Nhiều thế hệ nhà văn vẫn trung thành với đề tài này, lao động miệt mài trên cánh đồng chữ của mình nhằm tạo ra những tác phẩm viết về chiến tranh trong cái nhìn tỉnh táo, chân thực hơn..
Trang 12.1 Những công trình bài viết nghiên cứu trên góc nhìn khái quát về
tiểu thuyết chiến tranh cách mạng Việt Nam
5
2.2 Những ý kiến, bài viết về các tác phẩm trong luận văn 9
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12
Chương 1: Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng trong
dòng chảy văn học Việt Nam
Trang 2Chương 2: Sự tiếp nối và biến đổi trong việc phản ánh cuộc
sống và con người của tiểu thuyết về chiến tranh cách mạng
Việt Nam 2004- 2009
26
2.1 Tiếp cận hiện thực từ cái nhìn đa chiều 26
2.1.2 Hiện thực đời sống ở hậu phương 39 2.2 Đổi mới quan niệm về tính cách nhân vật 43 2.2.1 Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học 43
2.2.2.1 Nhân vật người lính 45 2.2.2.2 Nhân vật kẻ thù 58 2.2.2.3 Nhân vật quần chúng 63 2.2.3 Xây đựng mối liên hệ giữa các nhân vật 66 2.3 Cảm hứng bi kịch mang đậm tính nhân văn 69 2.4 Kết hợp chất sử thi và chất tiểu thuyết 74
Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong các tiểu
thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng Việt Nam 2004- 2009
3.2.2.1 Thời gian lịch sử- sự kiện 87 3.2.2.2 Thời gian hiện tại đan xen quá khứ 88
Trang 33.2.2.3 Thời gian tâm lí 90
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” Quả thực đây là một chân lí luôn luôn đúng với mọi thời đại Với những ai đã từng trải qua chiến tranh, từng đối diện với ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, từng sống trong tâm trạng lo sợ khi nghe tiếng máy bay kẻ thù gầm rú trên bầu trời, họ sẽ hiểu cuộc sống hòa bình có ý nghĩa biết chừng nào
Dường như nhận thức được điều đó, văn học Việt Nam ở nhiều thời điểm trong quá khứ đã cất lên tiếng nói về chiến tranh, góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu của dân tộc, hướng con người đi tới một cuộc sống tốt đẹp hơn Trong điều kiện hiện nay, khi chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm, khi đất nước ta đang trên đà đổi mới và hội nhập, mảng đề tài về chiến tranh cách mạng vẫn luôn là nguồn cảm hứng khơi gợi sức sáng tạo của bao văn nghệ sĩ
Quan sát sự phát triển của nền văn học Việt Nam trong những năm đầu thế kỉ XXI, chúng tôi nhận thấy: nền tiểu thuyết Việt Nam đã có sự khởi sắc với sự phát triển đa dạng của các đề tài, cách thức thể hiện Bên cạnh dòng tiểu thuyết thế sự đời tư, tiểu thuyết lịch sử, vv với nhiều cách tân nghệ thuật quan trọng thì dòng tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng vẫn
là mạch chảy liên tục, không ngừng làm mới mình để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng khắt khe của bạn đọc Nhiều thế hệ nhà văn vẫn trung thành với đề tài này, lao động miệt mài trên cánh đồng chữ của mình nhằm tạo ra những tác phẩm viết về chiến tranh trong cái nhìn tỉnh táo, chân thực hơn Có một thực tế mà nhiều người phải công nhận là các sáng tác về chiến tranh cách mạng một thời đứng ở vị trí then chốt trong nền văn học Việt Nam có lúc có nơi đã không được quan tâm, thể hiện đúng mức Thậm chí một số người còn
Trang 5cho rằng trong thời đại hiện nay các tác phẩm viết về chiến tranh dường như không còn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc nữa
Trong thời gian từ 2004- 2009, Bộ Quốc Phòng đã phát động cuộc thi sáng tác tiểu thuyết sử thi về đề tài chiến tranh cách mạng Đây là lần đầu tiên một cuộc vận động sáng tác văn học được quân đội tiến hành theo phương thức “đặt hàng” với các nhà văn Tuy chỉ với thời gian năm năm ngắn ngủi nhưng nó đã góp phần tích cực thúc đẩy phong trào sáng tác những tác phẩm viết về chiến tranh Kết quả thu được từ cuộc thi này hết sức khả quan với nhiều bộ tiểu thuyết viết về những trận đánh, chiến dịch, sự kiện, nhân vật trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta Số lượng và chất lượng tác phẩm ngày càng nâng lên rõ rệt Một số tác phẩm có giá trị về nội dung và nghệ thuật đã đoạt giải và thu hút sự quan tâm của bạn đọc Trong đó phải kể đến
các tiểu thuyết: Những bức tường lửa (Khuất Quang Thụy), Thượng Đức (Nguyễn Bảo Trường Giang), Tiếng khóc của nàng Út (Nguyễn Chí Trung),
Mùa hè giá buốt (Văn Lê), vv… Đây là những tiểu thuyết nổi bật được dư
luận đánh giá cao và hơn nữa các tác phẩm này còn có những yếu tố cho thấy
sự đổi mới và xu hướng vận động của tiểu thuyết chiến tranh trong mấy năm trở lại đây
Qua sự khảo sát, chúng tôi thấy có khá nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng giai đoạn trước 1975 và những năm đầu sau đổi mới của nền văn học, cụ thể là vào những năm 90 của thế kỉ
XX Tuy vậy các công trình nghiên cứu một cách hệ thống về mảng tiểu thuyết này trong vài năm gần đây còn khá thưa vắng, hầu hết chỉ là những bài viết nhỏ lẻ đánh giá và cảm nhận về các tác phẩm
Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Tiểu thuyết về đề tài chiến
tranh cách mạng Việt Nam 2004- 2009 (qua các tác phẩm tiêu biểu trên) để
làm rõ những nét mới trong diện mạo, khuynh hướng về một giai đoạn phát triển của mảng đề tài quen thuộc này trong những năm đầu thế kỉ XXI
Trang 62.1 Những công trình, bài viết nghiên cứu trên góc nhìn khái quát
về tiểu thuyết chiến tranh cách mạng Việt Nam
Nhắc đến các công trình lớn có đề cập đến tiểu thuyết về đề tàia
tranh cách mạng, chắc hẳn không ai có thể bỏ qua cuốn Tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại của Phan Cự Đệ Đây là công trình nghiên cứu công phu, qua
đó tác giả đã có những nhận định, đánh giá hệ thống về thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng nói riêng Cũng trong tác phẩm này, giáo sư Phan Cự Đệ đã phân tích một số tác phẩm văn học viết về chiến tranh tiêu biểu của văn học Việt Nam trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật
Là một nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết tìm hiểu về đề tài chiến tranh cách mạng, Lại Nguyên Ân có khá nhiều bài viết đáng chú ý trên Tạp
chí văn học như Văn xuôi về chiến tranh và hình thức sử thi [3, 21], Văn học
Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám- một nền sử thi hiện đại” [2], vv… Ở
trong những bài viết này, ông khẳng định “tính sử thi là một đặc điểm của nền văn học Việt Nam mới”, ông xem xét chất sử thi ở cấp độ thể tài, nội dung thể hiện Phong Lê cũng là một nhà nghiên cứu có nhiều bài viết về mảng văn
học này và gần đây trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, ông có bài “Tiểu thuyết
Trang 7viết về chiến tranh nhìn từ hôm nay” [41] Đó là cái nhìn tổng quát về các thế
hệ người viết về đề tài chiến tranh cách mạng của nền văn học nước nhà và những chuyển biến của mảng đề tài này qua nhiều chặng đường lịch sử cho đến hôm nay
Tôn Phương Lan không chỉ là nhà nghiên cứu tiêu biểu về Nguyễn Minh Châu - một tác giả của những sáng tác về người lính mà bà còn có nhiều
bài viết đánh giá về các tác phẩm chiến tranh rất đáng chú ý như Tiểu thuyết
về chiến tranh viết sau 1975 [37], Chiến tranh trong những tác phẩm văn chương được giải [38], Người lính trong văn xuôi của các nhà văn cầm súng
[36], vv… và gần đây nhất là bài viết Một cách nhìn về đổi mới tiểu thuyết
chiến tranh [34] Nhìn chung, tác giả đã theo sát sự phát triển của tiểu thuyết
viết về chiến tranh Việt Nam và có những nhận xét khá thuyết phục về mảng tiểu thuyết này
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng cũng là một người quan sát sự phát triển của thể loại tiểu thuyết trong nền văn học Việt Nam nói chung và mảng tiểu thuyết viết về chiến tranh cách mạng nói riêng Hầu hết các ý kiến đánh
giá của tác giả đã được tập hợp trong cuốn Tiểu thuyết đương đại [55] Đáng chú ý trong đó có các bài: Phản ánh chân thực một hiện tượng cách mạng
(Mấy nhận xét về tiểu thuyết sau 1975 viết về kháng chiến chống Mĩ), Cái bi kịch trong tiểu thuyết Xô Viết và Việt Nam viết về chiến tranh sau chiến tranh
vv… Nhìn chung các bài viết đều có xu hướng khẳng định những đóng góp to
lớn của mảng tiểu thuyết này vào nền văn học cách mạng Việt Nam Bên cạnh
đó còn có không ít ý kiến bàn về các tiểu thuyết viết về chiến tranh của các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Chu Lai, Khuất Quang Thụy vv…
và người nghiên cứu trong cả nước mà chúng tôi không có điều kiện để trình bày hết được
Trang 8Việc nghiên cứu tiểu thuyết về chiến tranh cách mạng không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các giáo sư đầu ngành mà mảng đề tài này cũng được tìm hiểu trong hàng loạt các luận án, khóa luận tốt nghiệp của rất nhiều học viên, sinh viên các trường đại học Đáng chú ý nhất là luận
án tiến sĩ Ngữ văn: Tiểu thuyết sử thi Việt Nam 1945- 1975 [25] của Hoàng Mạnh Hùng, Tiểu thuyết Việt Nam thời kì 1965- 1975 nhìn từ góc độ thể loại [19] của Nguyễn Đức Hạnh và Thi pháp tiểu thuyết sử thi 1945- 1975 [21]
của Phạm Ngọc Hiền Trong luận án của mình, các tác giả đã phác họa cấu trúc thể loại của tiểu thuyết về chiến tranh mang âm hưởng sử thi ở Việt Nam trên phương diện: loại hình nhân vật, kết cấu, hệ thống lời văn và giọng điệu; khẳng định sự xuất hiện tiểu thuyết sử thi giai đoạn 1945-1975 là phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử loại hình tiểu thuyết Việt Nam
Trong quá trình thu thập tài liệu, chúng tôi đã tiếp cận được khá nhiều
luận văn thạc sĩ, trong đó phải kể đến các công trình: Nhìn chung tiểu thuyết
Việt Nam từ 1995 đến nay [66] của Phạm Thị Thu Thủy (Đại học Sư phạm Hà
Nội, 2003), Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết của Chu Lai [20] của Phạm Thúy Hằng (Đại học Sư phạm Hà Nội, 2004), Chiến tranh và người lính
trong tiểu thuyết Việt Nam sau 75 [22] của Nguyễn Thị Kim Hiền (Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2005), Đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Chu
Lai [33] của Nguyễn Thị Mai Lan (Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn,
2006), vv… Đây là những đề tài nghiên cứu về tiểu thuyết chiến tranh cách mạng ở nhiều thời điểm khác nhau Trong luận văn của mình, các tác giả đã đi sâu vào khảo sát một giai đoạn cụ thể của văn học hoặc lấy một tác giả làm đối tượng nghiên cứu Nhìn chung các luận văn đã chỉ ra được những nét khái quát về diện mạo và khuynh hướng của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng Việt Nam, đặc điểm trong các sáng tác của một số tác giả và phân tích
Trang 9được những đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu của các tiểu thuyết về chiến tranh
mà họ đã tiếp cận
2.2 Những ý kiến, bài viết về các tác phẩm trong luận văn
Đầu tiên phải kể đến một chùm bài viết của TS Nguyễn Thanh Tú trên
Tạp chí Văn nghệ Quân đội như Vấn đề nhân vật trong tiểu thuyết sử thi về đề
tài chiến tranh cách mạng [57], Đổi mới cấu trúc nhân vật trong tiểu thuyết
sử thi hôm nay [59], vv…Trong các bài viết của mình, tác giả đã chỉ ra những
nét đổi mới trong quan niệm, cách thể hiện nhân vật của một số cuốn tiểu
thuyết đoạt giải thưởng văn học Bộ Quốc Phòng như Những bức tường lửa,
Thượng Đức, vv
Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy là tác phẩm đoạt giải A
trong đợt trao giải năm 2004 của Bộ Quốc Phòng đồng thời cũng đoạt giải thưởng Hội Nhà văn 2005 Đánh giá về tác phẩm này, Nguyễn Thanh Tú có
bài Những bức tường lửa và sự đổi mới của tiểu thuyết sử thi [58] Tác giả
cho rằng đây là tiểu thuyết mang âm hưởng sử thi và cái làm nên sự hấp dẫn của tác phẩm này chính là sự đổi mới cấu trúc nhân vật
Nguyễn Chí Hoan có bài Luận về người anh hùng, về chiến thắng và về
đồng đội [24] Trong bài viết của mình, tác giả nhận xét tiểu thuyết này đã
đem lại cái nhìn mới mẻ trong văn chương viết về chiến tranh
Trong số những tác phẩm được nhận giải B của đợt trao giải thưởng
văn học Bộ Quốc Phòng 2004- 2009, Thượng Đức của Nguyễn Bảo Trường
Giang đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và độc giả khắp nơi
trong cả nước Đánh giá về tiểu thuyết này, Nguyễn Hữu Quý có bài Dấu ấn
Thượng Đức [48] Trong bài viết này, tác giả cho rằng đây là “một bước tiến
trong sáng tác” của Nguyễn Bảo và cái làm nên thành công của cuốn tiểu thuyết chính là “phần tư liệu được xử lí khéo léo vẫn giữ tính lịch sử mà không nặng nề”, nhà văn cũng không “xem nhẹ phần hư cấu”
Trang 10Nguyễn Chí Trung trong bài Về tiểu thuyết Thượng Đức [68] đã khẳng
định được những mặt mạnh của tiểu thuyết trên phương diện nội dung Tiểu thuyết đã không chỉ cho người đọc thấy được “những con người phía ta và phía địch trong cuộc chiến đấu căng thẳng Thượng Đức” mà còn giúp họ thấy được “một phần nào đó cuộc chiến đấu, phần nào đó nơi hậu phương, mặt này mặt kia thời chiến tranh chống Mĩ ác liệt”
Bùi Bình Thi có bài Đọc Thượng Đức, suy nghĩ về tiểu thuyết sử thi [56] Trong bài viết này, tác giả không chỉ chứng minh Thượng Đức là cuốn
tiểu thuyết mang đậm màu sắc sử thi mà người viết còn chỉ ra những yếu tố làm nên sự thành công cho tác phẩm này là cách miêu tả nhân vật, cấu trúc và lối hành văn trong sáng
Tác giả Văn Chinh có lời khuyên Nên đọc Thượng Đức trong dịp 30.4
[8] Ông cho rằng tuy chương đầu của cuốn tiểu thuyết có phần vụng về bởi mạch văn lê thê nhưng nhìn chung đây là cuốn tiểu thuyết đáng đọc bởi nó chứa đựng những tư tưởng nghệ thuật mới mẻ
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng lại có nhận xét về tiểu thuyết này
trong bài Tiểu thuyết Thượng Đức và kí ức chiến tranh [55] như sau: “khi
viết về một chiến dịch lớn, có ý nghĩa chiến lược, tiểu thuyết Thượng Đức
có cơ sở để tạo nên tính sử thi, tính hoành tráng của tác phẩm” và nhìn toàn thể thì “đây là một cuốn tiểu thuyết về chiến tranh ở dạng phân tích tổng hợp một sự kiện lịch sử lớn trong toàn bộ tiến trình chiến tranh” Ngoài ra một số tờ báo điện tử cũng có bài viết giới thiệu về tác phẩm này của Nguyễn Bảo Trường Giang
Nằm trong diện đồng giải B trong đợt trao giải thưởng văn học của Bộ
Quốc Phòng 2004- 2009 là hai tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng Út của Nguyễn Chí Trung và Mùa hè giá buốt của Văn Lê Tiếng khóc của nàng Út
còn đoạt giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn 2008 Đánh giá về tiểu
Trang 11thuyết đầu tay của Nguyễn Chí Trung, tác giả Nguyễn Bảo có bài Tiếng khóc
của nàng Út- tiếng khóc của một thời [5] Trong bài viết này, Nguyễn Bảo đã
nhận xét giá trị về nội dung của tiểu thuyết đồng thời ông cũng chỉ ra những mặt hạn chế trong việc xây dựng cấu trúc tác phẩm, đặc biệt là việc nhà văn còn chưa xây dựng được những nhân vật đem lại ấn tượng cho người đọc
Trong bài viết khá sâu sắc Nhớ là để cho khỏi quên (Đọc Tiếng khóc
của nàng Út, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 2007) [23], tác giả Nguyễn
Chí Hoan đã có sự phân tích khá tỉ mỉ nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết và nhấn mạnh đến những xúc cảm mà cuốn tiểu thuyết đem lại cho người đọc
Trên các trang báo mạng cũng có không ít các bài giới thiệu và cảm
nhận về tác phẩm này Tiêu biểu trong số đó là bài Nàng Út khóc cho ai? của
Nguyễn Tĩnh Nguyện Tác giả đã nhận xét: “Nhìn về bố cục không gian, thời
gian của tiểu thuyết Tiếng khóc của nàng Út có thể nói là lỏng lẻo, nhưng với
cấu trúc hiện đại, là có thể chấp nhận được Nguyễn Chí Trung tập trung miêu
tả con người, các sự kiện ông nêu cũng chính là để nêu bật tính cách con người Mỗi nhân vật đều mang bề dày lịch sử” [45]
Phạm Đương trong bài Tiếng khóc của nàng Út thì cho rằng: “Nguyễn
Chí Trung đã có độ lùi đến gần 50 năm kể từ cuộc khởi nghĩa Trà Bồng để nhìn nhận cuộc chiến tranh bằng sự trải nghiệm hết sức cẩn trọng và chắt lọc
Vì vậy, ông không quá lên gân để “nói cho khác”, “nói cho lạ” về thời kỳ ấy nhằm kiếm một chút tò mò nào đó của người đọc hôm nay; nhà văn cũng không còn mang cái nhìn “một chiều” như những cuốn sách viết về chiến tranh ngay trong thời chiến mà ta đã từng đọc” [13]
Tác giả Nguyễn Chí Trung trong bài Đôi dòng về Tiếng khóc của nàng
Út lại khẳng định: “Nguyễn Chí Trung là một ngòi bút triết luận Ông có khả
năng tổng hợp và phân tích sâu sắc những tình huống đặc thù của lịch sử
Tiếng khóc của Nàng Út, do đó, là một tiểu thuyết sử thi, một tiểu thuyết triết
Trang 12luận, một tiểu thuyết lịch sử” [69] Nguyên Thanh trong bài viết Rằng hay thì
thật là hay [54] nhận xét về các tác phẩm đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn
Việt Nam 2008 cũng đánh giá cao tiểu thuyết này Tác giả đã chỉ ra cái hay, cái mới của tác phẩm đó chính là cách chọn tình huống, mạch chìm tư tưởng
mà hơn nữa người viết còn có những quan niệm nghệ thuật mới về con người
Mùa hè giá buốt của Văn Lê khi mới ra đời Tạp chí Văn nghệ Quân
đội cũng có bài phỏng vấn tác giả về đề tài chiến tranh và những nội dung được đề cập đến trong tiểu thuyết này
Nguồn tài liệu mà chúng tôi đã tiếp cận được tuy chưa đầy đủ trong số rất nhiều những công trình nghiên cứu, bài viết về tiểu thuyết chiến tranh cách mạng nhưng đó cũng là những tài liệu quý báu, làm cơ sở để chúng tôi triển khai luận văn của mình Điểm qua một số công trình nghiên cứu về tiểu thuyết chiến tranh cách mạng trên cả hai góc độ khái quát và cụ thể, chúng tôi thấy còn thiếu vắng những công trình nghiên cứu có hệ thống về mảng tiểu thuyết này trong mấy năm trở lại đây Đó cũng là lí do, chúng tôi chọn việc tìm hiểu tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng 2004- 2009 với mong muốn đưa đến một cái nhìn khái quát hơn về mảng tiểu thuyết này
3 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Phân tích những nét mới của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng giai đoạn 2004- 2009 trên cơ sở kế thừa những đặc điểm của tiểu thuyết chiến tranh các giai đoạn trước
Làm rõ những nét nổi bật về nghệ thuật của tiểu thuyết giai đoạn này
Từ đó khẳng định sự đóng góp của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng đối với tiểu thuyết Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong một số tác phẩm đoạt giải thưởng văn học của Bộ Quốc Phòng trong năm năm gần đây Trong
đó có những tác phẩm vừa đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn vừa đoạt giải
Trang 13thưởng văn học của Bộ Quốc Phòng Đó là Những bức tường lửa (Khuất Quang Thụy), Thượng Đức (Nguyễn Bảo Trường Giang), Tiếng khóc của
nàng Út (Nguyễn Chí Trung), Mùa hè giá buốt (Văn Lê) Ngoài ra trong luận
văn, chúng tôi cũng tìm hiểu thêm một số tác phẩm khác trước và sau giai đoạn 2004- 2009 để làm rõ những luận điểm trong luận văn của mình
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và vận dụng
lí thuyết của thi pháp học để tìm hiểu các tiểu thuyết tiêu biểu của giai đoạn này
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn được
triển khai thành ba chương:
Chương 1: Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng trong dòng chảy của văn học Việt Nam
Chương 2: Sự tiếp nối và biến đổi trong việc phản ánh cuộc sống và con người của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng Việt Nam 2004- 2009
Chương 3: Những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật trong các tiểu thuyết
về đề tài chiến tranh cách mạng Việt Nam 2004- 2009
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH
CÁCH MẠNG TRONG DÒNG CHẢY CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM
1.1 Các chặng đường phát triển của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng Việt Nam
1.1.1 Giai đoạn trước năm 1975
Nhìn một cách tổng quát, chúng ta có thể thấy sự phát triển của nền văn học cách mạng Việt Nam luôn gắn liền với các bước đi của lịch sử của dân tộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam đồng thời cũng mở ra một thời kì mới cho văn học nước nhà Nói chính xác hơn là từ 1945- 1975, nền văn học của nước nhà
đã tồn tại và phát triển trong điều kiện dân tộc ta phải tiến hành hai cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt Những đặc điểm lịch sử ấy đã chi phối và ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của nền văn học dân tộc
Trong giai đoạn từ 1945- 1975, nội dung bao trùm toàn bộ đời sống của đất nước là hai cuộc chiến đấu cho độc lập tự do, thống nhất đất nước, cho lí tưởng xã hội chủ nghĩa Nền văn học mới của dân tộc cũng không tách rời nhiệm vụ chính trị, theo sát những yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng Làm nên diện mạo văn học dân tộc lúc này là những bộ phận văn học: thơ ca
và tiểu thuyết, truyện, kí trong đó bộ phận tiểu thuyết viết về chiến tranh cách
mạng chiếm vị trí không nhỏ và đã được những thành tựu đáng kể
1.1.1.1 Từ 1955- 1964
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, nền văn học Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ ở phương diện văn xuôi, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết Lúc này, đề tài về cuộc kháng chiến vẫn thu hút sự chú ý của
nhiều nhà văn Các tiểu thuyết Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Sống
Trang 15mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi
Đức Ái, Trước giờ nổ súng của Lê Khâm, Cao điểm của Hữu mai, Đất lửa
của Nguyễn Quang Sáng vv chính là những tác phẩm hướng về cuộc chiến tranh tiêu biểu của giai đoạn này
Những tiểu thuyết trên không chỉ tái hiện hình ảnh cuộc kháng chiến trường kì và anh dũng của nhân dân ở nhiều địa phương trên các mặt trận, trong hoàn cảnh đầy khó khăn mà chúng còn khắc họa những chiến công to lớn và cả sự hy sinh nhiều khi thầm lặng của họ Đặc biệt là nhiều tác phẩm
đã xây dựng được những hình tượng đẹp tiêu biểu cho lòng yêu nước, tinh
thần dũng cảm của con người Việt Nam Anh Hùng Núp trong Đất nước đứng
lên của Nguyên Ngọc và chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện là
những nhân vật như thế
Tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này có những đặc điểm khác với sự phát triển của nó ở những giai đoạn sau Trong một số sáng tác, nhiều tác giả đã chú ý thể hiện nhân vật, vì thế các biến cố và sự kiện có trọng đại đến đâu cũng không che khuất được nhân vật trong tác phẩm Các tiểu thuyết có sự phối hợp thể tài lịch sử dân tộc với thể tài đời tư và thế sự trong
đó thể tài lịch sử có vị trí chủ đạo, chi phối những thể tài khác Nhìn chung nhiều tiểu thuyết giai đoạn này khai thác mảng thể tài lịch sử theo khuynh hướng sử thi
1.1.1.2 Từ 1965- 1975
Bước vào thời kì phát triển mới, tiểu thuyết viết về chiến tranh cách mạng Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển Các tác phẩm tập trung đi sâu vào phản ánh cuộc chiến đấu chống Mĩ của dân tộc Với lực lượng sáng tác đông đảo hơn, trong giai đoạn này nền văn học dân tộc đã có khá nhiều tác phẩm viết về cuộc chiến đấu của nhân dân Nam Bộ thành công Tiêu biểu phải kể
đến những tác phẩm như Hòn đất của Anh Đức, Rừng U Minh của Nguyễn
Trang 16Văn Bổng, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Đất Quảng (phần I) của Nguyễn Trung Thành Ngoài ra còn có thể kể đến Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Chiến sĩ của Nguyễn Khải, Vùng trời của Hữu Mai
Trong giai đoạn này, nhiều sáng tác đã kịp thời phản ánh hiện thực chiến tranh một cách trực diện, thể hiện hình ảnh nhân dân trong quá trình thức tỉnh cách mạng và góp phần cổ vũ cuộc chiến đấu của dân tộc Cảm hứng chủ đạo trong các tiểu thuyết là “cảm hứng anh hùng và phạm trù thẩm
mĩ nổi trội là cái cao cả, cái hùng” [16, 136] Các nhà văn đã mở rộng không gian, thời gian, miêu tả những bức tranh rộng lớn mang tính sử thi về một chiến dịch hay tập trung khái quát quá trình vận động và phát triển của cuộc chiến đấu với sự trưởng thành của người anh hùng, người lính thuộc nhiều thế
hệ và tầng lớp xã hội trong chiến đấu Nhân vật của tiểu thuyết vẫn là những anh hùng tiêu biểu cho khát vọng, phẩm chất sức mạnh của nhân dân, dân tộc,
thời đại Chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, chị Sứ trong
Hòn Đất của Anh Đức, Mẫn trong Mẫn và tôi của Phan Tứ, Lữ trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu vv là những nhân vật anh hùng đi
sâu vào trong trí nhớ của độc giả bao đời nay
Nhìn chung, các tiểu thuyết viết về chiến tranh giai đoạn này vẫn được viết trên theo khuynh hướng sử thi rõ nét Yếu tố sử thi này đã chi phối đề tài, cảm hứng và cách thể hiện của các nhà văn Tuy có những thành công nhất định như vậy nhưng có thể nói các sáng tác viết về chiến tranh trong giai đoạn 1945- 1975 do chịu ảnh hưởng của tư duy sử thi nên nó vẫn có những hạn chế trong việc phản ánh hiện thực, xây dựng nhân vật và nghệ thuật thể hiện
1.1.2 Giai đoạn sau 1975 đến 1990
Sau 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất Sự kiện ấy đã mở ra một thời
kì mới của lịch sử dân tộc, đồng thời cũng đem đến một giai đoạn mới trong lịch sử văn học Việt Nam
Trang 171.1.2.1 Từ 1975- 1985
Trong khoảng mười năm sau khi kết thúc chiến tranh, các nhà văn vẫn
có thiên hướng tập trung khám phá cuộc chiến “theo quán tính cũ” (Nguyên Ngọc) Trong khá nhiều tác phẩm, âm hưởng sử thi vẫn còn in đậm So với các giai đoạn trước, thời kì chuyển tiếp từ văn học sử thi sang văn học thời kì hậu chiến này, tiểu thuyết viết về chiến tranh cách mạng không có nhiều tác phẩm nổi bật Tuy vậy vẫn có một số tác giả tìm tòi, đổi mới trong nội dung
và cách thức thể hiện, đặc biệt là từ những năm 80 trở về sau Ở các sáng tác này, chiến tranh được tiếp cận ở cự li gần, toàn diện hơn, cảm hứng sử thi nhạt dần và thay vào đó là cảm hứng thế sự Hiện thực chiến tranh đã được đào sâu hơn với cái nhìn chân thực Một số tác giả đã mạnh dạn hơn khi chọn những thời điểm khốc liệt, gay cấn của chiến tranh làm bối cảnh khám phá
tính cách con người như Miền cháy của Nguyễn Minh Châu, Trong cơn gió
lốc của Khuất Quang Thụy, Năm 1975 họ đã sống như thế, Chim én bay của
Nguyễn Trí Huân, vv…
Trong giai đoạn này, có một số tác phẩm đã gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc Đây là những cuốn tiểu thuyết cho thấy sự đổi mới của người viết trong việc tiếp cận hiện thực và phản ánh về con người trong chiến tranh Nội tâm, tính cách của người lính bắt đầu được khai thác và cấu trúc thể loại của tiểu thuyết đã có sự biến đổi từ cấu trúc lịch sử - sự kiện sang cấu trúc lịch sử - tâm hồn Kết cấu thời gian- không gian của tiểu thuyết cũng có
sự vận động, đặc biệt bắt đầu có sự xuất hiện của vùng kí ức của nhân vật
1.1.2.2 Từ sau 1986 đến những năm 90
Đại hội Đảng lần VI đã xác định đường lối đổi mới toàn diện, mở ra một thời kì mới cho đất nước vượt qua khủng khoảng để bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc hơn Đường lối của Đảng và tiếp
Trang 18theo là Nghị quyết 05 của Bộ Chính Trị, cuộc gặp gỡ của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ đã tác động không nhỏ vào đời sống văn nghệ của nước nhà, mở ra thời kì mới của văn học Việt Nam trên tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật
Có thể nói trong giai đoạn này, văn học viết về chiến tranh cách mạng của Việt Nam đã thực sự ghi dấu ấn trong lòng độc giả với nhiều tác phẩm có
giá trị Thời xa vắng của Lê Lựu được coi là tác phẩm mở màn cho khuynh
hướng tiếp cận những vấn đề của cuộc sống sau chiến tranh theo khuynh hướng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần
nhân bản Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân,
Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo vv đã cho thấy sự đổi mới từ
phía chủ thể sáng tạo khi khai thác đề tài chiến tranh đồng thời là những tiểu thuyết đánh dấu bước tiến của nền văn học với cách thể hiện mới mẻ, ghi đậm dấu ấn trong lòng bạn đọc
Đặc biệt đến khi Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh ra đời thì tiểu
thuyết này đã thực sự gây được sự chú ý rộng rãi của bạn đọc trong và ngoài nước Có thể nói, trước đó hiếm có tác phẩm viết về chiến tranh nào thu hút được sự quan tâm của dư luận như tác phẩm này Bằng việc bỏ qua lối viết truyền thống, đi sâu vào dòng ý thức, khai thác những màn độc thoại, môtip giấc mơ, Bảo Ninh đã thể hiện sâu sắc nỗi buồn chiến tranh của thế hệ những người lính phải trải qua cuộc chiến Đó “là cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và con đường mới viết về chiến tranh trong thời kì hậu chiến” [51] So với giai đoạn trước, các tiểu thuyết viết về chiến tranh của giai đoạn này yếu tố sử thi đã không còn nổi trội mà thay vào đó là cái nhìn đa dạng
về cuộc chiến từ góc độ thế sự - đời tư, âm hưởng sử thi vẫn còn song đóng vai trò ở thế yếu
Trang 191.1.3 Từ những năm 90 đến nay
Sau cao trào của mình, từ giữa những năm 90 đến nay, tiểu thuyết viết
về chiến tranh cách mạng Việt Nam phát triển có phần chững lại Nhận diện
về sự phát triển của mảng tiểu thuyết này, người ta thấy các sáng tác dường như thưa vắng hơn so với các thời kì trước và có thời điểm nó đã không được quan tâm đúng mức Phải chăng đề tài chiến tranh cách mạng hiện nay đã không còn đất sống? Hay độc giả ngày nay đã xa lạ với những tác phẩm viết
về đề tài này?
Đứng trước thực trạng ấy, các cơ quan chuyên ngành, nhà nghiên cứu
và độc giả cả nước đã có rất nhiều cuộc hội thảo văn học về đề tài chiến tranh cách mạng Không ít người đã tỏ ra thất vọng trước thực trạng của các nhà văn viết về đề tài này Họ cho rằng văn học Việt Nam chưa tạo được những tác phẩm viết về chiến tranh xứng tầm, có sức sống lâu bền trong công chúng Thậm chí còn có ý kiến khẳng định “văn học chiến tranh, cả bạn đọc lẫn nhà văn đều kiệt sức” Tuy vậy hầu hết các ý kiến cho rằng trong giai đoạn hiện nay, “đề tài chiến tranh và người lính tuy không còn là nhất, là chủ đạo, là thống soái của nền văn học Việt Nam nhưng nó có vị trí quan trọng, vẫn là nguồn cảm hứng sâu sắc đối với các văn nghệ sĩ” [73, 156]
Nhiều người đã phân tích nguyên nhân khiến cho văn học viết về chiến tranh cách mạng rơi vào tình trạng trên như: chiến tranh đã lùi xa, có nhiều vấn đề đời sống xã hội mới khiến các nhà văn dồn hứng thú của mình để khai thác, tiểu thuyết ở mảng đề tài này không còn là món ăn tinh thần duy nhất của người đọc trong điều kiện bùng nổ thông tin như hiện nay, sự hao hụt của các cây bút chuyên viết về mảng đề tài này trong khi những người viết trẻ chưa chuẩn bị thay thế vv… Trong đó, chúng tôi đồng ý với nhận xét của tác giả Nguyễn Thiệu Vũ trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội Theo tác giả có ba
Trang 20nguyên nhân khiến cho văn học về đề tài chiến tranh cách mạng không hấp dẫn người đọc như trước:
1 “Sau năm 1975, các nhà tiểu thuyết đã nỗ lực mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực nhưng chưa có đủ sự táo bạo cần thiết cho việc phát huy trí tưởng tượng và giải phóng mãnh lực của hư cấu nghệ thuật
2 Cố gắng tạo dựng những tính cách, số phận độc đáo, đặc biệt nhưng còn tự giam mình trong những quan niệm nghệ thuật và con người chưa thoát khỏi tính giản đơn, nhất phiến
3 Đã ưu tiên cho việc phân tích tâm lí nhưng chưa thực sự dám đối diện với những bí hiểm của tâm hồn con người” [74, 104] Và đó cũng có thể
là lí do khiến cho không ít tác phẩm “đọc lên chỉ thấy việc mà ít thấy người, các cuốn sách ấy gần như chỉ khác nhau về sự kiện, còn khá giống nhau về chủ đề tư tưởng, thậm chí khá giống nhau về rung cảm, hứng khởi” [47, 106]
Tuy vậy, đề tài này vẫn có sức sống riêng và chiếm vị trí quan trọng trong dòng chảy của nền văn học nước nhà Bằng chứng là hàng năm những sáng tác về chiến tranh vẫn tiếp tục được khai thác, thậm chí có nhiều tác phẩm đã đoạt giải cao nhất trong các cuộc thi viết tiểu thuyết của các Hội đồng chuyên ngành và được đông đảo bạn đọc quan tâm theo dõi Hơn thế nữa, con đường đổi mới vẫn được tiếp tục
Cho đến nay Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân đã xuất bản được số lượng lớn các bộ tiểu thuyết về đề tài này Có thể kể đến những tác phẩm như
Không phải huyền thoại của Hữu Mai, Ngày rất dài của Nam Hà, Xuân Lộc
của Hoàng Đình Quang, Khúc bi tráng cuối cùng của Chu Lai, Những cánh
rừng lá đỏ của Hồ Phương, Đường thời đại của Đặng Đình Loan, Sóng chìm
của Nguyễn Đình Chính, Rừng thiêng nước trong của Trần Văn Tuấn, Lạc
rừng của Trung Trung Đỉnh, Xiêng Khoảng mù sương của Bùi Bình Thi, Phòng tuyến sông Bồ của Đỗ Kim Cuông, Những bức tường lửa của Khuất
Trang 21Quang Thụy, Mùa hè giá buốt của Văn Lê, Tiếng khóc của nàng Út của Nguyễn Chí Trung, Thượng Đức của Nguyễn Bảo Trường Giang, Bên dòng
Sầu Diện của Nguyễn Đình Tú vv… Số lượng các tác phẩm viết về chiến
tranh ra đời trong một thập niên gần đây khá lớn Nó như là một minh chứng cho sức sống của một đề tài quen thuộc của văn học Việt Nam
Khảo sát những chặng đường phát triển của tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng trước và sau 1975 đến nay, chúng ta có thể khẳng định mảng tiểu thuyết về đề tài này có sự tiếp nối liên tục về đề tài và cảm hứng Đi cùng với những biến động lịch sử của dân tộc , tiểu thuyết chiến tranh cũng có những bước đi thăng trầm trong quá trình phát triể n của mình Nó là “một dòng chảy bền bỉ, thủy chung, có lúc ẩn đi, có lúc trồi lên, có lúc gặp thác ghềnh thì tung bọt nhưng rồi nó vẫn tiếp tục lao về phía trước như một cảm hứng vĩnh cửu của dân tộc” [27] Tất nhiên mảng đề tài này có những hằng
số và biến đổi nhất định theo thời gian Ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc vài chục năm nay thì những vấn đề lớn có liên quan đến cuộc chiến vẫn còn được nhìn nhận lại Đề tài chiến tranh cách mạng vẫn là “một vỉa quặng càng đào bới càng màu tốt không bao giờ sợ cạn kiệt” [65]
1.2 Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng và sự đổi mới của người sáng tác
Sáng tác văn học là một công việc không những đòi hỏi tâm huyết của mỗi nhà văn mà nó còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố: tâm lí sáng tạo,
sự tiếp nhận của bạn đọc, sự giao lưu văn hóa vv Nói cách khác mỗi tác phẩm của nhà văn khi ra đời đều ít nhiều đều gắn liền với tinh thần thời đại Nếu như trước 1975, nền văn học Việt Nam có nhiệm vụ động viên, cổ vũ cách mạng, thắp sáng ngọn lửa yêu nước cho con người thì sau khi đất nước thống nhất, nhiệm vụ ấy không còn là vấn đề cốt yếu nữa Bối cảnh cuộc sống
Trang 22hậu chiến và những nét mới của nền văn hóa chính là một yếu tố dẫn đến nhu cầu đổi mới tư duy văn học như là một điều tất yếu
Từ sau năm 1986, nền văn học của nước nhà đã có sự chuyển mình để hướng tới một diện mạo khác sau nhiều năm chiến tranh Sự đổi mới này được đánh dấu bằng hàng loạt những bài viết của Nguyễn Minh Châu Trong các bài viết của mình, nhà văn đã thẳng thắn nhìn lại những bất cập của nền văn học trong giai đoạn chiến tranh và bày tỏ mong muốn “hãy đọc lời ai điếu cho một nền văn học minh họa” ấy Lời kêu gọi của Nguyễn Minh Châu đã tạo được hiệu ứng tích cực trong nhận thức của nhiều nhà văn Dưới tác động của thời cuộc và sự nhạy cảm vốn có của người nghệ sĩ, nhiều người viết đã kịp thời chuyển hướng và thay đổi tư duy sáng tác của mình
Họ đã có sự đổi mới trong quan niệm, tư tưởng, cách viết Ở lĩnh vực tiểu thuyết, nhiều tác giả đã có sự thể nghiệm, sáng tạo trong cách tiếp cận hiện thực, thể hiện chủ đề, đề tài
Dĩ nhiên khi nhắc đến sự đổi mới của nền văn học nước nhà, chúng ta không thể bỏ qua giai đoạn nửa cuối thập kỉ 70- những năm liền ngay sau khi thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ Đây là giai đoạn có sự chuẩn bị âm thầm, tạo đà cho sự đổi mới tích cực về sau Ở thời điểm này, một số người viết đã bắt đầu có ý thức đổi mới trong sáng tác của mình Các nhà văn viết về chiến tranh đã tiếp cận hiện thực ở cự li gần hơn, bước đầu thấy cả những mặt trái của cuộc chiến trong những tác phẩm mà cảm hứng sử thi vẫn nổi trội của
mình Nhưng có lẽ phải đến khi bộ tiểu thuyết Đất trắng (1979) của Nguyễn
Trọng Oánh ra đời, tác phẩm này mới thực sự gây được sự chú ý của dư luận bởi những nét đổi mới của chính tác giả khi viết về chiến tranh Tuy vậy sự đổi mới trong các sáng tác này dường như “chỉ nặng nề về phương diện cái được phản ánh” [36]
Trang 23Sự đổi mới vẫn được tiếp tục trong những năm sau đó và mọi cố gắng của các nhà văn đã tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ về “chất” cho tiểu thuyết Việt Nam nói chung và tiểu thuyết viết về chiến tranh nói riêng Nói cách khác ý thức đổi mới tư duy nghệ thuật của các nhà văn đã đem lại những kết quả khả quan cho nền văn học Những tác phẩm mang khuynh hướng sử thi từ cảm hứng, đề tài, chủ đề, thế giới nhân vật đến kết cấu, giọng điệu, tô đậm sức mạnh của tinh thần yêu nước và ý thức cộng đồng dần dần vắng bóng và thay vào đó là những tiểu thuyết đi sâu vào khám phá tâm lí của con người, ý thức cá nhân với mọi nhu cầu của con người cá thể đã được thức tỉnh trở lại
Trên hành trình sáng tạo của mình, nhiều nhà văn đã có công “đẩy những khuynh hướng nghệ thuật của những nhà văn đi trước đến một chiều kích mới” [51] Đơn cử như Bảo Ninh, anh đã “quyết liệt từ bỏ hình thức
tiểu thuyết hiện thực truyền thống (theo kiểu tiểu thuyết – ký sự như Đất
trắng) để theo đuổi tiểu thuyết tâm lý Anh đưa vào những chiều kích hiện
thực chưa từng có trong tiểu thuyết của những nhà văn thế hệ trước: yếu tố tình dục, những “hình ảnh đen” về chiến tranh,… Nhưng đồng thời, anh cũng sáng tạo nên một sắc thái anh hùng mới của văn học viết về chiến tranh” [51] Xu hướng tìm tòi, đổi mới đã đem đến sự “lột xác” cho nền văn học vào những năm 90
Những năm đầu của thế kỉ XXI, vấn đề đặt ra với các nhà văn bây giờ không phải là đổi mới nữa mà là đổi mới như thế nào Làm sao để có một tác phẩm viết về chiến tranh thu hút được người đọc khi chiến tranh đã đi qua hơn một phần tư thế kỉ, khi mà hàng ngày, hàng giờ con người có biết bao sự việc phải quan tâm? Bàn về về hướng đi của mảng tiểu thuyết này, nhà nghiên cứu Tôn Phương Lan đã bày tỏ quan điểm: “Tiếp tục truyền thống văn xuôi những năm 90, một vấn đề đặt ra trong các tiểu thuyết viết về chiến
Trang 24tranh những năm gần đây là làm thế nào để không đơn giản chỉ là tạo dựng lại những mô hình cấu trúc mang tính mô phỏng hiện thực, và thế giới nghệ thuật của nhà văn phải thể hiện được sự độc đáo của cá nhân mình” [34] Giáo sư Phong Lê lại cho rằng các nhà văn cần quan tâm đến đối tượng độc giả của mình: “Viết về chiến tranh trong bối cảnh và yêu cầu của thời bình Viết về chiến tranh cho một đối tượng đọc mới, với số đông, và ngày càng đông hơn
là những thế hệ sinh ra trong hòa bình Chính các thế hệ bạn đọc này sẽ quyết định gương mặt mới của văn học Vấn đề không phải chỉ là trang trải, là dốc hết bản thân cho một món nợ phải trả; mà còn là, hoặc chủ yếu là tìm đến, là đón đợi một giao thoa và đồng cảm với các thế hệ bạn đọc mới; là đọc được ở
họ những gì họ đang mong đợi” [41, 125]
Nhìn vào đội ngũ các nhà văn viết về chiến tranh hiện nay, chúng tôi thấy lực lượng các nhà văn quân đội đóng vai trò chủ đạo Các nhà văn mặc
áo lính vẫn có tác phẩm viết về chiến tranh mang lại nhiều cảm xúc cho người đọc Những cái tên như Nam Hà, Hồ Phương, Lê Lựu, Chu Lai, Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy, Văn Lê, vvv vẫn sẽ là những tác giả của chủ yếu khai thác đề tài chiến tranh trong nhiều năm tới Tất nhiên lực lượng các nhà văn một thời trải qua chiến trường ngày càng mỏng đi do tuổi tác và nhiều yếu tố khách quan chi phối Trong khi đó, thế hệ các nhà văn kế cận vẫn là một bài toán khó Các nhà văn trẻ hiện nay dường như không mặn mà lắm với văn học chiến tranh tuy vậy không có nghĩa là họ hoàn toàn quay lưng lại với mảng đề tài “truyền thống” này Mỗi lớp nhà văn có ưu thế riêng song hẳn các nhà văn trẻ hôm nay chắc phải có cái nhìn khác về cuộc chiến bởi họ được sinh ra trong hòa bình Tất cả những điều đó tạo nên sự đa dạng trong cách nhìn và thể hiện chiến tranh của các nhà văn hôm nay
Dù nói gì đi chăng nữa, chúng ta có thể thấy các nhà văn hôm nay vẫn đang tiếp tục đổi mới trên hành trình sáng tác của mình Được sống
Trang 25và viết trong điều kiện thuận lợi, họ có thể thỏa sức sáng tạo theo cách riêng của mình Tiếp tục xu hướng dân chủ hóa của văn học giai đoạn trước, hơn lúc nào hết, họ ý thức được rằng sáng tác văn học về chiến tranh “phải đáp ứng nhu cầu tinh thần mới – bằng các hình tượng nghệ thuật giúp các thế hệ sau tìm thấy cái chìa khóa để mở cánh cửa vào quá khứ, để nhận thức sâu sắc hơn những vấn đề trong hòa bình, trong đời thường dễ bị lu mờ, lãng quên” [55, 18]
Từ sự đổi mới của người viết, tiểu thuyết viết về chiến tranh đã có bước phát triển mới, nhất là trong hơn một thập niên trở lại đây Đặc biệt
kể từ khi Bộ Quốc Phòng phát động cuộc thi viết sử thi về đề tài chiến tranh cách mạng thì mảng tiểu thuyết này đã thực sự khởi sắc và có những nét biến chuyển riêng của mình Các tác giả đã tạo nên những tác phẩm vừa có sự tiếp nối của giai đoạn trước vừa có dấu ấn của thời “hậu chiến” Trong đó quan niệm về hiện thực và con người đang dần đổi mới Khoảng cách sử thi đã được thu hẹp Không nằm ngoài quỹ đạo vận động của nền tiểu thuyết nước nhà, mảng tiểu thuyết này vẫn là “dòng riêng giữa nguồn chung” trong dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại Nó không hề đứng yên mà đồng hành cùng với sự phát triển của nền văn học dân tộc
Trang 26CHƯƠNG 2: SỰ TIẾP NỐI VÀ BIẾN ĐỔI TRONG VIỆC
PHẢN ÁNH CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI CỦA TIỂU THUYẾT
CHIẾN TRANH CÁCH MẠNG VIỆT NAM 2004- 2009
Khảo sát một số tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng trong giai đoạn 2004- 2009, chúng tôi nhận thấy, tiểu thuyết dù không mới về đề tài nhưng nó vẫn nằm trong xu thế đổi mới chung của nền văn học nước nhà Chỉ
có điều ở đây chúng tôi không có ý định đem sự đối lập những đặc điểm của tiểu thuyết trong giai đoạn 1945- 1975 và sau 1975 cho đến nay Chúng tôi khẳng định sự đổi mới của tiểu thuyết viết về chiến tranh ở giai đoạn 2004-
2009 vẫn mang tính kế thừa đặc điểm của văn học các giai đoạn trước
2.1 Tiếp cận chiến tranh bằng cái nhìn đa chiều
Vẫn là viết về chiến tranh nhưng với điểm nhìn từ cuộc sống hôm nay, các tác giả đã có thời gian chiêm nghiệm về cuộc chiến với cái nhìn bao quát, điềm tĩnh hơn Không đơn thuần là những tác phẩm phản ánh sự xung đột giữa hai phía ta và địch, cũng không chỉ dừng lại ở việc thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc, trong các tác phẩm viết về chiến tranh giai đoạn 2004- 2009, gương mặt chiến tranh được khám phá trên nhiều bình diện, góc độ khác nhau Nhiều tác phẩm đã tiếp tục soi chiếu vào các mảng chìm của cuộc sống mà trước đây do yêu cầu của lịch sử người viết chưa có điều kiện đề cập tới
2.1.1.Hiện thực chiến trường
Văn học viết về chiến tranh cách mạng trong những năm đầu thế kỉ XXI và cụ thể là giai đoạn 2004- 2009 vẫn có sự tiếp nối văn học giai đoạn trước trên phương diện đổi mới quan niệm về hiện thực Giai đoạn 1945-
1975 do sự quy định của hoàn cảnh lịch sử, văn học dồn trọng tâm cho nhiệm
vụ tuyên truyền lí tưởng, cổ vũ chiến đấu “Hiện thực được chọn lọc là hiện thực lớn lao trong xu thế phát triển lạc quan- một hiện thực tuyệt đối hợp lí
Trang 27Sự khen chê một tác phẩm thường xuất phát từ nguyên tắc đối chiếu nội dung đời sống được phản ánh vào tác phẩm với cái hiện thực được nhận thức, được quan niệm theo mô hình định trước” [16, 196] “Những tác phẩm hư cấu sử dụng kỹ thuật tự sự theo truyền thống hiện thực chủ nghĩa” ấy “hầu hết đã chỉ diễn tả những cuộc chiến như những bức tranh rõ ràng, vừa khít với cái khung lịch sử và ý thức mà tác giả chọn và tin Trong những bức tranh đó, hầu như lúc nào các ý niệm "ta" và "địch", "chính" và "tà", "chân" và "ngụy", "đúng"
và "sai", "tốt" và "xấu" cũng được xác định ngay từ đầu, và tác giả vừa kể chuyện, vừa lồng vào câu chuyện của mình những luận đề chính trị và đạo đức, rồi lần lượt giải quyết những luận đề ấy theo một công thức nhất định nào đó” [61]
Trong giai đoạn hiện nay, các nhà văn đã thay đổi quan niệm và cách tiếp cận hiện thực “Từ hiện thực của các sự kiện, biến cố lịch sử đến hiện thực về con người, từ cái nhìn một chiều lên cái nhìn đa chiều, biên độ hiện thực được mở rộng” [16, 196] Hiện thực ấy có thể là số phận cộng đồng, dân tộc, là những biến cố xã hội lớn lao mà cũng có thể là số phận và những vấn
đề cá nhân của con người Điều đó đã đem đến cho tiểu thuyết chiến tranh một diện mạo mới Các tác phẩm có sự giản lược độ đậm đặc của các sự kiện lịch sử và thay vào đó là xu hướng lấy số phận con người để dựng lại các sự kiện lịch sử
Một trong những vấn đề cơ bản được nhiều người quan tâm ở những tác phẩm viết về chiến tranh đó là vấn đề sự thật chiến tranh Ai cũng biết bản chất của nghệ thuật là sự sáng tạo, hư cấu nhưng không vì thế mà người viết
bỏ qua những mảng hiện thực của cuộc sống Đề cao sự thật là nguyên tắc cơ bản của rất nhiều nhà văn trên thế giới khi viết về chiến tranh như Lep Tônxtôi, Enest Hemingway, vv… Dưới góc độ của một nhà nghiên cứu, Batsarốp cũng khẳng định: “mô tả chiến tranh mà chỉ giữ lại cái oai hùng, vứt
Trang 28bỏ tất cả những cái khác có nghĩa là bỏ rơi mất nhiều bài học của chiến tranh, một hiện tượng cực kì phức tạp Không mô tả những chi tiết nặng nề bi thảm của chiến tranh là xuyên tạc bộ mặt thật chiến tranh trong ý thức loài người” [Dẫn theo 52, 96]
Ở một số thời điểm, các nhà văn Việt Nam được định hướng hoặc tự nhận thức không mô tả cuộc chiến đúng như nó diễn ra Cho đến thời kì đổi mới, nền văn nghệ đã thực sự được “cởi trói”, người cầm bút đã có thể sáng tạo, khám phá nhiều tầng bậc của cuộc sống Đã qua rồi cái thời người viết còn e dè khi đặt bút viết về những tổn thất, mặt trái của cuộc chiến Ngày nay, khi đọc nhiều tác phẩm viết về chiến tranh, độc giả thấy các nhà văn nhìn về cuộc chiến chân thực hơn Tôn trọng sự thật khi viết về chiến tranh đó chính
là cách xây dựng những tác phẩm có giá trị, được đông đảo bạn đọc chấp nhận Hiện tượng cuốn nhật kí chiến trường của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc là minh chứng rõ ràng nhất cho những điều vừa trình bày Sức hấp dẫn của những tác phẩm này được tạo ra không phải là do chúng
có nghệ thuật cao siêu mà nó hấp dẫn bạn đọc bởi miêu tả đúng tâm trạng, thân phận của con người trong chiến tranh
Viết về chiến tranh “thực chất là đưa ra cách lí giải bằng nghệ thuật mối quan hệ giữa con người và chiến tranh” [39, 37] Từ việc lí giải mối quan
hệ ấy, người đọc sẽ phần nào thấy được quan điểm thái độ của nhà văn về hiện thực Hơn nữa nó còn là yếu tố cốt lõi, ảnh hưởng tới phong cách của họ
Là một nhà văn khá trung thành với mảng tiểu thuyết về chiến tranh cách mạng, Khuất Quang Thụy luôn ý thức phải làm mới mình trong việc thể hiện
đề tài này Trả lời phóng viên nhân dịp cuốn tiểu thuyết của mình đoạt giải
thưởng văn học của Bộ Quốc Phòng 1999- 2004, ông cho rằng: “Những bức
tường lửa là sự khởi động lại chính tôi, đồng thời cố gắng đẩy mạch tư duy
sáng tác về chiến tranh của tôi sang một giai đoạn mới” [64] Nguyễn Bảo
Trang 29Trường Giang cũng luôn trăn trở với ý nghĩ: “Phải viết thật về Thượng Đức, những sự thật vinh quang và cay đắng, những sự thật được và mất, cả những sai lầm và tổn thất để có được chiến thắng cuối cùng” [18] Văn Lê cũng đã chia sẻ quan điểm của mình: “Viết về chiến tranh chứ không chỉ là chiến
thắng” [26] Nguyễn Chí Trung không những là nhà văn luôn tìm kiếm cho
mình vốn sống thực tế mà ông còn có cả quá trình thâm nhập, trải nghiệm với vùng đất mà mình viết Khi tâm sự về cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình, ông cũng khẳng định: “Nếm trải thế nào, tôi kể lại thế ấy Hiểu biết chừng nào, tôi viết chừng ấy” [69]
Tuy nhiên miêu tả hiện thực không có nghĩa là có sao thì nói vậy mà
các nhà văn phải có sự chắt lọc để tạo những trang viết sinh động Bởi “giữa
hiện thực và phản ánh bao giờ cũng có một khoảng cách gọi là năng lực sáng tạo hay phạm trù thẩm mĩ Nhưng chủ tâm dựa vào cái khoảng cách tất yếu đó
để miêu tả méo đi, miêu tả theo ý muốn chủ quan mà bỏ đi tính tất yếu khách quan, dù méo đi theo hướng nào, kích lên hay hạ xuống cũng đều không chân thực, không là hạt nhân của thẩm mĩ văn chương” [31, 90] Tất cả các quan niệm trên đã phần nào chi phối cách thức thể hiện trong tiểu thuyết của các nhà văn hôm nay
Từ sự đổi mới quan niệm về hiện thực như trên, các nhà văn viết về chiến tranh giai đoạn 2004- 2009 đã mở rộng phạm vi phản ánh, hướng ngòi bút của mình vào thời điểm gay cấn của cuộc chiến nhiều hơn, nhìn thẳng vào những mất mát do chiến tranh gây ra, không né tránh cảnh chết chóc tàn bạo, cũng như những trận đánh ở thế không cân bằng lực lượng Đặc biệt là các tác giả còn đi sâu vào những góc khuất của chiến trường mà trước đây nhiều người viết thường bỏ qua hoặc ít có điều kiện để nói đến Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn hiện nay
Trang 30Nhắc tới hai từ chiến tranh là nhắc tới bao hậu quả đi kèm theo nó Và cũng không thể không nói tới hiện thực chiến trường dù nó diễn ra ở bất cứ nơi đâu, trong khoảng thời gian nào Cảm nhận ban đầu của chúng tôi là các tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng giai đoạn 2004- 2009 đã miêu tả sự thật một cách trần trụi, không hề tô hồng, thi vị hóa Đời sống chiến tranh được tái hiện qua hình ảnh trực diện của các cuộc chiến đấu - một hiện thực nóng bỏng trên cả bề rộng và bề sâu, ở nhiều tình thế phức tạp Đó là những trận giao tranh quyết liệt, một mất một còn nơi tiền tuyến, có chiến thắng nhưng đi liền với nó là những tổn thất nặng nề trên mọi phương diện
Là một nhà văn đã từng có nhiều tác phẩm viết về chiến tranh khá
thành công, sau Không phải trò đùa, Góc tăm tối cuối cùng, vv… Khuất Quang Thụy tiếp tục cho ra đời tiểu thuyết Những bức tường lửa (Và gần đây nhất là tiểu thuyết Đối chiến) Có thể nói Những bức tường lửa đã đánh dấu
sự đổi mới trong việc thể hiện đề tài chiến tranh của tác giả trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Tác phẩm cũng được đánh giá là cuốn tiểu thuyết mang âm hưởng sử thi về cuộc chiến tranh chống Mĩ của dân tộc
Không giống như nhiều tiểu thuyết viết về chiến tranh khác khi các
nhà văn thường mở đầu bằng những chương đoạn tái hiện ngay cái khốc liệt
của cuộc chiến Những bức tường lửa được mở ra bằng hình ảnh của của đất
nước những năm đầu của thiên niên kỉ mới với sự “trái tính trái nết” của trời đất và lời khẳng định “chiến tranh thì vẫn hiện diện như thể nó chưa bao giờ chấm dứt” [63, 7] Cũng từ đây, người đọc sẽ thấy được bộ mặt của chiến tranh với đầy đủ những sắc thái của nó Cuốn tiểu thuyết đã tái hiện quá trình vận động và tiến công nhằm phá tan “hàng rào điện tử Mắc Namara” của sư đoàn Hồng Bàng trên mặt trận Đường 9- Khe Sanh Đây là nhiệm vụ vô cùng khó khăn bởi hệ thống phòng tuyến kiểm soát từ xa của địch được trang bị những phương tiện kĩ thuật hiện đại bậc nhất cộng với hỏa lực tối đa để ngăn
Trang 31chặn sự xâm nhập của Bắc Việt chi viện cho miền Nam Bằng cái nhìn vừa bao quát vừa cận cảnh, tác giả đã tái hiện về cuộc chiến qua tương quan vũ khí giữa ta và địch, qua thế trận giằng co bom đạn dữ dội bất kể ngày đêm của quân ta với kẻ thù Đó là cuộc chiến cam go, phức tạp với những khốn khó tột cùng của người lính Hồng Bàng
Được khắc họa sâu đậm nhất trong tác phẩm chính là hình ảnh “đại đội Hùng Phong” trong các trận đối đầu trực tiếp với quân Mĩ Đơn vị có những trận đánh được chuẩn bị kĩ lưỡng nhưng cũng có những trận lại diễn ra hoàn toàn bất ngờ Trong khi kẻ thù “trút bom đạn không cần tính toán” thì các chiến sĩ của ta phải chia nhau từng quả lựu đạn, thậm chí họ còn xông lên cướp vũ khí của chúng để chiến đấu Những người lính nhỏ bé song họ vô cùng dũng cảm, mưu trí, vận dụng linh hoạt nghệ thuật quân sự của cha ông
Dù máy bay đang lượn ngay trên đầu, bom bạn rơi tới tấp cũng không ngăn cản được tinh thần chiến đấu của họ Ở trận đánh nào cũng có khung cảnh chiến đấu náo loạn âm thanh và đầy rẫy sự chết chóc Những người đứng trên cương vị chỉ huy liên tục ngã xuống và thay vào đó là các chiến sĩ trưởng thành trong chiến đấu Để đi đến chiến thắng trong mỗi trận giao chiến, không
ít chiến sĩ phải hy sinh thân mình Có bao nhiêu tình huống khiến cho người lính phải bỏ mình nơi chiến địa thì có bấy nhiêu kiểu hy sinh của họ: đi trinh sát thực địa vướng mìn, sập hầm, bị mảnh bom găm vào cơ thể, dính đạn của
kẻ thù, chết cháy… “Chiến tranh đã thò ra những nanh vuốt đích thực của nó” [63, 282] Quả thực, nhiều trang viết của nhà văn đã để lại trong lòng bạn đọc
sự ám ảnh về sức hủy diệt khủng khiếp của chiến tranh Tang thương, đổ nát, hoang tàn là những gì còn lại sau mỗi cuộc chiến Sự mất mát ấy đến với cả hai phía, đó là sự thực mà nhà văn không hề né tránh
Sống và chiến đấu trong môi trường khắc nghiệt như thế, người lính của sư đoàn Hồng Bàng luôn phải gồng mình lên để vượt qua sự thiếu thốn
Trang 32trăm bề và cả những phút dao động trong tâm hồn Bước vào những trận đấu nảy lửa, không ít người đã run sợ trước cái chết, thậm chí có người như hóa điên khi chứng kiến bạn thân của mình ra đi trong đau đớn Nhưng thực tế chiến trường đã dạy cho họ một bài học: phải quen dần với sự mất mát đó Phải là người từng trải qua cuộc chiến, thấu hiểu người lính, nhà văn mới có thể diễn tả được những tâm trạng, tình cảm chân thật của người lính như vậy
Chiến tranh tự nó đã mang trong mình nhiều sắc màu nghịch lí “có cả mất mát tột cùng và cả hào hùng tột độ, có cả trần trụi và có cả những khoảnh khắc lãng mạn, châng lâng” [30, 102] Ở mặt trận đường 9- Khe Sanh, cái vẻ khốc liệt của chiến sự dường như vơi đi phần nào khi ta chứng kiến những phút giây bình yên, lãng mạn của người lính nơi đây Những câu đùa tếu táo, bữa ăn được cải thiện từ đồ khô hay cái tết Mậu Thân trước ngày là hình ảnh sinh động nhất cho thấy tình đoàn kết, sự chia sẻ ngọt bùi của họ trong lúc tiếng súng ngừng nổ “Chính sự lãng mạn trong sâu thẳm tâm hồn người lính
đã giúp họ bay lên, chế ngự và chiến thắng tuyệt đối sức mạnh của kẻ thù” [32, 173] Cuốn tiểu thuyết không chỉ hấp dẫn người đọc bằng các trận đánh căng thẳng địch ta mà hơn hết nó còn lôi cuốn người đọc bằng một số tình huống rất đời thường Anh chàng Hướng cắt tóc và bỏ quên cái mũ sắt Triều Tiên của mình hay chuyến đi trinh sát thực địa mà nhân vật Côn phải ngủ trong một chiếc hầm cùng với những người nữ du kích địa phương Và sau đó
là những xúc cảm giới tính không biết là mơ hay thực của người lính trinh sát này Ấn tượng nhất là cảnh lính Hồng Bàng giải khát bằng nguồn nước từ chỗ cái giếng cạn còn lại duy nhất trong ngôi làng hoang Họ háo hức uống mà không biết dưới đáy giếng kia là những xác người trơ xương từ bao giờ Đây
là chi tiết rất thực, nó cho thấy sự thiếu thốn vất vả trong sinh hoạt của người lính đồng thời cũng là một chi tiết tố cáo sức hủy diệt của chiến tranh
Trang 33Không chỉ dừng lại ở đó, Khuất Quang Thụy còn đi sâu vào những góc khuất nơi chiến trường Ở vùng đất khói lửa này, khi mà cái chết có thể xảy ra bất cứ lúc nào vẫn còn có những kẻ ham sống sợ chết, mưu cầu lợi ích cá nhân Tiểu đội trưởng Nguyễn Xuân Khoái là người tài ba, lanh lợi, có công đưa tiểu đội mình ở vị trí tốp đầu trong huấn luyện nhưng anh ta cũng là người có những việc làm đáng lên án Trong khi anh em chiến sĩ phải nằm hầm ngủ chật chội, nóng bức thì Khoái lại tạo cho mình một “không gian riêng” Không gian ấy là nơi anh ta trao đổi mua bán những thứ hàng hiếm Hơn nữa anh ta còn “can tội hối lộ bác sĩ giám định, làm giả hồ sơ bệnh tật để trốn tránh nhiệm vụ đi chiến đấu giải phóng miền Nam” [63, 168] Tiểu đoàn trưởng Hoàng Mạnh và tiểu đoàn phó Phạm Quang Vinh chỉ vì cay cú cá nhân đã thi bắn súng để so tài Đó là những sai lầm không đáng có của những người chỉ huy
Nếu như Những bức tường lửa của Khuất Quang Thụy đưa người đọc
đến không khí của những trận đánh trực diện trong kháng chiến chống Mĩ thì
Thượng Đức của Nguyễn Bảo Trường Giang lại đưa người đọc đến một mặt
trận khác mà không kém phần gay go quyết liệt: trận chiến với kẻ thù Mĩ Ngụy Bám sát những sự kiện và nhân vật lịch sử, Nguyễn Bảo Trường Giang miêu tả trận đánh vào Thượng Đức của sư đoàn 304 Đây là trận đánh có ý nghĩa chiến lược quan trọng vào thời điểm trước khi ta mở chiến dịch tổng tiến công nổi dậy năm 1975 Với cái nhìn cận cảnh, tác giả đã miêu tả trận đánh với tương quan lực lượng và từng động thái của quân ta và địch Không phải di chuyển địa hình liên tục, chiến đấu với nhiều đối tượng như người lính Hồng Bàng, mục tiêu duy nhất của sư đoàn 304 là Thượng Đức – “một cụm
cứ điểm kiên cố vững chắc án ngữ nằm vòng ngoài ở phía tây nam căn cứ liên hiệp hải lục không quân khổng lồ Đà Nẵng của đế quốc Mĩ- Ngụy Sài Gòn” [14, 5] Đây là căn cứ quân sự đóng trên địa bàn hiểm trở được địch tăng
Trang 34cường vũ khí và bảo vệ nghiêm ngặt khiến cho quân ta ba lần đánh vào cứ điểm này thì có tới hai lần thất bại nặng nề
Trong Thượng Đức, hiện thực chiến trường chỉ thực sự được hiện lên ở
những chương cuối của tiểu thuyết Xung đột giữa ta và địch được nhà văn miêu tả từ điểm nhìn ở cự li gần và khá chi tiết với các bước căn bản: từ trinh sát địa hình bên ngoài, làm đường đi cho xe pháo trong bí mật, quyết định hướng tiến công chủ yếu và thực hiện tiến đánh Bước vào cuộc chiến đấu, không khí chiến trận lúc nào cũng căng như dây đàn, dồn dập khẩn trương với tiếng pháo, cối, nổ long trời lở đất, tiếng máy bay gầm rít, quần đảo trên bầu trời Cảnh chiến đấu thật là xô bồ, phức tạp
Cái mới của nhà văn là ở chỗ ông đã không ngần ngại nói lên những sự thật của cuộc chiến Thượng Đức gặp khó khăn không chỉ vì quân ta ở thế yếu trong tương quan lực lượng, vũ khí mà trong trận chiến này ta bị thiệt hại quá nặng nề một phần cũng là do các cán bộ chỉ huy chủ quan, nôn nóng, coi thường địch Không nắm được địa bàn, chuẩn bị chưa chu đáo ngay từ người chỉ huy, vì thế khi bước vào chiến đấu bộ đội mặc dù có tâm thế sẵn sàng cũng không khỏi rơi vào tình trạng “rối như canh hẹ”, đội hình hỗn loạn, chiến sĩ không thực hiện đúng mệnh lệnh, vũ khí không phát huy được tác dụng của nó Không hiếm gì những trang viết nhà văn đã nêu lên những nguyên nhân khiến Thượng Đức tổn thất nặng nề trên mọi phương diện:
“người chỉ huy pháo binh nhưng không nắm được cửa mở đâu Hỏa điểm của địch chỗ cần diệt nhất không diệt, chỗ không cần diệt thì đổ vào biết bao nhiêu đạn Chỉ huy pháo binh nhưng không biết giờ giấc vận động của bộ binh để tập trung chế áp pháo cối của địch” [14, 330] Có những lúc chiến dịch rơi vào bế tắc bởi sự phối hợp giữa chính quy và du kích chưa nhuần nhụy, bộc phá nổ liên tục bị ngấm nước hoặc bị thất lạc chi tiết Bộ đội bị dồn lại cả đống ngoài hàng rào để hứng chịu đạn pháo địch, khắp nơi là cảnh
Trang 35thương vong, kêu rên thảm thiết Chính điều đó đã làm giảm sút tinh thần của chiến sĩ, gây hoang mang cho cán bộ chỉ huy đến nỗi trong cuộc họp rút kinh nghiệm, nhiều người quay sang trì chiết lẫn nhau Chiến tranh là như thế đó, mọi điều có thể xảy ra Không gì có thể khái quát hơn lời của người kể chuyện trong tác phẩm về hậu quả nặng nề trong cuộc chiến này: “Chiến tranh
là cái máy nghiền người thật khổng lồ” [14, 232]
Ở độ tuổi 80, Nguyễn Chí Trung mới cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu
tay: Tiếng khóc của nàng Út Với cuốn tiểu thuyết có phần “muộn màng” của
mình, tác giả đã tìm được sự đồng cảm của nhiều người đọc Không theo những lối mòn của các nhà văn đi trước, ông đã tìm đến mảnh đất hiện thực
mà “chưa ai từng canh tác” Nguyễn Chí Trung đã hướng ngòi bút về vùng đất Quảng trong khoảng thời gian từ 1955-1959 Ông đã làm sống lại không khí cách mạng u ám của vùng đất Quân khu 5 trong hoàn cảnh kẻ thù ngang nhiên phá hoại hiệp định Giơnevơ Nhiều vùng tự do ở đây nay đã bị chuyển sang “chính quyền quốc gia” do Pháp rồi Mĩ hậu thuẫn Chúng đã thực hiện cuộc đàn áp tàn khốc với những người tham gia cách mạng, khủng bố dân lành bằng chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” cho đến đỉnh điểm của nó là “luật 10/59” Trong khi kẻ thù tráo trở, lật mặt trả thù cách mạng thì những người chiến sĩ và cán bộ cách mạng của ta phải rút vào hoạt động bí mật, ở lại cùng
cơ sở quần chúng chấp hành chủ trương tuân thủ hiệp định, đấu tranh hòa bình để chờ thời hạn “hai năm” đến “tổng tuyển cử tự do”, thực hiện giấc mơ thống nhất đất nước Không có cái nóng bỏng, sôi sục bom đạn của những
trận đối đầu trực tiếp như hai tác phẩm trên nhưng Tiếng khóc của nàng Út
cũng đã dựng lại một hiện thực chiến trường khốc liệt ở thời điểm đen tối nhất của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ Có lẽ đọng lại nhiều nhất trong tâm trí người đọc đó chính là tình cảnh khó khăn của cách mạng trong thời điểm địch tăng cường truy sát những người cộng sản và các
Trang 36gia đình bao bọc chở che cho cán bộ Không được hoạt động công khai, những người cán bộ cơ sở phải rút vào núi, dựa vào các tộc người Tây Nguyên để bí mật hoạt động Họ vừa phải chống lại sự mưu mô, xảo quyệt, khát máu của kẻ thù vừa phải đấu tranh với sự ấu trĩ trong nhận thức của một
số cán bộ mang danh nghĩa Đảng Trong khi kẻ thù ra sức phá hoại điều 14C của Hiệp định Giơnevơ thì ta lại tin tưởng và chấp hành một cách máy móc Nhà văn đã không ngại ngần khi nói đến những sai lầm của Đảng, từ những nhận thức ấu trĩ, thỏa hiệp sẽ dẫn đến việc đưa ra quyết định sai lầm Chủ trương đưa Đảng viên ra hoạt động công khai đã khiến cho rất nhiều cơ sở cách mạng của ta bị phá vỡ, trở thành những vùng trắng về Đảng viên, cán bộ
bị địch tàn sát đẫm máu
Trong bối cảnh các tiểu thuyết viết về chiến tranh có thiên hướng “giải
sử thi”, Tiếng khóc của nàng Út lại mang trong mình sắc màu sử thi đậm nét Khác với nhiều tác phẩm cùng giai đoạn và cả các giai đoạn trước, Tiếng khóc
của nàng Út đã khai thác chiến tranh từ điểm nhìn mới lạ Nhà văn đã tiếp cận
chiến tranh từ góc độ văn hóa Đặt cái căng thẳng, bức bối của không gian chia ly, chết chóc của vùng đất xứ Quảng bên cạnh không gian văn hóa nguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên, nhà văn như muốn lý giải những chiến thắng của dân tộc ta có được đều bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, từ sức mạnh của nhân dân Cách tạo bối cảnh, tình huống của tác phẩm cũng bám sát lịch sử nhưng nhưng nội dung của tác phẩm không chỉ là phản ánh lịch sử mà luôn có xu hướng lý giải lịch sử Đây là điểm mới trong cách tiếp cận chiến tranh của Nguyễn Chí Trung và nhiều tác giả khác trong giai đoạn hiện nay
Là một nhà văn có khá nhiều tác phẩm viết về chiến tranh, sau Nếu anh
còn được sống, Cao hơn bầu trời, Văn Lê tiếp tục cho ra đời cuốn sách thứ
ba nói về tổng tiến công Mậu Thân 1968 Đây là một đề tài mà nhà văn có duyên nợ với nó và dành không ít tâm huyết cho đứa con tinh thần của mình
Trang 37Mùa hè giá buốt là cuốn tiểu thuyết được tác giả “viết bằng cả máu mình và
đồng đội” (lời tác giả khi nói về cuốn sách) Trong tác phẩm này, nhà văn đã tái hiện quá trình vận động và tiến công địch của tiểu đoàn bộ binh độc lập
505 (sau này đổi tên là Bến Nghé) từ mặt trận Tây Nguyên vào B2, cuối năm
1966 Đơn vị này đã có nhiều trận đánh ác liệt tại miền Đông Nam Bộ, trong
đó có chiến dịch chống càn Junction City Trong năm 1968, tiểu đoàn có tham gia một đợt chiến dịch Mậu Thân Cuộc chiến đấu với kẻ thù quả thật không dễ dàng một chút nào
Đúng như lời Văn Lê khẳng định: “khi viết, tôi không có dụng ý gì cả, ngoài việc cố gắng mô tả sự thảm khốc của chiến tranh” [42, 9] Trong tác phẩm này, nhà văn đã không chỉ nêu lên vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng được thể hiện qua tinh thần chiến đấu quả cảm của những người lính của tiểu đoàn Bến Nghé mà ông còn khách quan nhìn lại những thảm khốc của chiến tranh đối với số phận của con người Không thể phủ nhận được rằng, trong lịch sử Việt Nam, chiến dịch Mậu Thân mãi mãi là một mốc son đẹp, khó quên Nhưng nó còn khó quên ở chỗ để đi đến chiến thắng ấy quân dân ta và cả đối phương đã phải trải qua quá nhiều sự hy sinh, mất mát
Bước vào những trang văn của Mùa hè giá buốt, người đọc sẽ bắt gặp không khí của “Đất trắng” hiện diện ở khắp nơi Cái u ám, bi quan của những
người trong cuộc về cuộc chiến hiện lên quá rõ Cuộc chiến đấu không cân sức đã khiến tiểu đoàn Bến Nghé (tuy có những trận chiến thắng) phải chịu thương vong quá lớn Trận tổng tiến công thứ hai kết thúc vào mùa hè năm
1968, Bến Nghé đã không còn một cán bộ chỉ huy nào ở thời điểm bắt đầu chiến dịch Tất cả đã ngã xuống khi tấn công vào sâu trong trận địa của địch Văn Lê bằng cảm quan sự thực đã đưa người đọc vào cơn lốc xoáy của chiến tranh, chứng kiến những tổn thất lớn của chiến dịch Mậu Thân Miêu tả cuộc chiến gay go ác liệt như thế không có nghĩa là nhà văn muốn khắc sâu thêm
Trang 38nỗi đau của quá khứ mà dường như đó cũng là một cách để khẳng định cái giá chiến thắng mà dân tộc ta phải trả không hề dễ dàng
Trong tiểu thuyết của mình, tác giả còn hé mở những góc khuất, những nét mờ nhòe mà trước đây ít nhà văn muốn nói đến Đó là những hành động không tự chủ của người lính khi nhìn thấy cái chết của người chỉ huy “Họ trút đạn không thương tiếc về phía quân thù… Nhiều tên địch hoảng sợ giơ tay hàng nhưng vẫn bị bắn một cách lạnh lùng.” [42, 37+ 38] Liệu có cần phải như thế không, khi đó là những hành động đi ngược lại với thiên lương của con người? Trong quân đội, ở bất kì cấp nào cũng vậy, vị trí của cán bộ chính trị hết sức quan trọng Họ không chỉ là người đóng vai trò định hướng
tư tưởng, lối sống mà họ còn là chỗ dựa tinh thần cho người lính Tuy vậy tập thể người lính tiểu đoàn Bến Nghé anh hùng vẫn tồn tại những người cán bộ chính trị cứng nhắc, thiếu hiểu biết thậm chí ham sống sợ chết Ở những con người này, bản năng ham sống đã khiến họ quên đi tất cả mọi thứ xung quanh mình Trên một khía cạnh khác, Văn Lê cũng “không quên” nhắc đến việc những người chỉ huy đã gieo vào người lính niềm lạc quan chiến thắng quá sớm trong khi thực tế cuộc chiến còn có quá nhiều ác liệt Điều đó khiến cho tinh thần chiến đấu của họ giảm sút và hơn nữa họ còn hoang mang dao động trước gian nan, thử thách
Rõ ràng là cùng khai thác về đề tài chiến tranh nhưng mỗi nhà văn lại khám phá một mảng hiện thực chiến trường ở những thời điểm khác nhau Dù vậy các tác phẩm đều làm toát lên hiện thực khốc liệt vô cùng Đó không chỉ
là những khó khăn, thiếu thốn mọi bề của các đơn vị chiến đấu Đó còn là góc khuất trong tâm hồn sâu kín của người trong cuộc, hành động đáng lên án của những người lính biến chất; là các trận chiến không cân sức giữa ta và kẻ thù với sự thiệt hại nặng nề của cả hai phía Đó còn là những thất bại đôi khi nguyên nhân không phải từ phía kẻ thù, vv… Chiến tranh ở đâu cũng vậy và bao giờ cũng thế: có bên thua và bên thắng, những tình huống dở khóc dở
Trang 39cười, có muôn ngàn cảm xúc của người trong cuộc Và trên hết tất cả là cuộc chiến nào cũng đi kèm với nó những tang thương, đổ nát và bất hạnh Quả thực đọc các trang văn của các tác giả, không ít người liên tưởng đến dòng
“văn học vết thương” của Trung Quốc Nói đến và mổ xẻ những vấn đề của một thời chiến tranh bằng cái nhìn điềm tĩnh và khách quan, đây là điều mà các nhà văn muốn gửi gắm qua các tác phẩm của mình Nó không chỉ cho thấy sự trải nghiệm của người trong cuộc mà còn toát lên cái nhìn thấm đẫm tình người ẩn hiện sau mỗi câu văn Hiện thực ấy khiến người đọc phải xót
xa, xúc động, đồng cảm và nó cũng khiến người ta như được trải nghiệm cùng
nó Chẳng ai muốn nói nhiều về sự hy sinh, mất mát song không thể vì thế mà
bỏ qua điều này Chính những nỗi đau ấy đã cho thấy được cái giá phải trả cho chiến thắng, cho hòa bình và nó càng khiến cho bạn đọc không quên quá khứ đau thương mà anh hùng của dân tộc
2.1.2 Hiện thực đời sống ở hậu phương
Hiện thực chiến tranh không chỉ được tái hiện ở những trận địa nóng bỏng nơi tiền tuyến mà trong nhiều tác phẩm viết về chiến tranh giai đoạn 2004- 2009, các nhà văn đã có ý thức khai thác đời sống chiến tranh ở hậu phương ở nhiều góc độ Tuy không phải là dồn bút lực vào việc miêu tả ấy nhưng chính hình ảnh cuộc sống hậu phương đã cho thấy cái nhìn của nhà văn có phần bao quát, toàn diện hơn Những mảng hiện thực này đã làm cho mạch truyện như bị gián đoạn song nó dường như làm dịu đi cái nóng bỏng nơi chiến trường
Trong Thượng Đức, đó là một miền Bắc “vì miền Nam, mỗi người
làm việc bằng hai” nhưng đó cũng là một miền Bắc xã hội chủ nghĩa còn tồn tại những nếp nghĩ cổ hủ, o ép, hạch sách của một số kẻ có chức quyền Ngòi bút của nhà văn đã hướng đến cảnh sinh hoạt thường ngày, những cảnh ngộ éo le của nhiều gia đình trong các làng quê Gia đình của Ngoãn là chỉ là
Trang 40một trong số đó Cha của anh vốn gia trưởng, lại bán mình cho thuốc phiện nên mọi việc đều dồn lên đôi vai của người mẹ quanh năm tần tảo sớm khuya mà cũng không thoát khỏi nghèo khó Hân- vợ anh là một phụ nữ xinh đẹp sống trong cảnh khắc khoải đợi chồng đã bị Nhiêu Trường giở trò
ve vãn Vì thế, trong mắt của bố chồng, cô không phải là một nàng dâu ngoan Gia cảnh của Ngoãn nhiều lúc ở trong tình trạng khốn khó với những mâu thuẫn không dễ gì giải quyết nổi Điều ấy khiến cho anh tuy ở chiến trường nhưng vẫn canh cánh lo về hậu phương của mình Bên cạnh đó còn là hình ảnh của quân dân Quảng Đà sẵn sàng ngày đêm tiếp tế cho cách mạng với khát vọng giải phóng Thượng Đức
Ở Những bức tường lửa, từ những trang viết giới thiệu lí lịch của nhân
vật Trương Đình Lân, người đọc sẽ thấy được bóng dáng của cuộc cải cách ruộng đất với những sai lầm nhất định qua việc cụ cử Hạt- ông nội Lân bị chính học trò là Phạm Xuân Biên đấu tố Những trang viết của nhà văn còn đưa người đọc trở về với hình ảnh nông thôn miền Bắc trong những ngày xây dựng chủ nghĩa xã hội Trung tâm của bức tranh này chính là lớp 10B - lớp học sơ tán mà ta có thể bắt gặp ở nhiều nơi trên đất nước thời chống Mĩ Tuổi học trò của lớp học sinh cuối cấp với biết bao mộng mơ và buồn vui Tuy thế tiếng gọi của tiền tuyến đã khiến nhiều học sinh tìm mọi cách để ra mặt trận: trốn nhà, “gian lận” cân nặng, có người đi cũng chỉ vì sĩ diện Đó là những mẫu hình sinh động, là hình ảnh của lớp thanh niên, học sinh xã hội chủ nghĩa một thời gác bút lên đường chiến đấu vì tổ quốc
Tiếng khóc của nàng Út lại đưa người đọc trở về với vùng đất Quảng
trong những năm cách mạng đen tối Ở thời điểm nước sôi lửa bỏng như vậy, cuộc sống của người dân vô cùng khó khăn Gia đình bà On- mẹ của Toàn cũng như nhiều người dân trong xứ Bàu Ốc vừa bám đất để sống vừa chăm lo tiếp tế hậu cần cho chủ lực, xây dựng cơ sở, trung thành với cách mạng, sống