Xuất phát từ nhu cầu vừa cấp bách vừa chiến lược của vấn đề giải quyết việc làm cho người dân sau tái định cư ở các vùng kinh tế trọng điểm, các khu chế xuất, các khu công nghiệp...nói c
Trang 1- o0o -
TRẦN ĐÔNG Y
TRỰC TRẠNG LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM
CỦA NGƯỜI DÂN SAU TÁI ĐỊNH CƯ
(Nghiển cứu trường hợp tại Khu kinh tế Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi)
Trang 2PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
2.1 Ý nghĩa khoa học 2
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1 Mục đích nghiên cứu 3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Khách thể nghiên cứu 4
4.3 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Phương pháp luận 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 7
6.1 Giả thuyết nghiên cứu 7
6.2 Sơ đồ khung lý thuyết 8
7 Kết cấu luận văn 9
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 10
1.2 Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài 13
1.2.3 Các quan điểm về tái định cư và lao động - việc làm 18
1.3 Một số khái niệm 22
1.3.1 Khái niệm lao động 22
Trang 31.3.3 Khái niệm tái định cư 25
ơ Chương 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN SAU TÁI ĐỊNH CƯ 2.1 Quá trình hình thành và phát triển Khu kinh tế Dung Quất 28
2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên Khu kinh tế Dung Quất 28
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển Khu kinh tế Dung Quất 30
2.1.3 Tình hình Kinh tế - xã hội các xã Khu kinh tế Dung Quất 36
2.1.4 Tình hình tái định cư tại Khu kinh tế Dung Quất 39
2.2 Thực trạng lao động - việc làm của người dân sau tái định cư 42
2.2.1 Cơ cấu tuổi của người dân tại khu tái định cư 42
2.2.2 Giới tính của người dân tại khu tái định cư 43
2.2.3 Trình độ học vấn của người dân tại khu tái định cư 44
2.2.4 Trình độ chuyên môn của người dân tại vùng tái định cư 47
2.2.5 Việc làm phân theo trình độ chuyên môn 48
2.2.6 Việc làm phân theo tuổi 50
2.2.7 Việc làm phân theo lĩnh vực ngành nghề 53
2.2.8 Việc làm trước và sau tái định cư 54
2.3 Thực trạng đời sống kinh tế-xã hội của người dân khu tái định cư 58
2.3.1 Thu nhập các hộ sau tái định cư 58
2.3.2 Phương tiện, đồ dùng chủ yếu 60
2.3.3 Nhà ở của các hộ sau tái định cư 62
2.3.4 Sức khoẻ của các hộ dân sau tái định cư 63
2.3.5 Môi trường 65
2.4 Quan điểm của người dân sau tái định cư 69
Trang 4NGƯỜI DÂN SAU TÁI ĐỊNH CƯ TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT GIAI ĐOẠN
2010 – 2015
3.1 Tập trung đào tạo nghề để chuyển đổi việc làm cho người dân sau tái định cư
73
3.2 Phát triển kinh tế tạo việc làm cho người lao động sau tái định cư 76
3.2.1 Đẩy mạnh thực hiện các mô hình khuyến nông 76
3.2.2 Giải pháp phát triển thủy sản 78
3.2.3 Đẩy mạnh phát triển Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp gắn với phát triển Thương mại – dịch vụ 79
3.2.4 Đẩy mạnh phát triển Thương mại - dịch vụ 81
3.3 Tăng cường công tác tư vấn, giới thiệu việc làm 83
3.4 Xây dựng đồng bộ các chính sách, cơ chế hỗ trợ người dân sau tái định cư 85 PHẦN III: KẾT LUẬN - KHUYẾN NGHỊ 1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 93
Trang 5BVTV : Bảo vệ thực vật
CNH – HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
DNFDI : Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức
TM-DV-DL : Thương mại-Dịch vụ-Du lịch
TTTTLĐ : Thông tin thị trường lao động
TM-DV-DL : Thương mại-Dịch vụ-Du lịch
TTTTLĐ : Thông tin thị trường lao động
WCED : Uỷ ban Thế giới về Môi trường và Phát triển
Trang 6Bảng 1: Bảng tổng hợp các hộ được điều tra 6
Bảng 2: Tổng hợp tình hình tái định cư 41
Bảng 3: Tuổi của thành viên hộ 42
Bảng 4: Tương quan giới và tuổi thành viên hộ 44
Bảng 5: Trình độ học vấn với giới tính 46
Bảng 6: Giới tính theo trình độ chuyên môn 48
Bảng 7: Việc làm hiện nay theo trình độ chuyên môn 49
Bảng 8: Việc làm trước đây phân theo tuổi 51
Bảng 9: Việc làm hiện nay phân theo tuổi 52
Bảng 10: Việc làm hiện nay theo lĩnh vực 53
Bảng 11: Việc làm trước tái định cư 54
Bảng 12: Việc làm sau tái định cư 55
Bảng 13: Thu nhập bình quân hàng tháng của gia đình 59
Bảng 14: Tổng hợp phương tiện đồ dùng của các hộ sau tái định cư 61
Bảng 15: Nhà ở trước và sau tái định cư 62
Bảng 16: Quan điểm về sức khỏe 64
Bảng 17: Yếu tố ảnh hưởng đến môi trường 66
Bảng 18: Thái độ của người dân sau tái định cư 70
Trang 7Biểu đồ 1: Giới tính thành viên hộ 43
Biểu đồ 2: Trình độ học vấn của các thành viên hộ 45
Biểu đồ 3: Trình độ chuyên môn của thành viên hộ 47
Biểu đồ 4: Nghề nghiệp trước và sau tái định cư 56
Biểu đồ 5: Nơi khám bệnh 64
Biểu đồ 6: Nước thải 66
Trang 8PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta trãi qua hơn 20 năm đổi mới, sự chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang từng bước phát triển toàn diện Đặc biệt, từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO); nền kinh tế ngày càng chủ động hội nhập với nền kinh tế thế giới Đây là cơ hội cho những đối tác ở nước ngoài hợp tác đầu tư vào Việt Nam Để đáp ứng nhu cầu giải phớng mặt bằng cho sự phát triển các khu công nghiệp thì vấn đề di dân và tái định cư, đặc biệt về lao động - việc làm của người dân sau tái định cư là vấn đề vẫn còn bất cập
Đây là một trong những vấn đề lớn mà Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, bởi lẽ trong quá trình chủ động hội nhập với nền kinh tế quốc tế, kinh
tế khu vực, có nhiều địa phương đã và đang chuyển giao ruộng đất cho các khu công nghiệp, các khu kinh tế Điều này, đã và đang tạo sự chuyển đổi
về cơ cấu kinh tế, về kết cấu hạ tầng và đời sống của nhân dân ở khắp các vùng, miền trong cả nước, trước hết là các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng nằm trong các khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghiệp Đồng thời, với những chuyển biến tích cực đó, đã nãy sinh nhiều vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề di dân tái định cư và giải quyết việc làm sau tái định cư tại các khu kinh tế Khu kinh tế Dung Quất là một trong những khu kinh tế trọng điểm của miền Trung cũng nằm trong những điều kiện chung đó Khu kinh tế Dung Quất nằm trên địa bàn 06 xã: Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình Đông, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải và một phần diện tích đất của các xã: Bình Hòa, Bình Phước, Bình Phú của huyện Bình Sơn với tổng diện tích quy hoạch 10.300ha, chiếm trên 22% diện tích toàn huyện; dân số trong vùng quy hoạch (điều tra đến ngày 30/9/2007) có 55.346 người với 13.853 hộ (chiếm 30,74% so với dân số toàn huyện)
Trang 9Thực tế quá trình xây dựng và phát triển Khu kinh tế Dung Quất trong thời gian qua, đã có hơn nghìn hộ dân cư sở tại bị thu hồi đất sản xuất, đất ở
để giải phóng mặt bằng thi công các công trình, các dự án; đó là quá trình
di dân - tái định cư, sau tái định cư đã nảy sinh các nhóm đối tượng khác nhau: Có nhóm người đời sống khá hơn nơi ở cũ, nhưng cũng có nhóm người không có việc làm, đời sống khó khăn hơn Đây là vấn đề cần được nghiên cứu thấu đáo để có giải pháp thích hợp
Khu kinh tế Dung Quất (KKTDQ) đang trong giai đoạn tăng tốc đầu tư,
do đó tốc độ thu hồi đất sẽ diễn ra ngày càng nhanh, đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết, nhất là vấn đề lao động - việc làm của người dân sau tái định cư Xuất phát từ nhu cầu vừa cấp bách vừa chiến lược của vấn đề giải quyết việc làm cho người dân sau tái định cư ở các vùng kinh tế trọng điểm, các khu chế xuất, các khu công nghiệp nói chung, Khu kinh tế Dung Quất nói riêng, đòi hỏi phải có khảo sát, điều tra, nghiên cứu nhằm giải
quyết vấn đề một cách có căn cứ khoa học Vì lẽ đó, đề tài “Thực trạng lao
động - việc làm của người dân sau tái định cư” (Nghiên cứu trường hợp tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi) góp phần làm sáng tỏ thực
trạng lao động - việc làm và đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định đời sống kinh tế - xã hội cho người dân sau tái định cư
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu “Thực trạng lao động- việc làm của người dân sau tái định
cư” có nhiều cách tiếp cận và vận dụng các lý thuyết xã hội học khác nhau
Nhưng trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ tập trung phân tích một số quan điểm của lý thuyết cơ cấu - chức năng, lý thuyết phát triển, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta để luận giải, vận dụng vào nghiên cứu đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng lao động - việc làm của người dân sau tái định cư; những yếu tố tác động đến đời sống của những người sau tái định cư, đặc
Trang 10biệt là về vấn đề lao động - việc làm của họ sau tái định cư Trên cơ sở đó, luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở khoa học cho việc xây dựng hệ thống phương pháp nghiên cứu về lao động - việc làm của những người dân sau tái định cư
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua nghiên cứu trường hợp tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi, luận văn sẽ góp phần làm rõ thực trạng về lao động - việc làm của những người dân sau tái định cư.Từ thực trạng cụ thể đó, luận văn đề xuất những giải pháp và khuyến nghị có tính khả thi nhằm giải quyết những bất cập hiện nay, những bức xúc của người dân sau tái định cư trong quá trình hình thành và phát triển Khu Kinh tế Dung Quất Đồng thời, có thể vận dụng đối với quá trình thực hiện di dân - tái định cư của các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất khác có điều kiện tương tự
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng lao động - việc làm của những người dân sau tái định
cư, trường hợp tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
Tìm hiểu những nhân tố tác động đến lao động - việc làm của những hộ dân tại địa bàn nghiên cứu theo các hướng tích cực và tiêu cực
Đề xuất một số giải pháp nhằm tạo cơ hội cho những người lao động có việc làm, tăng thu nhập để đời sống của người dân sau tái định cư được bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý thuyết và phương pháp cho việc nghiên cứu về lao động-việc làm của những người dân sau tái định cư để vận dụng
Trang 11- Xây dựng các khái niệm công cụ phục vụ đề tài như: Lao động, việc làm, tái định cư
- Khảo sát, điều tra, thu thập, phân tích số liệu có liên quan đến lao động - việc làm và đời sống kinh tế - xã hội của các hộ thuộc diện di dời và sau tái định cư (thông qua nghiên cứu trường hợp tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi)
- Đánh giá thực trạng, phân tích những nguyên nhân và các nhân tố căn bản tác động đến lao động - việc làm của cư dân tại KKTDQ sau tái định cư
- Nghiên cứu chính sách, cơ chế hiện hành đối với người dân sau tái định cư trong quá trình phát triển Khu kinh tế để có cơ sở đề xuất giải pháp hữu hiệu
4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng lao động - việc làm của người dân sau tái định cư tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài “Thực trạng lao động - việc làm của người dân sau tái định cư”
có phạm vi rất rộng, với nhiều cách tiếp cận, nhiều nội dung và cả thời
Trang 12gian, không gian nghiên cứu Trong điều kiện hạn hẹp về thời gian, kinh phí và tài liệu nên luận văn xin được giớí hạn:
Về thời gian: Nghiên cứu về lao động - việc làm của người dân sau tái định cư tại KKTDQ từ năm 2000 đến nay, chủ yếu tập trung trong những năm gần đây
Về không gian: Địa bàn nghiên cứu về lao động - việc làm của người dân sau tái định cư tại Khu kinh tế Dung Quất, gồm các xã: Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình Đông, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định mọi
sự vật và hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến và chúng luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng Tác giả vận dụng các quan điểm này để làm cơ sở cho việc xem xét, giải thích các sự kiện xã hội trong mối quan hệ biện chứng và trong quá trình phát triển của lịch sử Tác giả rút ra quan điểm toàn diện về lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển để xem xét và phân tích nội dung nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở quán triệt phương pháp luận chung đó, đề tài chủ yếu dựa trên hướng tiếp cận lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết phát triển và sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành trong quá trình thực hiện
đề tài luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Phân tích số liệu thống kê, các bài viết, công trình trước đây có liên quan đến đề tài nghiên cứu; tham khảo và phân tích các văn bản luật, các
Trang 13nghị định của chính phủ, các quyết định của tỉnh có liên quan đến tái định
cư Ngoài ra, còn thu thập số liệu từ các báo cáo chính thức của cấp xã, huyện và tỉnh cũng như thu thập tư liệu tại các bộ, ngành có chức năng quản lý nhà nước liên quan đến việc tái định cư, lao động - việc làm sau tái định cư
5.2.2 Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung
Thông tin được thu thập trực tiếp trên địa bàn nghiên cứu thông qua 7 lần thảo luận nhóm tập trung (1 xã thảo luận nhóm tập trung 1 lần và 1 lần thảo luận với cán bộ quản lý các cấp) và phỏng vấn sâu 24 cá nhân (chủ hộ gia đình, đại diện hộ gia đình, cán bộ làm công tác về tái định cư, cán bộ quản lý xã, huyện, tỉnh) nhằm thu thập các thông tin định tính
5.2.3 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Hiện tại, có 17 khu tái định cư (xem bảng 2 Tổng hợp tình hình tái định cư) có 789 hộ dân đã di dời đến nơi ở mới, nhưng do điều kiện khó khăn về kinh phí cũng như về mặt thời gian nên tác giả chỉ chọn 300 phiếu khảo sát phân bổ đủ khắp các khu tái định cư tại 6 xã của địa bàn nghiên cứu Cụ thể trong bảng 1 dưới đây:
Bảng 1: Bảng tổng hợp các hộ được điều tra
Trang 14Bảng hỏi được thiết kế sẵn với 22 câu hỏi chứa đựng các nội dung
thông tin cần thu thập phục vụ mục đích nghiên cứu (Xem phụ lục 1)
5.2.4 Xử lý số liệu
Công cụ phân tích và xử lý số liệu là phần mềm SPSS 11.5
6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
6.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Những người dân sau tái định cư thường thiếu việc làm, nhất là nhóm người không có trình độ chuyên môn
- Điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng khu tái định cư tác động trực tiếp đến lao động - viêc làm của người dân sau tái định cư
- Chính sách, cơ chế về tái định cư chưa đảm bảo cho cuộc sống của người dân sau tái định cư bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ
Trang 156.2 Sơ đồ khung lý thuyết
Quá trình phát triển Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
Giải pháp
LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN SAU TÁI ĐỊNH
CƯ
Trang 167 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 phần chính Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chia làm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Nội dung của chương nêu tổng quan vấn đề nghiên cứu; cơ sở lý thuyết được vận dụng trong nghiên cứu thực hiện luận văn; xác định một số khái niệm công cụ cơ bản + Chương 2: Thực trạng lao động - việc làm của người dân sau tái định
cư Chương này trình bày tóm tắt quá trình hình thành và phát triển Khu kinh tế Dung Quất; tập trung phân tích thực trạng lao động - việc làm; làm
rõ thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của người dân sau tái định cư
+ Chương 3: Nghiên cứu đề xuất những giải pháp cơ bản về lao động - việc làm nhằm ổn định đời sống của người dân sau tái định cư giai đoạn
2010 - 2015
Trang 17PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của đất nước, việc triển khai thực hiện phát triển các khu công nghiệp với sự đầu tư ở trong nước cũng như các đối tác nước ngoài Cùng với sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp là quá trình di dân, tái định cư trở thành vấn
đề được quan tâm của các cấp, các ngành Trên thực tế các nhà khoa học đã vào cuộc nhằm tìm ra giải pháp tối ưu để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và hành lang pháp lý thông thoáng cho các nhà đầu tư cũng như những người dân có đất giao nộp cho Nhà nước xây dựng các khu công nghiệp và
hạ tầng cơ sở Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu cũng như nhiều văn bản qui phạm pháp luật ra đời về vấn đề thu hồi đất, bồi thường, tạo việc làm và xây dựng các khu tái định cư cho nhân dân Trong đó, có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu như sau:
Chuyên đề nghiên cứu “Đánh giá thực trạng, hoàn thiện và cụ thể hoá chính sách bồi thường thiệt hại, hỗ trợ và tái định cư thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới Thủ Thiêm” (Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh-2005) Dự án này đã chuẩn bị trong nhiều năm nhưng vẫn không đi vào xây dựng được, lý do là còn nhiều vướng mắt ở khâu thu hồi đất và giải phóng mặt bằng Chính vì lý do đó, Viện kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành một cuộc đánh giá tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất khuyến nghị phù hợp, để thúc đẩy tiến độ thực hiện việc bồi thường, cơ bản phải hoàn thành trong quý III/2006, đồng thời đảm bảo ổn định đời sống cho các hộ di dời
Sách “Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn” của TS Phạm Mộng Hoa và TS Lâm Mai Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội-2000 Công trình này, các tác giả tập trung vào nội dung các nghị định,
Trang 18thông tư quy định về mặt pháp lý đối với việc thu hồi đất và tái định cư, trách nhiệm của Nhà nước đối với những người bị giải toả, đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết trong quá trình thực hiện
Trong “Cẩm nang về tái định cư, hướng dẫn thực hành” (Ngân hàng Phát triển Châu Á, 1995) nêu rõ các vấn đề về tái định cư bắt buộc, chính sách bồi thường, hỗ trợ và chương trình phục hồi cuộc sống đã được đề cặp
và hướng dẫn thực hiện
“Di dân trong nước: Những khuyến nghị về chính sách di dân ở Việt Nam” Hội thảo Quốc tế - Hà Nội, ngày 06-08/5/1998 Mục tiêu của cuộc Hội thảo này nhằm tăng cường sự tham gia rộng rãi của các nhà nghiên cứu
và các nhà hoạch định chính sách di dân trong nước và nước ngoài trao đổi kinh nghiệm về những vấn đề nghiên cứu và tổ chức thực hiện có liên quan đến di dân nhằm giúp cho chính phủ Việt Nam hoàn thiện về chính sách di dân
Sách “Chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” (1997) của tác giả Nguyễn Hữu Dũng Ông đã đưa ra những giải pháp mang tính chiến lược quốc gia nhằm giải quyết việc làm cho người lao động , ông nhấn mạnh đến chính sách xã hội trong giải quyết việc làm
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2002 do PGS.TS Nguyễn Quốc Tế chủ biên “Phân bổ và xử dụng nguồn lao động theo vùng và vấn
đề giải quyết việc làm trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường ở Việt Nam” Dưới giác độ tiếp cận kinh tế học, các tác giả đề xuất việc phân
bổ lao động, sử dụng lao động theo vùng lãnh thổ và những biện pháp kinh
tế nhằm giải quyết việc làm ở nước ta hiện nay
Sách “Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên” (2005) do TS Nguyễn Hữu Dũng chủ biên cùng nhóm tác giả bàn về mối quan hệ giữa thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên
và dự báo cung cầu lao động đến năm 2010
Trang 19Luận án Tiến sĩ “Di động xã hội trong cộng đồng khoa học”, tác giả Võ Tuấn Nhân, năm 2001, trường ĐHKHXH và NV, Đại học Quốc gia Hà Nội; lần đầu tiên nghiên cứu về di động xã hội trong cộng đồng khoa học, với phạm vi điều tra, khảo sát tại 3 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi Luận án đã nhận diện được thực trạng cơ cấu; động thái, xu hướng chủ yếu về di động xã hội của cộng đồng khoa học trong thời kỳ đổi mới; luận án làm rõ một số đặc điểm có tính quy luật về di động xã hội của cộng đồng khoa học Nhiều luận điểm, phương pháp trong luận án có thể vận dụng nghiên cứu về lao động - việc làm
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 2007 do TS Võ Tuấn Nhân chủ biên “Nhận diện thị trường tiêu thụ tại Khu kinh tế Dung Quất” đã nghiên cứu nhận diện Khu kinh tế Dung Quất dưới góc độ thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá mà Quảng Ngãi có thể đáp ứng Đồng thời, đề tài đã xác lập kế hoạch hoạt động sản xuất, thương mại để hướng vào phục vụ và khai thác có hiệu quả thị trường tiêu thụ tại Khu kinh tế Dung Quất Những giải pháp hữu hiệu mà đề tài đề xuất có ý nghĩa lớn cho việc giải quyết lao động - việc làm cho người dân sau tái định cư tại Khu kinh tế Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi
Luận án Tiến sĩ “Sự biến đổi cơ cấu lao động - việc làm ở nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, tác giả Lê Hải Thanh, năm
2006, trường ĐHKHXH và NV đã chứng minh sự biến đổi cơ cấu lao động
- việc làm của nông thôn ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh và tìm ra được nguyên nhân của sự biến đổi đó
Ngoài ra, còn rất nhiều văn bản pháp qui, nhiều bài báo, các cuộc Hội thảo có liên quan đến vấn đề di dân, tái định cư và cuộc sống của người dân
sau tái định cư Dưới giác độ xã hội học, tác giả chọn đề tài “Thực trạng
lao động- việc làm của người dân sau tái định cư” (Nghiên cứu trường hợp tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi) nhằm hướng tới việc
Trang 20nhận thức và lý giải những vấn đề liên quan đến lao động - việc làm của những người dân sau tái định cư, trong trường hợp cụ thể tại Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi
1.2 Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài
Có một số lý thuyết, quan điểm có thể giúp thiết lập cơ sở khoa học để nghiên cứu, phân tích lý giải, đánh giá, dự báo về lao động - việc làm trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Trong phạm vi giới hạn của luận văn, tác giả chỉ đề cặp đến một số lý thuyết, quan điểm có liên quan đến lao động - việc làm và tái định cư nhằm tìm ra hướng giải quyết cũng như đề xuất các giải pháp phù hợp để ổn định đời sống của những người dân sau tái định cư
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Lý thuyết cấu trúc - chức năng là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng rộng rãi trong các phân tích xã hội học Lý thuyết này nhấn mạnh đến những đóng góp chức năng của mỗi bộ phận trong xã hội để duy trì cấu trúc cũ; điều cơ bản là xã hội có tính trật tự và thống nhất; sự đồng tình, đoàn kết xã hội, cân bằng nội tại đảm bảo cho trật tự xã hội Lý thuyết này gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội học nổi tiếng như: H Spencer,
Cùng thời với Spencer, E Durkheim đã góp phần phát triển quan điểm
lý thuyết cấu trúc - chức năng Khi nghiên cứu vai trò của phân công lao động xã hội, Durkheim đã chứng minh rằng di cư và tích tụ dân cư, đô thị hoá và công nghiệp hoá đã làm tăng mật độ tiếp xúc, quan hệ và tương tác
Trang 21giữa các cá nhân, nhóm và tổ chức trong xã hội Mật độ tiếp xúc đó làm tăng mức độ cạnh tranh trong xã hội buộc các cá nhân muốn tồn tại phải
“đấu tranh”, cạnh tranh và chuyên môn hoá chức năng, nhiệm vụ Chuyên môn hoá chức năng xã hội càng cao thì các cá nhân, các nhóm xã hội càng tương tác với nhau nhiều và càng phụ thuộc lẫn nhau
Ngoài Spencer và E Durkheim ra còn có nhà xã hội học người Mỹ là T Parsons T Parsons chịu nhiều ảnh hưởng của các nhà nhân chủng học như: B.Malinowski, R Brow Ông đã nghiên cứu và xây dựng nên lý thuyết cơ cấu - chức năng, có ảnh hưởng rất lớn lúc bấy giờ Ông cho rằng, mọi quá trình nghiên cứu xã hội phải được xuất phát từ một khung lý thuyết chung nhất để có thể quy chiếu chính xác về xã hội đó Tức là, khung lý thuyết này phải phản ảnh được thực trạng của xã hội ở những nơi cơ bản nhất Ông cho rằng, xã hội là một dạng cơ cấu với những chức năng cụ thể của từng bộ phận và xã hội dưới bất kỳ hình thái nào cũng luôn hướng tới một trạng thái cân bằng Ông là người đặt nền móng cho nghiên cứu về cơ cấu
xã hội và trong đó có cơ cấu lao động - việc làm
Năm 1937, T Parsons viết công trình “Cấu trúc của hành động xã hội”, năm 1943 ông viết tác phẩm “Vai trò của giới tính trong hệ thống của người Mỹ” Trong tất cả các tác phẩm của ông luôn nhận thức, lý giải và quy chiếu các vấn đề vào một hệ thống chung theo một cấu trúc cơ bản cũng như ông xác định vai trò, vị trí của các cấu trúc nhỏ hơn trong toàn bộ hệ thống xã hội và mối liên hệ của chúng với nhau, các cấu trúc này luôn hỗ trợ cho nhau và luôn hướng tới một trạng thái cân bằng
Theo phương pháp tiếp cận này thì xã hội được coi như là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận giữ một vai trò nhất định trong xã hội và vận hành theo một cấu trúc nhất định để thực hiện một số yêu cầu theo từng giai đoạn phát triển của xã hội Vì theo họ, các hoạt động
xã hội, các quá trình xã hội đã tồn tại bởi chúng có một chức năng tích cực
Trang 22để thực hiện trong cấu trúc xã hội Điều đó có nghĩa là sự tồn tại của chúng
là nhằm để thực hiện một chức năng do xã hội qui định Đồng thời, các nhà
xã hội học này luôn coi xã hội tồn tại trong trạng thái cân bằng có trật tự, hài hoà và như một thể thống nhất Theo họ, các xã hội có khuynh hướng được xây dựng nội tại, hướng tới sự hài hoà và tự điều chỉnh, tương tự như những tổ chức hay cơ chế sinh học
Xã hội là một hệ thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự ổn định bền vững của tổng thể Để giải thích tồn tại của một thiết chế xã hội, chúng ta phải tìm hiểu hệ thống xã hội, như một tổng thể, đòi hỏi những nhu cầu của nó phải được thoả mãn như thế nào Bởi vì chỉ trong một trạng thái như vậy thì mới bảo đảm cho các chức năng hoạt động mà xã hội luôn trong trạng thái cân bằng
Do vậy, khi xem xét về lao động - việc làm của những người dân sau tái tái định cư trong sự phát triển các khu kinh tế dù ở qui mô nào, chúng ta cũng thấy được các chức năng mới xuất hiện và có những chức năng cũ sẽ
bị triệt tiêu vì không có cơ sở để tồn tại dẫn đến sự biến đổi về kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư và những người dân sau tái định Vận dụng lý thuyết cấu trúc chức năng phân tích nội dung luận văn nhằm thấy được cơ cấu mới của cơ cấu xã hội và cơ cấu lao động – việc làm cũng như chức năng bộ phận của cơ cấu ấy trong tái định cư tại KKTDQ Sự tác động của các bộ phận mới với các chức năng mới sẽ tạo cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội và dẫn đến sự biến đổi xã hội của cộng đồng dân cư tái định cư
1.2.2 Lý thuyết phát triển
Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói đến thuật ngữ phát triển Có quan điểm coi phát triển và tăng trưởng có cùng nội dung Chúng ta không thể hiểu phát triển như là một hiện tượng kinh tế mà phải là một quá trình bao trùm trong đó phụ thuộc vào những nổ lực của con người liên quan đến
Trang 23môi trường của họ Phát triển phải được xem như là toàn bộ một quá trình bao gồm các đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội và văn hoá Trên quan điểm về xã hội và văn hoá, phát triển giúp cho con người hướng tới một cuộc sống đầy đủ hơn, giàu có hơn
Lý thuyết về sự phát triển hiện nay đang có xu hướng giảm bớt những vấn đề thuần tuý có tính kinh tế (nội dung trước đây được xem là vấn đề trọng tâm của lý thuyết phát triển) Hơn nữa, lý thuyết phát triển chú ý đến các vấn đề phi kinh tế trong quá trình phát triển về lĩnh vực văn hoá, xã hội v.v Do đó, phát triển xã hội không còn đồng nhất với phát triển kinh tế, với tăng trưởng kinh tế mà là sự phát triển một cách tổng thể
Quan niệm về phát triển trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hiện nay có
xu hướng nhấn mạnh đến sự “phát triển bền vững” Phát triển bền vững là
“sự phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên sự phát triển hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của thế hệ con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn những nhu cầu của họ” [1, tr.3], trong đó phát triển con người được xem là mục tiêu quan trọng của quá trình phát triển Đồng thời, con người cũng được xác định là động lực quyết định sự phát triển xã hội, nhất
là trong nền kinh tế tri thức hiện nay
Theo nghĩa chung nhất, “phát triển là quá trình vận động từ thấp (đơn giản) đến cao (phức tạp) mà nét đặc trưng nhất là cái cũ biến mất và cái mới ra đời” [16, tr 433] Phát triển xã hội có nghĩa là sự tăng trưởng, đặc biệt là sự tăng trưởng kinh tế cùng với sự biến đổi xã hội theo chiều hướng tiến bộ xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, phát triển thường được hiểu là “tạo điều kiện cho con người bất kỳ ở đâu cũng có cuộc sống đầy đủ, lành mạnh và lâu dài” [2, tr.3]
Lịch sử phát triển nhân loại suy cho cùng là lịch sử phát triển con người Khái niệm “Phát triển con người” mới xuất hiện hơn vài thập kỷ gần
Trang 24đây trên thế giới Theo nghiã rộng của phát triển con người là nâng cao chất lượng cuộc sống của con người với những tiêu chí: (1).Thu nhập cao; (2) Giáo dục tốt; (3) Chuẩn cao về sức khoẻ và dinh dưởng; (4) Ít nghèo khổ; (5) Môi trường trong sạch; (6) Bình đẳng hơn về cơ hội; (7) Cá nhân tự do hơn; (8) Cuộc sống văn hoá phong phú hơn
Khái niệm phát triển con người nhằm nhấn mạnh đến mục tiêu hơn là phương tiện của sự phát triển và tiến bộ Mục đích thực sự của phát triển là cần phải tạo ra một môi trường đảm bảo cho con người có khả năng được hưởng một cuộc sống trong sự sáng tạo, khoẻ mạnh và trường thọ
- Phát triển con người bao hàm cả quá trình mở rộng khả năng lựa chọn của con người và mức độ cuộc sống của họ Vấn đề quan trọng là tạo dựng một cuộc sống khoẻ mạnh và trường thọ, được học hành, được hưởng một mức sống tử tế
Khái niệm phát triển con người là một khái niệm mang tính nhân đạo đặt con người vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển Quan điểm Macxít về sự phát triển lấy con người làm điểm xuất phát, coi con người là trung tâm của lịch sử, xã hội Con người là mục tiêu, đối tượng của sự phát triển và của cuộc cách mạng công nghệ đương đại
Xã hội loài người bước vào trạng thái phát triển mới về lượng và chất,
là sự nổi lên vị trí quyết định của con người trong quá trình phát triển Phát triển con người vừa là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế, vừa là phương tiện để thúc đẩy sự phát triển Phát triển con người là quá trình rộng
mở các cơ hội lựa chọn việc làm phù hợp, những lựa chọn được tạo ra bởi việc mở mang các năng lực và các hoạt động của con người
Có nhiều góc cạnh để phân tích về sự phát triển, trong khuôn khổ của luận văn chỉ vận dụng về phát triển kinh tế - xã hội trong nghiên cứu lao động - việc làm, bởi lao động - việc làm là một trong những vấn đề quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân và có tác động
Trang 25đến sự phát triển kinh tế - xã hội một địa phương, một vùng hay rộng hơn là một quốc gia
Vận dụng lý thuyết phát triển vào việc nghiên cứu về lao động - việc làm của những người dân sau tái định cư nhằm đề xuất những giải pháp tạo
ra cuộc sống của họ ngày một tốt hơn, nơi ở mới có nhiều cơ hội về việc làm, mức sống và các dịch vụ xã hội tốt hơn.Từ các luận điểm của lý thuyết phát triển giúp ta có hướng lý giải và có những giải pháp phù hợp
1.2.3 Các quan điểm về tái định cƣ và lao động - việc làm
1.2.3.1 Quan điểm tái định cư của Ngân hàng Thế giới
Ngân hàng thế giới là một trong những số ít tổ chức đi đầu trong việc quy định các nguyên tắc tái định cư Các yêu cầu chính sách tái định cư bắt buộc của Ngân hàng được miêu tả chi tiết trong tài liệu hướng dẫn về tái định cư bắt buộc Các mục tiêu chính sách cơ bản được nêu rõ trong tài liệu bao gồm: (a) giảm thiểu tác động bất lợi và số người có thể bị ảnh hưởng; (b) cải thiện hoặc ít nhất khôi phục khả năng tạo thu nhập và mức sống của những người bị ảnh hưởng Trước khi đồng ý cho bất kỳ một dự án phải thu hồi, chiếm dụng đất nào vay vốn, Ngân hàng Thế giới đều yêu cầu bên vay xây dựng một chương trình tái định cư chi tiết nhằm bảo vệ những người có thể phải chịu ảnh hưởng bất lợi của dự án
Chương trình tái định cư được miêu tả trong Kế hoạch hành động tái định cư (RAP) RAP giải thích về các chính sách và thủ tục sẽ được sử dụng trong quá trình di dân, bắt đầu từ khâu lập kế hoạch chiếm dụng đất ban đầu đến khâu di chuyển và khôi phục kinh tế cho những người bị ảnh hưởng Theo đó, Ngân hàng Thế giới có 11 chính sách, được gọi là Chính sách an toàn Đây là những điều khoản quy định bắt buộc mà bên vay phải tuân thủ, áp dụng Đối tượng, phạm vi áp dụng, quy trình thực hiện và các hướng dẫn liên kết với các chính sách khác của ngân hàng đều được trình bày và quy định rõ ràng Quy định chính sách này được Ngân hàng Thế
Trang 26giới xây dựng sau quá trình đúc kết rút kinh nghiệm và nghiên cứu từ các
dự án phát triển của tổ chức này trên khắp thế giới
Từ kinh nghiệm thực tiễn về việc quản lý đất đai ở Việt Nam, tổ chức Ngân hàng Thế giới đã đề xuất rằng việc người dân sống tại khu vực bị ảnh hưởng khi không có đủ giấy tờ sử dụng đất cũng không phải là rào cản; và việc đền bù phải tính đến cả những ảnh hưởng vô hình khác, cả lợi thế về vị trí kinh doanh cũng như các ảnh hưởng gián tiếp khác Các chính sách khác
về dân tộc bản địa, công khai minh bạch trong phổ biến thông tin được đưa
ra như những yêu cầu bắt buộc để đảm bảo mọi người được hưởng lợi, nhằm đảm bảo các cộng đồng dân tộc bản địa được tôn trọng, bảo tồn những nét đặc trưng về văn hóa của họ
Có thể nói mục tiêu chính sách tái định cư của tổ chức Ngân hàng là nhằm “đảm bảo cho người dân bị ảnh hưởng có được cuộc sống ngang bằng hoặc tốt hơn trước khi dự án được triển khai” Mục tiêu này cũng khá gần với nguyên tắc tái định cư của Việt Nam, mặc dù giữa chính sách và thực tiễn vẫn là một khoảng cách lớn Tuy nhiên, điều mấu chốt là chính sách của Ngân hàng đòi hỏi bên vay phải xây dựng một chương trình phục hồi thu nhập, sinh kế để thực hiện mục tiêu trên Việc thoái thác hoặc không cam kết thực hiện chương trình hỗ trợ tái định cư sẽ có thể là nguyên nhân dẫn đến việc rút vốn, dừng công trình dự án
1.2.3.2 Quan điểm tái định cư của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Việc di dân, tái định cư được thực hiện tuân thủ theo sự điều chỉnh của chính sách, pháp luật của Nhà nước Có rất nhiều văn bản đề cặp đến vấn
đề bồi thường và hỗ trợ tái định cư, nhưng ở đây tác giả chỉ nêu ra những nghị định và luật đất đai có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Cụ thể, Nghị định 22/1998/NĐ-CP có những quy định liên quan đến tái định cư và chính sách hỗ trợ, cung cấp hướng dẫn thực hiện kế hoạch nhằm
Trang 27đảm bảo về đền bù, ổn định thu nhập và cuộc sống cho các hộ phải di chuyển
Tuỳ theo từng mốc thời gian cụ thể, các văn bản được thay đổi nhằm thực hiện các chính sách bồi thường và hỗ trợ tái định cư cho hợp lý Luật sửa đổi đất đai 2003 ra đời cũng nằm trong mục đích đó, Luật này đã được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2004 Đây là một văn kiện quan trọng trong việc bồi thường tái định cư cho những người bị mất nơi ở và phải tái định cư không tự nguyện Trong Luật sửa đổi đất đai năm 2003 có điều qui định, khu tái định cư được lựa chọn
và phải đáp ứng yêu cầu và điều kiện phải bằng hoặc hơn nơi ở cũ
Đối với việc đền bù và tái định cư, Nghị định 197/2004/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm quy định tại điều 29, được hướng dẫn cụ thể như sau:
a) Việc hỗ trợ chuyển đổi nghề cho số lao động trong độ tuổi lao động của các hộ gia đình bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp được thực hiện bằng hình thưc hỗ trợ một phần chi phí học nghề tại các cơ sở dạy nghề ở địa phương Mức hỗ trợ cụ thể do chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế địa phương
b) Trường hợp ở địa phương chưa tổ chức được việc đào tạo chuyển đổi nghề và chủ dự án sử dụng đất thu hồi không thể tổ chức được đào tạo nghề hoặc người được hưởng hỗ trợ đào tạo nghề không muốn tham gia đào tạo nghề thì thực hiện hỗ trợ bằng tiền ; mức hỗ trợ bằng tiền cụ thể do chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế tại địa phương
Để thực hiện thu hồi đất phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đồng thời với việc giải quyết chỗ ở, việc làm, thu nhập cho người dân
có đất bị thu hồi, các cấp bộ ngành đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách như Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg về chính sách dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn trong đó đối tượng ưu tiên là lao động bị thu hồi
Trang 28đất nông nghiệp; Chỉ thị số 11/2006/CT-TTg về giải pháp hỗ trợ dạy nghề
và việc làm cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Ngoài các văn bản trên, để phù hợp với tình hình khu vực và địa phương có đất bị thu hồi, UBND tỉnh Quảng Ngãi có Quyết định số 39/2007/ QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, có điều 5 quy định về việc bồi thường, hỗ trợ là “Hỗ trợ di chuyển, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ tiền thuê nhà, hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề và hỗ trợ khác cho người có đất bị thu hồi”; “Hỗ trợ để ổn định sản xuất va đời sống tại khu tái định cư”
Việc ban hành Luật Đất đai sửa đổi vào năm 2003 và các văn bản kèm theo cho thấy đã có những quy định tiến bộ hơn so với các văn bản pháp quy trước và văn bản luật đã, đang ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực
tế của phát triển xã hội Ngoài các văn bản quy định về đền bù và tái định cư của Chính phủ đã được trình bày ở trên, còn có các văn bản khác có liên quan đến vấn đề tái định cư và các quy định trong việc lập kế hoạch của việc tái định cư Đặc biệt, tháng 5/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định 84/2007/NĐ - CP có nhiều điều khoản sửa đổi, bổ sung cho Nghị định 197/2004/NĐ - CP, cụ thể điều 51 bổ sung về việc lập, thẩm định và xét duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ tái định cư Trong điều 51 có khoản đ nêu cụ thể, dự kiến biện pháp trợ giúp giải quyết việc làm và kế hoạch đào tạo chuyển đổi nghề
Tất cả hoạt động về bồi thường tái định cư trong mọi lĩnh vực đều được thực hiện và tuân thủ theo các văn bản trên, mà chủ yếu là các nghị định liên quan đến bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Chính sách mới về thu hồi đất được sửa đổi từ góc độ nhìn nhận của người bị thu hồi đất, điều đó thể hiện sự đúng đắn và sự quan tâm của Đảng, của Nhà nước
Trang 29đối với người sử dụng đất bị thu hồi Quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, từ thực tiễn và những bài học knh nghiệm, Nhà nước chủ trương không ngừng hoàn thiện chính sách này Vì vậy, thời gian gần đây, với cách nhìn thẳng thắn, thông qua thực tiễn và các ý kiến đóng góp của người dân, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đang tích cực rà soát văn bản quy phạm pháp luật đất đai để điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện, trong đó có chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Tóm lại, có rất nhiều văn bản liên quan đến bồi thường, hỗ trợ tái định
cư, ở đây tác giả chỉ nêu một số văn bản có tính liên quan đến lao động - việc làm nhằm vận dụng trong đề tài nghiên cứu
1.3 Một số khái niệm
1.3.1 Khái niệm lao động
Có nhiều định nghĩa khác nhau về lao động Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần”
Điều 55 Hiến pháp sữa đổi năm 1992 của nước CHXHCN Việt Nam khẳng định: Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân, nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho người lao động
Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam khẳng định: “Lao động
là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.” Xã hội học xem xét lao động với tư cách là một hiện tượng kinh tế-xã hội nảy sinh, biến đổi và phát triển trong bối cảnh xã hội Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích chế tạo và sử dụng các phương tiện, công cụ lao động chế tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tồn tạo và phát triển của con người
Trang 30Chính thông qua lao động, con người có thể khẳng định được mình trước tự nhiên và trong xã hội
Nói đến lao động, chúng ta đề cập trên cả hai mặt: số lượng và chất lượng lao động Số lượng lao động bao hàm tổng số lao động, cơ cấu lao động theo tuổi, giới tính…Chất lượng lao động thường được đánh giá qua các tiêu chí như tình trạng sức khoẻ, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật
Trong luận văn này, lao động được dùng để chỉ hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra sản phẩm (vật chất, tinh thần, văn hoá) để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình ; Lao động còn được dùng để chỉ người trong độ tuổi lao động (nam từ 15 - 60; nữ từ 15 - 55) và những người trong
độ tuổi này, Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo việc làm cho họ
1.3.2 Khái niệm việc làm
Việc làm là một trong những vấn đề xã hội cơ bản nhất của mọi quốc gia liên quan trực tiếp đến sự ổn định và phát triển xã hội, đến việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người trong xã hội Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen tháng 3 năm 1995 đã coi mở rộng việc làm là một trong những nội dung cơ bản nhất của chiến lược phát triển xã hội của các nước trên thê giới đến năm 2010
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), người có việc làm là người làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho
xã hội Như vậy, để có việc làm không chỉ vào cơ quan Nhà nước, trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, mà còn ngay tại gia đình, do chính bản thân người lao động tạo ra để có thu nhập Nói chung, bất kỳ nghề nào, việc gì cần thiết cho xã hội, mang lại thu nhập cho người lao động và không bị pháp luật ngăn cấm thì đó là việc làm Vấn đề tạo việc làm, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát
Trang 31triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Để thực hiện được vấn đề đó, quá trình diễn ra phải bắt đầu từ việc giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề nghiệp để chuẩn bị cho người lao động bước vào đời, đến tự do lao động và hưởng thụ xứng đáng những giá trị lao động mà mình làm ra
Tạo việc làm, theo nghĩa hẹp, chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm chỗ làm cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp
Đối lập với việc làm là thất nghiệp, thất nghiệp là một tình trạng có tính quy luật của bất cứ nền kinh tế thị trường nào Có nhiều khái niệm khác nhau về thất nghiệp Theo quan niệm của ILO thì: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành Giải quyết thất nghiệp là một trong những vấn đề bức xúc trong chính sách việc làm của mỗi quốc gia
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng thì: “Việc làm” gồm (1) Hành động, điều đã làm, phải làm ; (2) Công việc được giao theo nghề nghiệp, có thù lao và chế độ
Bộ luật Lao động được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 23/6/1994 tại điều 13 khẳng định: “ Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”
Theo Thông tư hướng dẩn về điều tra người chưa có việc làm của Liên
bộ Lao động - Tổng cục thống kê năm 1986 thì: “Việc làm là dạng hoạt động có ích, không bị phân biệt ngăn cấm, nhằm đem lại thu nhập cho gia đình”
Ở nước ta, trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường, đặc biệt là trong thời gian gần đây khi Việt Nam tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã có nhiều sự biến đổi Trong quá trình CNH - HĐH đất
Trang 32nước, nhiều khu kinh tế đã triển khai trên phạm vi cả nước và chính vì điều này đã làm thay đổi nhiều khu dân cư kéo theo hàng loạt vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội cũng như về lao động -việc làm của những người dân thuộc diện tái định cư Ở đây, việc làm được quan niệm là người trong độ tuổi lao động phải có một nghề và việc làm của họ phải thường xuyên và có tính bền vững nhằm đem lại thu nhập, lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội
1.3.3 Khái niệm tái định cƣ
Trong một số quy định gần đây của các nhà tài trợ như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á xem các hộ bị tác động bởi các dự án được gọi chung là hộ di dời Có nhiều quan niệm về tái định cư, trong luận văn này chỉ đưa ra một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Kế hoạch tái định cư
Là một kế hoạch hành động có giới hạn thời gian gồm các nội dung như chiến lược tái định cư, mục tiêu, ảnh hưởng, quyền lợi, khảo sát kinh tế - xã hội, khung chính sách, khung pháp lý, biện pháp giảm thiểu các ảnh hưởng, khu tái định cư, bồi thường, phục hồi thu nhập
Bồi thường - tái định cư
Bồi thường là việc thay thế giá trị các tài sản bị mất bằng hiện vật hoặc
bằng tiền Cần lưu ý rằng bồi thường chỉ là một khâu trong kế hoạch tái định cư Tái định cư là quá trình từ bồi thường cho các tài sản bị thiệt hại,
hỗ trợ di chuyển trong trường hợp hộ gia đình phải di chuyển, cho đến các biện pháp nhằm khôi phục lại nguồn sinh kế, thu nhập, chuyển đổi việc làm cho người dân Đặc điểm của nước ta là công tác bồi thường - tái định cư chiếm vị trí quan trọng và là nội dung chủ yếu của các chương trình, kế hoạch di dân tái định cư
Trang 33Người (hộ) dân bị ảnh hưởng
Những người (hộ) dân bị ảnh hưởng cũng là một thuật ngữ quan trọng được sử dụng phổ biến trong các chính sách An sinh - xã hội và môi trường của các tổ chức quốc tế khi đề cập đến những nhóm đối tượng chịu tác động của những dự án phát triển, trong đó có tái định cư bắt buộc
Trong các chính sách có liên quan đến bồi thường, giải toả, thu hồi đất của Việt Nam, đối tượng bị ảnh hưởng do thu hồi đất được gọi chung là
“người bị thu hồi đất” Đối tượng bị thu hồi đất là thuật ngữ dùng chung
cho cả các tổ chức, các cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân hiện đang định cư trong nước hoặc ở nước ngoài Theo quy định, những đối tượng này phải là những nguời đang sử dụng đất mà diện tích đất đó bị thu hồi Ngoài ra, các tài sản gắn liền với đất bị thu hồi cũng được xem xét bồi thường, hỗ trợ
Tái định cư bắt buộc
Thực tế cho thấy Việt Nam chưa có khái niệm chính thức về tái định cư bắt buộc Thuật ngữ này được vay mượn và được chấp nhận qua việc thực hiện các dự án phát triển của các nhà tài trợ Các dự án phát triển đòi hỏi phải có đất, phải tiến hành giải phóng mặt bằng và hầu hết phải thực hiện ở một số vị trí nhất định Do không có diện tích đất cần thiết, chính quyền thường phải sử dụng đến luật pháp chính sách để thu hồi đất đai cho chủ đầu tư Tái định cư bắt buộc là một trong những hậu quả của hoạt động thu hồi đất mà trong đó những người bị ảnh hưởng buộc phải di chuyển đến một nơi ở mới để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập và các hoạt động sinh
Trang 34mình đang sinh sống Các quan điểm tái định cư được hiểu là người dân phải di dời, tái định cư trong diện bắt buộc, chính vì vậy, tái định cư bắt buộc cần được xem xét trên cơ sở cải thiện, hoặc ít nhất là phục hồi mức sống và nguồn thu nhập của những người bị ảnh hưởng do bị thu hồi đất Quá trình này đòi hỏi việc đền bù cho tài sản bị thiệt hại, di chuyển người
và bất động sản cùng với các biện pháp khôi phục kinh tế cần thiết khác nhằm khôi phục, cải thiện cuộc sống sau tái định cư phải bằng hoặc hơn nơi
ở cũ
Trang 35Chương 2: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI
DÂN SAU TÁI ĐỊNH CƯ 2.1 Quá trình hình thành và phát triển Khu kinh tế Dung Quất
2.1.1 Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên Khu kinh tế Dung Quất
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Quy hoạch chung KKTDQ với diện tích 10.300 ha bao gồm diện tích của 6 xã Bình Thuận, Bình Thạnh, Bình Đông, Bình Trị, Bình Chánh, Bình Hải, và một phần diện tích của 3 xã Bình Hòa, Bình Phước, Bình Phú thuộc
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi (Phụ lục 2)
Đặc điểm địa lý KKTDQ: Phía Đông giáp biển Đông; Phía Tây giáp xã Bình Nguyên huyện Bình Sơn và Khu kinh tế mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam; Phía Nam giáp các xã Bình Long, Bình Hiệp, Bình Phú huyện Bình Sơn; Phía Bắc giáp sân bay Chu Lai tỉnh Quảng Nam
Địa hình đồng bằng ven sông Trà Bồng gồm các xã Bình Chánh, Bình Thạnh được hình thành bởi phù sa sông Trà Bồng và trầm tích cát biển Cồn cát dài chạy dọc từ Tây sang Đông của phía Bắc xã Bình Chánh
Địa hình vùng gò đồi phía Đông gồm các xã Bình Đông, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải được hình thành bởi những nếp uốn tạo nên những vùng
gò đồi mấp mô xen kẻ với những vùng đồng bằng nhỏ hẹp
Địa hình khu vực tương đối phức tạp, có nhiều đồi núi nhấp nhô, nguồn nước phục vụ sản xuất không chủ động Về thổ nhưỡng, đa dạng nhiều loại thổ nhưỡng, có điều kiện phát triển kết hợp các ngành nông lâm nghiệp và
ưu thế nuôi trồng thủy sản Song cần sản xuất theo hướng tập trung, chuyên môn hóa cao để đạt hiệu quả
Trang 362.1.1.2 Đặc điểm tự nhiên
Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của khu vực duyên hải Trung Trung Bộ nên khí hậu chia 2 mùa rõ rệt: Mùa nắng bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 7, mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau Nhiệt độ trung bình hằng năm 27,50
C Lượng mưa trung bình hằng năm phân bố không đều giữa các tháng trong năm
Hướng gió thịnh hành là hướng gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam, ngoài ra còn có gió Tây Nam gây khô nóng vào tháng 5 đến tháng 7
Bão thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11, trung bình mỗi năm các
xã này bị ảnh hưởng của 3-4 cơn bão, trong đó có 1-2 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp chưa kể các đợt áp thấp nhiệt đới kéo theo gió lạnh và mưa lớn Tóm lại, với nhiệt độ cao, tổng tích ôn lớn là điều kiện tốt để cây trồng sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên mưa phân bố không đều, chỉ tập trung vào các tháng 9 - 11, các tháng còn lại trong năm nắng nóng, lượng bốc hơi lớn dẫn đến hạn hán thiếu nước cho cây trồng, hệ thống thuỷ lợi chưa đáp ứng cho sản xuất Bên cạnh đó, các cơn bão, áp thấp nhiệt đới gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng
Trong các nguyên nhân ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng thì nguyên nhân thiếu nước, hệ thống thuỷ lợi yếu kém là quan trọng nhất
Ngoài một số hồ đập nhỏ, hầu như trong vùng không có nguồn nước mặt nào đáng kể Do vậy, mùa nắng nóng cây trồng thường bị thiếu nước gay gắt thậm chí còn thiếu nước sinh hoạt cho con người, chủ yếu là ở các vùng ven biển Tuy nhiên, khu vực này thuộc vùng ven biển nên có diện tích mặt nước tự nhiên khá lớn, rất phù hợp cho hoạt động kinh tế biển, nhất là trong nuôi trồng, đánh bắt hải sản và có nhiều tiềm năng lớn
Trang 37Do địa hình và cấu tạo địa chất phức tạp, mỗi vùng bị chia cắt bởi đồi núi, cồn cát… nên hệ thống thuỷ lợi của các xã hầu như không đáng kể Hệ
thống thuỷ lợi trong vùng nghiên cứu như sau (Phụ lục 3)
Như vậy, hệ thống thuỷ lợi chỉ tưới cho 234,5 ha chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp (chủ yếu là cây lúa, bằng 22,2%) so với tổng diện tích cần được tưới), hầu hết diện tích còn lại đều dựa vào nước trời, tình trạng khô hạn, thiếu nước (kể cả nước dùng trong sinh hoạt) thường xuyên xảy ra nhất
Có thể nói, các xã trên địa bàn nghiên cứu có rất nhiều khó khăn vì điều kiện tự nhiên không có nhiều thuận lợi Đây là một trong những địa bàn hứng chịu nhiều nắng gắt cũng như mưa bão trong năm Người dân luôn phải đối mặt với những thử thách của thời tiết mà thiên nhiên không có sự
ưu đãi cho vùng đất này
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển Khu kinh tế Dung Quất
Khu kinh tế Dung Quất thuộc tỉnh Quảng Ngãi được Chính phủ Việt Nam quy hoạch là Khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm là phát triển công nghiệp lọc hóa dầu - hoá chất; các ngành công nghiệp có quy mô lớn; gắn với việc phát triển và khai thác có hiệu quả cảng biển nước sâu Dung Quất, sân bay Chu Lai và đô thị Vạn Tường, Dốc Sỏi
Trang 38Dung Quất là một trong những đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng khu vực Miền Trung-Tây nguyên.Với tính chất này, Dung Quất là điểm động lực trong chiến lược phát triển vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung Khu kinh tế Dung Quất phát triển là cơ hội lớn để Quảng Ngãi gia tăng tốc độ phát triển kinh tế-xã hội từ sự ưu ái của cả nước dành cho các tỉnh miền Trung trong chiến lược phát triển cân đối các vùng lãnh thổ
2.1.2.1 Quá trình hình thành
Qua quá trình điều tra khảo sát để xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn, ngày 09/11/1994 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 658/TTg về việc chọn địa điểm Nhà máy lọc dầu tại Dung Quất và quy hoạch Khu kinh
tế trọng điểm miền Trung
Ngày 11/4/1996, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quyết định số 207/TTg về việc “Phê duyệt quy hoạch chung khu công nghiệp Dung Quất” Quyết định nêu rõ KCN Dung Quất là KCN lọc hoá dầu đầu tiên của cả nước, tập trung nhiều ngành công nghiệp có quy mô lớn, gắn liền với cảng biển nước sâu Dung Quất và sân bay Quốc tế Chu Lai, là trung tâm kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
và có ý nghĩa quan trọng về an ninh quốc phòng
Ngày 5-12-1997, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá 10 đã thông qua Nghị quyết số 07/1997/QH10 về dự án Nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất là công trình quan trọng Quốc gia
Sau khi Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định thành lập KKTDQ (Quyết định số 50/2005/QĐ-TTg ngày 11/3/2005 và Quyết định số 72/2005/QĐ-TTg ngày 05/4/2005) tình hình thu hút đầu tư vào Dung Quất
có những chuyển biến mạnh mẽ, nhiều dự án có qui mô lớn đã và đang đăng ký đầu tư vào KKTDQ, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như các dự
án công nghiệp nặng, công nghiệp chế biến, dịch vụ
Trang 39Ngày 16-8-2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1056/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng, quyết định thúc đẩy tiến trình phát triển của Khu kinh tế Dung Quất
2.1.2.2 Quá trình đầu tư và phát triển Khu kinh tế Dung Quất
Giai đoạn đầu từ khi thành lập (1996) đến năm 2000, Khu công nghiệp Dung Quất (nay là Khu kinh tế Dung Quất) được tập trung chủ yếu vào việc tiến hành quy hoạch chi tiết các khu chức năng, tổ chức bồi thường - giải phóng mặt bằng và triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật; với mục tiêu
là nhằm bảo đảm phục vụ cho yêu cầu thi công và chuẩn bị vận hành Nhà máy lọc dầu - được xem như là trái tim của Khu công nghiệp Dung Quất và
có tính chất quyết định sự hình thành tại Dung Quất một Khu công nghiệp lọc-hoá dầu đầu tiên của Việt Nam
Từ năm 2001, trong điều kiện dự án Nhà máy lọc dầu triển khai chậm, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi và Ban quản lý Khu công nghiệp Dung Quất đã chủ trương chuyển hướng mạnh sang vận động thu hút các dự án đầu tư có qui mô vừa và nhỏ; trọng tâm là các doanh nghiệp từ phía Nam Một Phân khu công nghiệp ở phía Tây Sông Trà Bồng đã được hình thành với hệ thống
hạ tầng được đầu tư đồng bộ theo từng giai đoạn Bước đầu, Phân khu công nghiệp này đã tạo được sự hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư Đến năm 2005, tại Khu công nghiệp Dung Quất đã cơ bản hoàn thành hệ thống hạ tầng khung, bước đầu đáp ứng nhu cầu triển khai dự án đầu tư của các doanh nghiệp; bao gồm giao thông đường bộ, đường hàng không và đường biển, cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, thông tin liên lạc, đào tạo nghề, bệnh viện, truyền hình, nhà ở công nhân, một số công trình dịch vụ và tiện ích khác; với tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trong Khu kinh tế Dung Quất giai đoạn này ước đạt khoảng 1.500 tỷ đồng Việt Nam; tăng gấp 1,5 lần so với giai đoạn 1996 - 2000
Trang 40Từ năm 2005,sau khi có quyết định thành lập Khu kinh tế Dung Quất (Quyết định số 50/2005/QĐ-TTg ngày 11/03/2005 và Quyết định số 72/2005/QĐ-TTg ngày 05/4/2005); sân bay Chu Lai chính thức đi vào hoạt động, các gói thầu chính của Dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất được triển khai, tình hình đầu tư phát triển Khu kinh tế Dung Quất đã có nhiều chuyển
Do tác động quan trọng của dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất và các
dự án đầu tư nước ngoài có quy mô lớn, đến nay tại Khu kinh tế Dung Quất
đã có khoảng 169 dự án đăng ký đầu tư, với tổng vốn trên 10 tỷ USD; trong
đó, các dự án đang triển khai thực hiện đầu tư lên 5,3 tỷ USD Trong đó có các dự án quy mô lớn và quan trọng như: Nhà máy lọc dầu Dung Quất 2,5
tỷ USD; Liên hiệp công nghiệp tàu thủy: 700 triệu USD; Nhà máy luyện thép Tycoons: khoảng 03 tỷ USD (đang tiến hành xây dựng); Nhà máy Công nghiệp nặng Doosan: 260 triệu USD (xây dựng hoàn thành vào giữa năm 2009); Nhà máy Polypropylene trên 230 triệu USD (khởi công xây dựng tháng 12-2007 và sẽ hoàn thành đi vào hoạt động giữa năm 2010); Nhà máy Ethanol liên doanh với Nhật Bản vốn đầu tư khoảng 100 triệu USD Đặc biệt, dòng các Nhà đầu tư Hàn Quốc đến Khu kinh tế Dung Quất đăng ký đầu tư rất mạnh: Từ đầu 2007 đến nay, đã có 09 doanh nghiệp Hàn Quốc đăng ký đầu tư vào lĩnh vực chế tạo thiết bị với công nghệ hiện đại, vốn đầu tư khoảng 200 triệu USD Riêng Nhà máy Nhiệt điện bằng than sạch khoảng 2.400 MW của tập đoàn Cổ phần đầu tư Sài Gòn liên doanh với một tập đoàn Hoa Kỳ đăng ký khoảng 2,4 tỷ USD (xây dựng