1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay

109 1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cho đến nay, sau gần mười lăm năm Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Luật BV, CS & GD trẻ em đi vào cuộc sống, thực tế vẫn cho thấy rằng việc nhận thức của các nhóm xã hội nó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

III Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 21

PHẦN THỨ HAI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương I Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Trang 3

quyền và bổn phận của trẻ em 35

3 Một số nét về quyền và bổn phận của trẻ em trong Công ước Quốc tế

về quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em 37

Chương II Thực trạng nhận thức của học sinh THCS ở Hà nội về

3 Mục tiêu chương trình hành động vì trẻ em Hà Nội giai đoạn 1991-2000 47

4 Kết quả thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em ở Hà Nội 48

II Thực trạng nhận thức của học sinh THCS ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em

56

1 Thực trạng nhận thức của học sinh về Công ước Quốc tế của LHQ về quyền trẻ em và Luật BV, CS & GD trẻ em, CS & GD trẻ em

56

2 Nhận thức của học sinh THCS về quyền trẻ em 63

3 Nhận thức và thực hiện bổn phận trẻ em của học sinh THCS Hà Nội 84

1 Những nguyên nhân có tác động tích cực đến việc nâng cao nhận thức cho học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em

Trang 4

4 Vai trò của hình thức, biện pháp tuyên truyền giáo dục về quyền và

PHẦN THỨ 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 107

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ năm 1989 là năm Liên hợp quốc cho ra đời Công ước Quốc tế về quyền trẻ em, đến nay đã có 192 quốc gia ký phê chuẩn Công ước và 150 nước có chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam tự hào là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Đông Nam Á ký phê chuẩn Công ước và đến năm 1991 Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em Vấn đề trẻ em vì thế đã trở thành một trong những lĩnh vực xã hội được ưu tiên hàng đầu Cũng chính từ đó đã diễn ra nhiều cuộc Hội thảo, nhiều nghiên cứu khoa học quốc gia và quốc tế tập trung vào vấn đề trẻ em Tuy nhiên, cho đến nay, sau gần mười lăm năm Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Luật BV, CS & GD trẻ em đi vào cuộc sống, thực tế vẫn cho thấy rằng việc nhận thức của các nhóm xã hội nói chung, đặc biệt là chính nhóm trẻ em về quyền và bổn phận của mình, để bảo vệ và làm theo vẫn đang

là một vấn đề lớn cần được quan tâm Bởi vì, trong thực tế, những vi phạm về quyền và bổn phận của trẻ em đang ngày càng có xu hướng gia tăng Điều đó chứng tỏ rằng, ở đối tượng này, việc nhận thức về quyền và bổn phận của mình đang còn nhiều hạn chế

Do đó đề tài được lựa chọn bởi Luận văn xã hội học này tập trung vào việc tìm hiểu thực trạng nhận thức của trẻ em học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em qua một cuộc khảo sát 4 trường trung học cơ sở ở Quận Đống Đa, Hoàn Kiếm và Huyện Từ Liêm, Thành phố Hà Nội Một số câu hỏi thuộc về nội dung nghiên cứu mà luận văn đã đặt ra và giải quyết là:

* Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Luật BV, CS & GD trẻ em đã đi vào cuộc sống gần mười lăm năm nay, vậy trẻ em học sinh THCS nhận thức như thế nào về quyền và bổn phận của mình?

* Nhà trường, gia đình, Đoàn Thanh niên, Đội Thiếu niên TP Hồ chí Minh và các tổ chức xã hội khác đã nhìn nhận vấn đề này như thế nào và đã có những hoạt động gì để tuyên truyền vận động cũng như thực hiện quyền quyền và bổn phận của các em?

Trang 7

* Những nguyên nhân nào tác động trực tiếp đến thực trạng nhận thức như hiện nay? Qua đó có thể rút ra bài học gì và cần phải có biện pháp gì để cải thiện tình trạng nhận thức này?

Thông tin lượng giá những nội dung trên đã được phối hợp thu thập thông qua phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi, sưu tầm - phân tích tài liệu và các phỏng vấn sâu định tính tự do và nửa tự do với các em học sinh, các cán bộ Đoàn Đội, các cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh học sinh (tổng cộng 12 cuộc)

Cuối cùng, tuy nhiên do những hạn chế về thời gian và các nguồn lực, chắc chắn nghiên cứu mà luận văn thực hiện sẽ không tránh khỏi thiếu sót

Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà chuyên môn, các

thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Trang 8

PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chỉ trong khoảng thời gian gần mười lăm năm tính từ năm 1989 là năm cho ra đời Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, (sau đây gọi tắt là Công ước) đến tháng 5 năm 2002 LHQ đã tổ chức được hai Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Quyền trẻ em (năm 1990 tại Oslo - NaUy và năm 2002 tại NewYork - Mỹ) Theo báo cáo của Tổng thư ký LHQ - Ông Cofi Annal - đến nay đã có

192 quốc gia ký phê chuẩn Công ước và có 150 nước có chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, đưa vấn đề quyền trẻ em trở thành lĩnh vực ưu tiên trong chương trình nghị sự quốc gia và là một trong những lĩnh vực xã hội được ưu tiên hàng đầu

Vấn đề trẻ em cũng luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước

và nhân dân ta Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em chính là tạo dựng cho đất nước và dân tộc một tương lai tốt đẹp hơn

Việt Nam tự hào là nước thứ hai trên thế giới và là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á ký phê chuẩn Công ước (năm 1989) Đến năm 1991 Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (BV, CS & GD) nhằm thể chế hoá các quyền và bổn phận cơ bản của trẻ em Việt Nam, đồng thời xác lập các cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác BV, CS & GD trẻ em

Công ước về quyền trẻ em và Luật BV, CS & GD trẻ em với những quy định cụ thể về quyền và bổn phận của trẻ em đã có những tác động tích cực vào thực tế cuộc sống gần mười lăm năm nay và đã có những đóng góp tích cực trong việc nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân Việt Nam, trong đó có trẻ em là học sinh các trường trung học cơ sở (THCS) ở các tỉnh, thành phố trong cả nước Đối với học sinh các trường THCS, việc nhận thức đầy đủ về các quyền và bổn phận của mình sẽ góp phần quan trọng làm thay đổi hành vi và cách xử sự theo đúng những quy định của Công ước và Luật Đây cũng là cơ sở thuận lợi cho việc giáo dục quyền và nghĩa vụ công dân của các em sau này

Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc nhận thức đầy đủ các điều khoản quy định về quyền và bổn phận của trẻ em nói chung và học sinh trong các trường THCS nói riêng để bảo vệ và làm theo là cả một vấn đề lớn cần phải được quan

Trang 9

tâm Bởi vì, trong thực tế những vi phạm về quyền và bổn phận của trẻ em trong đối tượng học sinh đang ngày càng có xu hướng gia tăng Điều đó chứng

tỏ rằng, ở đối tượng này, việc nhận thức về quyền và bổn phận của mình đang còn nhiều hạn chế

Ở Việt nam, trước vấn đề này đã có một số hoạt động nghiên cứu về nhận thức của các tầng lớp nhân dân và dư luận xã hội qua 10 năm thực hiện chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam do Uỷ ban BV, CS & GD trẻ em (nay là Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) tổ chức năm 2001 Đề tài nghiên cứu dư luận trẻ em trên một số điểm đại diện cho ba vùng Bắc - Trung - Nam Việt Nam về một số lĩnh vực, như: học tập, văn hoá; về kỳ nghỉ hè của học sinh tiểu học và THCS của Viện nghiên cứu thanh niên (năm 1999) Mới đây đáng chú ý có đề tài cấp Viện năm 2002 của Viện Nghiên cứu thanh niên

về “Vai trò của Đội TNTP Hồ Chí Minh trong việc tham gia giáo dục quyền và bổn phận cho trẻ em” Các kết quả nghiên cứu nêu trên mới chỉ đánh giá nhận thức chung chung của trẻ em về Luật BV, CS & GD trẻ em của Việt Nam hoặc thể hiện nhận thức trên một số mặt đời sống cụ thể Thảng hoặc có một số đề tài

có nghiên cứu về nhận thức của trẻ em về một số quyền và bổn phận cụ thể song lại chỉ đi vào tìm hiểu vai trò của Đội TNTP Hồ Chí Minh trong việc giáo dục quyền và bổn phận cho trẻ em

Đặc biệt, cho đến nay chưa có nghiên cứu chuyên biệt nào về nhận thức của nhóm trẻ em học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em trong Luật

BV, CS & GD cũng như Công ước quốc tế về Quyền trẻ em

Để góp phần vào việc nghiên cứu thực trạng tình hình nhận thức của trẻ

em về quyền và bổn phận của trẻ em, tác giả luận văn chọn đề tài “Thực trạng

nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay” Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp

phần vào việc nghiên cứu lý luận, và đánh giá thực trạng nhận thức của chính trẻ em về quyền và bổn phận của mình Trên cơ sở đó đề tài khuyến nghị và

đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao nhận thức của học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em

II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 10

1 Trên thế giới việc nghiên cứu soạn thảo Công ước của LHQ về quyền trẻ em được tiến hành trong 10 năm (từ năm 1979 là năm Quốc tế thiếu nhi đến năm 1989) và căn bản dựa vào Tuyên ngôn của LHQ về quyền trẻ em năm 1989 Nhóm công tác của LHQ đặc trách công việc nghiên cứu soạn thảo gồm đại diện của 43 nước thành viên và 50 tổ chức phi chính phủ Công ước được Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày 20-11-1989 và mở cho các nước ký ngày 26-1-1990 Công ước có hiệu lực và là luật quốc tế kể từ ngày 2-9-1990 Tính đến ngày 10- 5-2002, Công ước đã có 192 quốc gia là thành viên Đây là Công ước quốc tế có số nước tham gia lớn hơn bất cứ Công ước nào về quyền con người trong lịch sử Tính ra đã có tới 96% số trẻ em trên thế giới đang ở những nước đã phê chuẩn hoặc tham gia Công ước Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở Đông Nam Á ký phê chuẩn Công ước

Về nội dung, Công ước được chia làm 3 phần chính:

Phần mở đầu nêu bật những nguyên tắc cơ bản cơ bản của LHQ thể hiện trong các tuyên ngôn, tuyên bố về quyền con người Công ước khẳng định thực tế trẻ em do dễ bị tổn thương nên cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt

Phần 1 (gồm 41 điều) quy định các quyền trẻ em và trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện các quyền này

Phần 2 (từ điều 41 đến điều 45) và phần 3 (từ điều 46 đến 54) là các điều khoản nhằm thực hiện Công ước

Với 54 điều khoản, Công ước về quyền trẻ em ra đời đã bổ sung một văn kiện vào tập hợp các văn bản của LHQ về quyền con người Công ước là văn bản quốc tế đầu tiên đề cập toàn diện và xác định về mặt pháp lý các quyền trẻ em theo hướng tiến bộ Công ước đã đưa ra một định nghĩa về quyền trẻ em cho tất cả các nước trên thế giới, trong dó không phân biệt hệ thống chính trị, truyền thống văn hoá, tín ngưỡng và tập tục xã hội Công ước đưa một tập hợp chuẩn mực được tất cả mọi người, mọi quốc gia chấp nhận về phúc lợi cho trẻ em và tạo một khung pháp lý mà qua đó các quốc gia có thể đánh giá được sự tiến bộ của mình trong việc bảo đảm đến mức tối đa sự sống còn, sự phát triển về thể chất, tinh thần, đạo đức và xã hội cho trẻ em

Trang 11

2 Ở Việt Nam, vấn đề trẻ em luôn là mối quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em chính là ý thức cách mạng thường trực của Đảng và Nhà nước ta Vì thế năm 1979 Nhà nước Việt Nam đã ban hành “Pháp lệnh BV, CS & GD trẻ em Đến năm 1991 Luật

BV, CS & GD trẻ em ra đời trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành quả

10 năm thực hiện Pháp lệnh BV, CS & GD trẻ em (1979 -1989), quán triệt quan điểm chăm lo, phát triển con người từ tuổi ấu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về quyền trẻ em Luật BV, CS & GD trẻ em có 5 chương thì đã dành trọn vẹn chương III để nêu bật các quyền cơ bản và bổn phận của trẻ em Việt Nam, trong đó từ điều 5 đến điều 12 dành nói về quyền, và từ điều 13 đến điều 15 nói về bổn phận và trách nhiệm của trẻ em

Trên thực tế, trẻ em còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau ở trong nước và trên thế giới như xã hội học, tâm lý học, tội phạm học

Trên cơ sở này, nhiều đề tài khoa học, nhiều cuộc hội thảo các cấp đã được triển khai Trong đó, đáng chú ý là:

- Đề tài “Lứa tuổi vị thành niên thực trạng tình hình, các vấn đề xã hội

và giải pháp” do tiến sĩ Chu Xuân Việt làm chủ nhiệm (tháng 4 năm 1996) Đề tài đã đánh giá đúng thực trạng tình hình lứa tuổi vị thành niên đồng thời kiến nghị các giải pháp đồng bộ với Đảng, Nhà nước và xã hội nhằm tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lứa tuổi vị thành niên thành lớp người mới theo mục tiêu của Đảng, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới Đề tài cũng có

đề cập tới tình hình tệ nạn xã hội trong thanh thiếu niên và vấn đề tội phạm vị thành niên Tuy nhiên vấn đề nhận thức quyền và bổn phận của trẻ em chưa được tác giả đề cập tới

- Trong thời gian qua cũng có nhiều cuộc hội thảo được tiến hành như Hội thảo “Phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam” do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tổ chức (Hà Nội ngày 30/01/1997) Hội thảo “Phòng chống kinh doanh tình dục trẻ em” do Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam chủ trì (TP Hồ Chí Minh ngày 14/4/1998)

Trang 12

- Hội nghị bàn tròn về lao động trẻ em do Chính phủ Hà Lan và ILO (tổ chức lao động quốc tế) tổ chức tại Amxtecdam trong hai ngày 26 và 27 tháng

2 năm 1997 nhằm thảo luận tập trung vào những hình thức lao động độc hại

và bóc lột nhất với trẻ em là cưỡng bức lao động như nô lệ, sử dụng trẻ em trong mại dâm, buôn bán ma tuý hay bất kỳ hình thức nào khác ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ em

- Hội nghị quốc tế về lao động trẻ em do UNICEF (Quỹ nhi đồng LHQ)

và ILO tổ chức tại Na Uy ngày 27/10/1997

Đây là hội nghị thế giới đầu tiên thảo luận về vấn đề lao động trẻ em và đồng thời thông qua chương trình hành động toàn diện về lao động trẻ em để phấn đấu không còn tồn tại vấn đề lao động trẻ em vào thiên niên kỷ tới Các Hội nghị và Hội thảo trên tuy đề cập rất nhiều đến vấn đề xâm hại quyền trẻ

em về lao động và tình dục, song chưa đề cập đến vấn đề nhận thức về quyền

và bổn phận của trẻ em, nhất là chưa đề cập đến nhận thức của đối tượng trẻ

em là học sinh trường THCS

- Đáng chú ý là ngày 12 tháng 11 năm 2001, Hội thảo khoa học “Mối

quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em - Thực trạng và giải pháp” đã

được tổ chức tại Hà Nội do Uỷ ban BV, CS & GD trẻ em cùng với Viện nghiên cứu thanh niên chủ trì Mục đích của Hội thảo khoa học này là nhằm đánh giá việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em và làm rõ mối quan hệ giữa quyền và bổn phận trong quá trình thực hiện Luật Đồng thời, phân tích

rõ thực trạng và đề ra những giải pháp cụ thể về vấn đề này

Với 22 báo cáo tham luận tại Hội thảo, các nhà khoa học đã đề cập tới những khía cạnh lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, điều kiện để thực hiện quyền

và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay

Trong báo cáo tham luận “Một số suy nghĩ về những điều cần sửa đổi

bổ sung để thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em (qua Chương trình hành

động quốc gia vì trẻ em Việt Nam 1991 - 2001 và 2001 -2010)”, TS Nguyễn

Thị Lan (Uỷ ban BV, CS & GD trẻ em) khẳng định: “Việc quy định về quyền

gắn với bổn phận của trẻ em trong Luật BV, CS & GD trẻ em (1991) là một

Trang 13

nét phát triển độc đáo giá trị văn hóa Việt Nam trong thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em”

TS Nguyễn Thị Lan còn khẳng định, Chương trình hành động quốc gia

vì trẻ em Việt Nam 1991 - 2000 đã cụ thể hoá các điều khoản của Luật BV,

CS & GD trẻ em, nhằm làm cho các quyền và bổn phận của trẻ em được thực hiện trong thực tế Bên cạnh việc đánh giá những thành tựu đã đạt được trong

10 năm thực hiện Luật, tác giả đã nêu những vấn đề còn tồn tại cũng như nhiều vấn đề mới nảy sinh Tác giả nhận định, quy định của Luật chưa chặt chẽ, hầu hết các điều khoản chưa có các chế tài đảm bảo cho việc thực hiện; quy định về trách nhiệm của gia đình chưa đầy đủ; chưa có cơ chế rõ ràng về trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với việc phòng ngừa và hỗ trợ các gia đình thực hiện tốt các quyền và bổn phận của trẻ em; vai trò của Nhà nước còn mang tính bao cấp, chưa rõ ràng Tác giả còn đề cập đến việc thực hiện không nghiêm Luật BV, CS & GD trẻ em ở một số nơi Vấn đề này không chỉ đối với Luật mà đối với các bộ luật khác có liên quan đến vấn đề này nhằm đảm bảo quyền và bổn phận của trẻ em cũng có hiện tượng này

Bàn về khía cạnh lý luận của mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em, TS Hoàng Thế Liên và Ths Hoàng Đức Thắng (Viện nghiên cứu khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp) đã đưa ra một số nhận định về vấn đề này như sau:

- Về mặt thuật ngữ: “bổn phận” mà Luật sử dụng có ý nhấn mạnh tính đạo lý truyền thống hơn là tính pháp lý Trong mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em, nghĩa đạo lý rất sâu sắc Khi thực hiện bổn phận của mình trẻ

em đã tham gia vào quan hệ mang nặng trách nhiệm đạo lý hơn là trách nhiệm pháp lý

- Quyền và bổn phận của trẻ em có tính tương hỗ lẫn nhau

- Mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em hiện nay thể hiện đậm nét tính ưu việt của chế độ XHCN và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam

Về mặt thực tiễn, tác giả đã đưa ra một số ý kiến liên quan đến việc điều chỉnh pháp lý đối với mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em như; phương thức thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em, khi xem xét mối quan

Trang 14

hệ biện chứng giữa quyền và bổn phận của trẻ em cần chú ý tới sự phát triển của lứa tuổi, giới tính, hoàn cảnh kinh tế, vị trí địa lý Cần quan tâm hơn nữa tới quyền lợi vật chất và quyền lợi tinh thần của trẻ, chú ý tói môi trường để thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em trong điều kiện kinh tế - xã hội chung

Đặc biệt, Hội thảo lần này còn có gương mặt của 15 đại biểu của trẻ em đến từ các địa phương khác nhau, có những em là con ngoan trò giỏi nhưng cũng có em do hoàn cảnh éo le đã phải bươn chải tự lo từng bữa ăn cho bản thân và gia đình từ nhỏ Em Phạm Hoàng Anh, học sinh trường bán công Hai

Bà Trưng, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc với báo cáo “Chúng em kính mong

các cấp ủy đảng, nhà nước, các tổ chức xã hội hãy quan tâm đến các bạn còn gặp hoàn cảnh khó khăn” đã tha thiết mong các tổ chức, cá nhân quan tâm

đến các bạn trẻ là trẻ em khuyết tật, trẻ em cơ nhỡ không nơi nương tựa, trẻ

em bị bóc lột sức lao động Còn em Phạm Mai Hương - trẻ em lang thang đường phố Hà Nội, đang theo học lớp dạy nghề ở 42 Hàng Mành, Hà Nội thì

báo cáo “về vấn đề “trẻ em đường phố nghĩ gì về việc thực hiện quyền và bổn

phận trẻ em” Em nhấn mạnh: còn rất nhiều trẻ em lang thang đường phố, vừa

phải đi làm suốt ngày, không có nơi ngủ trọ phải ngủ ngoài đường, bị bắt nạt không được bảo vệ trước các tệ nạn xã hội

Sau khi nghe báo cáo tham luận của các đại biểu xung quanh vấn đề mối quan hệ giữa quyền và bổn phận trẻ em, những suy nghĩ, bức xúc của trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, Hội thảo đã đi đến nhất trí những vấn đề sau:

- Xã hội cần có sự thống nhất chung về việc nhận thức mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em Cần đánh giá những thành tựu và hạn chế trong 10 năm thực thi Luật BV, CS & GD trẻ em

- Cần phải đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của gia đình, coi gia đình là một nhân tố quan trọng để phát huy quyền và bổn phận của trẻ em, là chỗ dựa cho việc thực hiện quyền và bổn phận đó Kiến nghị Đảng và Nhà nước có chủ trương nâng cao vị trí, vai trò của gia đình

Trang 15

- Đề nghị các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền quan tâm hơn nữa đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em ở vùng sâu vùng xa, biêu giới hảo đảo

- Đặc biệt hội thảo đề nghị cần tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền nâng cao nhận thức về các quyền của trẻ em cho các em biết để có thể tự bảo

vệ mình, trong đó nhấn mạnh đến việc nâng cao nhận thức của trẻ em là học sinh trong các trường tiểu học và THCS

Nói về bổn phận của trẻ em, người xưa cũng đã biết dạy cho trẻ nhỏ biết bổn phận và trách nhiệm đối với đất nước, quê hương, làng xóm, đạo ứng xử trong các mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường; quan hệ thầy trò, bè bạn, anh

em Những bổn phận và trách nhiệm này được xây dựng thành những nguyên tắc chung về luân thường đạo lý và lễ nghĩa đời này nối tiếp đời kia làm theo

Thực tế hiện nay cho thấy, khi chúng ta thực hiện tốt các quyền của trẻ

em thì chúng ta cũng cần phải giáo dục thế nào để trẻ em biết và thực hiện bổn phận của mình; tạo cho chúng có ý thức quan tâm và sớm nhận thức được trách nhiệm dù nhỏ của mình đối với gia đình, cộng đồng và xã hội Chúng ta cũng cần phải thống nhất những nội dung tạo thành các quy chuẩn về bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay Có thể thấy, trong những điều kiện của xã hội hiện đại, rất nhiều những giá trị truyền thống vẫn còn tồn tại Chẳng hạn như bổn phận của trẻ em đối vói ông bà, cha mẹ, anh em, bổn phận với làng xóm quê hương, cộng đồng bổn phận phải học hành chăm chỉ, có ý thức lao động, phụ giúp công việc gia đình Qua trao đổi, đa số trẻ em Việt Nam, đặc biệt là các em sống ở nông thôn, ở vùng sâu vùng xa vẫn thực hiện tốt bổn phận của mình, nhưng đời sống xã hội trong giai đoạn phát triển mới của đất nước cũng làm nảy sinh không ít những trẻ em không biết bổn phận của mình đối với ông bà, cha mẹ Rất nhiều trẻ em từ khi còn nhỏ tuổi không được dạy bảo uốn nắn kịp thời nên đến khi trưởng thành đã trở thành những còn người không có nhân cách, vi phạm đạo đức, gây nhức nhối cho cộng đồng và xã hội Đây cũng chính là điều trăn trở của các bậc cha mẹ, các thày

cô giáo và rộng hơn là những người lãnh đạo đất nước Vì vậy, chúng ta phải quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục bổn phận cho trẻ em ngay từ khi các em

Trang 16

xã hội Từ đó, các em sẽ có những suy nghĩ và hành động đúng đắn để trở thành những người công dân có ích cho đất nước

Có thể nói, giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ

em là một điều không phải dễ dàng Sự nhận thức sâu sắc và đầy đủ về trách nhiệm và bổn phận đối với gia đình, cộng đồng, xã hội sẽ là cơ sở cho những hành động tự giác của trẻ Vì vậy, việc giáo dục cho trẻ em về quyền và bổn phận của chúng chính là việc làm hết sức cần thiết để nuôi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực cho tương lai của đất nước

- Toạ đàm về “Đánh giá nhận thức và dư luận xã hội qua 10 năm thực hiện Luật BV, CS & GD trẻ em”

Luật BV, CS & GD trẻ em đã đi vào cuộc sống 10 năm và đã có những tác động tích cực đến sự phát triển toàn diện cho trẻ em Việt Nam Trung tâm Truyền thông - vận động xã hội thuộc Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam đã điều tra khảo sát và có kết quả tổng hợp về đánh giá nhận thức và dư luận xã hội qua 10 năm thực hiện Luật BV, CS & GD trẻ em

Theo kết quả nghiên cứu trong đề tài khoa học “Vị trí, vai trò của gia

đình và cộng đồng trong sự nghiệp BV, CS & GD trẻ em” (GS.TS Phạm Tất

Dong làm Chủ nhiệm), tỷ lệ người dân biết Luật BV, CS & GD trẻ em là tương đối lớn, trung bình là 80,6%, trong đó tỷ lệ biết Luật ở miền núi và trung du cao hơn khu vực đồng bằng và gần đô thị Điều này cho thấy việc tuyên truyền, phổ biến về Luật chưa đựơc thực hiện thường xuyên, liên tục

Đa số người được hỏi đều tiếp nhận Luật qua kênh ti vi, đài và báo chí

Có thể khẳng định, Luật BV, CS GD trẻ em đã có tác động lớn đến quá trình nhận thức của các đối tượng cán bộ, nhân dân Đánh giá về mức độ quan tâm, giáo dục con cái sau khi biết Luật cũng như mức độ quan trọng của các điều khoản trong Công ước cho thấy sự nhận biết về các quyền quan trọng và

cơ bản của trẻ em tương đối cao và đồng đều Các quyền về được học hành, được sống trong môi trường gia đình, được sống và tồn tại được đánh giá cao nhất (trên 70%), đặc biệt là việc học hành (90%) Về việc tham gia các phong trào, các cuộc vận động xã hội cũng được quan tâm nhiều hơn kể từ khi có

Trang 17

Luật, trong đó các phong trào xã hội lại được chú ý nhiều hơn phong trào kinh

Đánh giá về tổ chức quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu của trẻ em cho thấy, vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, ban BV, CS & GD trẻ em ở cơ sở khá cao Ở khu vực nông thôn, vai trò này được đánh giá cao hơn so với vai thành thị Vai trò của Đảng vẫn được đánh giá là cao nhất Ngược lại các tổ chức đoàn thể, tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp lại được biết đến ở thành thị nhiều hơn ở nông thôn, trong khi các hoạt động của các chương trình, dự án trên thực tế lại ưu tiên nhiều hơn cho khu vực nông thôn Điều này có nghĩa là việc tuyên truyền nói chung, tuyên truyền về kết quả, mục tiêu vì trẻ em nói riêng chưa đạt hiệu quả cao ở nông thôn

Theo số liệu khảo sát xã hội học về nhận thức và dư luận xã hội qua 10 năm thực hiện Chương trình Hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam (TS Trịnh Hoà Bình), lý do trẻ em được quan tâm chăm sóc là do chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước và sự chỉ đạo sát sao của Uỷ ban các cấp (69,7%), do các gia đình đã nhận thức được rõ và sâu sắc yêu cầu của công tác trẻ em (56,6%), do đời sống kinh tế - xã hội phát triển (55,5%), do công tác tuyên truyền - vận động xã hội phát huy được hiệu quả tốt (48,8%)

Tuy nhiên, cũng như các đề tài, chương trình và dự án khác, kết quả khảo sát trên đây chỉ tập trung vào các đối tượng là bố mẹ trong gia đình chứ chưa có điều kiện khảo sát con cái là học sinh nói chung và học sinh các trường THCS nói riêng

Như vậy, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức

xã hội đến công tác BV, CS & GD trẻ em trong thời gian qua đã có những kết

Trang 18

quả đáng khích lệ Luật BV, CS & GD trẻ em đã được dư luận xã hội đánh giá cao, có tác động tích cực đến sự phát triển cơ bản của trẻ em Việt Nam cả về tinh thần và thể chất Tuy vậy, để Luật BV, CS & GD trẻ em thực sự có ý nghĩa, thực sự đi vào cuộc sống, chúng ta cần phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp Uỷ Đảng, chính quyền Nhà nước; tăng cường nhận thức trách nhiệm và kỹ năng của gia đình; lồng ghép các mục tiêu cải thiện cuộc sống, phát triển trẻ em với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; duy trì, phát huy, phát triển kết quả truyền thông, vận động xã hội phải được coi là các biện pháp chiến lược để thực hiện quyền trẻ em và Luật BV, CS & GD trẻ em Bên cạnh việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Bộ luật này, chúng ta còn đạt được nhiều tiến bộ trong việc tổ chức thực hiện pháp luật và công tác kiểm tra, giám sát những vi phạm pháp luật liên quan đến trẻ em; những điều khoản của Luật

và Nghị định 374/HĐBT đã tạo điều kiện thuận lợi để huy động sức mạnh tổng hợp của Nhà nước, gia đình và xã hội; vì sự nghiệp BV, CS & GD trẻ em luôn luôn được coi là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược của toàn Đảng, toàn dân Đặt trọng tâm vào việc phát triển trẻ em toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, để các thế hệ tương lai thực sự là chủ nhân đất nước, là người thực hiện đầy đủ giấc mơ của cha ông ta từ ngàn xưa

là xây dựng một đất nước giàu mạnh, bình đẳng và tiến bộ

Ngoài ra còn nhiều những nghiên cứu khác về trẻ em bị xâm hại, trẻ em thiệt thòi như trẻ em lang thang, lao động trẻ em v.v Các nghiên cứu đó đã có những thành công nhất định trong việc phân tích, đánh giá tình hình trẻ em Song thời gian qua những nghiên cứu về quyền trẻ em cũng như nhận thức của chính trẻ em về quyền và bổn phận của trẻ em còn chưa nhiều, nhất là đối với học sinh các trường THCS Điều đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu về đối tượng này trong giai đoạn hiện nay

III Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Ý nghĩa khoa học

Nhận thức là một quá trình từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện Nhận thức đúng sẽ có hành vi ứng xử đúng theo các quy định về quyền và bổn phận của trẻ em Việc nghiên cứu đề tài này sẽ chỉ ra một cách

Trang 19

khoa học quá trình nhận thức của học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em Trên cơ sở đó sẽ đề xuất những giải pháp có tính khoa học nhằm nâng cao nhận thức của các em về quyền và bổn phận của mình

2 Ý nghĩa thực tiễn

Việc nghiên cứu đề tài sẽ chỉ ra thực trạng nhận thức của trẻ em học sinh THCS về quyền và bổn phận của mình và chỉ ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng tình hình đó

Ngoài ra, nghiên cứu này sẽ đề xuất một số nội dung và hình thức giúp cho những người làm công tác truyền thông nói chung và truyền thông trong nhà trường nói riêng có được cơ sở thực tế để tuyên truyền đến các tầng lớp dân cư, nhất là trẻ em THCS nhằm nâng cao nhận thức về quyền và bổn phận của chính các em

IV MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Mục đích chính của luận văn này là nghiên cứu thực trạng nhận thức của nhóm trẻ em học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em Trên cơ sở

đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức để góp phần thay đổi thái độ và định hướng hành vi của nhóm trẻ em này về quyền và bổn phận

V ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, MẪU NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức của trẻ em học sinh THCS về

quyền và bổn phận của trẻ em

2 Khách thể nghiên cứu: - Các em học sinh THCS

- Cán bộ quản lý; Giáo viên THCS

- Cán bộ phụ trách Đội;

- Phụ huynh học sinh

3 Phạm vi và địa bàn nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực

trạng tình hình nhận thức của học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ

em tại một số trường THCS trong nội thành và ngoại thành thành phố Hà Nội

4 Mẫu khảo sát:

- Điều tra bằng bảng hỏi 563 em học sinh đang học trong các trường

Trang 20

- Phỏng vấn sâu 12 người, trong đó có cán bộ quản lý, giáo viên, cán bộ phụ trách Đoàn Đội; học sinh và phụ huynh học sinh

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở phương pháp luận

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được sử dụng là phương pháp luận cơ bản dùng để nghiên cứu thực trạng nhận thức của trẻ em học sinh về quyền và bổn phận của trẻ em

2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.1 Phương pháp chọn mẫu

Trong luận văn này các bước tiến hành chọn mẫu được thực hiện như sau:

Bước 1: Từ đơn vị đầu tiên là các thành phố, thị xã phía Bắc chọn ra

thành phố Hà Nội

Bước 2: Sau đó chọn tiếp các trường THCS đóng tại đại bàn thành phố

Hà Nội Từ các trường đó chọn tiếp 4 trường theo các tiêu chí: khu vực nội thành, khu vực ngoại thành; chọn các trường có phong trào giáo dục đạt tiên tiến và trung bình Cụ thể khu vực nội thành chọn hai trường là trường THCS Thành Công (quận Đống Đa) và trường THCS Chương Dương Độ (quận Hoàn Kiếm); khu vực ngoại thành chọn hai trường là THCS Cổ Nhuế và THCS Xuân Đỉnh thuộc huyện Từ Liêm

Bước 3: Từ các trường THCS lại chọn ra các lớp 7 - 8 - 9

2.2 Các phương pháp xã hội học

2.2.1 Khảo sát bằng phiếu hỏi với 563 học sinh từ lớp 7 đến lớp 9 2.2.2 Phỏng vấn sâu, toạ đàm với một số học sinh, cán bộ quản lý, cán

bộ Đoàn, Đội, các phụ huynh học sinh các trường THCS ở Hà Nội

2.2.3 Phương pháp sưu tầm, tổng hợp và phân tích tài liệu, tư liệu thứ cấp từ các ban, ngành, cơ quan có liên quan đến công tác giáo dục, chăm sóc

và bảo vệ trẻ em ở Hà Nội

2.2.4 Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động của các CLB về quyền trẻ em tại Hà Nội

Trang 21

VII GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Mặc dù Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Công ước quốc tế

về quyền trẻ em và các quy phạm pháp luật khác liên quan đến quyền và bổn phận của trẻ em đã được ban hành và đi vào cuộc sống từ nhiều năm nay, song nhận thức của học sinh THCS về quyền và bổn phận của trẻ em còn có nhiều hạn chế và chưa đầy đủ

VIII KHUNG LÝ THUYẾT

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI

Quyền được vui chơi…

Quyền được tham gia…

Yêu quý, hiếu thảo…

Chăm chỉ học tập, rèn…

Tôn trọng pháp luật…

Yêu quê hương , đất…

Không đánh bạc, uống…

Trang 22

Phần thứ hai KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

1 Khái niệm nhận thức

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa:

- Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện thực vào trong tư duy Là quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó (1)

lý, v.v Từ những khía cạnh tiếp cận đi đến những khái niệm hoặc định nghĩa khác nhau về trẻ em và các nhóm trẻ em Tuy vậy, trong các khái niệm và các định nghĩa về trẻ em cũng có những điểm chung và thống nhất, đó là đều căn

cứ vào tuổi đời để xác định khái niệm trẻ em và số lượng trẻ em

Theo điều 1 Công ước quốc tế về Quyền trẻ em thì trẻ em được xác định “là người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn” Khái niệm này đã lấy tuổi đời để định nghĩa về trẻ em và lấy mốc dưới 18 tuổi Khái niệm này cũng được mở rộng để các quốc gia thành viên có thể quy định mốc tuổi dưới 18, tuỳ theo đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội, tập quán dân tộc của quốc gia đó

Ở Việt Nam xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau của các ngành khoa học cũng như từ bản chất chính trị - xã hội và thực tiễn truyền thống văn hoá,

(1) Từ điển Bách khoa Việt Nam - Hoàng Phê chủ biên - NXB KHXH, Hà Nội - 1999

Trang 23

truyền thống dân tộc và khả năng nguồn lực của Nhà nước mà đưa ra khái niệm

cụ thể về quyền trẻ em và các nhóm trẻ em Ví dụ: Tiếp cận từ truyền thống văn hoá, từ góc độ xây dựng chính sách nguồn lực con người trong tương lai, Luật

BV, CS & GD trẻ em (1991) quy định “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”

Dưới góc độ nguồn lực lao động Bộ luật lao động (1995) quy định: những người từ 15 tuổi trở lên có giao kết hợp đồng lao động gọi là người lao động Dưới góc độ pháp lý Bộ luật dân sự (1995) quy định: Những người dưới

18 tuổi là người chưa thành niên Mới đây nhất tại cuộc Hội thảo liên ngành

về “Cơ sở khoa học và thực tiễn để quy định tuổi trẻ em trong Luật BV, CS &

GD trẻ em” trong tổng số 28 ý kiến tham luận của các Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà quản lý, lãnh đạo ở các cơ quan và các ngành khoa học khác nhau thì có 6

ý kiến quan niệm trẻ em là người dưới 16 tuổi (chiếm tỷ lệ 21%); 16 ý kiến quan niệm trẻ em là người dưới 18 tuổi (chiếm tỷ lệ 58%) Kết quả cuộc điều tra xã hội học do phòng Nghiên cứu thiếu nhi, Viện Nghiên cứu thanh niên tiến hành vào tháng 4 và tháng 5 năm 2002 khi hỏi ý kiến 541 em học sinh Trung học cơ sở ở 3 tỉnh, Thành phố là: Hà Nội, Hải Dương, Ninh Bình về độ tuổi trẻ em trong pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế thì ý kiến trả lời cũng rất khác nhau: Có 38,1% số em được hỏi đồng ý trẻ em là người dưới 16 tuổi; 61,9% đồng ý dưới 18 tuổi Trong cuộc khảo sát gần đây nhất của đề tài này (tháng 1 và tháng 2 năm 2003) với 563 em là học sinh các trường trung học cơ sở ở Hà Nội thì thấy: có tới 304 em (chiếm 54%) đồng ý trẻ em là người dưới 16 tuổi; 234 em (chiếm 41,6%) đồng ý dưới 18 tuổi; có 25 em (chiếm 4,4%) đề nghị trẻ em là người dưới 15 tuổi hoặc dưới 17 tuổi

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm trẻ em trong Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 1991, nghĩa là

“Trẻ em là người dưới 16 tuổi”

Như vậy, khái niệm trẻ em được hiểu trước hết đó là một con người được hưởng mọi quyền lợi và mọi tự do đã được nêu ra trong Điều 1 Công ước quốc tế về Quyền con người mà “không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương

Trang 24

Tuy trẻ em là một con người, song đó là con người chưa trưởng thành

do còn non nớt về thể chất, trí tuệ chưa phát triển cao, kinh nghiệm sống còn

ít, nên có quyền được chăm sóc sự sống, sự tồn tại và phát triển, được bảo vệ, được học tập, được quyền tham gia Trong đó các quyền cơ bản của trẻ em như: Quyền được sống và phát triển; quyền được khai sinh, quyền được sống với cha mẹ, được đoàn tụ với gia đình, quyền được tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; quyền được bảo vệ đời tư, được tiếp xúc thông tin nhiều nguồn, được bảo vệ khỏi bị áp bức bóc lột, tổn thương về thể chất và tinh thần, quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng khi bị tước mất môi trường gia đình; quyền được hưởng những sự chăm sóc đặc biệt đối với trẻ em bị khuyết tật về trí tuệ và thể chất; quyền được hưởng an toàn xã hội, được có mức sống để phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội, được giáo dục; được nghỉ ngơi, giải trí, vui chơi; được bảo vệ khỏi bị bóc lột kinh tế và công việc nguy hiểm, độc hại; được bảo vệ chống lại việc sử dụng các chất ma tuý và an thần; được bảo

vệ chống bị bóc lột, cưỡng bức lạm dụng về tình dục; được phục hồi về thể chất, tâm lý và tái hoà nhập xã hội Như vậy, đòi hỏi cả Nhà nước, cả gia đình và cộng đồng phải có trách nhiệm đảm bảo những quyền và bổn phận cơ

bản của trẻ em cho trẻ em

3 Khái niệm quyền trẻ em

Để hiểu khái niệm quyền trẻ em hay quyền của công dân là trẻ em ta đi từ việc nghiên cứu khái niệm quyền Từ điển Luật học định nghĩa khái niệm quyền là: “Những việc mà một người được làm mà không bị ai ngăn cản, hạn chế”(2)

Nói đến quyền là nói đến những điều những việc mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, đòi hỏi Vậy quyền của công dân là trẻ em là những điều, những việc mà pháp luật của Nhà nước Việt Nam bảo đảm cho mỗi trẻ em của mình được hưởng, được làm, được đòi hỏi

Trong phạm vi đề tài này, khái niệm quyền trẻ em có thể hiểu là những điều những việc mà trẻ em được làm, được đòi hỏi theo quy định của Hiến pháp và pháp luật

4 Khái niệm bổn phận của trẻ em

(2) Từ điển luật học - NXB KHXH - Hà Nội, 1999

Trang 25

Khái niệm bổn phận của trẻ em được hiểu như là nghĩa vụ của trẻ em đối với Nhà nước, gia đình xã hội Tuy nhiên trong Luật BV, CS & GD trẻ em không sử dụng thuật ngữ “nghĩa vụ” mà sử dụng thuật ngữ “bổn phận” Đây là nét đặc trưng mang tính chất nhân đạo, nhân văn của pháp luật nước ta Xét ở một khía cạnh nào đó, “bổn phận” hàm chứa tính chất “nghĩa vụ” nhưng không mang tính chất bắt buộc như một nghĩa vụ pháp lý Thuật ngữ “bổn phận” chứa đựng tính chất đạo lý, hướng thiện, giáo dục những thói quen ứng xử trong các mối quan hệ cơ bản để hình thành lối sống và nhân cách cho trẻ em

Điều 13, Luật BV, CS & GD trẻ em quy định; trẻ em có bổn phận:

1 Yêu quý, kính trọng, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, lễ phép với người lớn tuổi, thương yêu trẻ nhỏ, đoàn kết với bạn bè, giúp đỡ những người già yếu, tàn tật, giúp đỡ gia đình làm nhưng việc vừa sức với mình

2 Chăm chỉ học tập, rèn luyện thân thể, tuân theo nội quy của nhà trường

3 Tôn trọng pháp luật, thực hiện nếp sống văn minh, trật tự công cộng

và an toàn giao thông, giữ gìn của công, tôn trọng tài sản của người khác

4 Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo

vệ tổ quốc Việt Nam XHCN

Khoản 1 điều 14 của Luật BV, CS & GD trẻ em nghiêm cấm trẻ em không được đánh bạc, uống rượu, hút thuốc và dùng các chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ

Nói về bổn phận của trẻ em, ông cha ta ngày xưa đã biết dạy cho trẻ nhỏ biết bổn phận và trách nhiệm đối với đất nước, quê hương, làng xóm, đạo ứng

xử trong các mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường, quan hệ thầy trò, bạn bè, anh em Những bổn phận và trách nhiệm này được xây dựng thành những nguyên tắc chung về luân thường đạo lý và lễ nghĩa được truyền từ đời này qua đời khác, con cháu làm theo như một lẽ đúng ở đời, đây là một nét đẹp trong truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam

5 Mối quan hệ biện chứng giữa quyền và bổn phận của trẻ em trong pháp luật Việt Nam

Trang 26

Khi bàn về mối quan hệ biện chứng giữa quyền và bổn phận của trẻ em trong pháp luật Việt Nam, Tiến sỹ Hoàng Thế Liên - Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp đã nhấn mạnh: "Trẻ em là một đối tượng có những quyền và bổn phận mang tính chất đặc thù, khác với các công dân nói chung trong xã hội Vì vậy, việc phân tích mối quan hệ giữa các quyền

và bổn phận của trẻ em nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng công tác

BV, CS & GD trẻ em"

Từ góc độ nghiên cứu, có thể nói phạm trù các quyền và bổn phận của trẻ em có một nội hàm rất rộng bao gồm nhiều quyền và nghĩa vụ cụ thể trên tất cả các mặt của cuộc sống, từ các quyền tự nhiên đến các quyền văn hóa, chính trị, tôn giáo (3)

5.1 Về khía cạnh lý luận của mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em (4)

Trước hết, về mặt thuật ngữ, có thể dễ nhận thấy trong hầu hết các mối

quan hệ pháp luật, thuật ngữ thường được dùng là các quyền và nghĩa vụ Trong Luật về BV, CS & GD trẻ em nhà làm luật sử dụng thuật ngữ quyền và bổn phận Theo chúng tôi việc sử dụng thuật ngữ "bổn phận" trong mối quan

hệ này thể hiện một đặc trưng cơ bản của mối quan hệ người lớn - trẻ em trong việc thực hiện các quyền và bổn phận của trẻ em Đó là tính lệ thuộc

Khác với nhiều mối quan hệ pháp luật khác, khi mà các bên chủ thể tham gia quan hệ luôn có các quyền và nghĩa vụ tương ứng, trong việc thực hiện quyền trẻ em, trẻ em luôn đóng vai trò lệ thuộc, mong đợi sự quan tâm từ phía người lớn và phải tuân thủ sự xử sự mang tính chất chấp nhận và phục tùng Thuật ngữ bổn phận, do đó nhấn mạnh tính đạo lý truyền thống hơn là tính pháp lý Mặt khác, xem xét các bổn phận mà trẻ em phải tuân thủ, có thể thấy rõ nhiều bổn phận mang tính đạo lý rất rộng khó có thể xác định giới hạn

rõ ràng (như bổn phận: yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, tôn trọng pháp luật, kính

(3) Một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về mối quan hệ biện chứng giữa quyền và bổn phận của trẻ em trong pháp luật Việt Nam Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Về mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em thực trạng và giải pháp" - Viện Nghiên cứu thanh niên - Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam - Hà Nội, 11/2001 trang 11

(4) Phần viết này chủ yếu dựa vào quan điểm và phân tích của Tiến sỹ Hoàng Thế Liên - Hội thảo đã dẫn

Trang 27

yêu ông, bà, bố, mẹ; hiếu thảo với bề trên, giữ gìn của công…) mà giới hạn đó tùy thuộc vào sự cố gắng, sự quan tâm của người lớn Nói cách khác, trong mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em, nghĩa vụ đạo lý rất sâu sắc

Và khi thực hiện các bổn phận của mình, trẻ em đã tham gia vào quan hệ mang nặng trách nhiệm đạo lý hơn là trách nhiệm pháp lý

Thứ hai, giữa các quyền và bổn phận của trẻ em có tính tương hỗ lẫn

nhau Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, quyền của trẻ em không trực tiếp làm phát sinh các nghĩa vụ pháp lý của trẻ em mà lại trực tiếp làm phát sinh trách nhiệm và nghĩa vụ của người lớn Đây là trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện các quyền và định hướng, uốn nắn cho trẻ thực hiện bổn phận của mình Trách nhiệm pháp lý của người lớn bao gồm cả hai dạng là dạng hành động (tức người lớn vi phạm các quyền trẻ em) và không hành động (tức người lớn không thực hiện hoặc không làm tròn nghĩa vụ pháp lý của mình đối với trẻ em)

Thứ ba, mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em hiện nay thể

hiện đậm nét tính ưu việt của chế độ XHCN (ví dụ như quyền học tập và hưởng sự chăm sóc sức khỏe, y tế miễn phí ở lứa tuổi nhỏ) Các quyền đó thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội đối với trẻ em, đồng thời chỉ có thể thực hiện thông qua các nỗ lực chung của toàn xã hội trong đó người lớn đóng vai trò quyết định

Trong trường hợp này, mối quan hệ biện chứng giữa các quyền và bổn phận của trẻ em cũng chịu ảnh hưởng của những mối quan hệ khác phát sinh trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước đối với toàn xã hội

và việc bảo vệ quyền trẻ em sẽ được thực hiện bằng chính việc tăng cường hiệu quả của các cách thức và trách nhiệm thực hiện quyền

Thứ tư, xét từ khía cạnh văn bản, có thể nói nhiều quy định về quyền và

bổn phận trong luật BV, CS & GD trẻ em mang tính cương lĩnh, chủ yếu nhằm nhắc nhở các bên liên quan về trách nhiệm của mình, tính cưỡng chế thi hành còn thấp Từ đó khi xem xét mối quan hệ giữa các quyền và bổn phận của trẻ em trong từng trường hợp cụ thể cũng cần lưu ý tới vấn đề cơ sở pháp

lý điều chỉnh mối quan hệ đó Bên cạnh đó, ngày nay Nhà nước ta chủ trương

xã hội hóa các hoạt động bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, song các văn bản

Trang 28

quản lý Nhà nước để thể chế hóa các hoạt động xã hội hóa này cũng chưa được ban hành đầy đủ Do đó, khi xem xét về mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em cũng cần tính đến các cơ chế điều chỉnh của xã hội và các biện pháp xử sự mang tính truyền thống cũng như mức độ thừa nhận của cộng đồng dân cư đối với các biện pháp đó

Thứ năm, liên quan đến trách nhiệm của các bên trong mối quan hệ giữa

quyền và bổn phận của trẻ em, nếu nhìn nhận đây là một giao điểm của nhiều mối quan hệ trách nhiệm thì theo chúng tôi, có thể phân tầng trách nhiệm giữa các thành tố chính của mối quan hệ này như sau:

5.2 Về khía cạnh thực tiễn của mối quan hệ giữa các quyền và bổn phận của trẻ em

Từ thực tiễn thực hiện các quyền và bổn phận của trẻ em trong những năm qua, chúng ta sơ lược rút ra một số vấn đề liên quan đến việc điều chỉnh pháp lý đối với mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em như sau:

Trước hết, về phương thức thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em: trẻ

em chưa thể tự mình thực hiện các quyền và bổn phận đó, mà chỉ thực hiện được dưới sự chỉ bảo và uốn nắn của người lớn Nói cách khác, chính người lớn đặt nền móng, khuôn mẫu và định lượng cho trẻ em trong việc thực hiện các quyền và bổn phận của mình Do đó, người lớn phải ý thức được và phải chịu trách nhiệm nếu trẻ em không được hưởng đầy đủ các quyền và thực hiện trọn vẹn các bổn phận của mình Bên cạnh đó, quyền và bổn phận của trẻ em không thể được đặt tách rời khỏi các quyền cơ bản của công dân

Nhà trường, các tổ chức, đoàn thể

Trách nhiệm hành chính đạo lý

Trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý

Trách nhiệm hành chính pháp

NGHĨA VỤ ĐẠO LÝ VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

Bổn phận đạo lý

Trách nhiệm hành chính đạo lý

Trang 29

Thứ hai, khi xem xét mối quan hệ biện chứng giữa các quyền và bổn

phận của trẻ em phải tính đến sự phát triển của lứa tuổi, giới tính và các hoàn cảnh đặc thù Thực tế cho thấy trẻ em có hoàn cảnh xuất thân khác nhau thì phản ứng khác nhau trước các biến đổi của hoàn cảnh và có nhận thức khác nhau về các quyền và bổn phận của mình Đặc biệt trong hoàn cảnh của một

xã hội Châu Á, vẫn còn có các tàn dư của lối sống phong kiến và nếp suy nghĩ lạc hậu, phân biệt đối xử giữa các giới tính và nguồn gốc xuất thân Vì vậy, mối quan hệ biện chứng giữa quyền và bổn phận của trẻ em cũng phải được xem xét một cách linh hoạt nhằm phát hiện và thúc đẩy các động lực phát triển của trẻ em ỏ các lứa tuổi, hoàn cảnh và cộng đồng khác nhau

Thứ ba, khi xem xét mối tương quan giữa các quyền của trẻ em cũng

cần quan tâm toàn diện cả quyền vật chất và quyền về tinh thần trẻ em Với vị trí lệ thuộc của mình, trẻ em chưa có thể nhận thức đầy đủ về các quyền tài sản và quyền về tinh thần của mình Việc đảm bảo cho trẻ được hưởng các quyền đó một cách toàn diện không chỉ giúp thực hiện tốt quyền của trẻ em

mà còn góp phần tạo cho trẻ có được nhận thức chuẩn xác và toàn diện về các vấn đề gắn liền với nhân thân của một con người, từ đó giúp trẻ em thực hiện tốt hơn các bổn phận của mình, nhất là các bổn phận như giữ gìn của công, bảo vệ tài sản người khác, không hút thuốc, uống rượu, xem văn hóa phẩm xấu…

Thứ tư, cần tính đến đặc thù của vấn đề thực hiện quyền và bổn phận

của trẻ em khi áp dụng các biện pháp bảo đảm để trẻ em được hưởng các quyền và thực hiện tốt các bổn phận của mình Ở đây, yêu cầu đặt ra là cần đề cao các giải pháp hỗ trợ, tuyên truyền và giáo dục Theo tinh thần đó, chúng tôi cho rằng cần thiết phải bổ sung các chế tài pháp lý đủ mạnh để xử lý đối với các hành vi vi phạm quyền trẻ em hay việc không làm tròn bổn phận chăm sóc giáo dục trẻ em, song các biện pháp này chỉ có thể được coi như những giải pháp cuối cùng

Thứ năm, cũng như mọi mối quan hệ biện chứng khác, mối quan hệ

giữa quyền và bổn phận của trẻ em phải được đặt trong các hoàn cảnh lịch sử

cụ thể Tính lịch sử cụ thể ở đây cần được thực hiện theo hai hướng:

Trang 30

- Môi trường chính để thực hiện các quyền và bổn phận của trẻ em là gia đình, nơi có nhiều quan hệ tình cảm, đạo lý truyền thống chằng chịt và khi

xử sự trong gia đình, người ta không dùng các chuẩn mực pháp luật hay chuẩn mực văn hóa công cộng mà chủ yếu áp dụng các yếu tố mang tính truyền thống Mối quan hệ biện chứng giữa quyền và bổn phận của trẻ em khi được xem xét trong môi trường gia đình, vì vậy, cũng phải tính đến yếu tố tâm lý và trật tự trong gia đình nhằm đạt được hiệu quả cao nhất là sự phát triển toàn diện của trẻ em

- Việc thực hiện các quyền của trẻ em không thể tách rời các điều kiện kinh tế, xã hội chung của đất nước cũng như các tư tưởng chính trị lãnh đạo xã hội Do đó, mối quan hệ biện chứng giữa quyền và bổn phận của trẻ em được thể hiện qua phương châm "giành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất" và chuẩn bị tốt nhất hành trang cho "các chủ nhân tương lai của đất nước" Ngoài ra, như đã phân tích ở trên, nhiều quy định về quyền và bổn phận của trẻ em mang tính cương lĩnh và do đó khi áp dụng cần làm cho chúng phù hợp với các điều kiện tổng hòa của quốc gia, vùng miền và khu vực kinh tế chứ không thể áp đặt và đòi hỏi một cách cứng nhắc Điều này cũng đã được khẳng định trong Công ước Quốc tế về quyền trẻ em 1990, theo đó các quốc gia tùy theo hoàn cảnh điều kiện cụ thể của mình, cam kết dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em

Thứ sáu, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, khi cân nhắc đến "hoàn

cảnh lịch sử cụ thể" như đã nói ở trên, các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà hoạt động thực tiễn cần chú ý thích đáng đến các yếu tố mới của

xã hội thông tin trong một xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa mang tính tất yếu Bởi lẽ, nếu không có các phương thức và cách thức tiếp cận phù hợp khi xử lý mối quan hệ quyền và bổn phận của trẻ em với trách nhiệm của người lớn sẽ dẫn đến tình trạng mở rộng sự ngăn cách về tri thức và lối sống giữa các thế

hệ, cản trở trẻ em được hưởng các quyền của mình (như quyền tiếp cận thông tin, quyền được phát biểu ý kiến, quyền được phát triển thể chất và trí tuệ…) Người lớn cần có thái độ khuyến khích trẻ em phát triển, kể cả trong trường hợp vượt ra ngoài tầm kiểm soát của mình

II NHỮNG QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ QUYỀN

VÀ BỔN PHẬN CỦA TRẺ EM

Trang 31

1 Những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải

trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”

Thấm nhuần tư tưởng vĩ đại nhìn xa trông rộng đó của Người, Đảng ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người - chủ thể sáng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần và nền văn minh của quốc gia, dân tộc Xây dựng con người mới Việt Nam XHCN hiện đại, “phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có

ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội”6, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của các mạng nước ta trong giai đoạn mới

Xét về phương diện nguồn lực con người, lực lượng trẻ em chiếm tới 39,9% tổng dân số Việt Nam Đây chính là nguồn nhân lực trẻ rất quan trọng góp phần quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong tương lai Cũng chính các em sẽ là người nâng cao vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế trong vài ba thập kỷ tới Vì thế, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em nói chung, giáo dục quyền và bổn phận cho trẻ em nói riêng luôn là

ý thức cách mạng thường trực của Đảng ta Nguyên Tổng Bí thư BCH TW Đảng CSVN Lê Khả Phiêu đã khẳng định: “Một trong những quan điểm chi phối toàn bộ đường lối của Đảng ta là coi trọng con người Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng XHCN mà trẻ em là lớp măng non, là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, các em sẽ là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhưng khi các em còn non nớt cả về tinh thần, dễ bị tổn thương thì việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng

và Nhà nước Đó không chỉ thể hiện tình cảm và đạo lý dân tộc mà còn là trách

Trang 32

nhiệm chính trị của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, là nhiệm vụ của mỗi công dân, mỗi gia đình và toàn xã hội” 7

Mục tiêu của các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng CSVN là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân về tính cấp bách cũng như tầm quan trọng của công tác BV, CS & GD trẻ em, giáo dục quyền và bổn phận cho trẻ em trong tình hình mới

2 Những chính sách của Nhà nước về BV, CS & GD quyền và bổn phận của trẻ em

Trong giai đoạn cách mạng mới, Nhà nước ta xác định mục tiêu của

“chính sách chăm sóc, bảo vệ trẻ em tập trung vào thực hiện quyền trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh, phát triển hài hoà về trí tuệ, tinh thần và đạo đức; trẻ mồ côi, bị khuyết tật, sống trong hoàn cảnh khó khăn có cơ hội học tập và vui chơi 8

Từ trước tới nay, Đảng và Nhà nước ta đã coi việc BV, CS & GD trẻ

em là một sự nghiệp cách mạng quan trọng và là trách nhiệm cao quý của toàn Đảng, toàn dân, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước XHCN Điều đó hoàn toàn phù hợp với đạo lý truyền thống của dân tộc vì trẻ

em là tương lai của đất nước, là những người kế tục sự nghiệp vĩ đại mà Đảng

và Bác Hồ đã lựa chọn Chính vì vậy, Nhà nước đã nêu ra nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm thực hiện tốt việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, nhất là việc thực hiện quyền và bổn phận trẻ em Các quyền trẻ em đã được Nhà nước ta ghi trong Hiếp pháp năm 1992 và các đạo luật khác như: Luật phổ cập giáo dục tiểu học, Bộ Luật lao động 1994, Bộ Luật dân sự 1995, v.v Chính phủ Việt Nam còn thành lập Uỷ ban bảo vệ, chăm sóc trẻ em Việt Nam

- cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng giúp chính phủ quản lý Nhà nước về công tác BV, CS & GD trẻ em

Mặc dù nền kinh tế còn đang gặp nhiều khó khăn và khả năng tài chính

eo hẹp, nhưng Nhà nước vẫn đầu tư nhiều sức người, sức của cho sự nghiệp

7 Bài phát biểu tại Hội nghị kiểm điẩm 4 năm thực hiện chỉ thị 38/CT-TW của Ban Bí thư TƯ Đảng CSVN

“về tăng cường công tác BV, CS & GD trẻ em tổ chức tại Hà nội tháng 6/1998

8 Đảng CSVN - Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX - NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 2001, tr 107 - 108

Trang 33

cao quý đó BV, CS & GD trẻ em giờ đây đã trở thành công việc hàng ngày của mỗi công dân, mỗi gia đình, mỗi cấp chính quyền và tổ chức xã hội, với tất cả những gì tốt đẹp nhất đều giành cho trẻ em Ngoài ra, nhiều phong trào

BV, CS & GD trẻ em vẫn được duy trì và phát triển tốt như phong trào “Toàn dân chăm sóc, giáo dục thiếu nhi”, phong trào “nuôi con khoẻ, dạy con ngoan”, v.v

Những năm gần đây, sự nghiệp chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước ta được đẩy mạnh hơn Nhà nước và nhân ta đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết những nhu cầu thiết yếu về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho trẻ em Các chương trình giáo dục phổ cập, tiêm chủng mở rộng, chống suy dinh dưỡng, chăm sóc trẻ em tàn tật, mồ côi, không nơi nương tựa… bước đầu đạt kết quả tốt Việt Nam tham gia ngay từ đầu vào quá trình soạn thảo và có những đóng góp tích cực vào nội dung Công ước Quốc tế về quyền trẻ em Nước ta đã ký ngay từ ngày đầu tiên khi Công ước được mở cho các nước ký (26/2/1990) và là nước thứ hai trên thế giới và đầu tiên ở Châu Á đã phê chuẩn Công ước mà không bảo lưu (20/2/1990) Ngày 5 tháng 3 năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước ta đã ký vào bản tuyên bố của Hội nghị cao cấp thế giới về trẻ em họp vào tháng 9 tại Mỹ

Như vậy, Nhà nước ta đã chính thức cam kết cùng cộng đồng quốc tế ra sức BV, CS & GD trẻ em, phấn đấu cho tương lai tươi sáng của trẻ em Việt Nam và trẻ em trên hành tinh chúng ta Việc ban hành Luật BV, CS & GD trẻ

em (12/2/1991), Luật phổ cập giáo dục tiểu học (12/8/1991) và các văn bản pháp luật khác tạo ra những cơ sơ cho việc thực hiện những cam kết quốc tế

đó ở nước ta

Trong hai ngày 11 và 12 tháng 12 năm 1991, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam đã tổ chức hội nghị quốc gia về trẻ em sau một năm thực hiện Công ước về quyền trẻ em nhằm thảo luận và thông qua Chương trình hành động Quốc gia về trẻ em Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2000 Đến dự Hội nghị có các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, đại diện các Bộ, ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội, đại diện UNICEF, UNDP (chương trình phát triển của LHQ), đại diện các Đại sứ quán và các tổ chức

Trang 34

Tuyên bố của Hội nghị quốc gia vì trẻ em Việt Nam gồm 10 điểm, cam kết và kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam ở trong nước và nước ngoài, với ý thức trách nhiệm đầy đủ về cuộc sống của trẻ em, tương lai của đất nước hãy tích cực, chủ động tham gia có hiệu quả vào việc thực hiện chương trình hành động

mà Hội nghị đã thông qua; kêu gọi Quỹ Nhi đồng của LHQ, các tổ chức khác của LHQ, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức nhân đạo và từ thiện quốc tế tận tình giúp đỡ sự nghiệp cao quý BV, CS & GD trẻ em Việt Nam

Hội nghị quốc gia vì trẻ em Việt Nam, một lần nữa thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và nhân dân ta đối với thế hệ tương lai đất nước Nó chứng tỏ Nhà nước ta quyết tâm thực hiện đầy đủ những cam kết của mình đối với Công ước về quyền trẻ em và tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới “Về

sự sống còn bảo vệ và phát triển của trẻ em”, góp phần chuẩn bị cho các thế hệ công dân Việt Nam tương lai bước vào thế kỷ 21 có đầy đủ trí tuệ và nhân cách để xây dựng đất nước ta giàu đẹp, vững mạnh, sánh vai cùng các dân tộc văn minh trên thế giới

3 Một số nét về quyền và bổn phận của trẻ em trong Công ước quốc

tế về quyền trẻ em và trong Luật BV, CS & GD trẻ em

Gồm 56 điều khoản và với khoảng 6000 từ, Công ước quốc tế về quyền trẻ em ra đời là thêm một văn kiện trong tập hợp các văn bản luật của LHQ về quyền con người Quyền trẻ em là những gì thế giới muốn dành cho trẻ em, đã được quy định rõ trong Công ước Ở đây trẻ em được hưởng sự quan tâm đặc biệt của toàn thế giới và Công ước đã coi trẻ em là trung tâm của việc vận dụng một cách có hiệu quả các quyền con người mang tính toàn cầu

Chính vì thế ông Cofi-Annal Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã nhấn mạnh rằng: “Nhân loại có nghĩa vụ phải dành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất Sự thoả thuận của cộng đồng quốc tế về quyền ưu tiên hàng đầu dành cho trẻ em

đã được xác định ngay trong các tuyên bố đầu tiên về nhân quyền

Xem xét một số vấn đề của tương lai, chúng ta không cần đến những giải pháp của các máy vi tính cực kỳ hiện đại Nhiều vấn đề của thế kỷ tới có thể thấy trước bằng cách xem chúng ta hiện đang chăm sóc con em mình như

Trang 35

thế nào Thế giới ngày mai có thể chịu ảnh hưởng của khoa học và kỹ thuật, nhưng trước hết nó được định hình trong cơ thể và trí tuệ của trẻ em chúng ta”(8)

Quyền trẻ em là bộ phận hợp thành của quyền con người nên có thể chia quyền trẻ em làm 5 nhóm quyền cơ bản:

- Các quyền dân sự và chính trị của trẻ em gồm các quyền có họ tên và

quốc tịch tự do biểu đạt và kết giao, được bảo vệ không bị tra tấn hoặc bị đối xử tàn tệ

- Các quyền kinh tế của trẻ em gồm các quyền được hưởng an toàn xã hội,

có mức sống đủ để phát triển, được bảo vệ để khỏi bị bóc lột trong công việc

- Các quyền xã hội của trẻ em gồm các quyền được học tập, tiếp xúc

thông tin nhiều nguồn, được vui chơi giải trí, được tham gia vào các hoạt động văn hoá, văn nghệ

- Các quyền văn hoá của trẻ em gồm các quyền được học tập, tiếp xúc

thông tin nhiều nguồn, được vui chơi giải trí, được tham gia vào các hoạt động văn hoá, văn nghệ

Tuy nhiên Công ước không chia rành rọt các nhóm quyền trên mà thể hiện chúng một cách đan quyện, bổ sung nhau Trong Công ước, 4 nhóm quyền trẻ em được xác nhận rõ ràng gồm:

- Quyền được sống còn bao gồm quyền của trẻ em được sống và đáp

ứng những nhu cầu để tồn tại Các nhu cầu đó gồm mức sống đủ, có nơi ở, dinh dưỡng và chăm sóc sức khoẻ

- Quyền được phát triển gồm những thứ mà trẻ em cần có để phát triển

đầy đủ nhất Ví dụ như quyền giáo dục, vui chơi các hoạt động văn hoá, tiếp cận thông tin, tự do tín ngưỡng, tín ngưỡng tôn giáo

- Quyền được bảo vệ đòi hỏi trẻ em phải được bảo vệ chống tất cả các

hình thức lạm dụng, sao nhãng và bóc lột Các quyền này bao gồm những vấn

đề như bảo vệ đặc biệt cho trẻ em khỏi nạn tra tấn, lạm dụng trong hệ thống tư

Trang 36

pháp hình sự, tham gia vào xung đột vũ trang, lao động trẻ em, lạm dụng ma tuý và bóc lột tình dục

- Quyền được tham gia cho phép trẻ em đóng một vai trò tích cực trong

cộng đồng và đất nước của các em Các quyền này bao gồm sự tự do diễn đạt, bày tỏ quan điểm và ý kiến, được phát biểu trong những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của các em, được tham gia hội đoàn và tụ họp mang tính hoà bình Do ngày càng phát triển, trẻ em có nhiều cơ hội hơn nữa để tham gia vào các hoạt động xã hội, chuẩn bị cho cuộc sống sau này

Công ước thể hiện và khẳng định những quyền con người nói chung dù

là trẻ em, người lớn hay bất cứ lứa tuổi nào cũng được hưởng là có họ tên và quốc tịch, học tập hưởng an toàn xã hội, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên các quyền trẻ em trong Công ước được xác định là nhằm nâng cao hay bổ sung thêm vào quyền con người nói chung đã được công nhận, có xem xét đến nhu cầu đặc thù của trẻ em Vì vậy, nguyên tắc bao trùm trong Công ước là: Trẻ

em có quyền được chăm sóc, bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt do còn non nớt về thể chất và trí tuệ

* Các quyền trẻ em được xây dựng trên cơ sở tôn trọng phẩm giá cá nhân và quyền con người, chăm sóc, giúp đỡ đặc biệt với trẻ em, bảo vệ gia đình - nhóm xã hội và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và cuộc sống hạnh phúc của trẻ em, sự quan tâm hàng đầu đến những lợi ích tốt nhất của trẻ

em, vai trò hàng đầu của các truyền thống giá trị văn hoá trong việc bảo vệ và phát triển của trẻ em, vai trò của hợp tác quốc tế trong việc cải thiện đời sống của trẻ em

* Công ước về quyền trẻ em đã đưa ra một định nghĩa về quyền trẻ em cho tất cả các nước trên thế giới mà không phân biệt hệ thống chính trị, truyền thống văn hoá, tín ngưỡng và tập tục xã hội Công ước đưa ra một tập hợp các chuẩn mực được tất cả mọi người, mọi quốc gia chấp nhận về phúc lợi của trẻ

em và tạo ra một khung pháp lý mà qua đó các xã hội có thể đánh giá được sự tiến bộ của mình trong việc bảo vệ, sống còn, phát triển và tham gia của trẻ em

* Lần đầu tiên trong một Công ước quốc tế đề cập đến những trẻ em cần được bảo vệ đó là những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như trẻ

Trang 37

em tàn tật, trẻ em mại dâm, trẻ em trong chiến tranh và xung đột vũ trang Các thách thức hay những vấn đề cấp bách mà trẻ em đang gặp phải (lao động cưỡng bức, đại dịch HIV/AIDS, giết hại, mất tích, giam giữ, bắt vào lính, bóc lột tình dục, buôn bán trẻ em, nghiện hút ) đều được Công ước chú ý đặc biệt

* Công ước đi xa hơn bất kỳ văn kiện quốc tế về quyền con người nào trước đây Lần đầu tiên, nó đã gắn các quyền dân sự và chính trị với các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá Việc thông qua Công ước thực sự đã cách mạng hoá địa vị của trẻ em trên thế giới và chính bản thân Công ước là sự công bố

lý tưởng mà cho đến nay ít nước nếu không nói là chưa nước nào thực hiện được Song có nhiều nước phê chuẩn Công ước và bắt đầu đưa những nội dung Công ước vào pháp luật nước mình và quan tâm đến việc đảm bảo sự thi hành Công ước thì dần dần nó sẽ trở thành tiêu chuẩn cho tất cả các nước Trên thực tế ở nhiều nước, Công ước là cơ sở cho những bộ luật về trẻ em sắp

ra đời

* Công ước là một công cụ hữu hiệu cho các định hướng các tổ chức quốc tế và các nước cấp viện trợ sao cho đúng hướng, tích cực và đúng đối tượng Đây không còn là vấn đề nhân đạo hay từ thiện mà là trách nhiệm mang tính pháp lý Chính vì vậy, nhiều tổ chức quốc tế đã quyết định sử dụng Công ước làm cơ sở hay cương lĩnh hành động

* Tuy nhiên, cũng không thể coi Công ước về quyền trẻ em là một sản phẩm hoàn chỉnh trọn vẹn mà đây là sự khởi đầu quan trọng trong sự nghiệp phấn đấu thực hiện đầy đủ các quyền của trẻ em trên toàn thế giới để sao cho tất cả trẻ em được thực sự sống trong hạnh phúc, bình đẳng và phát triển Việc phê chuẩn chỉ là bước đầu trong một quá trình phức tạp nhằm biến những cam kết thành thực tế Khi một quốc gia phê chuẩn Công ước thì phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết là sẽ thông qua các văn bản pháp luật mới và sửa đổi những văn bản pháp luật hiện hành cho nhất quán với các quyền đã được quy định trong Công ước Nhiều nước đã tiến hành những bước như vậy trong việc bảo vệ, phát triển và tham gia của trẻ em

Trang 38

Luật BV, CS & GD trẻ em được xây dựng vào lúc Công ước quốc tế về quyền trẻ em vừa ban hành (9/1990) và Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới, nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn Công ước, Luật vừa thể hiện được đầy đủ tinh thần và nội dung của Công ước vừa phù hợp với điều kiện của Việt Nam, thể hiện được đầy đủ những quan điểm, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước ta

về trẻ em

Luật đã thể hiện được những nguyên tắc rất cơ bản, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam, đó là:

- Vì sự phát triển toàn diện của trẻ em

- Tính bình đẳng, nhân đạo đối với trẻ em

- Tính khả thi các quyền cơ bản của trẻ em

- Khuyến khích mọi việc làm có lợi cho sự nghiệp vì trẻ em

- Nghiêm cấm, nghiêm trị mọi hành vi xâm phạm các quyền của trẻ em

- Không trái với Công ước quốc tế về quyền trẻ em và thể hiện tối đa trong luật tinh thần và nội dung Công ước

Từ 6 nguyên tắc trên đây, Luật BV, CS & GD trẻ em đã quy định 6 nhóm quyền cơ bản của trẻ em, đó là:

- Quyền được khai sinh và có quốc tịch (Điều 5)

- Quyền được chăm sóc, nuôi dạy (Điều 6)

- Quyền được sống chung với cha mẹ (Điều 7)

- Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh

dự (Điều 9)

- Quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ (Điều 9)

- Quyền được có tài sản, quyền thừa kế, quyền hưởng các chế độ bảo hiểm (Điều 12)

Luật BV, CS & GD trẻ em đã thể hiện tương đối đầy đủ tinh thần, nội dung Công ước quốc tế về quyền trẻ em, quy định đầy đủ các quyền của trẻ

em về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Riêng các quyền ghi trong Công ước, tại các Điều 15, 17, 22, 28, 32, 36, 37, 38, 40 thì ngoài những quy định mang tính nguyên tắc trong Luật BV, CS & GD trẻ em, còn được quy

Trang 39

định cụ thể trong Luật quốc tịch Việt Nam, Luật phổ cập giáo dục tiểu học, Luật nghĩa vụ quân sự, Luật hôn nhân gia đình, Bộ luật dân sự và trong các chương vị thành niên của Bộ luật lao động, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự

Nếu gộp 26 điều quy định trong Luật BV, CS & GD trẻ em với trên 150 điều quy định trong Hiến pháp, các bộ luật, luật, pháp lệnh của Nhà nước ta có liên quan đến trẻ em thì luật pháp Việt Nam đã quy định đầy đủ các quyền trẻ

em trên quan điểm rất nhân đạo và tiến bộ

Tuy nhiên, qua đợt kiểm điểm, đánh giá 10 năm thi hành Luật cũng thấy được những nhược điểm và tồn tại trong việc thi hành Luật và xây dựng văn bản pháp luật Nhiều ý kiến cho rằng Luật BV, CS & GD trẻ em còn dừng lại với việc khẳng định các quyền và bổn phận cơ bản của trẻ em, nhiều quy định của Luật còn mang tính nguyên tắc, định hướng chung, cô đọng, thiếu cụ thể; trong khi các luật có liên quan (hình sự, dân sự, lao động, hôn nhân gia đình ) lại chưa quy định đầy đủ hoặc quy định thiếu đồng bộ đối với các vấn đề liên quan đến trẻ em, thiếu các văn bản quy định cụ thể chi tiết để thi hành những điều khoản còn vướng mắc trong khi thực hiện đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả việc thi hành Luật

Những vấn đề nổi lên trong thực tiễn việc thi hành Luật được nhiều người quan tâm như vấn đề viện phí trong việc khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tháng tuổi, vấn đề học phí của học sinh tiểu học, vấn đề sử dụng lao động trẻ em, các tệ nạn xã hội mà trẻ em phải gánh chịu như mại dâm, hiếp dâm, ma tuý, buôn bán trẻ em, bóc lột sức lao động và những hành vi ngược đãi trẻ em, trẻ em lang thang không nơi nương tựa

Trang 40

1 Sơ lược về vị trí, kinh tế, chính trị và xã hội của Thủ đô

Hà Nội - Thủ đô của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là trung tâm đầu não về chính trị, văn hoá và khoa học kỹ thuật, đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế và giao lưu quốc tế của cả nước thuộc đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp

5 tỉnh: phía Bắc giáp Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thái Nguyên; phía Đông giáp Hưng Yên; phía Nam giáp Hà Nam và phía Tây giáp Hà Tây Hà Nội có diện tích đất tự nhiên 927,39km2

(chiếm 0,28% diện tích cả nước) Hà Nội có vị trí địa lý rất quan trọng và là đầu mối giao thông dễ dàng đi đến tất cả các địa phương trong cả nước bằng đường bộ, đường thuỷ, đường sắt và đường hàng không

Dân số trung bình Hà Nội theo Tổng điều tra dân số đến 1/4/1999 là 2,688 triệu người, trong đó dân số thành thị 1,548 triệu người (chiếm 57,58%); dân số nông thôn là 1,140 triệu người (chiếm 42,42%) Thành phố Hà Nội có mật độ dân số đông nhất khu vực phía Bắc, đứng thứ hai so với cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh và ngày càng tăng Mật độ dân số bình quân trên một

km2 năm 1990 là 2.223 người thì đến năm 1999 là 2.952 người (tăng 729 người/km2) Đặc biệt, mấy năm gần đây trong khu vực nội thành mật độ dân số tăng rất nhanh: năm 1997 là 15.857 người/km2

đến năm 1999 là 17.207 người/km2

(tăng 1.350 người/km2) Tỷ lệ tăng dân số 1989-1999 là 2,75%/năm Những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá nhanh cùng với trình độ phát triển kinh tế - xã hội Nếu 1990, toàn thành phố chỉ có 220 xã/phường (128 xã, 84 phường và 08 thị trấn), thì đến năm 1999 đã lên đến 228 xã/phường (118 xã,

102 phường và 08 thị trấn) Khu vực nội thành, nội thị cũng đã phát triển và mở rộng ra cả các huyện ven thị Năm 1990 khu vực nội thành chỉ gồm có 4 quận là

Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa và Hai Bà Trưng; từ năm 1995 đến nay, Hà Nội

đã thành lập thêm 3 quận nội thành là Tây Hồ, Thanh Xuân và Cầu Giấy

Ngày đăng: 23/03/2015, 12:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam - Một số Văn kiện Đảng và Nhà nước về BV, CS & GD trẻ em - Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số Văn kiện Đảng và Nhà nước về BV, CS & GD trẻ em
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1996
5. Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam - Báo cáo số 16/BC- BVCSTE ngày 1 tháng 6 năm 2002 về báo cáo kiểm điểm đánh giá 10 năm thi hành Luật BV, CS & GD trẻ em (1991-2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 16/BC-BVCSTE ngày 1 tháng 6 năm 2002 về báo cáo kiểm điểm đánh giá 10 năm thi hành Luật BV, CS & GD trẻ em
6. Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, Viện nghiên cứu Thanh niên - Kỷ yếu Hội thảo khoa học - Mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em, thực trạng và giải pháp - Hà Nội 11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em, thực trạng và giải pháp
7. Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, Viện Khoa học Giáo dục - Kỷ yếu Hội thảo khoa học - Cơ sở khoa học và thực tiễn để quy định độ tuổi trẻ em trong Luật BV, CS & GD trẻ em - Hà Nội 9/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và thực tiễn để quy định độ tuổi trẻ em trong Luật BV, CS & GD trẻ em
8. Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, các Bộ, Ngành, Đoàn thể xã hội - Kỷ yếu Hội thảo khoa học - Cơ chế chính sách để thực hiện trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với công tác BV, CS & GD trẻ em - Hà Nội 12/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế chính sách để thực hiện trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với công tác BV, CS & GD trẻ em
9. Bộ Tƣ pháp, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, và một số bộ ngành liên quan - Kỷ yếu Hội thảo khoa học - Vấn đề chế tài để xử lý các hành vi vi phạm quyền trẻ em trong việc xử lý đối với trẻ em vi phạm pháp luật. Trách nhiệm của gia đình, xã hội trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học - Vấn đề chế tài để xử lý các hành vi vi phạm quyền trẻ em trong việc xử lý đối với trẻ em vi phạm pháp luật. Trách nhiệm của gia đình, xã hội trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em
Tác giả: Bộ Tƣ pháp, Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam, một số bộ ngành liên quan
10. PGS.TS Đặng Cảnh Khanh - Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn - Nxb Thanh Niên, hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn -
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
12. UBND Thành phố Hà Nội - số 38/BC-UB ngày 28 tháng 7 năm 2001 - Báo cáo kết quả thực hiện chương trình hành động vì trẻ em TP Hà Nội (1999-2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện chương trình hành động vì trẻ em TP Hà Nội
13. Uỷ ban Dân số, gia đình và trẻ em Hà Nội - Báo cáo việc thực hiện quyền trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội - Hà Nội ngày 12 tháng 11 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo việc thực hiện quyền trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội
14. Uỷ ban BV, CS trẻ em quận Ba Đình - Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2000 và phương hướng công tác năm 2001 - Hà Nội, ngày 11 tháng11 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2000 và phương hướng công tác năm 2001
15. Uỷ ban BV, CS trẻ em quận Đống Đa - Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2000 và phương hướng công tác năm 2001 - Hà Nội, ngày 23 tháng11 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2000 và phương hướng công tác năm 2001
16. Uỷ ban BV, CS trẻ em quận Thanh Xuân - Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2000 và phương hướng công tác năm 2001 - Hà Nội, ngày 10 tháng11 năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2000 và phương hướng công tác năm 2001
20. Nhà trường cho chúng cháu hiểu biết về quyền và bổn phận của trẻ em - Phan Đức Toàn, Phường Thành Công, Quận Ba Đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà trường cho chúng cháu hiểu biết về quyền và bổn phận của trẻ em
Tác giả: Phan Đức Toàn
21. Đại hội đồng Liên Hợp quốc - Chúng em là trẻ em - xem xét các hoạt động tiếp theo Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới vì trẻ em - Báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng em là trẻ em - xem xét các hoạt động tiếp theo Hội nghị thƣợng đỉnh thế giới vì trẻ em
Tác giả: Đại hội đồng Liên Hợp quốc
2. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX - Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội 2001 Khác
3. Chỉ thị 55/CT-TW ngày 28 tháng 6 năm 2000 về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng ở cơ sở đối với công tác BV, CS & GD trẻ em Khác
11. UBND Thành phố Hà Nội - Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chương trình hành động vì trẻ em Hà Nội giai đoạn 1991 - 2000 Khác
17. Thực tế các hoạt động của cấp phường trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em - Uỷ ban bảo vệ, chăm sóc trẻ em phường Giảng Võ, Quận Ba Đình - Hà Nội ngày 12 tháng 11 năm 2001 Khác
18. Thực hiện quyền trẻ em ở cụm dân cƣ - Báo cáo của Uỷ ban bảo vệ, chăm sóc trẻ em phường Kim Giang, Quận Thanh Xuân Khác
19. Gia đình với việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em - Bùi Thị Xuân Danh - Phường Ô Chợ Dừa, Quận Đống Đa Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng quy ƣớc các từ viết tắt  8 - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng quy ƣớc các từ viết tắt 8 (Trang 2)
BẢNG QUY ƢỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
BẢNG QUY ƢỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT (Trang 5)
Bảng 2: Tình hình trẻ em Hà Nội (Chía theo nhóm tuổi) - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2 Tình hình trẻ em Hà Nội (Chía theo nhóm tuổi) (Trang 43)
Bảng 6: "Thực trạng học sinh THCS biết về Công ước LHQ về quyền  trẻ em". Số liệu tổng số và phân theo giới - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 6 "Thực trạng học sinh THCS biết về Công ước LHQ về quyền trẻ em". Số liệu tổng số và phân theo giới (Trang 54)
Bảng 7: Tình hình nhận biết của học sinh về "Công ước của LHQ về quyền  trẻ em - Phân theo lớp học và địa bàn" - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 7 Tình hình nhận biết của học sinh về "Công ước của LHQ về quyền trẻ em - Phân theo lớp học và địa bàn" (Trang 56)
Bảng 10: Tình hình nhận biết về Luật Bảo vệ và giáo dục trẻ em của   học sinh các khối lớp về nội, ngoại thành thành phố - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 10 Tình hình nhận biết về Luật Bảo vệ và giáo dục trẻ em của học sinh các khối lớp về nội, ngoại thành thành phố (Trang 58)
Bảng 11: Nhận thức của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến  quyền được sống của trẻ em - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 11 Nhận thức của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến quyền được sống của trẻ em (Trang 62)
Bảng 12: Nhận thức của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến  quyền được vui chơi, giải trí của trẻ em - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 12 Nhận thức của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến quyền được vui chơi, giải trí của trẻ em (Trang 63)
Bảng 13: Đánh giá của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến quyền  học tập của trẻ em - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 13 Đánh giá của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến quyền học tập của trẻ em (Trang 65)
Bảng trên cho thấy khối lớp 6, khối lớp 8 và khối lớp 9 đánh giá cao sự  quan tâm của địa phương đến quyền học tập của trẻ em - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng tr ên cho thấy khối lớp 6, khối lớp 8 và khối lớp 9 đánh giá cao sự quan tâm của địa phương đến quyền học tập của trẻ em (Trang 66)
Bảng 15: Đánh giá của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến quyền được  bảo vệ, chăm sóc và phát triển của trẻ em (tương quan giới tính và địa bàn) - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 15 Đánh giá của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến quyền được bảo vệ, chăm sóc và phát triển của trẻ em (tương quan giới tính và địa bàn) (Trang 67)
Bảng 16: Đánh giá của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến quyền  được tham gia và quyền được đối xử bình đẳng của trẻ em - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 16 Đánh giá của học sinh về sự quan tâm của địa phương đến quyền được tham gia và quyền được đối xử bình đẳng của trẻ em (Trang 70)
Bảng 17: Nhận thức về tình huống: "Em viết nhật ký, viết thư cho bạn,   bố mẹ yêu cầu kiểm tra" có vi phạm quyền trẻ em không? - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 17 Nhận thức về tình huống: "Em viết nhật ký, viết thư cho bạn, bố mẹ yêu cầu kiểm tra" có vi phạm quyền trẻ em không? (Trang 73)
Bảng 19: Nhận thức về vi phạm quyền được tham gia của trẻ trong tình  huống "Em thích tham gia các hoạt động Đội nhưng bố em không đồng ý" - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 19 Nhận thức về vi phạm quyền được tham gia của trẻ trong tình huống "Em thích tham gia các hoạt động Đội nhưng bố em không đồng ý" (Trang 76)
Bảng 21: Nhận thức về quyền được tham gia của học sinh (tương quan chức vụ đội) - thực trạng nhận thức của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội về quyền và bổn phận của trẻ em trong giai đoạn hiện nay
Bảng 21 Nhận thức về quyền được tham gia của học sinh (tương quan chức vụ đội) (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w