nghiên cứu khoa học của các nữ cán bộ, tình hình nữ chủ nhiệm đề tài, về phụ nữ lãnh đạo trong các trường đại học Cho đến nay, vai trò của người phụ nữ ngày càng được đánh giá một cách đầy đủ hơn nhưng ở nước ta hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu chuyên sâu về vai trò

của nữ trí thức Việc nghiên cứu sâu của tác giả về Vai trò của các nữ cán

bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia

Hà Nội góp phần đáp ứng một yêu cầu của xã hội là tìm hiểu vai trò của đội

ngũ nữ trí thức trong trường đại học qua lăng kính bình đẳng giới

1.2.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

1.2.2.1 Trường ĐHKHXH& NV

Tổ chức tiền thân của Trường ĐHKHXH&NV thuộc ĐHQGHN là

Trường Đại học Văn khoa Hà Nội (thành lập theo sắc lệnh số số 45 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ngày 10/10/1945), tiếp đó là Trường Đại học Tổng hợp

Hà Nội (thành lập ngày 05.06.1956) Ngày 10/12/1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 97/CP thành lập ĐHQGHN, trong đó có Trường ĐHKHXH& NV, được thành lập trên cơ sở các khoa xã hội của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội

Thành tích về đào tạo và nghiên cứu khoa học của nhà trường được thể hiện thông qua các danh hiệu: Huân chương Lao động hạng Nhất năm

Trang 27

(1981), Huân chương Độc lập hạng Nhất (2001), danh hiệu Anh hùng Lao động thời kì đổi mới (2005); 8 nhà giáo được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 13 nhà giáo được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học, công nghệ; 23 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân và 40 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú

Là một trường đại học trọng điểm, đầu ngành, có uy tín và truyền thống lâu đời, Trường ĐHKHXH& NV có sứ mệnh đi đầu trong sáng tạo, truyền bá tri thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về khoa học xã hội và nhân văn, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Trong năm học 2008-2009, Trường ĐHKHXH&NV đã hoàn thành tốt nhiệm vụ với nhiều thành tựu nổi bật trong các hoạt động đào tạo theo tín chỉ, phát triển các loại hình liên kết đào tạo quốc tế, xây dựng và triển khai các đề tài cấp nhà nước, tổ chức các hội thảo quốc tế, góp phần tiếp tục khẳng định và nâng cao vai trò, vị thế của trường ở trong nước và quốc tế 1.2.2.2 Trường ĐHKHTN

Trường ĐHKHTN thuộc ĐHQGHN được thành lập theo Nghị định

số 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ Trường ĐHKHTN ra đời là sự tiếp nối, kế thừa và phát huy truyền thống hơn 40 năm của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội – nơi đã đào tạo nên nhiều nhân tài, nhiều nhà khoa học

ưu tú và danh tiếng cho đất nước

Trường luôn quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận: 5 năm gần đây đó tuyển được trên 100 cán bộ giảng dạy là sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc Trong số cán bộ giảng dạy của trường, những năm gần đây đã có 9 cán bộ bảo vệ thành công luận án Tiến sỹ khoa học, 20 cán bộ bảo vệ thành công luận án TS, 33 cán bộ bảo vệ thành công luận văn Th.S Hiện nay, số cán bộ công chức của trường gần 700 nguời, trong đó có

Trang 28

457 cán bộ giảng dạy, 36 GS, 112 PGS, 38 TS Khoa học, 241 T.S, 67 Th.S,

6 Nhà giáo Nhân dân, 38 Nhà giáo Ưu tú

Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Trường ĐHKHTN đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, có uy tín trong khu vực và quốc tế, được xã hội tín nhiệm và đánh giá cao Năm 2000,

Trường ĐHKHTN được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”

Trang 29

CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA NỮ CÁN BỘ TRONG CÔNG TÁC

GIẢNG DẠY VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

2.1 Vài nét về công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại ĐHQGHN

Ở nước ta, chức năng của trường đại học được quy định trong Luật Giáo dục như sau: “Thực hiện việc tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình mục tiêu giáo dục; Thực hiện các hoạt động NCKH, ứng dụng và phát triển khoa học công nghệ, thực hiện các dịch vụ khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh phù hợp với ngành nghề đào tạo theo quy định của pháp luật” [31]

ĐHQGHN là trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu và ứng dụng khoa học- công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao của cả nước Nhằm đáp ứng nhiệm vụ đó, đội ngũ cán bộ viên chức của ĐHQGHN

có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có sức khoẻ, có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp cao, ngoại ngữ tốt, có khả năng tiếp thu tri thức khoa học hiện đại nhằm đáp ứng sự nghiệp đào tạo, NCKH Số liệu

về đội ngũ giảng viên ĐHQGHN tính đến hết năm 2008 như sau:

Trang 30

Bảng 2.1 Số liệu về đội ngũ giảng viên một số đơn vị đào tạo

TT Tên đơn vị đào tạo Tổng số

Giảng viên

Giáo

Phó Giáo sư

(Nguồn: Báo cáo về tổ chức và hoạt động của ĐHQGHN năm 2009)

Về công tác giảng dạy, ĐHQGHN đã triển khai đào tạo theo tín chỉ từ

tháng 4 năm 2006 theo hai giai đoạn Giai đoạn 2006-2010 áp dụng các yếu

tố tích cực của phương thức đào tạo theo tín chỉ, từ năm học 2010-2011 trở

đi ĐHQGHN sẽ triển khai đầy đủ các yếu tố của đào tạo theo tín chỉ ở tất cả

các đơn vị đào tạo Do tính chất của đào tạo tín chỉ chủ yếu là tự học nên

khoảng thời gian dành cho việc học trên lớp chỉ chiếm 2 đến 3 giờ/ buổi

Việc sắp xếp thời gian học tập như vậy nhằm mục đích tạo điều kiện cho

sinh viên phát huy năng lực tự nghiên cứu của bản thân và tạo điều kiện để

giảng viên có cơ hội nghiên cứu khoa học cũng như cập nhật kiến thức

chuyên môn Trong giai đoạn 2002-2009 các cán bộ ĐHQGHN đã thực hiện

các đề tài cấp nhà nước như sau:

Trang 31

Biểu đồ 2.1 Các đề tài cấp nhà nước đã thực hiện

Năm 2003

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm 2009

(Nguồn: Báo cáo về tổ chức và hoạt động của ĐHQGHN năm 2009)

Trong những năm qua, ĐHQGHN đã triển khai toàn diện các nhiệm

vụ khoa học công nghệ Các nhiệm vụ này đều được triển khai đúng kế hoạch đạt kết quả tốt Ngoài các dự án quốc tế, các đề tài cấp Bộ/ĐHQG, ĐHQGHN đã thực hiện 81 đề tài cấp nhà nước và số lượng ngày càng tăng theo các năm Số lượng đề tài cấp nhà nước tăng trung bình 7 đề tài/năm Năm 2009 có số lượng đề tài cấp nhà nước nhiều nhất từ trước đến nay (32

đề tài), gấp 3 lần năm 2006

Trang 32

Bảng 2.2 Số lượng công trình khoa học công bố giai đoạn 2006-2008

Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008

(Nguồn: Báo cáo về tổ chức và hoạt động của ĐHQGHN năm 2009)

Bên cạnh các bài báo đăng tạp chí trong nước, trong 15 năm qua

ĐHQGHN đã công bố hàng trăm công trình chuyên khảo, sách chuyên khảo bằng tiếng Việt có giá trị khoa học cao Số lượng bài in trong tạp chí trong nước tăng dần theo các năm Số lượng bài trong tạp chí quốc tế tăng

từ 101 bài năm 2006 đến 132 bài năm 2008, kỷ yếu hội thảo nước ngoài

từ 141 bài (2006) lên đến 236 bài (2008) Dẫn đầu là trường ĐHKHTN (87 bài báo quốc tế, 167 bài báo trong nước, 48 báo cáo tại hội thảo khoa học quốc tế, 148 báo cáo hội nghị khoa học trong nước), tiếp theo là Trường ĐHKHXH&NV (tương ứng là 2; 140; 15; 184)

NCKH của sinh viên được ĐHQGHN và các đơn vị quan tâm tổ chức thực hiện Trong năm 2008, ở ĐHQGHN có 1628 báo cáo khoa học sinh viên, trong đó 588 báo cáo là của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV,

268 báo cáo của ĐHKHTN

Trang 33

Hoạt động NCKH góp phần quan trọng trong việc đào tạo chất lượng cao tại ĐHQGHN Trong nhiều năm qua ĐHQGHN luôn là một trong những đơn vị dẫn đầu về thành tích giảng dạy và NCKH ĐHQGHN là một trong 7 đơn vị trong toàn quốc được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen vì có thành tích trong công tác tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động NCKH của sinh viên giai đoạn 1999-2004 Chính phủ đánh giá cao

và ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý dành cho ĐHQGHN và các đơn vị thành viên, trong đó có Huân chương Sao Vàng (năm 2006), 01Huân chương Hồ Chí Minh (2003), 03 Huân chương độc lập, 04 đơn vị được tặng danh hiệu Anh hùng thời kỳ đổi mới và hàng trăm Huân chương các hạng

2.2 Nữ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

2.2.1 Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy

Trong trường đại học, hoạt động giảng dạy là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của giảng viên Sự phát triển lớn mạnh của ĐHQGHN ngày nay có công lao đóng góp to lớn của tất cả cán bộ viên chức, trong đó có sự đóng góp đặc biệt của đội ngũ cán bộ nữ Trường ĐHKHTN có tổng số cán

177 thạc sĩ Trong đó có 158 giảng viên nữ/351 giảng viên, chiếm 45,01%

Sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ nữ qua các thời kỳ, đại diện là các nữ GS, PGS và TS là những minh chứng cho sự phát triển và vươn lên

Trang 34

mạnh mẽ của đội ngũ nữ cán bộ nữ tại Trường ĐHKHXH&NV và ĐHKHTN Trong 5 năm qua, các nữ giảng viên của 2 trường đã tham gia giảng dạy nhiều môn học, ở nhiều loại hình đào tạo khác nhau như chính quy, tại chức, văn bằng II, cao học, nghiên cứu sinh… Ngoài ra, các nữ cán

bộ còn tham gia hướng dẫn sinh viên viết chuyên đề, tiểu luận, khoá luận; hướng dẫn sinh viên thực tập và thực tế; hướng dẫn các học viên cao học, NCS hoàn thành luận văn, luận án Quá trình chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang đào tạo tín chỉ có nhiều điều mới mẻ nhưng các cán bộ nữ đã tích cực chủ động tìm hiểu và nhanh chóng thích ứng với những yêu cầu của loại hình đào tạo mới Các giảng viên đã áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy: thảo luận nhóm, seminar, bài tập nhóm giúp cho sinh viên dễ dàng tiếp cận với các môn học Các nữ giảng viên luôn đạt được những thành tích xuất sắc và nhận được sự ủng hộ từ phía nhà trường, đồng nghiệp và các thế hệ sinh viên Đến nay việc áp dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với đào tạo theo tín chỉ được hầu hết các giảng viên trong trường hưởng ứng

Qua việc tìm hiểu về nhiệm vụ giảng dạy và NCKH của nữ cán bộ trường ĐHKHXH &NV và ĐHKHTN trong năm học 2008-2009, chúng tôi thu được kết quả sau:

Trang 35

Biểu đồ 2.2 Các công việc đã hoàn thành trong năm học 2008-2009

10 20 30 40 50 60 70

Biên soạn bài giảng

Huớng dẫn sinh viên NCKH

Hướng dẫn SV làm báo cáo thực tập

Hướng dẫn SV làm khoá luận tốt nghiệp

Hướng dẫn học viên làm luận văn

Hướng dẫn NCS

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả)

Kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 2.2 cho thấy trong năm học 2008-2009

có 37.0% nữ cán bộ hoàn thành việc biên soạn bài giảng Trước yêu cầu đổi mới về giáo dục đào tạo, các nữ giảng viên không ngừng nâng cao trình độ, say mê tìm tòi kiến thức để truyền đạt cho sinh viên Có 59.5% nữ giảng viên hướng dẫn sinh viên NCKH, hướng dẫn sinh viên làm báo cáo thực tập (44.6%) và hướng dẫn sinh viên làm khoá luận tốt nghiệp (45.9%) Hướng dẫn học viên cao học và nghiên cứu sinh chiếm tỷ lệ lần lượt là 7.2% và 3.1%

Đối với giảng viên, một trong những tiêu chí để đánh giá, nhận xét thi đua là việc thực hiện giờ giảng dạy Định mức giờ chuẩn đào tạo đại học được quy định theo chức danh (GS, PGS, Giảng viên chính, TS, Giảng viên, Giảng viên hợp đồng…) và theo đặc thù của các môn học (Môn Khoa học Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Ngoại ngữ, Thể chất và các môn học

Trang 36

khác…) Kết quả khảo sát về khối lượng giảng dạy của nữ giảng viên của 2 trường trong năm học 2008-2009 như sau:

Bảng 2.3 Khối lượng giảng dạy của cán bộ nữ

Giờ quy đổi xét khen thưởng (%)

Giờ quy đổi tính vượt giờ (%)

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả)

Khối lượng giờ dạy trong trường là do khoa/bộ môn điều động trên cơ

sở năng lực của giảng viên và yêu cầu của sinh viên, cân đối thời gian và khối lượng công việc của mỗi giảng viên Chất lượng giảng dạy của giảng viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khối lượng công việc giảng dạy, biên soạn giáo trình bài giảng… Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.3 cho thấy, đối với

“Giờ quy đổi để xét khen thưởng” có 43.2% nữ cán bộ giảng dạy vượt mức, 54.1 đủ định mức và 2.7% là chưa đủ định mức Đối với giờ quy định để tính vượt giờ 37.8% vượt mức và 58.1% đủ định mức Với mức khối lượng giảng dạy như vậy, phần lớn giảng viên có điều kiện về thời gian để đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng bài giảng, nhưng sự đầu tư là khác nhau giữa giảng viên nam và nữ, trên cơ sở năng lực bản thân, điều kiện gia đình và các yếu tố khách quan tác động Việc so sánh giữa vai trò của cán bộ nữ trong mối quan hệ với nam cán bộ trong trường đại học sẽ đưa đến những cách nhìn khách quan

Trang 37

Biểu đồ 2.3 Nhận xét về mức độ giảng dạy của nữ giảng viên

020406080100120

Giảng dạyđại học

Dạy Sauđại học

Hướng dẫnNCS

Nhiều hơn

ít hơnNgang nhau

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả)

Như vậy, theo đánh giá của những người được hỏi, sự tham gia của

nữ giảng viên vào các hoạt động giảng dạy đại học so với nam là tương đối ngang bằng (70.2%), thậm chí có 11.2% ý kiến nhận xét nữ tham gia nhiều hơn nam Tuy thế, mức độ tham gia giảng dạy của nữ giảng viên ở bậc Sau đại học và hướng dẫn nghiên cứu sinh thì ít hơn nam giới Ở bậc Sau đại học, chỉ có 36.8% ý kiến đánh giá giảng viên nam và nữ dạy ngang nhau, trong khi đó 63.2% người cho rằng nữ giảng viên dạy sau đại học ít hơn Tương tự ở việc hướng dẫn NCS, gần 80% ý kiến nhận xét nữ hướng dẫn NCS ít hơn nam và không có ý kiến nào đánh giá cao hơn (biểu đồ 2.4) Nguyên nhân của vấn đề này được lý giải qua trả lời phỏng vấn sâu của một

nam giảng viên như sau: “Nữ có học hàm, học vị thấp hơn nam giới nên tỷ

lệ được phân công dạy sau đại học và hướng dẫn nghiên cứu sinh đương nhiên là thấp hơn nam ” (PVS, nam Trường ĐHKHX&NV)

Trang 38

Biểu đồ 2.4 Thời gian dành cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp

của nữ cán bộ (%)

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả)

Kết quả nghiên cứu cho thấy nữ cán bộ giảng dạy đã dành nhiều thời gian cho việc nâng cao trình độ Ngoài giờ lên lớp, các công việc được nhiều người thực hiện là: cập nhật kiến thức chuyên môn (94.6%), biên soạn bài giảng (81.1%) Tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ là một yêu cầu cấp thiết Do tác động tích cực của chính sách tuyển dụng, phong chức danh khoa học (trình độ ngoại ngữ được coi như một tiêu chuẩn quan trọng) và đặc biệt do sức ép của công việc nên trình độ ngoại ngữ và khả năng sử dụng máy tính của giảng viên đã được nâng lên rõ rệt Các cán bộ phải học ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh để có thể đọc được các bài báo, các thông tin khoa học mới Việc tham gia các hội thảo quốc tế là những cơ hội quý giá để nâng cao trình độ chuyên môn và ngoại ngữ Đối với cán bộ trẻ thì việc giỏi ngoại ngữ là một cơ hội lớn giúp

Trang 39

cho việc học tập và đào tạo ở nước ngoài Tuy vậy, trong mẫu nghiên cứu,

tỷ lệ nữ cán bộ tự trau dồi kiến thức về ngoại ngữ và tin học là không cao, chiếm 40.4% (trau dồi ngoại ngữ) và 38.4% học tin học

Số giờ dạy ngoài trường do khoa phân công hoặc có thể do giảng viên

tự liên hệ nhận, sự điều động không theo quy trình phân công lao động của đơn vị Một bộ phận nữ tham gia vào các hoạt động để tăng thêm thu nhập như dạy học ngoài trường (64.9%) và tham gia các đề tài, dự án (43.2%),

Tỷ lệ nữ cán bộ làm việc nhà và dạy con học lần lượt là 85.1% và 77.0% Tỷ lệ nghịch với đó là thời gian nghỉ ngơi giải trí hạn chế (38.3%)

Công việc ở trường nữ cũng có vai trò như nam giới nhưng xét ở trong gia đình thì nữ phải chợ búa, cơm nước nữ làm nhiều hơn và thời gian nghỉ ngơi giải trí cũng ít hơn (PVS nữ, Trường ĐHKHXH&NV)

Trang 40

Biểu đồ 2.5 Thời gian dành cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp

của nam cán bộ (%)

(Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả)

Như vậy, về thời gian biên soạn bài giảng và cập nhật kiến thức chuyên môn, so sánh giữa nữ cán bộ và nam cho thấy tỷ lệ là tương đương nhau Tỷ lệ này ở cán bộ nam lần lượt là 89.2% và 98.2% so với 81.1% và 94.6%

Ngoài các hoạt động NCKH, tham gia đề tài dự án và trau dồi ngoại ngữ, tin học, xét đến các hoạt động tại gia đình như làm việc nhà, nghỉ ngơi giải trí cho thấy có sự chênh lệch giữa nam và nữ cán bộ Chỉ có 50.8% nam cán bộ làm việc nhà, trong khi nữ cán bộ là 85.1% Tương đương với đó là thời gian nghỉ ngơi, giải trí cũng có sự chênh lệch giữa nam và nữ (74.2%

và 38.3%)

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Giáo trình triết học Mác – Lênin (dùng trong các trường đại học, cao đẳng), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác – Lênin (dùng trong các trường đại học, cao đẳng)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
2. Mai Huy Bích (2002), Giới và thuyết nữ quyền phương Tây, Tạp chí Khoa học và Phụ nữ, (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Phụ nữ
Tác giả: Mai Huy Bích
Năm: 2002
3. Công đoàn trường ĐH Khoa học Tự nhiên (2009), Báo cáo tổng kết phong trào thi đua “Giỏi việc trường- Đảm việc nhà” 5 năm 2005- 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2009), Báo cáo tổng kết phong trào thi đua “Giỏi việc trường- Đảm việc nhà
Tác giả: Công đoàn trường ĐH Khoa học Tự nhiên
Năm: 2009
4. Công đoàn trường ĐHKHXH&NV (2009), Báo cáo tổng kết phong trào thi đua “Giỏi việc trường- Đảm việc nhà” 5 năm 2005-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2009), Báo cáo tổng kết phong trào thi đua “Giỏi việc trường- Đảm việc nhà
Tác giả: Công đoàn trường ĐHKHXH&NV
Năm: 2009
5. Phạm Tất Dong (2001), Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2001), Xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
7. Đại học quốc gia Hà Nội- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2001), Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu xã hội học đáp ứng công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước- Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về Xã hội học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu xã hội học đáp ứng công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước-
Tác giả: Đại học quốc gia Hà Nội- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Năm: 2001
8. Vũ Cao Đàm (1996), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1996
9. Trần Thị Minh Đức (2006), Định kiến và phân biệt đối xử theo giới: Lý thuyết và thực tiễn, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định kiến và phân biệt đối xử theo giới: "Lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2006
10. Gunter Endrweit và G. Trommsdorff (2002), Từ điển Xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã hội học
Tác giả: Gunter Endrweit và G. Trommsdorff
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2002
11. Vũ Quang Hà (2001), Các lý thuyết xã hội học Tập 1, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết xã hội học Tập 1
Tác giả: Vũ Quang Hà
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2001
12. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, Nxb chính trị quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia HN
13. Nguyễn Thị Kim Hoa, Đặng Thị Ánh Nguyệt (2004), Giới và công tác nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Kỷ yếu Toạ đàm khoa học quốc tế Chính sách khoa học và giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, tr.98-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Toạ đàm khoa học quốc tế Chính sách khoa học và giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hoa, Đặng Thị Ánh Nguyệt
Năm: 2004
14. Nguyễn Thị Thu Huyền (2007), “Thái độ của cán bộ viên chức với việc phụ nữ tham gia lãnh đạo trong trường đại học”, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái độ của cán bộ viên chức với việc phụ nữ tham gia lãnh đạo trong trường đại học
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huyền
Năm: 2007
16. Trần Thị Bạch Mai (2002), Giảng viên nữ và hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, quản lý trong trường đại học, Khoa học và Phụ nữ, số 4, tr.13-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và Phụ nữ
Tác giả: Trần Thị Bạch Mai
Năm: 2002
17. Võ Thị Mai (2002), Vai trò nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, Luận án Tiến sĩ Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò nữ cán bộ quản lý nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Võ Thị Mai
Năm: 2002
18. Caroline O.N Moser (1996), Kế hoạch hoá về giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hoá về giới và phát triển
Tác giả: Caroline O.N Moser
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
19. Quy định về tuyển dụng và đào tạo, bồi dƣỡng giảng viên ĐHQGHN 20. Lê Thị Quý (2009), Giáo trình xã hội học Giới, Nxb Giáo dục ViệtNam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học Giới
Tác giả: Quy định về tuyển dụng và đào tạo, bồi dƣỡng giảng viên ĐHQGHN 20. Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
21. Lê Thị Quý (1999), Những vấn đề đặt ra cho khoa học nghiên cứu về giới ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, (số 18-19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Lê Thị Quý
Năm: 1999
22. Nguyễn Đình Tấn (2007), Vai trò của nữ trí thức trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa, Nghiên cứu Gia đình và Giới, quyển 17 (số 2, tr.5-11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của nữ trí thức trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Tác giả: Nguyễn Đình Tấn
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Số lượng công trình khoa học công bố giai đoạn 2006-2008 - Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.2. Số lượng công trình khoa học công bố giai đoạn 2006-2008 (Trang 32)
Bảng 2.3. Khối lượng giảng dạy của cán bộ nữ - Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.3. Khối lượng giảng dạy của cán bộ nữ (Trang 36)
Bảng 2.4. Tham gia làm chủ nhiệm đề tài NCKH các cấp - Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.4. Tham gia làm chủ nhiệm đề tài NCKH các cấp (Trang 48)
Bảng 2.5. Số lượng giáo trình của nam, nữ giảng viên trong 5 năm qua - Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.5. Số lượng giáo trình của nam, nữ giảng viên trong 5 năm qua (Trang 49)
Bảng 2. 7 Đánh giá của giảng viên về sự ủng hộ của nhà trường, đồng  nghiệp đối với nam và nữ cán bộ trong hoạt động giảng dạy (%) - Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2. 7 Đánh giá của giảng viên về sự ủng hộ của nhà trường, đồng nghiệp đối với nam và nữ cán bộ trong hoạt động giảng dạy (%) (Trang 57)
Bảng 2.8. Đánh giá của giảng viên về sự ủng hộ của nhà trường, đồng  nghiệp đối với nam và nữ cán bộ trong hoạt động NCKH (%) - Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.8. Đánh giá của giảng viên về sự ủng hộ của nhà trường, đồng nghiệp đối với nam và nữ cán bộ trong hoạt động NCKH (%) (Trang 58)
Bảng 2.9. Đánh giá của giảng viên về các yếu tố cá nhân của nam và nữ - Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.9. Đánh giá của giảng viên về các yếu tố cá nhân của nam và nữ (Trang 62)
Bảng 2.10. Đánh giá của giảng viên về các yếu tố cá nhân - Vai trò của nữ cán bộ trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Bảng 2.10. Đánh giá của giảng viên về các yếu tố cá nhân (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w