Một trong những nguyên nhân gây ra thực trạng này là do các chính quyền các cấp chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của khu vực kinh tế này, sự hiểu biết về thành quả đóng góp của khu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA XÃ HỘI HỌC
***********
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DI CƯ TỰ DO
TRONG CƠ SỞ SẢN XUẤT NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC XÃ HỘI HỌC
MÃ SỐ: 60.31.30
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM VĂN QUYẾT
HỌC VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN ĐỨC TUYẾN
HÀ NỘI - 2006
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn PGS,TS Vũ Hào Quang và các thầy, cô trong Khoa Xã hội học trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn đã truyền thụ những kiến thức quý báu trong quá trình em học tập
Xin chân thành Viện Gia đình và Giới đã tạo điều kiện
để em học tập và nghiên cứu, hoàn thành khoá học
Xin cảm ơn tất cả các bạn bè cùng lớp, đồng nghiệp và lãnh đạo và nhân dân địa phương đã trao đổi, cung cấp thông tin, ý tưởng trong suốt quá trình em học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2006
Nguyễn Đức Tuyến
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1
II - ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM LÝ THUYẾT
1.3 Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài 24
1.3.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là
1.3.2 Lý thuyết về cung và cầu của David Begg và cộng sự 26 1.3.3 Lý thuyết chọn lựa hợp lý của Coleman, Friendman và
1.3.4 Lý thuyết trao đổi của Adam Smith, David Ricardo, John
1.3.5 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề việc làm của
lao động tự do trong các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ 32
Trang 42.1 Vài nét khái quát về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên
2.1.1 Một vài nét khái quát về tình hình việc làm cho người lao
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên - xã hội quận Hoàng Mai 41
2.2 Đặc điểm việc làm của các cơ sở sản xuất nhỏ ở quận Hoàng Mai 43 2.3 Việc làm với yêu cầu về học vấn và trình độ tay nghề 44 2.4.Khả năng thu hút lao động của các cơ sở sản xuất nhỏ 51
2.6 Thay đổi việc làm của người lao động di cư 63 2.7 Môi trường tự nhiên nơi làm việc và tai nạn lao động 67
2.7.1 Môi trường tự nhiên nơi làm việc 68
CHƯƠNG 3 CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LAO
3.2 Quan hệ giữa những người lao động trong nơi làm việc 95 3.3 Các mối quan hệ khác của người lao động di cư 97
Trang 5Bước ra từ chiến tranh, với một nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến, và một nền nông nghiệp lạc hậu, hàng năm phải nhập khẩu gạo để cứu đói cho người dân; ngày nay nước ta đã tự túc được lương thực và dần dần trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới
Đang là một nước có cơ cấu kinh tế dựa trên nông nghiệp là chính, với số người dân sống ở vùng nông thôn khoảng 70%, với nền kinh tế dựa trên nông nghiệp, chúng ta đã, đang chuyển dần cơ cấu kinh tế sang công nghiệp hoá và hiện đại hoá Chỉ cần xem xét mấy năm gần đây chúng ta có thể thấy được sự biến đổi này “Trong cấu trúc tổng sản phẩm trong nước, tỷ trọng đóng góp của lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần từ 40,5% năm 1991 xuống còn 25,7% năm 1997, trong khi đó tỷ trọng sản phẩm do lao động công nghiệp và dịch vụ tăng dần Năm 1991, lao động công nghiệp và xây dựng đóng góp 23,8% trong tổng sản phẩm trong nước, năm 1997 tỷ trọng đó là 31,7% Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế thay đổi theo hướng giảm dần tỷ lệ lao động trong nông nghiệp từ 73% xuống 67%, tăng dần tỷ lệ lao động trong công nghiệp và nhanh nhất là ngành dịch vụ từ 16% lên 20% trong thời kỳ 1990-
2001”[18,280]
Trang 6Kết quả của sự đổi mới và những chương trình phát triển có thể sẽ không được sáng lạn như vậy nếu Đảng và Nhà nước không có những chính sách quyết liệt, hợp lý, và đúng đắn trong từng thời kỳ Trong rất nhiều các chính sách bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ đổi mới, chúng ta có thể thấy hai tập hợp chính sách tạo lên những chuyển biến rõ nét của nền kinh tế:
Giai đoạn đầu đổi mới, phát triển nông nghiệp là ưu tiên hàng đầu Những chính sách mở cửa đã cởi trói sức lao động của người dân nông thôn, tạo ra một
sự biến đổi rõ rệt ở khu vực nông thôn, từ đó sản lượng lương thực tăng lên nhanh chóng
Giai đoạn sau các chính sách tập trung vào phát triển công nghiệp, khuyến khích sự thành lập các doanh nghiệp, tạo việc làm, thu hút nguồn lao động đang
dư thừa của đất nước
Với đà phát triển kinh tế, để tiến hành công nghiệp hoá thành công, hiện đại hoá đất nước, để giảm mạnh tỷ lệ người nghèo và tăng tính hiệu quả của nền kinh tế đất nước, Đảng ta đã phát động Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 với mục đích chuyển đổi cơ cấu kinh tế hợp lý, làm cho “Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 16-17%, công nghiệp 40-41%, dịch vụ 42-43% Tỷ
lệ lao động nông nghiệp còn 50%”[34,160]
Những sự biến động trên tác động mạnh mẽ đến đời sống người dân cả nước, đồng thời làm biến đổi cơ cấu công nghiệp/nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta Sự tăng lên của tỷ lệ công nghiệp và giảm xuống của nông nghiệp trong
cơ cấu kinh tế quốc dân làm cho một bộ phận dân chúng không có việc làm ở nông thôn phải di cư lao động từ khu vực nông thôn sang đô thị Sự vận động trên thực ra không nằm ngoài những lý luận của các nhà xã hội học, theo kết luận của một nghiên cứu xã hội học, “Khi tiền vốn đầu tư ở khu vực đô thị trở thành yếu tố quan trọng tạo cơ hội việc làm tốt hơn, dòng di dân sẽ hướng chủ
Trang 7yếu vào khu vực đô thị, tạo ra sức ép về dân số và cơ sở hạ tầng ở khu vực đô thị”[15,5] Để giảm bớt sức ép của mật độ dân số quá cao, các nhà quản lý đô thị
sẽ phải mở rộng thành phố, cải tạo cơ sở hạ tầng và vì thế “Sự di cư là nguyên nhân chính của sự phát triển nhanh chóng của nhiều thành phố ngày nay ở Thế giới thứ ba” [20,668]
Việt Nam cũng không thể tránh khỏi quy luật di cư nông thôn-thành thị và
sự phát triển các đô thị, vì thế Đảng và nhà nước đã luôn luôn cho ra đời những luật pháp, chính sách phát triển doanh nghiệp để giảm bớt sức ép về việc làm cho người lao động ở đô thị Do đó, “Gần đây, các doanh nghiệp tư nhân đã mở rộng cả về số lượng, nhân công và sản lượng, phản ánh tiến bộ đáng kể trong việc bãi bỏ các hạn chế đối với khu vực tư nhân trong nước trong các hoạt động công nghiệp và dịch vụ và đặc biệt là ngoại thương từ năm 1999”[3,146]
Một trong các chính sách giai đoạn này, Luật doanh nghiệp đã chứng minh được tính hiệu quả của nó: “Chỉ trong vũng 6 năm từ 2000 - 2005, số lượng DN đăng ký kinh doanh đó gấp 3,3 lần số DN đăng ký trong 10 năm trước đó”[43] đồng thời, “Ngoài ra cũn cú khoảng 2 triệu hộ kinh doanh cỏ thể và hàng chục ngàn chi nhỏnh và văn phũng đại diện được thành lập” [43]
Điều quan trọng hơn, nhận thức về kinh doanh, kinh tế được đổi mới, các thành phần kinh tế đã chứng tỏ được tầm quan trọng trong thực tế Khu vực kinh
tế tư nhân, phi chính thức được công nhận và được đánh giá vì có những đóng góp phù hợp với chính sách phát triển của quốc gia Các nhà khoa học đã kết luận: “Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực tạo được việc làm nhiều nhất, không những thế, còn là rẻ nhất và nhanh nhất” [19,10] Cụ thể hơn: “Theo Báo cáo kinh tế của Ngân hàng thế giới mới đây, thì để tạo ra một chỗ làm, doanh nghiệp nhà nước trung bình tiêu tốn 18.000USD, trong khi đó, doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần đến 800 USD” [19,10]
Trang 8Tuy đã có nhiều sự chú ý, nhưng sự đánh giá của nhà nước về khu vực kinh
tế này vẫn thấp hơn với tầm cỡ phát triển của chúng nên các chính sách chưa phát huy hiệu quả tối đa Theo như nhận định của một nhà nghiên cứu nước ngoài thì : “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đã nhận thấy vai trò tích cực của khu vực tư nhân, tuy nhiên các chính sách thường chưa thật cụ thể” [3,148], và: “các doanh nghiệp vẫn chưa nhận được sự đối xử công bằng đối với hoạt động của
họ”[3,148]
Quan hệ của giới chủ và người lao động có nhiều vấn đề khúc mắc Biểu hiện dễ thấy là gần đây các vụ đình công nổ ra ngày càng nhiều, tuy phần lớn tập trung vào các khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài, nhưng cũng có đến khoảng 1/4
là ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: “560 vụ đỡnh cụng tại Việt Nam kể từ thỏng giờng năm 2004 đến trung tuần tháng 6 năm 2006 trong số 560 vụ đỡnh cụng, cú 409 vụ xảy ra ở cỏc cụng ty cú vốn đầu tư nước ngoài, 138 vụ ở các công ty ngoài quốc doanh và 13 vụ tại các doanh nghiệp nhà nước”[41] Một trong những nguyên nhân gây ra thực trạng này là do các chính quyền các cấp chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của khu vực kinh tế này, sự hiểu biết về thành quả đóng góp của khu vực kinh tế này trong việc giải quyết việc làm cho người lao động góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân còn chưa được thấu đáo Quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động còn chưa được bình đẳng và thiếu sự giám sát của pháp luật, mà người thường bị thiệt thòi là người lao động do họ không có đủ hiểu biết, kiến thức pháp luật và vị thế thấp kém
Người lao động thường có hướng giải quyết vấn đề của họ theo một cách tiêu cực bằng các hành động chống đối của họ đối với giới chủ, đình công hoặc các hình thức phá hoại khác được tiến hành Nếu để phát triển tình trạng này thì chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam khó đạt được những kết quả mong muốn
Trang 9Để những vấn đề trên có thể được giải quyết một cách thấu đáo, đồng thời
có thể nâng cao được đời sống của người lao động di cư, giải quyết sự căng thẳng trong các quan hệ của họ, chúng ta cần phải hiểu rõ được tình trạng việc làm, lao động của người lao động di cư tự do làm việc ở khu vực kinh tế này
Với những lý do như vậy, luận văn sẽ cố gắng làm rõ thực trạng việc làm của người lao động di cư làm việc ở trong các cơ sở sản xuất nhỏ thuộc quận Hoàng Mai - Hà Nội, phát hiện những vấn đề chưa hợp lý từ đó góp phần đưa
ra những kiến nghị cần thiết về mặt chính sách để phát triển mặt mạnh, giảm bớt những khó khăn, vướng mắc của người lao động di cư và sử người dụng lao động, từng bước nâng cao đời sống cho nhóm người lao động di cư làm việc ở khu vực này Qua trường hợp nghiên cứu quận Hoàng Mai, luận văn cũng hy vọng sẽ góp phần làm rõ hơn thực trạng việc làm của nhóm người di cư vào Hà Nội nói chung, hoặc có thể giúp đỡ giải thích một số vấn đề ở tầm cỡ lớn hơn
II - ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tình trạng việc làm và thu nhập của nhóm người lao động di cư tự do trong các cơ sở sản xuất nhỏ
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành ở quận Hoàng Mai, nơi
có nhiều biến đổi nhanh theo hướng đô thị hoá của Hà Nội
Trang 10Quận Hoàng Mai hiện nay có số lượng rất đông người ngoại tỉnh đến làm các công việc sản xuất công nghiệp Việc sử dụng đất đai đang chuyển dần thành đất ở, cho nên các cơ sở sản xuất lớn đang chịu ảnh hưởng của chính sách
di dời ra khỏi khu dân cư của thành phố Do mật độ dân số thưa (so với Hà Nội), nên người dân vẫn tận dụng đất ở để sản xuất nhỏ và kinh doanh Mô hình sản xuất ở đây tuy vẫn còn một số cơ sở lớn, nhưng cơ sở sản xuất nhỏ đã và đang phát triển nhanh, dễ nhận diện, dễ dàng tiếp cận và nhất là không yêu cầu các
thủ tục hành chính phức tạp
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2006
III - MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài cố gắng làm rõ những điều sau:
1 Khả năng tìm kiếm việc làm và đặc trưng việc làm của người lao động di
cư tự do trong các cơ sở sản xuất nhỏ (thời gian tìm việc, người trợ giúp tìm việc, việc đào tạo nghề, những khó khăn xảy ra trong quá trình tìm việc…)
2 Mức độ ổn định của việc làm và thời gian làm việc của người lao động di
cư trong các cơ sở sản xuất nhỏ (vấn đề hợp đồng lao động, thời gian làm việc trong ngày, tuần, mức độ dịch chuyển sang các cơ sở khác, công việc khác )
3 Tiền công và các phúc lợi mà người lao động di cư được hưởng (tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, tiền trợ cấp, tiền bồi dưỡng tai nạn )
4 Mối quan hệ xã hội của người lao động di cư trong các cơ sở sản xuất nhỏ (quan hệ chủ thợ, quan hệ của những người lao động trong cơ sở sản xuất với nhau, quan hệ giữa người lao động di cư với những nhóm khác)
IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sẽ được tiến hành dựa trên phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Trang 111 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp phân tích tài liệu
Sưu tầm, phân tích các kết quả nghiên cứu về tình trạng việc làm của người lao động trong các cơ sở sản xuất nhỏ ở Hà Nội, các số liệu thống kê có liên quan ở trên các sách đã in, báo cáo điều tra, báo chí và internet Các số liệu thu thập được có tác dụng so sánh các phân tích kết quả của những những nghiên cứu khác với những kết quả nghiên cứu của luận văn
Phương pháp điều tra bảng hỏi
Luận văn đã tiến hành khảo sát 210 bảng hỏi “Bảng hỏi là một công cụ đắc lực cho việc nghiên cứu thực nghiệm” [27,102], do vậy bảng hỏi của cuộc nghiên cứu đã được xây dựng một cách kỹ lưỡng để có thể thu thập được đầy đủ thông tin cho luận văn Mục đích bảng hỏi là đưa ra các số liệu định lượng để đánh giá thực trạng của những người lao động di cư tự do làm trong các cơ sở sản xuất nhỏ, tìm hiểu các số liệu về tiền lương, về thời gian làm việc và các số liệu về điều kiện sống, làm việc của nhóm người này
Phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu là để làm rõ thêm hiện trạng của người lao động di cư; lý giải những lý do, nguồn gốc của vấn đề mà bảng hỏi phát hiện mà không lý giải nổi nếu chỉ tiến hành phân tích định lượng; đồng thời nội dung phỏng vấn sâu cũng đi sâu phát hiện những vấn đề về tâm tư, nguyện vọng của các cá nhân mà bảng hỏi không bao quát nổi Chính vì thế, để phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và phù hợp với những kiến thức, tâm tư của từng trường hợp cụ thể, nội dung phỏng vấn đối với từng cá nhân có những hướng khác nhau:
Đối với người lao động di cư: nội dung phỏng vấn chủ yếu đi sâu vào tìm
hiểu thời gian tìm kiếm việc làm; ai, bằng cách nào mà người lao động di cư tìm được việc; nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ tay nghề, sự di chuyển trong việc
Trang 12những vấn đề liên quan đến môi trường xã hội và môi trường tự nhiên nơi làm việc; tâm tư và suy nghĩ của họ đối với công việc và tương lai của chính họ
Đối với chủ cơ sở sản xuất: nội dung tập trung vào đánh giá khả năng cung
cấp nguồn việc cho người lao động, yêu cầu về nguồn nhân lực; những ảnh hưởng của chính sách nhà nước đến cơ sở sản xuất cũng như đến người lao động; các phúc lợi, những chế độ ưu đãi mà cơ sở có thể tạo ra; đồng thời xem xét quan điểm về quan hệ hàng ngày giữa những người lao động di cư trong cơ
sở
Đối với cán bộ quản lý của chính quyền địa phương: đánh giá về việc chấp
hành quy định pháp luật của nhà nước, quan hệ giữa người lao động di cư và người chủ sử dụng lao động; việc ăn, ở, vấn đề môi trường, thực hiện an toàn lao động của người lao động di cư làm ở các cơ sở đó
Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được tiến hành khi các nghiên cứu viên đến điều tra tại địa bàn nghiên cứu Phương pháp quan sát không quan trọng bằng các phương pháp nghiên cứu khác, nhưng nó “rất có hiệu quả trong các nghiên cứu nhằm phát hiện bản chất nội tại của hiện tượng, hoặc muốn tìm hiểu sâu về nguyên nhân của các hành động, cơ cấu, mối quan hệ hàng ngày của một nhóm người nào đó” [27,115], do vậy, phương pháp này được tiến hành nhiều trong khi tiến hành phỏng vấn sâu chủ thuê lao động và người lao động di cư ở tại nơi
làm việc
2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu cho điều tra bảng hỏi
Luận văn tiến hành điều tra 210 bảng hỏi người lao động di cư (110 nam;
100 nữ) Lượng mẫu được dựa trên số liệu thống kê quận Hoàng Mai có 701 cơ
sở sản xuất [23,74], trong số này 49,5% là cơ sở có từ 1-9 người làm thuê [29,204] (dự tính trung bình mỗi cơ sở có 7 người), đồng thời trừ đi số người lao
Trang 13động là người dân đã cư trú ở Hà Nội và số cơ sở không sản xuất, mà chỉ dịch
vụ, kinh doanh, văn phòng đại diện (chưa có số liệu điều tra); do vậy số mẫu ước chừng từ trên 10% Loại hình công việc của cơ sở sản xuất gồm 8 loại, được lựa chọn dựa theo quan sát thực tế thấy xuất hiện phổ biến ở quận Hoàng Mai Địa điểm điều tra được chọn lựa theo hình thức ngẫu nhiên theo cụm, nghĩa là người điều tra chọn ngẫu nhiên một cơ sở sản xuất nhỏ rồi phỏng vấn tất cả các đối tượng (phù hợp với tiêu chí của luận văn) trong cơ sở sản xuất đó để đảm bảo tính khách quan của đối tượng Những người được chọn đã có thời gian làm
ở cơ sở sản xuất đang nghiên cứu ít nhất là 1 tháng trở lên để họ có thể nói rõ về các vấn đề đang gặp phải
Chọn mẫu cho phỏng vấn sâu
Tất cả những người được chọn để phỏng vấn sâu không phải là chọn lựa ngẫu nhiên, mà có chọn lọc Đây là những người có sự hiểu biết tương đối rõ về vấn đề nghiên cứu để có thể cung cấp những thông tin chính xác và bao quát nhất Lượng mẫu phỏng vấn sâu là 10 người, gồm có 5 người lao động di cư (có
3 nam và 2 nữ, lựa chọn những người đã có thời gian làm việc từ 6 tháng trở lên
ở trong các cơ sở có ngành nghề sản xuất hoạt động khác nhau), 3 chủ thuê lao động (2 nam 1 nữ, có đã từng kinh doanh trên 1 năm, kinh doanh ngành nghề khác nhau), 2 cán bộ chính quyền (1 công an phường và 1 tổ trưởng dân phố)
V- GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1 Các cơ sở sản xuất nhỏ hiện nay ở quận Hoàng Mai có khả năng cung cấp nhiều việc làm phù hợp với trình độ học vấn, tay nghề và các đặc điểm của người di cư tự do Người lao động di cư dễ dàng tìm được việc làm trong khu vực kinh tế này
3 Công việc của người lao động di cư khá ổn định, nhưng họ vẫn mong muốn
đi tìm việc ở nơi khác, làm nghề nghiệp khác
Trang 14VI- SƠ ĐỒ LÝ THUYẾT
Thực trạng việc làm của người di cư trong các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ
Khả năng cung cấp việc
làm của các cơ sở sản xuất
Mức
độ ổn định của việc làm Tiền công
Tiền công
và phúc lợi
Khả năng thay đổi việc làm
Môi trườn
g lao động
và tai nạn
Trang 15PHẦN NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM LÝ THUYẾT
VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DI CƯ TỰ DO
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Gần đây, có một số nghiên cứu được tiến hành có liên quan đến vấn đề việc làm của người lao động di cư ở trong các cơ sở sản xuất nhỏ Nổi bật nhất là một
số công trình nghiên cứu sau:
Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập của tác giả Trịnh Thị
Hoa Mai [21] Công trình chủ yếu đưa ra các vấn đề lý luận về khu vực kinh tế
tư nhân dưới góc độ vĩ mô Sách cũng đưa ra nhiều định nghĩa mang tính học thuật cao, như định nghĩa về khu vực kinh tế tư nhân, định nghĩa về doanh nhân, các loại hình doanh nghiệp tư nhân Các vấn đề được bàn luận ở sách chủ yếu
đề cập đến khu vực kinh tế tư nhân một cách tổng thể, không đi sâu vào các chiều cạnh chuyên sâu của thành phần kinh tế này Sách đưa ra một sự khái quát quá trình phát triển của thành phần kinh tế tư nhân, những biến đổi trong nhận thức của xã hội về loại hình kinh tế này, những định hướng, hạn chế khách quan
và chủ quan của khu vực kinh tế tư nhân Đặc biệt, tài liệu chú trọng đến dự báo, đánh giá, và vạch ra một số hướng phát triển của loại hình kinh tế này trong bối cảnh hội nhập vào kinh tế quốc tế trong giai đoạn sắp tới
Sách chọn lọc đưa ra những số liệu về tình hình khu vực kinh tế tư nhân trên bình diện cả nước, có những nhận xét, đánh giá chính xác về những số liệu này Đây là tài liệu tham khảo quý đối với luận văn khi khái quát tình hình khu vực kinh tế này khi muốn tham khảo một khung cảnh tổng thể của vấn đề
Trang 16Tuy nhiên, về tầm kinh tế vĩ mô, tài liệu không cho được những chiều sâu của vấn đề, đặc biệt ở những mối quan hệ bên trong của các đơn vị chủ thể của loại hình kinh tế này
Kinh tế tư nhân Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới : Thực trạng và những vấn đề của Đinh Thị Thơm (chủ biên)[11] Sách là tập hợp nhiều những
phân tích, đánh giá, kiến giải và những giải pháp được đúc kết trong những công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực tiến phát triển, những hạn chế cũng như triển vọng phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Sách chủ yếu bàn về những vấn đề về chính sách, sự ra đời và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam; những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua, nhất là trong 20 năm đổi mới Sách đưa ra các vấn đề lý luận về sự dịch chuyển của khu vực kinh tế này trong các giai đoạn lịch sử và trong bối cảnh hiện nay khi Việt Nam hoà nhập với nền kinh tế quốc tế
Đặc biệt, sách có bài viết của tác giả Trần Thanh Mai về “Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam: vấn đề và giải pháp” Bài viết có đề cập đến định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ, những ưu thế của nó trong bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay, vai trò của các doanh nghiệp trong việc tăng trưởng kinh tế quốc dân, thực trạng các doanh nghiệp nhỏ ở các vùng thành phố và nông thôn; đồng thời sách còn vạch ra các giải pháp nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp này trong giai đoạn sắp tới của đất nước
Tuy nhiên, cũng như quyển sách trên, các tác giả đi sâu vào vấn đề lý luận
về lý thuyết và nhu cầu cần thiết của các doanh nghiệp tư nhân trong tầm vĩ mô; không đi sâu vào các quan hệ vi mô tồn tại trong khu vực kinh tế vừa và nhỏ
Điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Những kết quả chủ yếu [10] Sách là
kết quả cuộc điều tra về di cư của Việt Nam năm 2004 Cuộc điều tra được tiến hành ở 11 tỉnh/thành phố, được xếp đại diện cho 5 vùng di cư lớn của cả nước
Trang 17Các số liệu đưa ra mục đích là nhằm tăng sự hiểu biết về các lĩnh vực: quá trình di cư; các yếu tố kinh tế, xã hội, nhân khẩu thuận lợi cho di cư; kết quả di chuyển đối với người di cư và gia đình; và so sánh giữa người di cư với người không di cư
Cuộc sống của người di cư được sách miêu tả và phân tích rất rõ Những số liệu về đặc trưng hộ, trình độ học vấn, tình trạng nhà ở, đặc trưng nhân khẩu học được sách đưa ra ra rất cụ thể Sách phân tích các yếu tố quyết định di cư, quá trình di cư, những dự định và kết quả của những cuộc di cư Vấn đề sức khoẻ của người di cư cũng như những vấn đề liên quan đến sức khoẻ như sự lây nhiễm bệnh xã hội, bệnh AIDS, và kết hoạch hoá gia đình được sách đề cập và đưa ra những nhận xét xác đáng
Đáng chú ý, sách có nhiều phân tích, so sánh các vấn đề của người di cư với người ở nơi xuất phát, người đã di cư và người dân ở nơi nhập cư để làm rõ thêm những đặc điểm nổi bật của người di cư hiện nay ở giai đoạn hiện nay Với quy mô rất lớn của đề tài, với sự bao quát nhiều vấn đề cho nên sách đưa ra cái nhìn bao quát đến người di cư của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Các khách thể được xem xét là người di cư nói chung, không phân tích một nhóm khách thể cụ thể; với khu vực địa lý rộng lớn là cả nước; không nêu được đặc điểm riêng biệt của một vùng; và với đối tượng bao quát rất nhiều mặt của cuộc sống từ sức khoẻ, đến luật pháp
Do đó, sách không tập trung sâu được vào một nhóm khách thể riêng biệt, vào một đối tượng nghiên cứu cụ thể Những người di cư tự do cũng được sách
đề cập, nhưng với một cái nhìn bao quát, không đi sâu vào được nhóm khách thể này ở những vùng kinh tế cụ thể; người di cư tự do làm việc ở trong các cơ sở sản xuất nhỏ lại càng không được đề cập - mà đây là nhóm khách thể có thể nói
là yếu thế nhất của nhóm khách thể di cư tự do Tuy nhiên, ta không thể nói đây
là thiếu sót của quyển sách mà chỉ có thể nói là do quy mô của đề tài nghiên cứu
Trang 18rất rộng lớn, khối lượng thông tin rất lớn và tập trung vào tầm vĩ mô, nên sách không đi sâu nghiên cứu những khách thể nhỏ và đối tượng cụ thể
Dịch vụ giúp việc gia đình và tác động của nó tới gia đình (Nghiên cứu trường hợp ở phương Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ
của Lê Việt Nga [22] Xuất phát từ tình hình kinh tế xã hội hiện nay, tác giả thấy cần thiết phải nghiên cứu vấn đề trẻ em di cư giúp việc gia đình Mục tiêu nghiên cứu là: làm rõ thực trạng của giúp việc gia đình và những ảnh hưởng của
nó đến gia đình và thành viên gia đình người chủ; nghiên cứu mối quan hệ giữa người chủ nhà và trẻ em di cư giúp việc và hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm Từ những thông tin thu nhập được, tác giả đưa gia những kết luận
và đề xuất những thay đổi cần thiết đối với dịch vụ giúp việc
Sau khi đưa ra những nghiên cứu, phân tích tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, trong đó có những kết luận đáng chú ý sau:
Dịch vụ gia đình làm giảm bớt gánh nặng công việc nhà cho phụ nữ thành thị, cung cấp lao động thay thế trong lĩnh vực tái sản xuất sức lao động gia đình; tạo việc làm và tăng thu nhập cho phụ nữ, trẻ em nông thôn; duy trì sự gần gũi giữa các thành viên người chủ nhà
Dịch vụ giúp việc gia đình vẫn chưa được nhà nước quan tâm đúng mức, thiếu sự quản lý chặt chẽ Cơ sở pháp lý chưa theo kịp với sự phát triển của bản thân dịch vụ Nhiều sai sót và mâu thuẫn xuất hiện trong hợp đồng lao động Nhu cầu người giúp việc gia tăng về số lượng và chất lượng, tuy nhiên nguồn cung ứng lao động không đáp ứng kịp về phương diện pháp lý và chất lượng nguồn lao động
Hoạt động cung cầu lao động mang tính tự phát Hợp đồng lao động không được không được soạn thảo đúng với quy định chung Các hợp đồng miệng
Trang 19không tạo ra mối quan hệ chuyên nghiệp của cả người lao động và người sử dụng lao động
Người lao động không trang bị trước cho bản thân những phẩm chất và những hiểu biết về công việc Sự đáp ứng những yêu cầu công việc của nhiều lao động phát triển tự phát
Cơ sở pháp lý của dịch vụ giúp việc gia đình chưa hoàn thiện nên người sử dụng lao động và người lao động vẫn chịu thiệt thòi
Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới của tác giả Bùi Thị Thanh Hà [2] Nội dung sách đi sâu vào
nghiên cứu đời sống của nhóm công nhân công nghiệp làm việc trong các doanh nghiệp liên doanh Phần đầu, sách tổng quan tình hình kinh tế xã hội thời kỳ đổi mới của nước ta, từ đó nói đến sự ra đời của các doanh nghiệp liên doanh, cùng với nó là sự ra đời của đội ngũ công nhân Phần chính của sách nói về đặc điểm của nhóm công nhân này trong thời kỳ đổi mới Những vấn đề về cơ cấu đội ngũ, điều kiện lao động, điều kiện sống và các quan hệ xã hội của nhóm công nhân này được đưa ra và phân tích sâu sắc Sách còn mở rộng phân tích đến những cơ hội thăng tiến của công nhân, những quyền lợi và nghĩa vụ của nhóm công nhân này trong luật pháp và những ảnh hưởng của các tổ chức Đảng, đoàn thể trong việc bảo vệ người công nhân và những quan hệ của người công nhân ở trong doanh nghiệp
Như mục đích của đề tài, sách tập trung vào nhóm công nhân trong các doanh nghiệp liên doanh Các doanh nghiệp liên doanh thường có quy mô lớn và vừa, không mấy khi có quy mô nhỏ, công nhân thường được hưởng các chế độ một cách rõ ràng và các cơ sở liên doanh thường thấy xuất hiện công đoàn, hội phụ nữ và các tổ chức đoàn thể của công nhân khác Nhóm công nhân này thường tập trung tạo thành nhóm lớn, do đó dễ thu hút được sự chú ý của công chúng khi nảy sinh những vấn đề xã hội
Trang 20Tuy nhiên, mặc dù khách thể của quyển sách này khác với khách thể nghiên cứu của luận văn, nhưng luận văn cũng thu được nhiều gợi ý đáng giá cho những chú ý và phân tích của mình
Tạo việc làm tốt bằng các chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ của
Phạm Thị Thu Hằng [14] Cuốn sách tập trung phân tích tình hình việc làm giai đoạn đầu những năm 2000 ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta, đánh giá các chính sách, môi trường pháp luật hiện hành, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện vấn đề lao động, việc làm trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ
Qua những lý luận, phân tích, đánh giá, tác giả đã đi đến một số kết luận đáng quan tâm sau:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ được công nhận sau năm 1986 nhưng nó đã phát triển với một tốc độ rất nhanh cả về số lượng và chất lượng Sự phát triển này là kết quả của việc ra đời một loạt các chính sách, luật pháp khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân, trong đó các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ chiếm đại đa số
Trung bình mỗi doanh nghiệp vừa nhà nhỏ mới được thành lập tạo ra khoảng 20 lao động, điều này cho thấy việc làm cho người lao động được tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường chứ không phải là kết quả của những chiến lược phát triển nhằm giải quyết vấn đề dư thừa lao động
Thu nhập của người làm trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ không kém nhiều so với làm trong các doanh nghiệp lớn, nhưng vấn đề đảm bảo nghề nghiệp, an toàn lao động, vệ sinh môi trường cũng như giờ làm việc tại các doanh nghiệp nhỏ thường ở mức kém hơn so với các doanh nghiệp lớn
Các bước xây dựng chính sách pháp luật chưa thực sự quan tâm đến các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, thậm chí tiêu chí để xác định doanh nghiệp
Trang 21vừa và nhỏ không thống nhất Một số chính sách được xây dựng nhằm mục đích nâng cao đời sống người lao động và phát triển các doanh nghiệp này, nhưng chính sách này hầu như là xa rời với cuộc sống thực tế, việc thực thi do vậy rất khó khăn, việc này ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ và đời sống người lao động
Sách đã có phần nghiên cứu về vấn đề việc làm người lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, và lại nghiêng nhiều về phân tích các luật pháp, chính sách chứ không đi sâu vào nghiên cứu từng trường hợp cụ thể, từng nhóm khách thể cụ thể để phát hiện những khó khăn và thuận lợi của các nhóm người này
Lao động nữ di cư tự do nông thôn-thành thị của Hà Thị Phương Tiến,
Hà Quang Ngọc [30] Cuốn sách là kết quả của công trình nghiên cứu: "Lao động nữ nhập cư tự do vào thành phố" Qua khảo sát ở 3 thành phố và một số địa phương, kết hợp việc sử dụng các số liệu với việc phân tích các bản phỏng vấn sâu cá nhân và nhóm, các tác giả đã cung cấp cho người đọc một thực trạng khá toàn diện về cuộc sống của lao động nữ di cư tự do từ nông thôn ra thành phố; nguyên nhân dẫn đến việc họ phải rời bỏ gia đình, con cái Hệ quả của việc
di cư đối với người lao động nữ, đối với gia đình họ và đối với xã hội cộng đồng Các tác giả đã dành một phần phân tích ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của lao động nữ di cư tự do đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của thành phố cũng như sự ổn định đời sống gia đình, xây dựng nông thôn mới
Nghiên cứu này chỉ đi sâu vào đối tượng là phụ nữ di cư, các phân tích chú trọng đến điều kiện làm việc và sinh hoạt của phụ nữ di cư, không chú trọng khái quát tình hình của nam giới trong vấn đề này, thêm nữa, tác phẩm này chưa
đi sâu vào phân tích những tương tác về tình cảm giữa người di cư và các quan
hệ gia đình/họ hàng/bạn bè
Trang 22Ngoài những tài liệu đã được giới thiệu trên, ngoài ra cũng có một số lượng đáng kể nghiên cứu về vấn đề doanh nghiệp vừa và nhỏ, nghề nghiệp trong khu vực nhỏ và thư nhân nhưng hầu như là nghiên cứu về mặt luật pháp, chính sách, đưa ra những phương hướng phát triển một cách lý thuyết Một số quyển khác thì hầu như là đưa các số liệu thống kê trên bình diện khu vực lớn, chúng
có tác dụng chỉ phương hướng phát triển của thành phần kinh tế là doanh nghiệp
tư nhân nhưng chưa đi sâu vào quan hệ giữa chủ và thợ, về những trở ngại và thuận lợi của người lao động, về nhu cầu thuê lao động và sự cung cấp lao động
Một số tài liệu nghiên cứu vấn đề di dân, người di cư nhưng chủ yếu chúng nói về những chính sách di cư của quốc gia, nghiên cứu những luồng di cư lớn
và một số sách cung cấp những số liệu vĩ mô về di cư nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu vấn đề việc làm của người lao động di cư đến làm việc trong các
cơ sở sản xuất nhỏ; mà đây là khu vực kinh tế khá quan trọng, ở đó còn có nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ về luật pháp, về các chính sách cũng như sự hiểu biết còn hạn chế, đồng thời là nơi tập trung nhiều người di cư tự do - nhóm được coi là yếu thế trên thị trường lao động hiện nay Từ những lý do đó, luận văn hy vọng góp phần làm sáng tỏ điều kiện việc làm của nhóm khách thể dễ bị tổn thương này, giúp những nhà hoạch định luật pháp và phát triển xã hội có những chính sách, trợ giúp phù hợp để nâng cao đời sống, điều kiện lao động của nhóm yếu thế này
1.2 Hệ khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm Việc làm
Việc làm, theo từ điển tiếng Việt thì Việc làm là danh từ, “1 Công việc,
nghề nghiệp thường ngày để sinh sống: Sợ mất việc làm chưa có việc làm việc làm ổn định 2 Điều thực hiện cụ thể, trái với lời nói.” [37,1815]
Trang 23Một từ dễ nhầm lẫn với Việc làm là Làm việc Làm việc là động từ “1 hoạt
động nhằm đặt một hiệu quả nào đó: làm việc không nghỉ tay Suốt ngày không chịu làm việc 2 Làm một nghề nghiệp nào đó: làm việc ở toà án 3 Giải quyết công việc với người khác: Mai tôi làm việc với anh.” [37,967]
Về yếu tố thuật ngữ thì “việc làm” là danh từ, còn “làm việc” là động từ
“Việc làm” và “Làm việc” là hai từ khác nhau, có những quan hệ với nhau, ví
dụ: người ta có thể đang có việc làm nhưng không chính xác khi nói là người ta đang có làm việc, ngược lại có thể nói: người ta đang làm việc chứ không nói người ta đang việc làm
Theo Luật Lao động, thì “Việc làm” được định nghĩa như sau:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.[8,11]
Đây là một khái niệm được thừa nhận về mặt pháp lý và được phổ biến trong các văn bản, của nhà nước Trong pháp luật, nhiều hiện tượng làm việc mà không được coi là việc làm, ví dụ mại dâm, buôn bán ma tuý tuy những hành động này cũng phải tốn nhiều công sức, tạo ra được lợi nhuận, thu nhập nhưng
bị pháp luật cấm nên không thể được gọi là việc làm
Nếu xét trong phạm vi gia đình, hiện nay có một vấn đề còn đang vướng mắc: người phụ nữ lao động tạo ra của cải của gia đình, không bị pháp luật cấm
có được gọi là việc làm hay không Đây là một vấn đề còn đang có nhiều bàn luận, nhất là về vấn đề đánh giá hoạt động này thế nào? có được trả công không?
có được hưởng các yếu tố về công nhận đóng góp về kinh tế của người vợ khi phân chia tài sản không? đây là một vấn đề rất lớn, đi xa khỏi mục tiêu của luận văn Luận văn chỉ tập trung vào xem xét “việc làm” là hoạt động lao động được trả lương ở trong các cơ sở sản xuất nhỏ
Trong xã hội học lao động, việc làm còn được coi là một đối tượng của nghiên cứu Tác giả Lê Ngọc Hùng nêu rằng “xã hội học kinh tế xem xét việc
Trang 24làm với tư cách là vị trí và tương ứng với nó là vị thế, vai trò trong cấu trúc lao động xã hội” [18,271]
Luận văn cũng xem xét “việc làm” cũng tương tự như quan điểm của các nhà xã hội học kinh tế, nhưng tập trung chú ý vào tầm cỡ vi mô: xem xét việc làm với tư cách là một vị trí tương ứng với nó là vị thế, vai trò trong một khu vực kinh tế cụ thể, đó là trong khu vực doanh nghiệp nhỏ
1.2.2 Khái niệm Di cư
Sự di cư được nhiều tác giả định nghĩa tương tự nhau:
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, di cư là “1) dời, chuyển đến nơi khác để sinh sống; 2) (hiện tượng) di chuyển đi lại theo chu kỳ và theo tuyến ổn định của một
bộ phận hay toàn thể một quần thể động vật” [37,533]
Theo các nhà nhân khẩu học, “sự di cư như sự di chuyển của con người đến
và đi khỏi một vùng lãnh thổ cụ thể” [20,669]
Theo quan điểm xã hội học, thì “nhập cư (migration) có ý chỉ sự di chuyển tương đối thường xuyên của dân chúng nhằm mục đích thay đổi chỗ định cư của mình Sự nhập cư thường nói lên một sự di chuyển qua một khoảng cách khá xa, chứ không phải từ đầu này sang đầu kia của một thành phố” [28,682]
Khái niệm Di cư cũng gần giống với khái niệm di dân “di chuyển dân cư khỏi một ranh giới hành chính nào đó đến nơi định sẵn theo những mục đích nhất định” [37,533]
Theo tác giả Trần Hồng Vân, thuật ngữ nhập cư, di cư, di dân, di trú, di chuyển, chuyển cư là những cách hiểu khác nhau về bản chất của sự di cư, do vậy, chúng chỉ là một khái niệm có nhiều tên gọi; và tác giả sử dụng thuật ngữ di
cư để : “chỉ chung cho sự xuất cư khỏi nơi ở cũ và sự nhập cư vào nơi ở mới và như vậy nó được hiểu như là một quá trình xuất cư - nhập cư, bởi xuất cư bao giờ cũng gắn kết với nhập cư: xuất cư từ đâu và nhập cư vào đâu” [35,32]
Trang 251.2.3 Khái niệm Di cư tự do
Theo nhà nghiên cứu Phillip Guest thì:
“Nếu như di chuyển theo chương trình của Nhà nước thì hộ gia đình được gọi là hộ di cư có tổ chức
Nếu di chuyển do bản thân chủ hộ quyết định và không có sự trợ giúp tài chính của Nhà nước thì gọi là hộ di cư tự do” [10,6]
Xem xét khái niệm theo Phillip Guest, có thể nhận thấy sự quan trọng của việc “trợ giúp tài chính” và “theo chương trình của nhà nước”, đây chính là 2 mốc xác định giữa di cư tự do và di cư có tổ chức
Tuy nhiên, những định nghĩa của tác giả chỉ phù hợp trong giai đoạn Việt Nam tiến hành nhiều công cuộc di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, khi đó sự trợ giúp của Nhà nước về tài chính là một trong những điều kiện chuẩn mực rất
rõ ràng, còn ngày nay, chỉ những vùng di dân để làm các công trình lớn hoặc nhỏ (đường xá, thuỷ điện ) thì Nhà nước mới hỗ trợ tài chính, còn hầu như các hoạt động di cư có tổ chức thường là không cấp tài chính, ví dụ như chuyển nơi làm việc, đi học, đi đào tạo
Trong tác phẩm Nghiên cứu di dân ở Việt Nam, tác giả cho rằng
“Di dân có tổ chức (hay di dân có kế hoạch) là hình thức di chuyển của dân
cư do Nhà nước tổ chức, đầu tư theo kế hoạch phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội Di dân có tổ chức là công cụ quan trọng trong việc phân công lao động theo lãnh thổ nhằm đạt được các mục tiêu phát triển trong từng vùng và của cả quốc gia
Di dân tự do (hay di dân tự phát) là hình thức di dân không do Nhà nước tổ chức, bảo trợ, hay đầu tư Người di cư tự lo mọi chi phí di chuyển, tự quyết định nơi đến, làm việc và nơi sinh sống tại nơi định cư mới.”[16,17]
Trang 26Khái niệm xác định 2 vấn đề: (1) không chỉ có hộ di cư, mà cá nhân có thể
có hoạt động di cư; (2) Nếu sự di cư theo chương trình của nhà nước thì được gọi là di cư có tổ chức, còn không theo một chương trình nào, mà tự động di cư thì được gọi là di cư tự do
Khái niệm này phù hợp hơn khái niệm của Phillip Guest vì nó xác định một cách phù hợp hơn đối tượng di dân trong giai đoạn hiện nay
Do sự phù hợp của khái niệm trong giai đoạn hiện nay, khái niệm di cư tự
do của tác phẩm Nghiên cứu di dân ở Việt Nam được chọn làm khái niệm di cư
tự do của Luận văn
1.2.4 Khái niệm Cơ sở sản xuất nhỏ
Hiện nay chưa có một định nghĩa cơ sở sản xuất nhỏ nào được đưa ra, tuy nhiên đã có định nghĩa về doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đây là nhóm
xã hội có nhiều điểm tương đồng với “cơ sở sản xuất nhỏ”
Về mặt học thuật, trong Giáo trình đại học của Trường Đại học Cần Thơ chúng ta có thể tìm thấy định nghĩa về doanh nghiệp cũng như những đặc điểm của nó:
“Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện về tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, để tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý cỏc mục tiờu kinh tế - xó hội” [38] Trong giáo trình, ngoài định nghĩa “doanh nghiệp”, chúng ta còn thấy cả những đặc điểm của doanh nghiệp cũng như những hoạt động, sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân;Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh
tế quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại” [38]
Trang 27Từ khái niệm “doanh nghiệp”, chúng ta đi đến khái niệm “doanh nghiệp vừa và nhỏ”
Về mặt pháp luật, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được định nghĩa theo quyết định của thủ tướng chính phủ:
“Ngày 20.6.1998 Thủ tướng chính phủ đã ban hành quy định tiêu chí tạm thời về doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động bình quân năm là dưới 200 người” [19,8]
Tuy nhiên, có thể là do luật pháp được phổ biến không rộng khắp, hoặc định nghĩa này còn có những sự hạn chế của nó, cho nên cách hiểu về doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có những sự khác nhau
Theo một bài viết của Bộ Kế hoạch và đầu từ thì doanh nghiệp nhỏ : “là cơ
sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đó đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bỡnh hàng
năm không quá 300 người” [40]
Với định nghĩa như trên, có thể một số người sẽ có ý kiến rằng doanh
nghiệp vừa và nhỏ là khá lớn, vì quy mô lên đến 300 người Cũng theo bài báo
này, tác giả đã nhận thấy sự bất cập của định nghĩa trên và cũng có nhận xét
rằng “tuyệt đại đa số doanh nghiệp của chúng ta nằm trong “bảng”” [40] Theo
một con số liệu cụ thể hơn thì “doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay chiếm tới 93% tổng số doanh nghiệp” [31,196]
Sự bất cập của định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng gõy cho một vị quan chức cao cấp của chớnh phủ những bối rối Cuối cựng, để giảm bớt sự thắc mắc của nhiều người, ụng Bộ trưởng bộ Thương mại Trương Đỡnh Tuyển đó đưa ra một nhận xột mang tớnh xoa dịu: “Khỏi niệm "nhỏ" hay "lớn" cũng cũn mang tớnh ước lệ”[39]
Trang 28Như trờn đó trớch dẫn và nhận xột, việc định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ cũn chưa được chớnh xỏc và chưa được nhiều người ủng hộ, do đú, việc xỏc định doanh nghiệp nhỏ lại càng khú khăn hơn Tuy vậy, trong cỏc văn bản phỏp luật cũng đó nhắc đến doanh nghiệp nhỏ
Theo công văn của Thủ tướng Chính phủ quy định về tiêu thức tạm thời về danh nghiệp vừa và nhỏ, Thủ tướng cũng ra một tiêu thức để xác định doanh nghiệp nhỏ, theo đó, “doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng và số lao động dưới
30 người được xác định là doanh nghiệp nhỏ” [31,196]
Do luận văn đi sâu vào nghiên cứu các cơ sở sản xuất nhỏ nên định nghĩa
về cơ sở sản xuất nhỏ phần lớn dựa theo định nghĩa doanh nghiệp nhỏ trên tuy
nhiên, cũng có một số tiêu chí được chỉnh sửa để phù hợp với tính thời sự của vấn đề, nội dung của luận văn và tạo thuận tiện cho việc nghiên cứu Vì thế,
định nghĩa của luận văn về cơ sở sản xuất nhỏ có những tiêu chí sau:
- Là nơi sản xuất ra sản phẩm chứ không phải là nơi kinh doanh dịch vụ Các công việc này đòi hỏi phải có tay nghề ở một mức độ nào đó, cần có thời gian gian đào tạo và việc làm mang tính lâu dài ổn định lâu dài Trong luận văn chúng tôi muốn loại bỏ yếu tố thời vụ của khách thể nghiên cứu, tập trung vào một nhóm khách thể với những nghề nghiệp
cụ thể, mang tính chất ổn định hơn Các nghề nghiệp sản xuất hoặc mang tính sản xuất cũng hạn chế sự giao tiếp giữa khách thể với người dân ngoài xã hội trong việc làm, giao tiếp giữa người làm công với khách mua hàng, do vậy tập trung làm rõ được vấn đề quan hệ giữa chủ và thợ; các yếu tố tác động phụ bị loại bỏ sẽ ít gây ảnh hưởng đến mối quan hệ này
- Những cơ sở này có lượng người làm việc dưới 10 người Với số lượng người như vậy, các thành viên sẽ có mối quan hệ gắt kết hơn, hiểu biết
Trang 29nhau rất tốt, sẽ đưa ra những đánh giá, nhận xét các quan hệ giữa những người lao động và người chủ một cách chính xác hơn
- Các cơ sở này không cần phải giới hạn về vốn, tư cách pháp nhân hoặc
là các phương tiện luật pháp như hợp đồng lao động, vốn điều lệ, giấy phép kinh doanh nhưng rõ ràng có sự thuê lao động và yếu tố đủ là lao động ngoại tỉnh đến làm việc (Yếu tố này là để mở rộng hơn nữa những hình thức kinh doanh chưa đạt tới điều kiện để làm doanh nghiệp, những hình thức này rất sẵn có, về số lượng theo sự quan sát của những điều tra viên thì tương đương với hình thức doanh nghiệp, đồng thời tổ chức sơ khai hơn doanh nghiệp; có thể nói là một hình thức “tiền doanh nghiệp”
và theo dự đoán thì ở nơi này luật pháp sẽ ít có tác động hơn, người lao động thường yếu thế hơn người lao động ở trong các doanh nghiệp) Trên đây là điểm khác biệt chính của “cơ sở sản xuất nhỏ” so với các hình thức tổ chức xã hội khác Hình thức “cơ sở sản xuất nhỏ” do vậy, có lúc chính là
“doanh nghiệp nhỏ” khi doanh nghiệp có mục đích là sản xuất, nhưng không phải doanh nghiệp nhỏ khi doanh nghiệp có mục đích hoạt động là buôn bán
“Cơ sở sản xuất nhỏ” không quan tâm đến yếu tố pháp nhân của tổ chức, do đó, các quan hệ thường được kiểm soát bằng thể chế văn hoá, niềm tin mà ít có tính luật pháp, từ đó mối quan hệ giữa chủ - người di cư làm thuê dễ bộc lộ tính chân thực hơn
1.3 Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đề tài
1.3.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là cở
sở phương pháp luận của đề tài
Trong học thuyết duy vật biện chứng, Mác, Ăngghen cho rằng trong xã hội không có hiện tượng, sự vật nào tồn tại độc lập mà chúng có một sự liên kết, ràng buộc lẫn nhau, cái này tác động và chịu tác động của cái kia, ngoài ra
Trang 30chúng còn chuyển hoá lẫn nhau: “Tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp gồm các vật thể khăng khít với nhau Việc các vật thể ấy đều có liên hệ qua lại với nhau đã có nghĩa là các vật thể này tác động lẫn nhau, sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động” [2,945]
Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề xã hội yêu cầu mỗi chúng ta phải xem xét các hiện tượng xã hội trong mối liên hệ với các hiện tượng xã hội khác, phải xem xét các mặt, các yếu tố của nó một cách toàn diện Tuy nhiên, chúng ta không thể xem xét tất cả mọi mặt của sự vật, hiện tượng mà chỉ xem xét những mối liên hệ quan trọng nói lên bản chất sự vật, hiện tượng cần nghiên cứu
Quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Ăngghen cho rằng những hiện tượng xã hội phát triển đều có quy luật, không có hiện tượng xã hội nào phát triển một cách ngẫu nhiên, vấn đề là chúng ta có phát hiện được quy luật của nó đến đâu Ăngghen viết: “Như vậy, xét chung và toàn bộ, ngẫu nhiên hình như cũng chi phối cả những sự kiện lịch sử Nhưng ở đâu mà ngẫu nhiên hình như tác động ở mặt ngoài thì ở đấy, tính ngẫu nhiên ấy luôn luôn bị chi phối bởi những quy luật nội tại bị che giấu; và vấn đề chỉ là phát hiện ra những quy luật đó” [9,406]
Nghiên cứu những hiện tượng xã hội cần thiết phải biết đến lịch sử phát triển của hiện tượng để từ đó phát hiện ra những quy luật phát triển của chúng Những quy luật phát triển của hiện tượng, sự vật nhiều khi lộ rõ, nhưng phần lớn
là ẩn dấu bên trong những biểu hiện có vẻ bất thường, do vậy người nghiên cứu phải phát hiện ra được những quy luật kể cả dễ nhận thấy và ngầm ẩn, khó nhận biết của sự vật, hiện tượng
Áp dụng tư tưởng của chủ nghĩa Mác, chúng ta xem xét việc làm của người lao động không thể tách rời việc tham khảo sự biến đổi của các chính sách kinh tế-xã hội thời kỳ đổi mới, đặc biệt là những chính sách liên quan đến người lao
Trang 31động ở thành thị, cụ thể là ở thành phố Hà Nội; đồng thời, chúng ta cũng cần phát hiện được những quy luật chi phối những vấn đề của người lao động di cư làm việc trong các cơ sở sản xuất nhỏ để phát hiện ra những khuynh hướng phát
triển của chúng trong tương lai
1.3.2 Lý thuyết về cung và cầu của David Begg và cộng sự
Nguồn gốc lý thuyết cung và cầu là từ kinh tế học Các nhà kinh tế học đã xem xét vấn đề cung cầu đối với sản phẩm sản xuất và chỉ ra quan hệ giữa chúng
Trong cuốn sách Kinh tế học của David Begg và cộng sự, quan hệ
cung-cầu được lý giải rất cụ thể Trước tiên, tác giả định nghĩa rõ các khái niệm cung
Trang 32Hộp 1: Ví dụ về quy luật Cung-Cầu của Kinh tế học
Các tác giả dùng ví dụ về thị trường bán sôcôla để diễn giải quy luật cung và cầu:
Nếu các yếu tố khác giữ nguyên:
Người sản xuất sôcôla (cung) chấp nhận bán với mức giá rẻ nhất là 0.10 bảng/thanh (với giá này họ sản xuất rất ít), giá càng cao, họ sản xuất càng nhiều hơn; tuy nhiên năng lực sản xuất có hạn, họ chỉ có thể sản xuất được 200 triệu thanh/năm
Người mua (cầu) thì khi giá càng rẻ họ mua càng nhiều Với giá mỗi thanh sôcôla là 0.50 bảng, họ mua rất ít; nhưng khi giá giảm đi bằng không, họ cũng chỉ tiêu thụ được 200 triệu thanh/năm
Xem biểu đồ, ta thấy giao nhau giữa đường CUNG và CẦU ở điểm E đây là điểm cân bằng giữa cung và cầu, người ta mua bán thoải mái với nhau và không
có yếu tố khuyến khích thay đổi giá
Lưu ý, phần biểu đồ ở dưới điểm E, lượng cầu nhiều hơn lượng cung, sôcôla sẽ khan hiếm trên thị trường, người bán có xu hướng tăng giá thanh sôcôla; ngược lại ở trên điểm E, thị trường sẽ dư thừa sôcôla, người bán sẽ phản ứng với việc tồn trữ hàng bằng việc hạ giá thanh sôcôla
Nếu có yếu tố tăng lượng cầu:
Khi có yếu tố làm tăng lượng cầu, trên biểu đồ sẽ thấy đường CẦU dịch chuyển
đến đường CẦU’ khi đó điểm đang E là điểm đang cân bằng cũ sẽ rơi vào khu
thiếu hụt cầu, khi đó người bán sôcôla có chiều hướng tăng giá sôcôla đến giá điểm E’ là điểm cân bằng mới (Đây là những tóm tắt lý luận về quy luật cung-cầu
Trang 33Biểu đồ cung và cầu (qua ví dụ bán sôcôla)
Cung là lượng một mặt hàng mà người bán muốn bán ở mỗi mức giá Nếu các yếu tố khác giữ nguyên, khi giá càng cao thì lượng cung càng nhiều Đường cung cho thấy đồ thị quan hệ giữa giá và lượng cung Các đường cung dốc lên” [4,62]
“Tại một thời điểm cụ thể giá thị trường có thể không phải là cân bằng Nếu như vậy thì sẽ tồn tại hoặc dư cầu, hoặc dư cung, tuỳ thuộc vào chỗ giá này nằm cao hơn hay thấp hơn giá cân bằng."[4,47]
“ở bất kỳ một mức giá nào cao hơn giá cân bằng sẽ tồn tại dư cung Người bán sẽ phản ứng với việc tồn trữ hàng bằng cách cắt bớt giá Chỉ khi giá xuống đến mức giá cân bằng thì mới hết dư cung Ngược lại, ở các mức giá thấp hơn giá cân bằng, sẽ tồn tại dư cầu và sẽ làm tăng giá đến mức giá cân bằng Ở
Trang 34trạng thái cân bằng, người bán và người mua có thể mua bán thoải mái với giá cân bằng, không có yếu tố khuyến khích thay đổi giá”.[4,49]
Tuy nhiên, quan hệ cung cầu khi áp dụng vào xã hội học cũng có sự biến đổi của nó
Theo tác giả Lê Ngọc Hùng (trong Xã hội học kinh tế) thì quy luật cung cầu khi áp dụng vào xã hội học kinh tế nhằm để giải thích các quan hệ mua bán trên thị tường lao động Công nhân - người bán sức lao động (cung); nhà tư sản - người mua sức lao động (cầu)
Quan hệ mua bán sức lao động về bề ngoài thì tự nguyện, nhưng bên trong thực sự không tự nguyện và không có lợi cho cả hai bên mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố như yếu tố giới, quyền lực và các khía cạnh xã hội của mỗi bên, do đó đường cầu phụ có được không chỉ ở lý do kinh tế, mà còn ở nhiều lý do xã hội khác
Tiếp cận xã hội học kinh tế trong việc xem xét thị trường lao động đòi hỏi phải tính đến một số điều quan trọng sau đây:
Thứ nhất: Sự mơ hồ, thiếu rõ ràng về khối lượng hàng hoá lao động được trao đổi, mua bán trên thị trường do sức lao động là một hàng hoá đặc biệt Thứ hai: Sự bất bình đẳng về cơ hội việc làm và tiền công lao động có thể tăng, giảm tuỳ theo tình hình kinh tế xã hội cụ thể
Thứ ba: Sự phân hoá về điều kiện lao động và quyền lực giữa các vị trí trong cấu trúc ngành nghề trong xã hội
Thứ tư: Hiện tượng hình thành thị trường lao động nội bộ Đó là mạng lưới lao động và quá trình di động (di chuyển) lao động trong phạm vi nhà máy, xí nghiệp, ngành nghề, khu vực kinh tế [18,266-267]
Trang 35Thế nên khi áp dụng quy luật cung cầu vào trong việc xác định mức độ cung cầu của thị trường lao động, chúng ta cần phải tính đến nhiều yếu tố, cả kinh tế và phi kinh tế để phân tích được thực tế của thị trường
Trong luận văn, các yếu tố cung cầu được áp dụng chủ yếu theo hướng của
xã hội học, tuy nhiên cũng chịu ảnh hưởng của kinh tế học nhất là để giải thích
sự cân bằng, bất cân bằng trong thị trường lao động giữa người cung và người cầu, nhất là những yếu tố tạo ra đường cầu phụ để nâng cao hoặc hạ thấp giá trị của người lao động trên thị trường lao động
1.3.3 Lý thuyết chọn lựa hợp lý của Coleman, Friendman và Hechter
Tiêu điểm của thuyết lựa chọn hợp lý là các chủ thể hành động Các chủ thể hành động được xem là có các mục đích hay mục tiêu về cái mà hành động của
họ hướng tới Các chủ thể hành động được xem là có các sở thích Thuyết lựa chọn hợp lý không quan tâm đến tích chất các sở thích này, hay các nguồn của
chúng Cái quan trọng là hành động được thực hiện để đạt được các đối tượng phù hợp với hệ thống sở thích của chủ thể hành động
Trong khi hành động để đạt được sở thích, các chủ thể hành động phải quan
tâm đến hai chủ thể kìm hãm hành động: 1) Thứ nhất là sự hiếm hoi các tiềm
năng Các chủ thể hành động không giống nhau về tiềm năng, người có nhiều, người có ít Đối với người có nhiều tiềm năng thì dễ đạt được thành quả Người
có ít tiềm năng thì khó hoặc không đạt được thành quả Liên quan đến sự hiếm hoi tiềm năng là giá phải trả cho các cơ hội, điều này dẫn đến một chủ thể hành động có thể chọn cách không theo đuổi mục đích nếu tiềm năng của chủ thể không đáng kể, nếu kết quả cơ may không nhiều hoặc trong khi cố gắng đạt được mục đích chủ thể huỷ hoại các cơ may đạt được mục đích kế tiếp khác Các chủ thể hành động được xem là tối đa hoá các điều lợi của họ, và mục tiêu
đó có thể bao gồm việc đánh giá mối quan hệ giữa các cơ may đạt được với mục
Trang 36đích ban đầu; 2) Thứ hai là các thể chế xã hội ngăn cản hoạt động của cá nhân
Một cá thể hành động một cách khuôn sáo, tìm ra các hành động của anh ta được kiểm lại từ đấu đến cuối bởi các nguyên tắc của gia đình và trường học, các luật
lệ, mệnh lệnh, các chính sách, các nhà thờ, giáo đường, các bệnh viện Bằng cách hạn chế tập hợp các hành động có sẵn cho các cá thể, luật chơi có tính cưỡng ép - bao gồm các tiêu chí, các quy luật, các lịch trình, các nguyên tắc bầu chọn - ảnh hưởng một cách có hệ thống tới các kết quả xã hội [13,409]
Ứng dụng của lý thuyết Lựa chọn hợp lý này là giải thích những lý do lựa chọn sự di cư, lựa chọn việc làm ở trong các cơ sở sản xuất nhỏ, đồng thời cũng giải thích sự di động của người lao động
1.3.4 Lý thuyết trao đổi của Adam Smith, David Ricardo, John Stuart
Mell, Jeremy
Bản chất trao đổi dùng để chỉ mối quan hệ xã hội trong đó các cá nhân, nhóm, tổ chức xã hội thoả mãn nhu cầu của mình bằng các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của nhau Bản chất của sự trao đổi, như Adam Smith đã nêu rõ là ở việc
đáp ứng các nhu cầu của nhau theo cách “hãy đưa cho tôi cái tôi muốn này và
người sẽ được cái mà người muốn kia”
Là một hiện tượng xã hội, trao đổi được xem xét với tư cách là quá tình tương tác xã hội với các giá trị, niềm tin, chuẩn mực liên quan tới sự thoả thuận, công bằng, lòng tin, lợi lộc kinh tế Là một quá trình điển hình của hành vi kinh
tế, hoạt động trao đổi thể hiện rõ tính duy lý của hành động xã hội và đầu óc kinh tế của các bên tham gia Là một thiết chế xã hội, trao đổi có hệ giá trị, chuẩn mực và các quy tắc quy định cách thức và đối tượng trao đổi
Trao đổi xuất hiện do thực tế là các cá nhân có nhu cầu sử dụng các loại sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ khác nhau mà họ chỉ có thể tìm kiếm được thông qua tiếp xúc, trao đổi thông tin cho nhau Trao đổi bằng hiện vật chủ yếu phù
Trang 37hợp với hệ thống kinh tế đơn giản Trong hệ thống kinh tế phức tạp với sự phân công lao động cao thì việc tìm kiếm để người mua và người bán gặp nhau trở lên tốn kém, tức là, theo cách gọi của kinh tế học hiện đại, “chi phí giao dịch” tăng lên Thị trường xuất hiện với tư cách là một cơ chế giảm bớt các chi phí trao đổi Việc sử dụng đồng tiền để trao đổi góp phần làm giảm các “chi phí giao dịch” này và tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác các tiềm năng khác của trao đổi
Tóm lại, trong xã hội học kinh tế, trao đổi được xem xét từ nhiều góc độ, ví
dụ hành động xã hội, tương tác xã hội, cấu trúc xã hội, chức năng xã hội và là quá trình cơ bản của thị trường [18,196-197]
Ứng dụng của thuyết trao đổi được dùng nhiều trong việc giải thích những vấn đề về lương, thưởng, phúc lợi mà người lao động được hưởng; đồng thời cũng lý giải cho vấn đề quan hệ giữa chủ và thợ ở các cơ sở sản xuất
1.3.5 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về vấn đề việc làm của lao
động tự do trong các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ
Đại hội VI của Đảng (1986) phát động chính sách đổi mới đã tạo ra sự biến đổi lớn bộ mặt nước ta Trong những năm đầu đổi mới, các chính sách phần lớn tập trung vào phát triển nông nghiệp nông thôn để nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi cảnh thiếu thốn lương thực Những chính sách về khoán sản phẩm nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp mới, những chính sách về buôn bán, vận chuyển lương thực liên tiếp được đưa ra Những chính sách này đã phù hợp với
xã hội thời bấy giờ và đã đem lại hiệu quả to lớn đến nền kinh tế nước nhà: nước
ta không những không bị thiếu lương thực, mà nhanh chóng trở thành nước xuất khẩu gạo với khối lượng xuất khẩu ngày càng tăng
Tuy rất chú trọng vào phát triển nông nghiệp, nhưng trong giai đoạn này những chính sách về thúc đẩy sản xuất công nghiệp cũng đã xuất hiện (tuy giai đoạn đầu không mạnh mẽ và rõ rệt bằng những chính sách nông nghiệp thời bấy
Trang 38giờ) Điều quan trọng trong giai đoạn này là Đảng đã bước đầu nhận thức được
sự có mặt và tầm quan trọng của các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế gia đình Đại hội VI là mốc mà Đảng khởi xướng chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần
Những đại hội sau đó đã dành nhiều quan tâm hơn đến phát triển công nghiệp và Đảng cũng luôn luôn ý thức được rằng phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là con đường xoá đói, giảm nghèo đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội Văn kiện Đại hội VII khẳng định: “Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” [32,21]
Đối với kinh tế tư nhân, Đảng từng bước đã công nhận sự hiện diện của kinh tế tư nhân và đồng thời có những quan điểm bảo vệ sự làm ăn chính đáng của thành phần kinh tế này Trong Văn kiện đại hội VIII của Đảng đã viết:
“Kinh tế tư bản tư nhân có khả năng góp phần xây dựng đất nước Khuyến khích
tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài; bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản
lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh”[33,96]
Không những thế, Đảng còn mở cửa khuyến khích sự tạo việc làm, thuê mướn lao động một cách rộng rãi cho mọi tầng lớp nhân dân: “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động” [33,114]
Với quan hệ giữa người lao động và người chủ thuê, Văn kiện đại hội VIII khẳng định : “Xây dựng quan hệ hợp tác giữa chủ và thợ trên cơ sở thực hiện Luật lao động, bảo đảm lợi ích hợp pháp của cả hai bên” [33,234]
Đại hội XI vẫn tiếp tục khẳng định sự phát triển kinh tế nhiều thành phần:
“thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần” [34,29], và tiếp tục khẳng định sự bình đẳng của các thành phần kinh tế trong
Trang 39nền kinh tế quốc gia: “Mọi tổ chức kinh doanh theo các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [34,188] Bước đầu khẳng định “phát triển mạnh các doanh nghiệp nhỏ và vừa”[34,188] Đồng thời Đảng chủ trương mở rộng các hình thức kinh doanh của thành phần kinh tế tư nhân: “Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những hướng ưu tiên của Nhà nước ”[34,31]
Với những chủ trương như vậy, nhà nước đã đưa ra những văn bản luật pháp như sau:
Năm 1987, Luật đầu tư nước ngoài đã được thông qua, tăng thêm một thành phần kinh tế góp phần giải quyết lực lượng lao động dôi ra do những chính sách đổi mới
Năm 1991, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp Tư nhân đã chính thức được ban hành, đã hình thành nên một khu vực kinh tế thu hút lực lượng lao động nông thôn dư thừa từ sự sắp xếp lại sản xuất nông nghiệp Hai luật này đã đáp ứng đươc sự mong đợi của người dân thời bấy giờ, đồng thời nó phát triển một cách phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội khi bắt đầu rời bỏ chế độ bao cấp tiến vào nền kinh tế thị trường
Năm 1992 Hiến pháp được sửa đổi, công nhận một cách nhìn nhận mới về một giai cấp chủ doanh nghiệp, nhìn nhận lại về sự phát triển kinh tế và khuyến khích người dân làm giàu và làm giàu chính đáng Chính sách này đã tạo niềm tin trong nhân dân, xoá bỏ hoàn toàn mặc cảm của một lớp người năng động đã bị kìm hãm nhiều trong cơ chế bao cấp
Trang 40 Năm 1994, Luật khuyến khích đầu tư trong nước đã góp phần huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong người dân, tạo một tâm lý hăng hái kinh doanh cho người dân
Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN và chính thức viết đơn xin vào WTO,
từ đây, các chính sách ngoài việc phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước mà còn cần có sự nhìn nhận để phù hợp với luật pháp của quốc tế
Năm 2000 là mốc quan trọng nhất đối với những người làm kinh tế tư nhân
và đối với khu vực kinh tế vừa và nhỏ vì Luật Doanh nghiệp mới ra đời Luật này cởi mở hơn hẳn so với Luật Doanh nghiệp Tư nhân và Luật Công ty được ban hành năm 1991 Luật này có tác động thu hút nhiều nguồn vốn của người dân, phát triển kinh tế nhỏ và thu hút rất nhiều lao động dư dôi do sự hiện đại hoá của nông nghiệp và sự chuyển đổi dần đất nước sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá Điểm quan trọng nhất trong Luật Doanh nghiệp
2000 là cho phép người dân “kinh doanh những thứ mà pháp luật không cấm”, nó rộng rãi hơn nhiều so với những luật trước đây chỉ cho phép “kinh doanh những thứ mà pháp luật cho phép”
Từ 2000 đến nay, những chính sách, chiến lược phát triển kinh tế của nước ta không chỉ là phát triển công nghiệp, mà còn hướng tới giảm tỷ lệ người làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp; đồng thời các chính sách đều hướng tới phù hợp với các chính sách quốc tế vì nước ta đang đi tới hoà nhập hoàn toàn vào nền kinh tế thế giới
Điểm lại, các chính sách cho thấy sự giảm bớt sự quản lý chủ đạo của nhà nước, tăng tính chủ động cho các doanh nghiệp, thực hiện sự bình đẳng trên thị trường và cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, giảm tỷ lệ người lao động trong nông nghiệp và chấp nhận quá trình di cư nông thôn-thành thị Tuy vận hành theo cơ chế thị trường, đặt mục tiêu phát triển kinh tế lên