Ngoài các tập văn thơ đã được xuất bản, về tác giả Phan Mạnh danh và thơ văn của ông mới chỉ có một số nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm.. Trong Từ điển văn học Bộ mới NXB Thế giới và tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội-2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Chú thích
-Trong luận văn chúng tôi trích dẫn nguyên văn các tư liệu về tác giả và tác phẩm của Phan Mạnh Danh và để trong ngoặc kép Song, có tài liệu chúng tôi đã sửa lại một số lỗi chính tả cho phù hợp với quy ước chính tả hiện thời
- Do tư liệu thu thập được đã cũ, có nhiều chỗ khó đọc mà không có văn bản khác để đối chiếu nên chúng tôi trích dẫn nguyên văn nhưng để ở dạng nghi vấn bằng cách đánh dấu (?) ngay sau chữ nghi vấn Ví dụ: vậng (?) trong bài Liễu âm tống biệt trang 50
Trang 4MỤC LỤC
A Phần mở đầu 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 8
3 Nhiệm vụ của đề tài 11
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 11
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Cấu trúc của luận văn 12
B Phần nội dung 13
Chương 1: TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG 13
1.1 Giai đoạn 1 (Từ năm 1866 đến năm 1887) 14
1.2 Giai đoạn 2 (Từ năm 1888 đến năm 1915) 16
1.3 Giai đoạn 3 (Từ năm 1916 đến năm 1942) 20
Chương 2: TRƯỚC TÁC CỦA PHAN MẠNH DANH 26
2.1 Giai đoạn trước năm 1900 30
2.1.1 Đời sống xã hội và văn học 30
2.1.2 Những trước tác tiêu biểu của Phan Mạnh Danh trước năm 1900 33
2.2 Giai đoạn từ năm 1900 đến năm 1930 50
2.2.1 Đời sống xã hội và văn học 50
2.2.2 Trước tác tiêu biểu của Phan Mạnh Danh từ năm 1900 đến năm 1930 55
2.3 Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1942 80
2.3.1 Đời sống xã hội và văn học 80
2.3.2 Trước tác tiêu biểu của Phan Mạnh Danh từ năm 1930 đến năm 1942 85
Chương 3: PHAN MẠNH DANH – NHÀ NHO TÀI TỬ 95
Trang 5TRONG BỐI CẢNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT NAM 95
3.1 Nhìn chung về đặc điểm của lớp nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam 95 3.1.1 Nhà nho tài tử và sự phát triển của văn học thế kỉ XVIII - XIX 95 3.1.2 Tản Đà – Nhà nho tài tử “kiểu mới”, mô hình nhà nho thích ứng với môi trường hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX 97 3.2 Phan Mạnh Danh – Nhà nho tài tử “kiểu cũ”, mô hình nhà nho đề kháng với môi trường hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX, những cống hiến của ông trong việc phục hưng nền văn học văn hóa truyền thống 101 3.2.1 Phan Mạnh Danh – Nhà nho tài tử “kiểu cũ”, mô hình nhà nho đề kháng với môi trường hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX 102 3.2.2 Những cống hiến của Phan Mạnh Danh trong việc phục hưng nền văn học văn hóa truyền thống 111
C Phần kết luận 116 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 61.2 Từ lâu trong giới nghiên cứu văn học, đa số đều thừa nhận trong tiến trình văn học Việt Nam từ văn học trung đại sang văn học hiện đại có một sự đứt gẫy sâu sắc Mặc dù, giới nghiên cứu vẫn dành cho giai đoạn văn học này một danh xưng là: văn học cận đại, song việc nghiên cứu các tác giả đại diện thuộc
Trang 7giai đoạn này chủ yếu hướng tới đặc điểm “văn chương yêu nước”, đặc điểm
“hiện đại hóa văn học” – dù đó là những đặc điểm nổi bật của văn học giai đoạn này Bên cạnh đó vẫn có những nhà nho âm thầm giữ gìn, bảo tồn vốn văn hóa truyền thống của dân tộc bằng các sáng tác của mình Và rất có thể chính những tác giả này là những viên gạch lấp đầy vết đứt gẫy xưa nay vẫn tồn tại giữa hai giai đoạn văn học Nghiên cứu trường hợp Phan Mạnh Danh, chúng tôi thấy ông
có nhiều khả năng bổ khuyết vào chỗ đứt gẫy này
1.3 Từ cuối thế kỉ XIX, Tân thư tân văn được truyền bá và gây ảnh hưởng rộng rãi trên đất nước ta Nhiều nho sinh của cửa Khổng sân Trình đã trở thành lực lượng đi tiên phong trong việc bài xích nền cựu học truyền thống và chế độ khoa cử lỗi thời Họ tìm đến một lối văn chương mới lạ với ngôn ngữ, đề tài, cảm hứng, thể loại khác xa với văn học truyền thống Tiêu biểu phải kể đến các chí sĩ yêu nước đã dùng văn chương vào mục đích đấu tranh cách mạng và chính trị như: Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế, Đào Nguyên Phổ, Trần Quý Cáp, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ… Có thể nói Tân thư trở thành làn gió mới mẻ bao trùm lên đời sống xã hội, văn học lúc bấy giờ Như đứng ngoài sự ảnh hưởng đó, Phan Mạnh Danh vẫn tìm về với lối thơ cổ, dốc tâm huyết để làm mới nó Thực tế sự
cố gắng của ông đã có những thành công đáng kể
1.4 Ba thập niên đầu thế kỉ XX, trong các thành thị Việt Nam xuất hiện
bộ phận văn học mới phân biệt rõ rệt với bộ phận văn học truyền thống ở nông thôn Văn học thành thị ra đời đã làm thay đổi cả quan niệm văn học: văn học phải đi theo hướng cận, hiện đại của thế giới; thay vì thói quen diễn đạt tư tưởng tình cảm bằng thơ ca văn vần như trước, văn xuôi phát triển khá nhanh chóng đi gần với tiếng nói thông tục để phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống Những thay đổi có tính chất bước ngoặt đó đưa văn học Việt Nam tiến nhanh vào quỹ
Trang 8đạo hiện đại của thế giới, và văn học truyền thống ngày càng bị thu hẹp, mất vị trí trong đời sống văn học đương thời Trước những thay đổi chóng mặt đó, một
số nhà nho đã tỏ thái độ nuối tiếc những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc, họ vẫn sáng tác bằng thứ ngôn ngữ cũ, vẫn những lối văn cũ thậm chí còn có ý định phục hưng nền văn hóa, văn học cũ Bên cạnh những thành tựu của một nền văn học mới thì những sáng tác của họ không phải là không có ý nghĩa tích cực làm nên tinh hoa của một giai đoạn văn học Chúng tôi muốn minh chứng điều đó qua nghiên cứu trường hợp Phan Mạnh Danh
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn Trước tác của
Phan Mạnh Danh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Qua khảo sát, cho đến nay, chúng tôi thấy nghiên cứu về tác giả Phan Mạnh Danh và trước tác của ông vẫn còn nhiều khoảng trống chưa được giới nghiên cứu động chạm đến Ngoài các tập văn thơ đã được xuất bản, về tác giả Phan Mạnh danh và thơ văn của ông mới chỉ có một số nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm Có thể kể đến đó là:
2.1 Trong Từ điển văn học Bộ mới (NXB Thế giới) và trong cuốn Các tác
giả văn chương Việt Nam, tập 2, NXB Văn hóa thông tin nhà nghiên cứu Đặng
Thị Hảo và Trần Mạnh Thường đều đề cập đến Phan Mạnh Danh như là một tác giả văn học lớn Trong mục từ của mình, cả hai nhà nghiên cứu đã có cái nhìn toàn diện về cuộc đời và văn nghiệp sáng tác của Phan Mạnh Danh một cách khái quát nhưng khá đủ để đánh giá đây là một tác giả có tầm xứng đáng trong nền văn học Việt Nam Bài nghiên cứu có đưa ra một số nhận xét của cá nhân người viết và trích dẫn nhận định của các nhà nghiên cứu, phê bình đương thời
về một số tác phẩm của ông như: Bút hoa thơ tập cổ, Hà Giang nhật trình,
Nguyệt hồ bát vịnh, Xuân mộng, Tuồng Hoa tiên… Không chỉ đánh giá cao Phan
Trang 9Mạnh Danh ở phương diện sáng tác, các tác giả còn ghi nhận tài năng, công lao của ông trong việc dịch thuật các tác phẩm Trung Quốc sang quốc ngữ, biên
soạn Thực dụng thành ngữ (gồm 4 tập) để dạy học trò… Tuy nhiên, cả hai công
trình nghiên cứu này đều chỉ dừng lại ở sự tổng thuật một cách đơn giản nhất cuộc đời và trước tác của Phan Mạnh Danh, biến nó thành chìa khóa để mở ra nhiều cánh cửa cho người nghiên cứu tiếp theo chứ chưa đem đến cho người đọc một sự tiếp cận đến chân giá trị của tác phẩm và tài năng của tác giả một cách cụ thể
2.2 Cùng thời với Phan Mạnh Danh, Phạm Quỳnh có thể được coi vừa là người bạn vong niên, vừa là nhà nghiên cứu phê bình văn học đã có nhiều bài viết giới thiệu, đánh giá cao phẩm chất và tài năng của ông Tiêu biểu là lời tựa
mở đầu cho cuốn Bút hoa giới thiệu và đánh giá giá trị của cuốn Bút hoa Tiếp sau đó là bài diễn văn bằng tiếng Pháp Một nhà thơ cổ điển Việt Nam đọc tại
phòng Hội nghị Huế ngày 3/5/1943 do Nguyễn Tiến Lãng dịch ra tiếng Việt in
trong cuốn Xuân mộng Bài viết đã trình bày rất rõ ràng, mạch lạc về phẩm chất
của một “nhà nho thuần nho”,những áng “thơ thuần túy”, những ý muốn cao cả
để phục hưng nền văn hóa, văn học truyền thống; đồng thời cũng giới thuyết đôi
nét về cái ái tình của “học giả đạo Khổng” trong tập thơ Xuân mộng, về lối chơi thơ “cầu kì hiếm có” trong cuốn Bút hoa Tất cả những điều đó, chung cục lại
Phạm Quỳnh muốn giới thiệu với đương thời một “nhà thơ cổ điển” sừng sững giữa cơn bão táp văn học Á Âu Triển khai đề tài này là chúng tôi tiếp tục con đường đi của Phạm Quỳnh nhưng ở một phạm vi rộng lớn hơn là toàn bộ trước tác của Phan Mạnh Danh
2.3 Trên một số báo và tạp chí lúc bấy giờ cũng có một số bài trích dẫn,
đăng thơ của Phan Mạnh Danh như Hải Phòng tuần báo, Tứ dân tạp chí Trên báo cũng xuất hiện một số bài phê bình, tiêu biểu là bài viết Thi văn tập của cụ
Trang 10Phan Mạnh Danh của tác giả Song Cối in trên tạp chí Tri Tân Sau khi kể ra
những ưu điểm, tài năng của Phan Mạnh Danh trong thơ văn Hán, thơ văn dịch
và thơ Nôm, Song Cối đã chỉ ra cả những hạn chế, nhược điểm và cho rằng “tác giả là một tay thợ thơ rất tinh công” Thực hư thế nào chúng tôi xin góp ý kiến trong công trình nghiên cứu của mình
2.4 Tạp chí Hán Nôm tập 1 số 104 năm 2011 có đăng bài viết của
PGS.TS Trần Thị Băng Thanh với nhan đề Sức hấp dẫn của Truyện Kiều với
danh sĩ Bắc Hà – Trường hợp Phan Mạnh Danh, tác giả bài viết đã lược lại sự
mến mộ của danh sĩ Bắc Hà dành cho Truyện Kiều từ trước những năm 1807 cho đến khi cuốn Bút hoa được xuất bản Quan trọng hơn tác giả đã làm công việc
giới thiệu lại chân dung Phan Mạnh Danh - một tác giả văn học vô tình bị quên lãng trong khoảng mấy mươi năm Tác giả dành phần lớn bài viết của mình giới
thiệu về cuốn Bút hoa thơ tập cổ, lựa chọn những bài hay biên dịch lại để giới
thiệu với bạn đọc về lối chơi thơ của một “khách chơi thơ sành sỏi” Như vậy, bài viết mới chỉ chạm tới bề sâu của một trong số những trước tác của tác giả họ Phan, đó chưa đủ để đánh giá vai trò vị trí của ông trong tiến trình vận động phát triển của văn học Việt Nam
Như vậy, nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây chỉ mới dừng lại
ở phạm vi cá nhân con người, hoặc liệt kê đánh giá sơ bộ hệ thống các sáng tác, hoặc giới thiệu, phẩm bình một trước tác của Phan Mạnh Danh mà chưa đặt ông vào trong tiến trình vận động của nền văn học Thiết nghĩ, chỉ khi đặt tác giả vào trong tiến trình hiện đại hóa văn học 30 năm đầu thế kỉ XX mới có thể chỉ ra
được những đóng góp cũng như hạn chế của ông Triển khai đề tài “Trước tác
của Phan Mạnh Danh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học Việt Nam”, chúng
tôi sẽ cố gắng tạo dựng một cái nhìn toàn diện, đa chiều về con người và trước tác của Phan Mạnh Danh trong tiến trình vận động văn học Việt Nam những thập
Trang 11niên đầu thế kỷ XX
3 Nhiệm vụ của đề tài
Luận văn của chúng tôi hướng đến làm rõ các vấn đề sau:
- Nhìn nhận một cách khách quan và đầy đủ toàn bộ cuộc đời và văn nghiệp của Phan Mạnh Danh
- Chỉ rõ thế ứng xử của Phan Mạnh Danh trong bối cảnh hiện đại hóa văn học Việt Nam Hoạt động sáng tác văn chương và biên soạn sách của ông lúc đó đều nhằm mục đích duy trì và bảo tồn những giá trị văn hóa cổ truyền, nó khác
xa với xu thế thời cuộc lúc bấy giờ Chính sự khác biệt này đã đưa ông trở thành một trong số ít ỏi những người đã có những nỗ lực xóa mờ đi vết đứt gẫy sâu sắc giữa hai giai đoạn văn học
- Trên cơ sở lí thuyết về loại hình học tác giả tiến hành nhận định loại hình tác giả đối với Phan Mạnh Danh
- Đánh giá những công lao của Phan Mạnh Danh trong việc giữ gìn, bảo tồn, phục hưng nền văn học văn hóa nước nhà
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Để làm rõ đề tài Trước tác của Phan Mạnh Danh trong bối cảnh hiện đại
hóa văn học Việt Nam chúng tôi đặt mục tiêu khảo sát toàn bộ những tài liệu do
nhà thơ sáng tác và / hoặc biên tập, phiên dịch bao gồm: các tác phẩm thơ, thơ tập cổ; kịch bản tuồng do chính Phan Mạnh Danh sáng tác; thơ văn dịch; biên tập điển tích văn học và thực dụng thành ngữ Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành tiếp thu và nhận định lại một số ý kiến của các nhà nghiên cứu, phê bình từ trước đến nay viết về ông và thơ văn ông Tuy nhiên, sinh thời Phan Mạnh Danh không coi việc sáng tác thơ văn là một nghề, không lấy sự nổi tiếng làm mục đích chính nên dù đã rất cố gắng chúng tôi cũng chỉ sưu tầm được đa số (chứ không phải toàn bộ) những tư liệu về tác giả và tác phẩm Đó là một phần hạn
Trang 12chế, song cũng có thể xem là đủ để nghiên cứu trong khuôn khổ một luận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu triển khai đề tài luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp như: phương pháp đối chiếu, so sánh; phương pháp lịch đại; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp lịch sử
cụ thể Tùy từng vấn đề mà chúng tôi có sự lựa chọn hay phối kết hợp nhiều phương pháp
6 Đóng góp của luận văn
Trong dòng chảy của công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỉ
XX, bên cạnh những nhà nho thuận theo xu thế của thời đại, và do đó có đóng góp khá nhiều vào tiến trình vận động hiện đại hóa văn học; bên cạnh những nhà nho nặng lòng với nghiệp khoa cử với tư tưởng đạo đức nho gia, không thích nghi được với việc mất vị trí độc tôn của hệ tư tưởng nho giáo chính thống, do vậy đã bỏ cuộc, tỏ thái độ bàng quan với thế sự nhân sinh; vẫn có những cá nhân
đi ngược chiều tiến trình hiện đại hóa văn học nhưng bước một cách lặng lẽ để tìm về với những giá trị văn học cổ truyền đã bị mất đi quá nhanh chóng Phan Mạnh Danh thuộc trường hợp thứ ba Ông trở thành một trong số ít ỏi những nhà nho - tác giả xóa mờ vết đứt gẫy giữa hai giai đoạn văn học, là một tác giả quan trọng trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam
Chúng tôi mong muốn với quá trình nghiên cứu và làm việc nghiêm túc luận văn sẽ là một tiếng nói trả tác giả Phan Mạnh Danh về đúng vị trí của mình trong nền văn học; đồng thời tạo điều kiện cho những người nghiên cứu sau tìm hiểu sâu hơn về những cống hiến của ông cho nền văn học nước nhà
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn của chúng tôi gồm 3 chương chính với các nội dung cụ thể sẽ được trình bày như ở dưới đây
Trang 13B Phần nội dung Chương 1:
TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG
Xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên ngày nay là nơi sinh thành và nuôi dưỡng danh tướng Phạm Ngũ Lão (1255 – 1320) – người đã có công lớn trong việc giúp nhà Trần đánh đuổi giặc Nguyên Mông Về đây, ngoài những di tích lịch sử như: lăng Phạm Tiên Công, đền thờ Phạm Ngũ Lão lưu giữ những chứng tích về người anh hùng cứu nước thuở nào còn có nhiều những di tích của một nền văn hóa, văn học lâu đời đến nay vẫn được lưu giữ và bảo tồn Đi hết con đường về làng là cổng làng Phù Ủng cao to sừng sững, tiếp đến là Đền Mẫu, Đình làng, nhà bia, Tam Quan… Các kiến trúc đình, đền hòa với cảnh quan thiên nhiên tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng của vùng đất này Gần một thế
Trang 14kỉ đã trôi qua kể từ khi kì thi Hán học cuối cùng ở Bắc Kì chấm dứt (1915), dù trải qua bao năm binh lửa chiến tranh nhưng những chứng tích của một nền Hán học vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn tưởng như đây là nền văn hóa của một đế
đô Thăng Long thu nhỏ Trên các bức tường đình, cổng làng, Tam quan còn khắc
in khá nhiều các câu đối, các bài thơ, các bức hoành phi bằng chữ Hán Điều đặc biệt hơn, khi hỏi về nguồn gốc, tác giả của những câu chữ này người dân nơi đây thường nhắc đến cái tên Phan Mạnh Danh với niềm tự hào, kính trọng
Phan Mạnh Danh sinh ra tại Nam Định nhưng quê quán ở làng Phù Ủng, phủ
Ân Thi (nay là xã Phù Ủng, huyện Ân Thi), tỉnh Hưng Yên Trong nhiều tài liệu, ông còn có tên bút danh là Phan Phù Giang Cuộc đời tác giả là những chặng đường
đi về giữa hai vùng đất này, và dù ở đâu ông cũng để lại những dấu ấn khó phai trong lòng người dân và lòng quê hương đất nước Để nghiên cứu Tiểu sử hành trạng của Phan Mạnh Danh, chúng tôi sẽ chia làm ba giai đoạn tương ứng với các mốc thời gian quan trọng và sự kiện nổi bật trong cuộc đời tác giả
1.1 Giai đoạn 1 (Từ năm 1866 đến năm 1887)
Đây là giai đoạn Phan Mạnh Danh còn ấu thơ cho đến khi trưởng thành, chủ yếu sống tại Nam Định
Phan Mạnh Danh sinh ngày 12/12/1866 (tức mùng 6 tháng 11 năm Bính Dần), tại Nam Định, là con trưởng Thị độc Phan Trác Hoạt, lập nghiệp ở Nam Định đã lâu (phỏng đoán từ Họ Phan đời thứ X: con thứ sáu của Phan Trác Miên
là Phan Trác Hoàng dời sang Nam Định, nay nhà từ đường họ ở số 224, phố Hàn Thuyên , thành phố Nam Định)1 Ông là cháu nội của cụ Phan Trứ đỗ Hoàng Giáp (1832) triều Minh Mệnh, làm quan đến Tuần phủ Khánh Hòa Thuở nhỏ, ông có tên chữ là Trung, sau đổi thành Mạnh Danh, hiệu là Thế Vọng Lên năm
Trang 15
lên sáu tuổi, cậu bé Trung đã tỏ ra là người thông minh khác thường “Thi lễ vốn nhà”, lên tám, chín tuổi cậu bé Trung theo học cậu là cụ cử Trần Như Sơn, Tri huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình Ngoài mười tuổi lại theo học anh họ là cụ cử Vũ Cần, làm Giám lâm Ninh Bình Lúc bấy giờ trong làng cũng có nhiều bậc danh
vọng như thủ khoa Nguyễn Đình Khanh (Tác giả cuốn Ngọc Kiều Lê diễn ca)1,
cử nhân Nguyễn Đình Thành, cậu bé Trung đều được theo học nên văn chương vốn có nề nếp Sau Phan Mạnh Danh còn đến theo học ông Nghè Hành thiện Đặng Xuân Bảng ở Nam Định Ở đây vốn đã đào tạo ra nhiều bậc danh sĩ, thế nhưng Phan Mạnh Danh cũng đứng vào hàng cao đệ Năm 17 tuổi (1883) Phan Mạnh Danh tham gia kì thi Hương và được vào ngay kì đệ tam
Ngoài tài học, Phan Mạnh Danh còn nổi tiếng bởi tài hội họa Lúc bấy giờ, tại Quảng Đông hội quán tỉnh Nam, người ta hay tổ chức cuộc thi hội họa, trong mấy năm liền Phan Mạnh Danh đều chiếm giải nhất Thú chơi tranh của ông cũng có nét độc đáo riêng Không chỉ đơn thuần vẽ tranh tả cảnh, ngụ tình mà
ông còn vẽ tranh để ngụ ý cho thơ Bức vẽ Học họa hồ chính là ngụ ý cho bài thơ Chuyết đề trang 46 cuốn Bút hoa:
Muội khước thì xu dữ thế đồ,
Do năng tục sĩ hựu cuồng nô
Khuy ban tự chủy vô toàn báo, Tập dịch do lai phỉ nhất hồ
Tân giới sai cường tranh cựu giới,
Cố ngô hoàng hạ vấn kim ngô
Thiên hiềm san hậu vong nan bổ, Tiếu đảo huy mao học họa hồ
Dịch nghĩa:
1 Theo Tử tấn Đào Sỹ Nhã Cần phân biệt Ngọc Kiều Lê diễn ca của Nguyễn Đình Khanh với Ngọc Kiều Lê tân
Trang 16Không lấy gì làm sáng láng, cũng theo thời dấn bước trên đường đời,
Còn có thể làm kẻ sĩ tầm thường, lại là kẻ cuồng cho người sai khiến
Nhòm qua chiếc ống tất không thấy được toàn vẹn nét vằn trên mình con báo Chắp nhặt miếng da dưới nách, xưa nay vốn chẳng phải cả bộ da con chồn
Giới mới mạnh hơn đang tranh thắng với giới cũ,
Cái ta xưa chưa rảnh để chất vấn với cái ta hôm nay
Chỉ ngại rằng sau khi in rồi, khó có dịp sửa sang, bổ khuyết,
Nhưng cứ cười ngất vung bút mà tập tành học vẽ
(PGS.TS Trần Thị Băng Thanh dịch nghĩa)
Năm 20 tuổi (1885), Phan Mạnh Danh có gặp một nữ sỹ con nhà thế phiệt, tài sắc gồm hai Tri âm gặp gỡ, tình cảm gắn bó khăng khít, thư tín đi về Thời
gian này, ông viết tập văn Nôm Mấy bức tiên hoa theo lối lục bát và song thất
lục bát Tiếc thay “hảo sự đa ma”, tình cảnh khéo trêu người tri âm nên cuối cùng kẻ Bắc người Nam
1.2 Giai đoạn 2 (Từ năm 1888 đến năm 1915)
Sau khi lập gia thất, đây là thời gian dài nhất ông ngụ tại tỉnh lỵ Hưng Yên, cũng là giai đoạn ông tham gia nhiều nhất các hoạt động đàm đạo và sáng tác văn học
Năm 23 tuổi (1888), ông kết duyên với con gái cụ kép Trần Xuân Luyện cũng là một nhà thi lễ trong làng và ngụ tại quê cha đất tổ là làng Phù Ủng, phủ
Ân Thi, tỉnh Hưng Yên Có được người vợ đảm đang, lại am tường thơ văn chữ nghĩa nên Phan Mạnh Danh có nhiều cơ hội để chuyên tâm vào thú vui văn chương và sau này mở trường dạy học Được ít lâu, Tiên Thái Công tạ thế, ông
về Nam Định chịu tang Khi đoạn tang, năm 1892, vừa dịp tỉnh Hưng Yên có quan đốc học là Hoàng giáp Nguyễn Viết Bình và các quan Phủ, Huyện, Huấn, Giáo đều là những bậc danh nhân (Thủ khoa Đặng Trần Vỹ, Nguyễn Tấn Cảnh,
Lê Thỉnh Chu, Nguyễn Đức Tú…), quan nghè Chu Mạnh Trinh mới đỗ đại khoa
Trang 17(Nhâm Thìn 1892) về mở trường dạy học Bạn bè thân hữu vốn thích văn chương, tài học và tính tình của Phan Mạnh Danh đều khuyên mời Phan về theo học thầy Hoàng giáp Nguyễn Ông bèn dắt gia quyến lên Hưng Yên để cùng bạn
bè học tập
Tuy vốn nhà thanh bạch nhưng chủ nhà lại có lòng hiếu khách, mà phu nhân cũng là người am tường chút chữ nghĩa văn chương, học thức nhiều nên danh sĩ mọi nơi, hễ đến chốn Nguyệt hồ ai cũng lấy nhà Phan làm nơi nhã tập, chủ nhà cũng vui lòng khoản đãi khách văn chương
Năm 31 tuổi (1896), ông nghĩ ra lối Kiều tập thơ cổ theo điệu thơ thổng
của đào nương Sau hơn 4 năm miệt mài thi sĩ làm ra được một tập hơn 60 bài
liên cú và hơn 300 bài cách cú, nhan đề là Bút hoa thi thảo Ngay từ hồi mới
soạn xong tập thơ đã được nhiều danh sĩ đề tặng thơ như Nguyễn Tấn Cảnh, Chu Mạnh Trinh, Phạm Văn Thụ, Vũ Tuân; lại được nhiều người chép ra để lưu hành trong Nam ngoài Bắc Sau Phan Mạnh Danh cũng có nhiều lần sửa chữa lại, thêm thắt vào, lựa chọn thành một bản tinh tế hơn Trước khi in thành sách vào
năm 1942, một số bài tập Kiều của Phan cũng được đăng trên báo Tứ dân tạp
chí, Hải Phòng tuần báo…
Năm 32 tuổi (1897), ông phải đưa một người em là Phan Như Xuyên lên
Hà Giang làm Thông phán tòa sứ ở đấy Nhân dịp này, ông viết một tập văn
Nôm song thất lục bát nhan đề là Hà Giang nhật trình (Nhật kí hành trình đi Hà
Giang)
Tháng ba năm Mậu Tuất (1898), nhân có hội đình bà Tống Thái Hậu – một tòa cổ miếu trên bờ Nguyệt hồ tại Hưng Yên, Tổng đốc Phạm Văn Toán có
mở cuộc thi thơ Nguyệt hồ bát vịnh Cuộc thi thu hút nhiều danh sĩ Bắc kỳ tham
gia Yêu cầu bài làm chỉ trong một buổi tối trên những chiếc thuyền có kết hoa đăng đủng đỉnh qua lại trên mặt nước Nguyệt hồ Cuộc thi này Phan Mạnh Danh
Trang 18đã chiếm giải nhất do tám bài luật thi tập cổ Năm bài trong số tám bài này sau
được tinh tuyển trong cuốn Bút hoa
Là một khách tài hoa lại giàu tình cảm nên câu chuyện tình thuở đôi mươi giữa “người quốc sắc, kẻ thiên tài” cơ hồ Phan Mạnh Danh không dễ mà quên đi được:
Vì đâu nên nỗi dở dang Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
Vào hồi tháng ba nhuận năm Mậu Tuất (1898) trong một giấc mộng đêm xuân ở trên tỉnh Lạng, ông lại thấy nàng “gót sen lững đững”, “từ đâu mà đến”,
“ân cần hỏi thăm” Giấc mộng đã làm đề mục cho tập thơ chữ Hán là Xuân mộng
ra đời, dùng đủ 30 vần bằng Tập thơ đã được nhiều thi sĩ văn nhân thưởng thức như tập thơ “khiển sầu của cổ nhân”
“Cửa Trình Chu đà nổi tiếng nho lưu / Vườn Lý Đỗ cũng vào hành thi bá”1, ấy vậy mà kì thi khoa Canh Tý (1900) Phan Mạnh Danh có tham gia những mong sẽ trả được nợ bút nghiên, nào ngờ vì bạn là Lê Sĩ Nghị nên bị hỏng oan
Về việc này Tôn Thất Lương có nói: “Hỏng thi là một sự thường nhưng có tài hơn người, lại vì bạn mà hỏng thì cũng là một việc rất không may” [39] Uất giận thành bệnh, trên đường thuê thuyền về Hưng Yên, ngồi trong thuyền Phan Mạnh Danh cũng có làm một bài thơ ngâm lãng để giải buồn:
ỨNG THI BỊ TRUẤT BÃO BỆNH QUY CHU Trấp tải trần ai ngộ tích du
Phù trầm thân thế trọng hư châu
Lục nan điền hải ân thành oán,
Trang 19
Sầu bất đương phong bệnh hựu sầu
Tự suyện tài sơ ưng kiến khí, Khả lân nhan hậu thả hàm tu
Giai âm trực đãi Hồng mai tín
Na vãn hoàng hoa, dĩ quá thu
21 bài thơ Nôm phỏng theo những bài chữ [ý chỉ chữ Hán – TTH] Giọng văn
kín đáo, nghiêm trang khác hẳn tập thơ Xuân mộng Tuy không giành giải nhất
nhưng tập thơ đã chiếm được địa vị rất cao Cụ Tam nguyên Yên Đổ và cụ Giải nguyên Vân Đình rất thích những câu như:
Có mộng tìm đâu cho thấy bạn Đứt hồn thương lắm biết chăng ai?
Trang 20Hoặc câu:
Mộng tàn gối gió khi hơi lạnh Hồn đứt chuông sương lúc tiếng rền
Sau cuộc thi thơ Đề Thanh Tâm Tài Nhân lục, danh tiếng đồn xa, nhiều
người đến xin cho con em học Ngôi nhà là nơi “nhã tập” thuở nào lại trở thành trường chuyên dạy chữ Hán để đi thi, tên gọi: thầy giáo Trọng cũng “khai sinh”
từ đây Trường tuy mới mở nhưng cũng có mấy trăm người đến học Sau cũng có nhiều ông văn chương có tiếng
Năm 43 tuổi (1908), sau khi huyên đường tạ thế, ông được cử làm giáo học trường Đệ nhất cấp của tỉnh lỵ Hưng Yên, trong dinh quan đốc học Việc
dạy học, ông rất chuyên tâm, ông soạn ra nhiều sách giáo khoa như bộ Việt Nam
danh nhân diễn ca và quyển Vật lí học bằng chữ Nôm (1909), quyển Vạn vật học
và Ngũ đại châu địa dư bằng chữ Hán (1910); sách có rất nhiều họa đồ do chính
ông vẽ ra Học trò nhờ sách ấy mà thi đỗ rất nhiều Sau mấy lần được khen ngợi, khuyến khích, ông lại được thưởng hàm
1.3 Giai đoạn 3 (Từ năm 1916 đến năm 1942)
Đây là thời gian ông sống chủ yếu tại Nam Định những năm cuối đời Năm 1916, khi đã ngoài 50 tuổi, ông cáo về Nhân lúc nhàn rỗi ông về Nam Định sống với con trưởng là Phan Thế Roanh Những lúc rỗi rãi, ông lại nghiên cứu về y học, nhưng không để kinh doanh, hễ xa gần có ai cần là ông sẵn sàng giúp đỡ Vì thế, trong mấy năm ông lại nổi tiếng là một vị lương y
Năm 1917, dựa vào Truyện Nôm Hoa tiên – một truyện có ý nghĩa, đủ bi hoan ly hợp đã được diễn ca thành một áng văn tuyệt tác, có thể sánh với Truyện
Kiều, ông đã biên soạn thành một vở tuồng cổ, vừa Nôm vừa chữ, nhan đề là Tuồng Hoa tiên
Ở bên Tàu lúc ấy lại truyền đọc một quyển tiểu thuyết của Từ Chẩm Á
nhan đề là Đa tình hận Tác phẩm nói về cái họa tự do trong nữ giới nước Tàu
Trang 21Tự nghĩ: “Sách ấy có thể đánh thức những si nam oán nữ đương trong giấc mộng say mê” ông đem dịch Nôm vào năm 1919 Trên đầu bản dịch này ông có đề một bài tựa bằng quốc văn theo lối biền ngẫu rất mực tài tình Rất tiếc chúng tôi chỉ
tìm thấy phần Lời tựa và chương thứ nhất của bản dịch Đa tình hận Vì thế phạm
vi nghiên cứu cũng sẽ chỉ dừng lại ở giới hạn tư liệu cho phép
Dịch xong Đa tình hận ông tiếp tục dịch bộ Tình sử của Tàu Tình sử ghi
chép nhiều “câu chuyện li kì”, mỗi chuyện lại có nhiều “thơ từ của những danh nhân tài tử đời xưa”, “có thể làm khuôn mẫu cho người học thơ được” Ông bắt
đầu dịch và hoàn thành bộ Tình sử vào năm 1920
Năm 59 tuổi (1924), trong làng có nhiều việc sửa sang, vốn được nhiều người yêu mến kính trọng, lại rất sành về hội họa và kiến trúc nên Phan Mạnh Danh phải đảm nhận chức điền văn (thứ chỉ), để cùng với cụ Tiên chỉ là quan Tuần phủ chí sĩ Nguyễn Đình Chuẩn lo xây dựng trong làng và cải lương hương ước… Công việc này đã tạo điều kiện cho ông cống hiến nhiều những di sản văn hóa, tinh thần góp phần tôn tạo và dựng xây quê hương Công lao của ông đã được làng Phù Ủng ghi nhận:
“Gốc phần tử ra công bồi đắp, nào Hoa văn, nào hương ước, việc đã chu toàn”
(Văn tế của đại biểu làng Phù Ủng – Hưng Yên) 1
Chính vì thế, ngày nay trở về với làng Phù Ủng, dù bao thế hệ đời người
đã ra đi nhưng những di tích của ông vẫn in dấu trên mảnh đất này, và người dân nơi đây vẫn dành cho ông tấm lòng cảm tạ chân thành
Bận rộn với việc làng nhưng những buổi đàm đạo văn chương vẫn không thể thiếu trong đời sống của ông Năm 1925, trước không khí văn chương chung của nhiều thi gia lúc đó thường làm thơ theo lối: cùng một ý nhưng đồng thời làm một bài Nôm và một bài Hán Làm thơ nhưng thực tế cũng là chơi thơ vậy
Trang 22
Theo lời các bạn trong làng nho, ông làm một tập Xuân mộng bằng quốc văn, gồm có một bài Tình trường kí, một bài Thoại mộng hành và 30 bài luật thi, đủ
30 vần bằng, cũng như tập chữ Hán Xét tài sáng tác thơ của ông cũng tương đương với tài tập cổ vậy
Năm 62 tuổi (1927), nhờ công khó nhọc lo toan việc nhà, nuôi nấng đàn con của phu nhân, cộng thêm với tính nghiêm khắc trong giáo dục con cái của ông, trong bốn người con trai là Phan Thế Roanh, Phan Bằng Trình, Phan Phong Linh, Phan Châu Tuynh đã có người thành đạt Từ đây gia tư bắt đầu thư thái, ông bắt đầu được hưởng thú an nhàn Ngoài lúc ngâm thơ, gẩy đàn ông còn trồng cây, chắp núi, uốn cảnh vẽ tranh Ai cũng phải chịu ông là một bậc tài hoa Nhưng không bao lâu, năm ông 65 tuổi (1930) phu nhân tạ thế Từ đây trí nguyện của ông chỉ đặt vào sự ngao du như các bậc tiền nhân vẫn quan niệm:
Văn phi sơn thủy vô kì khí, Nhân bất phong sương vị lão tài
Vừa lúc công việc trong làng cũng đã đỡ bận, ông cùng các con đi du ngoạn các danh thắng nước nhà: khi vịnh Hạ Long, núi Yên Tử, khi hồ Ba bể, vương quốc Champa, khi bãi Cửa Tùng, núi Ngân sơn, khi kinh đô Huế, động Huyền Không… Tuổi già xem chừng lại dẻo dai hơn sau mỗi chuyến du ngoạn Đặc biệt, đi đến đâu ông đều có thơ đề vịnh Những thơ văn ấy có trích in trong
Thi văn tập của Phan Mạnh Danh, và một số được trích dẫn trong cuốn Thắng cảnh Việt Nam qua thi ca của con trai thứ ba là Phan Phong Linh
Từ năm 70 đến 75 tuổi (1935 – 1940), ông lựa chọn nhiều tập thơ cổ và
một ít văn cổ, đem dịch ra quốc văn theo nguyên điệu, tập hợp trong cuốn Cổ thi
trích dịch
Năm 76 tuổi (1941), làn gió phục cổ khiến thiếu niên nước nhà lại chú ý đến sách vở của nhà nho ngày trước, ông lại cặm cụi với bút nghiên trong thư phòng nhỏ tại Bút hoa trang Nam Định Ông đã lục tìm và chép lại những bài
Trang 23văn Nôm đã làm trong mấy chục năm về trước, và biên soạn thêm nhiều bài mới
Sau cuốn sách được Nhà in Nguyễn Trung Khác in tại Nam Định với tên Thi văn
tập trích lục Văn tập ấy có nhiều thể như phú, kinh nghĩa, văn sách, văn tế, tựa
biền ngẫu… Ông cũng cùng các con sưu tầm nhiều sách Tàu có truyện lạ thơ hay
mà nhà nho ta thường dùng làm điển trong những áng văn Nôm để đem dịch và
biên tập thành bộ Điển cố, những mong có thể giúp ích cho việc thưởng thức lối
văn cổ nước nhà Tuổi già và cơ thể cũng bắt đầu suy nhược nhiều khiến ông không thể tiếp tục hoàn thành tập sách Sau này Phan Thế Roanh hoàn thành bộ
sách với nhan đề Điển cố truyện và thơ thường dùng làm văn liệu
Cuối mùa thu năm 1941, ông được sinh phong Phụng nghị Đại phu1, Hàn lâm Thị độc2 Đến tháng trọng đông, thời tiết quá lạnh, bệnh đau mình bắt đầu
phát Tuy nhiên, tranh thủ những lúc đỡ, ông vẫn cố làm Thơ cổ tập Kiều (cuối 1941) và Thơ cổ tập truyện Nôm (đầu 1942) để bổ sung thêm vào quyển Bút hoa
Đầu năm 1942, quyển Bút hoa được in xong có lời đề tựa của Phạm
Quỳnh Cuốn sách được dâng lên Hoàng đế Bảo Đại thứ 17 và được chuẩn thưởng cho tác giả Huy chương Tam hạng Kim khánh Sĩ phu nhiều nơi yêu thích cuốn sách đã gửi tặng thơ đề
Vài tháng sau bệnh càng trầm trọng, tự biết mình không qua nổi ông bảo các con đưa từ Nam Định về nhà riêng tại tỉnh lỵ Hưng Yên, nơi ông đã ở từ năm
27 tuổi Tối hôm mới về nhà cũ ông còn bàn bạc thuốc thang với mấy môn sinh Hôm sau vào hồi gần sáng, ông thấy rất đau đớn trong mình Khi đỡ đau một chút, ông dặn con trưởng vài lời về sách vở văn chương, rồi nh ìn qua một lượt các con cháu đứng quanh mình, từ từ nhắm hai mắt, thở một hơi dài, kết liễu cuộc đời nhà giáo, nhà thơ, nhà dịch giả Ông ra đi vào lúc hơn 5 giờ sáng, ngày
1 Phụng nghị đại phu: Từ điển chức quan VIệt Nam trang 513 giải thích: “Thời Nguyễn đặt thụy hiệu ban cho các quan Đây là thụy hiệu ban cho các quan trật Chánh ngũ phẩm văn giai Những chức quan này thuộc Đường quan”
Trang 2426 tháng 4 năm Nhâm Ngọ (dương lịch ngày 9 tháng 6 năm 1942), thọ 77 tuổi
Sự ra đi của ông khiến cho nhiều người thương tiếc khóc than cho cuộc đời tài năng mà lắm nỗi truân chuyên:
“Cầm kì thi họa rất mực thông minh
… Năm xe chứa sách, túi kinh luân từng sánh gót Âu Tô Bẩy bước nên thơ, câu cẩm tú há nhường tay Lý Đỗ Học thiên nhân đà nức tiếng Đổng đại nho Tài kinh tế vẫn ôm lòng Giả thái phó Phun châu nhả ngọc giọng sánh phú Tam đô Dọc đất ngang trời, thơm truyền văn Bát cổ”
(Văn tế của môn sinh Vũ Mộng Hùng) 1
Ngẫm trong một kiếp nhân sinh, dẫu có tài nhưng Phan Mạnh Danh chẳng được “nhẹ gót thang mây” Đó là một sự đáng buồn, song cũng chưa hẳn là buồn, bởi biết đâu nhờ đó mà “nảy nở ra những áng thơ văn bất hủ” [6, tr.16] Lại thêm “Dù gặp buổi Á Âu hội mới, học hành theo với trào lưu” nhưng ông
“vẫn giữ màu thi lễ nếp xưa”, vẫn nghiêm khắc dạy bảo các con “không ngoài quy củ” nên “Mừng nay con trẻ thành danh / Trời đất dành riêng người phúc hậu” 2 Sinh thời, ông chỉ kịp chứng kiến sự ra đời của cuốn Bút hoa (1942), khi
tử hậu, may thay trong số những người con của ông cũng có người nối nghiệp
bút nghiên, nhờ đó mà các cuốn Thi văn tập trích lục, Hồng Kiều, Cổ thi trích
dịch có dịp ra mắt bạn đọc Một số cuốn sách khác, tuy ông không trực tiếp biên
soạn nhưng có ảnh hưởng khá lớn với người biên tập, ví như cuốn Điển tích
truyện và thơ thường dùng làm văn liệu, Hán văn lược khảo của Phan Thế
Roanh
1 Xem phụ lục 2
Trang 25Tiểu kết chương 1: Như vậy, ở chương 1 chúng tôi đã tiến hành dựng lại bức
chân dung con người của Phan Mạnh Danh trên cơ sở nguồn tư liệu về tiểu sử gia đình và những sự kiện chính trong cuộc đời tác giả Những thông tin này cung cấp một cái nhìn logic, ngọn nguồn về những yếu tố cấu thành, tác động và ảnh hưởng đến việc hình thành thế giới quan, tư tưởng của Phan Mạnh Danh sau này Trong chương 1, chúng tôi cũng đã lần theo mốc thời gian tái hiện lại những
sự kiện quan trọng trong cuộc đời tác giả và những hoạt động văn học tiêu biểu dẫn đến sự ra đời của một trước tác nào đó Sự tái hiện này cũng chỉ có tính chất
sơ lược là điểm tên trước tác, còn việc thẩm bình, định giá giá trị của tác phẩm sẽ
được triển khai cụ thể ở chương 2
Trang 26Chương 2:
TRƯỚC TÁC CỦA PHAN MẠNH DANH
Vào những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đôi lúc người ta nghe nhắc đến cái tên Phan Mạnh Danh ở trên các báo hay trong một số cuộc thi đàm đạo
thơ văn Sang đến những năm giữa thế kỉ XX, độc giả mới biết đến cuốn Bút hoa
thơ tập cổ gắn với thi sỹ Phan Mạnh Danh Sau khi ông qua đời, con trai trưởng
là Phan Thế Roanh mới bắt đầu tập hợp và xuất bản những di cảo của ông Từ đây cái tên Phan Mạnh Danh mới trở nên “quen thuộc” với một bộ phận độc giả
- chủ yếu là những người còn chút ít vấn vương với nền văn học cổ truyền Trên văn đàn là vậy, trong đời sống chính trị xã hội thì như Phạm Quỳnh nói “ông không hề thi đỗ, không hề làm quan”, “trong năm mươi năm không có tham dự một chút nào vào cuộc đời chính trị trong nước” Vì thế, nghiên cứu trường hợp Phan Mạnh Danh chúng tôi xem ông như là một học giả, một tác giả văn học có vai trò nhất định trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam Chúng tôi lấy mốc phân chia giai đoạn phát triển văn học Việt Nam (theo bộ giáo trình Văn
học Việt Nam - 4 tập của nhà xuất bản Giáo dục) làm cơ sở để hệ thống hóa và
nhận định toàn bộ trước tác của ông
Trong phần này với từng giai đoạn chúng tôi sẽ trình bày khái quát tình hình đời sống xã hội và văn học, sau đó giới thiệu khái quát trong phạm vi cho phép về giá trị những trước tác của Phan Mạnh Danh trước khi đưa ra một vài nhận định của mình Và, để có cái nhìn toàn diện về toàn bộ trước tác của ông, chúng tôi xin đưa ra một niên biểu các trước tác (cả tư liệu đầy đủ và chưa đầy đủ) mà chúng tôi thu thập được Trên cơ sở niên biểu này chúng tôi sẽ lựa chọn những trước tác tiêu biểu để khảo sát và phân tích
Trang 27Niên biểu trước tác của Phan Mạnh Danh:
1885 - 1886 Tập văn Nôm lục bát và song thất lục bát Mấy bức tiên hoa Hiện
nay văn bản đã thất lạc, trong gia tộc con cháu chỉ thuộc một vài câu
1889 Vấn nguyệt (điệu sẩm ả đào – Nôm); Vọng dương (điệu sẩm ả
đào – Nôm)
1896 - 1900 Kiều tập thơ cổ, nhan đề là Bút hoa thi thảo
thất lạc, chỉ còn lại một số câu trong bài viết của Tử tấn Đào Sỹ Nhã
1898 Nguyệt hồ bát vịnh Hiện nay còn lại 5 bài, có in trong cuốn Bút
hoa thơ tập cổ; Viết tập Xuân mộng bằng chữ Hán, dùng đủ 30
vần bằng
Tích biệt – kì nhất, kì nhị (Lối thơ thuận nghịch độc)
1905 Viết một bài tựa chữ Hán, 21 bài thơ chữ Hán, 21 bài thơ chữ
Nôm tham gia cuộc thi Đề Thanh Tâm Tài Nhân Lục Hiện nay
vẫn còn đủ, in trong cuốn Thi văn tập trích lục
1909 Viết bộ sách giáo khoa Việt Nam danh nhân diễn ca và quyển
Trang 28Vật lý học bằng chữ Nôm Hiện nay đã thất lạc
Hiện nay đã thất lạc
1917 Viết Tuồng Hoa tiên, cả Hán và Nôm Hiện nay chỉ thu thập
được 3 cảnh: Kỳ biên tương ngộ, Bích Nguyệt thu kỳ, Liễu âm khốc biệt
1919 Dịch Đa tình hận của Từ Trẩm Á Hiện nay chỉ thu thập được
phần mở đầu và chương 1; Tiêu tương bát cảnh (Nôm)
1925 Viết một tập Xuân mộng bằng quốc văn gồm: một bài Tình
trường ký, một bài Thoại mộng hành, và 30 bài luật thi dùng đủ
30 vần bằng
1935 - 1940 Dịch Cổ thi trích dịch In thành sách năm 1953
Các tác phẩm
không xác
định được
thời gian viết
Tứ thời từ tức cảnh (Làm theo điệu liên hoàn của Tô Đông Pha)
Dịch cổ thi (10 bài) in trong Thi văn tập trích lục Dịch cổ văn (1 bài) in trong Thi văn tập trích lục
29 bài thơ chữ Hán in trong Thi văn tập trích lục (đã trừ 5 bài
Trang 29Nguyệt hồ bát vịnh)
Dịch, chú giải Trần tình văn của Cao Bá Nhạ
Phan Mạnh Danh sáng tác cả chữ Hán và chữ Nôm Trong nhiều tài liệu
tác giả có chú thích rõ là làm 30 bài Hán và 30 bài Nôm (Xuân mộng), vịnh 20 hồi trong Truyện Kiều vừa Hán vừa Nôm (Đề Thanh Tâm Tài Nhân lục), viết
Tuồng Hoa tiên vừa Hán vừa Nôm… và nhiều bài thơ Nôm khác được chú thích
rõ ràng là thơ Nôm để phân biệt với thơ chữ Hán Nhưng trong tất cả những tài liệu chúng tôi thu thập được (cả những trước tác đã xuất bản và những trước tác mới ở dạng văn bản gốc in roneo) đều ở dạng văn bản Nôm phiên quốc ngữ Nói điều này là chúng tôi muốn đề cập đến vấn đề xử lý tư liệu Nôm trong quá trình nghiên cứu
Theo Giáo sư Nguyễn Quang Hồng trong cuốn Khái luận văn tự học chữ
Nôm, chữ Nôm được hình thành “không sớm hơn thế kỉ X” và “không muộn hơn
giữa thế kỉ XII” [22, tr.126] Khái niệm sau chỉ rõ đặc điểm, cách cấu tạo của chữ Nôm: chữ Nôm là hệ thống chữ viết tiếng Việt dựa trên chất liệu chữ Hán, với sự gợi ý từ các phương thức tạo chữ chủ yếu dựa vào các kí tự làm thành tố biểu âm và thành tố biểu ý ở chữ Hán, từ đó với sự gia công và Việt hóa ở những mức độ nhất định, mà hình thành hệ thống văn tự ô vuông “biểu âm – biểu ý” cho tiếng Việt” [22, tr.329] Trong sáng tác văn học văn bản chữ Nôm được tìm
thấy sớm nhất là từ thế kỉ XIII với bài Văn tế cá sấu của Hàn Thuyên Từ các thế
kỉ sau, cha ông ta đã sử dụng chữ Nôm như là một công cụ để sáng tác văn học
Có những thể loại hầu như được sáng tác bằng chữ Nôm Song, thực tế là, việc in sao các tác phẩm bằng chữ Nôm để lưu lại cho đời sau gặp rất nhiều khó khăn Nguyên nhân này là do bản thân chữ Nôm được cấu tạo rất phức tạp, và số lượng độc giả hiểu biết và có thể đọc được chữ Nôm rất hạn chế Sang đến đầu thế kỉ
Trang 30XX, để tiện lợi cho việc sáng tác, in ấn và lưu giữ, và tác phẩm có thể đến được với số đông bạn đọc nhiều tác giả vẫn sáng tác bằng chữ Nôm song đó là chữ Nôm phiên quốc ngữ Theo giáo sư Nguyễn Quang Hồng thì đến giữa những năm 90 của thế kỉ XX việc đưa kí tự chữ Nôm vào máy vi tính mới bắt đầu được
đề xuất Trường hợp các tác phẩm của Phan Mạnh Danh cũng như vậy Do đó, với các tác phẩm Nôm của Phan Mạnh Danh chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu trên văn bản Nôm phiên quốc ngữ
2.1 Giai đoạn trước năm 1900
2.1.1 Đời sống xã hội và văn học
Giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, về mặt lịch sử được đánh dấu bằng sự kiện Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh chống xâm lược Sau hàng loạt những hàng ước mà triều đình Huế đã kí với Pháp: Hàng ước năm 1862 nhường ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn cho thực dân Pháp; Điều ước và thương ước năm 1874 nhường toàn bộ Nam Kỳ cho thực dân Pháp thì đến Hàng ước năm 1883 và 1884 triều đình Huế
đã chính thức công nhận nền đô hộ của Pháp trên toàn cõi Việt Nam Mặc dù triều đình Huế đã đầu hàng, thỏa hiệp với thực dân quay lại bóc lột và đàn áp nhân dân Việt Nam, song quần chúng nhân dân vẫn không chịu khuất phục, vẫn kiên quyết đấu tranh chống thực dân Pháp và chống bọn phong kiến đầu hàng Phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi, rầm rộ khắp từ Nam chí Bắc, thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia Nhưng trước sức mạnh đàn áp của thực dân Pháp có sự hỗ trợ của triều đình phong kiến thì các phong trào yêu nước đều lần lượt thất bại Đặc biệt sự tan giã của phong trào Cần Vương (1895) đã đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn Pháp dùng vũ lực để chiến đoạt và mở ra giai đoạn Pháp khai thác thuộc địa ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1897
Cuối thế kỉ XIX, Nho học vẫn được tôn sùng, các sách Khổng, Mạnh,
Trang 31Trình, Chu vẫn được coi là thiên kinh địa nghĩa Việc thi cử vẫn có hai khoa chính là thi Hương và thi Hội, chương trình thi vẫn có thơ, phú, kinh nghĩa, văn sách, tứ lục Tuy nhiên, theo quy luật tất yếu của kẻ đi xâm lược nếu muốn đồng hóa một dân tộc theo mình thì tất yếu phải thay đổi đời sống văn hóa của dân tộc
đó, vì thế thực dân Pháp đã áp dụng hàng loạt chính sách đồng hóa văn hóa trong
đó có việc mưu toan thay thế triệt để chữ Hán bằng chữ quốc ngữ theo mẫu tự
La tinh Nhưng mọi cố gắng của chúng đã không được nhân dân ta chấp nhận Cuối cùng để mua chuộc sĩ phu và nhân dân chúng phải tổ chức lại việc học chữ Hán, duy trì các trường Hán học và tổ chức thi theo định kì… Dù mưu đồ của thực dân Pháp không thực hiện được nhưng ít nhiều sự can thiệp của chúng đã khiến cho chốn trường thi trở nên nhốn nháo, lộn xộn.Trần Tế Xương đã thể hiện thái độ mỉa mai, phẫn uất của mình đối với chế độ thi cử đương thời:
Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa
Lọng cắm rợm trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra
Nhân tài đất Bắc nào ai đó, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà
(Lễ xướng danh khoa thi Đinh Dậu - 1897)
Cuối thế kỉ XIX, một số người trong nước có dịp đi ra nước ngoài, theo
Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (tập thứ nhất) thì năm Bính Dần (1866)
là năm Tự Đức thứ 19, có mấy người ở Nghệ An là: Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Điều đi du học phương Tây… Họ là những người hiểu thời thế, tiếp xúc trực tiếp với văn hóa phương Tây Sau Nguyễn Trường Tộ đã làm
Trang 32một bản điều trần đề xuất hàng loạt những cải cách đòi canh tân đất nước nhưng không được sự đồng thuận của triều đình Năm Mậu Thìn (1868) là năm Tự Đức thứ 21 có người ở Ninh Bình là Đinh Văn Điền dâng tờ điều trần đề xuất việc nên đặt doanh điền, khai mỏ vàng, làm tàu hỏa, cho người các nước phương Tây vào buôn bán, luyện tập sĩ tốt, đề phòng khi chiến thủ, bớt sưu dịch dân sự… đại
để là đều ích nước lợi nhà nhưng đình thần đều cho là không hợp thời rồi bỏ không dùng Như vậy, nhìn chung về các mặt kinh tế, chính trị trong nước vẫn không thay đổi, nước không thể mạnh và dân không thể giàu
Những diễn biến lịch sử trên đây có ảnh hưởng rõ rệt, trực tiếp tới sự phát triển của văn học những năm cuối thế kỉ XIX Sự kiện Pháp xâm lược đã làm xuất hiện trong văn học một trào lưu văn học yêu nước Văn học giai đoạn này thu hút được một lực lượng sáng tác đông đảo là các nho sĩ cầm bút chiến đấu, tiêu biểu như: Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), Nguyễn Tư Giản (1823 – 1890), Nguyễn Xuân Ôn (1825 – 1889), Nguyễn Quang Bích (1832 – 1889) Nguyễn Thông (1827 – 1894), Hoàng Văn Hòe (1848 - ?), Miên Thẩm (1819 – 1870), Phạm Văn Nghị (1805 – 1884), Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), Trần Tế Xương (1870 – 1907)… Ngôn ngữ chính được sử dụng vẫn là chữ Hán Bên cạnh đó còn có nhiều tác giả sáng tác bằng cả chữ Hán và chữ Nôm như Nguyễn Khuyến; có tác giả dường như sáng tác hoàn toàn bằng chữ Nôm như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Tú Xương Bộ phận này làm cho văn học Nôm có phần phong phú và sắc sảo hơn văn học chữ Hán Chữ quốc ngữ được phổ biến thêm một bước nhưng mới chỉ xuất hiện một số truyện Nôm được phiên ra quốc ngữ, biên soạn truyện cổ tích bằng chữ quốc ngữ chứ chưa có một nền văn học sáng tác bằng chữ quốc ngữ
Sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn đời sống xã hội có nhiều biến động như vậy đã đặt các nhà nho trước ngưỡng cửa của sự lựa chọn Nguyễn Đình
Trang 33Chiểu dù bị mù lòa nhưng ông vẫn theo dõi rất sát phong trào đấu tranh chống giặc của quần chúng nhân dân và dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu ngay từ những ngày đầu Nhiều người đã từng làm quan, sau bỏ quan, bỏ cuộc sống yên ấm với gia đình lên rừng núi lăn lộn với nghĩa quân, xây dựng căn cứ địa chống giặc như: Phạm Văn Nghị, Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Nguyễn Quang Bích… Một số khác, ít dũng khí hơn, không trực tiếp đương đầu với giặc, nhưng cũng quyết không sống chung với kẻ thù, hễ Pháp chiếm nơi nào
là họ dọn đi nơi khác để ở: Nguyễn Thông – sống như một ẩn sĩ, thong dong, cô quạnh cho đến cuối đời Một số khác, vẫn làm quan cho triều đình phong kiến và giữ thái độ dung hòa
Như vậy, mặc dù đời sống xã hội có nhiều biến động nhưng dù muốn hay không các trí thức nho học vẫn phải tạo dựng cho mình một chỗ đứng bằng nghiệp khoa cử Các nhà thơ xuất thân từ cửa Khổng sân Trình vẫn phải sáng tác những vần thơ, dù với nội dung yêu nước căm thù giặc hay để tả cảnh, tỏ lòng bằng lối văn chương bát cổ vốn ăn sâu vào máu thịt của các nho sinh thuở trước
Xã hội Việt Nam về cơ bản vẫn là xã hội cổ truyền phương Đông theo đúng mô hình nhà nước phong kiến Trung Quốc
2.1.2 Những trước tác tiêu biểu của Phan Mạnh Danh trước năm 1900
Xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, cũng đã một đôi lần đi thi, song có lẽ
do số phận và chế độ khoa cử không còn đảm bảo được tính chính thống, nguyên vẹn nên chí của sĩ tử họ Phan không đặt hoàn toàn vào việc phải ra làm quan Sự hỏng thi khoa Canh Tý (1900), ông “có bất mãn, song sự bất mãn ấy cũng chỉ thoáng qua”[6, tr.11]
Không thi đỗ, không làm quan, cả cuộc đời Phan Mạnh Danh cũng “không
hề tham dự một chút nào vào cuộc đời chính trị trong nước”[7, tr.177] Thơ văn của ông từ tác phẩm đầu tiên cho đến tác phẩm cuối cùng thuần túy là “thơ của
Trang 34một người yêu thơ và làm thơ theo đúng nghĩa của nó”
Tập văn Nôm lục bát và song thất lục bát Mấy bức tiên hoa được viết năm
Phan Mạnh Danh 20 tuổi (1885) là tác phẩm đầu tiên trong sự nghiệp sáng tác của ông Ngay từ tập văn này, ông đã được đánh giá là “bậc cao Nôm” [6, tr.8] Tập văn ghi lại những tình cảm sâu nặng, thắm thiết của tác giả với một nữ sỹ- người có ảnh hưởng đến nhiều sáng tác của ông sau này Dù đã cố công tìm tòi nhưng chúng tôi cũng chỉ góp nhặt được một vài câu thơ trong tập văn Nôm do cháu nội của bà Phan Thị Hiên (em gái của Phan Mạnh Danh) là bà Trần Thị Băng Thanh cung cấp Có thể trích dẫn dẫn chứng như sau:
Nhớ khi thất tịch vắng người Khi trùng dương hết mọi lời nông sâu Khi hiên trước khi vườn sau Hoa chào buổi sớm giăng thâu đêm rằm
Phải duyên kì ngộ ai bằng
Dù hợp tan vẫn khăng khăng một lời
…
Ta sầu mà ai chẳng tin Thử xem ngấn áo lệ in ít nhiều
Ngay khi Đoạn trường tân thanh (tên thường gọi là Truyện Kiều) ra đời đã
nhanh chóng có được sự đón nhận nồng nhiệt của giới văn nhân Bắc Hà Không chỉ đọc Kiều mà các danh sĩ còn đón đọc Kiều, bày tỏ sự say mê yêu thích
Truyện Kiều theo nhiều cách khác: bình Kiều, ngâm Kiều, lảy Kiều, đề Kiều hay
lấy Truyện Kiều để đề tựa cho một cuốn sách khác… Một số khác lại tìm đến thú
chơi tập Kiều để làm mới Kiều theo cách riêng của mình Phan Mạnh Danh có
thể coi là một nhà tập Kiều công phu nhất Với ông, Truyện Kiều như có một mối
“duyên nợ” riêng (chữ dùng của PGS.TS Trần Thị Băng Thanh) [49, tr.34] Từ
Trang 35năm 1896, Phan Mạnh Danh đã “nghĩ ra lối Kiều tập thơ cổ, theo điệu thơ thổng của đào nương” Chỉ sau hơn bốn năm, ông “đã làm ra được một tập hơn 60 bài
liên cú và hơn 300 bài cách cú”, đặt nhan đề là Bút hoa thi thảo (Bản thảo tập
thơ Bút hoa) Chưa dừng lại ở đó, ông còn đeo đuổi thú chơi này đến hơn bốn mươi năm sau Cuối năm 1941, mặc dù cơ thể đã bắt đầu suy nhược nhưng ông
vẫn cố gắng bổ sung vào tập thơ phần thơ cổ tập Truyện Kiều và thơ cổ tập
truyện Nôm Đến lúc này cuốn sách về cơ bản đã được hoàn thiện Đầu năm
1942, Bút hoa thi thảo được in tại nhà sách Nguyễn Trung Khác ở Nam Định
Ngoài phần nội dung chính (bài Tự thuật, các bài Kiều tập thơ cổ, Thơ cổ tập Kiều, Thơ cổ tập truyện Nôm) cuốn sách chỉ in thêm bài tựa của Phạm Quỳnh, hai bức vẽ của tác giả (Tranh mẫu đơn, Học họa hồ) Năm 1953, cuốn sách được
tái bản lần hai tại Trí Đức thư xã Hà Nội với nhan đề Bút hoa thơ tập cổ, do con
trai cả là Phan Thế Roanh trình bày và giữ bản quyền Lần in này cuốn sách còn
có thêm bức ảnh chân dung tác giả những năm cuối đời, lời giới thiệu của Tử tấn Đào Sỹ Nhã về Tiểu sử tác giả Phan Mạnh Danh, lời ban khen của Hoàng Đế, các bài đề từ Nôm, đề từ Hán, bài phê bình Nôm của Học giả, trí thức, danh nhân đương thời trong cả nước bày tỏ thị hiếu của mình sau khi được mục sở thị cuốn sách
Trước khi tìm hiểu cách tập Kiều của thi sĩ họ Phan, ta cũng nên nói đôi điều về thú chơi tập Kiều của người xưa
Phạm Đan Quế là một độc giả, một nhà sưu tầm, một nhà nghiên cứu say
mê Truyện Kiều, ông đã xuất bản trên 10 đầu sách nói về Truyện Kiều và xung quanh Truyện Kiều Trong cuốn Thú chơi Tập Kiều tác giả nêu cách thức của lối
chơi này như sau: Tập Kiều là “lựa chọn một số câu Kiều - ở những chỗ khác
nhau trong 3.254 câu của Truyện Kiều – nối vần lại được với nhau, tình ý nhất
quán để tạo thành một bài thơ mới có ý nghĩa, theo một chủ đề nhất
Trang 36định”[36,tr.9] Bài tập Kiều cũng có thể dài hay ngắn tùy theo yêu cầu cụ thể, nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế cũng chia ra ba mức như sau:
- Từng câu Kiều dùng trong toàn bài được giữ nguyên như trong văn bản
Truyện Kiều Ở mức này người tập Kiều chỉ có thể làm được thơ lục bát – thể
thơ nguyên gốc của Truyện Kiều
- Trong một số câu ta có thể cắt bớt một số chữ, đảo lại một câu hay đổi một cụm từ nhưng để thay vào đó cũng phải là một cụm từ của một câu Kiều khác Ở
mức này, bài tập Kiều chỉ gồm các chữ trong Truyện Kiều
- Thay đổi một số chữ trong các câu Kiều để thay vào bằng các chữ không
có trong Truyện Kiều Ở mức này xuất hiện các từ mới, ý mới không có trong
Truyện Kiều
Nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân trong cuốn sách Tập Kiều vịnh Kiều
lại phân chia cách thức tập Kiều theo thể khác nhau, cả thảy có 7 thể:
- Tập Kiều theo nguyên thể lục bát: giữ nguyên các câu trong Truyện Kiều;
hoặc biến chế nhưng vẫn giữ nguyên thể lục bát (bằng cách cắt hai chữ cuối của câu bát để trở thành câu lục mới, còn câu bát lại lấy câu lục cộng thêm hai chữ cuối ở câu bát liền sau)
- Thơ đường luật
- Thơ 7 chữ, mỗi đoạn bốn câu (Mỗi câu hoặc cắt ở hai câu Kiều liền nhau hoặc bắt một chữ ở câu tám vắt xuống câu sáu
- Thơ bốn chữ, từng đoạn bốn câu (mỗi câu chỉ giữ lại bốn chữ)
- Hát nói
- Văn tế
- Tập Kiều dịch thơ cổ (Trường hợp Phan Mạnh Danh)
Điểm qua những cách tập Kiều như trên để khẳng định giá trị của tác phẩm được coi là “tập đại thành của văn học Việt Nam” [26, tr.334], nó khiến cho bao
Trang 37văn nhân của biết bao đời yêu thích, say mê, lại lấy đó để bày tỏ cái thú chơi tao nhã cũng lắm công phu của mình Kể làm một bài tập Kiều theo một yêu cầu nào
đó không phải dễ Trước hết, người tập phải thuộc lòng Kiều, tùy theo đề tài mà dốc công tìm kiếm, lựa chọn những câu, những từ có ý thích hợp, sau nữa, sắp xếp thành một bài thơ hoàn chỉnh, có mở đầu, có kết thúc, ý tình tương hợp.Trong lịch sử văn học, những bài tập Kiều sớm nhất được biết đến là của Lý
Văn Phức (1785 – 1849) Năm 1847, tức là sau khi Truyện Kiều ra đời khoảng
38 năm1, Lý Văn Phức vâng mệnh vua Tự Đức làm liền hai mươi bài tập Kiều,
mỗi bài gồm tám câu lục bát dựa theo nội dung của hai mươi hồi trong cuốn Kim
Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Sau Lý Văn Phức còn có nhiều bậc
cao văn khác cũng tập Kiều như:Cụ cử Lại Trì Hà Mai Khôi, Thẩm Quỳnh, Nguyễn Khuyến, Lâm Quế Phong, Hương sơn cư sĩ Nguyễn Hữu Khanh, Phan Bội Châu, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Quảng Tuân… cũng tập Kiều So với các bài tập Kiều trên thì các bài tập Kiều của Phan Mạnh Danh cũng khá công phu và có giá trị
Trong cuốn Bút hoa thơ tập cổ Phan Mạnh Danh đã dành tới chín phần
mười cuốn sách để tập Kiều Cách tập Kiều của Phan Mạnh Danh cũng theo một lối riêng, rất lạ lẫm, trước sau không thấy ai có Phan Mạnh Danh đã tự tạo nên
trăm nghìn cái khó cho mình khi dùng Kiều tập thơ cổ rồi lại dùng thơ cổ tập
Kiều.Trong khi Kiều tập thơ cổ, không tùy tiện cắt xén, thêm bớt từ ngữ như lối
tập Kiều thông thường mà tác giả lại nương theo lối thơ thổng ả đào và lối thơ
thổng mới Chưa biết tỏ tường cách chơi nhưng đã thấy để tập được một bài Kiều
theo cách của Phan Mạnh Danh người tập ngoài việc thuộc Kiều còn phải thuộc
cơ man nào là thơ cổ (thơ Tàu và thơ ta), lại phải am tường nghệ thuật hát ả đào – thứ nghệ thuật cũng lắm công phu, lắm lối lắm điệu
1 Theo ý kiến của Đào Duy Anh về thời điểm Truyện Kiều ra đời là từ năm 1805 đến năm 1809, khi Nguyễn Du
Trang 38Theo lối thơ thổng ả đào, tác giả giải thích cách làm như sau: “Theo lối
thơ này thì lấy trong các sách Tàu ra mỗi chỗ một câu thơ, rồi ghép lại thành một bài thơ tứ tuyệt đủ niêm luật, bài thơ chữ ấy đọc vần xuống bốn câu Kiều liền,
mà bốn câu liền lại hình như dịch nghĩa những câu thơ chữ ấy ra Dùng đủ ba mươi vần bằng từ vần nhất đông đến vần thập ngũ hàm Câu nào trích ở sách nào đều có chua ở bên cạnh” [6, tr.49] Theo cách này Phan Mạnh Danh đã tập được
46 bài thơ Hán (tương ứng với 184 câu thơ Hán) và chọn ra được 45 khổ thơ 4 câu Kiều liền (tương ứng với 180 câu lục bát) để “dịch” các bài Hán thi tập trên
Có thể trích dẫn một số bài tiêu biểu:
Ngọc làm nên da thịt, băng làm nên tinh thần,
Hối vì đã đem bản chất trong sạch khiến cho lấm vì gió bụi
Phần nhiều vì chuyện lợi hại mà gặp phải kiếp nạn,
Giá như có vì vẻ hồng nhan mà tiếc tấm thân này
(PGS.TS Trần Thị Băng Thanh dịch nghĩa)
Đọc xuống đoạn Kiều lẩy như sau:
Tiếc thay trong giá, trắng ngần,
Đến phong trần cũng phong trần như ai!
Tẻ vui cũng một kiếp người, Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru?
Cũng có những đoạn Kiều “dịch” sát đến nỗi không cần dịch nghĩa bài thơ chữ ra văn xuôi nữa Ví như đoạn:
Trang 39Trùng môn tâm tỏa vị tằng khai, Thi lâm
Mấy lần cửa đóng then cài,
Đầy thềm hoa rụng biết người ở đâu?
Tần ngần đứng suốt giờ lâu, Dạo quanh, chợt thấy mé sau có nhà
Hiệp vần giữa một bài Hán và một bài tập Kiều đã khó, thế mà có những lúc, liên tiếp “hai khổ Kiều lẩy bắt vần với nhau nhưng không liền một đoạn Kiều” [49, tr.37]
Vì ai ngăn đón gió đông?
Thiệt lòng khi ở, đau lòng khi đi!
Trùng phùng dù họa có khi,
Thân này thôi có còn gì mà mong!
Trang 40Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày mong mai chờ
Bên giời góc bể bơ vơ, Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?
Cùng một khổ Kiều tập nhưng tác giả lại ghép được hai bài Hán thi khác nhau mà vẫn đảm bảo được niêm luật, vần và tình ý
Hai bài Hán thi như sau:
Khổ Kiều tập như sau:
Một mình lặng ngắm bóng nga,
Rộn đường gần với nỗi xa bời bời
Người mà đến thế thời thôi Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi
Mặc dù, tác giả chú thích là “bốn câu Kiều liền này lại hình như dịch chữ bốn câu thơ chữ ấy ra” nhưng chúng tôi thấy thực tế là tác giả phải xuất phát từ