1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hành rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng - Hải Phòng

94 427 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công việc và cuộc sống của những người phụ nữ bán hàng rong tại đây thực tế còn gặp phải nhiều khó khăn,họ cần được sự quan tâm và giúp đỡ của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỌ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Hồng Duyên

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ

Sơn, Hồng Bàng – Hải Phòng

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỌ TÊN TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Hồng Duyên

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ

Trang 3

MỤC LỤC

Phần: Mở đầu……… 5

1.Lý do lựa chọn đề tài……… …… 5

2.Tổng quan về đề tài nghiên cứu……… ……… 12

3.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn ……… 17

3.1 Ý nghĩa lý luận……… ………… 17

3.2 Ý nghĩa thực tiễn……… …… 17

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu……… ……… 18

4.1 Mục đích……….……… 18

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 19

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu……… ……… 19

5.1 Đối tượng nghiên cứu……… ……… 19

5.2 Khách thể nghiên cứu……… ……… 19

5.3 Phạm vi nghiên cứu……… 19

6 Phương pháp nghiên cứu……… 20

7 Giả thuyết nghiên cứu……… 21

8 Khung lý thuyết……… 22

Phần: Nội dung chính……… 24

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài……….24

1.1.Các lý thuyết sử dụng để nghiên cứu……… 24

1.2.Các khái niệm công cụ……… 27

Trang 4

1.3.Địa bàn nghiên cứu……… 35 Chương 2: Kết quả nghiên cứu……… 37 2.1.Thực trạng việc làm của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng……… 40 2.1.1 Quê quán, độ tuổi và trình độ của những người phụ nữ bán hàng rong tại

2.1.2.Mặt hàng bán chủ yếu của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn và Hồng Bàng……… 58 2.2 Thu nhập của phụ nữ bán hàng rong tại hai quận Đồ Sơn và Hồng Bàng

2.3 Vấn đề an ninh việc làm của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn và Hồng Bàng……… 65 2.3.1.Tâm trạng của người bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng……… 65 2.3.2 Trách nhiệm của phụ nữ bán hàng rong tại địa bàn nghiên cứu……… 67 2.3.3 Số tiền những phụ nữ bán hàng rong gửi cho gia đình hàng tháng ở quê……… 63 2.3.4 Vấn đề về sức khỏe của những phụ nữ bán hàng rong

Trang 5

Tài liệu tham khảo……… 77

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1:Quê quán của những người phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng ( đơn vị %)……… 57 Bảng 2: khoảng tuổi của người được phỏng vấn ( đơn vị %)………… 59 Bảng 3 : nghề nghiệp của chồng ( đơn vị %)……….……… 60 Bảng 4 :khoảng học vấn của người được phỏng vấn ( đơn vị %)……… 61 Bảng 5: Mặt hàng bán chủ yếu của những phụ nữ bán hàng rong tại địa bàn nghiên cứu ( đơn vị %)………62 Bảng 6: thu nhập của phụ nữ bán hàng rong tại 2 địa bàn nghiên cứu ( đơn vị

%)……… 63

Bảng 7: mức chi tiêu sinh hoạt của phụ nữ bán hàng rong tại địa bàn nghiên cứu

Phần I:Mở đầu

Trang 7

1.Lý do chọn đề tài

Trong 10 năm thực hiện Chiến lược 2001 - 2010, mặc dù chịu ảnh hưởng của khủng hoảng khu vực và tác động tiêu cực của khủng hoảng toàn cầu, nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và những biến động phức tạp của kinh tế

thế giới, giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng

Chúng ta bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh và biến động rất khó lường Các xu hướng nổi trội là:

Sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ; hình thành nền kinh tế tri thức; sử dụng các công nghệ tiết kiệm nguyên liệu năng lượng, thân thiện với môi trường; phát triển kinh tế xanh Đây là động lực chủ yếu, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu thị trường toàn cầu, thúc đẩy quá trình cải cách và tái cấu trúc kinh tế trong từng nước cũng như sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các nước Đón nhận quá trình này một cách tự nhiên hoặc chủ động lựa chọn tuỳ thuộc vào năng lực nội sinh và chính sách của mỗi nước

Toàn cầu hóa và liên kết kinh tế ngày càng sâu rộng, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động, hình thành mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu Trong bối cảnh đó, cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ có tính cạnh tranh cao trở thành thách thức kinh

tế lớn nhất đối với nước ta trong thập kỷ tới

Vai trò ngày càng tăng của các nền kinh tế mới nổi, nhất là sự phát triển mạnh

mẽ cuả Ấn Độ và Trung Quốc làm thay đổi cán cân quyền lực kinh tế - chính trị trên thế giới Với vị thế địa chiến lược trọng yếu, ASEAN hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo thuận lợi cho sự phát triển của các nước thành viên và khẳng định vai trò chủ đạo trong một cấu trúc khu vực đang định hình Tuy nhiên, khu vực này cũng là nơi tiềm ẩn những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của nước ta cũng như các nước trong khu vực

Trang 8

Sau khủng hoảng, quá trình phục hồi kinh tế thế giới diễn ra chậm chạp và đầy mâu thuẫn; khủng hoảng nợ công lan rộng và nguy cơ của cuộc chiến tranh tiền

tệ chưa phải đã được loại trừ Trong bối cảnh đó, sự điều chỉnh chính sách của các nước, nhất là các nước lớn làm cho độ rủi ro và tính bất định tăng lên

Song song đó, tình trạng suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu nhất là nước biển dâng mà nước ta là một trong số ít nước chịu tác động nặng nhất, có thể là biến số lớn trong tiến trình phát triển của đất nước

Chưa bao giờ bối cảnh quốc tế lại chi phối nhiều đến sự phát triển của nước ta với tất cả những thách thức và cơ hội to lớn như vậy Chúng ta sẽ phải làm gì và

ở vị thế nào trong sự vận động phức tạp này

Hình ảnh những người phụ nữ bán hàng rong thế kỷ trước

Hình ảnh những phụ nữ bán trầu cau trên phố Hàng Ngang, Hà Nội vào cuối thế

kỉ 19, đầu thế kỷ 20, chít khăn mỏ quạ, đi dép “kẻ noi” đến những người bán hàng rong thời hiện đại từ nhiều miền quê khác nhau với đa dạng các mặt hàng,

đó chỉ là một phần trong những bức ảnh, hiện vật về cuộc sống rất đời thường về phụ nữ Việt Nam

Trang 9

Đã từ lâu, bán hàng rong được xem là một “nghề” kiếm sống của những người lao động Thực tế quan sát tại các thành phố,các khu du lịch chúng ta có thể nhận thấy rằng số lượng người bán hàng rong là không nhỏ Người bán rong là những người từ nhiều vùng quê khác nhau tập trung làm nghề bán hàng qua các phố để kiếm sống Với số vốn ít ỏi, họ thường bán những mặt hàng như hàng ăn, sách báo, rau quả Hàng ngày, những người bán rong đi khắp các ngõ, ngách, các tuyến phố ở trung tâm bán hàng để kiếm sống và phụ giúp gia đình Họ luôn phải đối mặt với các nguy cơ như ế hàng, cướp giật, trộm cắp, tai nạn giao thông, bị bắt phạt… khiến cho tâm trạng của họ không khỏi lo lắng Đặc biệt từ khi có lệnh cấm bán hàng rong trên các tuyến phố thì hoạt động bán hàng rong của họ gặp không ít những khó khăn, trở ngại vì không còn được tự do đi bán trên các phố, nếu vi phạm mà công an bắt được thì người bán rong sẽ phải chịu nộp phạt Điều này khiến cho tâm trạng của những người bán rong luôn bất an lo làm sao bán được hàng và để không bị công an bắt

Dù trong bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng hay phát triển thì mọi nỗ lực

thúc đẩy tăng trưởng đều đáng ghi nhận Với kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế

mà kinh doanh nhỏ lẻ là đặc trưng thì đóng góp vào con số tăng trưởng ấy, hoạt động bán hàng rong đã góp phần không nhỏ Thực tế, trải qua quá trình phát triển lâu dài, hoạt động bán hàng rong đã có tác động tới mọi mặt: kinh tế,

Trang 10

văn hóa, xã hội của nước ta Một mặt nó giúp tăng trưởng kinh tế, nuôi sống một

bộ phận không nhỏ người dân, đồng thời theo một khía cạnh nào đó, hàn

g rong cũng được đánh giá là một nét văn hóa đặc trưng Mặt khác hoạt động b

án hàng rong vẫn tồn tại một số hạn chế như gây ô nhiếm môi trường, m

ất trật tự xã hội… Nghị định số 39/2007/NĐCP và Quyết định số 46/2009/QĐUBND được ban hành và đã có hiệu lực nhằm điều chỉnh hoạt động bán hàng ro

ng, tuy nhiên đến nay vẫn chưa đem lại nhiều hiệu quả

Con số thống kê của Bộ Xây dựng cho biết: Từ năm 1999 đến 2011, Việt Nam

có thêm 126 khu đô thị, nâng tổng số đô thị cả nước lên 755 khu Tỷ lệ đô thị hóa trong hơn 10 năm đã tăng lên 10% Trong đó dân số tăng 42%, từ 18,3 triệu lên 26 triệu người

Cứ theo tốc độ hiện nay, nhiều chuyên gia dự báo: Đến năm 2040, tốc độ đô thị hóa Việt Nam sẽ đạt mức 50%, tổng diện tích đô thị sẽ tăng gấp 10 lần hiện nay

và số dân đô thị tăng thêm 20 triệu người Các doanh nghiệp đổ xô về các địa phương xin đất làm đô thị, nhà ở, chủ yếu là đất nông nghiệp vì tiền đền bù giải phóng mặt bằng thấp Chính quyền địa phương thì muốn tăng trưởng, thu ngân sách tăng nên ai xin cũng cho Kết quả là diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp một cách đáng báo động

Không thể phủ nhận đô thị hóa là quy luật của phát triển Xây dựng các khu công nghiệp cũng là một nhu cầu nội tại để đưa nước ta trở thành nước công nghiệp Và sự thật, việc ra đời nhiều khu đô thị mới, nhiều khu công nghiệp đã

và đang thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế, làm bộ mặt đất nước khang trang hơn Nhưng sự phát triển tùy tiện, quy hoạch thiếu khoa học đã dẫn đến tình trạng tràn lan đô thị tự phát, kéo theo nhiều hệ lụy, trong đó nhiều diện tích ruộng đất đã bị chiếm dụng, bỏ hoang lãng phí Một con số thống kê nhức nhối: hiện có trên 2.450 tổ chức để hoang hóa tới 250.000ha đất nhà nước giao, cho thuê Trong đó, riêng các dự án treo đã chiếm tới 40.000ha Một sự lãng phí khủng khiếp

Trang 11

Cho đến nay nước ta vẫn là nước nông nghiệp Sản xuất và xuất khẩu nông sản, trong đó có xuất khẩu gạo vẫn là một thế mạnh Nhưng với tốc độ đô thị hóa kiểu này, ai dám đảm bảo thế mạnh ấy sẽ được bảo tồn Cùng với nguy cơ về biến đổi khí hậu, việc thu hẹp đất nông nghiệp do đô thị hóa vô tổ chức đã trở thành một nguy cơ nhãn tiền, không chỉ là mất an ninh lương thực mà còn đe dọa đến cuộc sống hàng chục triệu nông dân, sẽ gây những bất ổn xã hội khó lường

Nghị quyết 26 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp nông dân

và nông thôn đặt “tam nông” là vấn đề chiến lược hệ trọng của đất nước và là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị Quyết tâm chính trị này phải được

đi vào cuộc sống, trong đó có một việc không thể không làm là quy hoạch lại việc sử dụng đất một cách khoa học.Việc mất đất canh tác tại nhiều vùng nông thôn khiến lao động từ các vùng quê đó buộc phải ra các thành phố, các khu công nghiệp kiếm các công việc làm để đảm bảo cuộc sống.Trong dòng người di

cư đó có một bộ phận không nhỏ trong số họ là phụ nữ và họ chủ yếu làm các công việc lao động đơn giản không được đào tạo cơ bản và tự do

Hải Phòng còn được gọi là Thành phố Hoa phượng đỏ, là một Thành phố cảng lớn nhất phía Bắc (Cảng Hải Phòng) và công nghiệp ở miền Bắc Việt Nam nằm trong Vùng duyên hải Bắc Bộ Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam sau TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội Hải Phòng còn là 1 trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Đà Nẵng và Cần Thơ Tính đến tháng 12/2011, dân số Hải Phòng là 1.907.705 người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ở Việt Nam

Đây là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc Với lợi thế cảng nước sâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong

Trang 12

kinh tế - khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong 2 trung tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Hải Phòng có nhiều khu công nghiệp, thương mại lớn và trung tâm dịch vụ, du lịch, giáo dục,

y tế và thủy sản của vùng duyên hải Bắc Bộ Việt Nam Hải Phòng là một cực tăng trưởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng

và Quảng Ninh, nằm ngoài Quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội Hải Phòng còn giữ

vị trí tiền trạm của miền Bắc, nơi đặt trụ sở của bộ tư lệnh quân khu 3 và Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam.Đồ Sơn là một Quận nằm cách xa trung tâm thành phố nhưng lại là khu du lịch đầy tiềm năng và thu hút du khách hàng năm tới tham quan du lịch đặc biệt vào dịp hè.Nơi đây tập trung rất nhiều ngành nghề dịch vụ khác nhau để phục vụ khách du lịch trong đó có những người phụ nữ bán hàng rong.Họ thường bán hàng trên các bãi biển,các khu vui chơi,và ngay cả trên những đường phố của Đồ Sơn Công việc và cuộc sống của những người phụ nữ bán hàng rong tại đây thực tế còn gặp phải nhiều khó khăn,họ cần được sự quan tâm và giúp đỡ của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng Hồng Bàng

là quận trung tâm thành phố, nằm trong khu vực kinh tế - thương mại sầm uất, dân cư đông đúc, đồng thời là nơi tập trung các cơ quan chính trị - văn hóa của thành phố Hải Phòng Lợi thế đó tạo cho Hồng Bàng những điều kiện vô cùng thuận lợi trong phát triển kinh tế, đưa Hồng Bàng trở thành một trong những " điểm sáng" của thành phố Hải Phòng

Theo báo Lao động: Cả thành phố có trên 127 chợ chính thức song lại thiếu chợ

đồ cũ và chợ nông sản thực phẩm, đặc biệt là ở khu vực nội thành Trong khi đó, tại tầng 2-3 của một số chợ lớn lại không có người vào kinh doanh, bỏ trống diện tích, dù số hộ buôn bán nhỏ, đặc biệt là những người bán rong trên đường phố vẫn có chiều hướng gia tăng Thống kê của Sở Thương mại cho thấy đến nay thành phố vẫn có hơn 260 tụ điểm chợ cóc, chợ tạm, chưa kể những người chiếm dụng vỉa hè, lòng đường UBND thành phố đã có kế hoạch chi tiết xóa

bỏ, di chuyển các tụ điểm này và sẽ "làm mạnh" ở khu vực trung tâm thành phố

cụ thể là sẽ xây và sang sửa mới 39 địa điểm họp chợ trong các quận của thành

Trang 13

phố Trong dòng người di chuyển kinh doanh trên phố, những người bán rong từ nông thôn đã góp phần tạo nên một thị trường lao động không chính thức đầy sôi động tại các thành phố lớn, khu du lịch Bán rong một mặt giúp cho việc mua bán hàng hóa của người thành thị trở nên dễ dàng, thuận tiện hơn, mặt khác, những gánh hàng rong ấy là nguồn mưu sinh của bao người dân quê giúp họ trang trải cuộc sống Tuy nhiên, việc một bộ phận những người nông dân di cư

ra thành phố bán hàng rong đặt ra nhiều vấn đề cần suy ngẫm Mục đích của nghiên cứu này là một phần làm sáng tỏ chân dung tâm lí - xã hội của những người bán hàng rong, vấn đề cấm bán hàng rong nhìn từ khía cạnh văn hóa, luật pháp Ở châu Á, hiện tượng bán rong được chính phủ các nước đưa vào quy hoạch từ những năm cuối thế kỉ XX Ở Singapore, chính quyền đánh giá cao sự đóng góp của hàng rong vào nền kinh tế của đất nước Tuy nhiên, để bảo vệ người bán rong và giữ gìn trật tự đô thị, ngay từ năm 1971, chính phủ đã có kế hoạch đối phó với tình trạng người bán hàng rong chiếm lĩnh khắp các đường phố Vào năm này, Singapore bắt đầu thực hiện chương trình xây dựng các khu trung tâm buôn bán thực phẩm, chợ để đưa người bán hàng rong vào buôn bán

ở những nơi cố định Sau gần 30 năm, đến năm 1996, tất cả người bán hàng rong của Singapore đều đã có nơi buôn bán, được cấp giấy phép, được dự các khóa học về vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm và dinh dưỡng Singapore là quốc gia duy nhất trên thế giới nơi mà cả những người bán hàng rong được cấp giấy phép đăng kí kinh doanh Tại đây cũng có một phòng ban chuyên trách quản lý hoạt động bán hàng rong trực thuộc chính phủ, là nơi cấp phép cũng như quản lý những đối tượng bán hàng rong không có giấy phép kinh doanh.Như hầu hết các quốc gia Đông Nam Á khác hàng rong tại đây phát triển từ lâu đời

Còn tại Bangkok (Thái Lan), có khoảng 40.000 người bán rong, họ phần đông là dân nhập cư sống trong các khu lao động nghèo Việc những người bán rong ở Bangkok tùy tiện xả rác, làm cản trở giao thông và làm mất vẻ mỹ quan của thành phố góp phần gây nên tình trạng bất ổn trong đời sống đô thị Vì vậy, chính quyền Bangkok đã tuyên bố sẽ dẹp hàng rong trong 10 năm tới, giảm dần

Trang 14

từng năm cho đến khi Bangkok sạch bóng hàng rong Riêng tại Kuala Lumpur (Malaysia), tình trạng lộn xộn của người bán rong đã khiến chính phủ ngừng cấp phép cho người bán hàng rong Ngay từ năm 1990, thành phố Kuala Lumpur đã hình thành kế hoạch quốc gia về người bán hàng rong Theo kế hoạch này, người bán hàng rong sẽ được vào các trung tâm và chợ để họ buôn bán ổn định

và được cấp giấy phép

Trong số các quốc gia Châu Á thì Ấn Độ là một nước có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Giống như nước ta hoạt động bán hàng rong đã hình thành khá lâu tại Ấn Độ số lượng người bán hàng rong chiếm tới 2% dân số và thu nhập của họ đón góp không nhỏ vào GDP của hàng năm của nước này Tại đây hàng triệu người bán hàng rong tập trung tại các thành phố lớn Người bán hàng rong

đã góp phần đáng kể vào phát triển nền kinh tế các đô thị Ấn Độ, cũng vì vậy

mà một nửa số người dân đô thị phụ thuộc vào họ Tại Ấn Độ những người làm công việc này gồm cả nam và nữ trong khi các tỉnh phía Nam và Đông Bắc số lượng phụ nữ bán hàng rong chiếm đa số thì tại các thành phía Bắc và các thành phố lớn thì nam giới lại có tỷ lệ lên cao hơn Chẳng hạn như tại Meghalaya phụ

nữ chiếm khoảng 70% số người bán hàng rong thì tại Kanpur tỷ lệ này là khoảng 20% Vì vậy hoạt động bán hàng rong đã góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế Ấn Độ

Dù trong bối cảnh nền kinh tế khủng hoảng hay phát triển thì mọi nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng đều đáng ghi nhận Với kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế mà kinh doanh nhỏ lẻ là đặc trưng thì đóng góp vào con số tăng trưởng ấy, hoạt động bán hàng rong đã góp phần không nhỏ Thực tế, trải qua quá trình phát triển lâu dài, hoạt động bán hàng rong đã có tác động tới mọi mặt: kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta Một mặt nó giúp tăng trưởng kinh tế, nuôi sống một bộ phận không nhỏ người dân, đồng thời theo một khía cạnh nào đó, hàng rong cũng được đánh giá là một nét văn hóa đặc trưng Mặt khác hoạt động bán hàng rong vẫn tồn tại một số hạn chế như gây ô nhiếm môi trường, mất trật tự xã hội đến nay vẫn chưa đem lại nhiều hiệu quả Hàng rong tại đô thị,khu du lịch vẫn

Trang 15

nằm tromg tình trạng quản lý thiếu hệ thống, nhiều tiêu cực như tham ô, hối lộ, tạo ra lỗ hổng trong nền kinh tế

Đề tài:“Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ Sơn,

Hồng Bàng –Hải Phòng” tập trung nghiên cứu những người phụ nữ lang thang

bán hàng rong trên các đường phố của Đồ Sơn, Hồng Bàng bởi một số lý do sau:

Xét từ khía cạnh xã hội Việc một tỷ lệ lớn những phụ nữ nông thôn với trình độ văn hoá trung bình cấp II (phổ thông trung học cơ sở), nghề nghiệp không có (ngay cả làm nông cũng bằng kinh nghiệm) liên tục di chuyển vào đô thị lớn kiếm sống với một số nghề nhất định (chủ yếu là buôn bán đồ ăn, hàng xén, đồng nát), đã góp phần làm biến đổi nhanh quá trình phân tầng xã hội, làm đa dạng hoá các loại hình lao động nữ phổ thông và làm hình thành một hệ thống

"dịch vụ xã hội tại nhà" Quá trình chuyển dịch cơ cấu xã hội này là những hiện tượng cần được nghiên cứu

Xét từ khía cạnh luật pháp Công việc bán hàng rong trên đường phố của chị em phụ nữ nông thôn đã gây khó khăn cho công tác an toàn giao thông, an ninh đường phố Các cơ quan, ban ngành có thẩm quyền trong công tác quản lý thị trường cũng gặp không ít trở ngại, phiền toái trong việc sắp xếp ổn định an nịnh trật tự cho người lao động ngoại tỉnh Mặt khác, chính quyền đia phương, công

an khu vực (nơi những người phụ nữ bán rong ở trọ) gần như không thể kiểm soát và đảm bảo được an ninh do sự lưu chuyển tự do thường xuyên của họ Ngoài ra, các tệ nạn xã hội đã có dấu hiệu phát triển từ chính nhóm nhóm lao động tự do này ( Theo báo lao động số 18/ 1997, có tới 10- 12% đối tượng hình

sự đang ẩn náu sinh hoạt trong số dân lao động ngoại tỉnh) Vì vậy, vấn đề kiểm soát và bảo vệ phụ nữ nông thôn lang thang kiếm sống ở các đô thị lớn cần được

đề cập để nghiên cứu

Từ góc độ khoa học tâm lý Cần có những nghiên cứu toàn diện về khía cạnh tâm tư, nguyện vọng, mong muốn, cảm nhận, thói quen v.v của nhóm phụ nữ

Trang 16

bán hàng rong, để chỉ ra được những biến đổi trong nhận thức, tình cảm và hành động và để khái quát được chân dung nhân cách của họ

Từ góc độ gia đình Việc nghiên cứu những người vợ, người mẹ vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên phải đi làm ăn xa là cần thiết Vì chính trong các gia đình này, việc thiếu vắng "người chủ gia đình" đã gây nên sự "lệch chuẩn" trong vấn đề giáo dục con cái và tổ chức quản lý gia đình Đây là một trong những hiện tượng ly tán gia đình, bước khởi đầu cho sự phá vỡ tổ ấm gia đình ở nông thôn

Lao động từ các vùng nông thôn di cư ra thành thị để bán hàng rong ngày một gia tăng trong khi đó đây là nghề có tính chất bấp bênh tương đối lớn vì thế đời sống của những người làm nghề này không ổn định.Phần lớn họ lại là phụ nữ,họ thuộc nhóm đối tượng dễ bị tổn thương và cần được sự giúp đỡ từ phía cơ quan chức năng để có thể có công việc ổn định hơn đảm bảo cuộc sống

2.Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Đã từ lâu vấn đề di đan được nhiều khoa học nghiên cứu Nó được mô tả như một phần không thể thiếu của quá trình nghiên cứu Herry Reempen (1996) đã cho rằng: Di dân nông thôn đến thành thị là nguồn nhân lực chủ yếu cung cấp cho khu vực kinh tế chính thức Ronald Skedon (1997) nhận định rằng: Di dân nông thôn thành thị là yếu tố thực sự có thể giúp giảm tỉ lệ nghèo đói ở nông thôn Đặc biệt gần dây ông cho rằng: Xu hướng di dân Châu Á- Thái Bình Dương là sự gia tăng dân số ở tất cả loại hình chủ yếu (bao gồm di dân trong nước và di dân quốc tế), ông cho rằng nguyên nhân đằng sau xu thế này là quá trình toàn cầu hóa Lim Oishi Nana (1996) chỉ ra răng di dân quốc tế đang có xu hướng phụ nữ hóa, đặc biệt là ở các nước Châu á Hơn thế nữa phụ nữ đang phải đối mặt với luật lệ và các cản trở xã hội, phân biệt giới và bóc lột ở cả những nước tiếp nhận và gửi đi

Thực tế là như vậy, khi xem xét các nghiên cứu về di dân thì dường như phụ nữ chưa được đề cập đến một cách đầy đủ, có ba lý do cơ bản sau:

Trang 17

thứ nhất : số liệu thống kê về di dân ở những cấp hành chính nhỏ như làng

xã , thôn hoặc tổ phường phản ánh về tình trạng di dân ở thành thị lại rất ít hoặc ít khi đựoc thống kê

Thứ 2: Các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào đối tượng di dân lâu dài hơn là đối tượng di dân tạm thời mà phụ nữ tham gia chủ yếu

Thứ 3 : Đối tượng di dân phụ nữ thường được miêu tả trong các nghiên cứu “

di dân đồng hành”(UN Serctial và Bilsbrrrow,1993 và Moraskovic, 1984) hơn

là một thể di dân độc lập

Sự chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị không phải là hiện tượng đột biến mà là hiện tượng có tính tất yếu của quá trình phát triển kinh tế thị trường, quá trình đô thị hoá và từ lâu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Ph.ăng ghen, trong tác phẩm “Chống Đuy-ring” (1877-1878) đã đề cập đến việc những người lao động nông thôn đi tìm việc làm thêm để kiếm sống Ông đã phân tích tiến trình phát triển của hiện tượng này trong xã hội tiền tư bản và tư bản Theo ăng ghen, những người làm ruộng đi tìm các việc làm thêm ngắn ngày

vì mảnh đất nhỏ bé không đủ duy trì cuộc sống của họ Hiện tượng di chuyển lao động này đã xuất hiện từ xã hội tiền tư bản

Tiến sĩ Narumol Nirathron, giảng viên Đại học Thammasat, nhận xét: “Với lịch

sử hơn 200 năm bán hàng rong, hoạt động này đã trở thành một nét văn hóa Nếu biết khai thác, chính hoạt động bán hàng rong sẽ làm cho Bangkok càng thêm hấp dẫn” Theo một nghiên cứu của đại học này “Nét văn hóa bán hàng rong trên đường phố”, vỉa hè Bangkok đã trở thành nơi kiếm sống của hơn nửa triệu người, tạo ra một mạng lưới phân phối dịch vụ rẻ tiền, tiện lợi không chỉ cho người dân mà còn cho cả hàng triệu khách du lịch

Chính phủ Thái Lan cho phép sử dụng vỉa hè nhưng có quản lý, đánh thuế người bán hàng rong Tại một số khu vực hành chính quan trọng của thủ đô, như khu làm việc của Chính phủ, thì không cho buôn bán trên vỉa hè Tuy nhiên, ngay

Trang 18

trước Cung điện Hoàng gia, một nơi tôn nghiêm, hàng trăm người bán dạo đồ lưu niệm vẫn được phép hành nghề

Bởi vậy, ở Bangkok hầu như không thấy cảnh người bán hàng rong phải lén lút bán hàng và bị chính quyền tịch thu hàng hóa

Việc bán hàng rong trên các đường phố, khu du lịch hiện là mối quan tâm của đông đảo dư luận Tại Hội thảo quốc tế “Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội văn hiến, anh hùng, vì hòa bình”, PGS.TS Trần Thị Minh Đức & ThS Bùi Thị Hồng Thái có tham luận “Vấn đề người bán hàng rong trên các đường phố Hà Nội”

Trần Thị Minh Đức, Nguyễn Thúy Lành, Phác thảo một vài đặc điểm tâm lí xã hội ở người phụ nữ ngoại tỉnh bán hàng rong trên đường phố Hà Nội, Tạp chí Tâm lý học, số 1, 2002

Nguyễn Thị Anh Thư, Đặc điểm tâm lí xã hội của người dân di cư bán hàng rong ở Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, 2008 đã nghiên cứu rất cụ thể về đặc điểm tấm

lí của những người bán hàng rong để tìm hiểu mong muốn,nguyện vọng của họ

để giúp họ trong chính công việc họ đang làm

Khi đề câ ̣p đến v ấn đề“Đi làm ăn xa – phương thức tăng thu nhập gia đình”, Nguyễn Thị Diễm và Nguyễn Thị Minh Châu đã tìm hiểu về tác động của di cư đến kinh tế hộ gia đình theo hai hướng chí nh đó là: những đặc trưng chủ yếu của những người đi làm ăn xa như: tuổi, giới tính, học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng gia đình… và mức độ tác động đến kinh tế hộ gia đình từ việc đi làm ăn

xa

Một nghiên cứu gần đây của Lê Văn Thành “Dân nhập cư với vấn đề phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh” Tác giả khẳng định thực tế ở Tp HCM có hai thách thức nổi bật là quy mô dân số quá lớn, ngày càng tăng nhanh

và dân nhập cư tiếp tục gia tăng trong những năm gần đây làm nảy sinh rất nhiều vấn đề đối với sự phát triển của thành phố Với một lượng dân nhập cư có trình

Trang 19

độ thấp, nguy cơ thất nghiệp cao cũng như dễ nảy sinh các tệ nạn cho thành phố

ở hiện tại cũng như trong tương lai Chính vì thế mà Nhà nước cần có những bài toán quản lý phù hợp đối với dân nhập cư ở các đô thị nói chung và Tp HCM nói riêng

Chủ đề của nghiên cứu trong hội thảo Việt Nam học quốc tế của TS Vũ Thị Minh Thắng là công việc của những phụ nữ nông thôn đang làm việc trong khu vực phi chính thức của nền kinh tế Hà Nội Chọn những người phụ nữ bán rong hoa quả và rau bằng quang gánh làm đối tượng của một nghiên cứu trường hợp, chúng tôi xem xét khả năng họ tận dụng một cách dễ dàng những cơ hội việc làm thuộc dạng lao động giản đơn, không đòi hỏi kỹ năng ở khu vực phi chính thức để kiếm thêm thu nhập Từ lâu, người ta biết rõ rằng các gia đình nông thôn cần có thu nhập ngoài nông nghiệp để tồn tại, nhưng một điểm quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là di cư tuần hoàn là cách mà những gia đình này đã chọn lựa

để có thể duy trì gốc rễ và bản sắc nông thôn của mình Cùng với việc những người bán hàng rong đến Hà Nội để làm việc mà không chuyển đến sống hẳn ở thành phố, gia đình của họ vẫn có thể tiếp tục cuộc sống với tư cách là nông dân

Vì vậy, tất cả những phụ nữ mà chúng tôi mô tả ở đây đều có hai cuộc sống: thành viên của gia đình nông dân ở nông thôn và người bán hàng rong trên đường phố Hà Nội

Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cho biết, một khoản viện trợ không hoàn lại trị giá 2,5 triệu USD từ Quỹ Giảm nghèo của Nhật Bản đã được thông qua nhằm giúp những người bán hàng rong tại ba thành phố nhỏ dọc hành lang kinh

tế đi qua Cam-pu-chia, CHDCND Lào và Việt Nam có cơ hội tiếp cận lớn hơn tới nguồn vốn tài chính vi mô và diện tích rộng hơn để mở cửa hàng

Khoản viện trợ này sẽ do ADB quản lý, bổ sung thêm cho 3 dự án nâng cấp các thành phố nhỏ dọc hành lang kinh tế có tổng trị giá 220 triệu USD đã được phê duyệt trong năm 2012.Dự án này đặt trọng tâm cụ thể vào việc hỗ trợ phụ nữ bán hàng rong Dự án sẽ dành riêng một diện tích tại các khu chợ mới xây cho

Trang 20

họ, giúp họ tiếp cận được những dịch vụ chăm sóc trẻ em hiện có của chính quyền địa phương và xây những khu vệ sinh riêng để đảm bảo họ có một cuộc sống tốt đẹp, an toàn hơn Các nghiên cứu sẽ được tiến hành để xác định các sản phẩm nào phù hợp nhất với thị trường, căn cứ trên nguồn cung hiện có, năng lực sản xuất và chuỗi phân phối Dự án sẽ sử dụng các tổ chức tài chính vi mô hiện

có tại địa phương để xác định và quản lý các khoản vay Theo ADB, từ nay đến năm 2017 sẽ có tới 600 người bán hàng rong nghèo đủ điều kiện để được cung cấp các khoản vay nhỏ và được tập huấn, tư vấn về sản phẩm Ít nhất 70% các khoản vay là dành cho các phụ nữ bán hàng rong

Thông qua việc mở cửa hàng tại các khu chợ mới, dự kiến những người được hưởng lợi từ dự án tại 3 thành phố sẽ có mức thu nhập thực tế vào năm 2017 cao hơn so với mức họ có được vào năm 2013

Dự án này nhằm thúc đẩy hơn nữa những lợi ích có được do phát triển các hoạt động sản xuất, thương mại và du lịch trong Hành lang Kinh tế Đông – Tây đem lại Trao đổi thông qua thương mại biên giới giữa các khu công nghiệp, các cơ

sở dịch vụ hậu cần và các cơ sở khác trong chuỗi giá trị hàng hóa sẽ đem lại nhiều cơ hội kinh doanh hơn cho những người hành nghề buôn bán

Đề tài về việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng –Hải Phòng đi vào nghiên cứu những người phụ nữ làm nghề bán hàng rong tại các quận của thành phố Hải Phòng để tìm hiểu sâu hơn về công việc hàng ngày của họ,tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của họ,xem cuộc sống sinh hoạt của họ như thế nào và những vấn đề về chăm sóc sức khỏe của họ ra sao đặc biệt quan tâm đến vấn đề an ninh việc làm bán hàng rong hiện nay… Từ đó

có khuyến nghị để cơ quan chức năng giúp đỡ họ để họ có công việc ổn định và thu nhập đáp ứng cuộc sống

3.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa lý luận

Trang 21

- Nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta có được một cách tiếp cận ở góc độ khoa học của ngành xã hội học khi nghiên cứu một vấn đề xã hội nói chung và vấn đề thực trạng cuộc sống của phụ nữ bán hàng rong trên địa bàn Quận Đồ Sơn, Hồng Bàng nói riêng từ đó cái nhìn khoa học chứ không phải nhìn nhận ở phương diện chủ quan duy ý chí

xã hội học chứ không phải nhìn nhận vấn đề theo hướng chủ quan

nghiên cứu đề tài chính là vận dụng lý thuyết khoa học vào thực tiễn.Lý thuyết không được thực tiễn kiểm nghiệm thì trở thành lý thuyết xuông và không có giá trị đối với cuộc sống sẽ trở thành vô nghĩa.Giúp lý giải một vấn đề xã hội đã được đặt ra và đang cần được lý giải

4.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1.Mục đích

Nghiên cứu phụ nữ lang thang bán hàng rong trên các đường phố Đồ Sơn, Hồng Bàng nhằm phác hoạ chân dung tâm lý - xã hội của họ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị giúp cho các

cơ quan chức năng có thể đưa ra các giải pháp quản lý và giúp đỡ có hiệu quả đối với nhóm xã hội này

Trang 22

4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của nghiên cứu này nhằm cung cấp một cách khách quan, thực trạng cuộc sống của những người nhập cư bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng Thông qua đó đưa ra những nhận định, các giải pháp làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách phù hợp và khả thi nhằm phát huy các yếu

tố tích cực và hài hòa, hạn chế tối đa các yếu tố tiêu cực của hiện tượng xã hội này

Để đạt mục tiêu nghiên cứu tổng quát như trên, đề tài này tập trung thực hiện các mục tiêu cụ thể như sau:

xây dựng cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu bao gồm việc nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu đi trước, ứng dụng các cách tiếp cận liên ngành

và cách tiếp cận riêng trong nghiên cứu xã hội học để xây dựng mô hình khung phân tích

Phân tích, làm rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu, cụ thể : tìm hiểu đời sống kinh tế của người nhập cư BHR ở các khía cạnh như đặc điểm, tính chất công việc; vấn đề thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm, điều kiện sống Tìm hiểu đời sống tinh thần của người nhập cư BHR ở các khía cạnh như thời gian rảnh, các hoạt động vui chơi giải trí Tìm hiểu vấn đề chăm sóc sức khỏe và mối quan hệ cộng đồng của người nhập cư BHR Tìm hiểu mối quan hệ giữa người nhập cư BHR với vấn đề nếp sống văn minh và mỹ quan đô thị Tìm hiểu mong muốn và kỳ vọng tương lai của người nhập cư BHR

Cuối cùng, đề tài nghiên cứu này đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo vai trò và vị trí của những người nhập cư BHR

5.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1.Đối tượng

Trang 23

- Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hàng rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng – Hải Phòng

5.2.Khách thể

- Phụ nữ bán hàng rong trên địa bàn Quận Đồ Sơn, Hồng Bàng

5.3.Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Quận Đồ Sơn, Quận Hồng Bàng

- Thời gian nghiên cứu: Năm 2012

6.Phương pháp nghiên cứu

6.1.Phương pháp định lượng

thống kê thành phố về điều tra dân số năm 1999 và 2009, phân tích các dữ liệu

Trang 24

sát trong trường hợp này là rất hữu ích vì nó đưa đến những hình ảnh thực tế và sinh động về công việc của những người phụ nữ bán hàng rong

6.2.3 Phương pháp thu thập thông tin sẵn có

Từ sách, các công trình nghiên cứu khoa học từ trước được xuất bản hoă ̣c đăng tải trên các tạp chí , báo, internet và các tài liệu liên quan đến đề tài Thu thâ ̣p từ các báo cáo tổng kết của quận, phường Các thông tin này được phân tích và ứng dụng vào thực tiễn của đề tài nghiên cứu

6.2.4 Phương pháp xử lý thông tin

Thông tin bảng hỏi bán cấu trúc được mã hóa, ứng dụng phần mềm SPSS

Thông tin bảng ph ỏng vấn sâu được xử lý thông qua việc gỡ băng, tổng hợp, mã hóa, phân tích Mã hóa tổng hợp thông tin ghi nhâ ̣n qua quan sát Kết hợp với các kết quả thu thập từ bảng hỏi cơ cấu , bảng phỏng vấn sâu đ ể phân tích các vấn đề liên quan

6.2.5.Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng việc làm của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng như thế nào?

- Thu nhập từ việc bán hàng rong tại đây có đáp ứng được nhu cầu cuộc sống hàng ngày của họ không?

- Những khó khăn mà họ gặp phải khi bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng là gì?

- Vấn đề an ninh việc làm bán hàng rong hiện nay tại hai địa bàn trên ra sao? 7.Giả thuyết nghiên cứu

- Công việc của người phụ nữ bán hàng rong vất vả và gặp khó khăn về nhiều

mặt

Trang 25

- Thu nhập từ công việc bán hàng rong của phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng bàng thấp và không ổn định

- Vấn đề an ninh việc làm bán hàng rong tại hai địa bàn trên chƣa đƣợc đảm bảo

Trang 26

8 Khung Phân tích

BỐI CẢNH KINH TẾ XÃ HỘI

ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG VIỆC LÀM XÃ HỘI

VIỆC LÀM, THU NHẬP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ BÁN HÀNG RONG

Các dạng việc làm

Điều kiện việc làm

Thu nhập

từ việc làm

An ninh việc làm

An sinh

xã hội

Dự cảm

Kỳ vọng

Tính chất của bán hàng rong trong khu vực kinh tế phi chính thức

Đời sống người bán hàng rong

Trang 27

Phần: Nội dung chính Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1.1.Các lý thuyết sử dụng để nghiên cứu

1.1.1.Lý thuyết cấu trúc chức năng

Nguồn gốc của lý thuyết cấu chức năng, không còn nghi ngờ gì nữa chúng ta có thể khẳng định rằng là lý thuyết đầu tiên quan trọng của xã hội học sự ra đời của

về xã hội như là một thể hữu cơ đặc biệt với hệ thống gồm các thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định

Giả thuyết đầu tiên của thuyết chức năng dựa trên chủ nghĩa hữu cơ của các nhà sáng lập xã hội học thế kỷ 19 cho rằng tất cả các thể chế, các bộ phận, các tổ chức trong xã hội là những yếu tố gắn kết với nhau một cách hữu cơ Mỗi một

bộ phận đều đảm đương một chức năng và đóng góp một vai trò nhất định trong

xã hội A.Comte (1798 – 1957) là người đặt vấn đề đầu tiên khi ông sử dụng khái niệm “tĩnh học xã hội” để nghiên cứu các quy luật các quy luật duy trì trật

tự và ổn định của cấu trúc xã hội H.Spencer trong lý thuyết tiến hóa của mình,

đã quan niệm xã hội được cấu trúc và tiến hóa giống như cơ thể con người theo hướng phân hóa chức năng từ đơn giản đến phức tạp Ông đã vận dụng các thuật ngữ của sinh lý học để miêu tả các chức năng và vai trò cũng như sự biến chuyển của các thiết chế, các tổ chức, các bộ phận khác nhau trong xã hội E.Durkheim đã đi xa hơn khi không chỉ đã nghiên cứu về cấu trúc, chức năng, vai trò của các bộ phận khác nhau trong bộ máy xã hội mà ông đã biến các khái niệm này thành những công cụ phân tích của xã hội học

Trang 28

Ngoài ra còn có rất nhiều các nhà xã hội học khác đã đóng góp công sức xây dựng lý thuyết này trong suốt chiều dài lịch sử của nó

Như vậy, sự phát triển của lý thuyết cấu trúc – chức năng đều nhấn mạnh tính cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của cấu trúc Thuyết này cho rằng một

xã hội tồn tại, phát triển được là do các bộ phận cấu thành của nó hoạt động nhịp nhàng với nhau để bảo bảm sự cân bằng chung của cả cấu trúc; bất kỳ sự thay đổi nào cũng kéo theo sự thay đổi ở các thành phần khác Sự biến đổi của cấu trúc thay đổi theo quy luật tiến hóa, thích nghi khi môi trường sống thay đổi; sự biến đổi của cấu trúc luôn hướng tới thiết lập trạng thái cân bẳng, ổn định Đối với cấu trúc xã hội, các đại diện của chủ thuyết chức năng vừa nhấn mạnh tính

hệ thống của nó vừa đề cao vai trò quan trọng của hệ giá trị, hệ chuẩn mực xã hội trong việc tạo dựng sự nhất trí, thống nhất, ổn định, trật tự trong xã hội

Về phương pháp luận, thuyết chức năng hướng vào giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội Đối với bất kỳ sự kiện, hiện tượng xã hội nào, những người theo thuyết chức năng đều hướng vào việc phân tích các thành phần cấu tạo nên cấu trúc của chúng, xem các thành phần đó có mối liên hệ với nhau như thế nào và đặc biệt xem xét quan hệ của chúng đối với nhu cầu chung của sự tồn tạ và phát triển sự kiện, hiện tượng đó Đồng thời, chủ thuyết này đòi hỏi về phương pháp luận phải tìm hiểu cơ chế hoạt động của từng thành phần để biết chúng có chức năng, tác dụng gì đối với sự tồn tại một cách cân bằng ổn định của cấu trúc xã hội Với tất cả những đặc điểm cơ bản nêu trên, chủ thuyết này có thể gọi là thuyết cấu trúc – chức năng hay thuyết chức năng – cấu trúc

Những năm 1940 và 1950 chính là những năm đi đến đỉnh cao và bắt đầu suy vong của thuyết cấu trúc chức năng Trong những năm này, parsons đã đưa ra các trình bày rõ ràng đã ánh phản ánh sự chuyển hướng từ lý thuyết hành động sang thuyết cấu trúc chức năng, Các sinh viên của ông đã lan trải trên khắp đất nước và giữ các vị trí hàng đầu trong các phân khoa xã hội học những sinh viên này đã tạo ra các tác phẩm của riêng mình, là những cống hiến được công nhận rộng rãi của thuyết cấu trúc chức năng Ví dụ năm 1945, Kingsley David và

Trang 29

Wilbert Moore xuất bản một luận văn phân tích những phân tầng xã hội từ một viến cảnh chức năng cấu trúc đó là một trong những trình bày rõ ràng nhất về quan điểm chức năng cấu trúc, trong đó họ lý luận rằng sự phân tầng là một cấu trúc cần thiết về mặt chức năng cho sự tồn tại xã hội

Năm 1949 Merton xuất bản một tiểu luận đã trở thành một công bố chương trình của thuyết chức năng cấu trúc trong đó, ông cẩn thận tìm cách phác họa các nguyên tố cơ bản của lý thuyết và mở rộng nó theo một hướng thuyết chức năng cấu trúc không chỉ giải quyết các chức năng tích cực mà cả các hiệu quả tiêu cực ngoài ra nó còn tập trung vào sự cân bằng mạng giữa các chức năng và phi chức năng hoặc là vấn đề một cấu trúc nhìn tổng quát là mang tính chức năng hay phi chức năng nhiều hơn

Lịch sử của thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà xã hội học Auguscomte, spencer, Durkheim, Parson và nhiều người khác

Về mặt thuật ngữ, chủ thuyết chức còn dược gọi là thuyết chức năng cấu trúc hay thuyết cấu trúc chức năng Các tá giar của thuyết chức năng đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bội phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định,bền vững parson và merton đã từng sử dụng thuật ngữ này và từng được coi là tác giả của thuyết chức năng cấu trúc Nhưng sau này chính parsons đã cho rằng cụm từ cấu trúc chức năng là tên gọi không phù hợp trong lý thuyết xã hội học và dùng thay vào đó là thuyết hệ thống

Nguồn gốc của lý thuyết cấu trúc chức năng là: thứ nhất truyền thống khoa học

xã hội pháp coi trọng sự ổn định, trật tự của hệ thống với các bộ phận có quan hệ chức năng hứu cơ với chỉnh thể hệ thống và thứ hai là truyền thống khoa học Anh với thuyết tiến hóa, thuyết kinh tế, thuyết vị lợi, thuyết hứu cơ phát triển mạnh Từ hai truyền thống này đã nảy sinh những ý tưởng khoa học về xã hội như là một sinh thể hữu cơ đặc biệt với hệ thống gồm các thành phần có những chức năng nhất định tạo thành cấu trúc ổn định

Trang 30

Mạng lưới xã hội là một cấu trúc xã hội hình thành bởi những cá nhân (hay những tổ chức), các cá nhân được gắn kết bởi sự phụ thuộc lẫn nhau thông những nút thắt như tình bạn, quan hệ họ hàng, sở thích chung, trao đổi tài chính, quan hệ tình dục, những mối quan hệ về niềm tin, kiến thức và uy tín

Đơn giản hơn, mạng lưới xã hội là đồ thị những mối quan hệ xác định, ví dụ như tình bạn Các nút thắt gắn kết cá nhân với xã hội chính là những mối liên hệ xã hội của cá nhân đó Mạng lưới xã hội có thể dùng để kiểm tra vốn xã hội - giá trị

mà cá nhân có được từ mạng lưới xã hội Những khái niệm này thường được biểu thị trong biểu đồ mạng xã hội, trong đó các nút thắt chính là các điểm và các mối quan hệ là những đường kẻ

Lý thuyết về mạng lưới xã hội là một vấn đề của phương pháp luận liên quan đến các nghiên cứu về xã hội học, nhân học và nhiều chuyên ngành khoa học xã hội Mạng lưới xã hội là một cách tiếp cận mới với công cụ nghiên cứu được xây dựng trên 4 định đề cơ bản:

Các cá nhân cá thể hoá trong các mối quan hệ

Các kinh nghiệm được sử dụng và mang ý nghĩa trong các hệ thống các mối quan hệ

Các mối quan hệ quyết định một phần các kinh nghiệm thực tế và các biểu hiện của nó

Nghiên cứu các mối quan hệ giúp ta hiểu được các hiện tượng xã hội

Các phân tích bằng thuyết mạng lưới xã hội xuất hiện lần đầu tiên năm 1954 trong bài viết của John A Barnes, nhà xã hội học thuộc trường phái Manchester, công bố trên tạp chí “Quan hệ con người” Những tư tưởng tiên phong xuất hiện trong triết học xã hội của Georg Simmel (đầu thế kỷ XX), tư tưởng tâm lý xã hội của Moreno (đầu những năm 30), nhân học cấu chức chức năng của Radcliffe Brown, nhân học cấu trúc của Claude Levis-Strauss, ngôn ngữ học của Roman Jakobson và các lý thuyết toán học (đại số tuyến tính, ma trận và các lý thuyết

về đồ thị) Nghiên cứu mạng lưới hoàn chỉnh và dựa vào lý thuyết về biểu đồ và

ma trận để thể hiện và phân tích các dữ liệu về quan hệ nhằm làm rõ các đặc tính cấu trúc mạng lưới Đặc điểm về mặt cấu trúc của một mạng lưới xã hội dựa trên

Trang 31

các yếu tố: đặc điểm của mối quan hệ (loại tương tác) định hướng – không định hướng, đối xứng – phi đối xứng, trực tiếp gián tiếp, tính đồng nhất: sự tương đồng về đặc điểm giữa các nhân tố trong mối quan hệ, sức mạnh của các quan

hệ, tần xuất tương tác v.v và đặc điểm của cấu trúc: kiểu quan hệ, mật độ của các mạng lưới, khoảng cách giữa các thành viên trong mạng lưới, các dạng thức tập trung, những lỗ hổng cấu trúc v.v…

1.1.3 Lý thuyết lực hút lực đẩy

Trong tiếp cận xã hội học di dân, lý thuyết lực hút - lực đẩy và lý thuyết mạng

xã hội có ý nghĩa rất quan trọng Xem xét từ chiều cạnh lực đẩy để cắt nghĩa một nguồn gốc của di cư, do các khó khăn nảy sinh từ sinh kế, tai biến môi trường, xung đột xã hội ở nơi xuất cư Xem xét từ lực hút cho phép cắt nghĩa hướng nhập cư với những thuận lợi hơn về môi trường và sinh kế, nhất là thu nhập, việc làm, học tập, lao động, hòa nhập xã hội Tuy nhiên, hạn chế của tiếp cạn lực hút và lực đẩy là không cắt nghĩa được các lý do di cư nằm trong các yếu tố văn hóa, tập quán, quan hệ xã hội, quan hệ tộc người Vì vậy, tiếp cận lý thuyết mạng xã hội góp phần bổ khuyết, đi tìm căn nguyên di cư từ các quan hệ xã hội của những người có chung huyết thống, ý thức tộc người, đức tin, lợi ích hoặc

cư trú trên một địa vực, nhờ đó mà thuận lợi hơn trong tổ chức mạng lưới di cư hợp pháp hoặc bất hợp pháp Tiếp cận xã hội học còn đặt người xuất cư, nhập cư không chỉ là đối tượng nghiên cứu mà còn được tham gia vào quá trình nghiên cứu

Ngày nay, đã có rất nhiều các lý thuyết nghiên cứu về hiện tượng di dân Di dân, hiểu theo nghĩa rộng là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Hiểu theo nghĩa hẹp thì di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định Về các nguyên nhân của hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành thị có thể đưa ra hai nguyên nhân cơ bản sau: Thứ nhất, đó là nguyên nhân kinh tế: hầu hết các nhà kinh tế học, các nhà xã hội học đều nhất trí

Trang 32

yếu bằng nguyên nhân kinh tế Những nhân tố này bao gồm không chỉ bởi lực đẩy quen thuộc từ nơi xuất cư như: thiếu đất canh tác, thiếu việc làm, thu nhập thấp… mà còn bởi lực hút từ những nơi nhập cư: cơ hội việc làm có tính ổn định, thu nhập cao hơn so với nơi ở cũ… Các nghiên cứu đều cho thấy: tiền lương, thu nhập, việc làm, mức độ thất nghiệp… đều ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định di cư của người dân Thứ hai, là nguyên nhân phi kinh tế, như: vấn

đề chất lượng cuộc sống, những người di dân muốn có cuộc sống tốt hơn thông qua cuộc sống ở thành thị, nơi có ánh đèn rực rỡ của thành phố, nơi đó có các phương tiện giao thông, phương tiện thông tin đại chúng… được hiện đại hóa, nơi có hệ thống giáo dục, y tế, dịch vụ phát triển; vấn đề về phong tục tập quán

và các nhân tố xã hội khác cũng tác động sâu sắc tới quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị, ví dụ như những người di dân muốn thoát khỏi những ràng buộc truyền thống, những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu ở nông thôn; vấn đề

đi học của con cái và đoàn tụ gia đình cũng là những lực hút của dòng di dân từ nông thôn ra thành thị

1.2.Các khái niệm công cụ

1.2.1 Bán hàng rong

- Theo quan điểm cổ điểm, bán hàng được định nghĩa như sau:

“Bán hàng là hoạt động thực hiện sự trao đổi sản phẩm hay dịch vụ của người bán chuyển cho người mua để được nhận lại từ người mua tiền hay vật phẩm hoặc giá trị trao đổi đã thỏa thuận”

Khái niệm này cho thấy hoạt động bán hàng gồm có 2 hành động chính, đó là trao đổi và thỏa thuận

Trao đổi trong bán hàng gồm có hành động mua và hành động bán Hành động bán, đó là hành động trao đi hàng hoá hay dịch vụ để nhận về tiền hay vật phẩm

có giá trị trao đổi theo thỏa thuận ban đầu Còn hành động mua là hành động nhận về hàng hóa và dịch vụ từ phía bên kia và trao tiền hay vật phẩm có giá trị trao đổi được bên kia chấp nhận

Trang 33

Hành động bán hàng chỉ được thực hiện khi hành động thỏa thuận thành công Hành động thỏa thuận chủ yếu là về giá cả, các điều kiện mua bán, giao hàng, thanh toán…

Qua khái niệm trên ta thấy hai đối tượng chủ yếu được đề cập: người mua (khách hàng) và người bán (nhân viên bán hàng, doanh nghiệp)

Ngày nay sự cạnh tranh trong thế giới kinh doanh ngày càng gay gắt nên công việc bán hàng ngày càng phức tạp Bán hàng ngày nay không đơn thuần là sự trao đổi hàng hóa hay dịch vụ mà là quá trình giúp đỡ lẫn nhau giữa người mua

và người bán Người bán giúp đỡ người mua có được những thứ họ cần, ngược lại người mua cũng giúp cho người bán đạt được mục tiêu, thu về lợi nhuận, giải quyết đầu ra cho nơi sản xuất, đẩy mạnh sự sáng tạo trong kinh doanh và sản xuất Do đó công việc bán hàng ngày nay khó khăn hơn Sau đây là một số khái niệm bán hàng được phổ biến trên thế giới hiện nay:

Bán hàng là nền tảng trong kinh doanh, đó là sự gặp gỡ giữa người mua

và người bán ở những nơi khác nhau giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu nếu cuộc gặp gỡ thành công trong đàm phán về việc trao đổi sản phẩm

Bán hàng là một phần của tiến trình mà doanh nghiệp thuyết phục khách hàng mua hàng hóa hay dịch vụ của họ

Bán hàng là quá trình liên hệ với khách hàng tiềm năng, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, trình bày và chứng minh sản phẩm, đàm phán mua bán, giao hàng và thanh toán

Bán hàng là sự phục vụ, giúp đỡ khách hàng nhằm cung cấp cho khách hàng những thứ mà họ mong muốn

- Quyết định 46/2009/QĐ-UBND mới ban hành, UBND TP Hà Nội đã sửa lại:

"Người bán hàng rong là cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh, không có địa điểm kinh doanh

Trang 34

1.2.2 Phụ nữ bán hàng rong

Nghề là công việc chuyên môn theo sở trường hoặc theo sự phân công xã hội Nghề nghiệp là nghề nói chung,kế sinh nhai

(trích từ điển tiếng việt thông dụng _NXB GD)

Như vậy nghề nghiệp là danh từ chỉ chung các hình thức lao động trong xã hội theo sự phân công lao động mà con người sử dụng sức lao động của mình để tạo

ra sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần cho các cá nhân và xã hội Còn thông qua việc hành nghề để duy trì và phát triển cuộc sống cá nhân, gia đình đồng thời góp phần tạo sự phát triển cho xã hội

Mỗi công việc đòi hỏi năng lực, kỹ năng, kỹ xảo, trình độ chuyên môn khác nhau:

+ Mức độ 1: Là những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, họ phải hoàn thành những chương trình đào tạo căn bản, chuyên sâu, có hệ thống của một ngành nghề cụ thể như: Bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học…

+ Mức độ 2: Đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo tay nghề cao như thợ mộc, thợ rèn, thợ may, thợ cắt tóc………

+ Mức độ 3: Là những nghề đòi hỏi rất ít hoặc gần như không có năng lực kỹ năng, kỹ xảo hay trình độ chuyên môn, đó là những nghề như: buôn bán Trong buôn bán cũng phân ra nhiều cấp bậc, tùy vào số lượng vốn, mặt hàng và số năm trong nghề sẽ đòi hỏi những kỹ năng bán hàng tương ứng

Như vậy bán hàng rong cũng được xem là một nghề, đó là nghề buôn bán Nhưng với đồng vốn ít ỏi, mặt hàng nhỏ bé, bán theo thời vụ nên được xếp vào công việc đòi hỏi chuyên môn và đào tạo rất thấp, do đó để gia nhập vào nghề này là một điều hết sức dễ dàng Họ không cần gì nhiều chỉ cần “ một chiếc đòn gánh, một đôi vai khỏe mạnh, cặp chân dẻo dai đặc biệt nhu cầu kiếm tiền bức thiết là đủ”

Mặt khác, trong những năm gần đây ở nước ta dưới tác động của cơ chế đổi mới, nền kinh tế nhiều thành phần phát triển đã tạo điều kiện cho nhiều ngành

Trang 35

nghề mới hình thành, mở ra cho dân lao động nhiều cơ hội di chuyển, lập nghiệp

và tìm kiếm việc làm Như đã đề cập hiện tượng người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị, từ vừng kinh tế kém phát triển đến phát triển đã trở thành quen thuộc và phổ biến ở nước ta

Hiện tượng người phụ nữ nông thôn phải rời bỏ gia đình để đi làm ăn

xa không còn là điều mới lạ họ đã có mặt ở nhiều nghành nghề của thành

phố và như một tất yếu, công việc duy nhất ohù hợp với họ là nghề bán hàng rong

Như đã đề cập ,đây là một nghề không có nhiều những đòi hỏi cao về

mặt chuyên môn và nghiệp vụ Ngược lại nó chỉ cần một đôi vai khỏe , cặp chân tốt và nhu cầu kiếm tiền bức thiết Những điều đó thì người phụ nữ

nông thôn Việt nam không bao giờ thiếu Nếu việc họ hành nghề này là một tất yếu

- Là những người phụ nữ bán hàng tự do tại các khu vực không gian công cộng như vỉa hè, đường phố, công viên,…

1.2.3 Khu vực kinh tế phi chính thức

Khu vực kinh tế phi chính thức (KTPCT) được hiểu ở đây sẽ gồm tất cả các hộ sản xuất kinh doanh chưa có tư cách pháp nhân, chưa đăng ký kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực phi nông, lâm nghiệp, thủy sản nhưng vẫn sản xuất các hàng hóa dịch vụ để bán hoặc trao đổi trên thị trường Còn việc làm phi chính thức (VLPCT) được hiểu là việc làm không có bảo hiểm xã hội (BHXH) nghĩa là việc làm của cả khu vực kinh tế phi chính thức và có thể một phần việc làm của khu vực kinh tế chính thức Cho nên nói kinh tế phi chính thức sẽ bao gồm cả khu vực kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức Thông thường các nước đang phát triển trên thế giới, khu vực kinh tế phi chính thức giúp 60% lao động tìm được cơ hội việc làm còn ở Việt Nam hiện 82% việc làm có thể coi là việc làm phi chính thức

1.2.4 Thị trường lao động

Trang 36

- Hiện nay đang tồn tại nhiều định nghĩa về thị trường lao động từ các nguồn tài liệu khác nhau:

- Theo Adam Smith, thị trường lao động là không gian trao đổi dịch vụ lao động (hàng hóa sức lao động) giữa một bên là người mua sức lao động (chủ sử dụng lao động) và người bán sức lao động (người lao động)

Định nghĩa này nhấn mạnh vào đối tượng trao đổi trên thị trường là dịch vụ lao động, chứ không phải là người lao động

- Theo Từ điển Kinh tế học Pengiun, thị trường lao động là thị trường trong đó tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động được xác định trong bối cảnh quan hệ của cung lao động và cầu lao động

Định nghĩa này nhấn mạnh kết quả của quan hệ tương tác cung - cầu trên thị trường lao động là tiền công, tiền lương và các điều kiện lao động

- Theo Từ điển kinh tế MIT, thị trường lao động là nơi cung và cầu lao động tác động qua lại với nhau Định nghĩa này nhấn mạnh vào quan hệ trên thị trường lao động cũng là quan hệ cung - cầu như bất kỳ một thị trường nào khác

- Theo Tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện Đại hội IX của Đảng, thị trường lao động là: "Thị trường mua bán các dịch vụ của người lao động, về thực chất là mua bán sức lao động, trong một phạm vi nhất định Ở nước ta, hàng hóa sức lao động được sử dụng trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân, các doanh nghiệp tư bản nhà nước, các doanh nghiệp tiểu chủ, và trong các hộ gia đình neo đơn thuê mướn, người làm dịch vụ trong nhà Trong các trường hợp đó

có người đi thuê, có người làm thuê, có giá cả sức lao động dưới hình thức tiền lương, tiền công"

Theo định nghĩa này, thị trường lao động chỉ bó hẹp trong một vài thành phần kinh tế nhất định Toàn bộ các quan hệ lao động trong khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tập thể, và quan hệ lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp được đặt ra ngoài các quy luật của thị trường

Trang 37

- Mặc dù có nhiều điểm khác biệt, nhưng các định nghĩa hiện có về thị trường lao động đều thống nhất với nhau về các nội dung cơ bản của thị trường lao động Có thể tóm lược các nội dung này thành một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về thị trường lao động như sau:

Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ

xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thỏa thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thỏa thuận khác

Thị trường sức lao động được cấu thành bởi ba yếu tố là: cung, cầu và giá cả sức lao động Thị trường lao động có thể hoạt động có hiệu quả chỉ khi các quyền tự

do mua, bán sức lao động được đảm bảo bằng luật pháp và bằng hệ thống các chính sách liên quan đến quyền, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia thị trường Thị trường lao động chỉ có thể hình thành khi hội đủ các yếu tố như: + Có nền kinh tế hàng hóa phát triển theo cơ chế thị trường;

+ Có định chế pháp luật cho phép tồn tại thị trường lao động: trong đó người chủ

sử dụng có quyền tự do mua bán sức lao động; còn người lao động có toàn quyền sở hữu sức lao động của mình;

+ Người lao động không có sở hữu tư liệu sản xuất đủ để đảm bảo các nhu cầu của bản thân và của gia đình;

+ Có hệ thống thể chế thị trường lao động thích hợp để giải quyết các nhu cầu và các quan hệ phát sinh của thị trường như: hệ thống các cơ quan, tổ chức dịch vụ việc làm (các thể chế cần thiết để đảm bảo các giao dịch về sức lao động trên thị trường); hệ thống thông tin về thị trường lao động

1.2.5.Việc làm

Trang 38

Trong thị trường lao động, người lao động được coi là có việc làm khi có người mua hàng hóa sức lao động mà họ muốn bán Ngược lại, khi người lao động mong muốn bán sức lao động mà không tìm được người mua, thì bị coi là thất nghiệp Trên thực tế, việc xác định người có việc làm và người thất nghiệp trong mỗi quốc gia có những sự khác biệt nhất định, tùy thuộc vào cách định nghĩa thế nào là “việc làm” và “thất nghiệp”

Ở Việt Nam, Điều 13 Bộ luật Lao động đã định nghĩa: “mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là việc làm” Theo định nghĩa này, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:

Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần, không bị pháp luật cấm, được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật;

Những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật

Khái niệm việc làm theo Bộ Luật Lao động bao gồm một phạm vi rất rộng: từ những công việc được thực hiện trong các nhà máy, công sở, đến các hoạt động hợp pháp tại khu vực phi chính quy (vốn trước đây không được coi là việc làm), các công việc nội trợ, chăm sóc con cái trong gia đình, đều được coi là việc làm

1.2.6.Nghề nghiệp

- Theo từ điển Bách khoa: Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong

đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm

ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội

- Nghề bao gồm nhiều chuyên môn Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm

ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá

Trang 39

trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội

Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn

Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000

Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp” Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác Hơn nữa, các nghề trong

xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng

600 nghề mới xuất hiện Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau

1.2.7.Phân loại hoạt động bán hàng rong

Theo Điều 3, Nghị định 39/2007/NĐ-Cp, bán hàng rong bao gồm các hoạt động thương mại

a.Buôn bán rong là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định

b.Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định

c.Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh đồ ăn, nước uống có hoặc không có địa điểm cố định

d.Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ

Trang 40

- Đồ Sơn là một quận của thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km về hướng đông nam Đồ Sơn có một khu nghỉ mát gồm nhiều bãi biển có phong cảnh đẹp ở miền bắc Việt Nam

Quận Đồ Sơn được thành lập ngày 12 tháng 9 năm 2007 trên cơ sở toàn bộ diện tích của thị xã Đồ Sơn cũ theo nghị định 145/2007/NĐ-CP của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Đồ Sơn là một bán đảo nhỏ do dãy núi Rồng vươn dài ra biển tới 5 km, với hàng chục mỏm đồi cao từ 25 đến 130 m

Về phía tây và tây bắc, quận Đồ Sơn tiếp giáp với huyện Kiến Thụy, các hướng còn lại tiếp giáp với biển Đông Do ở phía bắc và phía nam của quận là hai cửa sông Lạch Tray và Văn Úc thuộc hệ thống sông Thái Bình đổ ra biển đem theo nhiều phù sa ,cộng thêm việc quai đê lấn biển ở Đảo Hòn Dáu để xây dựng khu Resort cao cấp,nên nước biển ở khu vực này (nhất là khu II) đục nhưng vẫn có sức thu hút du khách.Về cơ cấu kinh tế:

Du lịch và dịch vụ: 70%

Đánh bắt thủy sản và nông nghiệp: 23%

Công nghiệp và xây dựng: 7%

GDP trên đầu người năm 2005 ước đạt khoảng 1.100 USD

Đồ Sơn rất đông du khách từ khắp mọi miền Việt Nam cũng như khách quốc tế

về đây tắm biển, nghỉ ngơi và leo núi,cắm trại, ngắm nhìn phong cảnh biển đẹp buổi chiều tà

Khu du lịch đảo Dấu với bể bơi nhân tạo thuộc hàng lớn nhất Châu Á,có vườn chim,vườn thú,khu vui chơi giải trí,các khách sạn đẳng cấp 3 đến 5 sao, đặc biệt không thể thiếu ngọn hải đăng cổ kính hơn trăm năm tuổi.Kể từ khi được tu sửa khang trang,nơi đây còn được gọi vui bằng cái tên "Đà Lạt thu nhỏ" ,hằng năm được rất đông du khách đến vui chơi giải trí vào những ngày hè

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Trần Thị Minh Đức, Nguyễn Thúy Lành. 2002 Phác thảo một vài đặc điểm tâm lí xã hội ở người phụ nữ ngoại tỉnh bán hàng rong trên đường phố Hà Nội, Tạp chí Tâm lý học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo một vài đặc điểm tâm lí xã hội ở người phụ nữ ngoại tỉnh bán hàng rong trên đường phố Hà Nội
2. Nguyễn Thị Anh Thƣ. 2008 Đặc điểm tâm lí xã hội của người dân di cư bán hàng rong ở Hà Nội, Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tâm lí xã hội của người dân di cư bán hàng rong ở Hà Nội
3.Bùi Quang Dũng. 2004. Nhập môn lịch sử Xã hội học. Nhà xuất bản khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn lịch sử Xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học Xã hội
4.Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng 2001. Xã hội học. NXB ĐHQG Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà nội
5.Nguyễn Minh Hoà. 1995. Những vấn đề cơ bản của xã hội học. Trường Đại học tổng hợp TpHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của xã hội học
6. Thanh Lê. 2004. Những khái niệm cơ bản của xã hội học. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản của xã hội học
Tác giả: Thanh Lê
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh những người phụ nữ bán hàng rong thế kỷ trước - Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hành rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng - Hải Phòng
nh ảnh những người phụ nữ bán hàng rong thế kỷ trước (Trang 8)
Bảng  1:  Quê  quán  của  những  người  phụ  nữ  bán  hàng  rong  tại  Đồ  Sơn, Hồng Bàng ( đơn vị %) - Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hành rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng - Hải Phòng
ng 1: Quê quán của những người phụ nữ bán hàng rong tại Đồ Sơn, Hồng Bàng ( đơn vị %) (Trang 55)
Bảng 2: khoảng tuổi của người được phỏng vấn ( đơn vị%) - Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hành rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng - Hải Phòng
Bảng 2 khoảng tuổi của người được phỏng vấn ( đơn vị%) (Trang 56)
Bảng 3: nghề nghiệp của chồng (đơn vị %) - Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hành rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng - Hải Phòng
Bảng 3 nghề nghiệp của chồng (đơn vị %) (Trang 57)
Bảng  5:  Mặt  hàng  bán  chủ  yếu  của  những  phụ  nữ  bán  hàng  rong  tại  địa  bàn nghiên cứu ( đơn vị %) - Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hành rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng - Hải Phòng
ng 5: Mặt hàng bán chủ yếu của những phụ nữ bán hàng rong tại địa bàn nghiên cứu ( đơn vị %) (Trang 59)
Bảng  7:  mức  chi  tiêu  sinh  hoạt  của  phụ  nữ  bán  hàng  rong  tại  địa  bàn  nghiên cứu (đơn vị %) - Việc làm, thu nhập của phụ nữ bán hành rong qua khảo sát tại Đồ Sơn, Hồng Bàng - Hải Phòng
ng 7: mức chi tiêu sinh hoạt của phụ nữ bán hàng rong tại địa bàn nghiên cứu (đơn vị %) (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w