1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

124 856 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được điều đó, người dân Yên Thường đã giúp đỡ nhau trong phát triển sản xuất và trong đời sống, tham gia vào các hoạt động tập thể, các hoạt động chung của dòng họ, làng xóm và qu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRƯƠNG THỊ NGA

VỐN XÃ HỘI QUA SỰ CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG

Ở VEN ĐÔ HÀ NỘI

(Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm,

thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ: XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRƯƠNG THỊ NGA

VỐN XÃ HỘI QUA SỰ CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG

Ở VEN ĐÔ HÀ NỘI

(Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm,

thành phố Hà Nội)

Chuyên ngành:Xã hội học

Mã số: 60.31.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tuấn Anh

Hà Nội - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

2.1 Ý nghĩa khoa học 7

2.2 Ý nghĩa thực tiễn 7

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14

4.1 Đối tượng nghiên cứu 14

4.2 Khách thể nghiên cứu 14

4.3 Phạm vi nghiên cứu 14

5 Mục tiêu nghiên cứu 15

6 Câu hỏi nghiên cứu 15

7 Giả thuyết nghiên cứu, khung phân tích 15

7.1 Giả thuyết nghiên cứu 15

7.2 Khung phân tích 16

8 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật xử lý thông tin 16

8.1 Phương pháp nghiên cứu 16

8.1.1 Phân tích tài liệu 16

8.1.2 Quan sát 17

8.1.3 Phỏng vấn sâu 17

8.2 Kỹ thuật xử lý thông tin 18

9 Cấu trúc của luận văn 18

PHẦN 2 NỘI DUNGNGHIÊN CỨU 19

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 19

1.1 Thao tác hóa khái niệm 19

1.1.1 Cộng đồng và tính cố kết cộng đồng 19

1.1.2 Quan hệ xã hội 21

Trang 4

1.1.3 Mạng lưới xã hội 21

1.1.4 Đoàn kết xã hội 22

1.1.5 Chuẩn mực 22

1.1.6 Lễ cúng giỗ 23

1.1.7 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 23

1.1.8 Lễ cưới 24

1.1.9 Lễ tang 24

1.1.10 Hội làng 24

1.1.11Vùng ven đô thị 25

1.2 Lý thuyết áp dụng 25

1.2.1 Quan điểm lý thuyết về cố kết cộng đồng – vốn xã hội 25

1.2.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng của Robert Merton 27

1.2.3 Lý thuyết tương tác biểu trưng của Herbert Blumer 28

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 29

CHƯƠNG 2: CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG QUA VIỆC TẠO DỰNG 32

VỐN XÃ HỘI 32

2.1 Tạo dựng vốn xã hội qua việc thờ cúng tổ tiên 33

2.2 Tạo dựng vốn xã hội thông qua việc cưới, việc tang 36

2.3 Tạo dựng vốn xã hội thông qua hoạt động tham gia lễ hội làng 45

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG VỐN XÃ HỘI – HỆ QUẢ TÍCH CỰC CỦA

CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG 51

3.1 Vốn xã hội trong sản xuất nông nghiệp 52

3.2 Vốn xã hội trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp 61

3.3 Vốn xã hội trong hoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán 70

PHẦN 3: KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

PHỤ LỤC 1: BẢNG HỎI KHẢO SÁT 86

PHỤ LỤC 2: BẢN GHI PHỎNG VẤN SÂU 104

Trang 5

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 2.1.1: Tổ chức ngày giỗ trong gia đình, dòng họ 34 Bảng 2.2.1: Sự giúp đỡ nhau trong việc cưới của người dân Yên Thường (Đơn vị: %) 37 Bảng 2.2.2: Sự giúp đỡ nhau trong việc tang của người dân Yên Thường (Đơn vị: %) 40 Bảng 2.3.1: Nhận định của các gia đình về ý nghĩa của lễ hội làng 48 Bảng 3.1.1: Hình thức thuê mượn ruộng và đổi công trong nông nghiệp (Đơn vị: %) 53 Bảng 3.2.1: Các quan hệ và hình thức hợp tác trong phát triển tiểu thủ công nghiệp (Đơn vị: %) 64 Bảng 3.3.1 Mối quan hệ và hình thức hợp tác trong kinh doanh, buôn bán, dịch vụ (Đơn vị: %) 72

Trang 6

MỤC LỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.3.1: Sự tham gia của người dân vào hoạt động lễ hội ở địa phương (Đơn vị: %) 46 Biểu đồ 3.1.1: Tương quan giữa loại hình kinh tế gia đình với hình thức đổi công và thuê mượn ruộng trong nông nghiệp (Đơn vị: %) 56 Biểu đồ 3.1.2: Mối quan hệ giữa các hộ gia đình có tham gia hợp tác, giúp

đỡ nhau trong sản xuất nông nghiệp (Đơn vị: %) 58 Biểu đồ 3.2.1: Tương quan giữa số thế hệ trong gia đình với các gia đình

có sản xuất tiểu thủ công nghiệp (Đơn vị: %) 63 Biểu đồ 3.3.1: Tương quan giữa loại hình kinh tế với số gia đình kinh doanh dịch vụ 71

Trang 7

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ ngàn đời xưa, trong phạm vi một làng, cuộc sống lao động gian khổ

đã tạo ra truyền thống đoàn kết, hợp tác, liên kết lại với nhau để đấu tranh với những khó khăn, thách thức, cùng nhau giải quyết các công việc của cộng đồng Chính điều này đã tạo ra sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với nhau trong mối quan hệ gia đình, láng giềng, dòng họ của người Việt Do vậy, tính cộng đồng được thể hiện qua quan hệ dòng họ, quan hệ hàng xóm láng giềng, thể hiện qua việc tuân thủ và giữ gìn các phong tục tập quán biểu hiện trong việc thờ cúng tổ tiên, tổ chức lễ hội làng Tính cộng đồng bền chặt có ở con người Việt Nam từ xưa và đến nay nó càng được thể hiện rõ thông qua việc tham gia vào những hoạt động chung mang tính tập thể và sự hợp tác, giúp đỡ trong lao động sản xuất

Quá trình đô thị hóa với tốc độ nhanh ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng trong những năm gần đây đã dẫn đến việc thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp của các hộ gia đình nông dân Điều này đã tạo tiền đề quan trọng để Hà Nội chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp sang một nền kinh

tế công nghiệp và dịch vụ, mang lại một số cơ hội về vốn tài chính và sự chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp Với người dân ven đô, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đã tác động đến sự chuyển đổi cơ cấu lao động, việc làm, dân số cũng như cách thức tổ chức xã hội ở nông thôn khiến cho người nông dân phải thay đổi một số tập quán sinh hoạt và sản xuất [16, tr 352] Để thích ứng với nền sản xuất kinh tế thị trường đòi hỏi người dân ven đô phải biết cách khai thác nguồn vốn xã hội và vốn con người để chuyển đổi ngành nghề sản xuất, mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội Yên Thường là một xã ven đô thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Trang 8

Ngày nay quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã làm cho kinh tế nông nghiệp củ a Yên Thường có nh ững bước tăng trưởng khá, các ngành nghề kinh doanh dịch vụ phát triển, ngành nghề thủ công truyền thống cũng có những bước chuyển khả quan Đời sống của nhân dân được cải thiện, tỷ lệ hộ giàu, khá tăng nhanh [45] Để đạt được điều đó, người dân Yên Thường đã giúp đỡ nhau trong phát triển sản xuất và trong đời sống, tham gia vào các hoạt động tập thể, các hoạt động chung của dòng họ, làng xóm và qua đó tạo dựng được nguồn vốn xã hội với biểu hiện cụ thể là niềm tin, sự có đi có lại, mở rộng các mối quan hệ xã hội trong làm ăn, buôn bán Đồng thời việc khai thác nguồn vốn xã hội mình có được trong việc thực hiện các hoạt động kinh tế tại địa phương, sự cố kết cộng đồng cũng tạo ra những hệ quả tích cực của nó với biểu hiện cụ thể là con người càng gắn bó, đoàn kết và gần gũi nhau hơn, tinh thần tập thể được nâng cao Bằng việc tham gia sinh hoạt trong dòng họ, các hoạt động lễ hội tại địa bàn cư trú, người dân ven đô có thể học hỏi và giúp đỡ nhau trong sản xuất nông nghiệp, phát triển cây trồng vật nuôi, sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng như kinh doanh buôn bán và dịch vụ Người dân ven đô

đã biết cách khai thác nguồn vốn xã hội của mình trong cộng đồng để tìm kiếm lợi ích kinh tế hay nói cách khác sự cố kết cộng đồng đã mang lại hệ quả tích cực cho người dân ven đô trong hoạt động kinh tế

Phát triển vốn xã hội là một trong những nền tảng cơ bản cho sự phát triển đất nước trong cái nhìn toàn cảnh nói chung Gần đây ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vốn xã hội, phân tích vai trò và tác động của chúng đối với biến đổi kinh tế xã hội, gợi ý những giải pháp để khai thác có hiệu quả nguồn vốn này cho phát triển Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ

đề cập đến nguồn vốn xã hội nói chung, còn thiếu những nghiên cứu về vốn

xã hội ứng dụng ở những cấp độ khác nhau trong cơ cấu xã hội và chưa bàn đến vấn đề liên kết, cố kết cộng đồng từ góc nhìn vốn xã hội Vì vậy nghiên

Trang 9

cứu “Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội” là thực sự cần

thiết, nhất là đối với người dân ven đô ở Hà Nội dưới tác động của quá trình

đô thị hóa để phát huy và khai thác có hiệu quả nguồn vốn này trong các quan

hệ cộng đồng, phát triển kinh tế hộ và nâng cao đời sống

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn đã vận dụng hệ thống lý thuyết về vốn xã hội qua cách tiếp cận xã hội học, lý thuyết cấu trúc chức năng, thuyết tương tác biểu trưng, cùng các khái niệm để tìm hiểu các biểu hiện của vốn xã hội, của tính cố kết cộng đồng ở một làng ven đô Từ góc nhìn vốn xã hội, nghiên cứu tìm hiểu cách thức người dân ven đô tạo ra sự cố kết cộng đồng và vận dụng cố kết cộng đồng để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động kinh tế

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn là những dữ liệu quan trọng làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả nguồn vốn xã hội và nâng cao sự cố kết cộng đồng ở vùng ven đô Hà Nội hiện nay

3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vốn xã hội của người dân và đặc biệt là việc sử dụng nguồn vốn này trong sinh hoạt và sản xuất vẫn đang là một hướng nghiên cứu quan trọng của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có xã hội học Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc vận dụng vốn xã hội trong sinh hoạt, lao động và sản xuất của các học giả Việt Nam phải kể đến như:

Nghiên cứu “Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân

ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa” là công trình nghiên cứu của tác

giả Nguyễn Duy Thắng (2007).Với nghiên cứu này tác giả đã mô tả cụ thể vốn xã hội của người nông dân ven đô qua các thời kỳ khác nhau và việc vận dụng nó trong chiến lược việc làm và sử dụng đất Ở ven đô Hà Nội phương

Trang 10

thức sản xuất hàng hóa theo mô hình kinh tế hộ gia đình đã hình thành những mối quan hệ xã hội giữa người sản xuất với các bạn hàng và đại lý tiêu thụ sản phẩm Nhờ vậy mà người nông dân đã thu được những thông tin cần thiết

và tin cậy về thị trường để quyết định đầu vào sản xuất [19, tr 41] Tác giả cũng chỉ ra việc sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sử dụng đất thông qua việc các hộ nông dân đã tự nguyện dồn điền đổi thửa để tạo ra một mảnh đất lớn và cùng đầu tư vào sản xuất Một lợi thế của nhiều hộ nông dân ven đô là

họ vừa sản xuất nông nghiệp vừa tham gia buôn bán nhỏ nên họ đã thu được những kinh nghiệm thị trường và những mối quan hệ bạn hàng để sử dụng trong chiến lược sinh kế của họ [19, tr 46] Như vậy người nông dân ven đô

đã biết sử dụng vốn xã hội của mình trong sản xuất và đời sống để giúp đỡ nhau những lúc khó khăn hay rủi ro Việc sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế đã giúp cho họ giảm được chi phí đầu vào cho sản xuất và các chi phí giao dịch trong tìm kiếm việc làm hay thị trường, đồng thời chia sẻ các nguồn thông tin đáng tin cậy về thị trường

Tương tự như nghiên cứu trên, trong nghiên cứu “Quan hệ họ hàng với

việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất dưới góc nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ”[24] các tác giả đã lấy những dẫn chứng rất cụ thể về việc

sử dụng vốn xã hội thông qua quan hệ họ hàng trong việc đổi ruộng, thuê, mượn ruộng Trong nghiên cứu này, các tác giả đã chỉ ra rằng người nông dân

đã khai thác hiệu quả nguồn vốn xã hội của mình - với biểu hiện cụ thể là tinh thần trách nhiệm và sự tin cậy lẫn nhau giữa những người có quan hệ họ hàng

- đã tiến hành đổi ruộng đất cho nhau, nhận chung ruộng cùng nhau khi dồn điền đổi thửa, hay thuê - mượn ruộng của nhau sau dồn điển đổi thửa để tiện canh tác Từ những ví dụ rất cụ thể tác giả đi đến kết luận: sự liên kết các mối quan hệ họ hàng, nhất là họ hàng lấy cá nhân làm trung tâm về thực chất là người nông dân đã khai thác rất hiệu quả nguồn vốn xã hội tiềm ẩn của mình

Trang 11

Nhờ khai thác vốn xã hội mà những người đứng ở vị trí trung tâm trong mối quan hệ và cả những người có liên quan đến việc thuê mượn đất đó đều được hưởng lợi Nguồn vốn xã hội này vốn có một cơ sở vững chắc, là tinh thần trách nhiệm và sự tin cậy lẫn nhau giữa những người có quan hệ họ hàng thân thích, thứ quan hệ - mà theo dân gian thường nói là “một giọt máu đào hơn ao nước lã” Nhờ có quan hệ này mà sự liên kết đã diễn ra dễ dàng, quá trình liên kết không chỉ bền vững mà còn hiệu quả [24, tr 14]

Cũng trong một bài viết khác “Quan hệ họ hàng – một nguồn vốn xã

hội trong phát triển kinh tế hộ gia đình nông thôn”, tác giả Nguyễn Tuấn Anh

(2012) đã cho thấy sự cố kết trong mối quan hệ họ hàng đã tạo ra nguồn vốn

xã hội được người dân sử dụng để tìm kiếm lợi ích Người dân đã vận dụng nguồn vốn xã hội thông qua mạng lưới họ hàng để hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất, một sự hỗ trợ mang tính chất có đi có lại Bởi kinh tế hộ gia đình là dựa trên việc tổ chức sản xuất, kinh doanh của lao động gia đình Điều này tất yếu đòi hỏi sự liên kết giữa các hộ gia đình trong quá trình sản xuất để huy động vốn, chuyển giao kỹ thuật, công cụ sản xuất, tổ chức lao động, và tiếp cận thị trường [4, tr 55] Người dân không chỉ khai thác nguồn vốn xã hội thông qua quan hệ họ hàng để tương trợ nhau trong sản xuất nông nghiệp

mà còn giúp nhau trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp vì ngành này trước đây hoạt động dựa trên quan hệ họ hàng Qua bài viết ta thấy, tác giả muốn nhấn mạnh đến quan hệ họ hàng được người dân khai thác và sử dụng như một nguồn vốn xã hội để thông qua đó có thể tương trợ, giúp đỡ nhau trong làm ăn kinh tế Sự liên kết trong họ hàng có thể là trực tiếp hay gián tiếp nhưng qua

đó người dân có thể hợp tác với nhau để tìm kiếm lợi ích trong sản xuất

Trong bài viết “Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn” tác giả

Hoàng Bá Thịnh (2009) đã đề cập đến tính cộng đồng thông qua việc tham gia vào các sự kiện cưới xin, ma chay ở nông thôn như một sự có đi có lại và

Trang 12

đây là những phí tổn để người dân duy trì nguồn vốn xã hội của mình Trong đời sống thôn xóm, những sự kiện trong sinh hoạt của người dân như việc hiếu, hỷ hay thăm hỏi người khác lúc đau ốm, hoạn nạn, gặp rủi ro trong cuộc sống… thường có tính cộng đồng rất cao, thu hút đông đảo người dân tham gia dù không phải là anh em họ hàng [22, tr 38] Nếu ai đó không tham gia các hoạt động có tính cộng đồng như vậy thì chính họ đã làm mất đi vốn xã hội của mình trong khi người khác lại đang duy trì, củng cố làm giàu thêm vốn xã hội Đối với các công việc liên quan đến ma chay, cúng lễ thì ai cũng tham gia không chỉ bởi “nghĩa tử là nghĩa tận” mà còn muốn chia sẻ, giúp đỡ, động viên gia chủ khi gặp chuyện buồn Sự giúp đỡ không chỉ về mặt thời gian, công sức mà còn giúp đỡ về kinh tế, đây chính là “phí tổn” cho vốn xã hội mà tác giả muốn đề cập đến Trên cơ sở nêu lên những khái niệm, đặc trưng và những phí tổn của vốn xã hội tác giả đi đến kết luận: vốn xã hội là thước đo cộng đồng như mạng lưới, lòng tin, sự kết hợp và cam kết đối với phúc lợi và chia sẻ các giá trị của cộng đồng và xã hội Vốn xã hội được thể hiện rõ nhất trong mối quan hệ hàng xóm láng giềng, là mối quan hệ luôn luôn được đánh giá cao [22, tr 49]

Vốn xã hội không phải chỉ đơn thuần là sự tổng hợp những khối lượng vật chất của xã hội mà là chất keo làm dính chặt những khối lượng tài sản xã hội này lại với nhau Vốn xã hội chính là con người, trong khi con người lại chính là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội hiện hữu và phát triển trong một hoàn cảnh kinh tế, một bối cảnh lịch sử, một truyền thống văn hóa cụ thể nào

đó Vì vậy việc áp dụng vốn xã hội vào thực tế cuộc sống là rất cần thiết Nó giúp cho con người đoàn kết với nhau hơn, giàu tinh thần hợp tác và chia sẻ,

có tay nghề vững vàng trong lĩnh vực chuyên môn, phong cách xử sự hợp tác làm ăn nghiêm túc, đáng tin cậy Đây là những biểu hiện tích cực của sự cố kết cộng đồng trong làng xã.Tính cộng đồng là một vấn đề từ lâu đã được

Trang 13

nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học nhân văn khác nhau như tâm lý, văn hóa, lịch sử, nông thôn Bàn về sự cố kết cộng đồng ở nông thôn Việt Nam không thể không kể đến một số tác giả như Vũ Hào Quang, Nguyễn Đức Truyến, Phan Đại Doãn,…

Trong bài viết dự hội thảo của tác giả Vũ Hào Quang với tựa đề “Tác

động của đô thị hóa đến hình thức cố kết cộng đồng nông dân hiện nay” tác

giả đã nhấn mạnh rằng quá trình đô thị hóa với tư cách là một trong những nhân tố rất quan trọng tạo ra các quan hệ xã hội mới, tính cố kết cộng đồng mới ở nông thôn Tính cố kết cộng đồng dựa trên mặt lợi ích đã chi phối mạnh cách ứng xử của người nông dân.Người nông dân thuần nông đã tận dụng các quan hệ tình cảm làng xóm để xin việc làm thêm vào những ngày nông nhàn, hay di cư đi nơi khác để tìm việc Nhờ đó mà mối quan hệ xã hội mới được thiết lập dựa trên các quan hệ truyền thống như: quan hệ đồng hương, quan hệ họ hàng, quan hệ bạn hàng hay bạn nghề [16, tr 355] Tính cố kết cộng đồng theo tác giả cũng được biểu hiện thông qua quá trình áp dụng

kỹ thuật vào sản xuất Trong quá trình sản xuất ở nông thôn hiện nay, nền kinh tế nửa thị trường nửa tự cung tự cấp dẫn tới một loại quan hệ hay cố kết

“kinh tế dựa trên quan hệ tình cảm cộng đồng làng xóm” [16, tr 357].Tính cố kết cộng đồng cũng thể hiện qua việc người dân chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác, giúp đỡ nhau để năng suất được cao hơn, lợi nhuận được nhiều hơn.Quan hệ giữa những người nông dân được củng cố bởi mối quan hệ lợi ích lẫn giá trị tinh thần Như vậy có thể thấy trong bài viết này, tác giả nhấn mạnh đến vai trò, tác động của yếu tố cộng đồng trong việc tìm kiếm việc làm, học hỏi, chia

sẻ kinh nghiệm sản xuất, trong quá hình thành những mối quan hệ mới

Tác giả Nguyễn Đức Truyến (2003) với cuốn sách “Kinh tế hộ gia đình

và các quan hệ xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới” đã nhấn mạnh đến cấu trúc và chức năng của kinh tế hộ gia đình đồng

Trang 14

thời nêu lên vai trò của họ hàng, làng xóm trong phát triển kinh tế hộ Kinh tế

hộ gia đình và hình thức tổ chức của nó quyết định sự hình thành các trục quan hệ cơ bản trong cộng đồng Tổ chức kinh tế hộ nông dân tạo ra sự cố kết giữa các thành viên của nó thông qua hình thức sống chung, sở hữu chung, hoạt động kinh tế chung và hưởng thụ chung các tài sản và thành quả sản xuất của hộ gia đình [26, tr 71] Các mối quan hệ gia đình được hình thành và tái tạo dựa trên các quan hệ kinh tế và sản xuất trong kinh tế hộ gia đình Ở đồng bằng sông Hồng, ngoài quan hệ họ hàng, tác giả còn nhấn mạnh đến mối quan

hệ không cùng huyết thống và hôn nhân mà theo đơn vị cư trú như hàng xóm láng giềng Tác giả cho rằng chính tính chất gần gũi về không gian và sự cộng

cư từ lâu đời của loại cộng đồng lãnh thổ này dẫn tới sự hiểu biết lẫn nhau thật sâu sắc giữa các thành viên của nó Sự thường xuyên hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, đảm bảo cho loại cộng đồng cư trú này có được những thiết chế xã hội bền chắc và hiệu quả có sức cạnh tranh gay gắt với thiết chế dòng họ [26, tr 137] Quan hệ họ hàng được hình thành dựa trên tinh thần tự giác tham gia vào các công việc chung và tinh thần tự giác tham gia, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau giữa các thành viên trong dòng họ Trong nghiên cứu này tác giả đề cập đến tính cố kết cộng đồng giữa các thành viên trong gia đình để hưởng những lợi ích chung Tính cố kết cộng đồng cũng được thể hiện trong quan hệ họ hàng, làng xóm với sự quan tâm, chia sẻ giúp đỡ nhau mỗi khi có chuyện buồn, vui, công to việc lớn trong dòng họ hay trong thôn, xóm đã làm cho tình cảm của người dân ngày càng bền chặt

Giáo sư Phan Đại Doãn có bài viết: “Làng Việt Nam – cộng đồng đa

chức năng liên kết chặt chẽ” đã cho thấy sự cố kết cộng đồng chặt chẽ trong

phạm vi họ hàng, làng xã Theo tác giả sự cố kết dòng họ đã hỗ trợ cho nền kinh tế tiểu nông khá tốt, giúp nền kinh tế tiểu nông khắc phục được nhiều trở ngại, khó khăn trong sản xuất và sinh hoạt [8, tr 10] Ở làng xã, việc hình

Trang 15

thành các phường hội nghề nghiệp không chỉ làm tăng sự kết hợp về nghề nghiệp và cư dân mà còn làm tăng sự kết hợp các tổ chức và quan hệ xã hội Chính trong làng cổ truyền Việt Nam, sự đan xen giữa các ngành nghề, sự xuất hiện các tổ chức phường, hội nghề nghiệp, duy trì các quan hệ họ hàng, làng xóm đã tạo nên sự vững mạnh, bền chặt của làng [8, tr 14] Mỗi cá nhân sống trong làng không phải là cá nhân đơn lẻ mà là thành viên của cộng đồng làng Do vậy mà sự cố kết cộng đồng trong làng thường rất cao Như vậy, qua bài viết, tác giả muốn nhấn mạnh đến sự đoàn kết, sức mạnh của làng Việt Nam truyền thống được thể hiện trong tổ chức dòng họ, hội, phường nghề nghiệp.Việc tham gia vào các tổ chức này người dân sẽ giúp đỡ nhau, góp phần giảm bớt những khó khăn trong sản xuất và đời sống Từ sự hợp tác, giúp đỡ này, con người càng hiểu nhau hơn, đoàn kết, gắn bó với nhau hơn và

do đó sự liên kết trong làng xã càng cao hơn

Cũng bàn về tính cộng đồng trong việc xây dựng đời sống kinh tế ở

nông thôn, tác giả Lê Hữu Xanh (2001) qua cuốn sách “Tác động của tâm lý

làng xã trong việc xây dựng đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay” đã đề cập đến mặt tích cực và tiêu cực của tâm lý

cộng đồng làng xã đến đến đời sống kinh tế xã hội của người dân Bàn về mặt tích cực của tâm lý cộng đồng, tác giả nêu bật được tính cộng đồng, tâm lý cộng đồng trong quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm để cùng hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong hoạt động sản xuất và thông qua các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cộng đồng Ở nông thôn do sản xuất nông nghiệp mang tính chất thời vụ, khẩn trương nên các thành viên trong cộng đồng phải gắn kết với nhau để đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống, từ đó hình thành nên tinh thần tương thân tương ái, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc xây dựng đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn [30, tr 72] Tính cộng đồng cũng được thể hiện trong việc giữ gìn và phát huy phong tục tập quán tốt đẹp của làng xã Điều này được

Trang 16

người dân nông thôn Việt Nam duy trì thông qua các hình thức lao động sản xuất, qua tục lệ cưới xin, tang ma, thờ cúng, lễ hội,… Chính việc tham gia các hoạt động sản xuất, tín ngưỡng cộng đồng chung này mà tình cảm cộng đồng được củng cố, thắt chặt và làm cho mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng

xã trở thành mối quan hệ mật thiết ở nông thôn Việt Nam nói chung và ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng

Như vậy, các công trình trên đã có những đóng góp nhất định trong việc nêu bật việc vận dụng vốn xã hội trong các khía cạnh khác nhau từ đời sống đến kinh tế qua đó cố kết cộng đồng được thể hiện rõ khi người dân cùng nhau tham gia các sinh hoạt cộng đồng, hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong hoạt động kinh tế Qua những nghiên cứu này ta có thể thấy nhờ có nguồn vốn xã hội – sự cố kết cộng đồng mà người dân đã tìm kiếm được lợi ích, phát huy được sức mạnh tiềm tàng của mình trong sinh hoạt cộng đồng cũng như trong sản xuất, làm cho tình cảm giữa người với người ngày càng bền chặt

Từ lược sử vấn đề trên đây, tôi muốn đi sâu nghiên cứu về nguồn vốn xã hội thông qua sự cố kết cộng đồng

4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội

Trang 17

5 Mục tiêu nghiên cứu

- Phân tích việc tạo nên cố kết cộng đồng trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng từ góc nhìn vốn xã hội

- Phân tích hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng trong lĩnh vực kinh tế

từ góc nhìn vốn xã hội

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Cố kết cộng đồng biểu hiện cụ thể qua vốn xã hội được tạo ra như thế nào qua việc thờ cúng tổ tiên, việc cưới, việc tang?

- Hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng được thể hiện như thế nào qua việc người dân ven đô vận dụng vốn xã hội để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động kinh tế?

7 Giả thuyết nghiên cứu, khung phân tích

7.1 Giả thuyết nghiên cứu

- Thông qua việc cưới, việc tang, việc thờ cúng tổ tiên, người dân ven

đô đã tạo ra sự cố kết cộng đồng được biểu hiện cụ thể qua các thành tố của vốn xã hội bao gồm mạng lưới xã hội, quan hệ có đi có lại, và sự tin cậy giữa những người sống trong cùng cộng đồng

- Hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng được biểu hiện qua việc người dân ven đô dựa vào các thành tố của vốn xã hội như mạng lưới xã hội, sự có

đi có lại, và lòng tin để tìm kiếm lợi ích trong đời sống kinh tế trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, buôn bán và dịch vụ

Trang 18

7.2 Khung phân tích

8 Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật xử lý thông tin

8.1 Phương pháp nghiên cứu

8.1.1 Phân tích tài liệu

Trong nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để phân tích nguồn tài liệu qua một số công trình nghiên cứu cũng như trên các báo,

Lợi ích kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất tiểu

thủ công nghiệp, kinh doanh, buôn bán

Thờ cúng tổ tiên Bối cảnh kinh tế - văn hóa - xã hội ở Yên Thường

Trang 19

tạp chí, mạng internet về vốn xã hội, về tính cố kết cộng đồng trong làng xã của người Việt Nam Phân tích báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội qua các năm của xã Yên Thường là một nguồn tư liệu quan trọng của đề tài nghiên cứu để thu thập những số liệu thống kê kinh tế xã hội góp phần xây dựng lên bức tranh chung của địa bàn nghiên cứu Đặc biệt, đề

tài được thực hiện dựa trên việc phân tích cơ sở dữ liệu của đề tài: “Toàn cầu

hóa và bản sắc làng Việt ở miền Bắc” được quỹ Phát triển Khoa học và

Công nghệ quốc gia (NAFOSTED) tài trợ do PGS.TS Mai Văn Hai làm chủ nhiệm đề tài với 300 người dân đại diện cho 300 hộ gia đình tại xã Yên Thường huyện Gia Lâm Cơ cấu mẫu nghiên cứu được chọn như sau:

8.1.3 Phỏng vấn sâu

Trong nghiên cứu này tôi tiến hành phỏng vấn sâu 5 người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; 5 người hoạt động trong lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp và 5 người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh,

Trang 20

dịch vụ để xem xét nguồn vốn xã hội của họ và sự tương trợ, giúp đỡ nhau trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cộng đồng và trong phát triển kinh tế gia đình ở các nhóm ngành nghề khác nhau

8.2 Kỹ thuật xử lý thông tin

Toàn bộ số liệu định lượng xử lý, phân tích bằng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm phần nội dung chính bao gồm 3 chương Chương 1 với quan điểm lý thuyết về cố kết cộng đồng - vốn xã hội đã làm rõ quan niệm khác nhau về vốn xã hội của các học giả trên thế giới; cùng với hệ thống các khái niệm đã cụ thể hóa các khái niệm nghiên cứu của đề tài Chương 2 nêu lên tính cố kết cộng đồng biểu hiện qua nguồn vốn xã hội được tạo ra thông qua các hoạt động thờ cúng tổ tiên; thăm hỏi, động viên, hỗ trợ, giúp đỡ nhau khi gia đình có việc cưới, việc tang; hay tham gia các lễ hội tại địa phương của người dân ven đô Hà Nội Chương 3 phân tích hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng bằng việc người dân ven đô đã khai thác nguồn vốn xã hội thông qua sự tin tưởng, sự có đi lại trong mạng lưới xã hội để tìm kiếm lợi ích trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh buôn bán, dịch vụ

Trang 21

PHẦN 2 NỘI DUNGNGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Thao tác hóa khái niệm

1.1.1 Cộng đồng và tính cố kết cộng đồng

Khái niệm cộng đồng đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Tâm lý học xã hội, xã hội học, văn hóa học, lịch sử học,… Cho đến nay có nhiều định nghĩa về Cộng đồng:

Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Cộng đồng là tập hợp những người có những điểm giống nhau làm thành một khối như một xã hội” [9, tr 461]

Theo Từ điển Xã hội học Oxford: “Khái niệm cộng đồng đề cập đến một tập hợp những mối quan hệ xã hội được thiết lập một cách đặc thù dựa trên những cái mà thành viên cùng có chung - thường là một cảm quan chung

về bản sắc” [27, tr 114]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cộng đồng xã hội là một tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc Như vậy, cộng đồng xã hội bao gồm một loạt các yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát Đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, về địa lý, về ngôn ngữ, về văn hóa, về tâm lý, về lối sống Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của một cộng đồng xã hội” [25, tr 601]

Tác giả Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang định nghĩa: “Cộng đồng là một nhóm cư dân cùng sinh sống trong một địa vực nhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản” [11, tr 21] Tác giả Tô Duy Hợp cho rằng cộng đồng được cấu thành từ bốn yếu tố: Mối tương quan mật thiết giữa các cá

Trang 22

nhân; Có sự liên hệ về tình cảm, cảm xúc nơi cá nhân trong những nhiệm vụ

và công tác xã hội của tập thể; Có sự dâng hiến tinh thần hoặc dấn thân vì những giá trị mà tập thể đề cao và coi là có ý nghĩa; Tình đoàn kết trong tập thể [10, tr 16]

Bàn về tính cộng đồng, theo Ferdinand Tonnies, cộng đồng có các đặc trưng sau: “Thứ nhất, những quan hệ xã hội nào mang tính chất tinh thần, thân thiện, mang độ cố kết có ý nghĩa tự nhiên thì đấy là tính cộng đồng Thứ hai là tính bền vững Tính cộng đồng được khẳng định theo dòng chảy của lịch sử Thời gian có một vai trò là yếu tố kết dính các thành viên trong cộng đồng Thứ

ba là tính cộng đồng khi được xét từ quan điểm đánh giá và vị thế xã hội của các thành viên xã hội thì đó là vị thế xã hội được gán sẵn nhiều hơn là vị thế phấn đấu mà có được Cuối cùng, tính cộng đồng lấy quan hệ dòng họ là quan niệm

cơ bản và mang cả hai đặc trưng: dòng họ là huyết thống và dòng họ trở thành khuôn mẫu văn hóa của sinh hoạt cộng đồng” [11, tr 13]

Tác giả Trần Ngọc Thêm [21, tr 96] cho rằng việc tổ chức nông thôn đồng thời theo nhiều nguyên tắc khác nhau tạo nên tính cộng đồng làng xã:

“Tính cộng đồng là sự liên kết các thành viên trong làng lại với nhau, mỗi người đều hướng tới người khác, nó có đặc trưng dương tính, hướng ngoại” Theo định nghĩa này, mỗi người trong cộng đồng đều hướng tới những người khác Đó chính là một biểu hiện dẫn đến sự liên kết ở cấp độ làng

Còn hai tác giả Đỗ Long, Trần Hiệp cho rằng: “Tính cộng đồng là một đặc trưng tâm lý xã hội của nhóm, thể hiện năng lực phối hợp, kết hợp ở sự thống nhất của các thành viên trong hành động làm cho các quan hệ qua lại của hoạt động diễn ra một cách nhịp nhàng nhất” [15, tr 47]

Ở đây tác giả luận văn quan niệm tính cộng đồng là sự đoàn kết, liên kết, hợp tác, giúp đỡ nhau giữa các thành viên trong cộng đồng Các thành viên trong cộng đồng khi hành động đều hướng tới người khác và có sự thống nhất giữa các

Trang 23

thành viên để hướng tới những mục đích chung Do vậy tính cộng đồng cũng chính là cố kết cộng đồng

1.1.2 Quan hệ xã hội

“Quan hệ xã hội là quan hệ bền vững, ổn định của các chủ thể hành động Các quan hệ này được hình thành trên những tương tác xã hội ổn định, lập lại,…” [18, tr 158]

Quan hệ xã hội được chia thành hai cấp độ: cấp độ vi mô và vĩ mô: Ở cấp

độ vĩ mô, quan hệ xã hội còn được thể hiện dưới dạng quan hệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Ở cấp độ vi mô: chủ thể hành động là cá nhân và

xã hội [18, tr 158]

Theo Beziehungen “Quan hệ xã hội được hiểu là tương tác và cấu trúc ảnh hưởng tồn tại giữa người với người hay giữa người và nhóm Về nguyên tắc, quan hệ này được phân biệt theo thời gian (ngắn hạn, dài hạn), nội dung (tính hấp dẫn, hung bạo, vị tha, phân chia quyền lực), hậu quả (tối thiểu, tối đa), cường độ (phạm vi lớn, nhỏ), mức độ cam kết (tự nguyện, không tự nguyện) và số người liên quan (hai hay nhiều hơn)” [32, tr 396]

1.1.3 Mạng lưới xã hội

Theo từ điển Xã hội học Oxford [27, tr 355] “thuật ngữ mạng lưới (xã hội) nói đến các cá nhân (hoặc ít hơn là các tập thể và các vai trò) những người này liên hệ với nhau bởi một hay nhiều mối quan hệ, từ đó hình thành

nên một mạng lưới xã hội”

Tác giả Đặng Nguyên Anh cho rằng : “Mạng lưới xã hội là một tập hợp liên kết giữa các cá nhân hay giữa các nhóm dân cư nhất định Thông qua sự tiềm ẩn trong những mối liên hệ, cũng như quyền lợi và trách nhiệm chi phối các mối liên hệ đó, mạng lưới xã hội được sử dụng nhằm đạt được những mục đích nhất định” [1, tr 4]

Trang 24

Hay theo ý kiến của tác giả Ngô Đức Thịnh “mạng lưới xã hội được hiểu như là mối liên hệ giữa các cá nhân, các nhóm xã hội khác nhau trong một thực thể xã hội nhất định, dù đó là chính thống hay phi chính thống, thường xuyên hay bất thường xuyên, các mạng lưới xã hội “chuyên chở” các mối quan hệ qua lại về kinh tế, xã hội và văn hóa giữa các cá nhân hay nhóm

xã hội, đảm bảo tính liên thông, cân bằng, ổn định, gắn kết của một thực thể

xã hội” Mạng lưới xã hội này thường liên quan tới tính xã hội, gắn kết xã hội

và vốn xã hội [23, tr 3]

1.1.4 Đoàn kết xã hội

“Durkheim đã dùng khái niệm đoàn kết xã hội để chỉ các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với nhóm xã hội Nếu như không có sự đoàn kết xã hội thì các cá nhân riêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành xã hội với tư cách là một chỉnh thể” [13, tr 77]

Theo Durkheim có hai loại đoàn kết có bản là đoàn kết hữu cơ và đoàn kết

1.1.5 Chuẩn mực

“Chuẩn mực là tổng số những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc của xã hội được ghi nhận bằng lời, bằng ký hiệu hay bằng các biểu trưng cho hướng cơ bản đối với các hành vi của thành viên trong xã hội Những mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc xã hội đó xác định rõ cho mọi người những việc

Trang 25

nào nên làm và những việc nào không nên làm và cần phải xử sự như thế nào cho đúng trong các tình huống xã hội khác nhau” [17, tr 251]

1.1.7 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu, trên cơ sở niềm tin về

sự bất tử của linh hồn sau khi con người đã chết; tin rằng con người ta chết đi

về thǎm nom, phù hộ cho con cháu Không nhất thiết phải là mâm cao cỗ đầy, chỉ cần một nén nhang lên bàn thờ tổ tiên trong ngày lễ, ngày Tết, hay ngày giỗ tổ tiên, con cháu trong gia đình cũng đã thể hiện được tấm lòng thành kính, hướng về cội nguồn, tưởng nhớ những người thân đã khuất Từ lâu, thờ cúng tổ tiên ông bà đã trở thành một phong tục, là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc làm người, đồng thời là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt Nam, đặc biệt là cuộc sống ở các làng quê [41]

Còn Trần Ngọc Thêm cho rằng: “niềm tin rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng tuy ở nơi chín suối, nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho cháu con là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ

Trang 26

cúng tổ tiên Ở người Việt, nó gần như trở thành một thứ tôn giáo (nhiều nơi gọi

là Đạo Ông Bà); ngay cả những gia đình không tin thần thánh cũng đặt bàn thờ

tổ tiên trong nhà” [21, tr 137]

1.1.8 Lễ cưới

Lễ cưới là đỉnh điểm của cả quy trình tiến tới hôn nhân, là hình thức liên hoan, báo hỉ mừng cô dâu, chú rể, mừng hai gia đình, nên có ý nghĩa rất thiêng liêng Do đó, cả xưa và nay, mọi người đều rất coi trọng ngày này Nghi thức trong lễ cưới cũng chính là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm nhiều hơn cả Lễ cưới chỉ được tổ chức sau khi đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Trước đây, người ta gọi lễ này là lễ rước dâu Ngày nay, trong ngôn từ của đời sống thường ngày, người ta gọi lễ này là lễ cưới (dịch theo tiếng Hán là hôn lễ) Ý nghĩa của lễ này là: Công bố sự thành hôn của đôi trai gái (còn được gọi là lễ Thành hôn) Lễ cưới bao gồm các nghi thức: lễ xin dâu và lễ rước dâu [42]

1.1.9 Lễ tang

Theo Từ điển văn hóa, “Nghi thức cúng lễ, chôn cất người chết, thể hiện quan niệm cho cấu tạo con người gồm thể xác và hồn phách, biểu lộ sự xót thương đối với người chết Lễ tang cũng nhằm đưa linh hồn người chết tới chỗ an vui, được siêu sinh tịnh độ, nên cũng được gọi là việc ma chay” [43]

Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng “Trong việc tang ma, người Việt Nam bị giằng kéo giữa hai thái cực: một mặt là quan niệm có tính triết lí cho rằng sau khi chết, linh hồn sẽ về nơi “thế giới bên kia” nên việc tang ma được xem như việc đưa tiễn; mặt khác là quan niệm trần tục coi chết là hết nên việc tang ma là việc xót thương” [21, tr 146]

1.1.10 Hội làng

“Hội làng thường tổ chức ở đình, cũng có nơi tổ chức ở chùa hay đền

Có một số nhà nghiên cứu phân chia hội làng ra làm hai phần: phần lễ và

Trang 27

phần hội Phần lễ hay tế lễ với hệ thống các nghi thức uy nghiêm như tế thần, yết cáo ở các đình, đền Phần này do các lão làng đảm nhiệm Phần hội là hệ thống hội vui chơi như rước kiệu, đấu vật, chơi cờ người, đua thuyền, vật võ, thổi cơm thi, bắt chạch trong chum Thực ra sự phânbiệt như trên cũng là tương đối, bởi lẽ trong phần hội có phần lễ, khi dân làng rước kiệu, chơi cờ người, đều mang ý thức cầu mong thành hoàng phù hộ cho dân làng và cho bản thân” [44]

1.1.11 Vùng ven đô thị

Các nhà nghiên cứu phát triển đô thị đã đưa ra một số khái niệm khác nhau về vùng ven đô, có thể tóm tắt các điểm chung như sau: “về mặt địa lý ven đô có thể được hiểu là khu vực gần kề với thành phố Về tổng thể, vùng ven đô là nơi vừa có các hoạt động nông thôn, vừa có các hoạt động đô thị, nghĩa là không hoàn toàn là đô thị cũng không thuần túy là nông thôn và chịu tác động mạnh của đô thị hóa Nó là sự pha trộn của các hệ thống sinh thái nông nghiệp và đô thị Bởi vậy vùng ven đô không tồn tại độc lập mà nằm trong một miền liên thông nông thôn - ven đô - đô thị và tạo thành một hệ thống nông thôn - ven đô - đô thị” [20, tr 80]

1.2 Lý thuyết áp dụng

1.2.1 Quan điểm lý thuyết về cố kết cộng đồng – vốn xã hội

Cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu về vốn xã hội đã được các tác giả trong và ngoài nước tiến hành (Bourdieu 1986; Coleman 1988; Fukuyama 2001; Hoàng Bá Thịnh 2009; Lê Ngọc Hùng 2008; Nguyễn Tuấn Anh 2010; Nguyễn Tuấn Anh 2011; Putnam 2000)

Nhìn một cách tổng thể chúng ta thấy có những quan niệm khác nhau

về vốn xã hội Câu hỏi quan trọng mà tác giả luận văn đặt ra ở đây là cần hiểu quan niệm vốn xã hội trong nghiên cứu này như thế nào? Và cần hiểu mối quan hệ giữa tính cố kết cộng đồng và vốn xã hội như thế nào? Để thấu hiểu

Trang 28

hai khía cạnh này, tác giả luận văn dựa vào quan điểm của các tác giả đi trước

đã được đề cập đến ở trên về vốn xã hội, nhất là quan điểm của Bourdieu Trong tác phẩm, các hình thức của vốn (1986), Bourdieu quan niệm: “vốn xã hội được hiểu là các kết nối /cố kết xã hội, những kết nối/cố kết xã hội này có thể được chuyển thành vốn kinh tế trong những điều kiện nhất định” (social capita is made up of social obligations („connections‟), which is convertible,

in certain conditions, into economic capital…) [35, pg 243] Bourdieu còn nói thêm rằng, vốn xã hội nhiều hay ít của một cá nhân phụ thuộc vào quy mô mạng lưới thực tế của những kết nối mà cá nhân này có thể huy động được [35, pg 249] Cùng với quan niệm của Bourdieu, các tác giả khác cũng làm rõ hơn khái niệm vốn xã hội Chẳng hạn, Putnam [36, pg 19] cho rằng mạng lưới xã hội, các chuẩn mực của quan hệ trao đổi qua lại và sự tin cẩn là những thành tố của vốn xã hội Trong khi đó Fukuyama [31, pg 7-8] quan niệm vốn

xã hội gồm có chuẩn mực của sự có đi có lại, và vốn xã hội biểu thị sự tin cậy Coleman [33, pg 101 -108] khẳng định trách nhiệm, sự mong đợi và lòng tin là các hình thức của vốn xã hội Michael Woolcock cho rằng vốn xã hội bao gồm những chuẩn mực, những mạng lưới khuyến khích những hành động chung về những lợi ích chung [34, pg 155]

Kế thừa thành tựu nghiên cứu về vốn xã hội của các tác giả ở trên, trong nghiên cứu này, tác giả luận văn xem xét cố kết cộng đồng từ góc nhìn vốn xã hội, vốn xã hội là các cố kết cộng đồng, một dạng của cố kết xã hội

Từ quan điểm lý thuyết vốn xã hội chúng ta thấy: cố kết cộng đồng là một một biểu hiện cụ thể của vốn xã hội Vì cố kết cộng đồng là biểu hiện cụ thể của vốn xã hội nên cố kết cộng đồng mang đặc điểm của vốn xã hội Hai đặc điểm quan trọng của vốn xã hội, trong trường hợp này là cố kết cộng đồng, được phân tích ở đây là việc tạo dựng cố kết cộng đồng, và hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng dưới góc nhìn vốn xã hội Vốn xã hội được biểu hiện cụ

Trang 29

thể qua các thành tố: mạng lưới xã hội, lòng tin, và chuẩn mực – nhất là chuẩn mực về sự có đi có lại giữa các chủ thể hành động Vốn xã hội được các chủ thể hành động tạo ra, và trong những điều kiện nhất định, vốn xã hội có thể được chuyển thành vốn kinh tế Nói cách khác, các chủ thể hành động tạo ra vốn xã hội và vận dụng vốn xã hội để tìm kiếm lợi ích kinh tế

Với những lập luận như vậy, trong các chương tiếp theo tác giả luận văn sẽ phân tích cách thức mà cố kết cộng đồng, hay vốn xã hội được tạo ra, đồng thời cũng sẽ bàn đến việc các chủ thể hành động vận dụng vốn xã hội để tìm kiếm lợi ích về mặt kinh tế Nói cách khác, luận văn sẽ bàn đến hệ quả tích cực của cố kết cộng đồng

1.2.2 Lý thuyết cấu trúc - chức năng của Robert Merton

Một trong những tác giả nổi tiếng của thuyết cấu trúc - chức năng là Robert Merton R Merton quan niệm rằng “thuyết cấu trúc chức năng là sự giải thích một hiện tượng xã hội bằng cách chỉ ra hệ quả (chức năng) của nó đối với những cấu trúc mà nó là bộ phận cấu thành” [14, tr 242] Theo ông hệ các giá trị xã hội là những yếu tố cơ bản để lý giải cơ chế hoạt động và phối hợp hoạt động của các thiết chế xã hội [14, tr 242]

Merton cũng chỉ ra những nhu cầu chức năng cần phải đáp ứng để xã hội có thể vận hành một cách bình thường Ông cho rằng không nhất thiết mỗi thiết chế xã hội chỉ đáp ứng một loại nhu cầu xã hội mà trên thực tế, trong xã hội luôn có “các cấu trúc chức năng thay thế” để thoả mãn các yêu cầu chức năng mà xã hội đặt ra Vì vậy mà một chức năng có thể do hai hoặc nhiều hơn các tổ chức, thiết chế xã hội cùng có khả năng thực hiện Điều này có nghĩa là những thiết chế hiện tại, đang được duy trì không phải vì chúng thực sự cần thiết và thực sự tốt hay có lợi đối với xã hội; mà tại vì chúng có cơ chế để duy trì sự tồn tại của mình bất chấp việc chúng có thực sự cần thiết hay có chức năng với xã hội hay không Các thiết chế xã hội luôn luôn có khả năng thay

Trang 30

thế lẫn nhau trong việc đáp ứng những nhu cầu cần thiết cho sự vận hành và hoạt động của xã hội [14, tr 243]

Vận dụng lý thuyết này vào luận văn có thể thấy các cá nhân, các tổ chức, thiết chế xã hội ở nông thôn là những bộ phận hữu cơ hợp thành cấu trúc xã hội nông thôn, chúng có những chức năng nhất định Mỗi cá nhân, tổ chức trong cộng đồng làng xã đảm nhận những chức năng khác nhau trong cơ cấu tổ chức xã hội Một chức năng có thể do hai hay nhiều cá nhân cùng thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu Vì thế, sự hỗ trợ của cá nhân/gia đình trong xã hội với hoạt động sản xuất và đời sống của người dân ven đô, trên quan điểm cấu trúc - chức năng có thể thấy, đó là một trong những phương thức để giúp duy trì sự ổn định và cố kết cộng đồng của ở ven đô Tuy nhiên, ngày nay việc giúp đỡ nhau trong sinh hoạt, đời sống và trong lĩnh vực kinh tế theo những chức năng mỗi người đảm nhận ở vùng ven đô Hà Nội dưới tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã làm cho các mối quan hệ cộng đồng trở nên lỏng lẻo hơn, do chức năng của cá nhân cũng có sự thay thế trong bối cảnh kinh tế mới

1.2.3 Lý thuyết tương tác biểu trưng của Herbert Blumer

Blumer là người khai sinh thuyết “tương tác biểu trưng luận” năm

1937 Ông đã hệ thống hóa ba luận điểm gốc của thuyết tương tác biểu trưng

mà Mead đã từng nêu như: Con người đối xử với sự vật trên cơ sở những ý nghĩa mà sự vật đó đem lại cho họ; Ý nghĩa của sự vật nảy sinh từ mối tương tác xã hội giữa các cá nhân; Ý nghĩa của sự vật được nắm bắt và được điều chỉnh qua cơ chế lý giải mà cá nhân sử dụng khi tiếp cận sự vật [14, tr 337]

Theo ông “khái niệm tương tác biểu trưng được dùng để chỉ một đặc trưng cơ bản của sự tương tác giữa người với người Đó là việc cá nhân luôn phải lý giải, định nghĩa, xác định hành động của nhau chứ không đơn thuần là đáp lại hành động của nhau” [14, tr 339] Đây là một quá trình, một hình thức

Trang 31

xã hội được tạo thành từ các hành động của các cá nhân trong đó mỗi hành động được thực hiện trên cơ sở sự lý giải ý nghĩa hành động của nhau được thể hiện qua hệ thống ký hiệu, biểu tượng Đồng ý với Mead về vai trò của biểu tượng, Blumer đã bổ sung thêm một yếu tố trung gian là sự lý giải vào

mô hình hành vi và đưa ra mô hình tương tác: S-I-R (kích thích – lý giải – phản ứng) [14, tr 339]

“Blumer khẳng định tương tác xã hội là tương tác giữa các cá nhân, là tương tác giữa người với người diễn ra trong những điều kiện của tình huống

xã hội nhất định” [14, tr 341]

Vận dụng quan điểm lý thuyết tương tác biểu trưng của Blumer ta thấy,

ở ven đô Hà Nội, các cá nhân trong quá trình tương tác qua lại với nhau không phản ứng đối với những hành động trực tiếp của người khác mà “đọc”

và lý giải những hành động đó, xem xét ý nghĩa mà hành động mang lại cho mình Tương tác giữa người với người ở ven đô Hà Nội diễn ra trong hoạt động sản xuất, đời sống và sinh hoạt mà trước hết con người nắm bắt lý giải ý nghĩa hành động của người khác đối với mình để đáp lại chúng Mối tương tác giữa các cá nhân được thực hiện thông qua cơ chế lý giải ý nghĩa, cử chỉ, hành vi, hoạt động của người khác Qua sự tương tác đó mà hình thành các quan hệ xã hội, quan hệ có đi có lại Đây chính là nguồn vốn xã hội người dân ven đô Hà Nội tạo dựng và tích lũy được trong quá trình tương tác với cá nhân khác trong thời gian sinh sống tại địa phương

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Xã Yên Thường nằm ở phía Bắc của huyện Gia Lâm, là vùng đất cổ ven sông Hồng, có diện tích đất tự nhiên 853 ha, trong đó đất canh tác là 556 ha; dân số hiện có trên 16.000 người sinh sống tại 10 thôn: Xuân Dục, Yên Khê, Liên Đàm, Lại Hoàng, Đỗ Xá, Đình Vĩ, Dốc Lã, Quy Mông, Trùng Quán và Yên Thường [45]

Trang 32

Năm 2012, mặc dù kinh tế có nhiều khó khăn nhưng với sự thi đua của các ngành, đoàn thể và nhân dân trong toàn xã, kinh tế của xã Yên Thường tiếp tục được duy trì ổn định, giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu của xã ước tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng 15,1%; thương mại dịch vụ tăng 17%; nông nghiệp, thủy sản tăng 1,6% [28]

Trong sản xuất nông nghiệp: giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2012

ước đạt 68,7 tỷ đồng, tăng 1,6% so với năm 2011[28]

Trồng trọt: tổng diện tích đất canh tác được duy trì là 554,22ha, trong đó: mạ 9,8ha, cây lúa 450,82ha, rau mầu 39,53ha, diện tích nuôi trồng thủy sản 48,36ha, cây ăn quả 5,71ha Tổng sản lượng lúa năm 2012 là 4751 tấn, giảm 680 tấn (12,5%) so với năm 2011, thu hoạch rau màu và cây ăn quả ước đạt 3 tỷ đồng; giá trị các ngành trồng trọt ước đạt 33 tỷ đồng, giảm 2% so với cùng kỳ năm 2011 [28]

Về chăn nuôi: đàn lợn hiện có 2570 con, đàn trâu bò duy trì 80 con, đàn gia cầm 72500 con Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi ước đạt 32,3 tỷ đồng, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2011 [28]

Thủy sản: giữ vững diện tích nuôi trồng và thâm canh tăng sản lượng thủy sản Giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 3,4 tỷ đồng, tăng 0,1% so với cùng

kỳ năm 2011 [28]

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại, dịch vụ: tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế là 11,7% so với

năm 2011 Giá trị sản xuất các ngành trọng điểm ước đạt 193,3 tỷ đồng [28]

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản: giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản đạt 47,9 tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2011, đạt 94,4% chỉ tiêu huyện giao [28]

Trang 33

Thương mại, dịch vụ: duy trì ổn định hoạt động tại các chợ, tạo điều kiện cho các hàng hóa nông sản của nông dân trong xã và các vùng lân cận tham gia trao đổi buôn bán trên địa bàn Giá trị thương mại dịch vụ ước đạt 76,7 tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2011, đạt 100% kế hoạch, tăng 1% so với chỉ tiêu huyện giao [28]

Hoạt động của một số đoàn thể ở địa phương:

Hội Nông dân: tiếp tục duy trì và tăng quỹ hỗ trợ nông dân lên 46,5 triệu đồng, phối hợp với ngân hàng Chính sách cho 88 hộ vay với số tiền luân chuyển là 1,768 tỷ đồng, lập dự án cho 156 hội viên vay quỹ hỗ trợ nông dân của Thành phố số tiền 780 triệu đồng [28]

Hội phụ nữ: thông qua ngân hàng Chính sách tổ chức vay vốn cho các hội viên, vốn hiện đang luân chuyển là gần 3,6 tỷ đồng [28]

Hội người cao tuổi: thăm hỏi, tặng quà cho các cụ cô đơn, tàn tật, ốm đau lâu ngày với số tiền gần 8 triệu đồng [28]

Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 [28]:

- Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản tăng: 16%

- Giá trị sản xuất thương mại tăng, dịch vụ tăng 17%

- Giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản tăng 3,5%

- Số hộ nghèo giảm: 30 hộ

Trang 34

CHƯƠNG 2: CỐ KẾT CỘNG ĐỒNG QUA VIỆC TẠO DỰNG

VỐN XÃ HỘI

Theo quan niệm truyền thống của người dân Việt Nam thì làng là một gia đình lớn, một xã hội thu nhỏ cho nên nó có những đặc trưng riêng của mình Nó hình thành trên hai nguyên lý: cùng cội nguồn và cùng chỗ, là hình thức công xã nông thôn với những nét đặc thù riêng của mình [5, tr 288] Làng Việt Nam là một phức hợp của nhiều tổ chức xã hội mà trước hết là dòng họ Các mối liên kết trong làng có nghề nghiệp, tín ngưỡng tôn giáo, địa vực láng giềng, xóm, giáp, đơn vị hành chính làng xã và họ hàng dòng máu, nhưng mối liên kết họ hàng vẫn là bền vững nhất Có thể coi cộng đồng làng trước tiên là tập hợp của những dòng họ [8, tr 7] Trong mỗi làng thường có một hay vài dòng họ sống quy tụ với nhau theo từng khu vực nhất định, trong những ngõ xóm Chính vì thế các họ và làng xã có quan hệ qua lại với nhau tạo thành quan hệ của các nhóm xã hội khác nhau Theo quan niệm của người dân nông thôn thì họ là đại gia đình [5, tr 270] Trong họ có quan hệ anh em, chú bác và con cháu thân tộc, có tình nghĩa, có trách nhiệm với nhau, sống gắn bó với nhau Giữa gia đình và dòng họ ở nông thôn có một mối quan hệ chằng chịt Đó là quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa các thành viên trong họ, vì nó hình thành trên quan hệ máu mủ, ruột rà - quan hệ huyết thống Cơ sở của các mối quan hệ này là dựa trên giá trị, chuẩn mực xã hội trong họ

Sống trong cộng đồng làng xã, người dân nông thôn phải tuân theo những quy tắc, chuẩn mực, giá trị, thiết chế xã hội đã tồn tại từ ngàn đời nay Chính những chuẩn mực, thiết thế này đã làm cho những gia đình sống ở nông thôn đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng và xích lại gần nhau trong sinh hoạt và trong lao động sản xuất Vì vậy mà người trong làng, trong họ thường tham gia vào những hoạt động có tính chất cộng đồng Từ việc mỗi cá nhân/gia

Trang 35

đình trong họ, trong làng hỗ trợ, giúp đỡ các gia đình khác sẽ tạo ra mối dây liên kết, sự có đi có lại, tin tưởng lẫn nhau, thông qua đó mà hình thành nên vốn xã hội của mỗi người Trước hết, vốn xã hội được tạo dựng thông qua các hoạt động thờ cúng, tưởng nhớ tới tổ tiên, ông bà

2.1 Tạo dựng vốn xã hội qua việc thờ cúng tổ tiên

Thường xuyên phải đối mặt với sự thử thách của thiên nhiên, có lẽ cuộc sống nông nghiệp lúa nước với sự tụ cư xóm làng “tắt lửa tối đèn có nhau” đã tạo nên tính cộng đồng cố kết bền vững trong nếp sống của người Việt Đặc biệt, một trong những đặc trưng nổi trội của người Việt là luôn có ý thức hướng về cội nguồn Con người Việt Nam là con người của mọi mối liên hệ chằng chịt với những ý thức trách nhiệm và bổn phận một cách tự nguyện Từ

đó, luôn có sự gắn bó với quê cha, đất tổ, hướng về tổ tiên, cội nguồn, coi trọng chữ hiếu, giàu lòng nhân ái với tính cộng đồng bền chặt Tinh thần cố kết cộng đồng vốn được nuôi dưỡng trong cái nôi văn hoá thuần Việt [39] Tinh thần đó được biểu hiện cụ thể qua hoạt động thờ cúng ông bà, tổ tiên, tổ chức các ngày giỗ trong năm để duy trì phong tục tập quán và giáo dục, nhắc nhở con cháu luôn hướng về cội nguồn Một trong những chức năng quan trọng của gia đình Việt Nam là chức năng xã hội hóa là sự trao truyền văn hóa giữa các thế hệ, đảm bảo một sự vận hành có tính liên tục các giá trị và chuẩn mực trong đời sống Lễ nghi là một trong những hình thức có hiệu quả để giáo dục trong xã hội nhằm đáp ứng quá trình này Sự tụ họp trong một không khí thiêng liêng, có nhiều thế hệ cùng trực tiếp tham gia vào ngày giỗ là một môi trường giáo dục hữu ích

Trong các gia đình, một năm thường có những ngày giỗ tổ, giỗ họ, giỗ gia tiên là dịp con cháu, anh em họ hàng được quây quần, sum họp bên nhau

để hỏi thăm tình hình công việc, học tập của nhau Mỗi dịp được gần gũi, tiếp

Trang 36

xúc trò chuyện như vậy càng làm cho mối quan hệ anh em gắn bó, thân thiết, quan tâm, giúp đỡ nhau

Bảng 2.1.1: Tổ chức ngày giỗ trong gia đình, dòng họ

(Nguồn: Bộ số liệu đề tài: Toàn cầu hóa và bản sắc làng Việt ở miền Bắc)

Tín ngưỡng của dòng họ người Việt được thể hiện trong các hoạt động tập thể Từ xa xưa cho đến ngày nay, dòng họ vẫn thường có những hoạt động tín ngưỡng chung Trước hết là việc thờ cúng tổ tiên ở các gia đình, ở các nhà thờ họ thường gọi là từ đường Mỗi gia đình Việt Nam không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, kể cả nhiều gia đình theo Đạo Thiên chúa, gia đình nào cũng theo tập quán thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ Đây là việc làm thường xuyên theo định kỳ ngày kỵ giỗ, ngày thiêng liêng bậc nhất trong một năm mà con cháu phải tập trung đầy đủ tại nhà thờ họ [7, tr 168] Việc thờ cúng tổ tiên được xã hội coi như là một tiêu chuẩn quan trọng của nề nếp gia phong, là hành vi hợp đạo đức truyền thống vì nó bắt nguồn từ lòng hiếu thảo của con cháu luôn tưởng nhớ công ơn của tổ tiên ông bà và đấng sinh thành Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên gắn liền với sự củng cố quan hệ gia đình, dòng họ

“Thờ cúng tổ tiên là phong tục có từ lâu đời, không chỉ nhà con trưởng phải lập bát hương thờ tự mà cả con thứ cũng có bát hương gia tiên Đây là việc làm quan trọng không chỉ để nhớ về tổ tiên, ông bà, người đã sinh thành

ra bố mẹ mình, ra mình, mà còn là hình thức để giáo dục con cái mình cũng phải nhớ về tổ tiên, cội nguồn của mình” (Nam, kinh doanh buôn bán, 37 tuổi)

Theo tập quán lâu đời của người Việt Nam, dân ta lấy ngày ngày mất

để cúng giỗ Vào ngày đó, tùy hoàn cảnh từng gia đình mà tổ chức cúng lễ, ăn

Trang 37

uống, là lúc con cháu được sum vầy, đoàn tụ, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm tình, chuyện làm ăn Do vậy mà đại đa số (chiếm 93.3%) các gia đình ven đô Hà Nội đều tổ chức ngày giỗ, thờ cúng tổ tiên

Bên cạnh việc tổ chức cúng giỗ gia tiên trong phạm vi gia đình, người dân ven đô cũng duy trì việc giỗ tổ, giỗ họ Ngày giỗ họ là dịp duy nhất trong năm để cả họ họp mặt Có 61% các gia đình ở ven đô tham gia vào các ngày giỗ tổ họ như một sự tưởng nhớ người đã khuất và việc tham gia vào hoạt động giỗ tổ họ cũng giúp cho các gia đình củng cố mối quan hệ trong họ tộc

và từ đó nguồn vốn xã hội được tạo dựng thông qua quan hệ trong dòng họ

Điều này cũng được giáo sư Phan Đại Doãn khẳng định: “Tín ngưỡng thờ tổ

tiên là đặc trưng tín ngưỡng của người Việt đã góp phần không nhỏ trong việc thắt chặt các quan hệ họ hàng” [8, tr 8]

Việc tổ chức cúng giỗ là dịp để con cháu hội họp, sum vầy bên nhau, thắt chặt tình cảm đoàn kết giữa anh chị em, con cháu trong gia đình Để tiến hành cúng giỗ, con cháu một chân một tay, mỗi người mỗi công mỗi việc và

do vậy tình cảm ngày càng gắn bó hơn Những ngày giỗ chạp không chỉ đơn thuần là anh em ruột thịt trong gia đình mà anh em họ mạc cũng tham gia Sự chia sẻ công việc, sự gặp gỡ trò chuyện càng làm tăng sự gần gũi, gắn kết giữa anh em trong họ tộc Từ đó mà những công việc lớn bé trong gia đình đều được anh em giúp đỡ, hỗ trợ khi gặp khó khăn Cũng nhờ đó mà các quan

hệ xã hội của người dân ven đô được củng cố và thắt chặt hơn

“Giỗ tổ, giỗ họ là công việc của cả họ, con cháu đều phải tham gia giỗ, đến bàn bạc từ hôm trước xem năm nay tổ chức giỗ như thế nào rồi đóng góp tiền để làm giỗ Đến ngày giỗ thì con cháu đến thắp hương, mỗi người một công việc Đó là lúc anh em trong họ cùng làm cùng ăn, được gặp mặt trò chuyện thì tình cảm anh em càng gần gũi hơn” (Nam, kinh doanh buôn bán,

37 tuổi)

Trang 38

Như vậy, qua hoạt động thờ cúng tổ tiên và tổ chức các ngày giỗ trong năm, bằng tình cảm ruột thịt, tình anh em họ hàng người dân ven đô đã tạo dựng được nguồn vốn xã hội của mình thể hiện qua việc củng cố các quan hệ trong gia đình, dòng họ - một mối quan hệ bền chặt và tương trợ rất có ích cho người dân trong việc tìm kiếm lợi ích

2.2 Tạo dựng vốn xã hội thông qua việc cưới, việc tang

Cưới xin, ma chay là các sự kiện thường thấy trong đời sống thường ngày không chỉ ở các làng ven đô Nhà nào cũng ít nhất một lần dựng vợ gả chồng cho con cái, cũng đến lúc có những người từ giã cõi đời về nơi chín suối Khác với lối sống đô thị chỉ nhà nào biết nhà đấy, ở nông thôn, mỗi khi

có các sự kiện trên thì không chỉ anh em ruột thịt, họ hàng trong nhà mà cả hàng xóm láng giềng lại bắt tay vào giúp đỡ, thăm hỏi, thể hiện sự quan tâm của mình với gia chủ Qua khảo sát tại địa bàn có 71.7% gia đình thường xuyên tham gia vào công việc hiếu, hỷ trong họ để cùng bàn bạc, giúp đỡ các gia đình trong họ Tùy từng mối quan hệ và mức độ thân thiết khác nhau mà mỗi gia đình có những cách ứng xử khác nhau khi những gia đình trong họ, trong làng có đám cưới, đám ma Với tất cả sự quan tâm đó khi người dân tham gia vào các sự kiện này đều tạo dựng cho họ nguồn vốn xã hội là sự tin tưởng lẫn nhau, sự có đi có lại mà người dân Yên Thường vốn quen gọi là “nợ đồng lần”

Đối với người dân ven đô, mỗi khi gia đình nào có đám cưới không chỉ

là ngày vui của gia đình đó mà là niềm vui chung của cả làng Đó là thời điểm

để mọi người cùng nâng ly rượu chúc mừng gia chủ, chúc cho đôi uyên ương sống đến đầu bạc răng long Đó là ngày trọng đại của gia chủ nên người thân, bạn bè, hàng xóm láng giềng đều thể hiện tình cảm của mình với gia đình có

đám cưới

Trang 39

Bảng 2.2.1: Sự giúp đỡ nhau trong việc cưới của người dân Yên Thường (Đơn vị: %)

Hình thức giúp đỡ

Quan hệ

Mừng tiền

Giúp đỡ công việc

Vừa mừng tiền vừa giúp công việc

Chỉ hỏi thông tin

(Nguồn: Bộ số liệu đề tài: Toàn cầu hóa và bản sắc làng Việt ở miền Bắc)

Tùy vào mối quan hệ khác nhau mà việc thể hiện sự quan tâm, hỗ trợ trong việc cưới cũng khác nhau Nếu là anh em ruột thịt trong gia đình, thì người dân Yên Thường coi đó cũng là công việc của gia đình mình, mình phải giúp đỡ một chân một tay lo việc cùng với anh em Số liệu khảo sát đã cho thấy 69.7% số người khi gia đình anh em ruột thịt có đám cưới thì họ không chỉ đến mừng tiền mà còn giúp đỡ công việc

“Đám cưới, đám ma hay có người ốm mà anh em nhà mình chị đều đến hết.Chị đến giúp đỡ, có việc gì thì mình làm Ở đây đều thế, đến từ hôm trước

để giúp đỡ anh em mình, rồi cũng mừng tiền để chung vui với gia đình” (Nữ, kinh doanh buôn bán, 40 tuổi)

Đây là việc làm thường thấy, thể hiện sự đoàn kết anh em trong gia đình.Không chỉ trong các sự kiện lớn mà ngay cả những công việc trong gia đình thì anh em vẫn luôn là những người giúp đỡ rất tận tình, là thành phần

Trang 40

không thể thiếu được khi có công to việc lớn trong gia đình.Khi nhà nào có đám cưới, anh em ruột thịt trong gia đình là những người đầu tiên biết chuyện

và đứng ra cùng với gia đình để bàn bạc, lo mọi chuyện.Tình cảm anh em càng gắn bó, khăng khít hơn qua những sự kiện như vậy Cũng có những gia đình khi anh em ruột trong nhà có đám cưới thì chỉ đến mừng tiền, con số này chiếm 28%

Đối với các gia đình anh em trong họ tộc, khi có đám cưới, người dân giúp đỡ bằng hình thức mừng tiền là chủ yếu chiếm 78.3%.Và có 19% gia đình vừa mừng tiền, vừa giúp đỡ công việc nếu là người trong họ tộc

“Anh em trong họ cũng thế, anh em trong họ có đám cưới cũng phải đến từ chiều hôm trước giúp đỡ” (Nữ, nông nghiệp, 60 tuổi)

“Anh em họ hàng nhà mình thì mình đến làm giúp Ở đây mình đến làm giúp người ta thì nhà mình có việc người ta lại đến làm giúp mình Mình tận tình với người ta thế nào thì nhà mình có việc người ta cũng tận tình thế Có

đi có lại thôi, nhà tôi cũng lo cho 2 cháu rồi cơ mà”(Nữ, nông nghiệp, 57 tuổi)

Bảng 2.2.1 cho thấy khác với mối quan hệ thân thiết giữa anh em ruột thịt trong gia đình hay anh em cùng họ tộc thì khi gia đình bạn bè, hàng xóm láng giềng có đám cưới, người dân chủ yếu đến mừng tiền, chung vui với gia chủ là chính còn mức độ thân thiết hoặc khi gia đình có lời nhờ vả thì họ mới sang làm giúp Kết quả nghiên cứu tại địa bàn cho thấy, những mối quan hệ hàng xóm láng giềng hay bạn bè, người quen trong làng xã, người dân chủ yếu đến mừng tiền là chủ yếu Con số này ở bạn bè đồng nghiệp là 90.7%; người trong xóm là 73%; người ngoài xóm chiếm 65% Ngoài mừng tiền, cũng có những gia đình đến giúp đỡ gia chủ những công việc mà họ cần Tỷ

lệ này chiếm nhiều nhất ở những gia đình cùng xóm với 16.3% vừa mừng tiền vừa đến giúp đỡ công việc khi gia đình hàng xóm nhà mình có đám cưới

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Tô Duy Hợp (2003), “Định hướng phát triển làng - xã đồng bằng sông Hồng”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Định hướng phát triển làng - xã đồng bằng sông Hồng”
Tác giả: Tô Duy Hợp
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
11. Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang (2000), Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng
Tác giả: Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2000
12. Lê Ngọc Hùng(2001),Sự ra đời và phát triển xã hội học, Xã hội học, tr 41-94, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự ra đời và phát triển xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
13. Lê Ngọc Hùng (2008), “Vốn xã hội, vốn con người, và mạng lưới xã hội qua một số nghiên cứu ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu con người, 4 (37), tr 45-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội, vốn con người, và mạng lưới xã hội qua một số nghiên cứu ở Việt Nam”, Tạp chí "Nghiên cứu con người
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Năm: 2008
14. Lê Ngọc Hùng (2009), Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết xã hội học
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
15. Đỗ Long, Trần Hiệp (2000), “Tâm lý cộng đồng làng xã và di sản”, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tâm lý cộng đồng làng xã và di sản”
Tác giả: Đỗ Long, Trần Hiệp
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2000
16. Vũ Hào Quang, “Tác động của đô thị hóa đến hình thức cố kết cộng đồng nông dân hiện nay”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ, tr 352-363 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đô thị hóa đến hình thức cố kết cộng đồng nông dân hiện nay
Tác giả: Vũ Hào Quang
Nhà XB: Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ
17. Phạm Văn Quyết (2001), Văn hóa, Xã hội học, tr 243-256, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
18. Nguyễn Qúy Thanh (2001), Hành động xã hội và tương tác xã hội, Xã hội học, tr 129-162, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Qúy Thanh
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
19. Nguyễn Duy Thắng (2007), “Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa”, Tạp chí Xã hội học, 4, tr 37-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa”, Tạp chí "Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Duy Thắng
Năm: 2007
20. Nguyễn Duy Thắng (2009), “Tác động của đô thị hóa đến các mặt kinh tế xã hội của vùng ven đô và những vấn đề cần quan tâm”, Tạp chí Xã hội học, 1, tr 80-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đô thị hóa đến các mặt kinh tế xã hội của vùng ven đô và những vấn đề cần quan tâm”, Tạp chí "Xã hội học
Tác giả: Nguyễn Duy Thắng
Năm: 2009
21. Trần Ngọc Thêm (1999), “Cơ sở Văn hóa Việt Nam”, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
22. Hoàng Bá Thịnh (2009), “Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn”, Tạp chí Xã hội học, 1, tr 42-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn xã hội, mạng lưới xã hội và những phí tổn”, Tạp chí "Xã hội học
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Năm: 2009
23. Ngô Đức Thịnh (2008), “Tiếp cận nông thôn Việt Nam từ mạng lưới xã hội và vốn xã hội cho phát triển”, Tạp chí Dân tộc học, 4, tr 3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nông thôn Việt Nam từ mạng lưới xã hội và vốn xã hội cho phát triển”, Tạp chí "Dân tộc học
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Năm: 2008
24. Fleur Thomése – Nguyễn Tuấn Anh (2007), “Quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất dưới góc nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ”, Tạp chí Gia đình và giới, 4 (17), tr 3-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất dưới góc nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ”, Tạp chí "Gia đình và giới
Tác giả: Fleur Thomése – Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 2007
25. Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Hà Nội (1995), Từ điển Bách khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Hà Nội
Tác giả: Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1995
38. Nguyễn Ngọc Bích (2006), Vốn xã hội và phát triển, Tia sáng, (http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=87&News=1774&CategoryID=16.), accessed July 2006 Link
39. Phan Bích Hà, Tính cộng đồng trong văn học nghệ thuật dân tộc, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa – Trường đại học Văn hóa Hà Nội, số 4, (http://huc.edu.vn/vi/spct/id125/TINH-CONG-DONG-TRONG-VAN-HOC-NGHE-THUAT-DAN-TOC/#top) Link
42. Từ điển văn hóa, Lễ tục tiêu biểu của đám cưới Việt Nam, (http://maxreading.com/sach-hay/tu-dien-van-hoa/le-tuc-tieu-bieu-cua-dam-cuoi-viet-nam-25789.html) Link
45. Xã Yên Thường, (http://gialam.gov.vn/portal_gialam/News-details/153/349/Xa-Yen-Thuong.html) Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.1: Sự giúp đỡ nhau trong việc cưới của người dân Yên Thường  (Đơn vị: %) - Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Bảng 2.2.1 Sự giúp đỡ nhau trong việc cưới của người dân Yên Thường (Đơn vị: %) (Trang 39)
Bảng 2.2.2: Sự giúp đỡ nhau trong việc tang của người dân Yên Thường  (Đơn vị: %) - Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Bảng 2.2.2 Sự giúp đỡ nhau trong việc tang của người dân Yên Thường (Đơn vị: %) (Trang 42)
Bảng 3.2.1: Các quan  hệ và  hình  thức  hợp  tác trong phát triển tiểu thủ  công nghiệp (Đơn vị: %) - Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Bảng 3.2.1 Các quan hệ và hình thức hợp tác trong phát triển tiểu thủ công nghiệp (Đơn vị: %) (Trang 66)
Bảng  3.3.1  Mối  quan  hệ  và  hình  thức  hợp  tác  trong  kinh  doanh,  buôn  bán, dịch vụ (Đơn vị: %) - Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
ng 3.3.1 Mối quan hệ và hình thức hợp tác trong kinh doanh, buôn bán, dịch vụ (Đơn vị: %) (Trang 74)
1  Bảng hỏi khảo sát của đề tài: “Toàn cầu hóa và bản sắc làng Việt ở miền Bắc” - Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
1 Bảng hỏi khảo sát của đề tài: “Toàn cầu hóa và bản sắc làng Việt ở miền Bắc” (Trang 88)
Hình  thức  khác - Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
nh thức khác (Trang 88)
Hình thức - Vốn xã hội qua sự cố kết cộng đồng ở ven đô Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Thường, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
Hình th ức (Trang 90)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w