1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam

134 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 3,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với vấn đề ô nhiễm môi trường tại các đô thị ví dụ như rác thải sinh hoạt thường có các công ty môi trường đô thị chịu trách nhiệm giải quyết, trong khi đó tại nông thôn vì nhiều lý

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ ÁI

THỰC TRẠNG RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ CÁC HOẠT

ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI HÀ NAM

( Nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ ÁI

THỰC TRẠNG RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ CÁC HOẠT

ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI HÀ NAM

( Nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam)

Chuyên ngành Xã hội học

Mã số: 60.31.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Trà Vinh

Hà Nội – 2013

Trang 3

MỤC LỤC

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7

3 Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn 15

3.1 Ý nghĩa lý luận 15

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 15

4 Đối tượng nghiên cứu 16

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 16

5.1 Mục đích nghiên cứu 16

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 16

6 Khách thể, phạm vi nghiên cứu 17

6.1 Khách thể nghiên cứu 17

6.2 Phạm vi nghiên cứu 17

7 Câu hỏi nghiên cứu 17

8 Giả thuyết nghiên cứu 17

9 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 18

9.1 Phương pháp luận 18

9.2 Phương pháp nghiên cứu 19

10 Khung lý thuyết 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 22

1.1 Hệ thống khái niệm 22

1.1.1 Khái niệm rác thải sinh hoạt 22

1.1.2 Khái niệm môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường 23

1.1.3 Khái niệm Nông thôn 24

1.2 Các lý thuyết áp dụng 25

1.2.1 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý 25

1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber (1864-1920 27

1.3 Chủ trương xã hội hóa lĩnh vực bảo vệ môi trường 28

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI HUYỆN

KIM BẢNG VÀ HUYỆN LÝ NHÂN 36

2.1 Đặc điểm chung về điều kiện sống của người dân trong mẫu khảo sát 36

2.2 Thực trạng nhận thức của người dân tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân về vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường 42

2.3 Các loại rác thải sinh hoạt, lượng rác thải sinh hoạt và hình thức xử lý rác thải sinh hoạt của người dân tại Kim Bảng và Lý Nhân 49

2.3.1 Các loại rác thải sinh hoạt tại Kim Bảng và Lý Nhân 49

2.3.2 Lượng rác thải sinh hoạt hàng ngày của các hộ gia đình tại Kim Bảng và Lý Nhân 59

2.3.3 Hình thức xử lý rác thải sinh hoạt của người dân tại Kim Bảng và Lý Nhân 62

CHƯƠNG 3 CÁC HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI HUYỆN KIM BẢNG VÀ HUYỆN LÝ NHÂN 69

3.1 Truyền thông về bảo vệ môi trường 75

3.1.1 Tổ chức tham gia truyền thông về bảo vệ môi trường 75

3.1.2 Nội dung truyền thông về bảo vệ môi trường 77

3.1.3 Hình thức thực hiện truyền thông về bảo vệ môi trường 78

3.1.4 Hiệu quả của hoạt động truyền thông về bảo vệ môi trường 80

3.2 Dọn vệ sinh định kỳ 82

3.2.1 Tổ chức tham gia dọn vệ sinh định kỳ 82

3.2.2 Hiệu quả của hoạt động dọn vệ sinh định kỳ 84

3.3 Hoạt động xây dựng đội thu gom và xử lý rác thải 86

3.3.1 Tổ chức tham gia xây dựng đội thu gom rác thải 86

3.3.2 Nhiệm vụ của đội thu gom rác thải 88

3.3.3 Hiệu quả của hoạt động thu gom rác 91

3.4 Các hoạt động khác 92

3.5 Mong muốn của người dân về các tổ chức tham ra thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường 94

Trang 5

3.5.1 Mong muốn của người dân về tổ chức tôn giáo tham gia hoạt động

bảo vệ môi trường 98

3.5.2 Đề xuất một số các hoạt động hỗ trợ, tăng cường sự tham gia của các tổ chức tôn giáo……….102

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105

Kết luận 105

Một số khuyến nghị 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 114

1.Bảng hỏi 114

2.Câu hỏi phỏng vấn sâu 127

3.Một số hình ảnh rác thải sinh hoạt tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân 129

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Nghề nghiệp của các đối tượng khảo sát tại Hà Nam 36 Bảng 2.2: Tương quan giữa trình độ học vấn với mức độ quan tâm… 43 Bảng 2.3: Nguồn cung cấp thông tin môi trường cho người dân Hà Nam 45 Bảng 2.4: Bảng tương quan giữa nghề nghiệp và mức độ tìm hiểu… 45 Bảng 2.5: Đối tượng chia sẻ các vấn đề liên quan đến môi trường 46 Bảng 2.6: Nhận thức của người dân về trách nhiệm bảo vệ môi trường 48

Bảng 2.8: Thực trạng các loại rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình 55 Bảng 2.9: Bảng tương quan giữa nghề nghiệp với loại rác thải sinh hoạt 57 Bảng 2.10: Bảng tương quan giữa nghề nghiệp với lượng rác thải sinh hoạt trung bình của hộ gia đình trên 1 ngày

60

Bảng 3.1: Hoạt động bảo vệ môi trường tại Kim Bảng và Lý Nhân 73 Bảng 3.2: Thông điệp truyền thông tại Kim Bảng và Lý Nhân 77 Bảng 3.3: Hình thức của hoạt động truyền thông 78 Bảng 3.4: Tần suất thực hiện các hoạt động truyền thông môi trường 79 Bảng 3.5: Hiệu quả của hoạt động truyền thông bảo vệ môi trường 80 Bảng 3.6: Nhiệm vụ của đội thu gom rác thải tại Kim Bảng và Lý Nhân 88

Bảng 3.8: Hình thức xử lý rác thải sinh hoạt tại Kim Bảng và Lý Nhân 90 Bảng 3.9: Mong muốn của người dân về tổ chức đứng ra thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường…

97

DANH MỤC BIỂU ĐỔ

Biểu đồ 2.1: Trình độ học vấn của đối tượng khảo sát ở tỉnh Hà Nam 37

Biểu đồ 2.3: Điều kiện nhà vệ sinh của người dân 39 Biểu đồ 2.4: Các nguồn nước ăn phổ biến của người dân (%) 41 Biểu đồ 2.5: Chất lượng nguồn nước theo đánh giá của người dân (%) 41 Biểu đồ 2.6: Đánh giá của người dân về thực trạng môi 51

Biểu đồ 2.7: Vấn đề ô nhiễm môi trường nhất tại Hà Nam (%) 52

Biểu đồ 2.8: Lượng rác thải sinh hoạt trung bình 1 ngày của hộ gia đình 59 Biểu đồ 2.9: Hình thức xử lý rác thải sinh hoạt 63 Biểu đồ 3.1: Các tổ chức tham gia truyền thông bảo vệ môi trường 75 Biểu đồ 3.2: Các tổ chức tham gia hoạt động dọn dẹp vệ sinh định kỳ 83

Biểu đồ 3.3: Hiệu quả của hoạt động dọn dẹp vệ sinh định kỳ 85 Biểu đồ 3.4: Các tổ chức tham gia xây dựng đội thu gom rác thải 87 Biểu đồ 3.5: Hiệu quả hoạt động thu gom rác 91 Biều đồ 3.6: Lý do địa phương cần tới các hoạt động bảo vệ môi trường 95 Biểu đồ 3.7: Đánh giá của người dân về các hoạt động……… 101

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, bởi vấn đề ô nhiễm môi trường đã đang trở nên ngày càng cấp bách hơn bao giờ hết Đã có nhiều phương án cũng như nhiều chiến dịch được mở ra để khắc phục, giảm thiểu đi hậu quả ô nhiễm môi trường như

sự kiện “Giờ Trái Đất” khi tất cả các nước cùng hưởng ứng việc tắt đèn vì môi trường Cho nên chúng ta phải cùng chung tay đẩy mạnh việc bảo vệ môi trường đạt kết quả nhiều hơn nữa Bảo vệ môi trường đồng nghĩa với việc tự bảo vệ cho sức khỏe của chính bản thân mình Hành động của mỗi cá nhân có vai trò rất quan trọng đối với công tác bảo vệ môi trường Bởi hơn ai hết con người là tác nhân quan trọng nhất trong việc bảo vệ môi trường

Việt Nam sau hơn 20 năm Đổi mới, vị thế và diện mạo của đất nước đã hoàn toàn thay đổi Tuy nhiên, phát triển là một quá trình đa diện và không dễ để điều hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, cho dù rất nhiều các quốc gia trên thế giới đã quen và đã áp dụng chiến lược phát triển bền vững Sau Vedan, Miwon…sẽ còn không ít các công ty, tập đoàn khác có tên trong danh sách gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Đặc trưng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là khoa học kĩ thuật phát triển, nhất là kĩ thuật sản xuất, nhiều loại giấy, hộp đóng gói được làm chủ yếu bằng

ni lông, nhựa thiếc rất tiện lợi, góp phần làm thay đổi phong cách và tập quán sinh hoạt của nhiều người dân từ nông thôn đến thành thị Chính nhờ những dịch vụ chăm sóc khách hàng đó cùng với sự phát triển của xã hội mà nhu cầu sinh hoạt của con người ngày càng tăng cao và luôn được đáp ứng kịp thời Song bên cạnh những mặt tích cực ấy là lượng rác thải sinh hoạt thải ra môi trường ngày càng nhiều, đặc biệt ở những khu vực có mật độ dân cư đông đúc, tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh Rác thải được thải ra môi trường

Trang 8

lúc đầu là một túi nhỏ, dần dà chúng “tập kết” thành từng đống, làm cho cảnh quan môi trường bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực và tác động trực tiếp đến đời sống của người dân Rõ ràng, để có thể phát triển về kinh tế các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng cũng đã phải đánh đổi rất nhiều các nguồn tài nguyên thiên nhiên và chấp nhận một môi trường sống đang ngày càng bị ô nhiễm

Về khía cạnh không gian, các vấn đề về ô nhiễm môi trường thường gắn liền với các khu vực đô thị- nơi tập trung đông đúc dân cư, nhà máy, xí nghiệp… tuy nhiên đó đã là một câu chuyện cũ bởi hiện nay khu vực nông thôn - lá phổi của quốc gia ở rất nhiều nơi cũng đã và đang bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng như việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, việc

bỏ trống khâu xử lý chất thải ngành chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, chất thải làng nghề… phần nhiều nguyên nhân trong số đó xuất phát từ sự gia tăng dân

số, thay đổi các thói quen tiêu dùng và thói quen trong sản xuất

Ở góc độ chính sách, trong những năm vừa qua số lượng các chính sách có liên quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường ngày càng nhiều, các quy định cũng ngày càng chặt chẽ và bám sát diễn biến của đời sống xã hội Sự gia tăng nhanh chóng về mặt số lượng cũng như sự chặt chẽ các chính sách của Nhà

nước liên quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thấy hai vấn đề: (i) Nhà

nước ngày càng quan tâm hơn tới các vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển và (ii) Các vấn đề về bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay ngày càng trở nên bức thiết Dễ nhận thấy điểm chung trong các chính sách

này đó là chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường của Nhà nước, có

thể dẫn ra Chỉ thị 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong

thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (ngày 25-6-1998), Nghị quyết

41-NQ/TW nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi trường hay

Luật Bảo vệ Môi trường là những ví dụ điển hình

Trang 9

Ở góc độ cộng đồng, cách thức tổ chức xã hội của đô thị khác với nông thôn

và sự khác biệt này một phần lớn là do sự mạnh yếu trong tính cố kết cộng đồng Đối với vấn đề ô nhiễm môi trường tại các đô thị ví dụ như rác thải sinh hoạt thường có các công ty môi trường đô thị chịu trách nhiệm giải quyết, trong khi đó tại nông thôn vì nhiều lý do vấn đề này thường được mỗi người dân tự giải quyết theo những cách khác nhau hoặc được giải quyết bởi đội thu gom rác do cộng đồng tổ chức Thực tế, tại nông thôn hiện nay ngoài vấn đề rác thải sinh hoạt, môi trường nông thôn còn tồn tại rất nhiều các vấn đề bức xúc khác đòi hỏi cần những cách thức tổ chức quản lý và giải quyết các vấn

đề môi trường của cộng đồng

Chính vì thế với đề tài: “Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo

vệ môi trường tại Hà Nam” (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và

huyện Lý Nhân) hi vọng sẽ có những đánh giá cụ thể và chính xác về thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường hiện nay tại Hà Nam từ đó làm căn cứ để đưa ra được những kiến nghị về việc bảo vệ môi trường hiệu quả nhất tại Hà Nam nói riêng và tại các vùng nông thôn trên cả nước nói chung

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Rác thải sinh hoạt là một vấn đề nghiên cứu không phải quá mới mẻ Nhưng trên thực tế các công trình có liên quan đến rác thải sinh hoạt chủ yếu được nghiên cứu tại các đô thị, các trị trấn trung tâm, bởi trong suy nghĩ của nhiều người thì nông thôn vẫn được coi là rất trong lành và sạch sẽ Tuy nhiên, hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và vấn đề rác thải sinh hoạt nói riêng tại các vùng nông thôn đang là một báo động lớn và rất cần nhận được

sự hỗ trợ trong công tác thu gom và xử lý Trước khi đi vào từng công trình nghiên cứu cụ thể có liên quan gián tiếp đến đề tài, dưới đây là số liệu tổng quát về tình hình rác thải sinh hoạt của nước ta năm 2012:

Trang 10

Như chúng ta đã biết: Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh từ các nguồn: Các hộ gia đình, chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính chất thải rắn sinh hoạt khu vực nông thôn có tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, chủ yếu là từ thực phẩm thải, chất thải vườn và phần lớn đều là chất hữu

cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm tới 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn) Với dân số hơn 60 triệu người sống ở khu vực nông thôn, lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng 0,3 kg/người/ngày, ta có thể ước tính lượng rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày, tương đương với 6,6 triệu tấn/năm Vùng Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long có lượng rác phát sinh lớn nhất do có mức độ sản xuất nông nghiệp cao

Tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật đang diễn ra tràn lan, thiếu kiểm soát Do đó, các chất thải rắn như chai lọ, bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật, vỏ bình phun hóa chất: thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm; thuốc trừ chuột; thuốc trừ bệnh; thuốc trừ cỏ tăng lên đáng kể và không thể kiểm soát Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 35.000 đến 37.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật Việc sử dụng phân bón cũng phát sinh các bao bì, túi chứa đựng Số liệu sơ

bộ cho thấy, tổng lượng phân bón vô cơ các loại được sử dụng 2,4 triệu tấn/năm Như vậy, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn thải lượng bao bì các loại

Theo số liệu mới nhất của Bộ Xây dựng, tính đến tháng 7/2012, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các khu dân cư nông thôn ước tính khoảng 30.500 tấn/ngày Tuy nhiên, việc tổ chức thu gom mang tính chất tự phát, không thường xuyên Số rác thải chôn lấp hợp vệ sinh ở các huyện đạt khoảng

Trang 11

50-60% (tỷ lệ thu gom, xử lý ở đô thị là 83%), còn lại do người dân tự xử lý Lượng rác tồn đọng tại các kênh, mương rất lớn và phổ biến, dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Hà Nội được đánh giá là đạt được những kết quả khả quan trong công tác bảo

vệ môi trường, song kết quả thu gom và xử lý nước thải, rác thải sinh hoạt chưa đáp ứng được yêu cầu Hiện, tổng lượng chất thải rắn ra môi trường trên địa bàn Hà Nội ước 5.371tấn/ngày, trong đó từ khu vực nông thôn khoảng 2.500tấn/ngày Qua điều tra, hiện Hà Nội có 355/424 xã thành lập tổ thu gom rác thải Có 143 xã đã tổ chức chuyển rác đi xử lý, chôn lấp tại bãi rác tập trung của thành phố, chiếm tỷ lệ 40,28%, chủ yếu là ở các thị trấn và xã lân cận khu vực nội thành Ngoài ra, trung bình mỗi ngày lượng chất thải phát sinh do chăn nuôi khoảng 50.000 tấn, cùng với việc chất thải rắn từ các làng nghề và nước thải sinh hoạt chưa được xử lý triệt để đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Hiện nay, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn vào khoảng 40-55% Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ; trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến Nhiều xã không

có quy hoạch các bãi rác tập trung, không có bãi rác công cộng, không quy định chỗ tập trung rác, không có người và phương tiện chuyên chở rác Do

đó, các bãi rác tự phát đã hình thành ở rất nhiều nơi, làm cho tình trạng chất thải rắn sinh hoạt nông thôn trở thành vấn đề nan giải khó quản lý

Một số huyện, xã mặc dù đã có quy hoạch bãi rác, nhưng vẫn chưa có các cơ quan quản lý, biện pháp xử lý đúng kỹ thuật và người dân vẫn chưa có ý thức

đổ rác theo quy định Việc thu gom, xử lý chất thải từ bao bì, chai lọ hóa chất bảo vệ thực vật hiện còn nhiều hạn chế Đây là chất thải rắn thuộc danh mục chất thải nguy hại cần phải thu gom, xử lý đúng quy định Nhưng thực tế,

Trang 12

các loại vỏ bao bì, vỏ chai hóa chất bảo vệ thực vật thường bị vứt bừa bãi tại ruộng, góc vườn, hoặc nguy hiểm hơn, có trường hợp còn vứt ngay đầu nguồn nước sinh hoạt [19]

Dưới đây là tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

nghiên cứu luận văn: “Thực trạng rác thải sinh hoạt và các biện pháp bảo vệ

môi trường tại Hà Nam”

Dự án: “Nâng cao năng lực bảo vệ môi trường và xây dựng mô hình thí điểm

hệ thống thu gom, xử lý rác thải” tại Thị trấn Đồng Văn, Duy Tiên, Hà Nam

do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam thực hiện dưới sự tài trợ của chương trình SEMLA, trong dự án này có 2 mục tiêu hết sức quan trọng được

đặt ra: “xây dựng một mô hình thu gom rác, tự quản bảo vệ môi trường với sự tham gia của đông đảo nhân dân và các tổ chức xã hội Đồng thời với việc tuyên truyền phổ biến chính sách, kỹ năng hoạt động bảo vệ môi trường để nâng cao nhận thức và trình độ hiểu biết khả năng tự bảo vệ môi trường của cộng đồng” [18] Các hoạt động của dự án đã mang lại những thay đổi tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường không chỉ tại Đồng Văn mà tại nhiều khu vực lân cận với các hoạt động của đội thu gom rác thải và hàng loạt các hoạt động truyền thông môi trường

Dự án SES/1/03: “Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và sản xuất an

toàn thực phẩm Xây dựng mô hình hợp tác xã dịch vụ bảo vệ môi trường tại

xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” do Tổ chức hợp tác phát triển

quốc tế Thuỵ Điển (SIDA) tài trợ đã hướng đến công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân[23] Các nội dung có lồng ghép với Luật Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Trong báo cáo của dự án, các biện pháp được triển khai, hướng dẫn cho cộng đồng tương đối xác thực, có giá trị thực tiễn cao như xây dựng các mô hình biogas, thành lập đội vệ sinh môi trường

Trang 13

tự quản…Tuy nhiên tính bền vững của dự án cũng bị ảnh hưởng bởi cơ chế để duy trì dự án khi kết thúc tài trợ chưa được tính toán một cách cụ thể

Báo cáo: “Nâng cao vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi

trường thông qua tăng cường công tác phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng” của tác giả Dương Thị Tơ và Tô Kim Oanh trong khuôn khổ dự

án: “Tăng cường năng lực thể chế quản lý thông tin môi trường” do WB tài

trợ 2000-2002 [22] Trong báo cáo này các tác giả chỉ ra tầm quan trọng của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trường trong đó giải pháp tối ưu để huy động sự tham gia của người dân dựa trên các biện pháp phổ biến thông tin Ngoài việc nêu và phân tích kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới các tác giả cũng đã đánh giá các hiệu quả các hoạt động triển khai công tác huy động cộng đồng và phổ biến thông tin môi trường ở một số các tỉnh, thành phố lớn: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng Mặc dù vậy, phạm vi vấn đề mà các tác giả nghiên cứu mới chỉ tập trung tại các khu vực

đô thị (nơi vốn có nhiều điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phổ biến thông tin môi trường) trong khi đó ở khu vực nông thôn, vấn đề này còn bỏ ngỏ

Dự án: “Nâng cao nhận thức và xây dựng mô hình văn hoá môi trường cho

các cộng đồng làng nghề tại tỉnh Hà Tây” triển khai tại xã Đông Phương

Yên, xã Phùng Xá và xã Tân Hoà do Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi

trường Vùng thực hiện [12] Trong dự án này, mô hình văn hoá môi trường

làng nghề được xây dựng tại xã Đông Phương Yên dựa trên nền tảng quỹ môi trường cộng đồng bằng việc kết hợp giữa quy chế bảo vệ môi trường cộng đồng do chính người dân tham gia xây dựng với mô hình đội thu gom rác thải tại cộng đồng Chính sự kết hợp chặt chẽ giữa mô hình thực tế và quy chế quy phạm các hành vi, chuẩn mực của các cá nhân trong cộng đồng đối với vấn đề môi trường đã giúp nâng cao nhận thức và bước đầu hình thành những đặc trưng văn hoá môi trường cho cộng đồng này Mặc dù vậy, kết quả dự án

Trang 14

cũng đồng thời cho thấy những thách thức khi một cộng đồng “tự lực” giải quyết vấn đề môi trường của mình mà không có những hỗ trợ từ bên ngoài

Kết quả nghiên cứu của dự án trình diễn: “Xây dựng mô hình xã hội hoá để

giải quyết những vấn đề chất thải rắn cho 4 xã: Thi Sơn, Ngọc Sơn, Văn Xá

và Thị trấn Quế ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam” do PGS.TS Nguyễn Thị Kim Thái và PGS.TS Nguyễn Thị Loan thực hiện cho thấy tính cấp thiết của

việc xây dựng và đẩy mạnh các mô hình xã hội hoá bảo vệ môi trường khi mà những tác động tiêu cực từ ô nhiễm môi trường (chủ yếu rác thải) ngày càng hiển hiện rõ rệt trong khi tính đồng thuận của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trường và sự quyết liệt của chính quyền địa phương chưa được thể hiện rõ [20] Kết thúc báo cáo đánh giá, nhóm tác giả đã đưa ra những phương

án lựa chọn xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của các địa phương Tuy nhiên báo cáo chủ yếu tập trung nhiều vào các phân tích kĩ thuật

về thu gom và xử lý rác chưa chưa đi sâu đánh giá nhận thức của cộng đồng

về hoạt động bảo vệ môi trường và những thách thức đối với tính bền vững của các mô hình thu gom rác thải

Nghiên cứu về: “Vai trò của tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường ở Việt

Nam” của tác giả PSG.TS Nguyễn Quang Hưng minh chứng rằng tín ngưỡng,

tôn giáo có vai trò to lớn trong lịch sử Việt Nam Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra các quan điểm của Đảng và Nhà nước xác nhận về vai trò của tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống xã hội Tác giả khẳng định, những nhận thức về vai trò của tôn giáo đã tạo điều kiện cho các tôn giáo tham gia sâu rộng vào các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong rất nhiều vai trò khác nhau của tôn giáo thì ông đã có đề cập tới vai trò của tôn giáo trong bảo vệ môi trường Tác giả cũng đã nhấn mạnh rằng, vấn đề được thế giới quan tâm

từ nhiều thập kỷ nay, nhưng còn mới mẻ ở Việt Nam, nơi hầu như chưa có những công trình nghiên cứu về vấn đề vai trò của tôn giáo trong hoạt động

Trang 15

bảo vệ môi trường Tuy nhiên, chính bản thân tác giả cũng nhận định: “bài viết này mới chỉ là những nét phác họa bước đầu” bởi nội dung chủ yếu của bài viết tác giả mới chỉ tập trung chủ yếu làm rõ các thuyết giảng của các chức sắc tôn giáo về vấn đề bảo vệ môi trường và có đưa ra một vài dẫn chứng thực tiễn nhỏ để so sánh, minh chứng luận điểm có sự khác biệt trong hoạt động bảo vệ môi trường ở những nơi người dân có theo và không theo

tôn giáo.” Chính vì vậy việc nghiên cứu thực trạng môi trường cũng như các

hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam qua đó đánh giá được vai trò của các

tổ chức tôn giáo trong việc bảo vệ môi trường tại địa phương để có những biện pháp lồng ghép nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường là việc làm hết sức cần thiết

Luận văn nghiên cứu về: “Mô hình quản lý rác thải sinh hoạt thị trấn Hồ,

huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”: của ThS.Vũ Quốc Chính - Khoa học

môi trường và bảo vệ môi trường: Nội dung chính của nghiên cứu đã đánh giá thực trạng, những vấn đề bất cập và nhu cầu bức thiết trong quản lý rác thải ở thị trấn Hồ [4] Ngoài ra luận văn cũng đã xây dựng mô hình quản lý rác thải thị trấn Hồ phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và chính sách của Nhà nước Đồng thời nghiên cứu cũng có những kiến nghị các biện pháp tổ chức thu gom, xử lý rác thải cho vùng nông thôn Tuy nhiên, các số liệu luận văn trong luận văn mới chỉ dừng lại ở việc “đưa ra” chứ chưa được phân tích, lý giải một cách rõ ràng và các kiến nghị mà tác giả đề cấp đến trong luận văn cũng vẫn ở mức độ rất chung chung, chưa có biện pháp hiệu quả trong công tác thu gom cũng như quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh

Khóa luận: “Nghiên cứu công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị

trấn Yên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An” của tác giả Phan Thị Vân,

Khoa kinh tế và phát triển nông thông, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Trang 16

năm 2011 cũng đã chỉ ra rất rõ được thực trạng rác thải rắn trên địa bàn thị trấn Yên Thành và chỉ ra được công tác quản lý rác thải hiện nay ở thị trấn đồng thời tìm ra được các mô hình quản lý rác thải hiện nay có trong cộng đồng dân cư [28] Ngoài ra nghiên cứu cũng chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý rác thải ở thị trấn Yên Thành và tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải Tuy nhiên, các yếu tố tác động đến công tác quản lý rác thải chưa được tác giả phân tích một cách rõ ràng và kỹ lưỡng, mới chỉ dẫn ra các lý do chung chung Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc đưa ra các giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả công tác quản

lý rác thải tại địa phương

“Nghiên cứu thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt tại thị trấn Anh Sơn-huyện Anh Sơn-tỉnh Nghệ An và đề xuất một số giải pháp quản lý thích hợp” của tác

giả Nguyễn Duy cũng đã phân tích, làm rõ thực trạng vấn đề rác thải sinh hoạt đang tồn tại ở thị trấn Anh Sơn; các thành phần rác thải; nguồn gốc phát sinh các loại chất thải sinh hoạt; các hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt tại Anh Sơn và đưa ra được một số đề xuất giải pháp quản lý thích hợp về công tác thu gom rác thải sinh hoạt, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở cấp độ các đô thị, thị trấn chưa bao quát chung đến cả các vùng nông thôn.[6]

Đề tài cấp bộ: “Hiện trạng và giải pháp quản lý, tái sử dụng rác thải sinh

hoạt khu vực đô thị tại thành phố Thái Nguyên” do đại học Nông lâm thực

hiện; Nguyễn Ngọc Nông là chủ nhiệm đề tài đã phân tích các loại rác thải sinh hoạt hiện nay, sự ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người [14] Ngoài ra nghiên cứu cũng đã đề cập đến hiện trạng quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên Thế giới và ở Việt Nam Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã tập trung làm rõ hiện trạng rác thải sinh hoạt tại các phường, xã thành phố Thái Nguyên Điều tra, đánh giá nguồn phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt Đánh giá về hiện trạng thu gom, xử lý, vận chuyển rác thải sinh hoạt Nhận

Trang 17

thức và ý thức người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường nói chung và công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải Đánh giá việc xử lý rác thải sinh hoạt tại các phường, xã thành phố Thái Nguyên Điều tra, đánh giá về công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt tại các phường, xã ở thành phố Thái Nguyên Điều tra, đánh giá sơ bộ về giá mua một số thành phần của rác thải

có thể tái chế và ước tính giá trị kinh tế từ rác thải sinh hoạt tại thành phố Thái Nguyên và đề xuất một số giải pháp quản lý, xử lý chất thải sinh hoạt tại thành phố Thái Nguyên Đây là một nghiên cứu có ý nghĩa rất to lớn đối với công tác quản lý rác thải sinh hoạt nói chung

3 Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa lý luận

Về phương diện khoa học, môi trường vẫn luôn nhận được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học Khoa học môi trường tập trung vào các diễn biến, hiện tượng của môi trường với các chỉ số rõ ràng, cụ thể Ngành dân số xem xét môi trường với cách nhìn nhận về sự tác động qua lại giữa dân số và môi

trường; sự gia tăng dân số gây ra áp lực như thế nào đối với “sức tải môi

trường” Xã hội học nghiên cứu môi trường dưới nhiều chiều cạnh và góc độ

khác nhau trong mối tương quan với các vấn đề khác để tìm ra bản chất, xu hướng…của thực trạng các vấn đề môi trường, các hoạt động bảo vệ môi trường bằng việc lý giải các hiện tượng dưới hệ thống các lý thuyết chuyên ngành Các kết quả trong nghiên cứu này có thể góp phần làm sáng tỏ một vài

lý thuyết xã hội học đại cương như: lý thuyết lựa chọn hợp lý, hành động xã hội

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu về môi trường và các hoạt động bảo vệ môi trường không chỉ có

ý nghĩa về mặt khoa học mà còn mang một ý nghĩa thực tiễn to lớn Các kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng thực tiễn, đánh giá

Trang 18

chính xác về thực trạng ô nhiễm môi trường tại Hà Nam nói chung và ô nhiễm rác thải sinh hoạt nói riêng, đồng thời chỉ ra được các hoạt động bảo vệ môi trường hiện nay ở Hà Nam, phân tích đánh giá những mặt làm được và chưa làm được của các biện pháp bảo vệ môi trường từ đó cung cấp những kiến nghị để xây dựng hoạt động bảo vệ môi trường hiệu quả, góp phần giải bài toán ô nhiễm môi trường tại Hà Nam

4 Đối tƣợng nghiên cứu

Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam

5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, làm rõ thực trạng vấn đề rác thải sinh hoạt tại 2 huyện Kim Bảng

và Lý Nhân tỉnh Hà Nam Chỉ ra được các hoạt động bảo vệ môi trường đang diễn ra tại địa phương, đánh giá hiệu quả của các hoạt động đó Đồng thời đưa

ra được những kiến nghị nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu vấn đề rác thải sinh hoạt tại Lý Nhân và Kim Bảng cụ thể chỉ ra được các vấn đề có liên quan đến rác thải sinh hoạt như thành phần các loại rác thải, lượng rác thải và các hình thức xử lý rác thải sinh hoạt của người dân

- Phân tích các hoạt động bảo vệ môi trường tại Lý Nhân và Kim Bảng gồm nội dung các hoạt động bảo vệ môi trường; hình thức hoạt động; hiệu quả của các hoạt động bảo vệ môi trường

- Đánh giá mong muốn của người dân về các tổ chức tham gia thực hiện hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương

- Đề xuất kiến nghị để tăng cường sự tham gia của các tổ và cộng đồng vào các hoạt động bảo vệ môi trường

Trang 19

- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Như chúng ta đã biết, rác thải sinh hoạt được

phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau như gia đình, trường học, chợ, nơi mua bán, nơi công cộng, nơi vui chơi giải trí, cơ sở y tế, cơ sở sản xuất kinh doanh, bến xe, bến đò, nhưng trong khuôn khổ giới hạn nhất định của nghiên cứu, tác giả chỉ xét vấn đề nghiên cứu rác thải sinh hoạt được phát sinh từ khu dân cư (tức là từ các hộ gia đình) tại 2 huyện Kim Bảng và Lý Nhân của tỉnh Hà Nam Rác thải sinh hoạt của khu dân cư là một phần tất yếu của hoạt động sinh hoạt của các hộ gia đình Rác thải được sinh ra từ nguồn này rất lớn, rất đa dạng và phức tạp Rác thải sinh hoạt ở đây bao gồm: thức

ăn thừa, rau quả, túi nilon, bao bì, nhựa…

7 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng rác thải sinh hoạt tại Kim Bảng và Lý Nhân như thế nào?

- Các hoạt động bảo vệ môi trường tại Kim Bảng và Lý Nhân ra sao?

- Hiệu quả của các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam như thế nào?

8 Giả thuyết nghiên cứu

- Vấn đề rác thải sinh hoạt nổi cộm nhất tại Kim bảng và Lý Nhân là túi nilon

- Hoạt động bảo vệ môi trường phổ biến nhất tại Hà Nam là hoạt động truyền thông môi trường

- Phần lớn các hoạt động bảo vệ môi trường tại Kim Bảng và Lý Nhân hiệu quả thấp

Trang 20

9 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp luận

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận quan trọng giúp người nghiên cứu trong quá trình nhìn nhận và đánh giá vấn đề nghiên cứu Theo đó, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối quan hệ ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ Đứng trên góc độ của quan điểm này khi nhìn vào các vấn đề môi trường cũng như các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam chịu tác động bởi rất nhiều các yếu tố xung quanh: từ chính hoạt động sinh hoạt hàng ngày, hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân địa phương, ý thức của người dân, biến đổi khí hậu…đã có tác động qua lại rất lớn đối với môi trường Do đó, để

có thể tìm hiểu và lý giải được các vấn đề môi trường cũng như hoạt động bảo

vệ môi trường ở Hà Nam, chúng ta cần phải xem xét nó trong mối tương quan với rất nhiều các nhân tố khác Trong nghiên cứu này, chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở để chỉ ra các vấn đề ô nhiễm môi trường cũng như các hoạt động bảo vệ môi trường trong mối quan hệ với các đặc điểm kinh tế, xã hội, đặc trưng văn hoá… của người dân tại địa bàn nghiên cứu

Mặt khác, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mọi sự vật đều tồn tại trong tính không gian và thời gian xác định, luôn vận động, biến đổi Bản thân các vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường - mặc dù vẫn luôn là một

thách thức “cố hữu” của nhân loại trong nhiều thế kỷ nay, tuy nhiên nó lại

không phải là một hiện tượng bất biến, nó vẫn có sự vận động và biến đổi theo thời gian Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta kêu gọi các tổ chức, mọi cá nhân cùng chung tay giữ gìn, bảo vệ môi trường và trong đó có một tổ chức

có tính chất đặc thù hơn cả đó là các tổ chức tôn giáo Như vậy, chủ nghĩa duy vật lịch sử có một ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận trong việc đánh

Trang 21

giá thực trạng các vấn đề môi trường cũng như các hoạt động bảo vệ môi trường đang diễn ra tại Hà Nam

9.2 Phương pháp nghiên cứu

● Phương pháp quan sát: Đây là một phương pháp được sử dụng dụng nhằm

kiểm chứng các thông tin đã thu thập được từ bảng hỏi cũng như nhằm cung cấp thêm thông tin cần thiết cho việc chứng minh giả thuyết nghiên cứu Việc quan sát ở đây chủ yếu là quan sát về thực trạng các vấn đề môi trường, các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam

● Phương pháp phân tích tài liệu: Ngoài ra, trong nghiên cứu này tác giả còn

sử dụng các nguồn tài liệu chính khác: (i) các công trình nghiên cứu có liên

quan tới đề tài (chủ yếu là các công trình nghiên cứu liên quan ở mức độ gián tiếp), (ii) các tài liệu, thông tin thu thập từ Internet có liên quan tới đề tài và (iii) các tài liệu, thông tin liên quan do các địa phương cung cấp Phương

pháp này được sử dụng nhằm bổ sung thêm các thông tin chứng minh cho giả

thuyết nghiên cứu có liên quan đến các vấn đề môi trường, ô nhiễm môi

trường, rác thải sinh hoạt, bảo vệ môi trường

 Phân tích số liệu thứ cấp: Số liệu định lượng (dựa trên phỏng vấn bằng bảng hỏi) được khai thác từ bộ số liệu của dự án: “Nâng cao hiệu quả bảo vệ

môi trường thông qua các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam” do

Trung tâm Phát triển Xã hội và Môi trường Vùng thực hiện tại Hà Nam và Bắc Giang trong năm 2011 Trong đó, tác giả chỉ khai thác thông tin của tỉnh

Hà Nam

Với số liệu định lượng dựa trên phỏng vấn bằng bảng hỏi được thực hiện tại 2 huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam Tại mỗi huyện chọn 3 xã

và mỗi xã sẽ khảo sát 250 người dân với các nội dung liên quan đến các vấn

đề môi trường, ô nhiễm môi trường, rác thải sinh hoạt, các hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương…

Trang 22

Tỉnh Hà Nam

Xã có người dân theo tôn giáo

khác hoặc không theo tôn giáo

Thụy Lôi, Đại Cương Nhân Nghĩa, Xuân Khê

Xã có người dân theo Công Giáo Lê Hồ Đồng Lý

Với số liệu định tính: gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, đề tài tập trung khai thác thêm thông tin từ các nhóm đối tượng có liên quan tới đề án tại 2 huyện Kim Bảng và Lý Nhân của tỉnh gồm: Người dân, trưởng/phó thôn, cán

bộ xã, người thu gom rác, đại diện các tổ chức tham gia bảo vệ môi trường Các thông tin định lượng trong đề tài này được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 11.5, các thông tin định tính được xử lý bằng phần mềm NVIVO 7.0

● Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp này sử dụng nhằm thu thập, làm rõ thêm các thông tin mà bảng hỏi còn hạn chế Đồng thời tác giả khai thác thêm một số thông tin liên quan đến ý kiến đánh giá của người dân, cán bộ chính quyền địa phương, đoàn thể

về vấn đề rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường hiện nay tại các địa phương

+ Nhóm người dân: 6 người

+ Nhóm đại diện chính quyền, các tổ chức tham gia bảo vệ môi trường:

4 người

Trang 23

10 Khung lý thuyết

ăc

Thực trạng rác thải sinh hoạt

Truyền thông MT

Dọn vệ sinh định

kỳ Xây dựng quy chế BVMT Xây dựng đội thu gom rác Trồng, bảo

vệ cây xanh

Xử lý nguồn nước Xây dựng hầm biogas

Điều kiện kinh tế xã hội

Các hoạt động bảo vệ môi trường

Đặc điểm cá

nhân

Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước

Đặc trưng văn hóa, lối sống

Hình thức

xử lý rác

thải SH

Trang 24

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Hệ thống khái niệm

1.1.1 Khái niệm rác thải sinh hoạt

Rác thải sinh hoạt là những loại rác thải bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật Rác thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải…

- Thành phần rác thải sinh hoạt bao gồm: Rau, thực phẩm thừa, chất hữu

cơ dễ phân hủy, cây gỗ, giấy, bao bì carton, nhựa, cao su, vải sợi, vật liệu sợi, kim loại, rơm, rạ, xác động vật v.v…

- Phân loại rác thải sinh hoạt: Có rất nhiều cách phân loại chất thải khác

nhau Việc phân loại chất thải hiện nay chưa có những quy định chung thống nhất, tuy nhiên bằng những nhìn nhận thực tiễn của hoạt động kinh tế và ý nghĩa của nghiên cứu quản lý đối với chất thải, có thể chia ra các cách phân loại sau đây:

 Phân loại theo nguồn gốc phát sinh gồm có:

+ Chất thải từ các hộ gia đình hay còn gọi là chất thải hay rác thải sinh hoạt được phát sinh từ các hộ gia đình

+ Chất thải từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại: là những chất thải có nguồn gốc phát sinh từ các ngành kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ

 Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý gồm có: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí

 Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: theo cách này người ta chia chất thải dạng hữu cơ, vô cơ hoặc theo đặc tính của vật chất như chất thải dạng kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy, bìa…

 Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật: chất thải

Trang 25

độc hại, chất thải đặc biệt Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng hay kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả [14]

1.1.2 Khái niệm môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường

- Khái niệm môi trường

Theo Cục bảo vệ môi trường có đưa ra định nghĩa về môi trường như sau: Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định

Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống

và phát triển

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm

2005 quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát

triển của con người và sinh vật”

- Khái niệm về hoạt động bảo vệ môi trường:

Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự

cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi

Trang 26

trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ

đa dạng sinh học [15]

Nguyên tắc về bảo vệ môi trường: Theo quy định tại Điều 4 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 thì các nguyên tắc bảo vệ môi trường bao gồm:

Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến

bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu

Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, là quyền và trách nhiệm của

cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật

1.1.3 Khái niệm Nông thôn

“Nông thôn với tư cách là khách thể nghiên cứu Xã hội học về một phân hệ

xã hội có lãnh thổ xác định đã định hình từ lâu trong lịch sử Đặc trưng của phân hệ xã hội này là sự thống nhất đặc biệt của môi trường nhân tạo với các điều kiện địa lí tự nhiên ưu trội, với kiểu loại tổ chức xã hội phân tán về mặt không gian Tuy nhiên nông thôn có những đặc trưng riêng biệt của nó Nông thôn phân biệt với đô thị bởi trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp kém hơn, bởi thua kém hơn về mức độ phúc lợi xã hội, sinh hoạt Điều này thể hiện rõ trong cơ cấu xã hội và trong lối sống của cư dân nông thôn ở nông thôn loại hình hoạt động lao động kém đa dạng (so với đô thị), tính thuần nhất về xã hội và nghề nghiệp cao hơn Nông thôn là hệ thống độc lập tương đối ổn định,

Trang 27

là một tiểu hệ thống không gian - xã hội Các thành phần cơ bản của nó đồng nhất với đô thị Nông thôn và đô thị hợp lại thành chỉnh thể xã hội và lãnh thổ

(không gian) của cơ cấu xã hội”.[3, tr.115]

1.2 Các lý thuyết áp dụng

1.2.1 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý

Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý phát sinh từ kinh tế học cổ điển Nó được phát triển lên thành lý thuyết xã hội học nhờ công lao của James S Coleman Theo Coleman Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý là lý thuyết duy nhất có khả năng tạo

ra một mô hình hoà hợp Coleman cho rằng cách tiếp cận này vận hành từ một nền tảng trong phương pháp luận của chủ nghĩa cá nhân và sử dụng thuyết sự lựa chọn hợp lý như là cơ sở cấp độ vĩ mô để lí giải các hiện tượng vĩ mô Hai thành tố chủ chốt trong lý thuyết này là các tác nhân và các tiềm năng Coleman cho rằng các chủ thể hành động đều hướng đến một mục tiêu được hình thành bởi các giá trị hoặc sở thích Chủ thể hành động đó sẽ tối đa hoá các lợi ích hay sự thoả mãn các nhu cầu, mong muốn của mình Theo ông mỗi chủ thể hành động có nhiều tiềm năng và cách thức sử dụng tiềm năng khác nhau Điều đó ảnh hưởng đáng kể đến việc đạt được mục đích hành động của

họ Ngoài các tiềm năng, chủ thể còn chịu ảnh hưởng của các thiết chế xã hội Tất cả những nhân tố đó đều qui định hành vi của cá nhân, quyết định sự lựa chọn hành vi của họ [8, tr.447]

Coleman lí luận rằng xã hội học phải tập trung vào các hệ thống xã hội, nhưng các hiện tượng vĩ mô như thế phải được lí giải bởi các yếu tố nội tại của chúng, nguyên mẫu là các cá thể Coleman nhận ra rằng trong thế giới thực tiễn mọi người không luôn luôn cư xử một cách hợp lý nhưng ông cảm thấy điều này gây rất ít khác biệt trong lý thuyết của ông: “Giả thiết có ngụ ý của tôi là các dự đoán về lí thuyết thực hiện ở đây cũng sẽ là như thế dù các

Trang 28

actor hành động một cách chính xác theo sự hợp lí như thường thấy hoặc sai lệch theo các cách thức đã từng quan sát được”[8, tr.448]

Ngoài ra, George Homans cũng là một trong các tá giả nổi tiếng với lý thuyết

lựa chọn hợp lý [5, tr.150-151] Ông đã đưa ra “mô hình lựa chọn duy lý” của

hành vi cá nhân theo các nguyên tắc cơ bản

 Nếu một dạng hành vi được thưởng, hay có lợi thì hành vi đó có xu hướng lặp lại

 Hành vi được thưởng hay được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân sẽ có

xu hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh như vậy

 Nếu như phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ ra nhiều

“chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó

 Mức độ hài lòng, thoả mãn với những phần thưởng, mối lợi cá nhân giành được cao nhất ở lần đầu và có xu hướng giảm dần

Vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý trong đề tài này chủ yếu tập trung lý giải

về hành vi của cá nhân trong cộng đồng liên quan tới môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường sẽ được nhìn nhận ở nhiều chiều cạnh hơn, không chỉ liên quan đến khía cạnh kinh tế mà còn liên quan tới khía cạnh giá trị, chuẩn mực, nhận thức về môi trường của các cá nhân trong cộng đồng cũng như việc lựa chọn, xây dựng các mô hình bảo vệ môi trường phù hợp nhất với điều kiện tại

Hà Nam Trên thực tế, sự đánh giá này dựa trên những tiêu chí mang tính phù hợp với những mục tiêu, mục đích của người dân, phù hợp với lối sống, điều kiện sống của người dân tại địa phương Ngoài ra, vận dụng lý thuyết trên để vận dụng, giải thích cho các hành vi bảo vệ môi trường của người dân tại địa phương ở khía cạnh nếu hành vi này được “phần thưởng” hay có lợi hay được khuyến khích thì nó sẽ càng có xu hướng lặp lại nhiều hơn Đây cũng chính là một trong các khía cạnh mà cơ quan quản lý, chính quyền địa phương cần

Trang 29

quan tâm để hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương đạt được hiệu quả tối ưu

1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber (1864-1920)

Max Weber là một trong những nhà xã hội học có nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền xã hội học thế giới Trong hệ thống lý thuyết xã hội học của mình, lý thuyết về hành động xã hội được coi là mảng tâm đắc nhất ông Theo Weber, “nói tới hành động là nói tới việc chủ thể gắn cho hành vi của mình một ý nghĩa chủ quan nào đó Hành động kể cả hành động thụ động và không hành động (quyết định chờ đợi không làm gì cả), được coi là hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính đến hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại hay trong tương lai; ý nghĩa chủ quan đó định hướng hành động.”

Bên cạnh việc chỉ ra định nghĩa của hành động xã hội, căn cứ vào động cơ của hành động Weber cũng đã có sự phân loại hành động xã hội thành bốn loại chủ yếu sau:

 Hành động duy lý- công cụ là hành động được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất

 Hành động duy lý giá trị là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nhằm vào những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ, phương tiện duy lý

 Hành động duy cảm (xúc cảm) là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc tính cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động

Trang 30

 Hành động duy lý truyền thống là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác.[5, tr.87-88]

Nhìn nhận từ góc độ lý thuyết của Max Weber, thấy rằng việc người dân thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương là một hành động xã hội

Họ có nhu cầu để thực hiện cho mục tiêu, mục đích của mình là để giữ cho môi trường sống trong lành, sạch đẹp, giữ cho cảnh quan thôn xóm và tránh được các bệnh tật nguy hại cho sức khỏe từ việc ô nhiễm môi trường Các thông tin liên quan đến môi trường, các hoạt động bảo vệ môi trường sẽ là phương tiện, là động lực để giúp người dân đạt được mục tiêu của mình trong hoạt động sống hàng ngày Khi có được thông tin về môi trường cũng như tùy từng loại tính chất ô nhiễm môi trường, người dân Hà Nam sẽ cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện sao có lợi nhất và thực hiện mục đích là bảo vệ môi trường sao cho đạt được hiệu quả cao nhất Như vậy căn cứ vào lý thuyết hành động xã hội của Max Weber có thể lý giải phần nào về các hoạt động bảo vệ môi trường của người dân tại Hà Nam

1.3 Chủ trương xã hội hóa lĩnh vực bảo vệ môi trường

Hiện nay, xã hoá hoá không chỉ là một thuật ngữ về mặt khoa học mà còn là một thuật ngữ của chính sách Chính sự thay đổi của tư duy quản lý Nhà nước

đã khiến cho thuật ngữ xã hội hoá được sử dụng phổ biến Hiện nay, có rất nhiều các lĩnh vực quản lý Nhà nước được khuyến khích xã hội hoá như: Giáo dục, Y tế, văn hoá, thể dục thể thao…Xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường

là một chủ trương lớn của Việt Nam trong nhiều năm qua Nhờ vào chủ trương này, “tốc độ” ô nhiễm môi trường tại nhiều khu vực đã được kìm chế đáng kể, trách nhiệm môi trường vì thế cũng được thực thi một cách rộng rãi

Ở khía cạnh vĩ mô, số lượng các văn bản quản lý Nhà nước trong lĩnh vực môi trường ngày càng dầy và đa dạng, trong đó có sự đóng góp đáng kể của

Trang 31

các chính sách xã hội hoá Ngoài Luật Bảo vệ môi trường, khi nhắc tới vấn đề

xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường các nhà khoa học và các nhà quản lý thường hay nhắc tới chỉ thị 36/CT-TW và nghị quyết 41-NQ/TW

Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

chỉ rõ: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn

quân Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Trong đó các

mục tiêu về bảo vệ môi trường được xác định như sau:“Ngăn ngừa ô nhiễm

môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường của những nơi, những vùng đã

bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn…” Rõ ràng việc đạt các

mục tiêu bảo vệ môi trường nói trên là một thách thức trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chính vì thế chỉ

thị 36/CT-TW đã đưa ra hàng loạt các giải pháp: (i)Thường xuyên giáo dục,

tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường, (ii) Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách về phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hành Luật bảo vệ môi trường, (iii) Chủ động phòng chống ô nhiễm và sự cố môi trường, khắc phục tình trạng suy thoái môi trường, (iv) Khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo

vệ đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên, (v) Tăng cường và đa dạng hoá đầu

tư cho hoạt động bảo vệ môi trường, (vi) Tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương, (vii) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ, đào tạo cán bộ, chuyên gia về lĩnh vực

Trang 32

bảo vệ môi trường, và (viii) Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường

Trong 8 giải pháp nói trên, việc nâng cao nhận thức, cải thiện hành vi của cộng đồng và thúc đẩy các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường (một phần của hoạt động xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường) được đưa lên hàng đầu điều này cho thấy tầm quan trọng của xã hội hoá hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và phát huy vai trò của quần chúng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói riêng, đặc biệt tại các vùng nông thôn – nơi rộng lớn và các dịch vụ môi trường như ở đô thị chưa thể vươn tới

Sau chỉ thị số 36/CT-TW, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sau thời gian chạy đà, Việt Nam bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cũng đồng nghĩa với sự gia tăng đáng kể nguy cơ, sức ép và những tác động tiêu cực tới môi trường Sự tăng tốc của hoạt động kinh tế xã hội đòi hỏi sự “quyết liệt” trong các chính sách về bảo

vệ môi trường, do đó dễ hiểu khi có sự thay đổi về mục tiêu bảo vệ môi trường

cụ thể của Việt Nam giữa Nghị quyết số 41-NQ/TW và chỉ thị số

36/CT-TW:“Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi

trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục hồi các

hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên.” Như

vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đã được đưa lên hàng đầu, tuy nhiên không thể kiểm soát ô nhiễm, không thể sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nếu ý thức, trách nhiệm về bảo vệ môi

Trang 33

trường của mỗi người còn hạn chế và những hành vi thiếu thân thiện với môi trường vẫn được tiếp diễn Các nghiên cứu về xung đột môi trường đã cho thấy sự “lệch pha” về mặt giá trị giữa hành động bảo vệ môi trường với các hành động kinh tế và các hành động “có lợi” khác của con người Xét về mặt lịch sử, con người đã được lĩnh hội và thường xuyên trau dồi các hành động kinh tế nhưng lại mới hoặc ít biết, thực hiện các hành vi về mặt môi trường Bên cạnh đó, tâm lý con người thường chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt (đặc biệt là lợi ích kinh tế) trong khi lợi ích của các hành động về môi trường lại ít hoặc khó nhìn thấy ngay lập tức Do đó, xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường vừa là một sự lan toả, vừa là một sự thâm nhập của hệ giá trị về môi trường thông qua nhiều cách thức, mô hình khác nhau (bao gồm cả các mô hình kinh tế và phi kinh tế) Chính vì thế, Nghị quyết số 41-NQ/TW tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường Trong hệ thống các văn bản pháp quy có liên quan tới hoạt động xã hội hoá về bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 (sửa đổi) là văn bản đề cập đến nhiều nội dung về xã hội hoá hoặc động bảo vệ môi trường nhất:

“Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ

gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế

và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường” [15]

Như vậy, cùng với sự ra đời của hàng loạt các chính sách bảo vệ môi trường, các giá trị chuẩn mực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường tuy đã được hình thành nhưng chưa thực sự phổ biến và được tiếp nhận một cách rộng rãi, sức sống của các giá trị này trong thực tiễn xã hội vì thế mà cũng không thật ổn định Do

đó, nhằm tiếp tục “đẩy mạnh”, nâng tầm các giá trị, hành động bảo vệ môi

trường ngày 21/1/2009, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 29-CT/TW: “Về bảo vệ

Trang 34

môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”

với 7 nhiệm vụ trọng tâm trong đó tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xã hội hoá

về bảo vệ môi trường được xem là một nhiệm vụ không thể thiếu: “Đẩy mạnh

xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, có cơ chế, chính sách khuyến khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường Xây dựng và phát triển lực lượng tình nguyện viên bảo vệ môi trường Tăng cường sự giám sát của cộng đồng, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân Phát triển các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác bảo

vệ môi trường với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế…” Qua đó phần

nào đó cũng minh chứng rằng công tác bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm và mở rộng hơn nữa

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Xét về đặc điểm địa bàn nghiên cứu, tác giả đề cập đến một vài đặc điểm

chính có liên quan đến đề tài nghiên cứu:

 Về vị trí địa lý: Tỉnh Hà Nam nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, là

cửa ngõ phía nam của Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía Nam giáp tỉnh Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình Tỉnh Hà Nam bao gồm 6 đơn vị hành chính: thành phố Phủ Lý (tỉnh lỵ của tỉnh), huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyện Lý Nhân, huyện Thanh Liêm

và huyện Bình Lục

 Về dân số: Theo thống kê mới nhất, dân số Hà Nam là 831.020 người,

mật độ dân số là 967 người/km2, tỷ lệ tăng tự nhiên là 8,22%o Trong đó dân

số nông thôn là 784.960 người, dân số đô thị là 82.060 người (chiếm 9,87%)

Số người trong độ tuổi lao động năm 2006 là 450.325 người Số lao động tham gia thường xuyên trong nền kinh tế quốc dân là hơn 450.100 người, chiếm gần 97,7% nguồn lao động toàn tỉnh

Trang 35

 Về hiện trạng môi trường tỉnh Hà Nam:

+ Hiện trạng môi trường không khí: Khu vực khai thác chế biến khoáng sản,

khu vực sản xuất xi măng, khu vực có các phương tiện giao thông với mật độ lớn như: khu vực La Mát - Kiện Khê, khu vực Bút Sơn, thị trấn Đồng Văn, thị trấn Hoà Mạc, ngã 3 quốc lộ 1A và đường 21A, đầu cầu Phủ Lý, hàm lượng bụi đều vượt 1,2 - 4,6 lần so với tiêu chuẩn Việt Nam 5937- 2005 Một số điểm ô nhiễm cao như các khu vực đầu cầu Phủ Lý, ngã tư quốc lộ 1A và 21A, khu vực thị trấn Hòa Mạc, thị trấn Đồng Văn có hàm lượng bụi vượt

từ 1,44 - 4,6 lần so với tiêu chuẩn cho phép(tiêu chuẩn Việt Nam 5937-2005) Nguyên nhân gây ô nhiễm: do hoạt động của các phương tiện tham gia giao thông với mật độ cao, trở hàng quá tải, do hoạt động sản xuất của các nhà máy trong khu công nghiệp và ngoài khu công nghiệp; 08 nhà máy sản xuất

xi măng đang hoạt động; 07 lò gạch tuynen, khoảng 219 lò gạch thủ công, khoảng 175 cơ sở khai thác và chế biến khoáng sản, các hoạt động giao thông, các hoạt động sinh hoạt của người dân Tải lượng nồng độ phát thải của một

số chất trong năm 2007: Bụi khoảng 31.300 tấn/năm, CO khoảng 8.400 tấn/năm, NOx khoảng 7.300 tấn/năm, SO2 khoảng 13.800 tấn/năm, VOC khoảng 600 tấn/năm

+ Hiện trạng môi trường nước:

Hiện trạng môi trường nước mặt: Môi trường nước mặt tại các sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu Giang, sông Sắt có các chỉ tiêu như: COD, amoni, nitrit tại các điểm quan trắc đều vượt tiêu chuẩn cho phép như chỉ tiêu Amoni vượt 194 lần so với tiêu chuẩn tiêu chuẩn Việt Nam 5942-1995, cột A Tần suất ô nhiễm hàng năm từ 6 đến 11 lần vào các mùa cạn kiệt Ngoài ra có khoảng 2.078 ha mặt nước ao, hồ trong tỉnh cũng có nguy cơ bị ô nhiễm, do nguồn nước không có lưu thông cộng với nước thải sinh hoạt, chăn nuôi gia

Trang 36

súc, gia cầm của các hộ dân và nước thải của các cơ sở sản xuất kinh doanh, các làng nghề và các bệnh viện

Nguồn gây ô nhiễm ngoại tỉnh: Lượng nước thải từ Hà Nội chưa được xử lý

đổ thẳng ra lưu vực sông Nhuệ - Đáy ngày càng tăng về lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm, dự báo đến năm 2010 lượng nước thải sẽ tăng lên khoảng gần 700.000 m3/ng.đ là nguyên nhân chính làm ô nhiễm nguồn nước mặt của sông Nhuệ, sông Đáy, sông Châu Giang

Nguồn gây ô nhiễm nội tỉnh: Hoạt động sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi và y tế trên địa bàn tỉnh hàng năm cũng là nguyên nhân góp phần tác động gây ô nhiễm môi trường nước mặt Lượng nước thải của một số lĩnh vực năm 2007 như: nước thải sinh hoạt khoảng 22.00 m3/năm, nước thải sản xuất công nghiệp khoảng 15.000 m3/năm, Nước thải y tế khoảng 350 m3/năm, nước thải chăn nuôi khoảng 7.500 m3/năm, nước thải của sản xuất làng nghề khoảng 193.621 m3/năm

Hiện trạng môi trường nước dưới đất: Nguồn nước dưới đất ở nhiều nơi có

hàm lượng sắt, nitrit, nitrat và asen cao hơn tiêu chuẩn cho phép (đối với nguồn nước dùng cho mục đích sinh hoạt) Tại một số xã của huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Kim Bảng, Lý Nhân và Duy Tiên có nguồn nước dưới đất bị nhiễm Asen cao, có nơi vượt tiêu chuẩn cho phép của WHO và của Bộ Y tế tới 73 lần

Theo báo cáo của các địa phương đến năm 2007 toàn tỉnh có khoảng 70.200 giếng khoan đang sử dụng, 2.712 giếng khoan không sử dụng, 58.000 giếng đào Việc khai thác nước dưới đất tràn lan ccộng với việc các giếng ngừng sử dụng không được trám lấp đúng quy định, có giếng nằm ở gần chuồng trại chăn nuôi, gần nguồn nước thải, bãi rác thải là nguyên nhân có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng nước dưới đất

Trang 37

Hiện trạng chất thải rắn: Tổng lượng rác thải phát thải trong năm 2007 trên

địa bàn tỉnh khoảng 422.000 tấn/năm, trong đó: chất thải rắn sinh hoạt bình quân tại các đô thị là 25.648 tấn/năm, rác thải sinh hoạt nông thôn khoảng 135.940 tấn/năm, chất thải rắn y tế không nguy hại khoảng 1.125 tấn/năm, chất thải rắn công nghiệp không nguy hại khoảng 263.300 tấn/năm, chất thải rắn trong chăn nuôi khoảng 714.936 tấn/năm, chất thải rắn trong sản xuất làng nghề 9.900 tấn/năm

Nguồn phát sinh và tính chất của rác thải: rác thải sinh hoạt trong khu dân cư vùng đô thị và nông thôn; hoạt động sản xuất công nghiệp, kinh doanh, dịch vụ; hoạt động sản xuất trong nông nghiệp Chất thải rắn nông thôn có thành phần chất hữu cơ cao chiếm khoảng 52-69%, rác thải tái chế: 7-16% và các loại chất thải khác

Hiện trạng chất thải rắn nguy hại: Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội,

lượng chất thải nguy hại phát sinh càng nhiều và đa dạng về các nguồn thải Chất thải nguy hại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong năm

2007 khoảng 160 tấn/năm, trong đó: ngành y tế khoảng 140 tấn/năm, vỏ bao

bì thuốc bảo vệ thực vật khoảng 3,6 tấn/năm [24]

Dự báo chất thải rắn phát sinh đến năm 2015

Diễn giải Lƣợng rác thải phát sinh (tấn/năm)

Năm 2010 Năm 2015

Chất thải trong sản xuất nông nghiệp 186.680 220.118

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI HUYỆN KIM BẢNG VÀ HUYỆN LÝ NHÂN

2.1 Đặc điểm chung về điều kiện sống của người dân trong mẫu khảo sát

Hà Nam là một tỉnh mà người dân sống chủ yếu là dựa vào nông nghiệp Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sản xuất, là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết và giàu sức sáng tạo trong phát triển kinh tế, mở mang văn hóa xã hội Đây là một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Dưới đây là một số đặc điểm về điều kiện sống của đối tượng khảo sát tại huyện Kim Bảng và Lý Nhân tỉnh Hà Nam

Bảng 2.1: Nghề nghiệp của các đối tượng khảo sát tại Hà Nam

Trang 39

khảo sát vẫn còn 2% trong số người được hỏi mù chữ Như vậy thông qua sự phân tích trên, có thể thấy rằng trình độ học vấn của người dân tại địa bàn khảo sát là không cao do đó nó có ảnh hưởng trực tiếp đến công việc, nghề nghiệp của họ Đó cũng chính là lý do lý giải tại sao nghề nghiệp của người dân lại làm nông nghiệp là chủ yếu

Biểu đồ 2.1: Trình độ học vấn của đối tượng khảo sát ở tỉnh Hà Nam (%)

so với tại Lý Nhân

Trang 40

Biểu đồ 2.2: Điều kiện nhà ở của người dân (%)

Nhà cao tầng Nhà mái bằng kiên cố Nhà cấp 4

Do sự thay đổi trong các hoạt động sản xuất tại khu vực nông thôn hiện nay dẫn tới những tác động trực tiếp tới vấn đề môi trường, đáng kể nhất là sự

“biến mất” trên quy mô lớn của các hoạt động chăn nuôi hộ gia đình Nếu như

ở giai đoạn 1990-2000 hầu như hộ gia đình nào ở nông thôn cũng chăn nuôi thì hiện nay con số này còn lại không nhiều, chính vì thế rác thải hữu cơ từ chỗ là sản phẩm cho chăn nuôi hoặc làm phân chuồng cũng được nhiều người dân vứt lẫn vào các loại rác vô cơ khác gây ra ô nhiễm về mùi và nguồn nước

Sự thay đổi này cũng dễ dàng nhận thấy trong lĩnh vực trồng trọt khi các loại phân vô cơ đã thay thế gần như hoàn toàn các loại phân hữu cơ, điều này biểu hiện rõ nhất qua cơ cấu nhà vệ sinh của người dân nông thôn hiện nay Các loại nhà vệ sinh tự hoại hay bán tự hoại đang dần thay thế các công trình vệ sinh truyền thống

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh
Năm: 2001
10. Nguyễn Mạnh Hùng, Phát triển mô hình hợp tác xã dịch vụ môi trường, http://www.vca.org.vn/default.aspx?tabid=425&ID=1544, cập nhật ngày 20/8/2009 Link
13. Xuân Mai, Xây dựng hương ước bảo vệ môi trường, http://www.nea.gov.vn/thongtinmt/noidung/nt_26_07_06.htm, cập nhật ngày 21/8/2009 Link
14. Nguyễn Ngọc Nông, Hiện trạng và giải pháp quản lý, tái sử dụng rác thải sinh hoạt khu vực đô thị tại Thành phố Thái Nguyên,http://qlkh.tnu.edu.vn/theme/details/822/hien-trang-va-giai-phap-quan-ly-tai-su-dung-rac-thai-sinh-hoat-khu-vuc-do-thi-tai-thanh-pho-thai-ng, cập nhật 27/10/2012 Link
17. Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Hà Nam, Dân số tỉnh Hà Nam, http://hanam.gov.vn/vivn/Pages/Article.aspx?ChannelId=4&articleID=93 Link
21. Nam Thanh, Giải quyết rác thải ở nông thôn, http://www.baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Thoiluan/Giai-quyet-rac-thai-o-nong-thon/20088/12176.datviet, truy cập ngày 15/9/2009 Link
24. Tỉnh Hà Nam, Hà Nam: Kế hoạch bảo vệ môi trường 2011–2020, http://tnmthanam.gov.vn/index.php/vi/news/Moi-truong/Ha-Nam-Ke-hoach-bao-ve-moi-truong-2011-2020-901/, cập nhật ngày 26/12/2011 Link
25. Tỉnh Hà Nam, Kim Bảng: Xã hội hóa bảo vệ môi trường, http://tnmthanam.gov.vn/index.php/vi/news/Moi-truong, cập nhật ngày 16/10/2012 Link
28. Phan Thị Vân, Khoa kinh tế và phát triển nông thôn, Nghiên cứu công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Yên Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, 2011, http://luanvan.net.vn/luan-van/de-tai-nghien-cuu-cong-tac-quan-ly-rac-thai-sinh-hoat-tren-dia-ban-thi-tran-yen-thanh-huyen-yen-thanh-tinh-nghe-an-8171/, ngày truy cập 02/02/2013 Link
29. Thanh Xuân, Xây dựng mô hình xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với Việt Nam, http://www.nea.gov.vn/ThongTinMT/NoiDung/monre_17-5-08.htm, cập nhật ngày 15/8/2009 Link
11. Nguyễn Đình Hoè (5/2009), Bài giảng: Xã hội hoá mô hình bảo vệ môi trường, Hà Nam Khác
12. Đặng Đình Long và các cộng sự (2008), Nâng cao nhận thức và xây dựng mô hình văn hoá môi trường cho các cộng đồng làng nghề tại tỉnh Hà Tây Khác
18. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam, Nâng cao năng lực bảo vệ môi trường và xây dựng mô hình thí điểm hệ thống thu gom, xử lý rác thải tại Thị trấn Đồng Văn, Duy Tiên, Hà Nam Khác
20. Nguyễn Thị Kim Thái và Nguyễn Thị Loan (2008), Xây dựng mô hình xã hội hoá để giải quyết những vấn đề chất thải rắn cho 4 xã: Thi Sơn, Ngọc Sơn, Văn Xá và Thị trấn Quế ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Khác
22. Dương Thị Tơ, Tô Kim Oanh (2003), Nâng cao vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường thông qua tăng cường công tác phổ biến thông tin môi trường cho cộng đồng, Hà Nội Khác
23. Tổ chức SIDA Thụy Điển, Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và sản xuất an toàn thực phẩm. Xây dựng mô hình hợp tác xã dịch vụ bảo vệ môi trường tại xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Khác
27. Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam, Quyết định số 28/2009/QĐ-UBND, V/v phê duyệt Kế hoạch hành động kiểm soát ô nhiễm tỉnh Hà Nam giai đoạn năm 2010–2015, ngày 29/09/2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức  xử lý rác  thải SH - Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Hình th ức xử lý rác thải SH (Trang 23)
Bảng tương quan trên đã cho thấy, trong các ngành nghề khác nhau như nông  dân, công nhân, cán bộ/viên chức, kinh doanh/buôn bán thì nhóm cán bộ viên  chức  vẫn  là  nhóm  có  mức  độ  thường  xuyên  tìm  hiểu  các  thông  tin  có  liên - Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng t ương quan trên đã cho thấy, trong các ngành nghề khác nhau như nông dân, công nhân, cán bộ/viên chức, kinh doanh/buôn bán thì nhóm cán bộ viên chức vẫn là nhóm có mức độ thường xuyên tìm hiểu các thông tin có liên (Trang 47)
Bảng  2.6:  Nhận  thức  của  người  dân  Kim  Bảng  và  Lý  Nhân  về  trách  nhiệm  bảo vệ môi trường - Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
ng 2.6: Nhận thức của người dân Kim Bảng và Lý Nhân về trách nhiệm bảo vệ môi trường (Trang 50)
Bảng 2.9: Bảng tương quan giữa nghề nghiệp với các loại rác thải sinh hoạt  tại Hà Nam (%) - Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.9 Bảng tương quan giữa nghề nghiệp với các loại rác thải sinh hoạt tại Hà Nam (%) (Trang 59)
Bảng 2.10: Bảng tương quan giữa nghề nghiệp với lượng rác thải sinh hoạt  trung bình của hộ gia đình trên 1 ngày tại Hà Nam (%) - Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.10 Bảng tương quan giữa nghề nghiệp với lượng rác thải sinh hoạt trung bình của hộ gia đình trên 1 ngày tại Hà Nam (%) (Trang 62)
Biểu đồ 2.9: Hình thức xử lý rác thải sinh hoạt tại Kim Bảng và Lý Nhân (%) - Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
i ểu đồ 2.9: Hình thức xử lý rác thải sinh hoạt tại Kim Bảng và Lý Nhân (%) (Trang 65)
3.1.3. Hình thức thực hiện truyền thông về bảo vệ môi trường - Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
3.1.3. Hình thức thực hiện truyền thông về bảo vệ môi trường (Trang 80)
Bảng 3.4: Tần suất thực hiện các hoạt động truyền thông môi trường tại Kim  Bảng và Lý Nhân(%) - Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 3.4 Tần suất thực hiện các hoạt động truyền thông môi trường tại Kim Bảng và Lý Nhân(%) (Trang 81)
Bảng 3.5: Hiệu quả của  hoạt động  truyền thông bảo vệ môi trường tại Kim  Bảng và Lý Nhân - Thực trạng rác thải sinh hoạt và các hoạt động bảo vệ môi trường tại Hà Nam (nghiên cứu trường hợp tại huyện Kim Bảng và huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 3.5 Hiệu quả của hoạt động truyền thông bảo vệ môi trường tại Kim Bảng và Lý Nhân (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w