1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việt Nam trong hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý ở tiểu vùng sông Mê Kông giai đoạn 1993 - 2003

128 551 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đặc điểm của ma tuý bất hợp pháp là nguồn siêu lợi nhuận hấp dẫn, là nguồn phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, bọn tội phạm ma tuý q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

3 Phạm vi nghiên cứu và đóng góp của luận văn 7

4 Các nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP TÁC

PHÒNG CHỐNG MA TUÝ Ở TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG

10

1.1.3 Tác hại của ma tuý 12

1.2 Hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống ma tuý là

một tất yếu khách quan

13

1.3 Cơ sở của sự hợp tác phòng chống ma tuý ở tiểu vùng

sông Mê Kông

Trang 4

1.3.2 Quá trình phát sinh và hiện trạng ma tuý trong tiểu

vùng

20

1.3.2.1 Lịch sử xuất hiện và phát triển ma tuý trong khu vực 20 1.3.2.2 Hiện trạng tình hình ma tuý trong khu vực 25 1.3.2.3 Tình hình ma tuý ở Việt Nam 30 CHƯƠNG II VIỆT NAM TRONG HỢP TÁC QUỐC TẾ

PHÒNG CHỐNG MA TUÝ Ở TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG

36

2.1 Lược sử hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý 36 2.1.1 Thời kỳ trước khi Hội Quốc Liên ra đời 36 2.1.2 Thời kỳ Hội Quốc Liên 37 2.1.3 Thời kỳ Liên Hợp Quốc 38

2.2 Hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý trong tiểu vùng

giai đoạn 1993 – 2003

41

2.2.1 Hợp tác giữa các nước trên cơ sở Bản ghi nhớ về hợp tác

phòng chống ma tuý tiểu vùng sông Mê Kông (MOU)

41

2.2.2 Các khuôn khổ hợp tác khác 54 2.2.2.1 Hợp tác trong khuôn khổ ASEAN 54 2.2.2.2 Hợp tác ASEAN – Trung Quốc chống các chất ma tuý

nguy hiểm (ACCORD)

57

2.2.2.3 Hợp tác ASEAN – EU 61

2.3 Việt Nam trong hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý ở

tiểu vùng sông Mê Kông

63

2.3.2 Hợp tác song phương 67

Trang 5

2.3.2.1 Hợp tác với Campuchia 67

2.3.2.3 Hợp tác với Myanma 72 2.3.2.4 “Cuộc chiến chống ma tuý” ở Thái Lan và hợp tác Việt

Nam – Thái Lan

74

2.3.2.5 Hợp tác với Trung Quốc 77 CHƯƠNG III ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỢP TÁC QUỐC TẾ

PHÒNG CHỐNG MA TUÝ Ở TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG

82

3.2 Dự báo tình hình ma tuý trong tiểu vùng 86

3.2.1.1 Tình hình sản xuất ma tuý bất hợp pháp 86 3.2.1.2 Phương thức, thủ đoạn phạm tội 87 3.2.1.3 Đối tượng lạm dụng ma tuý 89

3.2.2.1 Tác động từ bên ngoài 89 3.2.2.2 Các nhân tố bên trong 90

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác hợp

tác quốc tế phòng chống ma tuý ở tiểu vùng sông Mê Kông

trong thời gian tới

93

3.3.1 Các giải pháp chung cho khu vực 93

Trang 6

3.3.1.1 Tranh thủ sự hỗ trợ của Liên Hợp Quốc, các quốc gia và

Trang 7

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACCORD ASEAN and China Cooperative Operations in Response

to Dangerous Drugs - ASEAN và Trung Quốc phối hợp hành động chống các chất ma tuý nguy hiểm

ADB Asian Development Bank - Ngân hàng phát triển châu Á

AFTA ASEAN Free Trade Area – Khu vực Thương mại tự do

ASEAN

ASEAN Association of South East Asian Nations – Hiệp hội các

quốc gia Đông Nam Á

ASOD ASEAN Senior Officials on Drugs - Các chuyên viên cao

cấp ASEAN về ma tuý

ATS Amphetamine Type Stimulants – Các chất kích thích họ

Amphetamine

BLO Border Liaison Office - Văn phòng liên lạc qua biên giới

CCDAC Central Committee for Drug Abuse Control of Myanma -

Uỷ ban Trung ương kiểm soát ma tuý Myanma

DAP Drug Advisory Programme – Chương trình tư vấn về ma

tuý thuộc Kế hoạch Côlômbô

DEA Drug Enforcement Administration - Cơ quan phòng chống

ma tuý Hoa Kỳ

GSM Greater Mekong Subregion - Tiểu vùng sông Mê Kông

mở rộng

Trang 8

MOU Memorandum of Understanding - Bản Ghi Nhớ (trong

luận văn này, có nghĩa là Bản ghi nhớ về hợp tác phòng chống ma tuý ở tiểu vùng sông Mê Kông)

NNCC National Narcotics Control Commission of China - Uỷ

ban Quốc gia phòng chống ma tuý Trung Quốc

SAP Subregional Action Plan - Kế hoạch hành động tiểu vùng

UNDCP United Nation Drugs Control Program - Chương trình

kiểm soát ma tuý quốc tế của Liên Hợp Quốc

UNGASS United Nations General Assembly Special Session – Khoá

họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc

UNODC United Nations Office on Drugs and Crime - Cơ quan

phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên Hợp Quốc

UNODCCP United Nations Office on Drugs Control and Crime

Prevention - Văn phòng Kiểm soát ma tuý và Phòng chống tội phạm của Liên Hợp Quốc

VP TT PCMT Văn phòng Thường trực phòng chống ma tuý Việt Nam

WCO World Customs Organization - Tổ chức Hải quan Thế

giới

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Ý nghĩa và lý do lựa chọn đề tài:

Ngày nay, ma tuý trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại, không một quốc gia, một dân tộc nào thoát khỏi ảnh hưởng của những hậu quả tai hại do tệ nạn và tội phạm ma tuý gây ra Ma tuý không chỉ là nguồn gốc của tội phạm mà còn là tác nhân của các vấn đề xã hội phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển, ổn định và trường tồn của mỗi dân tộc Trong khi các loại ma tuý truyền thống như thuốc phiện, heroin, cocaine, cần sa không giảm, các loại ma tuý tổng hợp dạng ATS như amphetamine, methamphetamine, ecstasy và những loại ma tuý hướng thần khác đang có xu hướng gia tăng Do đặc điểm của ma tuý bất hợp pháp là nguồn siêu lợi nhuận hấp dẫn, là nguồn phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm, tội phạm

có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, bọn tội phạm ma tuý quốc tế đang biến khu vực tiểu vùng sông Mê Kông với vùng “Tam giác vàng” nổi tiếng thành một thị trường ma tuý lớn trên thế giới với việc tổ chức những đường dây buôn bán xuyên quốc gia, kiểm soát các hoạt động trồng, thu gom, vận chuyển, tàng trữ và sản xuất chế biến, tiêu thụ ma tuý bất hợp pháp

Nhận thức được sự cần thiết phải chung sức trong cuộc chiến đầy phức tạp này, Việt Nam đã cùng các nước tiểu vùng sông Mê Kông hợp tác nhằm ngăn chặn và từng bước loại trừ tệ nạn và tội phạm ma tuý ra khỏi đời sống

xã hội Trong thời gian qua, các hoạt động hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý ở tiểu vùng đã đạt được những thành tựu khả quan, thông qua nhiều cơ chế hợp tác đa dạng, trong đó nổi lên là cơ chế hợp tác trong khuôn khổ Bản Ghi Nhớ về hợp tác phòng chống ma tuý (MOU) năm 1993 giữa 6 nước tiểu vùng sông Mê Kông và UNDCP Mẫu hình hợp tác theo cơ chế MOU đã được lãnh đạo Liên Hợp Quốc và các quốc gia đánh giá cao Trong thời gian

Trang 10

tới, với xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ, hợp tác quốc tế trong tiểu vùng sông Mê Kông càng phải được tăng cường để đáp ứng tình hình mới

Đối với Việt Nam, việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống

ma tuý là do đòi hỏi của thực tiễn, không chỉ do đặc điểm quốc tế của tội phạm ma tuý, mà nguyên nhân quan trọng là ma tuý chủ yếu được đưa từ bên ngoài vào Việt Nam, phòng ngừa và đấu tranh chống nạn lạm dụng và tội phạm ma tuý vẫn đang là vấn đề hết sức khó khăn phức tạp, cần phải có sự hỗ trợ và phối hợp của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước láng giềng

Trên đây chính là những lý do để người viết chọn đề tài Việt Nam trong hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý ở tiểu vùng sông Mê Kông giai đoạn 1993 – 2003 làm luận văn thạc sĩ của mình Việc nghiên cứu đề tài này vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn phục vụ trực tiếp cho công tác hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý của Đảng và Nhà nước ta

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề:

Hiện nay ở khu vực Đông Nam Á, Cơ quan phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) khu vực Đông Á - Thái Bình Dương có trụ sở tại Băng Cốc, Thái Lan nghiên cứu thường xuyên và toàn diện về tình hình ma tuý trong khu vực Hàng tháng UNODC khu vực xuất bản một bản tin có tên gọi là “Eastern Horizons” nhằm giới thiệu tình hình và hoạt động phòng chống ma tuý của các nước trong khu vực, cảnh báo các loại ma tuý mới, các thủ đoạn, phương thức tội phạm về ma tuý, các hoạt động của dự án

và những mô hình điển hình trong tuyên truyền giáo dục, thay thế cây có chứa chất ma tuý, chữa trị cai nghiện và giảm tác hại… Ngoài ra, cơ quan này còn có các xuất bản phẩm hướng dẫn và giới thiệu về từng vấn đề riêng biệt trong tiểu vùng như hợp tác kiểm soát ma tuý ở khu vực biên giới, kinh nghiệm phát triển thay thế cây thuốc phiện ở Việt Nam và Thái Lan, kỷ yếu các Hội thảo quốc tế về phòng chống ma tuý…

Trang 11

Cơ quan phòng chống ma tuý Hoa Kỳ (DEA) và Cơ quan tình báo Hải quan khu vực châu Á - Thái Bình Dương (WCO - Regional Intelligence Liaison Office for Asia and the Pacific) cũng có những bộ phận theo dõi, nghiên cứu và tổng kết về tình hình và xu hướng tội phạm ma tuý trong khu vực nhưng chủ yếu tập trung phục vụ cho lực lượng hành pháp

Các quốc gia trong tiểu vùng đều quan tâm đến tăng cường hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý nhưng những công trình nghiên cứu cụ thể và sâu rộng về vấn đề này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi

Ở nước ta trong những năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu

các vấn đề về ma tuý như “Hiểm hoạ ma tuý và cuộc chiến mới'' của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm và TS Trần Văn Luyện; ''Mại dâm, ma tuý, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại'' của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm, TS Phan Đình Khánh, Nguyễn Thị Kim Liên, “Luật phòng chống ma tuý và Phòng chống ma tuý trong nhà trường” của GS TS Nguyễn Xuân Yêm – PGS TS Nguyễn Ngọc

Anh… Ngoài ra, còn nhiều ấn phẩm chuyên đề về phòng, chống ma tuý của Văn phòng Thường trực phòng chống ma tuý, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về ma tuý - Bộ Công an, Cục phòng chống tệ nạn xã hội - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, các Bộ, ngành thành viên Uỷ ban quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma tuý, mại dâm Bên cạnh đó là một số luận án tiến sĩ, thạc sĩ luật nghiên cứu về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma tuý ở một số địa phương và nhiều bài báo trên các tạp chí khoa học

Hiện có hai cuốn sách của tác giả người nước ngoài được dịch sang tiếng Việt, viết về lịch sử vấn đề ma tuý trong khu vực và Việt Nam từ thời

kỳ đô hộ của thực dân phương Tây cho đến những năm 1970, đó là: cuốn

“Thuốc phiện và chính quyền thuộc địa ở châu Á” của tác giả Philippe Le Failler do NXB VHTT ấn hành năm 2000 và cuốn “Nền chính trị ma tuý ở Đông Nam Á” của tác giả Alfred W McCoy do NXB CAND ấn hành năm

2002

Trang 12

Những tài liệu, công trình trên đã cung cấp những tham khảo, tư liệu quý báu cho bản luận văn này, giúp tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu

về “Việt Nam trong hợp tác quốc tế phòng chống ma túy ở tiểu vùng sông Mê Kông giai đoạn 1993 – 2003”

3 Phạm vi nghiên cứu và đóng góp của Luận văn:

a Phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu là tình hình và kết quả công tác hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý ở tiểu vùng sông Mê Kông và Việt Nam trong giai đoạn

1993 – 2003

- Địa bàn nghiên cứu là tiểu vùng sông Mê Kông

b Đóng góp của Luận văn:

Luận văn làm sáng tỏ tính tất yếu trong hợp tác quốc tế phòng chống

ma tuý giữa các nước tiểu vùng sông Mê Kông và nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường công tác này

Trên cơ sở nghiên cứu về lịch sử, lý luận và thực tiễn đó, luận văn đưa

ra những dự báo về xu thế tình hình ma tuý và một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả công tác hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý trong thời gian tới ở tiểu vùng và Việt Nam

Công trình nghiên cứu phục vụ trực tiếp cho công tác hiện nay của tác giả, đóng góp tài liệu tham khảo cho các cán bộ làm công tác phòng chống

ma tuý, các cán bộ hợp tác quốc tế và sinh viên ngành xã hội và nhân văn Từ những ý nghĩa thực tiễn đó, tác giả luận văn hy vọng góp phần nhỏ bé vào công cuộc phòng chống ma tuý ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

4 Các nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu:

a Nguồn tài liệu của luận văn:

Trang 13

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở các nguồn tài liệu và từ kinh nghiệm công tác thực tiễn của tác giả:

- Tài liệu gốc: các văn bản pháp lý của quốc tế và Việt Nam như 3

Công ước Quốc tế của Liên Hợp Quốc về phòng chống ma tuý, các Bản ghi nhớ về hợp tác phòng chống ma tuý được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với các quốc gia khác, Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ

IX, Luật phòng chống ma tuý và các văn bản pháp luật về phòng chống ma tuý của Việt Nam…; các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Liên Hợp Quốc

và Việt Nam; báo cáo hằng năm về tình hình ma tuý thế giới, các nghiên cứu chuyên đề, báo cáo kết quả các dự án…

- Tài liệu nước ngoài: các Sách trắng về tình hình ma tuý của các

nước trong khu vực và trên thế giới; tài liệu của Liên Hợp Quốc: bản tin tháng “Eastern Horizons”; kỷ yếu của các Hội thảo trong nước và quốc tế về phòng chống ma tuý…; tài liệu của một số tổ chức quốc tế như Chương trình

tư vấn về ma tuý – Kế hoạch Côlômbô (DAP – Colombo Plan), Cơ quan phòng chống ma tuý Hoa Kỳ (DEA), Tổ chức Hải quan thế giới (WCO)…

- Nguồn tài liệu trong nước: các công trình của một số tác giả nước

ngoài được dịch sang tiếng Việt; sách hướng dẫn về công tác phòng chống

ma tuý; sách của các tác giả trong nước ; bản tin phòng chống ma tuý do Văn phòng Thường trực phòng chống ma tuý phát hành hàng tháng; các bài báo

có liên quan…

b Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau :

- Trên cơ sở phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm cơ bản của Đảng, của Nhà nước

ta về phòng chống ma tuý và hợp tác quốc tế để phân tích, khái quát và

Trang 14

xác định những nhân tố cơ bản tác động đến công tác hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý

- Kết hợp các phương pháp nghiên cứu: hệ thống, thống kê, phân tích, điều tra xã hội học, so sánh, lịch sử, tổng hợp, phỏng vấn để làm rõ các vấn đề của luận văn

- Phương pháp chuyên gia để tư vấn cho những vấn đề cụ thể thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài

5 Bố cục của Luận văn:

Luận văn gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề chung về hợp tác phòng chống ma tuý ở tiểu vùng sông Mê Kông

Chương II: Việt Nam trong hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý ở tiểu vùng sông Mê Kông

Chương III: Đánh giá chung và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý ở tiểu vùng sông Mê Kông

Trang 15

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ PHÒNG CHỐNG MA TUÝ

Ở TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG 1.1 MA TUÝ VÀ TÁC HẠI CỦA MA TUÝ

1.1.1 Khái niệm ma tuý

Từ xa xưa, do trình độ nhận thức còn thấp, y học chưa phát triển nên con người chỉ biết sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Trong các loại cây

đó có cây thuốc phiện, cây cần sa và cây côca Tuy nhiên sau đó người ta

cũng đã phát hiện tác hại của nó Ở Việt Nam, thuật ngữ "ma tuý" xuất hiện

ban đầu có nghĩa là thuốc phiện Sau đó, ma tuý còn là cây cần sa và cây côca Có ý kiến cho rằng gọi là "ma tuý" bởi vì các chất này có tác dụng như

ma thuật, ma quái, có thể chữa một số bệnh có hiệu quả cao và tăng hưng phấn hoặc ức chế thần kinh Nó làm cho con người mê mẩn, ngây ngất, tuý luý Trong tiềm thức của người Việt Nam "ma tuý" đồng nghĩa với sự xấu xa, tội lỗi

Những năm sau đó, ngoài các sản phẩm của cây thuốc phiện, cây cần sa, cây côca còn các chất khác được tổng hợp trong phòng thí nghiệm cũng có

tính chất gây nghiện Vì vậy khái niệm "ma tuý" được mở rộng về nội dung Ở

Trang 16

các nước khác nhau thì khái niệm về ma tuý cũng quan niệm khác nhau Điểm chung của luật về kiểm soát ma tuý của các nước là đều đề cập đến ma tuý bao gồm các chất gây nghiện và các chất hướng thần

Có thể nhận thức: Ma tuý là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó Nếu lạm dụng ma tuý, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng [16, 6]

Theo Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc năm 1988 thì: “Tội phạm

ma tuý là hành vi cố ý sản xuất, điều chế, chiết xuất, pha chế, chào hàng, phân phối, mua bán, trao đổi, tàng trữ ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, trồng hoặc tàng trữ các loại cây có chứa chất ma tuý hoặc hướng thần một cách trái phép, tổ chức chỉ đạo hoặc tài trợ cho những hành vi phạm tội đó, chuyển đổi hoặc chuyển giao tài sản khi biết rằng tài sản đó thu được từ những hành vi phạm tội”

1.1.2 Phân loại ma tuý

Phân loại ma tuý là chia các chất ma tuý ra từng nhóm khác nhau dựa trên những căn cứ nhất định phục vụ cho những mục đích khác nhau Có nhiều cách phân loại, nhưng trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ giới thiệu cách phân loại thông dụng và dễ hiểu nhất là phân loại căn cứ vào nguồn gốc của ma tuý

Căn cứ vào nguồn gốc của ma tuý thì ma tuý được chia làm 3 nhóm:

ma tuý tự nhiên, ma tuý bán tổng hợp và ma tuý tổng hợp

Ma túy tự nhiên là các chất ma tuý có nguồn gốc tự nhiên, có được bằng cách thu hái từ các cây trồng tự nhiên hoặc nuôi trồng, từ các sản phẩm tách chiết, tinh chế từ các sản phẩm thu hái đó Ví dụ: thuốc phiện và các sản phẩm của thuốc phiện như morphine, codein, narcotin

Trang 17

Ma tuý bán tổng hợp là các chất ma tuý được điều chế từ các chất là sản phẩm tự nhiên bằng cách cho tác dụng với một số hóa chất để thu được chất ma tuý có tác dụng mạnh hơn chất ma tuý ban đầu Ví dụ: hêrôin

Ma tuý tổng hợp là các chất ma tuý được điều chế bằng phương pháp tổng hợp hoá học toàn phần từ các hoá chất (được gọi là tiền chất) Điển hình

là các chất amphetamin Các chất ma tuý tổng hợp có tác dụng mạnh và nhanh hơn các chất ma tuý bán tổng hợp

Các chất ma tuý tổng hợp và các chất ma tuý bán tổng hợp thường được gọi chung là các chất ma tuý tổng hợp

Việc phân loại này không chỉ có ý nghĩa trong công tác nghiên cứu lý luận mà còn giúp cho thực tiễn đấu tranh phòng chống ma tuý, biết được ma tuý có nguồn gốc từ đâu để truy tìm đến tận nguồn sản xuất nhằm giải quyết

triệt để tội phạm và tệ nạn ma tuý

1.1.3 Tác hại của ma tuý

Ma tuý gây tác hại nhiều mặt về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và

đã trở thành thảm hoạ chung của cả nhân loại Tại diễn đàn Liên Hợp Quốc, ngài Boutros Ghali – nguyên Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đã đánh giá:

“Trong những năm gần đây, tình trạng lạm dụng ma tuý đã trở thành hiểm hoạ lớn của toàn nhân loại Không một quốc gia, dân tộc nào thoát ra ngoài vòng xoáy khủng khiếp của nó để tránh khỏi những hậu quả do lạm dụng và buôn lậu ma tuý gây ra Ma tuý đang làm gia tăng tội phạm, bạo lực, tham nhũng, vắt cạn kiệt nhân lực, tài chính, huỷ diệt những tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế xã hội, đem lại

ấm no hạnh phúc cho mọi người Ma tuý đang làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, tàn phá cuộc sống yên vui gia đình, gây xói mòn đạo lý, kinh tế, xã hội… Nghiêm trọng hơn, ma tuý còn là tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh HIV/AIDS phát triển” [16, 16]

Trang 18

Để ngăn chặn ma tuý, các quốc gia và Liên Hợp Quốc cũng như các tổ chức quốc tế khác đã phải sử dụng nguồn tài chính khổng lồ Như ngân sách hằng năm của Hoa Kỳ dành cho công tác phòng chống và kiểm soát ma tuý là

18 tỷ USD Tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế INTERPOL đã huy động tới 70% lực lượng và tài chính cho đấu tranh chống tội phạm ma tuý

Năm 2002, toàn thế giới có 220 triệu người nghiện ma tuý, tăng 10 triệu so với năm 2001 Ở Hoa Kỳ có gần 5% dân số nghiện ma tuý Ở Việt Nam, tính đến cuối tháng 12 năm 2003, cả nước có 160.700 người nghiện ma tuý có hồ sơ kiểm soát, tăng 18.699 người (13%) so với cùng kỳ năm 2002 (Nguồn : UNODC và Văn phòng TT PCMT, năm 2004)

Số người nghiện ma tuý toàn thế giới hằng năm đã đốt hàng chục tỷ USD Riêng ở Trung Quốc, số người nghiện heroin đã tiêu tốn ít nhất là 27 tỷ nhân dân tệ cho ma tuý hằng năm Các băng maphia ma tuý thao túng nền tài chính cũng như chính phủ của một số nước trên thế giới Hiện nay nền tài chính ma tuý hằng năm ước tính 400 tỷ USD Mỗi ngày tội phạm ma tuý quốc tế đã tẩy rửa tiền khoảng hơn 1 tỷ USD

Sản xuất và buôn bán ma tuý mang lại lợi nhuận siêu ngạch tạo nên động lực thúc đẩy nhiều người lao vào con đường tội lỗi bất chấp pháp luật Tội phạm ma tuý là mảnh đất tốt để tham nhũng, cờ bạc, nghiện rượu, mại dâm… phát triển Ma tuý là cầu nối làm gia tăng căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, trong số những người bị nhiễm HIV/AIDS thì có gần 70% là do tiêm chích

ma tuý Ma tuý phá hoại sức khoẻ của con người, người nghiện dễ mắc các bệnh tim mạch, gan, thần kinh Họ thường gầy gò, ốm yếu, kém ăn, kém ngủ, thần kinh rối loạn, trí nhớ kém, lười lao động… Theo số liệu thống kê thì trong số người nghiện ma tuý ở Việt Nam thì có tới 85,5% là đối tượng có tiền án, tiền sự Do đó, ma tuý là tác nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, phá hoại hạnh phúc gia đình và làm xuống cấp thuần phong Hoa Kỳ tục

Trang 19

Ma tuý còn làm biến chất một số cán bộ cơ quan nhà nước, nhất là các

cơ quan bảo vệ pháp luật Vì buôn bán ma tuý đem lại lợi nhuận cao, bọn tội phạm ma tuý đã dùng tiền để mua chuộc một số ít cán bộ thoá hoá, biến chất trong cơ quan chính quyền cơ sở, cơ quan bảo vệ pháp luật Vì vậy, cuộc chiến chống ma tuý còn diễn ra hết sức quyết liệt

1.2 HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG

CHỐNG MA TUÝ LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Tác hại do ma tuý gây ra trên phạm vi rộng lớn xuyên quốc gia, xuyên lục địa Ma tuý không chỉ gây thiệt hại về người và của của từng gia đình, từng quốc gia mà còn ảnh hưởng xấu đến nền tảng chính trị, đạo đức, văn hoá

và quan hệ đối ngoại của các nước Tệ nạn và tội phạm ma tuý đã và đang đe doạ sự phát triển của nhiều quốc gia, nó đã trở thành vấn đề không biên giới

và tác động đến mọi tầng lớp xã hội Do vậy, công tác phòng chống ma tuý trong phạm vi mỗi quốc gia trở nên hết sức phức tạp, khó khăn

Đứng trước thực tại khách quan này, sự liên kết, hợp tác giữa các quốc gia trong phòng chống ma tuý là một vấn đề cấp bách và có tính quy luật Hay nói cách khác, hợp tác quốc tế trong phòng chống ma tuý ngày nay, không chỉ phụ thuộc vào ý nguyện chủ quan trong quan hệ đối ngoại mà chính là khả năng lựa chọn duy nhất đối với bất kỳ quốc gia nào muốn đấu tranh có hiệu quả với tệ nạn và tội phạm ma tuý

Xu hướng toàn cầu hoá hiện nay là quy luật tất yếu khách quan, mỗi quốc gia không thể phát triển biệt lập, khép kín, tách rời quốc gia khác, trong

đó có vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn ma tuý, một hiểm hoạ lớn của toàn nhân loại Đó là tiền đề quan trọng, là cơ sở liên kết tất cả các quốc gia có cùng mối quan tâm chung Hơn thế nữa, tội phạm ma tuý là một loại tội phạm quốc tế phổ biến hiện nay, nên trong công tác đấu tranh đòi hỏi phải nhanh chóng, chính xác mới kịp thời ngăn chặn, trừng trị thích đáng những hành vi phạm tội do chúng gây ra Vì vậy, cần phải có sự hợp tác rộng

Trang 20

rãi, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế chống tội phạm ma tuý, cung cấp thông tin, phối hợp truy nã, bắt giữ, dẫn độ

để đảm bảo tiến trình vụ án, mới đem lại hiệu quả cao

Thông qua hợp tác quốc tế nói chung và hợp tác trong lĩnh vực phòng chống ma tuý nói riêng, các quốc gia có cơ hội tiếp xúc, đàm phán, ký kết những điều ước, thoả thuận quốc tế làm cơ sở pháp lý cho công tác hợp tác phòng chống ma tuý Hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống tội phạm ma tuý tạo điều kiện thuận lợi cho các nước đấu tranh có hiệu quả với những tổ chức tội phạm ma tuý lớn, xuyên quốc gia mà trong khuôn khổ từng nước không thể giải quyết được Hợp tác quốc tế cũng là cơ hội để trao đổi thông tin, kinh nghiệm về các phương thức đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn ma tuý, cách tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân nâng cao ý thức về hiểm hoạ ma tuý, các hình thức cai nghiện và phục hồi sức khoẻ cho người nghiện ma tuý

có hiệu quả

Hợp tác quốc tế cho phép tiết kiệm được nguồn lực của mỗi quốc gia trong việc giải quyết tội phạm và tệ nạn ma tuý Thông qua hợp tác, các quốc gia đang phát triển như Việt Nam nhận được sự giúp đỡ về tài chính và kỹ thuật của Liên Hợp Quốc, các tổ chức quốc tế và các nước phát triển cho công tác phòng chống ma tuý

Như đã nêu, hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý là một tất yếu khách quan và có vai trò rất to lớn đối với cộng đồng quốc tế cũng như từng quốc gia, vì hợp tác quốc tế tạo nên sức mạnh tổng hợp trên toàn cầu, đồng thời mỗi quốc gia có một thế mạnh riêng có thể giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau để tổ chức phòng chống ma tuý có hiệu quả

1.3 CƠ SỞ CỦA SỰ HỢP TÁC PHÒNG CHỐNG MA TUÝ Ở

TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG

Trang 21

Hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý là một tất yếu khách quan, nhưng

để việc hợp tác có hiệu quả phải dựa trên cơ sở tương đồng giữa các nước đối tác để cùng nhau phát huy những điểm mạnh và khắc phục khiếm khuyết, nhằm tạo nên sức mạnh cao nhất loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội Đối với tiểu vùng sông Mê Kông, cơ chế hợp tác phòng chống ma tuý giữa 6 nước được hình thành và hoạt động không chỉ dựa trên đòi hỏi của tình hình

ma tuý thực tiễn đang rất phức tạp trong khu vực mà còn trên cơ sở những tương đồng về điều kiện tự nhiên, con người, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, điều kiện phát sinh và hiện trạng ma tuý

1.3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội

1.3.1.1 Địa tự nhiên:

Tiểu vùng Mê Kông hay tiểu vùng Mê Kông mở rộng là một khái niệm bao gồm các quốc gia có dòng sông Mê Kông chảy qua Ở một khía cạnh khác, Tiểu vùng được bao gồm toàn thể các quốc gia thuộc Đông Nam Á lục địa: Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan, Việt Nam và tỉnh Vân Nam - Trung Quốc

Xét về mặt địa lý tự nhiên, tiểu vùng là một khu vực mà các điều kiện địa lý và môi trường sinh thái nhân văn được coi là tương đối đồng nhất Cùng với toàn lãnh thổ Đông Nam Á, các quốc gia thuộc Đông Nam Á lục địa đều không tách rời với phần Hoa Nam, đặc biệt là tỉnh Vân Nam – một tỉnh miền núi, nằm ở phía Tây Nam Trung Quốc, có chung đường biên giới với ba quốc gia Việt Nam, Lào và Myanma và có dòng sông Mê Kông chảy qua trên 1.000 km [10, 91]

Trong điều kiện đặc biệt của môi trường sinh thái hiện tại, toàn bộ Tiểu vùng đều nằm trong ô địa lý nhiệt đới ẩm gió mùa điển hình (loại trừ phần Hoa Nam là có đôi nét khác biệt), còn tất cả được coi là một khu vực có hệ sinh thái nhiệt đới hết sức đặc sắc, giàu có về tài nguyên và rất phong phú về

Trang 22

thành phần các giống, loài Trong đó giới động vật và thảm thực vật gồm nhiều đại diện của miền cổ nhiệt đới như heo vòi, tê giác, gấu trúc, chó lông

đỏ và nhiều loài thực vật quý hiếm khác vẫn còn tồn tại

Sông Mê Kông là con sông dài thứ 12 trên thế giới, bắt nguồn từ độ cao 5.000 mét trên cao nguyên Tây Tạng lần lượt chảy qua tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và đổ ra biển trên lãnh thổ Việt Nam với chiều dài là 4.800 km [22, 13]

Hình 1: Bản đồ tiểu vùng sông Mê Kông

Khu vực tiểu vùng sông Mê kông nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, diện tích rừng che phủ tương đối lớn (23 triệu ha), diện tích cao nguyên và miền núi chiếm tỷ lệ cao (3/4 diện tích đất đai của Việt Nam là cao nguyên và miền núi) Vùng núi cao của khu vực này có điều

Trang 23

kiện khá thuận lợi cho việc trồng cây thuốc phiện Thuốc phiện thường được trồng ở độ cao trên 600 mét, thậm chí ở độ cao 2.700 mét so với mực nước biển với thời vụ từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, đây là thời điểm mùa đông giá lạnh và mùa xuân mưa rét mà không phải loại cây nào cũng trồng được Với những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây thuốc phiện như vậy nên khu vực này được biết đến như một trung tâm sản xuất ma tuý lớn của thế giới, đặc biệt là vùng “Tam giác vàng” (nằm ở khu vực biên giới giữa Myanma, Lào và Thái Lan) có sản lượng thuốc phiện chiếm gần 30% lượng thuốc phiện trên thế giới

Địa hình biên giới giữa các quốc gia tiểu vùng sông Mêkông rất phức tạp, chưa được phân định rõ ràng, có nhiều đường tiểu mạch qua các cánh rừng, dãy núi nên rất khó kiểm soát các hoạt động của bọn buôn lậu ma tuý Bên cạnh đó, các quốc gia Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam có đường bờ biển dài nên rất thuận lợi cho bọn tội phạm hoạt động, biến khu vực này thành nơi trung chuyển ma tuý sang các trung tâm tiêu thụ ma tuý của thế giới

Việt Nam có tầm quan trọng đặc biệt đối với tiểu vùng Việt Nam là cây cầu đất nối phần lục địa tiểu vùng (Lào, Đông Bắc Thái Lan, Bắc Campuchia, Đông - Đông Bắc Myanma) với các tuyến đường biển quốc tế Đông Á - Đông Nam Á; từ châu Á qua Thái Bình Dương tới châu Úc và châu Hoa Kỳ, từ châu Á qua Ấn Độ Dương tới châu Phi, vòng Đại Tây Dương tới các nước Tây Âu và Bắc Âu [10, 118]

Đây là những điều kiện thuận lợi để bọn tội phạm ma tuý lợi dụng buôn lậu ma tuý vào Việt Nam và trung chuyển ma tuý đi nước thứ ba nên việc phối hợp với các quốc gia có chung đường biên giới là hết sức quan trọng nhằm ngăn chặn sự xâm nhập ma túy từ bên ngoài vào Việt Nam

1.3.1.2 Địa nhân văn

Trang 24

Tiểu vùng là địa bàn cư trú lâu đời của nhiều cộng đồng người nói các

hệ ngôn ngữ khác nhau, trong đó chủ yếu là các cộng đồng dân cư nói các ngôn ngữ Hán – Tạng, Mông – Dao, Tày – Thái, Việt – Mường, Môn – Khơ me… Mỗi dân tộc trong từng khu vực đều đã có sự gắn kết lâu đời với nhau theo huyết thống, phả hệ, theo tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau Tuy nhiên, tiểu vùng vẫn là địa bàn sinh sống chủ yếu của các dân cư trồng lúa (bao gồm lúa nước và lúa khô) Ở đây, 80% cư dân sống bằng nghề trồng lúa và chăn nuôi gia súc

Về mặt chủng tộc, hầu hết dân cư của các quốc gia tiểu vùng sông Mê kông đều thuộc hai tộc người chính là Môngôlôit phía Nam và Hán Tạng nên

có ngoại hình tương đối giống nhau Hai bên biên giới giữa các nước có các nhóm dân tộc có quan hệ huyết thống với nhau sinh sống, do vậy việc qua lại thăm hỏi lẫn nhau và làm ăn giữa hai bên rất thường xuyên

400 USD Các chỉ tiêu xã hội như biết chữ, y tế, nước sạch đều rất thấp, nhất

là ở Campuchia và Lào Đói nghèo là phổ biến trong những vùng nông thôn của Lưu vực Mê Kông Ước tính 30% số hộ sinh sống ở châu thổ Mê Kông (kể cả phần lãnh thổ Campuchia khoảng hơn 1 triệu ha) nằm dưới mức nghèo khó Châu thổ Mê Kông là vùng đồng bằng ngập lụt tính từ hạ lưu Kratie – Campuchia có diện tích 49.520 km2, trong đó diện tích châu thổ Việt Nam (đồng bằng sông Cửu Long) là 39.000 km2, chiếm 79% diện tích châu thổ

Mê Kông

Trang 25

Trong những năm gần đây, nền kinh tế của một số nước ở tiểu vùng đã đạt được sự tăng trưởng mạnh góp phần cải thiện đáng kể hạ tầng kinh tế và

xã hội Tuy nhiên, những bước phát triển tích cực này cũng tạo nên những thách thức to lớn về mặt xã hội

Do thiếu kinh phí, nạn thất nghiệp ở mức cao, hệ thống hành chính và pháp lý yếu kém, hầu hết các quốc gia đều gặp phải các vấn đề về tham nhũng, rửa tiền, sản xuất, buôn bán và sử dụng ma tuý bất hợp pháp và nạn buôn người

Bên cạnh đó, các nước trong khu vực cũng đang phải đối mặt với những thách thức của chủ nghĩa khủng bố, đặc biệt là sau vụ đánh bom tại Bali – Inđônêxia vào tháng 10 năm 2002, mà gần đây là sự nổi dậy của lực lượng Hồi giáo ly khai tại miền Nam Thái Lan Sự gia tăng của nạn trộm cắp, phạm tội, buôn lậu ma tuý, buôn người, tham nhũng đã trở thành những vấn

đề xã hội đòi hỏi sự hợp tác đấu tranh loại bỏ những tệ nạn và hiểm hoạ này

ra khỏi đời sống xã hội của tiểu vùng, góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực.

1.3.2 Quá trình phát sinh và hiện trạng ma tuý trong tiểu vùng

1.3.2.1 Lịch sử xuất hiện và phát triển ma tuý trong khu vực

Các học giả cho rằng ban đầu con người khám phá ra thuốc phiện mọc hoang trên những ngọn núi phía Đông của Địa Trung Hải từ thời đồ đá mới

Y văn thời cổ cho biết cây thuốc phiện dạng thô đã được những thầy thuốc thời cổ đánh giá cao từ hàng trăm năm trước công nguyên Những ông tổ ngành y như Hyppocrate ở Hy Lạp và GaLen ở thời La Mã đã biết đến nó Từ phía Đông Địa Trung Hải, cây thuốc phiện lan dần về phía Tây sang châu Âu trong thời đồ đá mới và theo chân các thương nhân Ả rập vào Trung Quốc từ khoảng thế kỷ 6 hoặc 7 sau công nguyên Tuy nhiên việc trồng giống cây này vẫn rất hạn chế và thuốc phiện hầu như chỉ được dùng trong y học Đây là thứ

Trang 26

thuốc mà mọi người đều gọi là “thuốc quý”, một loại thần dược cho những căn bệnh về tiêu hoá đã có mặt ở châu Á từ rất lâu

Từ thế kỷ XVII và nhất là thế kỷ XVIII, XIX các nước thực dân phương Tây ra sức chiếm đoạt thị trường thế giới Ở châu Á, các nước Ấn

Độ, Inđônêxia, Mã Lai, Miến Điện đã bị các nước đế quốc giành nhau thôn tính Trung Quốc trở thành miếng mồi chính để các nước đế quốc phân chia Cũng như nhiều nước châu Á khác, chính quyền Mãn Thanh thi hành chính sách đóng cửa, tuyệt giao để tự vệ Nhưng thực dân phương Tây khao khát thị trường rộng lớn để tiêu thụ hàng hoá, vơ vét của cải, hàng hoá, tăng thêm lợi nhuận

Để chống lại chính sách đóng cửa của Trung Quốc, thực dân Anh tìm mọi cách mở toang cánh cửa bằng việc buôn bán thuốc phiện, món hàng mang lại lợi nhuận khổng lồ Đầu tiên, người Bồ Đào Nha và Hà Lan bán thuốc phiện cho Trung Quốc Lúc đầu chỉ có quan lại và bọn ăn chơi ở Trung Quốc hút thuốc phiện, nhưng sau đó, số người hút ngày càng nhiều, không chỉ đàn ông mà cả đàn bà cũng hút Ở vùng Vân Nam, Giang Nam cũng bắt đầu có người kinh doanh thuốc phiện và trồng cây thuốc phiện Tác hại của thuốc phiện làm cho kinh tế Trung Quốc sa sút, bạc trắng bị chạy ra ngoài khá nhiều [20, 323]

Nạn thuốc phiện đã phá hoại nền kinh tế và xã hội Trung Quốc một cách trầm trọng Vào đầu năm 1799, triều đại phong kiến Trung Quốc đã ban hành sắc lệnh cấm hút thuốc phiện, song tình hình nghiện hút vẫn không giảm vì nguồn gốc thuốc phiện chuyển từ Ấn Độ vào Trung Quốc ngày càng nhiều Số lượng thuốc phiện nhập vào Trung Quốc tăng từ 13 tấn năm 1729 lên 64 tấn năm 1767 và số lượng tăng lên 640 tấn năm 1820 và 1830, đến năm 1838, con số đó đã lên tới 2.500 tấn Vào những năm 1830, số người nghiện thuốc phiện đã lên đến trên 12 triệu người ở tất cả các tầng lớp xã hội Trung Quốc

Trang 27

Khi những biện pháp áp dụng nhằm ngăn chặn dòng thuốc phiện vào trong nước bị thất bại và trước sức ép của phong trào đấu tranh đòi cấm thuốc phiện của nhân dân, chính quyền Trung Quốc quyết định hành động Ngày 31/12/1838, vua Đạo Quang phái Lâm Tắc Từ làm khâm sai đại thần tại Quảng Châu để thực hiện việc cấm thuốc phiện một cách triệt để Lâm Tắc

Từ đã ra lệnh cho thương nhân Anh và các nước khác phải nộp hết số thuốc phiện còn lại, nếu trái lệnh sẽ nghiêm trị Đồng thời ông buộc thương nhân nước ngoài cam kết không bao giờ chở thuốc phiện đến bán nữa Trước thái

độ kiên quyết của phái Lâm Tắc Từ và sức mạnh của quần chúng nhân dân, thương nhân Anh buộc phải đem nộp toàn bộ số thuốc phiện hơn 2 vạn hòm

và bị thiêu huỷ ròng rã 22 ngày đêm (từ 3 – 25/6/1839) trong tiếng reo hò phấn khởi của nhân dân Hạ Môn

Sau khi sự việc trên xảy ra, tháng 4 năm 1840, Quốc hội Anh thông qua ngân sách, tổ chức một đội quân xâm lược sang Trung Quốc do Charles Elliot cầm đầu Tháng 6 năm 1840, đội quân viễn chinh phương Đông của Anh gồm 15.000 người và hơn 40 tàu chiến đến Quảng Đông bắt đầu cuộc

chiến tranh với Trung Quốc mà lịch sử gọi là Cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất (1840 – 1842) Ban đầu, cục diện cuộc chiến ở thế giằng co,

nhưng sau đó ưu thế nghiêng dần về quân Anh Ngày 29/8/1842, trên chiến hạm Cornwallis, đại diện nhà Thanh buộc phải ký với Anh bản Hiệp ước Nam Kinh Nội dung chủ yếu của Hiệp ước Nam Kinh gồm: 1- Trung Quốc phải mở 5 cửa biển cho tự do thông thương là Quảng Châu, Phúc Châu, Ninh

Ba, Hạ Môn và Thượng Hải; 2- Trung Quốc cắt nhượng vĩnh viễn đảo Hồng Công cho Anh; 3- Nhà Thanh phải bồi thường cho Anh 21 triệu bảng; 4- Thuế nhập khẩu, xuất khẩu của Anh phải do hai bên bàn bạc; 5- Anh được hưởng quyền lãnh sự tài phán ở Trung Quốc

Ngày 26/6/1843, Hồng Công chính thức trở thành thuộc địa của Anh, người Anh đã đầu tư vào để phát triển và biến nơi đây thành một trung tâm

Trang 28

thương mại, đồng thời cũng là nơi tạm nhập nguồn thuốc phiện từ Ấn Độ và Iran để chuyển vào Trung Quốc, Nhật, Macao, Philippin, Inđônêxia, Australia, Pêru, Chilê, Hoa Kỳ, Canađa, Anh, Pháp Từ năm 1850, mỗi năm hơn 3.300 tấn thuốc phiện đã được nhập từ Ấn Độ vào Trung Quốc Con số này tăng lên 5.500 tấn năm 1855 Vì thế một lần nữa, Trung Quốc phải đương đầu với nạn nghiện ma tuý

Cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ hai (1857 – 1860) nổ ra do một

sự kiện được gọi là sự cố Ya Luo Hao Tháng 10 năm 1856, binh lính ở Quảng Đông bắt giữ một tàu Trung Quốc có tên là Ya Luo Hao và 10 thuỷ thủ trên tàu vì tội buôn lậu Tổng lãnh sự Anh tại Quảng Châu đã thổi phồng

sự việc, cho rằng đó là tàu đăng ký tại Hồng Kông, mang cờ Anh nên nhà Thanh không có quyền xâm phạm Trên thực tế đăng ký của tàu đó tại Hồng Kông đã hết hạn, do vậy nó thuộc quyền quản lý của phía Trung Quốc, việc bắt giữ những kẻ buôn lậu trên tàu là hoàn toàn hợp pháp Nhưng vào thời điểm đó, chính quyền Trung Quốc quá yếu, không thể chống lại được sự khiêu khích của phía Anh Vả lại phía Anh cũng muốn phát động một cuộc chiến mới để “dạy” cho nhà Thanh một bài học nữa Đầu năm 1857, Anh và Pháp tiến đánh Quảng Châu, mở đầu cho cuộc chiến tranh thuốc phiện lần thứ hai Một năm sau, 1858, liên quân Anh – Pháp tiến lên phía Bắc đánh Thiên Tân, đe doạ trực tiếp Bắc Kinh Triều đình nhà Thanh hoảng sợ đã vội

vã ký Hiệp ước Thiên Tân, hợp pháp hoá các hoạt động buôn bán thuốc phiện bằng cách thu thuế hải quan

Công ước Chefoo năm 1876 đã điều chỉnh cụ thể hơn việc buôn bán thuốc phiện Trên cơ sở đó lượng thuốc phiện tràn vào Trung Quốc ngày càng tăng lên Năm 1880 con số này đã lên đến 6000 tấn Trong các địa giới của tầng lớp phong kiến và địa chủ quân phiệt đã bắt đầu trồng cây thuốc phiện nhằm “tích luỹ của cải” Trung Quốc đã trở thành nước trồng cây thuốc phiện lớn nhất thế giới, sản lượng thuốc phiện trung bình hằng năm trong thời gian

Trang 29

từ 1904 – 1908 là khoảng 100.000 tấn Cộng với số thuốc phiện nhập vào từ

Ấn Độ, Iran là 300 tấn một năm, Trung Quốc đã trở thành đất nước của những con nghiện Ma tuý đã cuốn hút tất cả mọi tầng lớp, đủ mọi lứa tuổi, ở thành thị cũng như ở nông thôn và vùng hẻo lánh

Theo đà phát triển kinh tế thuộc địa, dòng di dân Trung Quốc ra nước ngoài bắt đầu diễn ra với quy mô nhỏ vào cuối thế kỷ 18, tăng dần vào giữa thế kỷ 19 và trở thành một trào lưu ồ ạt vào đầu thế kỷ 20 Phần lớn người Hoa đến các nước Đông Nam Á, nơi rất dễ tìm công ăn việc làm Thuốc phiện và việc sử dụng thuốc phiện đã lan truyền rộng khắp thông qua mạng lưới người Hoa di cư và mối liên hệ của họ với quê hương bản quán Nguy cơ càng lớn khi việc sử dụng thuốc phiện đã vượt ra khỏi cộng đồng người Hoa Tác giả Philippe Le Failler đã cho rằng: “Ở đâu người Hoa được sử dụng làm nhân công thì ở đó họ đều mang theo thói quen hút thuốc phiện… Nguy cơ càng lớn khi việc sử dụng thuốc phiện đã vượt ra khỏi cộng đồng người Hoa

và người ta cho rằng nước Trung Hoa và người Trung Hoa là những kẻ được coi là đã truyền bá tai hoạ này” [21, 31] Đến cuối thế kỷ 19, những tiệm hút công quản trở nên phổ biến ở mọi quốc gia và thuộc địa ở Đông Nam Á để đáp ứng một thị trường tiêu thụ ngày càng lớn trong những cộng đồng người Hoa, Thái, Miến Điện, Việt Nam, Mã Lai

Nhiều dân tộc vùng miền núi Hoa Nam, nhất là người Mông và người Dao đã liên tục di cư xuống miền núi Đông Dương trong suốt thế kỷ 19 để tránh sự đàn áp của chính quyền trung ương đã mang theo những kỹ năng trồng thuốc phiện

Sau thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời, tàn quân Tưởng Giới Thạch đã tràn sang vùng Tam Giác Vàng Một bộ phận của chúng ở lại đấy sinh sống bằng nghề sản xuất, buôn bán thuốc phiện… Đến nay, vùng Tam giác vàng vẫn là khu vực chủ yếu trên thế giới hằng năm sản xuất hàng trăm tấn thuốc phiện và

Trang 30

một lượng lớn heroin, ma tuý tổng hợp để cung cấp bất hợp pháp cho thị trường thế giới

1.3.2.2 Hiện trạng tình hình ma tuý trong tiểu vùng

Khu vực tiểu vùng sông Mê Kông nổi tiếng với vùng Tam giác vàng có diện tích rộng tới 150.000 km2 từ bắc Myanma qua phía đông sang

Lào và phía nam sang Chiang Rai của Thái Lan, nơi đây lại có vị trí địa lý, chính trị, kinh tế thuận lợi để bọn tội phạm ma tuý quốc tế lợi dụng buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ ma túy Vì vậy, tình hình sản xuất, buôn lậu các chất ma túy đặc biệt là heroin, thuốc phiện và cần sa ở tiểu vùng diễn biến rất phức tạp Từ đây, các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia đã vận chuyển ma túy đến các thị trường tiêu thụ trên thế giới như: Hoa Kỳ, Australia, Châu Âu Gần đây, các vụ bắt giữ heroin có xu thế giảm nhưng lại tăng về số vụ bắt giữ chất ma túy tổng hợp ATS

Hơn một thập kỷ qua, các nước tiểu vùng đã có nhiều giải pháp kiên quyết và hợp tác với nhau để phá nhổ và thay thế cây thuốc phiện, cây cần sa, đấu tranh chống sản xuất, vận chuyển và buôn bán các chất

ma túy Sự hợp tác đấu tranh đó đã và đang đạt được những kết quả nhất định, diện tích trồng cây thuốc phiện ở Việt Nam, Thái Lan, Lào

đã giảm nhiều Mặc dù vậy, theo số liệu thống kê của UNODC thì tình hình sản xuất ma túy đặc biệt là thuốc phiện, heroin và cần sa vẫn đạt mức độ cao ở một số nước Trong năm 2000, Myanma và Lào là hai nước sản xuất thuốc phiện lớn thứ hai và thứ ba thế giới với tổng sản lượng hằng năm là 1.087 tấn và 167 tấn ở mỗi nước Tình hình ma tuý thế giới có sự thay đổi kể từ năm 2001, do chính quyền Taliban ban hành lệnh cấm trồng thuốc phiện ở Afghanistan, hầu hết diện tích trồng cây thuốc phiện đã bị phá nhổ trong thời gian này Việc giảm sút nhanh chóng sản lượng thuốc phiện ở Afghanistan đã đẩy Myanma trở thành nước sản xuất thuốc phiện lớn nhất thế giới trong năm 2001 Bên cạnh đó, trong 5 năm gần đây, các vụ bắt giữ

Trang 31

heroin ở biên giới Trung Quốc, đặc biệt là ở tỉnh Vân Nam giáp biên với Myanma đã tăng đáng kể Theo báo cáo của Uỷ ban phòng chống ma tuý tỉnh Vân Nam – Trung Quốc, trong năm 2001, các lực lượng hành pháp của tỉnh

đã thu giữ 8.000 kg heroin, tăng gần 3 lần so với cùng kỳ năm trước [39, 17]

Bọn buôn lậu ma túy xuyên quốc gia đang tiếp tục sử dụng các tuyến vận chuyển heroin từ khu vực “Tam giác vàng” qua các nước như Thái Lan, Lào, Myanma, Campuchia, Việt Nam và đặc biệt là Trung Quốc đến các thị trường tiêu thụ trên thế giới như Australia, Hoa

Kỳ, Đông Âu, Tây Âu Điều đáng lưu ý là tình hình buôn lậu Methamphetamine có xu hướng ngày càng gia tăng phức tạp ở khu vực này Nguồn Methamphetamin chủ yếu được sản xuất và vận chuyển từ các nước Bắc Âu đặc biệt là từ Hà Lan, Bỉ và một phần được sản xuất

ngay tại vùng Tam giác vàng

Qua theo dõi cho thấy bọn tội phạm đã sử dụng một tuyến để vận chuyển, cung cấp ma túy đến các thị trường tiêu thụ trên thế giới bằ ng đường thuỷ, đường không và đường bộ như: từ Myanma qua Vân Nam (heroin,ATS), từ Myanma qua Thái Lan - Campuchia - Việt Nam (heroin, ATS), từ tây Campuchia qua đông Thái Lan (cần sa), từ Thái Lan và Trung Quốc qua Inđônêxia, Philippin, Nhật Bản, Hàn Quốc (ATS), từ Thái Lan qua Australia và các nước Tây Âu (heroin, ATS)…

Về thủ đoạn vận chuyển, bọn buôn lậu ma túy xuyên quốc gia vẫn chú trọng sử dụng những đối tượng làm thuê để vận chuyển ma túy

từ tiểu vùng đến các thị trường tiêu thụ, họ chủ yếu là ngườ i gốc Tây Phi và Đông Nam Á Đồng thời chúng triệt để sử dụng dịch vụ phát chuyển nhanh (DHL) của Bưu điện để chuyển ma túy từ tiểu vùng đến khắp nơi trên thế giới Những thủ đoạn phổ biến là giấu ma túy trong

cơ thể người, trong hành lý xách tay, để lẫn trong hàng hợp pháp vận chuyển qua đường biển, đường hàng không

Trang 32

Đáng chú ý tình hình vận chuyển bất hợp pháp các loại tiền chất

và các loại hóa chất tham gia quá trình điều chế các chất ma túy ở tiểu vùng không ngừng tăng lên Trong năm 1998 các lực lượ ng chống ma túy trong khu vực đã thu giữ khoảng 1.534,916 kg Ephedrine Với số lượng Ephedrine như vậy có thể chế xuất được khoảng 1.974,441 kg hoặc tương đương 54.000.000 viên ma tuý tổng hợp Methamphetamine

Theo đánh giá của Ban tổng thư ký Interpol thì hầu hết các vụ bắt giữ ma túy đều thực hiện tại các khu vực biên giới giữa các nước Qua trao đổi thông tin của cơ quan phòng chống ma túy các nước nhất là Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Thuỵ Sĩ, Hà Lan, Liên bang Nga … thì số đối tượng người Thái Lan gần đây đã câu kết chặt chẽ với số đối tượng ở vùng “Tam giác vàng” sử dụng địa bàn Thái Lan và khu vực biên giới Thái Lan - Lào - Campuchia để xây dựng các cơ sở sản xuất ma túy tổng hợp Từ đây, các đối tượng chủ yếu là người gốc Hoa, Châu Phi sẽ vận chuyển, phân phối đi các nơi trong đó có cả Châu Âu Đây là hiểm hoạ đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Đó cũng là điều thách thức đối với các cơ quan hành pháp chống ma túy của các nước trên thế giới nói chung và khu vực nói riêng Tình hình đó đã và đang tác động rất lớn và trực tiếp đến hoạt động của các loại tội phạm ma tuý trong nước Mặc dù Việt Nam đã xóa bỏ cơ bản cây thuốc phiện, cây cần sa; kiểm soát tiền chất và thuốc tân dược gây nghiện nhưng do

áp lực từ khu vực, nguồn ma túy thâm nhập vào nước ta không những chưa giảm mà ngày càng phức tạp, nhất là ma túy tổng hợp

Nguồn cung ma tuý dồi dào trong khu vực là một trong những nguyên nhân dẫn đến số người nghiện ma tuý tăng lên nhanh chóng Tính đến nay, 6 nước tiểu vùng sông Mê Kông có tới gần 5 triệu người nghiện ma tuý, trong

đó Thái Lan là 3 triệu người, Trung Quốc trên 1 triệu Những người nghiện

Trang 33

ma tuý hầu hết đều phạm tội trộm cắp và các tội phạm khác, gây mất ổn định

và làm suy giảm đạo đức xã hội Bệnh AIDS cũng gia tăng, có đến 70% trong tổng số người mắc bệnh AIDS ở khu vực bị lây nhiễm qua con đường tiêm chích ma tuý Tệ nạn ma tuý cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế của mỗi nước, nếu tính trung bình một người nghiện ở Trung Quốc mỗi ngày dùng một liều 0,3 gam heroin thì 780.000 người nghiện heroin mỗi năm tiêu tốn hết ít nhất là 27 tỷ nhân dân tệ cho ma tuý

Trước tình hình tội phạm và tệ nạn ma tuý diễn biến phức tạp và nghiêm trọng như vậy, các nước tiểu vùng đã cùng với Liên Hợp Quốc, Interpol và các tổ chức quốc tế khác triển khai nhiều chương trình hành động nhằm phối hợp với các quốc gia trong khu vực để ngăn chặn thảm hoạ ma tuý Tuy nhiên, tình hình sản xuất và buôn lậu ma túy vẫn còn rất phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tội phạm và tệ nạn ma tuý tại Việt Nam

Bảng 1: Sản lượng thuốc phiện của Afghanistan, Myanma và Lào

(Đơn vị: Tấn)

1999 2000 2001 2002 Afganistan 4.565 3.276 185 3.400

Myanma 895 1.087 1.097 828

(Nguồn: UNODC, 2003)

1.3.2.3 Tình hình ma tuý ở Việt Nam

Các loại cây có chất ma tuý được du nhập vào Việt Nam đầu tiên là cây thuốc phiện, cây này được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc nước ta vào những năm 1600 Ban đầu cây thuốc phiện được coi là một thứ "hỏa dược" có thể chữa được một số bệnh phong thấp, đường ruột, giảm đau nhưng sau đó người ta cũng thấy được tác hại to lớn của nó Ở các thôn bản, nơi trồng

Trang 34

nhiều cây thuốc phiện cũng như ở những nơi có nhiều người nghiện hút thuốc phiện đã hình thành những tư tưởng tiến bộ lên án, đấu tranh với tệ nạn này Thời kỳ đầu xuất hiện những quy chế ở các thôn bản về cấm sử dụng thuốc phiện, tuy nhiên hiệu lực rất hạn chế Tình trạng trồng cây thuốc phiện và nghiện hút thuốc phiện lan tràn rất nhanh Do đó, vào năm Cảnh Trị thứ ba (1665) Nhà nước phong kiến Việt Nam đã ban hành đạo luật đầu tiên về "Cấm trồng cây thuốc phiện" Đạo luật này nêu rõ: "Con trai, con gái dùng thuốc phiện

để thoả lòng dâm dật, trộm cướp, dùng nó để nhòm ngó nhà người ta Trong thì kinh thành, ngoài thì thôn xóm, vì nó mà có khi hoả hoạn, khánh kiệt tài sản Vì

nó mà thân thể tàn tạ, người chẳng ra người" Đạo luật này còn quy định: "Từ nay về sau quan lại và dân chúng không được trồng hoặc mua bán thuốc phiện

Ai đã trồng thì phải phá đi, người nào chứa giữ thì phải huỷ đi" [12, 11] Năm Minh Mạng nguyên niên (1820) trong cuốn “Đại nam thực lục chính biên”, Nhà vua quy định: “Thuốc phiện là thứ thuốc độc từ nước ngoài đem lại, những phường du côn lêu lổng, lúc mới hút cho là phong lưu, rồi chuyển thành thói quen, thường nghiện thì không thể bỏ qua được Quan thì bỏ cả chức vụ, dân thì phá hết sản nghiệp, thậm chí gầy mòn thành tật, tổn thương

cơ thể, sinh mệnh Nên bàn để cấm đi ” Theo quy định của triều đình lúc bấy giờ, người bị bắt quả tang đang hút, giấu thuốc phiện nếu là quan thì bị cách chức, nếu là dân thì bị xử tội đồ (đày đi khổ dịch) Cha, anh không răn cấm con, em; xóm giềng biết mà không tố giác đều bị xử tội trượng (đánh bằng gậy) Tháng 3 âm lịch năm 1824, vua Minh Mạng lại ban hành thêm quy định mới với nhiều hình phạt nghiêm khắc hơn: “Những khách buôn ngoại quốc buôn bán thuốc phiện, quân, dân cố ý hút trộm thuốc phiện đều bị tội mãn lưu (đày đi xa ngàn dặm) Cha, anh không cấm con em, hàng xóm không tố giác đều bị tội mãn trượng (đánh 100 gậy) Các quan chức hút trộm thuốc phiện đều bị cách chức, bị phạt trượng và mãi mãi không được tái bổ nhiệm Gia sản người phạm tội bị tịch thu và sung thưởng cho người cáo giác” Như vậy, cách đây 200 năm, pháp luật nước ta đã quy định xử lý rất nghiêm khắc về

Trang 35

hành vi vận chuyển chất ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam, đề cao trách nhiệm của quan lại, của mỗi công dân, trách nhiệm của gia đình, xã hội trong việc đấu tranh, phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm về ma túy

Năm 1838, chất ma túy được vận chuyển từ Chấn Tây Thành (Campuchia) vào Việt Nam Lúc bấy giờ Ngọc Hân công chúa (con vua Mặc Dung Chân) cho thương nhân Mãn Thanh nấu và bán thuốc phiện để kiếm lời

và là nguồn tài trợ chính cho chính quyền Chấn Tây Thành để trả lương cho binh lính và rèn đục khí giới Một số binh lính của Việt Nam có mặt ở Chấn Tây Thành cũng bị ảnh hưởng của tệ nạn này Để ngăn chặn việc sản xuất, vận chuyển chất ma túy từ Campuchia vào Việt Nam, vua Minh Mạng đã chỉ thị cho tướng Trương Minh Giảng nghiêm cấm sản xuất thuốc phiện tại Chấn Tây Thành và trích ngân quỹ để thanh toán binh lương Vì vậy đã hạn chế rất nhiều việc sản xuất, vận chuyển thuốc phiện vào Việt Nam

Năm 1840, cuộc Chiến tranh nha phiến xảy ra giữa Trung Quốc và Anh Ở Trung Quốc, thuốc phiện chủ yếu do thực dân Anh mang đến, còn ở Việt Nam, thuốc phiện chủ yếu do những thương nhân Trung Quốc lén lút đưa vào Để ngăn chặn thuốc phiện từ Trung Quốc vào Việt Nam, đầu năm

1840 vua Minh Mạng lại ban hành quy định: “Thuyền buôn nào chứa, giấu thuốc phiện hoặc thuê mướn thuyền khác vận chuyển thì chủ thuyền chịu tội

tử hình Nếu khám xét thấy chứa giấu thuốc phiện dưới 1 kg thì phải xử giam hậu, trên 1 kg thì xử giảo (treo cổ hành hình) Thuyền bè hoặc chủ hàng trong nước nhận vận chuyển hoặc tàng trữ thuốc phiện cho người nước ngoài cũng chịu tội như thế”

Kể từ khi lên ngôi, vua Minh Mạng luôn có nhận định sáng suốt về tác hại của ma túy (thuốc phiện) và quyết tâm tiêu diệt tận gốc tệ nạn này Từ việc chủ động ngăn chặn nguồn cung cấp thuốc phiện từ Campuchia đến việc tích cực ban hành các văn bản xử lý hành vi vận chuyển chất ma túy từ Trung Quốc vào Việt Nam, vua Minh Mạng đã thể hiện những quyết tâm đưa ra

Trang 36

những giải pháp khá toàn diện trong phòng ngừa tội phạm về ma túy Suốt 20 năm cầm quyền của vua Minh Mạng, tội phạm về ma túy ở Việt Nam luôn được tích cực phòng ngừa ngăn chặn có hiệu quả

Sau khi thực dân Pháp chiếm xong Gia Định và Biên Hoà, nhà vua Minh Mạng qua đời Thực dân Pháp đã hợp pháp hoá việc buôn bán ma túy

và hút thuốc phiện, coi đó là phương pháp kinh doanh để tạo nên lợi nhuận một cách dễ dàng, hữu hiệu nhất

Ngày 28/12/1861, thiếu tướng hải quân Pháp Bonar đã ban hành một văn bản gồm 84 điều quy định liên quan đến việc mua bán thuốc phiện tại Nam Kỳ Theo bản quy định này, việc nhập khẩu thuốc phiện vào Nam Kỳ thông qua 2 cảng Sài Gòn và Chợ Lớn Thực dân Pháp thu thuế 10% trị giá thuốc phiện nhập khẩu Hằng năm thực dân Pháp tổ chức đấu thầu việc nhập khẩu, mua, bán thuốc phiện Người trúng thầu sẽ được độc quyền nhập khẩu, quản lý mạng lưới bán lẻ thuốc phiện, tổ chức các tụ điểm hút thuốc phiện, tổ chức một đội ngũ “Viên chức Sở trúng thầu” để giám sát mạng lưới bán sỉ thuốc phiện Doanh số thuốc phiện nhập khẩu vào Nam Kỳ hằng năm lên đến 500.000 quan Pháp, chiếm 50% trị giá tổng số hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam (1.000.000 quan/năm) Số thuốc phiện từ nước ngoài nhập vào Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc Năm 1862, Pháp cho nhập vào Nam Kỳ 260 thùng thuốc phiện thì có tới 185 thùng do các thuyền buôn Trung Quốc vận chuyển đến

Trước tình hình thực dân Pháp “mở cửa cho thuốc phiện nhập vào Việt Nam”, vua Tự Đức đã bỏ lệ cấm hút thuốc phiện do vua Minh Mạng đã ban hành trước đây mà cho đấu thầu, đánh thuế để tăng nguồn thu, hằng năm thu trên 300.000 quan Năm 1863, trong cuốn “Quốc triều chính biên” vua Tự Đức quy định “Nay thôi cấm mà đánh thuế thật nặng để người bán ít đi, từ đó người hút cũng ít theo”

Trang 37

Dưới thời Pháp thuộc, thực dân Pháp thực hiện chính sách khuyến khích trồng và sử dụng thuốc phiện nhằm để thu lợi nhuận một cách tối đa, không hề quan tâm đến hậu quả, tác hại do việc sử dụng thuốc phiện gây ra Cây thuốc phiện đã được trồng và phát triển nhất là các tỉnh phía Bắc do vậy nhựa thuốc phiện đã trở thành hàng hoá ở Việt Nam từ những năm 1930 -

1940, hình thành những thị trường thuốc phiện nổi tiếng như Đồng Văn (Hà Giang), Sơn La, Lai Châu và một số nơi ở Tây Bắc

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam đã chủ trương coi thuốc phiện là loại thuốc độc, cần được xoá bỏ và đã tiến hành vận động người nghiện bỏ hút Từ năm 1954, Chính phủ đã tiến hành cuộc vận động lớn “không trồng và không hút thuốc phiện” Bằng những chính sách phù hợp và các văn bản pháp luật cụ thể của Nhà nước, nạn nghiện hút và buôn bán thuốc phiện ở miền Bắc đã xoá bỏ được về cơ bản

Trong kháng chiến chống Hoa Kỳ cứu nước, mặc dù phải tập trung thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn cố gắng giải quyết vấn đề cây thuốc phiện và nạn nghiện hút Trong khi đó ở miền Nam, dưới chế độ Sài Gòn, tình hình buôn bán và lạm dụng thuốc phiện, các chất ma tuý phát triển mạnh Việc buôn bán thuốc phiện và các chất ma tuý mang tính tổ chức rất cao, gắn liền với các hoạt động quân sự của các tướng lĩnh, binh sĩ Mỹ, nguỵ quyền và mang tính quốc tế trên địa bàn rộng lớn từ Sài Gòn đến các nước Đông Nam Á Theo tài liệu của chính quyền Sài Gòn trước ngày 30/4/1975, toàn miền Nam có từ 150.000 đến 300.000 người nghiện ma tuý (kể cả trong quân đội), đi liền với nó là các tệ nạn, tội phạm khác như cờ bạc, mại dâm, trộm cắp đã gây nên tình trạng căng thẳng phức tạp trong xã hội còn để lại hậu quả đến ngày nay

Trong những năm 1980, cây thuốc phiện được trồng ở 12 tỉnh miền núi phía Bắc như Nghệ An, Lai Châu, Hà Giang, Sơn La, Cao Bằng và Yên Bái

để xuất đi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sản xuất thuốc chữa bệnh

Trang 38

Niên vụ 1985 - 1986 diện tích trồng cây thuốc phiện lớn nhất là 19.000 ha Hậu quả là số lượng người buôn bán, nghiện hút thuốc phiện tăng lên rõ rệt Nghiện hút ma tuý không chỉ dừng lại ở các vùng miền núi cao, các làng bản

xa xôi hẻo lánh mà nó đã lan tới các thành phố, thị xã Ngoài ra, một số lượng lớn thuốc phiện và các chất ma tuý khác cũng thẩm lậu vào Việt Nam bằng nhiều đường khác nhau

Trong những năm gần đây, việc sản xuất, tàng trữ buôn bán và sử dụng trái phép ATS đã xuất hiện ở Việt Nam, đặc biệt là các thành phố lớn và có

xu hướng lan rộng ra trên 50 tỉnh, thành phố trong cả nước càng làm cho tình hình thêm phức tạp

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều biện pháp huy động nội lực

và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống ma tuý, nhưng tình hình ma tuý vẫn diễn biến hết sức phức tạp Số vụ án và tội phạm ma tuý phát hiện, bắt giữ ngày càng tăng, năm 1996, số vụ án ma tuý bắt được là 3.813, số đối tượng là 6.651 nhưng đến năm 2001 số vụ án bắt được đã tăng lên đến 12.811

vụ, với 21.103 đối tượng Năm 1996 bắt được 839 kg thuốc phiện, 54,75 kg heroin, số tân dược và các thuốc ma tuý tổng hợp nhóm ATS chiếm tỷ trọng không đáng kể thì năm 2001 bắt được 589,4 kg thuốc phiện, 40,33 kg heroin, 1272,5 kg cần sa, 126.356 ống thuốc tân dược gây nghiện, 593.662 viên ma tuý tổng hợp, 43.160 viên amphetamin và 49.369 liều ma tuý các loại khác (Nguồn: Văn phòng TT PCMT, 2004)

Tính chất, mức độ của tội phạm ma tuý đã nghiêm trọng hơn: xuất hiện các vụ buôn bán ma tuý xuyên quốc gia với số lượng lớn, nhiều loại ma tuý mới, địa bàn hoạt động rộng, nhiều đối tượng tham gia Bên cạnh các phương thức vận chuyển cũ đã xuất hiện các hình thức vận chuyển mới như mua chuộc và dụ dỗ người có văn hoá thấp, ít hiểu biết về pháp luật hoặc thuê cụ già, em nhỏ, các đối tượng chính sách vận chuyển ma tuý Đường hàng không, đường biển và đường bưu điện cũng được lợi dụng để vận chuyển ma

Trang 39

tuý Bọn tội phạm giấu ma tuý trong bình xăng 2 đáy, trong hàng hoá, giấu dưới cánh gia cầm, trong bộ phận kín của phụ nữ khi đi qua cửa khẩu để tránh sự kiểm soát Trong trường hợp bị các lực lượng chức năng phát hiện, bọn tội phạm ma tuý sẵn sàng dùng vũ khí chống trả quyết liệt, hiện nay phổ biến là hiện tượng đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS dùng kim tiêm vừa chích xong đâm vào các chiến sỹ đang làm nhiệm vụ Trong thời gian qua, nhiều cán bộ chiến sỹ công an, bộ đội biên phòng, dân phòng đã hy sinh trong cuộc chiến chống bọn tội phạm ma tuý

Tính đến cuối tháng 12 năm 2003, cả nước có 160.700 người nghiện

ma tuý có hồ sơ kiểm soát, tăng 18.699 người (13%) so với cùng kỳ năm

2002 Năm 1994, tỷ lệ thanh, thiếu niên nghiện ma tuý là 39,7 % thì tới nay

tỷ lệ này vào khoảng 65 -70% trong tổng số người nghiện ma tuý Hình thức

sử dụng ma tuý ngày càng đa dạng, từ dạng hút là chủ yếu chuyển sang các hình thức tiêm chích, hít và các dạng dùng khác Tỷ lệ tái nghiện khá cao khoảng 80 - 90 %, có nơi 100 % số người được điều trị cai nghiện đều tái nghiện

Vấn đề lây nhiễm HIV và một số bệnh qua con đường tiêm chích đang

là vấn đề nghiêm trọng, số người nhiễm qua con đường này chiếm 60,48% trong tổng số người nhiễm HIV Phạm vi sử dụng ma tuý không chỉ tại các thành phố lớn, các khu đô thị đông dân, mà đã lan đến các vùng quê, thôn bản hẻo lánh, xâm nhập vào trường học, các công trường, xí nghiệp trên khắp các địa bàn trong toàn quốc 85,5% đối tượng nghiện ma tuý ở Việt Nam có tiền

án, tiền sự, liên quan tới tội phạm hình sự và vi phạm pháp luật, 40% các vụ trọng án là do người nghiện ma tuý gây ra

Tội phạm và tệ nạn ma tuý thật sự đã trở thành nỗi lo lắng của mỗi gia đình, của toàn xã hội, là nguy cơ đe doạ sự phát triển bền vững của đất nước

và sự trường tồn của dân tộc

Trang 40

CHƯƠNG II VIỆT NAM TRONG HỢP TÁC QUỐC TẾ PHÒNG CHỐNG

MA TUÝ Ở TIỂU VÙNG SÔNG MÊ KÔNG

2.1 LƯỢC SỬ HỢP TÁC QUỐC TẾ PHÒNG CHỐNG MA TUÝ 2.1.1 Thời kỳ trước khi Hội Quốc Liên ra đời

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alfred W. McCoy: Nền chính trị ma tuý ở Đông Nam Á. NXB CAND, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền chính trị ma tuý ở Đông Nam Á
Nhà XB: NXB CAND
2. Ba công ước của Liên Hợp Quốc về kiểm soát ma túy. NXB CAND, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba công ước của Liên Hợp Quốc về kiểm soát ma túy
Nhà XB: NXB CAND
3. Bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải tại Hội nghị triển khai Chương trình hành động phòng chống ma túy giai đoạn 2001- 2005.Hà Nội ngày 3/5/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải tại Hội nghị triển khai Chương trình hành động phòng chống ma túy giai đoạn 2001- 2005
4. Clive J. Christie: Lịch sử Đông Nam á hiện đại. NXB CTQG, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam á hiện đại
Nhà XB: NXB CTQG
5. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010. NXB CTQG, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010
Nhà XB: NXB CTQG
6. Central Committee for Drug Abuse Control of Myanma: Endeavors of Myanma for Elimination of Narcotic Drugs 2002. Myanma, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endeavors of Myanma for Elimination of Narcotic Drugs 2002
7. Chương trình kiểm soát ma tuý Quốc tế của Liên Hợp Quốc – Văn phòng đại diện tại Việt Nam: Chương trình kiểm soát ma tuý Quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNDCP) tại Việt Nam. Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình kiểm soát ma tuý Quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNDCP) tại Việt Nam
8. Directorate General, Anti Narcotics Force of Pakistan: Anti Narcotics Force – Yearly Digest 2001 – 2002 – Fighting Drug for a better Pakistan.Pakistan, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anti Narcotics Force – Yearly Digest 2001 – 2002 – Fighting Drug for a better Pakistan
9. Nguyễn Phong Hòa, Đặng Ngọc Hùng: Ma túy và những vấn đề về công tác kiểm soát ma túy. NXB CAND 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma túy và những vấn đề về công tác kiểm soát ma túy
Nhà XB: NXB CAND 1996
10. Hội nghiên cứu khoa học Đông Nam Á - Việt Nam: Việt Nam và Hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mê Kông. NXB Thế giới, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và Hợp tác phát triển tiểu vùng sông Mê Kông
Nhà XB: NXB Thế giới
11. International Narcotics Control Board: Report 2002. United Nations, New York, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report 2002
12. Phan Đình Khánh: Chính sách phòng chống ma tuý của Nhà nước Phong kiến Việt Nam. Bản tin phòng chống ma tuý số Tết 2004, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phòng chống ma tuý của Nhà nước Phong kiến Việt Nam
13. Phan Quốc Kinh: Các chất ma tuý ở Việt Nam. NXB KHKT, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chất ma tuý ở Việt Nam
Nhà XB: NXB KHKT
14. Lao National Commission for Drug Control and Supervision: The five year Action Plan to Eliminate Opium Poppy Cultivation in Lao PDR. Lao, September 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The five year Action Plan to Eliminate Opium Poppy Cultivation in Lao PDR
15. Đỗ Đức Lợi: Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người ngôn ngữ Mông – Dao ở Việt Nam. NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập tục chu kỳ đời người của các tộc người ngôn ngữ Mông – Dao ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hoá Dân tộc
16. Trần Văn Luyện: Hỏi đáp về phòng chống tệ nạn ma tuý. NXB CAND, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về phòng chống tệ nạn ma tuý
Nhà XB: NXB CAND
17. Ministry of Health and Welfare of Japan: Report on Administrative Measures against Narcotics and Stimulants Abuse. Tokyo, Japan, November 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report on Administrative Measures against Narcotics and Stimulants Abuse
18. Ministry of Public Security of Vietnam: Drug Control Activities in Vietnam. NXB CAND, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drug Control Activities in Vietnam
Nhà XB: NXB CAND
20. Vũ Dương Ninh – Nguyễn Văn Hồng: Lịch sử thế giới cận đại. NXB GD, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Nhà XB: NXB GD
21. Philippe Le Failler: Thuốc phiện và chính quyền thuộc địa ở châu Á. NXB VHTT – Viện Viễn Đông Bác Cổ, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc phiện và chính quyền thuộc địa ở châu Á
Nhà XB: NXB VHTT – Viện Viễn Đông Bác Cổ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ tiểu vùng sông Mê Kông - Việt Nam trong hợp tác quốc tế phòng chống ma tuý ở tiểu vùng sông Mê Kông giai đoạn 1993 - 2003
Hình 1 Bản đồ tiểu vùng sông Mê Kông (Trang 22)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w