1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu điển lệ triều Nguyễn qua Quốc Triều Yếu Điển

134 304 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trọng hệ thống thư tịch Hán Nôm của triều Nguyễn hiện có một phần rất lớn là các văn bản ghi chép lại những điển lệ, tìm hiểu nghiên cứu các văn bản này có ý nghĩa quan trọng cho việc ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

THÁI TRUNG SỬ

TÌM HIỂU ĐIỂN LỆ TRIỀU NGUYỄN QUA

QUỐC TRIỀU YẾN ĐIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN CÔNG VIỆT

Trang 2

MỤC LỤC

phần mở đầu Error! Bookmark not defined

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu 4

2.1 Đối t-ợng nghiên cứu 4

2.1 Phạm vi nghiên cứu 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4

5 Ph-ơng pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp chủ yếu của đề tài 5

7 Bố cục luận văn 5

ch-ơng i: những cơ sở quan trọng cho việc xây Dựng và ban hành hệ thống điển lệ d-ới triều nguyễn 6

1 Khái niệm Điển Lệ: 7

2 Cở sở từ việc phân định và quản lý các đơn vị hành chính 8

2.1 Việc phân định đơn vị quản lý hành chính d-ới triều Gia Long 8

2.2 Những thay đổi về địa hạt hành chính d-ới triều Minh Mệnh 10

3 Cơ sở từ việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà n-ớc 12

3.1 Tổ chức bộ máy hành chính d-ới thời Gia Long 12

3.2 Tổ chức bộ máy hành chính d-ới triều Minh Mệnh 13

3.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà n-ớc ở trung -ơng 14

3.2.2 Các cơ quan chính quyền ở địa ph-ơng 21

3.3 Những nguyên tắc hoạt động cơ bản của bộ máy nhà n-ớc 25

3.4 Vấn đề đào tạo và sử dụng quan lại d-ới triều Nguyễn 29

3.4.1 Chế độ nhiệm cử 29

3.4.2 Chế độ khoa cử 29

3.4.3 Chế độ tiến cử (Bảo cử) 30

3.5 Vấn đề xây dựng và ban hành văn bản pháp luật 31

Ch-ơng 2: Tìm hiểu những điển lệ quan trọng của triều nguyễn trong Quốc triều yếu điển 33

1 Khảo sát tác phẩm 33

1.1 Giới thiệu một số sách biên soạn theo thể điển lệ của triều Nguyễn 33

1.1.1 Sách đ-ợc biên soạn theo chỉ dụ của Hoàng đế: 33

1.1.2 Sách do tổ chức, cá nhân tổ chức biên soạn 34

Trang 3

2 Khảo sát văn bản Quốc triều yếu điển 35

2.1 Vấn đề tác giả và niên đại Quốc triều yếu điển 35

2.2 Những vấn đề về văn bản 35

2.3 Bố cục của tác phẩm: 35

3 Tìm hiểu điển lệ qua triều Nguyễn qua tác phẩm Quốc triều yếu điển 36

3.1 Một số văn bản quản lý nhà n-ớc triều Nguyễn xuất hiện trong Quốc triều yếu điển 36

3.2 Hệ thống điển lệ phân loại theo Lục bộ 38

3.2.1 Những điển lệ thuộc lĩnh vực của Bộ Lại 38

3.2.2 Những điển lệ thuộc lĩnh vực của Bộ Hộ 64

3.2.3 Những điển lệ thuộc lĩnh vực của Bộ Binh 66

3.2.4 Những điển lệ thuộc lĩnh vực của Bộ Công 81

3.2.5 Những điển lệ thuộc lĩnh vực của Bộ Lễ 82

3.2.6 Những điển lệ thuộc lĩnh vực của Bộ Hình 87

Kết luận 91

Th- mục tài liệu tham khảo 92

Phụ lục 94

Tuyển dịch một số phần trong Quốc triều yếu điển 94

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề nghiên cứu về triều Nguyễn ngày càng được chú trọng Trong thời gian vừa qua đã có nhiều bài nghiên cứu, nhiều cuộc thảo hội thảo khoa học nhằm đánh giá lại vai trò của các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn trong lịch sử phát triển của dân tộc, mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng về cơ bản đã có sự thống nhất ở một số điển như vai trò của nhà Nguyễn trong việc mở rộng cương giới lãnh thổ

Một trong những thành tựu lớn của triều Nguyễn là để lại cho hậu thế nguồn

tư liệu Hán Nôm cực kỳ đồ sộ Hệ thống tư liệu này ghi chép lại tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như văn học, luật pháp, lịch sử… là nguồn tư liệu quan trong cho quá trình nghiên cứu lịch sử dân tộc nói chúng và lịch sử triều Nguyễn nói riêng

Trọng hệ thống thư tịch Hán Nôm của triều Nguyễn hiện có một phần rất lớn

là các văn bản ghi chép lại những điển lệ, tìm hiểu nghiên cứu các văn bản này có

ý nghĩa quan trọng cho việc nghiên cứu về điển chương chế độ của nhà Nguyễn

Quốc triều yếu điển 國 朝 要 典 là văn bản ghi chép lại những điển lệ quan

trọng của triều Nguyễn, từ Gia Long nguyên niên (1802) đến Tự Đức thứ 20

(1867) Tìm hiểu điển lệ trong Trong Quốc triều yếu điển sẽ góp phần làm sáng rõ

các điển chương chế độ của nhà Nguyễn, là cơ sở cho quá trình nghiên cứu các vấn

đề khác về triều Nguyễn

Với ý nghĩa đó chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình là

Tìm hiểu điển lệ triều Nguyễn qua Quốc triều yếu điển

Trang 5

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống điển lệ của triều Nguyễn từ năm

Gia Long thứ nhất (1802) đến năm Tự Đức thứ 20 (1867) qua văn bản Quốc triều yếu điển Hệ thống điển lệ này

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ đi tượng nghiên nghiên cứu chúng tôi xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài đi sâu vào những điển lệ quan trọng có tính phổ quát anh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội của triều Nguyễn mà thể hiện chủ yếu của nó là các điển

lệ thuộc lĩnh vực của Lục bộ Vì thế chúng tôi lấy các điển lệ thuộc lĩnh vực của Lục bộ làm phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu điển lệ triều Nguyễn thông qua việc phân loại các điển lệ theo lĩnh vực, nội dung và hình thức của nó, từ đó thấy được những vấn đề quan trọng được nhà Nguyễn đặc biệt chú trọng trong quá trình cai trị đất nước của mình

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình tìm hiểu chúng tôi thấy, đã có một số công trình nghiên cứu

về điển lệ dưới những góc độ khác nhau Trong cuốn Lược khảo Hoàng Việt luật lệ

tác giả Nguyễn Q Thắng đã lược khảo cuốn sách và giới thiệu một số điều luật quan có ý nghĩa trong việc xây dựng pháp luật của chúng ta hiện này Trong cuốn

Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn (giai đoạn 1802-1884) tác giả Nguyễn Thị

Phụng đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề văn bản hành chính nhà Nguyễn và có đề

cập đến một số chế độ của nhà Nguyễn Trong cuốn Cải cách hành chính dưới triều Minh Mệnh tác giả Nguyễn Minh Tường cũng có đề cập đến một số quy định

trong việc tuyển chọn quan lại dưới triều Minh Mệnh Song nguồn tư liệu để các

tác giả tiến hành nghiên cứu chủ yếu dựa vào các bộ sách hội điển lớn như, Hoàng

Trang 6

Việt luật lệ, Đại Nam hội điển sự lệ, Minh Mệnh chính yêu…,chưa có công trình lấy Quốc triều yếu điển là nguồn tư liệu để nghiên cứu và cũng chưa thấy có công

trình nào lấy điển lệ triều nguyễn làm đối tượng chuyên biệt để nghiên cứu cả

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã vận dụng kết hợp nhiều phương pháp: phương pháp nghiên cứu văn bản học, phương pháp thống kê, phân loại, so sánh, tổng hợp

6 Đóng góp chủ yếu của đề tài

Với đề tài này chúng tôi thấy có những đóng góp chủ yếu như sau:

Lần đầu tiên điển lệ của triều Nguyễn trong Quốc triều yếu điển được tìm

hiểu một cách chuyên biệt, có hệ thống các điển lệ

Kết quả nghiên cứu của đề tài làm nguồn tư liêu bổ trợ cho việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến triều Nguyễn

7 Bố cục luận văn

Bố cục luận văn gồm 3 phần:

- Phần mở đầu

- Chương I: Những cơ sở quan trọng cho việc xây dựng và ban hành hệ

thống điển lệ dưới triều nguyễn

Ở chương này chúng nghiên cứu nhưng cơ sở cơ bản cho việc xây dựng và ban hành điển lệ dưới triều Nguyễn Chúng tôi đi sau tìm hiểu 2 yếu tố cơ bản, một

là việc phân định và quản lý các đơn vị hành chính, vấn để tổ chức và vạn hành của

bộ máy nhà trước dưới triều Nguyễn

- Chương II: Tìm hiểu điển lệ triều Nguyễn qua Quốc triều yếu điển

Ở chương này chúng tôi tiến hành khảo sát văn bản, phân loại điển lệ theo lĩnh vực từ đó rút ra những kết luận

- Phần kết luận

- Phần phụ lục gồm 2 phục lục

Trang 7

Một trong những thành tựu lớn mà triều Nguyễn đã để lại là xây dựng được một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh làm phương tiện cho hoạt động quản

lý và điều hành đất nước

Ngay từ khi mới lên ngôi, Gia Long đã nhận thấy vai trò quan trọng của pháp luật trong hoạt động quản lý và điều hành đất nước, vì thế ông đã cho biên

soạn bộ Hoàng Việt luật lệ Đặc biệt dưới triều Minh Mệnh, với ý thức muốn xây

dựng nhà Nguyễn trở thành một triều đại quân chủ chuyên chế tập quyền tuyệt đối, Minh Mệnh đã từng bước tiến hành cuộc cải cách hành chính trên quy mô rộng lớn Bởi thế vấn đề kiện toàn hệ thống văn bản luật, phương tiện quan trọng cho quá trình cải cách hành chính, ngày càng được chú trọng đề cao Minh Mệnh rất chú trọng công việc sưu tập và hệ thống hoá luật lệ, tiếp tục cho biên soạn những

bộ sách luật quan trọng như Minh Mệnh chính yếu và Khâm định Đại Nam hội điển

Hệ thống điển lệ sau khi được ban hành sẽ được được chuyển giao từ cơ quan trung ương đến địa phương và ngược lại để thi hành Quá trình này liên quan

Trang 8

đến vấn đề phân định và tổ chức các đơn vị hành chính của triều Nguyễn, chính vì thế trong quá trình tìm hiểu điển lệ triều Nguyễn chúng ta cũng cần quan tâm vấn

đề này

Đây chính là lý do để có chương viết này

1 Khái niệm Điển Lệ:

Theo Từ nguyên, Điển có những nghĩa chính sau đây: 1 Thường đạo, chuẩn

tắc; 2 Chế độ, phép tắc; 3 Nghi tiết trọng đại; 4 Sổ sách ghi chép lại những điển trọng yếu của phép tắc, điển chương chế độ…

Lệ có nghĩa là ví, điều lệ quy trình, phép tắc chuẩn mực phỏng theo

Theo Từ điển Hán Việt Đào Duy Anh, lệ có nghĩa là lấy cái này làm mẫu

mực cho cái kia gọi là lệ

Vậy theo nghĩa gốc của từ điển chúng ta có thể tạm hiểu Điển lệ là hệ thống

điển pháp, quy chuẩn quan trọng về điển chương chế độ của nhà nước được ghi chép vào sách vở mà mọi người lấy đó làm mẫu mực làm theo Nói một cách ngắn

gọn hơn thì Điển lệ là những quy định do nhà nước ban bố được ghi chép vào sách

vở

Mục đích của đề tài là tìm hiểu Điển lệ, đối tượng để tìm hiểu là văn bản

Quốc triều yếu điển Quốc triều yếu điển là văn bản ghi lại các điển lệ quan trọng

của triều Nguyễn từ Gia Long nguyên niên đến Tự Đức thứ 19

Như vậy phạm vi tìm hiểu của luận văn này là rất rộng, gồm tất cả những quy định mà triều Nguyễn đã ban bố trong giai đoạn từ năm Gia Long nguyên niên

điến năm Tự Đức thứ 19 được ghi chép trong Quốc triều yếu điển

Những quy định triều Nguyễn ban bố lại được thể hiện dưới nhiều thể loại văn bản quản lý nhà nước, có thể là Luật, Chiếu, Lệ, Chỉ, Du… Đó là những văn bản quản lý nhà nước và đều đã được biên soạn, ghi chép lại trong những bộ sách

lớn của triều Nguyễn, như Hoàng Việt luật lệ, Minh Mệnh chính yếu, Đại Nam

thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ…

Trong lịch sử phong kiến nước ta, các triều đại đều chú trọng xây dựng cho mình một hệ thống điển lệ, theo sự phân loại hiện nay có thể gọi nó là hệ thống văn

Trang 9

bản quy phạm pháp luật, làm công cụ cho hoạt động quản lý nhà nước, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội

2 Cở sở từ việc phân định và quản lý các đơn vị hành chính

2.1 Việc phân định đơn vị quản lý hành chính dưới triều Gia Long

Dưới triều vua Gia Long, đất nước Việt Nam đã được thống nhất về mặt lãnh thổ từ Mục Nam quan đến Mũi Cà Mau Song do những điều kiện lịch sử nhất định mà trong một thời gian dài, triều Nguyễn đã áp dụng "chế độ quân quản" thể hiện ở chỗ chế độ hành chính nhiều cấp Từ trung ương phải qua 2 trấn thành Gia Định và Bắc Thành rồi mới đến tỉnh, trấn Ở mỗi trấn, dinh lại phải qua phủ huyện làm trung gian rồi mới đến tổng, xã Nhiều nơi giữa tổng và xã lại có một đơn vị trung gian nữa rồi mới đến làng, thôn, trang, ấp…

Riêng từ Thanh Hoá đến Bình Thuận đơn vị hành chính lại được phân chia theo kiểu quân khu, lấy Quảng Đức, nơi đóng đô của triều đình trung ương làm trung tâm rồi đặt 2 cánh Tả, Hữu (Tả dực, Hữu dực) Hữu dực có Quảng Bình, Quảng Trị; Tả dực có Quảng Nam, Quảng Ngãi Tả dực, Hữu dực kết hợp với Quảng Đức tạo thành 5 tỉnh Trực lệ Trong 5 Trực lệ thì Quảng Đức là trung tâm,

4 Trực lệ còn lại được chia thành Tả trực (Nam – Ngãi) và Hữu trực (Bình - Trị)

Ngoài 5 tỉnh Trực lệ, thời kỳ này còn có Tả kỳ và Hữu kỳ Tả kỳ gồm những tỉnh từ Bình Định đến Bình Thuận; Hữu kỳ gồm các tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh

Việc phân chia địa hạt hành chính có được nâng thêm bột bước nhưng về cơ bản gần như giữ nguyên theo cách tổ chức của chúa Nguyễn ở miền Nam và của triều Lê – Trịnh ở miền Bắc

Địa hạt hành chính của cả nước về cơ bản được chia làm 3 vùng khác nhau

là khu vực Kinh kỳ, Bắc Thành và Gia Định thành Ngoài Kinh kỳ ra còn lại toàn

bộ đất nước được chia làm 23 doanh, trấn Đứng đầu mỗi doanh là 1 Lưu Thủ, phụ

tá Lưu Thủ có các chức Cai Bạ, Ký Lục, đứng đầu mỗi trấn là Trấn Thủ, giúp việc Trấn Thủ có các chức Hiệp Trấn và Tham Hiệp

Trang 10

Năm Mậu Thìn (1808), Gia Long cho đổi Gia Định trấn làm Gia Định thành trong đó doanh Phiên Trấn đổi thành trấn Phiên An, doanh Trấn Biên đổi thành trấn Biên Hoà, doanh Vĩnh Trấn đổi làm trấn Vĩnh Thanh, doanh Trấn Định đổi thành trấn Định Tường

Mỗi trấn, doanh bao gồm nhiều phủ, mỗi phủ chia thành từ 4 đến 7 huyện, mỗi huyện chia thành từ 8 đến 14, 15 xã Riêng đối với vùng dân tộc thiểu số miền núi và vùng biên giới vẫn chia thành các châu như trước kia và giao cho các Tù trưởng thiểu số nắm giữ Mỗi phủ có Tri phủ, mỗi huyện có Tri huyện, ở châu có Tri châu và tại mỗi xã có Xã trưởng cai trị

Đứng đầu mỗi trấn là một viên võ quan chức Trấn thủ, giúp việc có 2 viên quan văn chức Hiệp trấn và Tham hiệp Ở mỗi trấn cũng như Thừa Thiên phủ có 2 Ty: Tả thừa và Hữu thừa Hai Thừa này chia thành 6 phòng: 3 phòng thuộc Ty Tả thừa là Lại – Binh – Hình; 3 phòng thuộc Ty Hữu thừa là Hộ – Lễ – Công Đứng đầu Ty là chức Thông phán, Kinh lịch; thuộc viên có Câu kê 1 người, Cai hợp 1 người, Thủ hợp 3 người và 25 Thư lại

Trong 27 doanh trấn cả nước được phân bố địa hạt quản lý như sau: Triều đình Trung ương trức tiếp nắm đất Kinh kỳ (gồm 4 doanh) và 7 trấn là: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Khương và Bình Thuận Ngoài ra thiết lập 2 thành là Bắc Thành và Gia Định Thành Bắc Thành lại được chia làm 5 nội trấn là Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương và 6 ngoại trấn là Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Cao Bằng, An Quảng, Hưng Hoá Gia Định Thành được chia làm 5 trấn là Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên

Việc phân bố địa hạt quản lý hành chính dưới thời Gia Long (từ 1801 trở đi) được khái quát như bảng sau:

Triều đình Trung ương Trấn Bắc Thành Trấn Gia Định Thành

Trang 11

2.2 Những thay đổi về địa hạt hành chính dưới triều Minh Mệnh

Việc phân định các địa hạt hành chính dưới triều Gia Long ngày càng bộ lộ nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến việc cai trị của nhà Nguyễn Chế độ Tổng trấn tạo cho các viên quan Trổng trấn có một quyền hành rất lớn trong tay, đó là nguy cơ cho việc tiếm quyền, cục bộ Hoạt động quản lý nhà nước từ trung ương đến đến các địa phương ở Bắc thành và Gia Định thành vì thế mà bị hạn chế Bộ máy hành chính nặng tính quân quản ngày càng tỏ ra không phù hợp với những biến đổi của hoàn cảnh mới Những yếu tố trên đã đưa đến một cuộc cải cách quy mô lớn trong việc phân chia lại các đơn vị hành chính của Minh Mệnh

Một trong những nội dung cải cách quan trọng của Minh Mệnh là việc từng

Trang 12

các Trực kỳ, Trực lệ Đến năm Minh Mệnh 15-16 ông đã tiến hành bớt dần và đi đến bỏ hẳn chế độ quan Tổng trấn, 2 trấn thành Gia Định và Bắc Thành không còn; tách Kinh đô Huế ra khỏi đất Kinh kỳ, đổi dinh Quảng Đức thành phủ Thừa Thiên, hạn chế dần quyền lực của các viên Tổng trấn Đến năm 1831, Minh Mệnh chia phía Bắc từ Quảng Trị trở ra làm 18 tỉnh Năm 1832 tiến hành đặt lại tỉnh ở phía Nam Từ tháng 10 năm 1832 cả nước, trừ phủ Thừa Thiên được chia thành 30 tỉnh (có quyền hạn như nhau và đều trực thuộc trung ương triều định Huế) bao gồm:

Từ Thừa Thiên Huế trở ra Bắc có 18

Trang 13

Ở những vùng miền núi xa xôi, Minh Mệnh cũng tiến hành những cải cách tương tự, đó là việc thay đổi các đơn vị cư trú truyền thống của người Mường ở Hoà Bình vốn có thế lực mạnh như "Bi – Vang – Thàng - Động", chia thành các đơn vị hành chính nhỏ hơn, hoặc đổi toàn bộ các động, sách cũ thành xã để thống nhất đơn vị hành chính cấp cơ sở trên phạm vi toàn quốc

Tóm lại, việc thay đổi các đơn vị quản lý hành chính triều Nguyễn giai đoạn

1802 đến 1884 có thể chia làm 2 thời kỳ lớn Thời kỳ thứ nhất từ năm Gia Long lên ngôi 1802 đến những năm đầu Minh Mệnh Thời kỳ thứ hai từ những năm đầu Minh Mệnh đến năm 1884 Trong 2 thời kỳ này thì thời kỳ đầu cuộc cải cách đơn

vị hành chính diễn ra chập chạp, về cơ bản các đơn vị hành chính vẫn giữ nguyên theo cách tổ chức của chúa Nguyễn ở miền Nam và của triều Lê – Trịnh ở miền Bắc Thời kỳ thứ 2, đặc biệt dưới triều Minh Mệnh là thời kỳ cải cách mạnh mẽ với những thay đổi lớn về việc phân chia lại địa hạt các đơn vị hành chính nhằm mục đích thuận lợi cho việc quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương Các triều đại tiếp theo như Thiệu Trị, Tự Đức cũng có một số thay đổi nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên theo những cải cách dưới triều Minh Mệnh

3 Cơ sở từ việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

3.1 Tổ chức bộ máy hành chính dưới thời Gia Long

Sau khi Gia Long lên ngôi (1802), về thực chất đất nước mới chỉ thống nhất trên phương diện lãnh thổ địa lý và quân sự, còn trên các phương diện khác như chính trị, tổ chức hành chính thì ở trong tình trạng lỏng lẻo, rời rạc

Cơ quan hành chính ở trung ương vẫn được tổ chức theo mô hình nhà Lê thiết lập đủ 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công Đứng đầu mỗi bộ là Thượng Thư, giúp việc cho Thượng Thư có Tả, Hữu Tham tri Bên dưới có các chức Thiêm sự, Câu kê, Cai hợp Tổ chức dưới bộ có một số cơ quan chuyên trách Ngoài 6 bộ còn có 2 Tự, đứng đầu mỗi tự là Tự khanh

Bên cạnh 6 bộ và 2 tự, triều đình còn đặt những cơ quan để phụ trách những công việc chuyên môn là: Nội Hàn viện, Quốc Tử giám, Khâm Thiên giám, Thái y

Trang 14

viện, Từ Tế ty, Tượng Y viện… Cơ quan giúp việc quan trọng cho nhà vua là Thị Thư viện, giữ việc văn thư, sổ sách, thảo các văn, án, luật lệ

Bộ máy hành chính ở địa phương gần như giữ nguyên theo cách tổ chức của của chúa Nguyễn ở miền Nam và của triều định Lê – Trịnh ở miền Bắc đồng thời

có một số thay đổi như: ngoài việc đặc thêm một số cơ quan chuyên trách giúp việc cho hoàng đế như đã trình bày ở trên, triều đình còn cử hai viên Tổng trấn để quản lý Gia Định thành và Bắc thành, củng cố hệ thống quan lại ở các địa phương Các cơ quan hành chính ở trấn thành được tổ chức như một triều đình thu nhỏ, có 6 tào: Lại, Hình, Lễ, Hộ, Công, Binh được tổ chức như 6 bộ ở trung ương

3.2 Tổ chức bộ máy hành chính dưới triều Minh Mệnh

Với việc tổ chức bộ máy hành chính dưới triều Gia Long ngày càng bộc lộ nhiều bất cập, không thể tập chung mọi quyền hành vào tay ông vua chuyên chế được mà còn dẫn dễ đến việc tiếm quyền, cục bộ với chế độ quan Tổng trấn Trước tình hình đó, khi lên ngôi, Minh Mệnh đã từng bước tiến hành cuộc cải cách hành chính với quy mô lớn, làm thay đổi về cơ bản tổ chức bộ máy nhà nước Ông đã tiến hành cải tổ bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương Ở trung ương bộ máy hành chính được cải tổ với mục đích ngày càng tập trung quyền lực vào tay hoàng đế với những nội dung chính là cải tổ và đổi mới cơ quan văn phòng của nhà vua, hoàn thiện lục Bộ, lục Tự, và các cơ quan chuyên biệt khác như giám, phủ, đài, viện… ở địa phương trên cơ sở phân chia lại địa hạt quản lý hành chính ở các cấp tỉnh, phủ, huyện, xã, Minh Mệnh đã thiết lập một hệ thống chức quan và các

cơ quan cai trị cho phù hợp Những cải tổ đó đã làm cho tổ chức bộ máy nhà nước ngày càng trở lên chặt chẽ hơn Cho nên, cơ cấu tổ chức nhà nước dưới triều Minh Mệnh được coi là khuôn mẫu và được duy trì về cơ bản cho các đời vua tiếp theo như Thiệu Trị, Tự Đức…

Dưới đây chúng tôi xin lược trình bày cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý nhà nước thời kỳ đầu triều Nguyễn:

Trang 15

3.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước ở trung ương

* Hoàng đế (vua):

Là người đứng đầu bộ máy nhà nước nắm giữ các quyền lực tối cao về lập pháp, hành pháp và tư pháp theo nguyên tắc quân chủ trung ương tập quyền Về mặt lập pháp, hoàng đế là người duy nhất có quyền ban hành luật lệ Về hành pháp hoàng đế là người Trực tiếp nắm các Bộ, Viện ở Trung ương và các quan đứng đầu tỉnh; Thâu tóm quyền hành chi phối toàn bộ các cơ quan từ Trung ương đến địa phương

* Cơ mật viện (Các cố vấn đại thần):

Gồm một số viên quan có hiểu biết sâu rộng về những lĩnh vực nhất định, được nhà vua thường xuyên trao đổi để đưa ra những quyết định Cơ quan này gồm

4 viên quan gọi là Phụ chính đại thần Bốn viên quan này cộng với vua tạo thành

Cơ mật viện, có nhiệm vụ giúp nhà vua dự bàn những việc cơ mưu trọng yếu

* Nội các (Văn phòng giúp việc nhà vua):

Nội các là cơ quan mà tiền thân của nó đã có từ thời Gia Long với tên gọi lúc đầu là Thị Thư viện Năm 1820 vua Minh Mệnh cho đổi Thị Thư viện thành Văn Thư phòng Đến năm 1929, vua Minh Mệnh lại quyết định đổi Văn Thư phòng thành Nội các Chức năng khởi thảo, phân phát, coi giữ các chiếu, dụ, văn bản, biên chép các lời phê đáp, tấu văn Có thể thay mặt vua giải quyết một số công việc của các trấn nếu được nhà vua uỷ quyền Lưu giữ châu bản Như vậy Nội các có vai trò như một văn phòng tổng hợp, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của nhà vua

* Đô sát viện:

Đây là cơ quan quan trọng có chức năng theo dõi việc thi hành phát luật từ trung ương đến địa phương Nếu thấy có biểu hiện vi phạm, Đô Sát viện có quyền làm bản tâu lên thẳng nhà vua; có quyền đàn hạch (buộc tội) đối với các cơ quan

và bản chức có vi phạm

Về tổ chức, Đô Sát viện được tổ chức làm 6 khoa: Lại khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình khoa, Hộ khoa, Công khoa Mỗi khoa có nhiệm vụ trực tiếp theo dõi và

Trang 16

kiểm tra một Bộ, do một viên quan Cấp Sự trung phục trách Ngoài ra còn có 16 Giám sát Ngự sử chuyên lo việc theo dõi, kiểm tra các cơ quan ở địa phương

Đô sát viện cùng với Đại Lý tự và Bộ Hình hợp lại thành Tam Pháp ty

- Bộ Hình: Giữ việc pháp luật, án từ để nghiêm phép nước

- Bộ Công: Coi giữ việc thợ thuyền, đồ dùng trong thiên hạ, phân biệt vật hạng, xét rõ tài liệu để sửa sang việc nước

Trong Lục Bộ, mỗi Bộ là một cơ quan cao nhất về hành pháp trực tiếp làm việc với vua, nhận mọi chủ trương, chính sách bằng đường lối sẵn hoặc chỉ dụ, có

hệ thống ngành dọc từ tỉnh, phủ, đến huyện xã, thôn, có chức năng riêng và tổ chức thích hợp

Mỗi Bộ có chức Thượng Thư đứng đầu (hàm Chánh Nhị phẩm Văn giai) cùng 2 Tham tri (Tả, Hữu), 2 Thị lang (Tả, Hữu), một số Lang trung, Viên Ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ và 1 số Thư lại giúp việc

1 Bình chuẩn: Công bằng giá cả, lúc rẻ thì mua vào, lúc đắt thì bán ra

2 5 lễ là: 1 Lễ cát: những lễ về việc tế tự; 2 Lễ hung: những lễ về việc tang ma; 3 Lễ quân: những lễ về quân sự; 4

Lễ tân: những lễ về việc tiệp khách; 5 lễ gia: lễ đến tuổi đội mũ và lễ kết hôn

Trang 17

Theo quan chế các viên đứng đầu Lục Bộ hợp với các viên đứng đầu 3 cơ

quan khác là Đô Sát viện, Đại Lý tự, Thông Chính sứ ti tạo thành Cửu khanh – 9 vị

quan chức đại thần cao quý nhất

Cũng theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ thì Lục Bộ dưới triều Minh

Mệnh được tổ chức như sau:

- Bộ Lại gồm các Ty:

1 Ty Văn tuyển: chuyên giữ việc phẩm cấp quan chế, tuyên bổ chức hàm và chương sớ phiếu nghĩ, làm các bản danh sách hộ giá, bồi tế, dự yến, kiếm soát, danh sách quan hầu và khoá lương bổng từ Tam phẩm trở lên

2 Ty Trung tư: Chuyên giữ các việc gia cấp kỷ lục thưởng tư, giáng phạt, cấp tuất, cho nghỉ, gia hạn, và làm danh sách mãn khoá, thăng thưởng từ Tứ phẩm trở xuống

3 Ty Phong điển: Chuyên giữ việc phong tặng, tập ấm, làm những các bằng, cấp phát trát thư và làm cả danh sách mãn khoá thăng thưởng

4 Ty Lại ấn: Kính giữ ấn triện của Bộ, chi dùng việc công, tiếp nhận các chương sớ và tư trình đường quan, chuyển giao cho các ty chiếu làm theo từng tháng mà báo trên

5 Xứ3 Lại trực: Chuyên giữ viết phiếu bài trình lên và viết tinh tả phiếu nghĩ

để chầu đóng ấn vàng

- Bộ Hộ gồm các Ty:

1 Ty Kinh trực: Chuyên giữ giấy sớ, sổ sách ở Kinh và Tả trực, Hữu trực

2 Ty Nam kỳ: Chuyên giữ việc giấy sớ, sổ sách từ các tỉnh Bình Định trở vào Nam

3 Ty Bắc kỳ: Chuyên giữ giấy sớ, sổ sách từ Hà Tĩnh trở ra Bắc

4 Ty Thưởng lộc: Chuyên giữ việc chi cấp lương bổng, thưởng cấp tiền lương

5 Ty Thuế hạng: Chuyên trách về thuế sản xuất, và kinh phí mua sắm đồ vật

ở các địa phương

Trang 18

6 Ty Hộ ấm: Nhiệm vụ giống với Ty Lại ấn của Bộ Lại

7 Xứ Hộ trực: Nhiệm vụ giống với Xứ Lại trực của Bộ Lại

- Bộ Lễ gồm các Ty:

1 Ty Nghi văn: Chuyên giữ việc Lễ gia, Lễ quan4 và giữ con dấu, tiếp nhận tấu sớ, công văn, trình lên đường quan, rồi chia giao các Ty làm

2 Ty Nhân tự: Chuyên giữ việc tế tự

3 Ty Tân hưng: Chuyên giữ việc phong tặng các thần, cất nhắc hiền tài, lập nhà học, nêu khen những người hiếu hạnh, tiết nghĩa

4 Ty Thù ứng: Chuyên giữ việc lệ bang giao, triều cống

5 Xứ Lễ trực: Chuyên giữ việc dâng soạn phiếu bài và hầu Kim bảo5

- Bộ Binh gồm các Ty:

1 Ty Võ tuyển: Chuyên giữ quan chế về Võ giai trong ngạch, phẩm trật, tuyển bổ, cấp các sắc, xem xét bổ quan lại, cùng các việc tham cứu sung vào đủ môn lệ, khảo công, xét thưởng

2 Ty Kinh kỳ: Chuyên lo cất bổ quan chức ban võ trong Kinh, hầu giá khi vua tuần du, điểm duyệt diễn tập, đồn trú, tuần phòng, phân phối, sai phái biền binh cùng các việc ấn triện công nhu ở Bộ đường

3 Ty Trực tỉnh: Chuyên lo cất bổ quan chức võ ban ở các tỉnh thuộc triều đình quản lý và các việc khảo duyệt, diễn tập, sai phái biền binh

4 Ty Khảo công: Chuyên lo việc cất nhắc, thăng thưởng, xử trí, kiểm xét các ống thư ở trạm dịch và kiểm tra các việc làm của Đội trưởng

5 Xứ Binh trực: Nhân viên các xứ này do các Ty cắt cử phái đến chuyên lo việc viết, dâng phiếu bài, hầu đóng ấn vàng

- Bộ Hình gồm các Ty:

1 Ty Kinh Trực kỳ: Phàm những chương sớ, hồ sơ việc án ở Kinh sư và phủ Thừa Thiên, tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi về Tả Trực kỳ; tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, về Hữu Trực kỳ đều do Ty này phụ trách

4 Lễ gia (sđd)

5

Trang 19

2 Ty Nam hiến: Các chương sớ, hồ sơ việc án của các tỉnh từ Bình Định trở vào Nam chó đến Nam kỳ đều do Ty này trông coi

3 Ty Bắc hiến: Các chương sớ, hồ sơ việc án của các tỉnh từ Hà Tĩnh trở về Bắc cho đến Bắc kỳ đều do Ty này trông coi

4 Xứ Hình trực: Các nhân viên và chức giữ cũng giống như bộ Lại

- Bộ Công gồm các Ty:

1 Ty Quy chế: Phàm có làm lăng tẩm, thành trì, đồn luỹ, đê điều, cầu đường

và bắt cấp thợ nung ngói gạch, xem xét đơn bằng, các việc đều giữ cả

2 Ty Doanh thiện: Coi giữ tất cả những việc sửa, làm cung điện, nhà cửa, kho tàng, giải vũ

3 Ty Tu tạo: Coi việc sửa chữa, làm các loại thuyền

Đại Lý tự hợp với Bộ Hình và Đô Sát viện thành Tam pháp ty để xét xử những vụ án quan trọng giúp việc hình trong nước Trên thự tế Tam pháp ty là một

pháp đình tối cao dưới chế độ quân chủ nhà Nguyễn, nó có nhiệm vụ:

a Xử phúc thẩm:

Trang 20

- Những bản án đã thành nhất định mà đương sự chưa phục tình tại các địa phương theo đơn khống tố của chính bị can hoặc thân nhân của bị can

- Bản án từ hình "hoãn quyết" đã kết nghĩ, trước khi đưa ra hội đồng đình thần họp thành phiên đặt biệt "thu thẩm"6

- Thượng Bảo tự: Trong Khâm đinh Đại Nam hội điển sự lệ không thấy ghi

chức năng của cơ quan này Nhưng theo quan chế thời Nguyễn, Thượng Bảo tự được đặt ra đảm nhiệm việc đóng ấn vào các quyển thi của sĩ tử trong kỳ thi Hội

- Thái Bộc tự: Trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lễ cũng không thấy ghi chức năng của cơ quan này Nhưng trong Lịch triều hiến chương loại chí của

Phan Huy Chú thì chức năng của cơ quan này là giữ gìn xe ngựa của nhà vua và hoàng hậu; coi sóc chuồng voi, chuồng ngựa của vua và kiểm sát tất cả mục súc trong toàn quốc

- Hồng Lô tự:

* Các cơ quan khác

Để giúp việc Lục Bộ điều hành công việc trên phạm vi cả nước, triều Nguyễn đã thiết lập khá nhiều các cơ quan chuyên môn, được gọi chung là các nha Tất cả các cơ quan chuyên môn này có thể tạm chia thành 3 nhóm căn cứ vào chức trách nhiệm vụ của chúng:

- Nhóm 1: Các cơ quan có nhiệm vụ phục vụ đời sống sinh hoạt trong hoàng cung, hoặc có những hoạt động liên quan đến Hoàng tộc, nhóm này gồm một số cơ quan như:

6

Trang 21

+ Tôn Nhân phủ: Là một tổ chức được đặt ra để lo các công việc liên quan đến những người trong hoàng tộc như: coi giữ sổ sách, phân chia bổng lộc, giải quyết tranh chấp và lựa chọn người đề nghị nhà vua bổ nhiệm vào các chức quan trọng trong bộ máy nhà nước

+ Cẩn Tín ty:

+ Thái Y viện:

- Nhóm 2: Thực chất là các kho chứa đồ đạc của Hoàng cung như:

+ Phủ Nội vụ: Là tổ chức lo quản lý vật báu, sản xuất vật dụng, cáp phát cống phẩm trong cung

+ Ty Võ khố:

+ Thương trường:

Hai nhóm này không thuộc vào loại cơ quan hành chính

- Nhóm 3: Những cơ quan văn hoá, giáo dục hoặc có những hoạt động liên quan đến văn hoá như: Quốc Tử giám, Hàn Lâm viện, Quốc Sử quán, Táo Chánh

ty, Thông Chánh ty, Bưu Chính ty

1 Quốc Tử giám: Là cơ quan giáo dục cao nhất dười thời quân chủ Cơ quan này có trách nhiệm đào luyện nhân tài bổ sung cho bộ mày nhà nước

2 Hàn Lâm viện: Là cơ quan phụ trách việc từ hàn ở triều đình Cơ quan này có trách nhiệm soạn thảo các chiếu, sách, chế, cáo của nhà vua để ban bố cho quần thần hoặc toàn dân Hàn Lâm viện có nhiện vụ soạn thảo các biểu của trăm quan dâng lên nhà vua chúc mừng nhân một việc gì đó, soạn thảo các thư từ ngoại giao, sắc phong, văn bia

3 Ty Thông chính sứ: Có nhiệm vụ tiếp nhận văn bản do Ty Bưu chính chuyển đến và chuyển giao văn bản đến các cơ quan trung ương

4 Ty Bưu chính: Có chức năng lo việc chuyển đệ công văn trong toàn quốc, được đặt trực tiếp thuộc Bộ Binh

5 Quốc Sử quán: Là cơ quan nghiên cứu viết sử của triều đình

Trang 22

6 Khâm Thiên giám: Là cơ quan lo việc xem xét thiên văn, địa lý để xác định thời tiết và dự báo thiên tai; lo làm lịch cho cả nước; chọn giờ để tiến hành các nghi lễ lớn

3.2.2 Các cơ quan chính quyền ở địa phương

Như đã trình bày, sau khi lên ngôi, Minh Mệnh đã từng bước tiến hành công cuộc cải cách hành chính làm thay đổ về cơ bản hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương theo hướng tập chung quyền lực và trung ương nhằm mục đích thuận tiện cho việc cai trị đất nước Những cải cách của Minh Mệnh về cơ bản vẫn được các thời sau như Thiệu Trị, Tự Đức duy trì Trên cớ sở đó có thể khái quát bộ máy chính quyền ở địa phương giai đoạn nửa đầu thời Nguyễn như sau:

3 Hà - Ninh: Hà Nội – Ninh Bình

4 Định - Yên: Nam Định – Hưng Yên

5 Hải – An: Hải Dương – Quảng Yên

6 Ninh – Thái: Bắc Ninh – Thái Nguyên

13 Nam – Ngãi: Quảng Nam – Quảng Ngãi

14 Thuận – Khánh: Bình Thuận – Khánh Hoà

Riêng Thanh Hoá vốn là đất phát tích của nhà Nguyễn nên không ghép với tỉnh nào

Trang 23

30 tỉnh lại được chia làm 3 loại, loại tỉnh lớn, loại tỉnh trung và loại tỉnh nhỏ Tỉnh lớn có Tuần Phủ đứng đầu hoặc có nơi Tổng Đốc kiêm nhiệm, giúp việc có Bố chánh, Án sát với 2 Tả Ti, Hữu Thừa sau đổi làm Ty Phiên, Ty Niết.Ty Phiên lo việc Hộ, Ty Niết lo việc Hình

Tỉnh trung do một Tuần phủ hoặc một Bố chánh đứng đầu dưới quyền giám sát của Tổng đốc; một viên Án sát làm Phó tỉnh, cũng có 2 ty Phiên – Niết giúp việc

Tỉnh nhỏ có một Bố chánh đứng đầu, nằm dưới quyền điều khiển của Tổng đốc và cũng có Án làm Tỉnh phó

Mỗi liên tỉnh trên đây được đặt dưới quyền cai trị của 1 viên Tổng đốc Tổng đốc do chính quyền trung ương đặc phái cử về cai trị địa phương Bởi thế chức quan này có quyền hành rất lớn Tổng đốc lo luôn việc quân sự , cũng kiêm quản luôn Giám Sát ngự sử các tỉnh Tổng đốc có 2 cơ quan giúp việc chính là 2 ty Phiên – Niết Ti Phiên do 1 Kinh lịch nắm với những thuộc viên giúp Bố chánh lo việc Hộ trong tỉnh; Ty Niết do 1 Thông phán và nhiều thuộc viên giúp Án sát về việc hình, đôi khi có viên Cấp sự trung ở Kinh phái về giúp sức

Ngoài những cơ quan nói trên, ở mỗi tỉnh lại có một số cơ quan chuyên môn theo ngành dọc

Về học chính có Đốc hocjtinhr, cùng với Giáo thụ, Huấn đạo phủ huyện làm thành hệ thống học chính Cơ quan lo về y tế theo ngạch dọc từ trung ương xuống tỉnh gọi là Ty Lương y, có 1 Y sinh, Y thuộc trông coi Ty Chiêm hậu là tổ chức ngành dọc của Khâm Thiên giám do 1 Linh Đài lang quản lý Ty Lễ sinh tỉnh có chưcs Lễ Sinh hiệu

Về quân sự mỗi tỉnh có 1 đơn vị thường trực đồn trú nằm trong hệ thống Ngũ quân Ngoài ra tuỳ thuộc vào mức độ quan trong khác nhau về chiến lược, mỗi tỉnh có một số quân thương trực mang tính chất địa phương, biên chế đến vệ,

cơ, đội và nhiều khi có những quân đặc trưng như tượng binh, pháo binh, thuỷ quân Ngoài ra có những đơn vị với những phiên hiệu khác nhau thuộc Thổ binh

lo thêm phục dịch, bảo vệ nơi quan trọng Quân đội ở tỉnh do viên Đề đốc chỉ huy

Trang 24

Sau này với lực lượng quân đội tại chõ giao cho 1 Lãnh binh và Phó Lãnh binh đảm nhiệm tổ chức và chỉ huy

Như vậy, về cơ bản ở mỗi tỉnh chúng ta thấy có các chức quan với những chức năng và nhiệm vụ được quy định cụ thể như sau:

Tổng đốc: giữ việc cai trị quân và dân; trong coi cả quan văn và quan võ; khảo hạch các quan lại và sửa sáng chốn biên cương

Tuần phủ: giữ việc tuyên bố ơn đức của nhà vua; phủ dụ yên dân; trông coi

cả hành chính và giáo dục; chấn hưng việc có lợi và trừ bỏ tục lệ

Bố chánh sứ: coi việc thuế má, tiền của trong từng hạt; triều đình có ban ơn huệ hoặc lệnh cấm thì tuyên đạt cho các chức dịch biết

Án sát: giữ việc hình phạt trong toàn hạt; phát dương kỷ cương, phong tục; xem xét việc quan lại trị dân và kiêm lý việc bưu chính truyền đi trong hạt

Lãnh binh: chuyên cai quản binh lính

Ngoài ra, tuỳ vào địa hình cụ thể của mỗi tỉnh có thể đặt thêm các chức quan như Thuỷ sư lãnh binh, quan Hà đê, và các tỉnh lớn đặt thêm chức Đốc học

- Chính quyền cấp phủ – huyện:

Phủ là cấp hành chính trung gian giữa tỉnh và huyện Mỗi phủ thường gồm nhiều huyện, nhưng hãn hữu cũng có tỉnh chỉ gồm 2 huyện Năm 1827, triều đỉnh

ra Nghị chuẩn phân loại các phủ huyện trong cả nước ra thành 4 loại:

1 Loại tối yếu khuyết (rất nhiều việc)

2 Loại yếu khuyết (nhiều việc)

3 Loại trung khuyết (việc vừa)

4 Loại giản khuyết (ít việc)

Việc phân chia trên đây là cơ sở để triều đình thiết lập các chức quan ở phủ

và huyện

Mỗi phủ có Tri phủ, phủ lớn có thêm một Đồng Tri phủ cùng chia vùng cai quản hoặc quản hạt một số huyện trong phủ Khi không có Đồng Tri phủ thì Tri phủ cùng Tri huyện hội đồng bàn bạc coi như một Đồng Tri phủ Cũng có trường hợp Tri phủ vừa quản hạt chung các huyện trong phủ lại trực tiếp làm Tri huyện

Trang 25

một huyện khi khiếm khuyết Phủ cũng có bộ máy hành chính giúp việc nhưng đơn giản gồm có Lại mục, Thông lại (còn gọi là Thừa phái) cùng với 1 đội bảo vệ (gọi

là Lính lệ hoặc Lính giản) do 1 viên Lệ mục chỉ huy

Huyện là cấp hành chính dưới phủ và trên tổng Huyện cũng có nhiều loại tuỳ vào số tổng, xã phải quản lý Mỗi huyện có Tri huyện và Huyện thừa (nơi huyện có nhiều việc) Nơi huyện có diện tích lớn lại có 2 Tri huyện hợp thành 2 trị

ở 2 vùng gọi là Đông đường và Tây đường Mỗi huyện lại có một bộ máy giúp việc gồm 1 Lại mục, 1 đến 4 Thông lại (Thừa phái) và 1 tiểu đội lính Lệ do 1 viên Lệ mục chỉ huy

Ngoài ra ở mỗi phủ triều đình lại đặt thêm 1 viên Giáo thụ, mỗi huyện đặt thêm 1 viên Huấn đạo để lo việc giáo dục, học hành, thi cử

- Chính quyền cấp tổng và cấp xã:

Tổng là cấp hành chính trung gian giữa huyện và xã Đứng đầu tổng là Cai tổng hoặc Chánh tổng và một hoặc 2 Phó tổng do Lý trưởng các xã trong tổng bầu lên 3 năm 1 lần Mỗi tổng thường có nhiều xã Hệ thống quan lại ở tổng được tổ chức như sau:

Tổng nào có số đinh dưới 5000 người, số điền dưới 1000 mẫu thì chỉ đặt 1 viên Cai tổng

Tổng nào có số đinh trên 5000 người, số điền trên 1000 mẫu, công việc bận nhiều, đường đi từ huyện lị đến tổng mất 2,3 đến 4, 5 ngày thì ngoài viên Cai tổng còn đặt thêm 1 Phó tổng

Xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở của nhà nước phong kiến Việt Nam cũng như ở triều Nguyễn Xã có một tổ chức hành chính và thể chế truyền thống mang tính tự trị rất cao (gọi là Lệ làng) bên cạnh hệ thống pháp luật chung của nhà nước Việc lựa chọn người đứng đầu ở xã đã được tiến hành theo chế độ dân bầu Cai tổng và Xã trưởng phải là người địa phương, do dân trong xã bầu ra 3 năm 1 lần và được triều đình y chuẩn Giúp việc cho xã trưởng thường có 3 viên Kỳ mục:

+ Hương trưởng: phục trách hành chính và kiểm tra tất cả mọi việc trong làng xã

Trang 26

+ Hương mục: phụ trách các việc có liên quan đến tài sản và ruộng đất trong làng xã

+ Trùm trưởng: người được giao phụ trách việc trị an và việc canh phòng, bảo vệ

Về sau, Minh Mệnh cho đổi chức danh Xã trưởng thành Lý trưởng và quy định rằng:

Xã nào có số đinh dưới 50 người thì chỉ đặt 1 viên Lý trưởng

Xã nào có số đinh trên 50 người thì đặt thêm 1 viên Phó lý

Xã nào có số đinh trên 150 người thì đặt thêm 2 viên Phó lý

Ở các tỉnh miền núi từ tỉnh trở xuống bãn, mường (xã) có những cấp hành chính giống miền xuôi nhưng tên gọi và tổ chức, chức danh có khác nhau, chức tước cũng thấp hơn vũng xuôi Ngoài việc dùng người địa phương làm quan (Thổ quan), lãnh lính (Thổ binh), ở đây còn có các Phiên quan do triều đình phái đén ở bên cạnh Thổ quan

Về tổ chức tỉnh có nơi gọi là Phiên trấn hoặc châu Châu có khi như 1 phủ, huyện có lúc lại trùng với một mường rộng của vùng núi Bên cạnh đó còn có chế

độ Lang đạo, Phìa tạo gồm những thủ lĩnh truyền thống lâu đời của các dân tộc ít

người Nhà Nguyễn còn dùng chế độ Kimi (ràng buôc) để quản lý những vùng đất

mới ở Tây Nam

3.3 Những nguyên tắc hoạt động cơ bản của bộ máy nhà nước

Bên cạnh việc thiết lập, tổ chức và quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan từ trung ương đến địa phương, triều Nguyễn còn đặt ra các quy định về nguyên tắc hoạt động, mỗi quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước Những quy định này nhằm mục địch giup cho bộ máy nhà nước có thể hoạt động thuận lợi Dưới đây chúng tôi xin trình bày một số nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của bộ máy nhà nước dưới triều Nguyễn:

* Nguyên tắc tập trung quyền lực:

Đây là nguyên tắc cơ bản, bao trùm và chi phối toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước thời Nguyễn Với phương châm xây dựng một nhà nước tập quyền,

Trang 27

quyền lực tập trung vào tay chính quyền trung ương, trong bộ máy đó thì những quyền lực tối thượng thuộc về hoàng đế Với việc quyền lực tuyệt đối nằm trong tay nhà vua giúp cho ông vua chuyên chế dễ dàng kiềm soát được toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, tránh được những mầm mống của việc tiếm quyền, tạo phản, chia rẽ trong hoàng tộc cũng như cả triều đình Một trong những công việc

thể hiện rất rõ ý đồ muốn tập trung quyền lực là các nhà Nguyễn đã đặt ra lệ tứ bất 7 Với quy định này rõ ràng nhà Nguyễn muốn tăng cường quyền lực của các nhà vua; triệt tiêu những mầm mống có thể gây hoạ về sau

Ở các địa phương cũng vậy, từ thời Minh Mệnh trở về sau, chế độ Tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành đã được thiết lập từ thời Gia Long cũng bị bãi bỏ, thay vào đó là việc chia đặt thành các tỉnh Những quan đứng đầu tỉnh đều do nhà vua trức tiếp bổ nhiệm Điều này thể hiện rõ nguyên tắc nhà vua trực tiếp nắm quyền bổ nhiệm toàn bộ hệ thống quan lại từ cấp huyện trở lên

Bên cạnh những tích cực của nguyên tắc tập trung quyền lực như: tạo lập được sự thống nhất cao trong hoạt động của nhà nước; hạn chế tính cục bộ ở địa phơng… song nguyên tắc này cũng bộc lộ những hạn chế như là dẫn đến tình tràng chuyên quyền, độc đoán

* Nguyên tắc kiểm tra, giám sát và kiềm chế

Để khắc phục phần nào những hạn chế của nguyên tắc tập trung quyền lực, nhà Nguyễn đã đặt ra nguyên tắc kiểm tra, giám sát và kiềm chế Thể hiện của nguyên tắc này chính là việc nhà Nguyễn đã đặt ra Cơ mật viện – một cơ quan có quyền lực tương đối lớn Tổ chức của Đô Sát viện có Lục khoa có nhiệm vụ kiểm tra và giám sát toàn bộ công việc của Lục bộ Ngoài ra, Đô Sát viện còn có 16 viên Giám sát ngự sử có nhiệm vụ giám sát hoạt động của các địa phương Đô sát viện được hoạt động theo nguyên tắc độc lập Về cơ bản, Đô sát viện có những quyền hạn sau đây:

Trang 28

- Quyền đàn hạch: mỗi một viên quan khoa đạo có quyền can gián vua hoặc các nghị quyết của triều đình nếu thấy có sai phạm về luật lệ hoặc không phù hợp với thực tế

- Quyền được dự nghe việc chính sự: trong các buổi thiết triều, Đô Sát viện được cử người đến dự và biên chép những lời nói, việc làm của nhà vua Cuối buổi thiết triều những ghi chép đó phải được đóng thành tập và hết một tháng được gửi sang cho Quốc Sử quán để lưu trữ về sau Các văn bản tấu trình của địa phương của địa phương cũng được chuyển sang cho Đô Sát viện một bản (phó bản) để kiểm tra, đố chiếu

- Quyền kiểm soát các trường thi

- Quyền phúc duyệt đố với một số bản án hình sự quan trọng (thường là các bản án tử hình đặc biệt) và tham gia vào Tam Pháp ty cùng với bộ Hình và Địa Lý

tự

Với những quyền hạn như trên, Đô Sát viện đã có vai trò rất quan trọng trong việc giúp triều Nguyễn thực hiện tốt nguyên tắc kiểm soát lẫn nhau, hạn chế việc vi phạm pháp luật, sự lộng quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước

Ngoài ra, triều Nguyễn còn đặt ra những quy định khác như: sử dụng Nội các để kiềm chế Lục Bộ thông qua việc cho phép Nội các được duyệt các công văn

do Lục Bộ trình lên vua Nếu thấy nội dung có chỗ chưa phù hợp, Nội các có quyền nêu ý kiến của minh trong một bản tấu riêng đính kèm với công văn của các

Bộ, trình lên để nhà vua xem xét Nguyên tắc này cũng dược áp ng trong trường hợp các Bộ được quyền xem xét và cho ý kiến về những chương sớ của các địa phương trước khi trình lên vua Các nguyên tắc trên đây tạo nên một sự kiềm chế lẫn nhau giưa các cơ quan với nhau và giữa trung ương với chính quyền địa phương

* Nguyên tắc đề cao trách nhiệm tập thể và tôn trọng ý kiến cá nhân

Trong Đại Nam thực lục chính biên, ở mục Quy tắc làm việc, triều Nguyễn

đã có những quy định về trách nhiệm của tập thể trong hoạt động của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương Theo đó thì khi các Bộ có đề nghị và

Trang 29

quyết định một vấn đề nào đó đều phải làm thành các tập tấu để trình lên vua Những tập tấu này phải lấy danh nghĩa chung của tất cả các viên quan đứng đầu mỗi Bộ (gồm 5 người: Thượng thư; Tả, Hữu Tham tri; Tả, Hữu Thị lang) chứ không được đứng tên riêng một mình viên Thượng thư Đối với các địa phương, các viên Tuân phủ thấy có việc quan trọng có quan hệ đến sự lợi hại chung thì phải bàn với viên Tổng đốc, rồi làm một bản tâu, ký tên chúng rồi đệ trình

Quy định này giúp cho các quyết định của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương phải được bàn bạc thấu đáo, kỹ càng; tránh sự nóng vội gây

ra những hậu quả không tốt Song nguyên tắc này cũng có những hạn chế như dẫn đến tình trạng trì trệ, chậm chạp, không phát huy được năng lực cá nhân các viên quan Để khắc phục điều này, triều Nguyễn đã đặt ra một số nguyên tắc về ý kiến

cá nhân

Triều Nguyễn đã quy định về quy tắc làm việc của các Bộ là khi bàn bạc công việc, 5 viên quan đứng đầu mỗ bộ đều có quyền bình đẳng về ý kiến, viên Thượng thư không được phép phủ quyết những ý kiến trái với mình Những người

có ý kiến riêng được triều đình cho phép làm thành một bản tấu riêng, bình bày lý

do và tứng tên cá nhân đóng dấu triện riêng đệ trình lên nhà vua Ở các địa phương, nếu có các ý kiến khác nhau mà liên quan đến những việc lớn lao của dân chúng, đất nước thì các viên Bố chánh, Án sát hoặc Tuần phủ cũng có quyền làm tấu riêng đệ trình thẳng lên trên Nguyên tắc này thể hiện việc tôn trọng ý kiến cá nhân giúp nhà vua có thể nắm bắt được tình hình cụ thể từ đó có những quyết sách phù hợp với thực tế, tránh sự bao biện, che dấu trong hoạt động của các cơ quan nhà nước

Những nguyên tắc trình bày trên đây là những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quản lý nhà nước của triều Nguyễn Song trong thực tế không phải lúc nào những nguyên tắc này cũng được thực hiện một cách triệt để Chẳng hạn như quyền can gián nhà vua nhiều khi khó thực hiện ược, ý kiến can gián nhiều khi vua không những không nghe mà người can gián còn bị xử trị

Trang 30

3.4 Vấn đề đào tạo và sử dụng quan lại dưới triều Nguyễn

Một bộ máy nhà nước muốn vận hành tốt thì vấn đề sử con người làm việc

để thực thi bộ máy nhà nước là rất quan trọng Chính vì vậy, cũng như các triều đại trước, nhà Nguyễn rất chú trọng đến việc đào tạo và sử dụng con người, cụ thể ở đây là vấn đề đào tạo và sử dụng quan lại Việc tuyển dụng quan lại dưới triều Nguyễn được thực hiện bằng 3 phương thức cơ bản sau:

3.4.1 Chế độ nhiệm cử

Thực chất chế độ tuyển chọn này đã từng được thực hiện ở các triều địa phong kiến Việt Nam trước đó Theo chế độ này, quan lại được tuyển dụng từ những người có năng lực, là con cháu trong hoàng tộc Tôn Nhân phủ được nhà Nguyễn đặt ra bên cạnh nhiều nhiệm vụ thì một nhiệm vụ quan trọng là xem xét đệ trình lên hoàng đế danh sách con cháu hoàng thân quốc thích có tài để nhà vua bổ nhiệm giữ các chức quan trong bộ máy nhà nước Người được chọn có khi không phải tham dự hoặc đỗ đạt trong các kỳ thi Quan trọng là họ có năng lực có khả nặng kham được công việc được giao Thực chất chế độ nhiệm cử nhằm đưa lại cho giai cấp thống trị những quyền lợi về chính trị, góp phần củng cố quyền lực của hoàng tộc

3.4.2 Chế độ khoa cử

Cũng như các triều đại trước, nhà Nguyễn rất chú trọng đến việc khuyết khích việc học hành thi cử Như dưới thời Gia Long chế độ nhiệm cử là phương thức lựa chọn quan lại chủ yếu thì từ thời Minh Mệnh trở đị chế độ khoa cử lại là phương thức lựa chọn quan lại chủ yếu Năm 1821 Minh Mệnh cho tu sửa Quốc

Tử giám để mở rộng việc đào tạo nhân tài Năm 1822 cho mở khoa thi Hội đồng thời định rõ phép thi Hội, thi Đình Năm 1825, lại cho định phép thi Hương Trong những năm tiếp đó dưới triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức thể lệ và phép chấm thi, nội dung thi cũng được quy định ngày càng rõ ràng và chặt chẽ Về cơ bản, triều đình tổ chức 3 năm một kỳ thi Hương, sau đó 1 năm sẽ tổ chức kỳ thi Hội Kỳ

Trang 31

thi Đình sẽ được tổ chức ngay sau kỳ thi Hội Nhà nguyễn vẫn tiếp tục thực hiện phép thi Tứ trường

Kết quả các kỳ thi là cơ sở để nhà vua lựa chọn bổ nhiệm những người đỗ đạt làm quan từ cấp huyện cho đến triều đình Như nguyễn vẫn thực hiện những nghi lễ đối với những người đỗ đạt như: xướng danh, khắc bia Tiến sỹ, vinh quy bái tổ… đồng thời có nhiều chính sách đề cao những người làm quan xuất thân từ con đường hoa bảng Thời Minh Mệnh trở đi, triều đình đã thực hiện việc lấy học

vị làm tiêu chí chính để tuyển bổ đội ngũ quan chức từ trung ương đến địa phương

3.4.3 Chế độ tiến cử (Bảo cử)

Chế độ này cũng có từ các thời phong kiến trước đây và đến thời Nguyễn vẫn được tiếp tục duy trì Chế độ này có ưu điểm là tránh bỏ sót người tài trong xã hội Trong một đạo dụ, Minh Mệnh đã nói rõ ý nghĩa của việc tiến cử người tài

như sau: “Xây dựng chính trị cốt được người giỏi, phương pháp chọn người không phải chỉ một Kinh Thư nói: „Cử được người giỏi làm quan, tức là cái giỏi của mình‟ Là bởi tiến người giỏi cho vua là chức phận của người bề tôi” Các vị vua

từ Gia Long đến Tự Đức đều ban hành những quy định cụ thể về vấn đề tiến cử và thưởng phạt với người tiến cử nhằm tránh những hiện tượng tiến cử vì tư lợi mà không chú ý đến thực tài Minh Mệnh còn có những quy định cụ thể những loại chức vụ được quyền tiến cử và thức bậc các chức vụ mà người được tiến cử có khả năng nắm giữ Tự Đức, nhà nước còn cho phép các quan trong, ngoài triều đình mỗi người được quyền tiến cử một người mà mình biết

Những phương thức tiến cử trên đây đã cho thấy nhà Nguyễn rất chủ trọng đến việc đào tạo và sử dụng quan lại Mặc dù những phương thức trên vẫn còn chú trọng đến quyền lợi của giai cấp thống trị, song về cơ bản những yếu tố về tài đức

đã được đề cao

Bên cạnh đó, nhà Nguyễn còn đặt ra lệ sát hạch và khảo khoá nhằm kiểm tra năng lực và hoạt động của đội ngũ quan chức Thông qua hình thức này có thể cất nhắc những quan lại có năng lực lên chức vụ cao hơn và ngược lại những người

Trang 32

Hai phương thức sát hạch và khảo khoá đã được áp dụng trong tất cả các đời từ Gia Long đến Tự Đức

Những quy định về sát hạch và khảo khoả được áp dụng cho từng loại quan, phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất của công việc Ví dụ: Thời Tự Đức quy định, các quan văn võ trong triều từ hàm tam, tứ phẩm trở xuống cứ sau 3 năm phải sát hạch một lần Kết quả khảo hạch được chia làm 4 hạng: hạng ưu, hạng trung, hạng thứ và hạng liệt Trong đó hạng ưu sẽ được sét thăng bổ ngay, không cần theo thứ tự; hạng trung căn cứ vào thứ tự mà thăng chuyển; hạng thứ cho giữ chức vụ cũ; hạng liệt bắt phải về hưu

Thưởng phạt và đãi ngộ cũng là vấn đề rất được triều Nguyễn quan tâm trong vấn đề sử dụng quan lại Quan lại được hưởng chế độ ban cấp ruộng đất, lương bổng, con cái họ được hưởng hưởng lộc theo chức vụ và phẩm tước của cha… khi quan lại có công được nhà nước ban thưởng bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng khi có tội thì cũng bị trừng phạt rất nghiêm minh

3.5 Vấn đề xây dựng và ban hành văn bản pháp luật

Pháp luật là phương tiên và công cụ để thực hiện quyền lực của nhà nước Ngoài ý nghĩa là các biện pháp để cưỡng chế, trấn áp thì pháp luật cũng là phương tiện để tổ chức, quản lý xã hội Phương tiện để truyền tải pháp luật là các văn bản

luật Như đẫ trình bày, Điển lệ là những quy định do nhà nước ban bố được ghi

chép vào sách vở Như vậy văn bản luật chỉ là một bộ phận trong hệ thống văn bản

ghi chép điển lệ

Thời Nguyễn là thời kỳ mà pháp luật có những bước phát triển lớn Với một phạm vi lãnh thổ rộng lớn hơn bất kỳ một triều đại nào trước đó; bên cạnh đó là những tồn dư của triều đại trước để lại, bởi thế các ông vua triều Nguyễn ý thức được sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống luật pháp nhằm thiết lập lại trật tự,

kỷ cương xã hội

Năm 1811, Gia Long đã cho soan thảo và ban hành bộ Hoàng Việt luật lệ

(Luật Gia long) Đây là sản phẩm cao nhất trong hoạt động lập pháp của triều

Trang 33

Nguyễn Nội dung của bộ luật này rất phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề của hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội

Đến thời Minh Mệnh đã cho ban hành bộ Đại Nam hội điển toát yếu, trong

bộ sách này đã quy định rất rõ ràng chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của quan lại

và các cơ quan nhà nước Có thể coi đây là bộ Luật hành chính theo cách phân loại ngày nay

Ngoài ra, các vua triều Nguyễn còn ban hành rất nhiều loại văn bản pháp luật khác như: chiếu, chỉ, dụ, lệnh, sắc phong Số lượng của các loại văn bản này là rất lớn với nội dung vô cùng phong phú Có thể coi đây là những văn bản dưới luật nhằm cụ thể hoá các quy định trong bộ luật, đồng thời sửa đổi bổ sung những vấn

đề mới cho phù hợp với tình hình mới Các vua nhà Nguyễn đã ban hành nhiều chỉ

dụ điều chỉnh nhiều vấn đề quan trọng bổ sung cho bộ Luật Gia Long

Cũng từ ý thức xây dựng một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh mà nhà Nguyễn rất chú trọng đến việc sưu tập và hệ thống hoá luật lệ Những sản phẩm đáng chú ý

của quá trình hệ thống hoá luật lệ phải kể đến là bộ sách Minh Mệnh chính yếu và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ

Bên cạnh những thành tựu về quá trình xây dựng luật pháp thì cũng còn

những hạn chế Đó là khi soạn thảo bộ Hoàng Việt luật lệ hầu như

Trang 34

CHƯƠNG 2:

TÌM HIỂU NHỮNG ĐIỂN LỆ QUAN TRỌNG

CỦA TRIỀU NGUYỄN TRONG QUỐC TRIỀU YẾU ĐIỂN

(Giai đoạn 1802-1867)

1 Khảo sát tác phẩm

1.1 Giới thiệu một số sách biên soạn theo thể điển lệ của triều Nguyễn

Qua khảo sát nội dung văn bản Quốc triều yếu điển với những sách cùng thể loại, chúng tôi thấy, văn bản này được biên soạn theo thể loại Hội điển Chúng ta biết các sách biên soạn theo thể Hội điển, hay còn gọi là Đại điển, Chính điển đã

có từ rất lâu đời Các triều đại phong kiến Trung Quốc như Đường, Tống, Nguyên,

Minh, Thanh đều có làm sách Đại điển hoặc Hội điển

Ở Việt Nam các triều đại Trần, Lê cũng đã có biên soạn loại sách này Ví dụ:

Hoàng triều đại điển do Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn soạn Quốc triều Hội điển (biên soạn năm Vĩnh Hựu) Quốc triều chính biên điển lục (Bùi Huy Bích biên soạn vào đời Lê), và đến triều Nguyễn có bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự

lệ

Nội dung thể loại sách Hội điển nhằm mục đích ghi chép lại các điển pháp,

quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một triều đại, một nhà nước

1.1.1 Sách được biên soạn theo chỉ dụ của Hoàng đế:

- Hoàng Việt luật lệ

- Đại Nam hội điển toát yếu

- Minh Mệnh chính yếu

- Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ

Trang 35

1.1.2 Sách do tổ chức, cá nhân tổ chức biên soạn

Ngoài những bộ sách lớn do Nội các, Quốc sử quán biên soạn, triều nguyễn còn rất nhiều sách biên chép theo thể toát yếu do các tổ chức, cá nhân tổ chức biên soạn, với mục đích đưa luật pháp đến được với mọi đối tượng trong xã hôi, vì rằng không phải ai cũng có điều kiện tiếp súc được với những văn bản đồ sộ như trên

Quan tra cứu, chúng tôi thấy có một số sách cùng thể loại với Quốc triều yếu điển

đáng chú ý sau:

- Quốc triều điển lệ quan chế lược biên: Chế độ quan chức thời Minh Mệnh,

gồm: quan tước, phẩm trật của các quan văn võ, chế độ ruộng đất, thuế khoá, thi

cử, và luật lệ của 6 bộ

- Quốc triều sắc dụ chiếu cáo toàn tập: gồm sắc, dụ, chiếu, cáo của các vua

triều Nguyễn từ Gia long đến Minh Mệnh, Thiệu Trị

- Quốc triều thể lệ (Loại hình lệ bổ nghị lược biên): gồm thể lệ của 6 bộ triều

Nguyễn từ Gia Long đến Thành Thái; chế độ đối với quan chức, phong tặng, điều động, tuyển dụng các quan; thể lệ về việc quản lý hộ khẩu, của cải…; thể lệ đối với tội phạm, việc truy bắt giam giữ xét sử tội phạm

- Quốc triều thể lệ trích lược: gồm thể lệ của triều Nguyễn về các mặt lương

bổng, hưu trí, điều lệ ở 6 bộ, các viện, tào, ti, quy định về việc con các quan vào trường học

- Quốc triều văn võ quan chế thể lệ yếu điển: quan chế, tước phẩm cac quan

văn võ triều nguyễn, số lương bổng của từng chức danh; một số thể lệ về hành chính, lệ chung cho các quan viên, các lại viên

- Quốc triều chiếu lệnh

- Quốc triều chỉ dụ châu phê tập

- Quốc triều sắc dụ chiếu cáo toàn tập

- Đại Nam điển lệ

- Đại Nam điển lệ toát lược tân biên

- Đại Nam điển lệ toát yếu

- Đại Nam điển lệ toát yếu

Trang 36

Qua khảo sát nội dung các tác phẩm này chúng tôi thấy phương pháp ghi

chép cũng gần với văn bản Quốc triều yếu điển, một số tác phẩm chỉ ghi chép 1 lĩnh vực nhất định chứ không toàn diện như Quốc triều yếu điển

Mục đích chúng tôi đưa ra tiểu mục này để chúng ta có một cái nhìn toàn

diện về hệ thống sách có thể loại tương đồng với Quốc triều yếu điển, qua đó thấy

được tính toàn diện của nó

2 Khảo sát văn bản Quốc triều yếu điển

2.1 Vấn đề tác giả và niên đại Quốc triều yếu điển

Trong Quốc triều yếu điển không chép tác giả biên soạn và niên đại Song qua đối chiếu về phong cánh biên soạn với một số văn bản cùng thể loại chúng tôi đoán định có thê sách được soạn soạn bởi nhóm tác giả Lê Minh Yừu, Trương Du,

Đổ Đức Biểu do Gia Xuyên Đỗ Văn Tâm duyệt, Đỗ Quang Đính, Trần Huy Chước hiệu đính

2.2 Những vấn đề về văn bản

Quốc triều yếu điển là tác phẩm ghi chép lại các điển lệ quan trọng của triều

Nguyễn từ Gia Long nguyên niên (1802) đến Tự Đức 20 (1867) Sách gồm 153 tờ kép và 1 tờ lẻ, tổng cộng là 207 trang

Sách chép tay, khổ 20x18cm, đang được lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A1614

Hiện trạng sách còn tốt, chữ viết rõ ràng Trang bìa chỉ ghi dòng chữ Quốc triều yếu điển Các trang tiếp theo ghi chép nội dung luôn, cũng không thấy có

phàm lệ, bài bạt hay bài tự gì cả

Trang 37

- Đoạn 2 từ 84 đến tờ 112 tiếp tục ghi chép lại các điển lệ từ năm Minh Mệnh thứ 3 đến năm Tự Đức thứ 20

- Đoạn 3từ tờ 113 đến 123 ghi chép về quan chế năm Minh Mệnh thứ 8 và thứ tự ban thuỵ hiệu cho văn giai và võ giai năm Minh Mệnh thứ 7

- Đoạn 4 chép lại Tổng mục bộ Hoàng Việt luật lệ

- Đoạn 5 tiếp tục biên chép các điển lệ

3 Tìm hiểu điển lệ qua triều Nguyễn qua tác phẩm Quốc triều yếu điển

Ở Chương 1 chúng tôi đã trình bày, hệ thống điển lệ chính là công cụ để quản lý nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trên mọi lĩnh vực Mỗi cơ quan trong bộ máy tổ chức hành chính của triều đình nhà Nguyễn lại có quyền ban hành những loại điển lệ khác nhau Quy trình ban hành này được quy định và tiến hành rất nghiêm ngạch

Thường thì mỗi điển lệ quy định một vấn đề cụ thể nào đó Song có những điển lệ cùng một lúc có liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cơ quan khác nhau

Hệ thống điển lệ được ghi chép dưới dạng các văn bản Có nhiều loại văn bản khác nhau Mỗi loại văn bản lại thuộc thẩm quyền ban hành của cá nhân, cơ quan khác nhau

Với những xuất phát điểm trên đây, quá trình tìm hiểu điển lệ của chúng tôi

sẽ đi theo những vấn đề sau:

- Tìn hiểu văn bản quản lý Nhà nước có trong tác phẩm

- Phân loại điển lệ theo lĩnh vực Lục bộ

3.1 Một số văn bản quản lý nhà nước triều Nguyễn xuất hiện trong Quốc triều yếu điển

Văn bản ghi chép điển lệ có thể gọi nó nò Văn bản quản lý nhà nước Trong quá trình tìm hiểu tác phẩm chúng tôi thấy, các quy định của các điển lệ đều được

Trang 38

thể hiện dưới những dạng văn bản cụ thể Dưới đây chúng tôi xin trình bày những

văn bản đã xuất hiện trong sách Quốc triều yếu điển

- Luật

Đây là loại văn bản chỉ có nhà vua mới có thẩm quyền ban hành Vai trò của

nó là điều chỉnh những mối quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất Nó có giá trị pháp lý cao nhất trong toàn bộ hệ thống văn bản quản lý nhà nước của triều Nguyễn cũng như các triều đại phong kiến khác

- Chiếu

Chiếu cũng là loại văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của nhà vua, thể hiện

ý chí, quan điển của vua, bởi thể nó có hiệu lực lâu dài

- Lệ

Lệ là loại văn bản cũng chỉ có nhà vua mới có thẩm quyền ban hành nhằm

đề ra những quy định, thể lệ về một vấn đề trong một lĩnh vực nhất định Những quy định trong nó thường là cụ thể hoá hoặc bổ sung những quy định của luật, đồng thời có thể đề ra những quy định mới mà trong luật chưa có

- Chỉ

Trang 39

Là loại văn bản do triều thần, quan lại, dân chúng dùng để tạ ơn, tạ lỗi với vua

- Tấu

Là loại văn bản do các triều thần, quan địa phương trình lên để tâu bày những điều nhà vua hỏi hoặc yêu cầu Nó cũng được dùng để phản ánh, báo cáo tình hình hay trình bày những yêu cầu, đề nghị của cá cơ quant rung ương và địa phương cho nhà vua xem xét

- Sớ

Là loại văn bản do các triều thần và quan lại ở địa phương trình lên vua để báo cáo công việc, hoặc trình bày một vấn đề có tính định kỳ hoặc đột xuất Nó còn được dùng để hỏi thăm sức khoẻ, vấn an nhà vua, hay đệ trình một yêu cầu, đề nghị lên nhà vua

Ngoài ra còn một số loại văn bản khác như: Tư, Thông tự, Tư trình, Tư di, Giáo thị, Tư trình, Tư bẩm, Trát, Tờ bẩm, Thông tri, Trình, Công đồng tryền, Công đồng sai, Công đồng phó, Công đông di, Công đồng khiển, Thân, Kê, Khải, Trác

3.2 Hệ thống điển lệ phân loại theo Lục bộ

3.2.1 Những điển lệ thuộc lĩnh vực của Bộ Lại

* Giai chế phẩm cấp: Là những quy định thang bực về hàm tước, phẩm hàm

trong quan chế nhà Nguyễn Những quy định này về cơ bản theo truyền thống của các triều đại trước và có phiên chế lại Đến năm Minh Mệnh thứ 8 thông qua nghị bàn đã quy định một cách cụ thể các vấn đề giai chế phẩm cấp Theo đó giai chế phẩm cấp được chia làm 2 ban hay 2 giai: Văn giai (Văn ban), Võ giai (Võ ban) Mỗi ban đều có 9 bậc chia làm Chánh và Tòng, mỗi bậc như vậy còn gọi là Trật Mỗi giai bậc còn kèm thêm một tên thuỵ và một cáo thụ8 (từ Ngũ phẩm trở lên) và một sắc thụ9 (từ Lục phẩm trở xuống) Những quy định này đã được Quốc triều

8 Cáo thu: là Sắc phong có kèm theo bài chế, cáo và có trục để cuộn tờ sắc Từ Nhất phẩm đến Ngũ phẩm (văn cũng

Trang 40

yếu điển ghi chép rất cụ thể trong phần Quan chế năm Minh Mệnh thứ 8 và Thuỵ

hiệu năm Minh Mệnh thứ 7 (xem bảng trang sau)

Quan chế năm Minh Mệnh thứ 8 và thuỵ hiệu năm Minh Mệnh thứ 7

Chánh tam phẩm

Văn Gia nghị đại phu

Chưởng viện học sĩ, Thị lang, Đại lý Tự khanh, Thái thường Tự khanh, Bố chính sứ, Trực học sĩ, Thông chính sứ, Phủ doãn

Võ Anh dũng tướng

quân

Nhất đẳng thị vệ, Chỉ huy sứ, Thân Cấm binh Vệ uý, Lãnh binh, Phó Đề đốc, Thuỷ

Võ Minh nghĩa đô uý

Quản cơ Nhị đẳng Thị vệ, Binh mã Phó sứ, Tinh binh Phó Vệ uý, Phó Vệ uý chư quân, Quản cơ

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w