1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội phạm nữ ở thành phố Hồ Chí Minh và khả năng tái hội nhập của họ

158 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 158
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tác động của một số chính sách đối với phụ nữ và những giải pháp phòng ngừa tội phạm đến tội phạm nữ và khả năng tái hội nhập của họ .... Ngaire Naffine trong tác phẩm “Female Crime”

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trần Thị Tân Hương

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Vũ Hào Quang

2 PGS Đỗ Thái Đồng

HÀ NỘI – NĂM 2006

Trang 2

MỤC LỤC

-

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt Danh mục các biểu Danh mục đồ thị Danh mục các biểu đồ PHẦN MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết và vấn đề nghiên cứu 1

2 Tổng quan các nghiên cứu đã có về đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5

5 Phạm vi nghiên cứu 6

6 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 7

7 Các giả thuyết nghiên cứu, hệ biến số và mô hình phân tích 8

8 Những phát hiện và đóng góp chủ yếu của luận án 10

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ TIẾP CẬN LÝ THUYẾT VỀ TỘI PHẠM NỮ VÀ KHẢ NĂNG TÁI HỘI NHẬP CỦA HỌ 1.1.Các khái niệm và tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm nữ 11

1.1.1.Các khái niệm trong nghiên cứu tội phạm nữ 11

Trang 3

1.1.1.1 Các khái niệm trong nghiên cứu tội phạm 11

1.1.1.2 Khái niệm về “phụ nữ” và “giới” 13

1.1.1.3 Khái niệm văn hóa, giá trị, chuẩn mực và lệch chuẩn 14

1.1.2 Các lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm 20

1.1.2.1 Tiếp cận nhân chủng học và tiếp cận tâm lý học 20

1.1.2.2 Các tiếp cận xã hội học về tội phạm 21

1.1.3 Các tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm nữ 26

1.1.3.1 Các tiếp cận sinh học và tâm lý học về tội phạm nữ 26

1.1.3.2 các lý thuyết xã hội học về tội phạm nữ 30

1.2 Các khái niệm và lý thuyết về tái hội nhập của tội phạm nữ 50

1.2.1 Các khái niệm về “tái hội nhập xã hội” 50

1.2.2 Các lý thuyết về tái hội nhập của tội phạm nữ 51

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG, CƠ CẤU VÀ LOẠI HÌNH TỘI PHẠM NỮ HIỆN NAY Ở TP.HCM 2.1.Sơ lược về thực trạng tội phạm ở Việt Nam và ở TP.HCM 56

2.1.1 Thực trạng tội phạm ở Việt Nam trong những năm gần đây 56

2.1.2 Vài nét về thực trạng tội phạm ở TP.HCM hiện nay 63

2.1.2.1 Đặc điểm kinh tế – xã hội TP.HCM hiện nay 63

2.1.2.2 Thực trạng tội phạm ở TP.HCM hiện nay 65

2.2 Thực trạng cơ cấu loại hình tội phạm nữ ở TP.HCM hiện nay 69

2.2.1 Tình hình cơ bản về tội phạm nữ ở TP.HCM 69

2.2.1.1 Số lượng tội phạm nữ ở TP.HCM 69

Trang 4

2.2.1.2 Thành phần tội phạm nữ 72

2.2.2 Cơ cấu loại hình tổng thể tội phạm nữ hiện nay ở TPHCM 79

2.3 Các loại hình tội phạm khác nhau ở tội phạm nữ 88

2.3.1 Tội phạm nữ mua bán, tàng trữ, sử dụng chất ma tuý 88

2.3.2 Tội phạm nữ trộm cắp tài sản của công dân 90

2.3.3 Tội phạm nữ chứa mại dâm, môi giới mại dâm 91

2.3.4 Tội phạm nữ đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc 94

2.3.5 Tội phạm nữ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân 95

CHƯƠNG 3 Ø KHẢ NĂNG TÁI HỘI NHẬP CỦATỘI PHẠM NỮ 3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tội phạm nữ 97

3.1.1 Sự chuyển đổi thang giá trị trong thời kỳ đổi mới 97

3.1.2 Những biến đổi vai trò của phụ nữ 100

3.1.3 Quá trình xã hội hóa không hoàn thiện 102

3.1.4 Thiếu điểm tựa trong cộng đồng 108

3.1.5 Thiếu cơ chế giám sát xã hội 110

3.2 Khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ 111

3.2.1 Khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ nhìn từ yếu tố cá nhân và cảm nhận của chính họ 112

3.2.2 Gia đình và khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ 121

3.2.3 Cộng đồng và khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ 125

3.2.4 Các tổ chức xã hội và chính quyền với khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ 128

Trang 5

3.3 Sự tác động của một số chính sách đối với phụ nữ và những

giải pháp phòng ngừa tội phạm đến tội phạm nữ và khả năng tái hội nhập

của họ 130

3.3.1 Sự tác động của các chính sách xã hội đến tình hình

tội phạm nữ và khả năng tái hội nhập của họ 131

3.3.2.Sự tác động của những giải pháp phòng ngừa tội

phạm đến tội phạm nữ và khả năng tái hội nhập của họ 133

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 135

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GỈA LIÊN

QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

TP.HCM……….Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU

Biểu 2.1 Tỷ lệ tội phạm theo nhóm tội danh giai đoạn 1998-2003 66

Biểu 2 2 Tỷ lệ tội phạm theo tội danh giai đoạn 1998 – 2003 68

Biểu 2.3 Tỷ lệ tội phạm so với số dân trên toàn TP.HCM giai đoạn 1991-1997, 1998- 2003 70

Biểu 2.4 Tỷ lệ cơ cấu tuổi của tội phạm nữ ở TPHCM giai đoạn 1998-2003 73

Biểu 2.5 Tỷ lệ tuổi của tội phạm và tội phạm nữ ở TPHCM giai đoạn 1998- 2003 74

Biểu 2.6 Tỷ lệ tình trạng hôn nhân của tội phạm nữ giai đoạn

1998 -2003 75

Biểu 2.7 Tỷ lệ trình độ học vấn của tội phạm nữ giai đoạn

1998 -2003 76

Biểu 2.8 Cơ cấu nghề nghiệp của tội phạm nữ giai đoạn 1998 -2003 77

Biểu 2.9 Nơi cư trú của tội phạm nữ giai đoạn 1998 -2003 78

Biểu 2.10 Tỷ lệ tình trạng tái phạm của phụ nữ trên tổng số phụ nữ phạm tội giai đoạn 1998 -2003 79

Biểu 2.11 Tỷ lệ tội phạm nữ trên tổng số tội phạm theo nhóm tội danh giai đoạn 1998 -2003 80

Biểu 2.12 Tỷ lệ tội phạm nữ trên tổng số tội phạm theo tội danh giai đoạn 1998 -2003 82

Biểu 2.13 Tội phạm nữ theo nhóm tội danh giai đoạn 1998 -2003… 85

Biểu 2.14 Tỷ lệ tội phạm nữ theo tội danh trên tổng số tội phạm nữ giai đoạn 1998 -2003 86

Trang 8

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 2.1 Tỷ lệ tội phạm so với số dân trên toàn TP.HCM đoạn

1998-2003 71

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ kết cấu tuổi của phụ nữ phạm tội ở TPHCM giai

đoạn 1998-2003 73 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ tình trạng hôn nhân của phụ nữ phạm tội ở TPHCM

giai đoạn 1998-2003 75 Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ kết cấu nghề nghiệp của phụ nữ phạm tội ở TPHCM

giai đoạn 1998-2003 77 Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ nơi cư trú của phụ nữ phạm tội ở TPHCM giai đoạn

1998-2003 78

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và vấn đề nghiên cứu của đề tài

Tình hình tội phạm nữ những năm gần đây cho thấy: nếu thời kỳ

1985-1986 số phụ nữ bị đưa ra xét xử chỉ chiếm 3-4% trong tổng số người bị đưa ra xét xử thì năm 1987 là 12,3%, năm 1990 là 18,85%… Tại TP.HCM số can phạm, phạm nhân nữ đang bị giam giữ tại trại giam Chí hòa từ 1991-1998 chiếm khoảng từ 11,1% đến 13,3% trên tổng số tội phạm hàng năm Theo số liệu của Toà án TP.HCM và các quận huyện, số bị cáo nữ chiếm 13,2% vào năm 2003 Về loại hình tội phạm của phụ nữ những năm gần đây cũng xuất hiện tội phạm mới nguy hiểm như buôn bán phụ nữ, tổ chức môi giới mại dâm với quy mô lớn, buôn bán ma túy vv…

Từ những diễn biến về tình hình tội phạm nữ, một số câu hỏi được đăt ra

như sau: (1) Tại sao tội phạm nữ thường ít hơn tội phạm nam? Điều gì đã tạo

ra sự khác biệt này? (2) Sự tăng giảm tỷ lệ tội phạm nữ diễn ra như thế nào và do ảnh hưởng của những yếu tố nào? (3)Tại sao phụ nữ ngày càng tham gia vào những hình thức phạm tội mới mà trước đây thường chỉ có ở nam giới? (4)Nguyên nhân nào đã xô đẩy phụ nữ vào con đường phạm tội?(5) Khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ như thế nào? Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ là gì ?

Có nhiều quan niệm khác nhau giải thích về hành vi tội phạm nữ và khả năng tái hội nhập của họ Xuất phát từ quan điểm xã hội học, luận án xem xét hiện tượng này với những ý tưởng cơ bản sau:

Thứ nhất: Khi con người hoặc một nhóm người bị đẩy ra ngoài lề xã

hội, khi người ta bị loại ra khỏi dòng chảy xã hội, những cơ hội cuộc sống tốt là điều không thể hay khó có thể với tới thì thường dẫn tới nhiều khả

Trang 10

năng xô đẩy con người vào con đường phạm tội Ý tưởng về tình trạng phụ nữ bị đẩy ra ngoài lề xã hội thu hút sự chú ý của tác giả tìm kiếm những nguyên nhân xã hội giải thích về tình trạng tội phạm nữ gia tăng

Thứ hai: Phụ nữ như một nhóm xã hội được định vị trong một cơ cấu

xã hội và phải chịu đựng những điều kiện, những cơ hội và kinh nghiệm đặc thù Do đó phải tìm hiểu những biến đổi của cơ cấu xã hội và văn hóa đã loại bỏ một bộ phận phụ nữ ra khỏi dòng chảy của xã hội và xô đẩy họ vào con đường phạm tội

Thứ ba: Con đường tái hội nhập vào cộng đồng đối với tội phạm nữ

liệu gặp phải những khó khăn gì ?

2 Tổng quan các nghiên cứu đã có về đề tài

Trên thế giới, nhất là ở Mỹ và một số nước phương Tây đã có nhiều nghiên cứu xã hội học về tội phạm, đặc biệt về tội phạm nữ Do bối cảnh văn hóa, xã hội và lịch sử của các xã hội có sự khác nhau nên những xem xét về tội phạm nữ cũng khác nhau

Jean Cazeuneuve trong tác phẩm “Tội phạm phụ nữ”- NXB Budapest

1978, tác giả đã dành một chương khái quát những lý thuyết, quan điểm về tội phạm nữ Tác giả phân tích những đặc tính phụ nữ phù hợp từ góc độ tội phạm; các nhận định mang khuynh hướng sinh học về tội phạm nữ; các quan điểm xã hội học và tâm lý học xã hội về tội phạm nữ; một số quan điểm tâm lý học sâu và mang tính chất chiết chung về tội phạm nữ

Richard Monk trong tác phẩm “Taking sides” (Sự tìm tòi từ các khía cạnh) đã có mộât chương đặt ra và giải quyết vấn đề “Có phải phong trào giải phóng phụ nữ đã làm tăng tình trạng phạm tội của giới nữ không?” Tác giả đã khái quát một số quan điểm khác nhau khi nhìn nhận về mối liên hệ giữa phong trào giải phóng phụ nữ và tình trạng phạm tội của phụ

Trang 11

nữ Đồng thời qua nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã mô tả thực trạng tội phạm phụ nữ ở Mỹ, phân tích những ảnh hưởng của sự thay đổi vai trò người phụ nữ Mỹ đến thực trạng phạm tội của phụ nữ ở Mỹ

Frances Heidensohn-Martin Farrell trong tác phẩm “Crime in Europe” (Tội phạm ở châu Aâu) đã dành một chương viết về phụ nữ và tội phạm ở Châu Aâu Trong chương này, tác giả đã tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa tội phạm nam và tội phạm nữ, nguyên nhân của sự khác biệt; tỷ lệ cách thức phạm tội ở các nước

Ngaire Naffine trong tác phẩm “Female Crime” (Tội phạm nữ) đã khái quát một số lý thuyết, quan điểm về tội phạm phụ nữ như: Lý thuyết về sự căng thẳng, lý thuyết về sự học hỏi và sự kết hợp khác biệt, lý thuyết phái mạnh … Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu khác như: “ Phụ nữ, tội phạm và luật hình sự” của Allison Morris, “Xã hội học về tội phạm” của Marvin E Wolfgang và Leonard Savitz …

Nhìn chung, các tác giả đều tập trung trả lời câu hỏi điều gì đã làm cho tỷ lệ phạm tội giữa hai giới khác nhau Thứ hai, điều gì đã tạo nên sự khác biệt về tội phạm giữa hai giới Tuy nhiên, những giải thích về các hiện tượng này có nhiều sự khác biệt

Về chủ đề “khả năng tái hội nhập cuả tội phạm nữ”, tác giả luận án đã chú ý tìm kiếm những lý thuyết và nghiên cứu về vấn đề này Nhưng có thể nói, cho đến nay đây là chủ đề chưa được chú ý đúng mức nên các kết quả nghiên cứu không có bao nhiêu

Hiện nay ở Việt nam, lĩnh vực xã hội học tội phạm còn rất mới và chưa hình thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh Đội ngũ nghiên cứu và các chuyên gia chuyên sâu về lĩnh vực này vẫn còn thiếu Những năm gần đây, ở một số trường đại học đã có một số sinh viên, học viên cao học,

Trang 12

nghiên cứu sinh nghiên cứu viết luận văn tốt nghiệp, luận án về đề tài tội phạm nói chung và tội phạm nữ nói riêng Tác giả Hồ Diệu Thúy đã thực hiện luận án tiến sĩ xã hội học (năm 2002)với đề tài: “Nguồn gốc xã hội của tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên hiện nay ở Việt Nam” Tác giả đã nghiên cứu những ảnh hưởng của xã hội của người chưa thành niên, những hành vi vi phạm pháp luật của những người ở tuổi vị thành niên dưới góc độ xã hội học Tác giả Phạm Đình Chi đã thực hiện luận án tiến sĩ xã hội học (năm 2005) với đề tài “Tội phạm ở tuổi vị thành niên tại TP.HCM hiện nay” Tác giả đã phân tích cơ cấu, tính chất, đặc điểm, nguyên nhân, điều kiện phát sinh của tội phạm và công tác phòng chống tội phạm vị thành niên ở TP.HCM Tuy nhiên trong các nghiên cứu này chưa chú trọng xem xét về tội phạm nữ và khả năng tái hội nhập của họ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 1 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ những ý tưởng nghiên cứu trên, mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu thực trạng và khuynh hướng của tội phạm nữ ở TP.HCM hiện nay và xem xét khả năng tái hội nhập xã hội của họ Để làm rõ thực trạng của tội phạm nữ, tác giả sẽ đi sâu nghiên cứu về cơ cấu và lọai hình của tội phạm nữ từ đó xác định những khuynh hướng chủ yếu của tội phạm nữ ở TP.HCM Về khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ , tác giả tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tội phạm nữ, như sự chuyển đổi bảng thang gía trị trong thời kỳ đổi mới, những biến đổi vai trò của người phụ nữ, quá trình xã hội hóa, tình trạng thiếu điểm tựa trong cộng đồng và thiếu cơ chế gíam sát xã hội để từ đó tìm ra khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ Tác giả xem xét yếu tố cá nhân và cảm nhận của chính tội phạm nữ về khả năng tái hội nhập

Trang 13

của họ Vấn đề tái hội nhập của phụ nữ phạm tội còn xét từ sự tác động của gia đình, cộng đồng , các tổ chức chính quyền đối với khả năng tái hội nhập của họ Nhận diện những vấn đề trên nhằm đưa ra những khuyến nghị có tính khả thi đối với việc hạn chế tình trạng phạm tội ở phụ nữ và tăng cường khả năng tái hội nhập của họ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu trên, tác giả luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu gồm : (1) Làm rõ những khái niệm và định hướng lý thuyết làm

cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài (2) Mô tả và phát hiện khuynh hướng phạm tội của phụ nữ có những biểu hiện gì trong những năm gần đây (3) Tìm hiểu những yếu tố tác động đến khuynh hướng tội phạm nữ ở TP.HCM (4) Xem xét quá trình tái hội nhập xã hội của tội phạm nữ từ chính khả năng và cảm nhận của tội phạm nữ và sự hỗ trợ của cộng đồng Khi xem xét vấn đề này tác giả có lưu tâm đến quá trình xã hội hóa và xã hội hóa lại

của tội phạm nữ

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án này là hành vi phạm tội của tội phạm nữ ở TP HCM và khả năng tái hội nhâp của họ Những vấn đề cơ bản của đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là thực trạng khuynh hướng, nguyên nhân và các yếu tố tác động đến hành vi của tội phạm nữ; mối quan hệ giữa những biến đổi cấu trúc xã hội và tội phạm nữ trong giai đoạn hiện nay ở TP.HCM; khả năng tái hội nhập của họ

Trang 14

4.2 Khách thể nghiên cứu

Nghiên cứu của luận án này tập trung vào những phụ nữ đã từng phạm

tội, chủ yếu là những phụ nữ nghèo, sau thời gian chịu sự xử lý của pháp luật đã và đang trong quá trình hội nhập trở lại với đời sống trong cộng

đồng của mình

5 Phạm vi nghiên cứu

Về mặt không gian, đề tài chọn địa bàn TP.HCM, đây là nơi có tốc độ tăng tưởng kinh tế cao nhất trong cả nước và đồng thời là nơi có nhiều vấn đề xã hội đang đặt ra cần được giải quyết Một trong những vấn đề đó là

vấn đề tội phạm nữ và khả năng tái hội nhập của họ Tuy nhiên, về khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ, luận án chỉ dừng lại ở những nghiên cứu bước đầu có tính khám phá nhằm làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo Tác giả đặc biệt chú ý đến nhóm tội phạm nữ nghèo vì đây là nhóm dễ bị tổn thương và khó hội nhập Tác giả không tập trung vào nhóm

tội phạm nữ có nhiều điều kiện thuận lợi trong cuộc sống vì tỷ lệ tội phạm nữ của nhóm này là không nhiều và khả năng tái hội nhập của họ tương đối thuận lợi

Về mặt thời gian, các dữ kiện làm cơ cở cho nghiên cứu trong luận án này được chọn từ năm 1998 đến nay Đây là khoảng thời gian diễn ra những biến đổi kinh tế xã hội một cách sâu sắc trên phạm vi cả nước nói chung và TP.HCM nói riêng Cũng trong thời gian này quyết tâm phòng chống tội phạm của Đảng, nhà nước với sự tham gia của toàn xã hội đã được cụ thể hoá bằng một chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm Do đó, những năm gần đây tình hình tội phạm đã có xu hướng giảm dần Phải chăng những biến đổi kinh tế-xã hội và chương trình quốc gia phòng, chống tội

Trang 15

phạm đã có tác động ảnh hưởng đến tình hình tội phạm nói chung và tội phạm nữ nói riêng

6 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

6.1 Về phương pháp luận

Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, tác giả luận án sử dụng phương pháp luận được gợi ý từ lý thuyết chức năng, lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết xung đột Nếu phần mô tả khuynh hướng của tội phạm nữ, người nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng là chủ yếu thì phần tìm hiểu về các yếu tố tác động đến hành vi của tội phạm nữ và khả năng tái hội nhập của họ, tác giả ưu tiên sử dụng phương pháp định tính Việc lựa chọn phương pháp định lượng là phù hợp với mục tiêu của việc nhận diện những đặc điểm về cơ cấu, lọai hình của tội phạm nữ và phù hợp với khả năng thực tế của việc thu thập thông tin Việc lựa chọn phương pháp định tính phù hợp để tìm hiểu về một vấn đề hết sức nhạy cảm là những yếu tố tác động đến hành vi phạm tôïi từ chính cách nhìn của tội phạm nữ và đặc biệt

là khi tìm hiểu về khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ

6.2 Về phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phân tích dữ liệu

Trên cơ sở phương pháp luận trên đây, để có dữ liệu đảm bảo độ tin cậy, luận án sử dụng những tài liệu đã được công bố, đồng thời bản thân tác giả luận án đã tiến hành thu thập tài liệu từ các nguồn dữ liệu thống kê, tài liệu, bản án của các cơ quan như Tòa án nhân dân TP.HCM và Tòa án nhân dân các quận, huyện trong thành phố, trại giam Chí Hòa ở TP.HCM, các báo cáo của Công an TP.HCM, Số liệu và các bản án của Tòa án TPHCM giúp có cái nhìn tổng hợp về thực trạng tội phạm ở TP.HCM Sau

Trang 16

khi thu thập các thông tin từ các tòa án, trại giam, các số liệu được tổng hợp và xử lý làm cơ sở cho việc phân tích

6.2.2 Phỏng vấn sâu

Đặc biệt tác giả chú ý dùng phương pháp định tính thông qua các

nghiên cứu phỏng vấn sâu đối với 36 trường hợp tội phạm nữ (tập trung vào nhóm phụ nữ nghèo và địa bàn trong điểm về tội phạm là quận 4 vì họ chiếm tỷ lệ cao trong tổng số tội phạm nữ đồng thời họ gặp nhiều khó khăn trong quá trình tái hội nhập), gia đình của tội phạm nữ và một số tổ chức xã hội

có liên quan trực tiếp đến khả năng tái hội nhập xã hội của họ để nghiên cứu đề tài

7 Các giả thuyết nghiên cứu, hệ biến số và mô hình phân tích

7.1 Các giả thuyết nghiên cứu

Việc tìm hiểu những khuynh hướng của tội phạm nữ, khả năng tái hội nhập của họ và những yếu tố tác động ảnh hưởng đến các hiện tượng này được định hướng trên cơ sở những giả thuyết sau đây:

Giả thuyết 1 Những biến đổi kinh tế – xã hội trong quá trình chuyển đổi đã tác động đến sự biến đổi thang giá trị trong xã hội Đây là nguyên nhân sâu xa của sự biến đổi khuynh hướng tội phạm nữ

Giả thuyết 2 Việc mất điểm tựa hoặc không tìm được điểm tựa trong gia đình, cộng đồng đã đẩy phụ nữ vào con đường phạm tội và làm giảm khả năng tái hội nhập của họ

Giả thuyết 3 Phụ nữ (đặc biệt là phụ nữ thuộc nhóm nghèo) không tìm được việc làm là nguyên nhân của sự gia tăng tội phạm và là khó khăn của tội phạm nữ trong quá trình tái hội nhập

Trang 17

Giả thuyết 4 Sự khác biệt giới trên nhiều phương diện của đời sống là nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt giữa nam và nữ về khuynh hướng phạm tội, nguyên nhân phạm tội và khả năng tái hội nhập của họ

Giả thuyết 5 Quá trình xã hội hóa không hoàn thiện và thiếu cơ chế giám sát xã hội là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng tội phạm nữ và cản trở quá trình tái hội nhập của họ

7.2 Hệ biến số

7.3 Mô hình phân tích

Từ ø giả thuyết trên có thể đưa ra mô hình phân tích như sau:

Biến số độc lập

Tuổi

Trình độ học vấn

Nghề nghiệp

Việc làm

Xã hội hóa không hòan thiện

Thiếu cơ chế giám sát

Biến số trung gian

Điều kiện KT-XH-VH Biến đổi KT, giá trị, vai trò

Biến số phụ thuộc

Cơ cấu và lọai hình tội phạm nữ

Khả năng tái hội nhập

Biến đổi

thang giá trị

Biến đổi kinh tế –xã hội

Biến đổi vai trò phụ nữ

Thiếu cơ chế gíam sát

Xã hội hóa không

hòan thiện

Không việc làm Thiếu điểm tựa

Trang 18

Trong mô hình phân tích trên đây, những biến đổi kinh tế xã hội đã tác động làm biến đổi thang giá trị trong xã hội và biến đổi vai trò của của phụ nữ Những biến đổi này thông qua các yếu tố như sự xã hội hóa không hòan thiện ở phụ nữ, tình trạng không có việc làm của phụ nữ và trạng thái thiếu điểm tựa của người phụ nữ trong gia đình hay cộng đồng và thiếu những cơ chế gíam sát xã hội đã xô đẩy người phụ nữ vào hành vi phạm tội Khả năng tái hội nhập của tội phạm nữ cũng phụ thuộc vào những yếu tố trên đây và thêm vào đó là sự tác động của quá trình xã hội hóa lại liên quan đến giai đọan họ thực hiện vai trò phạm nhân của mình và giai đọan sau khi thi hành án

8 Những phát phát hiện và đóng góp chủ yếu của luận án

Phát triển những ý tưởng và kết quả của những nghiên cứu đã có về đề tài, tác giả luận án đã xây dựng mô hình phân tích làm cơ sở nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tội phạm nữ và khả năng tái hội nhập của họ Trên cơ sở những dữ liệu thu thập từ các tòa án, tác gỉa luận án đã khám phá những đặc điểm về thực trạng, cơ cấu và lọai hình tội phạm nữ ở TP.HCM hiện nay Đặc biệt, thông qua việc phân tích kết quả của các phỏng vấn sâu với tội phạm nữ, tác giả luận án đã tìm hiểu quá trình tái hội nhập của tội phạm nữ và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái hội nhập của họ Những phát hiện và kết quả nghiên cứu này có thể đóng góp cho việc hiểu sâu hơn đối với lĩnh vực xã hội học tội phạm ở Việt Nam nói chung và xã hội học về tội phạm nữ nói riêng Xuất phát từ các kết quả nghiên cứu, những khuyến nghị về giải pháp có ý nghĩa đối với các cơ quan quản lý, bảo vệ pháp luật và các tổ chức có liên quan đến tội phạm nữ đề ra chính sách và chương trình hành động góp phần hạn chế tình hình tội phạm nữ và tăng cừơng khả năng tái hội nhập của họ

Trang 19

CHƯƠNG 1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ TIẾP CẬN LÝ THUYẾT VỀ TỘI PHẠM NỮ VÀ KHẢ NĂNG TÁI HỘI NHẬP CỦA HỌ

1.1 Các khái niệm và tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm nữ 1.1.1 Các khái niệm trong nghiên cứu tội phạm nữ

1.1.1.1 Các khái niệm trong nghiên cứu tội phạm

Khái niệm “phạm pháp” theo nghĩa rộng là những hành vi sai lệch, là

sự vi phạm chuẩn mực luật pháp của xã hội của các cá nhân, nhóm, tổ chức… nào đó Trong thực tế, có những hành vi phạm pháp là tội phạm, có hành vi phạm pháp chưa phải là tội phạm Ngược lại, đã là tội phạm thì trước hết đó phải là hành vi phạm pháp - phạm pháp ở mức độ “gây nguy hiểm” cho xã hội

Khái niệm “phạm pháp hình sư”ï được hiểu theo nghĩa khác nhau và

cách sử dụng nhiều khi cũng khác nhau Thứ nhất, dùng để chỉ những vi phạm pháp luật hình sự của cá nhân, tổ chức…Thứ hai, dùng để chỉ những hành vi phạm pháp trong các lĩnh vực không có liên quan đến chính trị và

an ninh quốc gia Thứ ba, trong thực tế hiện nay, khái niệm phạm pháp hình sự được sử dụng đồng nhất với khái niệm tội phạm hình sự Mặc dù hai khái niệm này là khác nhau, song các cơ quan Bộ công an, các văn bản báo cáo cũng như nhiều bài viết, bài báo… đều hay dùng theo nghĩa này Vì vậy, khi đề cập đến khái niệm phạm pháp hình sự là luận án cũng sử dụng theo nghĩa này Cụ thể, thuật ngữ tội phạm hình sự dùng để chỉ các tội phạm nguy hại đến trật tự an toàn xã hội như: cướp của, giết người, hiếp dâm, lừa đảo, tham ô… để phân biệt với tội phản cách mạng

Trang 20

Khái niệm “tội phạm” được ghi trong chương III, điều 8 Bộ luật hình

sự của Việt Nam đề cập đến những nội dung cơ bản gồm: thứ nhất, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,

do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô

ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền lợi và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Thứ hai, tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Những tội phạm khác là tội phạm ít nghiêm trọng Thứ ba, những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”

Khái niệm “phạm tội” đề cập đến việc thực hiện những hành vi nguy

hiểm cho xã hội mà luật hình sự xác định là tội phạm cần xử phạt

Khái niệm “tình hình tội phạm” đề cập đến trạng thái tĩnh của các tội

phạm xảy ra trong một khoảng thời gian lớn (từ 5 hoặc 10 năm trở lại) ở một địa bàn nhất định Tình hình tội phạm được thể hiện dưới hình thức các số liệu thống kê hình sự Đó hoặc là các chỉ số tuyệt đối, hoặc là chỉ số phần trăm là con số thể hiện số tội phạm trên số dân cư theo thường lệ là 1:10.000 Như vậy, việc sử dụng số phần trăm tội phạm trên tổng số dân cư để đánh giá tình hình tội phạm là có tính chất khách quan vì nó cho phép thấy rõ trạng thái tội phạm ở từng nơi, cho phép so sánh dưới những mẫu số

Trang 21

chung giữa tình hình tội phạm ở khu vực này với tình hình tội phạm ở khu vực khác và từ đó thấy rõ được biến động chính xác của tội phạm

Khái niệm “cơ cấu tội phạm” đề cập đến trạng thái tĩnh của tội phạm

trong một khoảng thời gian tương đối lớn Cơ cấu tội phạm được thể hiện qua mối liên hệ giữa các bộ phận khác nhau của tội phạm trong tổng số chung của tội phạm Tùy theo nhu cầu tìm hiểu, đánh giá mà người ta phân loại các bộ phận đó Đó có thể là mối tương quan giữa các loại tội theo cách phân loại ở phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam Đó có thể là cơ cấu theo loại chủ thể của tội phạm, hoặc cũng có thể là cơ cấu theo địa bàn mà người ta gọi đó là địa lý tội phạm

1.1.1.2 Khái niệm về “phụ nữ” và “giới”

Phụ nữ được hiểu là một phần của xã hội gồm tập hợp người được xác định về mặt sinh học thuộc giống cái, phân biệt với tập hợp khác của xã hội là nam giới thuộc giống đực Về mặt khoa học, cần phân biệt khái niệm giới tính (sex) với ý nghĩa là sự phân biệt giữa giống cái và giống đực, với khái niệm “giới” (gender) với ý nghĩa là một thuật ngữ xã hội học nói đến vai trò, trách nhiệm, quan hệ xã hội giữa nam và nữ Giới đề cập đến sự phân công lao động, phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong

một bối cảnh xã hội cụ thể Giới được hình thành do học và giáo dục, không đồng nhất, khác nhau ở mỗi nứơc, mỗi địa phương, thay đổi theo thời gian, theo quá trình phát triển kinh tế xã hội [62; tr 4]

Như vậy, khi chú trọng tới sự khác biệt về mặt tự nhiên sinh học người

ta dùng khái niệm giới tính, còn khi nhấn mạnh và giải thích sự khác biệt về mặt xã hội nhất là sự bất bình đẳng nam nữ người ta dùng khái niệm giới

Trang 22

Ngoài việc tham gia vào sản xuất xã hội, phụ nữ còn phải thực hiện chức năng quan trọng khác có liên quan đến vai trò xã hội, đặc biệt là vai trò người mẹ trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái Điều này cho phép tách riêng phụ nữ thành một nhóm nhân khẩu xã hội đặc biệt lấy đặc trưng giới tính là cơ sở phần chia Giống như bất cứ các nhóm xã hội nào khác, nhóm phụ nữ có những đặc trưng tâm lý xã hội, những nhu cầu, những lợi ích và những quan hệ đặc thù riêng

1.1.1.3 Khái niệm văn hóa, giá trị, chuẩn mực và lệch chuẩn

Khái niệm “văn hóa” đề cập đến một trong những mặt cơ bản của đời

sống xã hội Văn hóa là một hệ thống các tri thức, các giá trị, các chuẩn mực và biểu tượng của một xã hội được hình thành trong quá trình hoạt động của con người, được bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ sau Hệ thống văn hóa có chức năng như là một khuôn mẫu chuẩn mực quy định các hành vi xã hội Mỗi cá nhân muốn trở thành con người xã hội, phải tiếp thu, tuân thủ theo các chuẩn mực đó Về phương diện này có thể coi văn hóa của xã hội là cơ sở cho quá trình xã hội hóa cá nhân và nhóm

Nghiên cứu về tác động của biến đổi văn hóa đến hành vi và mức độ tội phạm cho thấy tình trạng phạm pháp gia tăng là một trong những biểu hiện của sự tan vỡ trong các hệ thống giá trị Người ta tuân theo luật lệ này và bất tuân một số luật lệ khác tùy theo họ có tin tưởng ở luật lệ đó hay không Tôn trọng luật lệ giảm xuống và mức độ phạm pháp cao lên khi nhiều giá trị phối hợp trong luật lệ không có căn bản chung và trong nhiều nhóm sự tôn trọng giảm bớt này làm họ dửng dưng với hầu hết những giá trị thiêng liêng trong pháp luật Tuy nhiên, trong vài trường hợp, những điều kiện làm cho sự không tôn trọng luật pháp phát triển có thể hoàn toàn không chủ định Một số nhóm chấp nhận chính thức quy luật căn bản của

Trang 23

xã hội rộng lớn nhưng phát triển thái độ phạm pháp vì xã hội không thỏa mãn được nhu cầu của họ, và những nhu cầu này được phản ánh trong văn hóa nhóm của họ Những “xung đột văn hóa” có thể là nguyên nhân của hành vi phạm tội Trong một số nhóm, sự không tôn trọng giá trị chính thức là một sản phẩm trực tiếp của những quy luật văn hóa xung đột Một số nhà xã hội học quan niệm những sự xung đột văn hóa là sự chênh lệch giá trị, khởi đầu như là những kết quả của nền văn hóa càng ngày càng phức tạp và sự xung đột do sự tác động qua lại của những quy luật văn hóa khác nhau Sự cách biệt của giá trị xuất hiện khi giá trị chính thức của một nền văn hóa xung đột với giá trị của nền văn hóa khác Những sự xung đột giữa những quy luật văn hóa khác nhau có thể xuất hiện qua ba quá trình liên quan với nhau Thứ nhất, những quy luật có thể xung đột nhau ở những ranh giới của những khu vực văn hóa kế tiếp nhau Hành động không bị coi là trọng tội ở một văn hóa này nhưng có thể coi là trọng tội ở một văn hóa khác Thứ hai, trong chế độ “thuộc địa hóa”, những giá trị chính thức của một nhóm này đem áp dụng cho lãnh thổ của một nhóm khác vì thế cách cư xử truyền thống trở nên phi pháp Thứ ba, Khi các cá nhân của một nhóm văn hóa di dân đến một nơi khác, họ có thể mang theo cách cư xử xung đột với quy luật của nền văn hóa mới và vì vậy trở nên phi pháp Nhiều nhóm di dân không hiểu luật lệ của nền văn hóa mới nên phạm pháp một cách không chủ tâm Tuy nhiên có mối quan hệ giữa những xung đột văn hóa và xung đột tinh thần Xung đột văn hóa thường xuất hiện ở những cá nhân là loại xung đột tâm lý và không thích ứng với hoàn cảnh hiện tại Có quan niệm

cho rằng sự đảo lộn về nhân cách này sẽ đưa đến tội phạm Ý niệm về sự thích ứng văn hóa đề cập đến tình trạng khi một nhóm người di chuyển tới

một nơi cư trú khác thì nhóm đó bỏ những giá trị truyền thống, những cách

Trang 24

thức hành động đã trở thành phi pháp đối với nền văn hóa mới Những nhóm đã thích ứng văn hóa muốn bỏ những tập quán xung đột để trở thành những người tuân theo pháp luật, và thay vào đó họ lựa chọn nền văn hóa mới

Khái niệm “Giá trị”: là quan niệm về điều mong muốn đặc trưng hiện

hay ẩn cho một cá nhân hay một nhóm và ảnh hưởng tới việc chọn các phương thức, phương tiện hoặc mục tiêu hành động (Cl.Kluckhohn)[23;tr156]

Trong xã hội học, khái niệm này được xem là cơ bản khi xem xét hành vi của con người dưới sự tác động của những giá trị của các cá nhân và nhóm người trong xã hội Theo quan niệm của Durkheim, “giá trị xã hội” nằm trong ý thức tập đòan (tinh thần tập đòan là cơ sở của đòan kết xã hội Lịch sử nhân lọai là lịch sử phát triển biến đổi của hai lọai đòan kết xã hội, đó là đòan kết cơ giới và đòan kết hữu cơ Theo Durkheim trong các xã hội cổ xưa, và những xã hội có trình độ sản xuất thấp kém chưa có sự phức tạp trong phân công lao động xã hội, loại xã hội này chỉ có kiểu đòan kết

cơ giới Kiểu đoàn kết hữu cơ thuộc về những xã hội công nghiệp hiện đại, khi có sự phân công lao động phức tạp hơn nhiều, tuy nhiên tính tập đoàn được hình thành trong sự hợp tác và đòan kết xã hội [47;tr19] T Parsons, một tác giả nổi tiếng của trường phái xã hội học cơ cấu chức năng, coi giá trị như là quy tắc cao nhất của hành vi, nhờ đó mà sự đồng tâm nhất chí được thực hiện cả ở trong nhóm nhỏ lẫn trong xã hội tổng thể.[47;tr22] Về sự hình thành các giá trị, trong khi các nhà xã hội học cổ điển chú

ý tới quá trình đánh giá về một tình trạng được đề cao của các hệ thống xã hội, và chú ý tới các phương thức hợp thức hóa các giá trị thì sự tìm tòi của các nhà xã hội học hiện đại đã chú ý tới sự hình thành và chức năng của

Trang 25

các giá trị Họ cho rằng các giá trị không thể là cái gì khác ngoài những sở thích tập thể nảy sinh từ một bối cảnh thiết chế, và thông qua bối cảnh mà chúng được hình thành, chúng góp phần vào điều chỉnh chính bối cảnh ấy Có thể thấy, giá trị thường gắn với nhu cầu, nó tạo nên động cơ hành động của mỗi con người Do đó đằng sau mỗi hành động có ẩn chứa một giá trị, đằng sau mỗi giá trị có ẩn dấu một nhu cầu Đời sống của một cộng đồng xã hội thường cần đến nhiều nhu cầu, trong đó có cái chính, cái phụ và cái phát sinh Tương ứng với nhiều nhu cầu, xã hội cũng cần đến nhiều giá trị và hình thành bảng giá trị xã hội Trong bảng giá trị xã hội không phải mọi yếu tố đều ngang nhau vì thế, bảng giá trị xã hội còn gọi là thang giá trị xã hội Giá trị chủ đạo đóng vai trò chi phối đối với toàn bộ hoạt động xã hội của con người thì gọi là giá trị định hướng, tức lý tưởng xã hội Tùy theo thời gian và không gian xã hội, mỗi nền văn hóa có thể chọn một giá trị nào đó làm giá trị định hướng Chẳng hạn, nếu trong xã hội truyền thống người

ta thường chọn giá trị thuộc lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo, còn trong xã hội nông nghiệp người ta thường chọn quyền lực chính trị thì xã hội công nghiệp người ta thường chọn lĩnh vực kinh tế làm giá trị định hướng Điều cần nhấn mạnh là xem xét về sự chuyển đổi bảng thang giá trị xã hội trong thời kỳ đổi mới ở nước ta có tác động như thế nào đến sự gia tăng tội phạm nói chung và tội phạm phụ nữ nói riêng

Khái niệm “chuẩn mực xã hội” là biểu hiện cụ thể của giá trị và là cơ

sở định hướng hành vi của cá nhân hay của nhóm xã hội trong những điều kiện nhất định và có chức năng kiểm soát xã hội đối với hành vi của cá nhân Chuẩn mực xã hội chỉ điều tiết những hành vi có tính chất xã hội, tức là các hành vi có liên quan tới mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, các tập thể, các giai cấp có liên quan đến xã hội nói chung Chuẩn mực xã hội

Trang 26

quy định những mục tiêu cơ bản, những giới hạn, những điều kiện và các khuôn mẫu ứng xử trong các lĩnh vực quan trọng nhất của đời sống đối với xã hội hoặc nhóm xã hội Chuẩn mực có thể xem là những mẫu mực, những mô hình của hành vi thực tế của con người như những chương trình hoạt động thực tiễn của họ khi gặp một tình huống cụ thể nào đó Có thể nói, chuẩn mực xã hội phần lớn củng cố các hành vi thể hiện những mối liên hệ và quan hệ xã hội điển hình Hành vi này tiêu biểu cho đa số đại biểu của một giai cấp hay một nhóm xã hội nhất định và được họ tán thành, hoan nghênh nhất

Thông thường chuẩn mực xã hội được định nghĩa như quy tắc, như yêu cầu của xã hội đối với cá nhân, trong đó xác định ít nhiều chính xác khối lượng, tính chất và cả những giới hạn của cái có thể và cái được phép trong hành vi cá nhân Chuẩn mực xã hội là sản phẩm của sự nhận thức, của sự xử lý các thông tin trong ý thức của con người về quá khứ và hiện tại, về các cách thức xử lý và hoạt động hợp lý nhất và được kiểm nghiệm trên thực tế và bằng con đường ngắn nhất đưa đến kết quả Vì vậy nó được xem như là phương tiện mạnh mẽ để điều tiết xã hội đối với hành vi của chủ thể Mặc dù tồn tại một loạt các thuộc tính chung chuẩn mực xã hội trong đa số trường hợp đều được phân biệt giữa chúng với nhau, đôi khi rất cơ bản Nếu không lưu ý đến cái chung giữa chúng, cũng như những sự khác nhau trong các thuộc tính, trong cơ cấu, trong khả năng điều tiết của chúng thì chúng ta không thể hiểu sâu sắc bản chất, cơ chế và nguyên nhân của những sai lệch xã hội khác nhau

Có thể phân thành một số loại chuẩn mực xã hội như sau: chuẩn mực luật pháp, chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực chính trị, chuẩn mực thẩm mỹ vv… Chuẩn mực luật pháp là chuẩn mực điều chỉnh các quan hệ xã hội có ý

Trang 27

nghĩa quan trọng nhất đối với xã hội Các nhà xã hội học quan tâm đến những luật pháp nào có tính chất xã hội bền vững hơn và giá trị xã hội lớn hơn, nhất là những giá trị mang tính chất truyền thống Họ thường đặt đối lập các giá trị truyền thống,văn hóa, đạo đức với những giá trị luật pháp Đặc điểm của chuẩn mực luật pháp thường là sự ghi nhận văn bản; các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước công bố và bác bỏ theo quy định chính thức do pháp luật quy định; miêu tả rõ ràng và khúc triết cách ứng xử hoặc miêu tả rõ ràng các giới hạn của hành vi; có sự trừng phạt hoặc khích lệ được quy định rõ rệt và được bảo đảm việc thực hiện bằng sức mạnh của nhà nước Chuẩn mực luật pháp được hình thành một cách khách quan, thể hiện qua các điều luật trong bộ luật Các chuẩn mực luật pháp là phương thức kiểm soát xã hội hữu hiệu nhất và bất cứ xã hội nào cũng phải sử dụng để điều chỉnh các quan hệ, sự phụ thuộc và tương tác lẫn nhau giữa các thành viên Nếu xã hội càng văn minh thì chuẩn mực luật pháp càng có cơ hội thực hiện Chuẩn mực luật pháp được thể hiện ở đặc tính giai cấp, thông qua lợi ích giai cấp để quy định, các điều luật của bộ luật Tính chất cứng rắn và nguyên tắc của chuẩn mực luật pháp được thông qua các thiết chế của nó Chuẩn mực luật pháp hoặc phản ánh, củng cố các quan hệ hình thành trong xã hội hoặc thừa nhận những cách ứng xử có ích cho xã hội mà trước đó chưa mang tính phổ biến

Khái niệm “lệch chuẩn” (Deviance) đề cập đến những hành vi ra khỏi

chuẩn mực, vi phạm chuẩn mực Sai lệch xã hội rất đa dạng và về nguyên tắc không qui vào một hành động sai lệch, nó thường là một hệ thống những hành động liên quan đến lối sống, lối ứng xử của con người Sai lệch xã hội trong mỗi xã hội có những nét chung cơ bản Những nét chung của sai lệch xã hội nằm trong nguồn gốc lịch sử và trong những nguyên nhân

Trang 28

tồn tại của chúng và cả trong những hậu quả xã hội đối với xã hội Nguyên nhân chủ yếu của những sai lệch xã hội là mâu thuẫn giữa yêu cầu của hệ thống chuẩn mực và các lợi ích của chủ thể hành động Mà mâu thuẩn này về cơ bản có tính chất xã hội Bản chất của sai lệch xã hội là sự thiệt hại gây ra những tổn thất cho lợi ích của các giai cấp, của nhóm xã hội, của xã hội vì vậy xã hội đã quy định và sử dụng hệ thống điều tiết bằng chuẩn mực xã hội tương ứng Hành vi sai lệch khác kẻ sai lệch Hành vi sai lệch sẽ dễ xuất hiện ở nhiều người và hành vi sai lệch là hành vi của cá nhân Kẻ sai lệch khi hành vi của họ bị bắt quả tang, bị lên án

1.1.2 Các lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm

1.1.2.1 Tiếp cận nhân chủng học và tiếp cận tâm lý học

Tội phạm là một hiện tượng được nhìn nhận và lý giải duới nhiều góc độ khác nhau Trước khi những cách giải thích từ cách tiếp cận xã hội học xuất hiện thì những cách tiếp cận khác đã tồn tại từ lâu, trong đó phải kể đến nhân chủng học, tâm lý học

Tiếp cận nhân chủng học

Vào những năm 70 của thế kỷ 19, từ góc độ nhân chủng học, một số

nhà nghiên cứu cho rằng phạm tội là do các yếu tố bẩm sinh, do ảnh hưởng của những đặc điểm sinh lý của cơ thể, do bản năng sinh học Lombroso (1836-1909), một tác giả người Ý thường được coi như một trong những nhà sáng lập của nền nhân chủng học về tội phạm, qua các nghiên cứu của mình, ông đã chứng minh rằng người phạm tội là sự lại giống của những loại hình người sơ khai và hung tợn mà ta còn có thể nhận thấy những nét trên cơ thể Như vậy, theo cách tiếp cận này, có thể nhìn hình dáng bên

Trang 29

ngoài của con người để phán đoán khả năng phạm tội của họ Những quan điểm của trường phái này đã ảnh hưởng đến những giải thích về sự lệch lạc trong những thời kỳ đầu tiên và xem tội phạm, những hình thức lệch lạc xã hội khác như là những biến thể của bộ môn “bệnh lý học xã hội” [41; tr 152]

Tiếp cận tâm lý học

Tiếp cận tâm lý học lại giải thích về tội phạm thông qua việc tìm kiếm mối tương quan giữa những khuôn mẫu nhân cách với các hành vi phạm pháp hay các hành vi lệch lạc khác Lối tiếp cận này giải thích hành vi lệch lạc chủ yếu trên bình diện cá nhân [41; tr 153-154]

Cách tiếp cận nhân chủng học và tâm lý học tập trung tìm hiểu những ảnh hưởng của yếu tố sinh học và tâm lý học đến tội phạm

1.1.2.2 Các tiếp cận xã hội học về tội phạm

Các tiếp cận xã hội học về tội phạm ra đời muộn hơn so với những cách giải thích trên và phát triển vào nửa sau của thế kỷ 19 Các nhà xã hội học đã triển khai một cách nhìn và cách giải thích theo chiều hướng khác về hành vi phạm tội Về căn bản họ thống nhất xem xét sự ảnh hưởng và tác động của các yếu tố xã hội đến tình hình tội phạm và hành vi phạm tội nhưng có những cách nhìn nhận và giải thích khác nhau về tội phạm Các nhà xã hội học xem xét lý giải tội phạm ở ba cấp độ: cấp độ vĩ mô, cấp độ tiểu môi trường và cấp độ hành vi Theo ba cấp độ đó, các nhà lý thuyết có những cách nhìn nhận khác nhau

Lý thuyết chức năng về tội phạm

Một cách thông thường người ta coi hành vi lệch lạc là không có ích gì cho sự tồn tại của xã hội Nhưng theo lối giải thích của các nhà lý thuyết cấu trúc-chức năng thì các hình thức lệch lạc có thể có những đóng góp cho

Trang 30

sự vận hành của xã hội Chẳng hạn, E.Durkheim quan niệm rằng sự lệch lạc có tác dụng khẳng định các giá trị, các chuẩn mực của nền văn hóa

Tác phẩm “Tự tử” nổi tiếng của E Durkheim cho thấy một hành vi lệch lạc- như vấn đề tự tử- không chỉ là một vấn đề của cá nhân, mà tự tử là

một vấn đề xã hội Ông cho rằng ở cộng đồng xã hội nào có những điều kiện xã hội ít tính hội nhập xã hội, xã hội nào rơi vào tình trạng phi chuẩn mực (anomie) thì tỷ suất người lệch lạc (trong trường hợp này là người tự tử) cao hơn những xã hội khác [41; tr154 ]

Trong cuốn “Phân công lao động xã hội” và cuốn “ Các quy tắc của phương pháp xã hội học” E Durkheim đã đưa ra bốn quan điểm sau đây về tội phạm: (1)Chúng ta không lên án một hành động vì nó là tội phạm, nhưng nó là phạm tội vì chúng ta lên án nó Socrate là tội phạm trong con mắt của người Athen, không phải là tội phạm trong con mắt của chúng ta (2)Tội phạm là một hiện tượng “ bình thường” vì rằng tình cảm căm ghét gây ra do những hành động được coi là phạm tội trong một hòan cảnh xã hội nhất định lại không thể phát sinh với cùng một cường độ ở tất cả mọi cá nhân.(3) Hình phạt có thể có tác dụng ngăn ngừa, nhưng một tình cảm căm ghét với hành vi bị chê trách lại không mạnh ở mọi người, cho nên nó cũng không làm giảm tội phạm (4) Chỉ có tội phạm ở nơi nào có trừng phạt bởi pháp luật Hoặc chỉ có trừng phạt của pháp luật những hành động được xác định rõ ràng bằng luật Một hành vi có thê’bị chỉ trích rất nặng nề lại không

bị coi là tội phạm nếu nó không tương ứng với những hành vi có thể xác định bằng luật (Những đứa con bất hiếu nhất cũng không bị coi là tội phạm).[88; tr 1982]

Trang 31

Một lý thuyết khác theo quan niệm cấu trúc-chức năng đó là lý thuyết của Robert Merton Ôngï phân loại tội phạm trên cơ sở con người đã thích ứng thế nào với những đòi hỏi của xã hội

Mục đích của Merton là khám phá ra tại sao một vài cơ cấu xã hội tác động lên một vài người trong xã hội, thúc đẩy họ có những hành vi lệch lạc hơn những người khác Merton cũng dựa trên khái niệm phi chuẩn mực

(anomie) của Durkheim để giải thích tại sao một vài người dễ có những hành vi lệch lạc Theo Merton, trong các xã hội phức tạp như xã hội hiện đại của chúng ta, tiền bạc là một biểu tượng rất quan trọng của địa vị do đó sức ép để có được tiền bạc rất lớn Qua quá trình xã hội hóa, chúng ta đã học hỏi được đâu là những mục đích, những phương tiện mà xã hội có thể chấp nhận được [32; tr 278-279]

Tuy nhiên, các nhà lý thuyết chức năng đã bị chỉ trích khi giả định rằng có một hệ thống các giá trị chung được chia sẻ bởi mọi thành viên trong xã hội Hơn nữa, không chỉ những người thuộc tầng lớp dưới mới có những hành

vi lệch lạc mà trong nhiều trường hợp, hành vi lệch lạc còn có ở tầng lớp thống trị

Lý thuyết xung đột về tội phạm

Trong một chiều hướng khác, các nhà lý thuyết xung đột lại nhấn

mạnh tương quan giữa sự đa dạng văn hóa và lệch lạc xã hội Hai loại hình chính yếu trong các lý thuyết xung đột là lý thuyết xung đột văn hóa và lý thuyết mác xít Lý thuyết xung đột văn hóa đặt trọng tâm nghiên cứu những phương thức hình thành nên các quy tắc xung đột trong các hoàn cảnh đã

khuyến khích những hành động tội phạm Như quan niệm của Daniel Bell

về xã hội Mỹ cho rằng trong xã hội Mỹ có một sự xung đột giữa nền đạo đức chính thức của văn hóa quần chúng và nền đạo đức thanh giáo Lý

Trang 32

thuyết mác xít phê phán lý thuyết xung đột về văn hóa là đã không quan tâm đến những ảnh hưởng của quyền lực và xung đột giai cấp Nhà xã hội

học Edwin Sutherland đã đưa ra một công trình nghiên cứu về tội phạm của

giới “cổ cồn trắng”, của những viên chức Tội của họ là do sử dụng quyền lực từ vị trí nghề nghiệp của mình nhằm vi phạm pháp luật hòng kiếm lời như tham ô, móc ngoặc, biển thủ công quỹ, sản xuất hàng gian, hàng giả, quảng cáo gian dối, làm ô nhiễm môi trường… Theo ông so với hành vi lệch lạc của người nghèo, những hành vi lệch lạc của những người giàu, tầng lớp trên rất ít được phương tiện thông tin đại chúng đề cập Marx và Engels cũng đề cập tới một bộ phận của giai cấp vô sản do thất nghiệp, nghèo đói có thể trở thành những tên tội phạm, mà hai ông thường gọi là

“những tên vô sản lưu manh” Nhưng hai ông không tin tưởng vào tầng lớp này mà chỉ tin vào những người công nhân có tổ chức sẽ đấu tranh để xóa bỏ chủ nghĩa tư bản Như vậy, các tác giả mác xít nhấn mạnh hơn xung đột giai cấp, giải thích các loại hình khác nhau về tội phạm, về hành vi lệch lạc bằng vị trí xã hội, giai cấp của chính những người đó

Lý thuyết tương tác về tội phạm

Như đã thấy, cả hai lý thuyết chức năng và lý thuyết xung đột đều không bàn đến vấn đề các hành vi lệch lạc đã phát triển và đã sinh ra như thế nào Tuy nhiên, người ta đặt vấn đề tại sao có một số người có những hành vi lệch lạc trong khi những người khác cùng ở vào tình huống như vậy

nhưng lại không có Vào những năm 1920 hai nhà xã hội học C.Shaw và Henry Mckay đã nhận thấy rằng khu vực ngoại ô Chicago luôn luôn có tỉ

lệ thanh niên phạm pháp cao hơn những nơi khác Nhà xã hội học

E.H.Sutherland thấy rằng những thanh thiếu niên trở nên phạm pháp bởi

Trang 33

nền văn hóa của các nhóm, các tổ chức ở nơi chúng sống, nơi mà các tội ác đã được hợp thức hóa hay nói cách khác, đã xem tội ác là chuyện bình thường và là những phương tiện có thể chấp nhận được để đạt những mục đích mong muốn Hành vi lệch lạc không thể một sớm một chiều mà có

được, chúng cũng được truyền qua một quá trình “học hỏi” Theo lý thuyết

tương tác mà tiêu biểu là D.L Roseman, H Becker, W.T Chambliss thì sự lệch lạc xã hội được sản sinh qua một quá trình được gọi là “dán nhãn” (labelling), điều đó có nghĩa là xã hội cho một số hành vi nào đó là lệch lạc Việc dán nhãn này thường do những tác nhân chính thức của các định

chế có chức năng kiểm soát xã hội như cảnh sát, toà án, các bệnh viện tâm thần hay trường học thực hiện

Các lý thuyết tương tác có một số điểm độc đáo Nó không nghiên cứu chính sự lệch lạc mà nghiên cứu những phản ứng của xã hội đối với hành

vi lệch lạc Lý thuyết dán nhãn cũng phù hợp với điều mà ta gọi là tầm

quan trọng của cái quan niệm về chính mình (self-concept) Nhưng thật ra việc dán nhãn là tiêu cực hay tích cực vẫn đang là đối tượng nghiên cứu của các thực nghiệm trong nghiên cứu xã hội học

Tóm lại

Lý thuyết chức năng, lý thuyết xung đột, lý thuyết tương tác đều có những giá trị nhất định trong nghiên cứu tội phạm Khi nghiên cứu về tội phạm cần lưu ý đến chức năng của tội phạm trong cấu trúc xã hội cụ thể, sự gắn kết xã hội và tội phạm; quá trình xã hội hóa của tội phạm; những xung đột văn hóa và xung đột giai cấp; quá trình học hỏi hành vi lệch lạc và những phản ứng của xã hội đối với hành vi lệch lạc Tuy nhiên những nghiên cứu về tội phạm phụ nữ cho thấy những lý thuyết chung đó chưa đủ

Trang 34

để giải thích những yếu tố liên quan đến hành vi phạm tội của phụ nữ, vì vậy đã có những lý thuyết chuyên biệt hơn

1.1.3 Các tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu tội phạm nữ

1.1.3.1 Các tiếp cận sinh học và tâm lý học về tội phạm nữ

Tội phạm nữ có những đặc tính khác với tội phạm nam ở số lượng, sự phân bố giữa các dạng tội phạm vv… Do hiện tượng phạm tội ở phụ nữ có những qui luật riêng biệt do đó khi nghiên cứu tội phạm nữ cần có một cách tiếp cận đặc biệt Trong các nghiên cứu tội phạm của nam giới, người ta có thể bắt gặp nhiều sự giải thích hướng đến các lý thuyết có cơ sở xã hội (chẳng hạn từ góc độ văn hóa được phân chia theo vùng hay nhóm…) Nhưng trong nghiên cứu tội phạm nữ , đằng sau cách nhìn về những đặc

điểm riêng của tội phạm nữ thường lại là cách nhìn sinh lý hoặc tâm lý một

chiều, ngay cả khi những nghiên cứu có gợi sự chú ý đến một vài yếu tố xã hội Các giải thích về tội phạm phụ nữ xuất phát từ các nguyên nhân tâm sinh lý chú ý tới vai trò của yếu tố thể lực, của các đặc điểm di truyền, thể chất và tính cách của phụ nữ Tiêu biểu cho cách nhìn nhận này là

Lombroso, Ferrero và Weilffen Các nhà nghiên cứu này xác định số

phận con người trên cơ sở các nét bẩm sinh Lombroso và Ferrero cho rằng một người phụ nữ không gì khác hơn là một người đàn ông chưa phát triển hết mức và các biểu hiện tâm lý đặc trưng của họ xuất phát từ tính chất thấp kém hơn về cơ thể chưa hoàn chỉnh Sự yếu đuối về sức lực đưa tới khuynh hướng nghiêng về tình cảm, sự đồng cảm, sự dịu dàng, muốn dùng nó để giữ lấy sự chú ý và giúp đỡ ủng hộ của phái mạnh Hai ông còn nêu lên khả năng bị ám thị, bị lôi kéo và kém năng lực xét đoán của người phụ nữ Một đặc điểm nữa là phụ nữ thường không mạnh về khả năng phân tích

Trang 35

và hoàn toàn không có khả năng tách riêng cái thật và cái giả Về điểm này ông đã dành cho chúng một ý nghĩa quan trọng đặc biệt trên lĩnh vực tội phạm [14; tr 281] Phần đông các nhà nghiên cứu cùng thời không chấp nhận quan điểm của Lombroso Tuy nhiên tư tưởng của Lombroso và Ferrero đã ảnh hưởng rất sâu trong tội phạm học Wellffen là người đã tập trung nghiên cứu về mối tương quan giữa tội phạm phụ nữ với những đặc trưng của họ như sự thiếu hiểu biết, tính giả dối, tính hay thay đổi, đức hạnh Trong tội phạm học phụ nữ, ông qui vai trò quyết định dẫn đến tội

phạm là giới tính, hiểu theo nghĩa rộng Ông gọi phụ nữ ăn cắp, lừa đảo, cướp của giết người đều là tội phạm giới tính

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, vẫn còn một số tác giả đi theo cách nhìn nhận của quan điểm sinh học trong tội phạm nữ nhưng ở mức độ vừa

phải hơn, khách quan hơn như Weininger, Weinberg, Koopejels và cả

Inkaibert (người đãù giành một vai trò quan trọng cho các yếu tố xã hội) Nhưng sau chiến tranh thế giới thứ hai, đã có khuynh hướng nghiên cứu về tội phạm nữ từ góc độ xã hội học ở Mỹ Tuy nhiên, ở Tây Âu khuynh hướng

tâm - sinh học còn phát triển mạnh, tiêu biểu như Exner, Schafer Istnan, Cyril Burt Năm 1948, Exner (CHLB Đức) khi nghiên cứu tội phạm nữ đã nhận xét rằng dù có sự thay đổi đáng kể hoàn cảnh sống nhưng tội phạm nữ trong khoảng 50 năm vẫn không thay đổi một cách đáng kể Điều này cho phép kết luận tội phạm phụ nữ không phải do nguyên nhân ngoại sinh mà là do đặc trưng sinh học đóng vai trò quyết định…

Vào năm 1950, Saner cho rằng phụ nữ với tính chất tự nhiên, họ dễ

nghiêng theo sự thèm muốn của cải, theo những hành động bí mật dấu diếm

Trang 36

Quan điểm của Rossman cho rằng nguyên nhân sự khác nhau về khuynh hướng phạm tội giữa nam và nữ ẩn dấu trong cơ cấu tính cách cá nhân của họ Các nhà nghiên cứu người Anh là J.Cowie, W.Cowie và Slater

nghiên cứu về ảnh hưởng của sự khác nhau về nhiễm sắc thể giữa nam và

nữ đến sự khác nhau về hành vi phạm tội Với họ, sự khác biệt về nhiễm sắc thể giữa hai giới đẩy một cá thể đi vào con đường phát triển nam hoặc nữ tính, trong đó hoàn cảnh môi trường mà một cá thể rơi vào chỉ khác nhau

ở một mức độ không đáng kể so với khác biệt về giới tính Vào năm 1926,

Bronner cho thấy rằng các em gái phạm tội có đặc điểm nam tính cao hơn

so với mức trung bình ở cùng lứa tuổi Năm 1956, một số nhà tâm lý cũng

nêu những nét nam tính đặc trưng theo nghĩa tâm lý ở các em gái phạm tội như Galvin vv… Trong những thập niên gần đây các tác giả có quan điểm sinh học vẫn nhấn mạnh vai trò trực tiếp của tính chất bẩm sinh về thể lực của phụ nữ trong phạm tội Theo họ, các yếu tố cơ thể là nguyên nhân đầu tiên giải thích cho tình trạng phạm tội ít hơn ở phụ nữ nói chung Đồng thời tình trạng tội phạm tập trung vào một số dạng tội phạm nhưng lại không đáng kể ở những dạng tội phạm khác Một số nhà nghiên cứu đã tìm hiểu sự tác động của chu kỳ sinh lý của phụ nữ với hành vi sai lệch nói chung và tội phạm nói riêng ở phụ nữ Họ cho rằng đã tìm thấy mối liên hệ chung giữa các thời kỳ sinh lý với sự tăng giảm trong khuynh hướng phạm tội ở phụ nữ Tuy nhiên, nhìn chung các tác giả hiện đại không coi trọng lắm tính chất xác định tâm lý nảy sinh từ ảnh hưởng sinh lý đơn thuần của các giai đoạn sinh dục nữ, mà họ nhấn mạnh các tương quan giữa con người và xã hội và tiếp cận vấn đề về mặt tâm lý - xã hội

Một số nhà tâm lý khác lại cố gắng tìm ra mối tương quan giữa các dấu hiệu tính cách phụ nữ và dạng phong cách đặc biệt ở tội phạm phụ nữ

Trang 37

Trong cách tiếp cận này, các tác giả nhấn mạnh đến 3 đặc tính, thứ nhất, tính chất bảo thủ của phụ nữ; thứ hai, sự quan tâm chú ý của phụ nữ chủ yếu tập trung vào môi trường bó hẹp; thứ ba, là những đặc điểm về đạo đức và đức hạnh của phụ nữ Đó là những yếu tố khiến cho tỷ lệ phạm tội của

phụ nữ thấp hơn nam giới Chẳng hạn như Lomboroso cho rằng: đàn bà là

kẻ thù của tiến bộ và là bức chắn vững chắc nhất ở mọi lúc của mọi loại hoạt động Họ bám giữ đến điên cuồng mọi cái cổ lỗ, cũ rích và coi mọi sự đổi mới là xúc phạm đến chính bản thân, dù nó không liên quan trực tiếp đến họ Tính cách bảo thủ này được ông coi là hiện tượng có điều kiện về

sinh học Exner (CHLB Đức) khi tìm hiểu sự khác biệt giữa các giới đã cho rằng thế giới quan tâm, chú ý của phụ nữ tập trung vào môi trường bó hẹp nhất, họ ít cảm thấy mối quan hệ với tập thể lớn quần chúng như là người đàn ông Không có gì dính dáng đến chính trị mà lại đi vào thế giới thầm kín sâu thẳm của phụ nữ Các nhà nghiên cứu như Konerk, Valentin, Lous Angyal Pal vào cuối thế kỷ 20, lại nhấn mạnh nguồn gốc cao quí hơn về

đạo đức Họ coi nó như là một tính chất đặc trưng giải thích một phần cho tỉ

lệ tội phạm thấp hơn ở nữ

Tuy nhiên từ những năm 1970, quyết định luận tâm - sinh lý học bắt đầu bị đặt thành vấn đề khi những thuộc tính tâm sinh- lý học là nguyên nhân gây nên sự khác biệt về tội phạm giữa nam và nữ được xem xét trong những nền văn hóa khác nhau Chẳng hạn, lúc đầu người ta cho rằng sự hung hăng ở đàn ông là một nguyên nhân dẫn tới tội phạm và được quyết định bởi những yếu tố sinh học Nhưng trong một số xã hội bằng chứng lại cho thấy cả hai giới hoặc đều hung hăng như nhau (trong những người Mundugumur), hoặc đều hiền dịu như nhau (trong những người Arapesh)

Do đó người ta đi tới một cách lý giải khác cho rằng sự hung hăng của con

Trang 38

trai và tính hiền dịu của con gái là kết quả của quá trình xã hội hóa ngay từ khi người ta sinh ra Nó tùy thuộc vào sự đáp ứng khác nhau của những người xung quanh khi đứa trẻ là con trai hay con gái Một cách nhìn nhận khác cho rằng, sự hung hăng còn tùy thuộc vào tình huống, như khi phải bảo vệ người thân, phụ nữ thậm chí còn hung hăng hơn cả đàn ông

Tóm lại: Lý thuyết sinh học và tâm lý học đề cập đến sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm sinh lý như thể lực, các đặc điểm di truyền, thể chất và tính cách đến tội phạm nữ

1.1.3.2 Các lý thuyết xã hội học về tội phạm nữ

Cho đến hiện nay những lý thuyết xã hội học giải thích hành vi phạm tội của phụ nữ đã dẫn dần trở nên đa dạng, phong phú Trong khi thừa nhận cả tính cách tâm lý và những đặc điểm bẩm sinh có ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội của phụ nữ, các nhà xã hội học thường nhấn mạnh đến tầm quan trọng của điều kiện xã hội, nền giáo dục

Lý thuyết về sự căng thẳng (Strain theory)

Người đề xuất lý thuyết về sự căng thẳng là Robert Merton Năm

1949, xuất phát từ những ý tưởng và thuật ngữ của E.Durkheim khi coi sự

căng thẳng là nền tảng của các loại hình tội phạm và sai lệch, Merton đã mở rộng những quan niệm của mình Khái niệm then chốt của “sự căng

thẳng” là “anomie” (tình trạng thiếu chuẩn mực - thuật ngữ được Durkheim

đặt ra và được Merton thay đổi ) Với khái niệm này, Durkheim đã làm

sống lại một thuật ngữ HyLạp với nghĩa là “không luật pháp” Oâng dùng

thuật ngữ đó để nêu ra điều kiện cuộc sống con người xuất phát từ những gì

mà ông quan sát một nước Pháp đang công nghiệp hóa: sự tan rã của những của những quy tắc chuẩn mực được chấp nhận rộng rãi đã dẫn đến những khát vọng không kiểm soát được và những hành vi ích kỷ không

Trang 39

điều chỉnh được Mặc dù vẫn chịu sự ảnh hưởng của những suy nghĩ của

Durkheim, nhưng Merton sử dụng thuật ngữ “anomie” với một nghĩa rất

khác Đối với Merton, “anomie” không phải là trạng thái của sự không chuẩn mực thúc đẩy hành vi chống xã hội, mà là điều kiện được kinh nghiệm bởi những cá nhân mà họ được dạy để mong muốn đạt được các mục tiêu của nền văn hóa của họ nhưng lại bị ngăn cản để đạt được các mục tiêu đó Lý thuyết về sự căng thẳng cho rằng sự phạm tội có nguyên nhân bởi những áp lực hay sự căng thẳng mà con người phải chịu đựng Nguồn của sự căng thẳng này chính là do người ta bị thôi thúc bởi khát vọng để đạt được những mục tiêu nhất định, trong khi họ gặp phải những trở ngại đối với việc đạt được những mục tiêu của họ Những cá nhân thất vọng này trở thành kẻ phạm tội để thoát khỏi những căng thẳng, hoặc tìm cách đạt được các mục tiêu của họ bằng con đường bất hợp pháp

Albert Cohen(1955) đã phát triển quan niệm của Merton để giải thích những dạng khác nhau của tội phạm nam và nữ Ông cho rằng sự căng thẳng là chất xúc tác chủ yếu đối với sự hình thành những băng nhóm phạm pháp Về bản chất phạm pháp là sự phản ứng không theo những đánh

giá và xét đoán theo tiêu chuẩn chung của xã hội Hành vi sai lệch hay phạm tội là phương tiện để bày tỏ sự khinh thường đối với chuẩn mực chung của xã hội Theo Cohen, mỗi xã hội có một nền văn hóa với một số đặc điểm tiêu biểu của nó Những đặc điểm này có thể phù hợp hay không phù

hợp với những đặc điểm của một nhóm xã hội nào đó Hành vi phạm pháp diễn ra khi địa vị của một nhóm xã hội nào đó đi ngược lại những mục tiêu và giá trị tiêu biểu của nền văn hóa Chẳng hạn, nền văn hóa Mỹ mang đặc

tính nam (tham vọng, thành đạt, hợp lý, tự chủ, kiềm chế) và ngược với những đặc tính mà ông coi là tiêu biểu cho giới nữ (thụ động, không tham

Trang 40

vọng, không sáng tạo) Vào năm 1955, theo Cohen, phụ nữ thường chú ý các mối quan hệ hạn hẹp với người khác phái Địa vị của phụ nữ là phụ thuộc vào người đàn ông: “vị trí” của người phụ nữ trong xã hội, sự ngưỡng mộ, tôn trọng và của cải mà cô ta đòi hỏi, phụ thuộc vào nhiều mức độ các mối quan hệ mà cô ta thiết lập với các người khác phái Trong khi đàn ông tiến hành cuộc chạy đua vào mọi lãnh vực thì phụ nữ thực hiện vai trò của mình như một người bạn giúp đỡ

Nếu hành vi phạm pháp của nam giới là do sự căng thẳng mà họ phải chịu đựng khi họ bị thôi thúc bởi khát vọng thành đạt, giàu có… (nhưng họ không có khả năng thực hiện điều đó một cách hợp pháp), thì hành vi phạm pháp của phụ nữ là những phạm pháp về giới tính Căng thẳng là một yếu tố gây ra phạm pháp của các cô gái thì đó là do các tình cảm bị ngăn cấm

Tuy nhiên, ảnh hưởng của lý thuyết về sự căng thẳng trong giải thích hành vi phạm tội của phụ nữ ở thập niên 60 và 70 đã không đạt được kết quả thực sự nào Vào năm 1960, các nhà xã hội học Richard Cloward và Loyd Ohlin đã trình bày một lý thuyết nói về sự căng thẳng chủ yếu là

khẳng định lại quan điểm của Cohen đối với tội phạm phụ nữ Đặc biệt là nó nêu lại sự đồng dạng giữa nền văn hóa nổi bật của Mỹ với văn hóa của đàn ông và đặt phụ nữ ở ngoài lề của xã hội Cloward và Ohlin gọi giả

thuyết của họ là luận điểm về “cơ hội khác nhau” Họ cho rằng xã hội Mỹ

không chỉ mang lại cho đàn ông từ các giai cấp khác nhau những cơ hội khác nhau để đạt được các thành công vật chất, mà còn đem đến những ảnh hưởng với mức độ khác nhau về tội phạm Trong điều kiện này, những đứa trẻ từ những khu vực tội phạm cao sẽ được cung cấp những cơ hội để tham

gia vào các hoạt động tội phạm Cùng với Cohen, Cloward và Ohlin cho

rằng tầm hiểu biết của phụ nữ giới hạn trong gia đình Phạm vi giới hạn

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chung Á - Nguyễn Đình Tấn (1997), Nghiên cứu xã hội học, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Chung Á - Nguyễn Đình Tấn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 1997
2. Sabino Acquanviva (1998), Xã hội học tôn giáo, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học tôn giáo
Tác giả: Sabino Acquanviva
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
3. Báo cáo nghiên cứu chính sách của ngân hàng thế giới (2001), Đưa vấn đề giới vào phát triển , NXB văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu chính sách của ngân hàng thế giới (2001)", Đưa vấn đề giới vào phát triển
Tác giả: Báo cáo nghiên cứu chính sách của ngân hàng thế giới
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 2001
4. Tony Bilton - Kenvin Bonnett - Philip Jones - Michelle Stanworth - Ken Sheard - Andrew Webster (1993), Nhập môn xã hội học, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn xã hội học
Tác giả: Tony Bilton - Kenvin Bonnett - Philip Jones - Michelle Stanworth - Ken Sheard - Andrew Webster
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1993
5. Đỗ Văn Bình – Nguyễn Ngọc Lâm – Nguyễn Thị Nhẫn – Nguyễn Thị Oanh (chuû bieân) (1994), Các vấn đề xã hội và an sinh xã hội, Đại học Mở Bán công TP.HCM, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề xã hội và an sinh xã hội
Tác giả: Đỗ Văn Bình – Nguyễn Ngọc Lâm – Nguyễn Thị Nhẫn – Nguyễn Thị Oanh (chuû bieân)
Năm: 1994
6. Gloria Bowles - Renate Duelli Klein (1996), Nghiên cứu phụ nữ lý thuyết và phương pháp, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phụ nữ lý thuyết và phương pháp
Tác giả: Gloria Bowles - Renate Duelli Klein
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1996
7. Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1977), NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa "xã hội" chuỷ nghúa Vieọt Nam
Tác giả: Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
Năm: 1977
8. Bộ Nội Vụ, Tổng cục cảnh sát nhân dân (1994), Tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, NXB Công An nhân dân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Bộ Nội Vụ, Tổng cục cảnh sát nhân dân
Nhà XB: NXB Công An nhân dân
Năm: 1994
9. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh (1998), Niên giám thống kê 1997, Xớ nghieọp in thoỏng keõ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 1997
Tác giả: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
10. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh (2001), Niên giám thống kê 2000, Xớ nghieọp in thoỏng keõ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2000
Tác giả: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001
11. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh (2002), Niên giám thống kê 2001, Xớ nghieọp in thoỏng keõ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2001
Tác giả: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
12. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh (2003), Niên giám thống kê 2002, Xớ nghieọp in thoỏng keõ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2002
Tác giả: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
13. Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh (2004), Niên giám thống kê 2003, Xớ nghieọp in thoỏng keõ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2003
Tác giả: Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
14. Jean Cazeuneuve (1978), Tội phạm phụ nữ (NXB Buda Pest), NXB Khoa học Xã hội, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm phụ nữ
Tác giả: Jean Cazeuneuve
Nhà XB: NXB Buda Pest)
Năm: 1978
15. Trần Đức Châm (1996), Tình trạng phạm tội của thanh thiếu niên hiện nay ở Hà Nội, Luận án Thạc sĩ, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng phạm tội của thanh thiếu niên hiện nay ở Hà Nội
Tác giả: Trần Đức Châm
Năm: 1996
16. Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hóa, Viện Văn hóa và NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
17. Phạm Đình Chi (2005),Tội phạm ở tuổi vị thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Luận án tiến sĩ, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm ở tuổi vị thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Tác giả: Phạm Đình Chi
Năm: 2005
18. Emile Durkheim (1993), Các quy tắc của phương pháp xã hội học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc của phương pháp xã hội học
Tác giả: Emile Durkheim
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1993
19. Đại học Quốc gia Hà Nội (1998), Luật hôn nhân gia đình Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân gia đình Việt Nam
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
20. Đảng cộng sản Việt Nam-Đảng bộ TP.HCM(2005),Văn kiện đại hội đại biểu lầ thứ VIII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản Việt Nam-Đảng bộ TP.HCM(2005)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam-Đảng bộ TP.HCM
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 2.1. Tỷ lệ tội phạm so với số dân trên toàn TP.HCM - Tội phạm nữ ở thành phố Hồ Chí Minh và khả năng tái hội nhập của họ
th ị 2.1. Tỷ lệ tội phạm so với số dân trên toàn TP.HCM (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w