1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn

167 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quách Tấn 1910-1992 là nhà thơ khá nổi tiếng trong phong trào Thơ mới giai đoa ̣n 1932-1945 nhưng lại viết bằng một thể loại của văn học trung đại: thơ Đường luật... Dù biết mình cò

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÃ SỐ: 60.22.34

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN NHO THÌN

HÀ NỘI, NĂM 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

Chương 1 THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA QUÁCH TẤN VÀ XÁC LẬP MÃ

1.1 Quách Tấn: nhà thơ xuất sắc của dòng thơ Đường luật Việt Nam nửa

1.1.4 Quách Tấn: nhà thơ thuỷ chung với thơ cách luật 31 1.1.5 Ảnh hưởng của thơ Đường đối với thơ Quách Tấn 33

1.2.1 Khái niệm: Thơ Đường, Thơ Đường luật, Thơ Đường luật Việt Nam 1.2.2 Những tiêu chí xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật 38

1.3 Thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX và nhu cầu kế thừa tinh hoa thơ truyền thống 50

1.3.1 Nhu cầu hiện đại hoá thơ Việt trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ

1.3.2 Thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX vẫn tiếp tục tồn tại trên báo chí và

1.3.3 Dấu ấn tượng trưng của thơ Đường luật trong Thơ Mới 62 1.3.4 Ảnh hưởng của thơ Đường đối với một vài thơ lãng mạn Việt Nam

Trang 4

Tiểu kết 72 Chương 2 MÃ NGHỆ THUẬT THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA QUÁCH

2.2.1 Hình ảnh thiên nhiên trong hiện thực cuộc sống 78

2.2.2 Tái hiện một số hình ảnh thiên nhiên: hoa cúc, chim én, ánh trăng 83

Chương 3 MÃ NGHỆ THUẬT THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA QUÁCH

3.1 Quan niệm của Quách Tấn về việc làm thơ 112

3.1.1 Quan niệm của nhà thơ về việc dụng điển, luyện chữ 112 3.1.2 Quan niệm của nhà thơ về việc chọn thể thơ để sáng tác 114 3.1.3 Những thể thơ được Quách Tấn sử dụng trong các tập thơ 115

3.2 Quách Tấn với những cách tân về ngôn ngữ thơ 117

3.2.1 Những nét mới trong nghệ thuật dụng điển 117 3.2.2 Những cách tân về ngôn ngữ - hình ảnh thơ 117

Trang 5

3.3 Những nét mới trong việc tổ chức nhịp điệu và hệ thống giọng điệu

NHỮNG BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Sinh thời M.Gorki đã từng khẳng định “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy trong những ấn tượng có cái giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng” Có thể nói, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá một nghệ sĩ là ở chỗ anh ta có đem lại một cái

gì mới mẻ, riêng biệt hay nói chính xác, là một phong cách độc đáo cho nền văn học dân tộc hay không? Quách Tấn (1910-1992) là nhà thơ khá nổi tiếng trong phong trào Thơ mới giai đoa ̣n 1932-1945 nhưng lại viết bằng một thể loại của văn học trung đại: thơ Đường luật Thơ ông được vinh dự lọt vào con mắt xanh của nhà phê

bình Hoài Thanh, được tuyển vào Thi nhân Viê ̣t Nam (1941) Từ khi xuất hiê ̣n trên

thi đàn cho đến cuối đời , Quách Tấn bình tĩnh, lă ̣ng lẽ chuyên sáng tác theo thể thơ luâ ̣t Đường, mô ̣t thể thơ cũ mà đương thời có cuô ̣c tranh luâ ̣n gay gắt , thể thơ bị không ít nhà Thơ Mới dè bỉu, ấy thế mà thơ ông vẫn được công chúng mến mộ , còn các nhà Thơ mới thì mở cửa đón ông vào làng thơ Đề tài này góp phần lý giải vì sao có hiê ̣n tượng trên

1.1 Quách Tấn (1910-1992) là một thành viên của nhóm Bàn Thành tứ hữu ,

mô ̣t nhóm thơ ở Bình Đi ̣nh khá nổi tiếng , được nhiều công chúng đô ̣c giả lúc bấy giờ biết đến Đương thời cũng như sau này , thơ của ông được nhiều nhà nghiên cứu phê bình, văn ho ̣c sử giới thiê ̣u trong các công trình của ho ̣ Điều cần lưu ý là trong nhóm Bàn Thành tứ hữu, thì Chế Lan Viên, Yến Lan sáng tác theo thể thơ m ới, Hàn

Mă ̣c Tử ban đầu viết theo thể Đường luâ ̣t (Lê ̣ Thanh thi tập ), sau lại sáng tác theo thể Thơ Mới (Gái quê, Thơ điên sau đổi tên là Đau thương), chỉ riêng Quách Tấn ,

trước sau ông đề u sáng tác theo thể thơ Đường luâ ̣t Điều này góp phần ta ̣o nên nét

đa da ̣ng, đô ̣c đáo cho nhóm thơ Bình Đi ̣nh nói riêng và cho phong trào Thơ mới nói chung Sau khi Tản Đà ta ̣ thế thì Quách Tấn la ̣i là người tiếp bước Trong khi giới yêu thích Thơ Mới ngày càng tỏ ra vui mừng trước thực tế Thơ mới lấn át thơ cũ và người ta hưởng ứng Thơ Mới, phụ rẫy thơ cũ, làm cho nhiều nhà thơ cũ nhụt chí, thì

“chỉ mô ̣t người không chi ̣u khuất phu ̣c , can đảm gi ữ tiết tháo , không chi ̣u dối lòng mình, không chi ̣u làm mất đi cái tính tự chủ , cái truyền thống gia đình và cái hào khí của mì nh trước sự phát triển mau mạnh của Thơ Mới, thì người ấy vẫn quyết

Trang 7

giữ mô ̣t lòng thuỷ chung với nguồn cảm hứng và lề lối sáng ta ̣o của mình”

[19,tr.15] Người ấy là Quách Tấn , nhà thơ cổ điển đặc sắc , những vần thơ Đường luật cổ điển đó được ông khơi dâ ̣y cái rung đô ̣ng tô ̣t cùng của cảm xúc Ông là nhà Thơ Mới sáng tác theo thể thơ cũ, tức có nghĩa thơ của ông mang tính hiện đại, thể hiện cái chất Thơ Mới trong cái vỏ hình thức của thơ cũ Vì thế, Tản Đà tiên sinh

trong bài “Bình thơ Quách Tấn” không ngần nga ̣i đă ̣t Quách Tấn bên ca ̣nh Hồ Xuân Hương, Bà Huyê ̣n Thanh Quan , Yên Đổ… (Tiểu thuyết thứ Bảy , số 32, ngày

05-01-1935) [19] Còn Chế Lan Viên thì đã thổ lộ một cách hài lòng rằng “Qua các cổ nhân đến bây giờ , bạn trẻ chúng ta mới tìm thấy những bài thơ bát cú mà chúng

ta yêu được hoàn toàn [19,tr.43] Và Tam Ích thì đã tỏ ra vui sướng , không do dự

khi viết “chỉ có mấy năm mà thơ cũ chỉ còn nhờ Quách Tấn để có mặt trong lòng

người hâ ̣u sinh” [19,tr.109-112].

1.2 Từ khi Quách Tấn xuất hiê ̣n trên thi đàn giai đoạn 1932-1945 đến nay đã hơn bảy mươi năm Độ lùi thời gian ấy cũng có thể đủ cho thế hệ sau có những nghĩ suy, nhận xét về chất lượng nghê ̣ thuâ ̣t thơ Quách Tấn , những đóng góp của ông đối với phong trào Thơ mới nói riêng, thơ ca hiê ̣n đa ̣i nói chung

1.3 Có thể nói, đây là mô ̣t đề tài mới và khó ; mới vì từ trước đến nay chưa có nhà nghiên cứu nào tìm hiểu thơ Quách Tấn một cách gần như là đầy đủ và chuyên sâu như đề tài nà y; khó là vì đối tượng khảo sát là “mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn”, bởi muốn hiểu thơ Quách Tấn , bên ca ̣nh những tác phẩm thơ đã xuất bản, người viết còn tìm đo ̣c nhiều thi phẩm chưa xuất bản nữa ; bên ca ̣nh thơ , Quách Tấn còn viết hồi ký , thi thoại và biên khảo, và chính chúng đã góp phần đắc lực giúp người đo ̣c hiểu được những sáng tác của ông nhiều hơn Đồng thời, cần phải xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật để thấy nét riêng trong thơ của Quách Tấn và cần phải đặt thơ ông trong dòng thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XX, cụ thể là thơ Đường luật đăng trên Nam Phong tạp chí và thơ Đường luật trong

phong trào Thơ Mới như thơ của Thái Can, Ngân Giang, v.v Dù biết mình còn ha ̣n

chế nhiều mă ̣t, nhưng tôi đã cố gắng cho ̣n đề tài Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn để nghiên cứu cũng không ngoài mục đích góp thêm tiếng nói

dù rất nhỏ về một nhà thơ sáng tác theo thể thơ cũ trong phong trào Thơ Mới

Trang 8

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Như ̃ng ý kiến đánh giá về thơ Quách Tấn

Từ khi Quách Tấn với những bài thơ Đường luật in trên báo, xuất bản thành tập thơ thì đó cũng là lúc nhiều nhà phê bình , nhiều văn thi sĩ đã có những bài viết về thơ của ông Có thể điểm lại những nhận định , đánh giá về thơ của ông qua ba chă ̣ng đường như sau:

2.1.1 Như ̃ng bài viết về thơ Quách Tấn trước 1945

- Quách Tấn xuất hiện trên thi đàn từ 1932-1933, những bài thơ đầu tay của

ông lần đầu tiên đươ ̣c đăng trên An Nam tạp chí , hồi tờ báo này còn đă ̣t ta ̣i phố Hàng Khoai, Hàng Bông (Hà Nội), Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), Tiếng Dân (Huế)

Những bài thơ đó được in trong Một tấm lòng (1939) Trong lời Tựa cho tâ ̣p thơ viết ngày 26 tháng 5 năm 1939, Tản Đà đã viết: “Ông Quách Tấn , người Bình

Đi ̣nh, tác giả tập thơ “Một tấm lòng” đây, với tôi tuy chưa từng gă ̣p mă ̣t nhau mà

có thể coi nhau là cố nhân (…) thời người mới tra ̣c ba mươi tuổ i Vâ ̣y như ông , kể

là người trong tân học mà thơ ông phần nhiều làm theo thể thơ Đường luật , nhất là những thơ tả cảnh , có nhiều vẻ hùng hậu , u ẩn , nhã chí , tinh công (…) Thơ ông Quách Tấn rất là có công phu Nếu không nhâ ̣n kỹ chỗ dụng công thời không thấy bổn sắc của tác giả ”; và: “Như cái thi tài ông Quách Tấn, mà lại có công với thơ,

thời sau tập Một tấm lòng đây, ông hẳn còn cho chúng ta xem nhiều tập thơ có giá trị khác” [19,tr.20-22]

- Hàn Mặc Tử đã viết lờ i Bạt cho Một tấm lòng, đã đánh giá cao tâ ̣p thơ, chẳng hạn: “Trí ta da ̣i khờ , mắt ta no ánh sáng không đo ̣c nổi những tờ thơ của tâ ̣p Một tấm lòng mà ta đang cầm trên tay Chao ôi! Cứ mỗi tờ thơ là mỗi tờ trăng , thơm

mát, dịu dàng , cơ hồ có từng bản nha ̣c reo lên ở mỗi trang giấy (…) Nhưng hồn giai nhân không hiê ̣n lên với hàng chữ , mà khí vị thanh tao của văn chương ửng lên

mô ̣t màu sắc phương phi , đơm ra mô ̣t hồn thơ hùng hâ ̣u” [19,tr.23-26] Và: “Những

hàng chữ sang sáng rung rinh như bức tranh linh động, khiến hồn ta đắm mê tưởng chừng đây là Hàn Sơn tự hay Hoàng Hạc lâu… nhưng không đâu, đây là hồ Đà Lạt, bãi Quy Nhơn, chùa Cây Mai, đồng Lập Trận, là núi Nhạn, là sông Côn…, là anh linh tú khí của nước non Nam Việt hun đúc lại, tạo thành những kỳ quan thắng tích” Hàn Mặc Tử còn trân trọng và ca ngợi Quách Tấn: “Cũng như Đỗ Phủ đời

Trang 9

Đường, thi nhân của ta đây là người trong vòng danh lợi Thế mà trí vẫn ung dung siêu thoát ra ngoài lề phú quý, lòng luôn luôn mơ ước cảnh giang hồ mây nước bốn phương Cho nên mỗi lần thấy chim bạch nhạn vỗ cánh tung trời mà bay, là thi nhân

háo hức, bồn chồn, muốn vất bỏ cả vinh ba phú quý để làm người lãng tử Nhưng

cánh hồng chưa tiện gió, mà muốn hưởng tự do trong bốn bể thi nhân tạm đành mộng hồn thả lỏng lúc đêm thanh Tâm sự thi nhân, chí nguyện thi nhân, thi nhân vẫn tự phụ trong đời chưa người hiểu Mắt thi nhân nhìn vào đâu cũng thấy toàn là

sự tầm thường!” [19,tr.23-26]

- Sau đó , J.M Thích trên báo Vì Chúa số 147 ra ngày 30 tháng 11 năm 1939

đã viết bài giới thiê ̣u tâ ̣p thơ đ ầu tay này của Quách Tấn [19,tr.27-31] Vân Sơn trên

tờ báo Điê ̣n tín ngày 13 tháng 01 năm 1940 đã có bài điểm sách , tác giả bài viết

khen thơ tả cảnh của Quách Tấn hay, đă ̣c sắc, tài tình; và thơ tả tình thì cũng k hông kém gì thơ tả cảnh… [19,tr.32-38]

- Năm 1941, khi viết lờ i Tựa cho tâ ̣p thơ “Mùa cổ điển” , Chế Lan Viên cho rằng: “Ông nguyê ̣n ngày kia sẽ trả la ̣i hoàn toàn cho thơ cũ, cái hoàn toàn của nó –

âm điê ̣u nhi ̣p nhàng uyển chuyển đổi thay - mà “làng thơ Việt Nam đã bao lâu đánh mất” Mười năm, hai mươi năm, hay cần đến, cả một đời, điều ấy là mô ̣t điều chẳng

đáng kể với ông” [19,tr.41] Cũng năm đó , trong bài viết “Nhà thơ Đường cuối cùng: Quách Tấn”, Chế Lan Viên đã chỉ ra cái riêng, nét mới trong tâm hồn của nhà

thơ cũ Quách Tấn, đó là “tính cách vương giả, sự điều hoà… Ấ y là sức hiểu những

ma lực của chữ, nhờ ở sự hiểu sâu cái gì là cái hồn thơ” [19,tr.46-53]

- Cũng như Chế Lan Viên, các nhà thơ Bích Khê, Yến Lan đã viết phê bình dù

chỉ mấy dòng về tập Mùa cổ điển Bích Khê cho rằng “Chỉ mô ̣t bài “Đêm thu nghe quạ kêu”, chừng nấy thôi cũng đủ cho ta thấy thi sĩ đã vượt lên trên những thi sĩ có tiếng như: Bà Huyện Thanh Quan , Yên Đổ, Chu Ma ̣nh Trinh… [19,tr.58]; Yến Lan

thì viết “Có những bài thơ hay , hay theo ý thích của đám người , cũng có thơ hay,

hay khiến đươ ̣c người theo ý thích mình , nhưng Mùa cổ điển hay ra ngoài hai lối trên, hay vâ ̣y mà la ̣i thêm làm cho người ta sững sờ” [19,tr.59]

- Nam Xuyên trong một bài viết vào mùa hè năm 1942 đã ca ngợi lời lẽ, ngôn từ, câu thơ của Quách Tấn và so sánh nó chẳng khác châu ngo ̣c [19,tr.56-57]

Trang 10

- Trong Thi nhân Viê ̣t Nam (1941), Hoài Thanh và Hoài Chân viết: “Hồn thơ

Đường vắng đã lâu , nay la ̣i trở về trong thơ Viê ̣t (…) Cái nàng thơ xưa này thật là rắc rối (…) Có người say theo nàng thì nàng chẳng mặn mà chi (…) Cảm được lòng người đàn bà khó chìu kia, hoạ chỉ có Quách Tấn Mối lương duyên gây nên từ

Một tấm lòng , đến Mùa cổ điển thì thật đằm thắm” (…) “Đêm đã khuya, tôi ngồi

mô ̣t mình xem thơ Quách Tấn… Tôi lắng lòng tôi để đón mô ̣t sứ giả đời Đường, đời Tống Đời Đường có lẽ đúng hơn (…) Quách Tấn đã tìm được những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấm thía Người đã th oát hẳn cái lối chơi chữ nó vẫn là

môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ…” [74,tr.267]

- Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1943) đã dành mô ̣t chỗ viết về Quách Tấn có thể nói là trang tro ̣ng : “Ông là nhà thơ rất sở trường về thơ Đường Tất cả

thơ trong tâ ̣p Một tấm lòng và Mùa cổ điển của ông đều là thơ tứ tuyệt và bát cú ” (…) Bên cạnh, cũng có ý kiến phê bình thẳng thắn: “Thơ Quách Tấn go ̣t giũa , cầu

kỳ (…) Thơ Quách Tấn thâ ̣n tr ọng sự cân đối (…) Thơ Quách Tấn hàm súc (…)

Thơ Quách Tấn điêu luyê ̣n thì có điêu luyê ̣n nhưng thành thâ ̣t thì không ”

[51,tr.665-671]

Như vậy, trước Cách mạng tháng Tám, các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình đều khẳng định nét đẹp, cái mới trong thơ Đường luật của Quách Tấn Các bài viết đều trân trọng những đóng góp của thơ Quách Tấn đối với nền văn học hiện đại Bên cạnh những lời khen, cũng có vài lời chê thơ ông như cầu ký, gọt giũa, ít thành thật

2.1.2 Như ̃ng bài viết về thơ Quách Tấn từ 1945 đến 1975

Ở chặng đường từ 1945 đến 1954, lúc này cả dân tộc ta đang tâ ̣p trung chống Pháp, vì thế mà không có nhà nghiên cứu nào viết về thơ Quách Tấn

Chặng đường 1954-1975, trong Nam ngoài Bắc đều có viết về Quách Tấn

Trong các bô ̣ văn ho ̣c sử ở ngoài Bắc bấy giờ như Lược thảo li ̣ch sử văn học Viê ̣t Nam của nhó m Lê Quý Đôn , Nxb Xây dựng, 1957-1958; Sơ thảo li ̣ch sử văn học Việt Nam của nhóm Văn Sử Địa, Nxb Văn hoá, 1958-1959, thì ít nhiều có nhắc

đến Quách Tấn trong chương viết về văn học Việt Nam 1932-1945 Hai bô ̣ văn ho ̣c

sử của hai trường : Đa ̣i ho ̣c Sư Pha ̣m Hà Nô ̣i , Lịch sử văn học Việt Nam , tâ ̣p 5

(1930-1945) (bộ cũ), Nxb GD, in lần đầu 1961; Đa ̣i ho ̣c Tổng h ợp Hà Nội (nay là

trường Đa ̣i ho ̣c Khoa ho ̣c Xã hô ̣i và Nhân văn ), Văn học Viê ̣t Nam (1900-1945),

Trang 11

Nxb GD, HN, tái bản lần thứ 5, 2001, có nhắc đến Quách Tấn dù chỉ điểm qua

Những bài nghiên cứu về Thơ mới, nhìn nhận lại Thơ mới đăng trên Tạp chí Văn học (Viê ̣n Văn ho ̣c) thi thoảng có nhắc đến Quách Tấn Đặc biệt trong chuyên khảo Thơ ca Viê ̣t Nam : hình thức và thể loại , khi viết về thể thơ , hai nhà nghiên cứu Bùi

Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã có nhâ ̣n xét về thơ Quách Tấn như : “Hãy nói những bài thơ thất ngôn bát cú Đường luâ ̣t của Quách Tấn trong “Mùa cổ điển” dù

có bị gò bó vào khuôn khổ đối thanh, đối ý, bằng trắc phân minh, vẫn thoát được, để tạo sự đổi mới trong cấu trúc lời văn Nói chung, các nhà thơ ta vừa kế thừa và nâng cao các hình thức thơ ca cổ truyền , vừa tiếp thu có sáng ta ̣o các thể thơ mới du nhập từ phương Tây” [48,tr.25]

Ở trong Nam, tình hình nghiên cứu về Quách Tấn có vẻ sôi nổi hơn

- Năm 1957, tuần báo Mùa lúa mới, số 48 ra ngày12-5-1957, có đăng bài của Viê ̣t Tuỷ bình thơ Quách Tấn “Đọc bài CẢM THU”, cụ thể là “tâm sự của người trí

thức sống mỏi mòn , tuyê ̣t vo ̣ng trong thời kỳ thực dân ph ong kiến , hoài bão một tấm lòng thiết tha đô ̣c lâ ̣p tự do” [19,tr.80]

- Năm 1962, Nguyễn Tườ ng Lân trên Nguyê ̣t san Thông tin số 2 tháng 5 có bài

giới thiê ̣u thơ Quách Tấn Bài viết tìm hiểu tâm trạng thi nhân ; cái hay của thơ Quách Tấn, nhất là cách dùng chữ đặt câu, dùng các điển tích [19,tr.84-88]

- Năm 1959, khi còn ở Mỹ Tho , Phạm Công Thiện viết bài Hướng đi của nhà thơ trứ danh Quách Tấn , đã cho rằng “Quách Tấn là người có thiên tài ” Tác giả

còn cho rằng “rồi đây sẽ có mô ̣t trường thơ rực rỡ ở Viê ̣t Nam : Trường thơ hàm súc

Và người tiên khu của nó nhất định là Quách Tấn” [19,tr.104] Đến tháng 7-1970,

Phạm Công Thiện về dạy tại Đại học Vạn Hạnh , lúc này ông c ó viết bài “Tra ́ ch nhiê ̣m của tuổi trẻ Viê ̣t Nam với Quách Tấn” trong đó có đoạn: “Tản Đà chấm dứt

thế kỷ XIX đầu XX và Quách Tấn là thi hào vĩ đại nhất ở thế kỷ XX Cho mãi đến năm 1970 này, tôi chưa thấy ai đủ sức ma ̣nh tâm linh đứng ngang hàng Quách Tấn” [19,tr.105]; và “Trướ c năm 1932, cảm thức tâm linh Việt Nam đã bị Tàu đục khoét

cho đến đô ̣ tan rã , chỉ có Tản Đà là người cuối cùng cứu vớt lại , sau năm 1932 chỉ

còn Quách Tấn cứng đầu đi tới và tàn ba ̣o khinh miê ̣t tất cả cuồng phong từ Tây phương thổi tới” [19,tr.105] Sau đó, tác giả bài viết đã so sánh Quách Tấn với Hàn

Mă ̣c Tử, mô ̣t bên là phương Đông và mô ̣t bên là phương Tây Kết thúc bài viết ,

Trang 12

Phạm Công Thiê ̣n cho rằng “Quách Tấn là người duy nhất can đảm lì lợm sống chết với những gì còn la ̣i với quê hương” [19,tr.107]; và kêu gọi thanh niên hiện nay phải có trách nhiệm “đối với mô ̣t thiên tài can đảm đã chi ̣u đựng mô ̣t mì nh, nuôi

dưỡng mô ̣t mình tất cả di sản tâm linh cao cả nhất của quê hương” [19,tr.108]

- Tháng 10 năm 1970, nhân Giai phẩm Văn ra số đặc biê ̣t về Quách Tấn , học giả Tam Ích có gởi cho ông Trần Phong Giao (Tổng Thư ký tòa soa ̣n ta ̣ p chí) mô ̣t bức thư, trong đó có viết “Còn nói thơ Quách Tấn là điêu luyê ̣n là hay thì ai chả nói đươ ̣c: cái hay của thơ nó ở đâu đâu ấy , chứ chẳng ở riêng nơi từ, nơi tứ, nơi ý, nơi mạch, hay là nó ở cùng mô ̣t lúc ở từ, ở tứ, ở ý, ở mạch, ở cả bốn chốn ấy” [19, tr.109], “Tấn không theo thờ i trang , thời thươ ̣ng: Tấn vẫn làm thơ Đường , Tấn cứ làm thơ Đường ! Kẻ từ chối theo thời thượng là kẻ lui lại sau biên giới của “chiều thứ tư”, khó có mặ t Ấy thế mà , Tấn la ̣ lắm : cứng đầu, cứng cổ nhất đi ̣nh không chịu thua thế lực khủng khiếp của thời trang trong thời gian, trong li ̣ch sử mà vẫn cứ

có mặt, có lẽ chỉ có một mình Tấn Và, trên mô ̣t phương diê ̣n nào đó , Đông Hồ” (…) “Không, không ai quên Tấn Giữa thế kỷ XX , từ ngày Hoài Thanh và Hoài Chân đi ̣nh vi ̣ trí cho mấy chu ̣c người, cho đến bây giờ, Tấn vẫn có mă ̣t Chuyê ̣n như

vâ ̣y thâ ̣t là hiếm” [19,tr.111-112] Trong bài“Vị trí Quách Tấn trong thi giới Việt Nam”, Tam Ích viết: “Khen thơ Quách Tấn thì cũng như khen phò mã tốt áo , vì thơ

cổ điển Quách Tấn vốn hay từ thuở nảo, thuở nao – nói cổ điển vì nếu tôi không lầm thì hình như họ Quách không làm Thơ Mới và thơ tự do mà dù cho có làm đôi bài thì cũng như không làm, thiên hạ nói đến anh chỉ nói thơ cổ điển chứ không nói đến phương diện khác của thơ anh, nếu phương diện ấy có” [19,tr.574]

- Trần Phong Giao đã “Thử định vị Quách Tấn trong thi giới cận hiện đại”

một cách trang trọng: “Khi định vị cho Quách Tấn trong số gần 50 nhà thơ, Hoài Thanh minh định sở trường của họ Quách là thơ Cũ, một lối thơ đang bị Thơ Mới

choán chỗ và có cơ thế chỗ trên thi đàn nước ta Nói cách khác Mùa cổ điển sắp tàn

và Quách Tấn với Một tấm lòng đang khóc cái tiếng khóc âm thầm của con người

dè dặt kín đáo Lịch sử tiến như bánh xe tốc hành đi vùn vụt, Thơ Mới và thơ tự do

tràn ngập trên thi đàn tạo thành những cơn sóng gió mà nói theo Tam Ích là „có

kích thước‟” [19]

Trang 13

- Cũng trên Giai phẩm Văn số đặc biệt, Phan Ngọc Châu viết đến 23 trang để chỉ ra những nét đă ̣c sắc trong thơ Quách Tấn : “mô ̣t tâm hồn trang tro ̣ng ”; “con

người Quách Tấn”; “nguồn thơ Quách Tấn”; “bác nông dân hay chữ hay thơ ”; “con

thuyền bến lách” [19,tr.113-135]

Cũng tại số tạp chí này, bài viết của Nguyễn Đồng đã chỉ ra cái tinh tế của Quách Tấn khi viết thể thơ 4 chữ, thơ lu ̣c bát , lục bát biến thể và thơ song thất lục

bát trong bài “Các thể thơ Quách Tấn hay dùng ngoài thể Đường luật” 185] Nhà văn Võ Hồng thì viết :“Qua ́ ch Tấn trong vòng thân mật” kể la ̣i những kỷ

[19,tr.169-niê ̣m của ông với nhà thơ , chỉ ra nét thú vị ở một vài câu thơ của Quách Tấn [19,tr.208-215] Nhà nghiên cứu Trần Thúc Lâm đánh giá cao tà i năng dịch thơ chữ

Hán của Quách Tấn qua bài “Quách Tấn và thơ chữ Hán” [19,tr.216-227] Nguyên Thái thì đề cập đến đề tài quê hương qua bài viết “Quách Tấn: Quê hương và Thơ”

[19,tr.228-253]

- Chu Thảo trong bài Đọc “Đọng bóng chi ều” và “Mộng Ngân sơn” đã chỉ ra

nét đặc sắc của hai tập thơ này , nhất là viê ̣c nhà thơ du ̣ng công trong câu chữ trong

tả cảnh để gởi gắm tâm trạng , để đi đến kết luận “thi sĩ là mô ̣t nhiếp ảnh gia ngoa ̣i hạng” Bài viết còn chỉ ra cái chất Đường thi của thơ Quách Tấn: “Tất nhiên mới nhìn qua, người ta sẽ thấy dày đặc hơi Đường trong thơ Quách Tấn Chẳng những ở nơi hình thức của bốn câu bảy chữ - hai mươi tám vị sao không có vị lu mờ - mà ngay trong tứ thơ người ta cũng tìm thấy dấu vết thơ Đường Tôi muốn nói đến cái

nhìn, cái nghe của thi sĩ - một lối cảm nhận rất Đường Xin đọc Chiếc lá rơi (tr.70) rồi sẽ nghĩ rằng nó phảng phất Ý châu ca, phảng phất cái ước vọng, cái tương tư tiêu

cực của người ở trong phòng the Ngồi trong ngôi nhà cổ, có hàng rào lá hoa vây

kín, có gốc mận xanh um và lối đi lát gạch vuông đã nát dần dưới bước chân đi lại

lâu đời, nhà thơ vẫn thường lắng nghe tiếng chuông chùa Hải Đức, có khác chi dư

âm của tiếng chuông Hàn San Tự” [19,tr.136-143]

- Nhà t hơ Lam Giang , ngườ i ba ̣n thơ mô ̣t thời ở Bình Đi ̣nh với Quách Tấn ,

trong “Hồn thơ nươ ́ c Viê ̣t” , Sống mới, SG, 1970, đã dành những lời ưu ái đối với

Quách Tấn: “Giữa lúc Thơ Mới ngang nhiên cổ võ đánh đổ lối thơ có đối đáp vô duyên, vô vị, phi tự nhiên, bất hợp lý, thôi thì đủ mọi thứ danh từ mỉa mai, hằn học

mà trí con người có thể tìm ra Giữa cái cảnh náo loạn phi thường ấy, Quách Tấn đã

Trang 14

ung dung làm thơ Đường luật mà vẫn được xếp vào hàng thi sĩ hữu danh của phong trào Thơ Mới… Những bài thơ làm theo Đường luật của Quách Tấn đều có cảm

hứng chân thành và tế nhị, như: Đêm tình, Chiều xuân Hình thức trang nghiêm cổ

kính của Đường luật, được tuân thủ triệt để Có những người vẫn thích Đường luật nhưng hưởng ứng với phong trào Thơ Mới Ít nhất họ cũng có làm đôi ba bài theo thể điệu mới Riêng Quách Tấn, tuyệt đối thờ ơ không cần biết Thơ Mới tám chữ là

cái quái vật gì Thái độ ấy quả là một thái cực” [18,tr.151-152]

- Nguyễn Vỹ trong Văn thi sĩ tiền chiến (1970) đã phát biểu: Lần đầu tiên, đọc

mấy bài thơ Đường luật ký tên Quách Tấn, thật tình tôi không chú ý mấy Đối với những người đã quá quen thuộc với các bài thơ Đường luật đăng đầy dẫy trên khắp các báo chí Bắc Trung Nam, thì những bài thơ bát cú của ông Thông phán Quách Tấn không có mãnh lực tân kỳ để cho tao nhân mặc khách các nơi đặc biệt lưu ý

đến Đến hai năm sau (1941), khi thi phẩm Mùa cổ điển ra đời thì giới yêu Thơ Mới

bắt đầu chú ý đến thơ ông nhiều hơn [88]

- Năm 1973, học giả Nguyễn Hiến Lê trong bài “Thi sĩ Quách Tấn: hai tập thơ và một chứng bệnh” giới thiê ̣u hai tâ ̣p thơ của Quách Tấn : Giọt trăng, Tố Như thi

(tập thơ di ̣ch thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du ): “Tập đầu nhan đề là Giọt trăng

gồm 60 bài thơ ngũ ngôn tuyệt cú… Có cái giọng một ông lão nhàn tản, khoáng đạt

mà nghệ sĩ Cả khi khóc con, giọng tuy ấm ức mà vẫn âm thầm, nhưng thấm thía,

không nói mà chính là nói nhiều” [19,tr.156-164]

- Quách Vũ giới thiệu tập thơ Giọt trăng trong ba ̀i “Nhìn ngắm Giọt trăng”

[19,tr.254-262]

- Tuệ Sỹ đã chỉ ra nét đặc thù của thơ Quách Tấn: “Nhà thơ của chúng ta trong

một thoáng rung động kỳ diệu nào đó đã đọc ra bản chất tồn tại sâu xa của tạo vật Cũng chỉ với tâm hồn ấy mới có thể đọc ra những ẩn ngữ ấy trong lớp vỏ vô tri và

vô nghĩa ấy Tất nhiên, nhà thơ vẫn ở trong dòng thác cuộn ào ạt theo tiến bước lịch

sử của con người, nhưng trong cuộc hành trình vô tận ấy nhà thơ có thể đạt tận cùng

về bản chất lữ thứ của mình, vì trong tận cùng tâm sự vẫn là một nỗi hoài hương

bao la” [19,tr.539]

- Lương Trọng Minh trong “Nhà văn Viê ̣t Nam 1940-1970” tâ ̣p 1, đã đánh giá cao hai tâ ̣p thơ Một tấm lòng và Mùa cổ điển; đồng thời giới thiê ̣u hai tâ ̣p Nước non

Trang 15

Bình Định và Xứ Trầm hương rồi khẳng đi ̣nh bên ca ̣nh nhà thơ , ông còn là mô ̣t nhà

văn làm đe ̣p cho quê hương đất nước [19,tr.263-264]

- Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Tro ̣ng trong Viê ̣t Nam thi nhân tiền chiến

đã chỉ ra nhiều cái la ̣ trong thơ Quách Tấn , đó là sự “buô ̣c chă ̣t cái cựu vào cái tân” ,

là “sự hòa đồng giữa hình thức và nô ̣i dung trong thi ca” [33,tr.73]

- Trên tạp chí Thơ ̀ i Tập số 15 năm 1974, Trần Hữu Cư điểm thơ Quách Tấn trong bài viết “Quách Tấn trong buổi chiều vàng của Đông phương” [19,tr.144- 155] Cũng tại tạp chí này, Hồ Ngạc Ngữ có nhận xét về cái nhìn tâm linh trong

sáng tác thơ của Quách Tấn: “Tâm sự văn chương của tiên sinh đã mở ra một con đường rộng lớn dẫn đến những nguồn cội vi diệu của thi ca, trong đó đời sống, con người và thơ đã hòa chan với nhau một cách trọn vẹn Tất cả chỉ là một Và nhà thơ

là một thiền sư đã phá tan được những đại nghi trong tâm hồn đến với đời sống bằng chính cái nhìn tâm linh cao cả nhất”

Qua những bài viết về Quách Tấn từ năm 1945 - 1975 vừa trình bày, có thể nhận thấy rõ một điều hầu hết các nhà phê bình đều đánh giá cao quan điểm tích cực của nhà thơ trong giai đoạn này là tư tưởng Thiền thấm đẫm trong từng ngôn từ thơ, phong vị thơ mang âm hưởng Đường thi như sợi chỉ xanh xuyên suốt các sáng tác của ông Thơ Quách Tấn vẫn tuân thủ tính quy phạm của thể loại nhưng mới ở chỗ dùng chữ đặt câu, hàm súc, đa nghĩa, có chiều sâu tâm linh Ông đã biết gắn chặt cái cựu vào cái tân với một ý tứ tân kỳ đầy mãnh lực Cái mốc thời gian trước năm 1975 giữa hai miền Nam - Bắc có nhiều biến động, có nhiều khác biệt trong cùng một đất nước, nhưng đa phần bạn đọc điều mở lòng mình để chào đón một hồn thơ dung dị mà sâu sắc này, đã chứng tỏ rằng nhà thơ cũ trong thời đại Thơ Mới vẫn có sức lay động lòng người

2.1.3 Như ̃ng bài viết về Quách Tấn từ sau năm 1975 đến nay

Từ sau ngày đất nước thống nhất , đă ̣c biê ̣t là sau khi đổi mới (1986), các nhà nghiên cứu có di ̣p nhìn nhâ ̣n la ̣i mô ̣t số giá tri ̣ cũ , có điều kiện đánh giá lại văn học lãng mạn giai đoạn 1932-1945, trong đó có Thơ Mới, dịp này đi ̣a vi ̣ của Quách Tấn cũng được các nhà nghiên cứu , phê bình đánh giá đúng mức hơn Nhất là sau khi nhà thơ cỡi hạc quy tiên (1992), trên các báo và tạp chí từ Bắc vào Nam , của địa phương hoă ̣c trung ương đều có nhiều bài viết về những kỷ niê ̣m , về cuô ̣c đời , về

Trang 16

thơ văn của nhà thơ lão thành Quách Tấn , tính ra đến trên mấy chục bài Có thể điểm qua vài nét như sau:

- Tên tuổi củ a Quách Tấn đã được đưa vào Từ điển Văn học bô ̣ cũ (tâ ̣p 2, 1984) cũng như bộ mới (2004) Tư ̀ điển Văn học đã nhâ ̣n đi ̣nh “Một tấm lòng vừa ra

đời đã gây nên hai luồng dư luâ ̣n trái ngược Các nhà thơ cổ hoan nghênh , những người hâm mô ̣ “ Thơ Mới” la ̣i làm ngơ Báo Phong Hóa chỉ giới thiệu vắn tắt mà

không bình luâ ̣n gì Hai năm sau, Quách Tấn cho xuất bản tiếp Mùa cổ điển (1941)

Đây là tác phẩm tâm đắc nhất , đồng thời cũng là đỉnh cao nghê ̣ thuâ ̣t của ông Ở

Mùa cổ điển ngòi bút nghê ̣ thuâ ̣t của Quách Tấn điêu luyê ̣n hơn , cảm xúc cũng sâu sắc hơn Một tấm lòng Song nếu như ở Một tấm lòng người đo ̣c còn tìm thấy cái nhìn trong trẻo của nhà thơ trước con người và thiên nhiên thì đến Mùa cổ điển, mỗi

bài thơ đều chất nặng ưu tư, ẩn dấu những nỗi buồn xa vắng, đó cũng là sự phản ánh

xu hướng lãng ma ̣n – thoát ly của phong trào “ Thơ Mới” giai đoa ̣n chuyển sang thoái trào, dưới mô ̣t hình thức nghê ̣ thuâ ̣t tưởng chừng rất x a la ̣ với Thơ Mới” Sau đó, người biên soa ̣n giới thiê ̣u những tâ ̣p thơ di ̣ch từ thơ chữ Hán, những công trình nghiên cứu biên khảo , những tâ ̣p thơ đã xuất bản hoă ̣c chưa xuất bản của Quách

Tấn từ sau 1945 (Từ điển văn học , tâ ̣p 2, tr.250) Và trong Từ điển Văn học bô ̣ mới

(2004), mục từ “Quách Tấn” với nhận định không thay đổi so với bộ cũ, bởi đều do Đặng Thị Hảo viết [24,tr.1470-1471]

- Trong bộ Từ điển Tác gia văn học Việt Nam (2003) Trần Mạnh Thường cho

rằng: “Quách Tấn là một nhà thơ chuyên về Đường luật Có lẽ từ đầu thế kỷ đến nay, không một nhà thơ nào chuyên chú và có công với thơ luật bằng ông; vì ông đã sáng tác trên cả ngàn bài thơ Đường, kể cả thơ dịch Đó là cống hiến lớn của ông đối với lịch sử thơ ca Việt Nam Thơ Quách Tấn – dù là thơ Đường luật – vẫn có cảm xúc mới, ý lạ mà nồng nàn khiến người đọc rung động, bồi hồi theo nỗi lòng cô đơn của tác giả, hoặc đìu hiu như bên sông lạnh mà đó cũng là tiếng hư không từ cõi âm vọng về” [82]

- Nguyễn Hiến Lê , vớ i tư cách là người bạn tâm giao với Quách Tấn, trong hồi

ký của mình đã dành một số trang viết về Quách Tấn và thơ Quách Tấn Ông cho rằng “Quách Tấn là nhà thơ siêng năng nhất , sáng tác mạnh nhất” ; “Quách Tấn

Trang 17

chuyên về thơ luâ ̣t Tôi cho rằng từ đầu thế kỷ đến nay không ai có công với thơ luâ ̣t bằng ông, ông có trên ngàn bài thơ luâ ̣t, kể cả thơ di ̣ch” [19,tr.279-286]

- Trần Phong Giao, trên tuần báo Văn nghê ̣ Thành phố Hồ Chí Minh số 11 năm

1991, cho rằng thơ Quách Tấn càng về sau đã “thấy” đã “nhâ ̣p” vào Thiền, đã “cảm dưỡng hào khí của Thiền tông Viê ̣t Nam” [19,tr.287-296]

- Nguyễn Hoa Lư , trên Khánh Hòa chủ nhật ngày 23 tháng 9 năm 1990, có bài “Một giờ với cụ Quách Tấn”, đã ghi chép lại chuyê ̣n trao đổi giữa ông với nhà

thơ Quách Tấn, bài viết thuật lại chung quanh mối quan hê ̣ giữa nhà thơ với Hàn

Mă ̣c Tử, với Nguyễn Hiến Lê, về nhóm Bàn Thành tứ hữu, về thơ cổ Trung Hoa, về các triết lý tôn giáo, về thơ của chính nhà thơ [19,tr.297-305]

- Tháng 12 năm 1990, Lê Đứ c Dương viết bài “Chiều đông thăm nhà thơ Quách Tấn” , đăng trên Văn nghê ̣ (Hội Nhà văn Việt Nam ) số 10 -1991, ghi la ̣i

những kỷ niê ̣m của người viết nhân mô ̣t lần đến thăm nhà thơ [19,tr.306-314]

“Quách Tấn nửa thế kỷ sau Mùa cổ điển” ghi lại chuyê ̣n trao đổi tản ma ̣n của người viết với nhà thơ lão thành [19,tr.319-324]

- Nguyễn Xuân Nam trong bài “Đến Nha Trang , thăm nha ̀ thơ Quách Tấn” đăng trên Văn nghê ̣ (Hô ̣i Nhà văn Viê ̣t Nam ) số 27 năm 1992 [19,tr.325-329] kể lại

chuyện ông đến nhà thơ , trao đổi chuyê ̣n văn chương , được nhà thơ đo ̣c hai bài thơ viết về Hàn Mă ̣c Tử , mô ̣t bài viết trước 1945 và một bài viết gần đây Tiếp theo,

cuối năm 1992, Hồ Sĩ Hiê ̣p có bài “Tuổi 85 – Quách Tấn” cũng đăng trên Văn nghê ̣

(Hội Nhà văn Viê ̣t Nam) số Xuân Quý Dâ ̣u , 1993 [19,tr.330-332]; Đặng Sĩ Tịnh

viết “Với thi sĩ Quách Tấn những ngày cuối đời” [19,tr.333-340]; Khuê Việt

Trường trên Tuổi Trẻ chủ nhật số 51-1992 có bài “Cuối năm gặp thi sĩ Quách Tấn”

[19,tr.341-343] Những bài viết trên đều g hi la ̣i những kỷ niê ̣m của các tác giả đối với nhà thơ

Vào lúc 07 giờ sáng ngày 21 tháng 12 năm 1992, nhằm ngày 28 tháng 11 năm Nhâm Thân , nhà thơ lão thành Quách Tấn đã cưỡi hạc quy tiên Trên báo chí

có đăng nhiều bài viết về nhà thơ Nhà báo Thế Vũ trên Thanh niên có bài “Nhà thơ Quách Tấn không còn nữa” [19,tr.344-347]; Nhà văn lão thành Võ Hồng viết “Nhớ anh Quách Tấn” [19,tr.350-354] và nhà văn Trần Phong Giao viết “Nhớ thương

Trang 18

Quách lão huynh” [19,tr.355-358], cả hai bài đều đăng trên Tuổi Trẻ chủ nhật ; Nhà thơ Tế Hanh trên Văn nghê ̣ số Xuân Quý Dâ ̣u viết “Riêng nhớ tình xưa ghé bến thăm” với những tình cảm thâ ̣t cảm đô ̣ng của mô ̣t nhà thơ lớ p sau với nhà thơ đàn anh [19,tr.359-362]; Trúc Như viết “Lầu hương vắng bo ́ ng” và nhà thơ Triệu Phong

đo ̣c bài điếu văn “Vĩnh biê ̣t thi sĩ Quách Tấn” , cả hai bài đều công bố trên tạp chí

- Lê Trung Kiệt , trong luâ ̣n văn Tha ̣c sĩ Ngữ v ăn “Mùa cổ điển – tác phẩm khép lại một thời thơ” , Trường Đa ̣i ho ̣c Sư pha ̣m thành phố H ồ Chí Minh , bảo vệ năm 1996, với hai chương viết, ở chương 1, tác giả luận văn nêu lên đôi nét về Thơ mới; chương 2 viết về Mùa cổ điển - tác phẩm khép lại một thời thơ , trong đó người

viết đã trình bày sự nghiê ̣p văn chương của Quách Tấn ; Mùa Cổ điển trong “Thi nhân Viê ̣t Nam”; đóng góp của tiếng thơ cũ trong Thơ mới [30]

- Hoài Yên, trong bài viết “Thấy gì khi đọc bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu” của Quách Tấn” đăng trên tạp chí Hán Nôm, Viê ̣n Nghiên cứu Hán Nôm , Hà Nội,

số 3, năm 2000, đã chỉ ra những chi tiết trong bài thơ mà Quách Tấ n đã tiếp thu từ thơ Đường của Trung Quốc [90]

Trần Đình Sử trong bài Chút duyên với thơ Quách Tấn đã viết như sau:

“Quách Tấn là một nhà thơ đi ngược lại phong trào Thơ Mới, ông vững tâm làm thơ cũ giữa lúc những lời công kích chế giễu thơ cũ đang rộn lên như ong Và ông đã

thắng Đến năm 1941 khi Chế Lan Viên đề tựa tập Mùa cổ điển của nhà thơ cũ Quách Tấn, thì cuộc tranh cãi Thơ Mới - Thơ cũ khép lại Trong Thi nhân Việt Nam, Quách Tấn ngồi chung với các nhà Thơ Mới và Hoài Thanh đã viết những lời

rất nâng niu Hoài Thanh đã bắt trúng hồn thơ Quách Tấn, đồng điệu với ông trong quan niệm thơ là cái đẹp, đem ví thơ với vườn hoa giàu hương sắc của thiên nhiên” [Trần Đình Sử, 19-5-2002] Nhận xét về nghệ thuật thơ Quách Tấn, Trần Đình Sử viết: “Thơ Quách Tấn thuộc dòng thơ Đường luật Việt Nam chảy suốt từ thơ Nôm

cổ điển đến thơ quốc ngữ hiện đại Hơn 600 năm Việt hóa, thơ Đường luật Việt Nam ngày càng tinh tế, điêu luyện với những tên tuổi như Bà huyện Thanh Quan,

Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… đến Quách Tấn thơ Đường luật trở

nên thâm trầm, hàm súc và càng đi sâu vào nghệ thuật của thể loại, mỗi từ, mỗi ý tưởng đều hàm nghĩa Mỗi bài là một ý cảnh độc lập Thơ ông thiên về ý tưởng và

Trang 19

ám thị nhiều hơn là miêu tả và giải bày Từ Một tấm lòng, Mùa cổ điển đến Đọng bóng chiều, Mộng Ngân Sơn, Giọt trăng,… thơ ông như càng ngắn lại, cô đúc lại

với thể loại thất tuyệt, ngũ tuyệt,…”

- Người thực hiện luận văn này cũng có dăm bài viết về Quách Tấn Bài “Va ̀ i ảnh hưởng của thơ Đường đối với thơ lãng mạ n Viê ̣t Nam” trên Tạp chí Khoa học

Xã hội, Viê ̣n Khoa ho ̣c Xã hô ̣i vùng Nam bô ̣ , số 8, năm 2005, đã chỉ ra những ảnh

hưởng của thơ Đường đối với thơ Xuân Diê ̣u , Huy Câ ̣n, Thâm Tâm và Quách Tấn

Vài bài viết khác như: Quách Tấn với quan niệm về việc làm thơ, Tạp chí Nha

Trang, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hoà, số 191, tháng 8-2011 đã nêu lên quan

niệm của Quách Tấn về thơ và việc làm thơ Bài Những thành tựu nghiên cứu phê bình về Quách Tấn từ trước đến nay, Tạp chí khoa học Văn hoá và Du lịch, số 2

(56), tháng 12-2011 đã tổng thuật những thành tựu nghiên cứu về Quách Tấn trong thời gian 70 năm, nghĩa là từ lúc Quách Tấn xuất hiện trên thi đàn với lời bình giá, nhận xét của thi sĩ Tản Đà cho đến những bài viết gần đây về Quách Tấn Bài

Quách Tấn với những cách tân về ngôn ngữ và nhịp điệu thơ, Tạp chí Đại học Sài

Gòn, số chuyên đề Bình luận văn học 2011 đã chỉ ra những đổi mới trong thơ

Quách Tấn về ngôn ngữ và nhịp điệu Bài Quách Tấn với việc sử dụng thể thơ và đổi mới cấu trúc câu thơ, Tạp chí Nha Trang, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hoà,

số 200, tháng 5-2012 đã nêu ý kiến của Quách Tấn về sự lựa chọn thể thơ khi sáng tác và chỉ ra một số đổi mới trong cấu trúc câu thơ Đường luật của Quách Tấn Tóm lại, từ 1975 đến nay, nhất là sau đổi mới, các nhà nghiên cứu phê bình lại một lần nữa khẳng định đóng góp về nội dung, về nghệ thuật của thơ Đường luật

Quách Tấn trong thơ Việt hiện đại Những đóng góp của ông đã được Tự điển văn học xác nhận Ông là người chuyên tâm và có công lớn đối với thể thơ cách luật, đã sáng tác và dịch thuật trên ngàn bài Thơ ông, nếu ban đầu ở Một tấm lòng mang cái trong trẻo hồn nhiên của nhà thơ trước thiên nhiên thì đến Mùa cổ điển lại mang cái

buồn ưu tư xa vắng, nỗi “buồn mà đẹp” này cũng là nét chung của Thơ Mới bấy giờ Ông chuyên sáng tác thơ luật nhưng lại mang cảm xúc mới, ý lạ mà nồng nàn, làm cho người đọc rung động, bồi hồi theo tiếng lòng của tác giả Để rồi càng về sau, thơ ông dường như đã nhập vào Thiền, với những vần thơ thấm đẫm Thiền vị Thơ đường luật Việt Nam qua mấy trăm năm phát triển, đến Quách Tấn, nó trở nên

Trang 20

thâm trầm, hàm súc, đi sâu vào nghệ thuật thể loại, mỗi từ mỗi ý đều hàm nghĩa Thơ ông chứa nhiều ý tưởng và ám thị cô đúc hơn là miêu tả, giãi bày

2.2 Những ý kiến về thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX

Ở trên là những thành tựu nghiên cứu về thơ Quách Tấn từ trước đến nay Còn

ý kiến về thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX, có thể điểm qua như sau:

Thơ Đường luật ở Việt Nam có một lịch sử lâu đời, nó gắn liền với văn hoá Hán khi nền văn hoá này du nhập vào nước ta Ở đây luận văn chỉ tổng thuật đôi nét

về thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX, tức trong giai đoạn hiện đại hoá văn học nước nhà Điều cần lưu ý là, trước thời điểm Thơ Mới xuất hiện thì đã có một vài ý kiến công kích thơ cũ của Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Trịnh Đình Rư Các nhà nghiên

cứu thường nhắc đến bài “Bàn về thơ Nôm” của Phạm Quỳnh đăng trên Nam phong tạp chí, số 5-1917 như là một phản ứng đầu tiên với thơ Đường luật, khi ông viết:

“Người ta thường nói thơ là cái tiếng kêu tự nhiên của con tâm Người Tàu định luật nghiêm cho nghề thơ, thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy cho nó hay hơn, trúng vần trúng điệu hơn, nhưng cũng nhân đó mà làm mất cái giọng thiên nhiên đi vậy” [bđd] Nếu chỉ dựa vào ý này thì rõ ràng Phạm Quỳnh là người đầu

tiên công kích thơ cũ, chủ yếu là thơ Đường luật Năm 1928, trên tờ Đông Pháp thời báo, Phan Khôi phê phán việc dạy thất ngôn luật bằng Quốc ngữ là “tục quá”;

đặc biệt ông lên án lối thất ngôn luật trong khoa cử: “từ ngày đem thất ngôn luật vào trong khoa cử rồi thì thể ấy trở nên bó buộc quá mà mất cả sanh thú” Ngay cả một

vị Cử nhân Hán học là Trịnh Đình Rư, năm 1929, trên tờ Phụ nữ tân văn đã đặt câu

hỏi “Có nên chuộng thơ Đường luật không?”, ông nêu cái khó của thơ luật khiến cho người làm thơ dễ mắc phải như: thất niêm, khổ độc, trần ngôn, sáo ngữ… Ông kêu gọi tìm một giải pháp mới, nhưng không phải tìm cách phá luật mà quay về với các thể thơ truyền thống của dân tộc như Lục bát, Song thất lục bát

Lúc này, tuy đã có vài ý kiến phản đối (nhưng không phải là tẩy chay) thơ

Đường luật, nhưng trên thi đàn, Tản Đà vẫn cho xuất bản các tập: Khối tình con I (1916), Khối tình con II (1918), Còn chơi (1921); Trần Tuấn Khải với các tập: Duyên nợ phù sinh I (1921), Duyên nợ phù sinh II (1923), Bút quan hoài (1927)

Trong những tập thơ trên có nhiều bài viết theo thể Đường luật và vẫn được nhiều độc giả hưởng ứng, thưởng thức Điều đó cho thấy, khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX,

Trang 21

trong quá trình vận động để hiện đại hoá văn học Việt Nam từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại, thì thơ Đường luật vẫn còn được dùng để sáng tác

Đến thời điểm 1932, năm chính thức mở màn của phong trào Thơ Mới, với cái

mốc là bài Tình già của Phan Khôi đăng trên tờ Phụ nữ tân văn ngày 10-3-1932 đã

tạo nên làn sóng hưởng ứng của lớp thanh niên tân học và ít nhiều gây hoang mang cho lớp cựu học Từ đó, trên thi đàn diễn ra hai mặt trận: phái Mới có Phan Khôi, Thế Lữ, Nguyễn Thị Kiêm, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên…; phái Cũ có Nguyễn Văn Hanh, Thái Phỉ, Tùng Lâm, Hoàng Duy Từ… Còn ở giữa hai phái (có thể gọi

là trung gian), người ta ghi nhận có sự hiện của nhà thơ Tản Đà

Khái niệm “phái Cũ”, “thơ Cũ” là do phái Mới, Thơ Mới đặt ra, chủ yếu để ám chỉ lối thơ sáng tác theo thể Đường luật đăng trên các báo công khai hồi đó Sự tấn công của Thơ Mới vào thành trì của thơ cũ không chỉ đơn thuần là sự phá bỏ hình thức thơ cũ, nhất là sự gò bó nghiêm ngặt của thơ cách luật, mà phần nào còn là sự tấn công vào ý thức hệ, những giá trị tinh thần, những tiêu chuẩn thẩm mỹ của văn học trung đại với ý thức hệ phong kiến Dưới cái nhìn của các nhà Thơ Mới thì các nhà thơ cũ chỉ là “thợ thơ”, và thơ cách luật chỉ là loại thơ “con chó đi vô, con mèo

đi ra”, thể Đường luật thì đúng là “cái ngục giam hãm tình tứ” [44] Tất nhiên, Thơ Mới thắng lợi không hoàn toàn do những lời phát biểu công kích thơ cũ, mà quan trọng hơn và chủ yếu là do những thi phẩm mới mẻ của các thi nhân tài năng như: Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… được đông đảo bạn đọc nhiệt liệt và

hồ hởi tiếp nhận

Trong khi đó, trước sự tấn công của phái Mới, những người thuộc phái Cũ như Nguyễn Văn Hanh, Thái Phỉ, Tùng Lâm… đã có phản ứng lại Họ dựa vào thành tựu thơ ca gần 1000 năm của dân tộc để chỉ trích Thơ Mới là thứ thơ “luộm thuộm”,

“văn xuôi”; Nguyễn Văn Hanh trong bài “Thi cũ thi mới” đã chê trách các nhà thơ

ta bắt chước thơ Tây là sai lầm Theo ông, phá niêm, phá cách, nhưng có vần thì còn

được, chứ tự do tới mức những câu như: “Sen, ơi Sen mầy đưa tao đôi guốc,/ Để tao ra vườn ngắm cảnh chơi” thì cũng có thể thành thơ được, ngay Thạch Lam là

nhà văn kiểu mới cũng phải cho là “lạ” quá [dẫn lại: 76,tr.10-11] Sở dĩ, Thơ Mới tấn công thơ Cũ, một phần là do thơ Cũ lúc này chỉ lo chăm chút gò văn gọt chữ, vì thế mà thơ trở nên sáo rỗng, nhạt nhẽo, khô khan Thử đọc lại những bài thơ Đường

Trang 22

luật đăng trên Nam Phong tạp chí lúc bấy giờ sẽ thấy cái nhạt nhẽo vô vị của nó

Điều này, chính nhà thơ Xuân Diệu đã khẳng định trong một bài viết về Tản Đà, sau

khi nhà thơ này đã tạ thế Sau đó, trong Thi nhân Việt Nam, khi tổng kết phong trào

Thơ Mới, Hoài Thanh và Hoài Chân rất có lý khi nói rằng: “Công kích những bài Thơ Mới lủng củng là một chuyện thừa vậy Công kích được những bài có giá trị mới mong tiệt được mầm Thơ Mới Nhưng đã có giá trị thì còn biết biết công kích thế nào!” [74,tr.26] Và trong tình thế ấy “chỉ có một người hoặc có thể làm nên chuyện Người ấy là Tản Đà, một nhà thơ có tài” [74,tr.25] “Nhưng đối với Thơ Mới, Tản Đà lại hết sức dè dặt” [74,tr.25], và lúc này, Tản Đà bị cả hai phái tranh

giành, nhưng ông vẫn có cảm tình đặc biệt với thơ cũ, bằng chứng là trên tờ An Nam tạp chí, ông viết nhiều bài bình luận về thơ Đường luật, ông khen thơ Đường

luật của Tham Toàn, Quách Tấn rất hay và công phu Chính sự bênh vực của Tản

Đà cùng một số bài thơ Đường luật khá nhuần nhị của Quách Tấn, Tham Toàn,

Bích Khê… đăng trên An Nam tạp chí đã khiến nhiều nhà thơ cũ lấy lại được tự tin

trong sáng tác Chẳng hạn, tháng 4 năm 1935, hai ông Tường Vân và Phi Vân xuất

bản tập thơ cũ ở Vinh: Những bông hoa trái mùa; năm 1936, Hàn Mặc Tử cho xuất bản tập Gái quê ở Quy Nhơn, trong đó có một số bài thơ Đường luật; nhưng phải đợi đến năm 1939, khi Quách Tấn cho xuất bản tập Một tấm lòng với lời Tựa của

Tản Đà và lời Bạt của Hàn Mặc Tử thì phần nào đã xua tan không khí ảm đạm của

thơ cũ; để đến năm 1941, Quách Tấn cho xuất bản tập thơ Đường luật thứ hai: Mùa cổ điển thì bạn đọc và các nhà Thơ Mới buộc lòng phải công nhận “giọng thơ nhẹ

nhàng, êm ái, có sức cuốn hút lạ lùng” này, thậm chí ngay khi đọc bản thảo tập thơ,

có người đã thốt lên “chỉ một bài Đêm thu nghe quạ kêu chừng ấy thôi cũng đủ cho

ta thấy thi sĩ đã vượt lên trên những thi sĩ có tiếng như: Bà huyện Thanh Quan, Yên

Đổ, Chu Mạnh Trinh…” như ý kiến của Bích Khê [19,tr.59];[71,tr.414], để sau đó,

Hoài Thanh và Hoài Chân đã xếp ông một chỗ ngồi xứng đáng trong Thi nhân Việt

Từ sau 1945, đối với thơ Đường luật, các nhà nghiên cứu nhìn nhận có chiều

hướng thống nhất Trong các công trình văn học sử như: Thi văn Việt Nam (Hoàng Xuân Hãn, 1951), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam tập 3 (Nhóm Lê Quý Đôn: Vũ Đình Liên - Trương Chính - Đỗ Đức Hiểu, 1957), Mấy vấn đề văn học sử Việt

Trang 23

Nam (Trương Tửu, 1958), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (Ban Văn Sử Địa: Văn Tân - Nguyễn Hồng Phong - Nguyễn Đổng Chi, 1959), Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập 4 (tủ sách ĐHSP, 1961), Văn học Việt Nam 1930-1945 (Phan Cự Đệ - Bạch Năng Thi, 1966), Lịch sử văn học Việt Nam tập 5, phần 1 (tủ sách ĐHSP,

1976, tb), Văn học Việt Nam 1900-1945 (Phan Cự Đệ - Trần Đình Hượu - Nguyễn

Trác - Nguyễn Hoành Khung - Lê Chí Dũng - Hà Văn Đức, Nxb GD, tb, 2000)… trong các bài khái quát đã có những đánh giá chung về thơ Đường luật nửa đầu thế

kỷ XX dù chỉ lướt qua, nhưng cái nhìn đã có tính hệ thống và khách quan hơn, thừa nhận sự tồn tại của thể loại này về số lượng, còn giá trị của nó vẫn là ý kiến khá sơ lược và thiên về nội dung hơn là hình thức nghệ thuật, trong đó đáng lưu ý là thơ Đường luật ở bộ phận thơ ca cách mạng được đánh giá cao hơn, còn thơ Đường luật

ở bộ phận thơ ca hợp pháp thì dường như ít nhắc đến, nếu có thì thiên về phủ nhận hơn là khẳng định

Bàn về thể thơ Đường luật, trước năm 1945 có một số công trình sau đây đã đề

cập đến, dù mức độ nông sâu có khác nhau: Việt Hán văn khảo (Phan kế Bính, 1918), Quốc văn cụ thể (Bùi Kỷ, 1927), Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm, 1943), Đường luật chỉ nam (Phạm Huy Toại, 1951), Thơ ca Việt Nam: hình thức và thể loại (Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức, 1971), Phong trào Thơ Mới

(Phan Cự Đệ, 1982)… đã nêu và phân tích sự vận động của thể thơ Đường luật ở Việt Nam, trong đó có nói về những thay đổi về mặt hình thức thơ Đường luật nửa

đầu thế kỷ XX Chẳng hạn, Phan Cự Đệ trong Phong trào Thơ Mới đã dành gần 8

trang để phân tích sự giao thoa giữa thơ Cũ và Thơ Mới, trong đó có nêu “Trong những bài thơ Đường luật của Hàn Mặc Tử, Quách Tấn đã có cái xôn xao, cái băn khoăn khó nói của thời đại mới… Có khi ở Quách Tấn, Phạm Văn Hạnh, hình thức thơ Đường chỉ là cái áo khoác ngoài của một tâm hồn mới và hiện đại” [14,tr.232-233]

Lã Nhâm Thìn trong luận án PTS “Thơ Nôm Đường luật” (1993), trên cơ sở

nhìn lại cả một chặng đường dài lịch sử, những thành công và hạn chế của thơ Nôm Đường luật trong lịch sử thơ ca Việt Nam, đã khẳng định: “Bước sang thế kỷ XX, tuy chữ Nôm đã mất hẳn vai trò trong cuộc sống và trong sáng tác văn học, nhưng thể Đường luật vẫn tìm được chỗ đứng cho mình Hình thức thơ quy phạm, trang

Trang 24

trọng, chuyển tải một mội dung hài hước “không nghiêm chỉnh” đã tạo thế mạnh cho thơ trào phúng” [78,tr.44]

Lê Đức Niệm trong Diện mạo thơ Đường (1995) đã khẳng định sự hiện diện khá bề thế của thể thơ Đường luật trong tập Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh và

nhận xét: “Thơ Đường luật của Bác mang phong vị thơ Đường nhưng đã hiện đại hoá… Thơ chữ Hán của Bác đã mở rộng phạm vi phản ánh nhiều vấn đề to lớn của thời đại” [50]

Lê Sĩ Đại trong Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường

(1996) cũng có nhắc đến sức sống của hồn thơ Đường và thể Đường luật trong thơ Việt giai đoạn sau năm 1930

Ngô Văn Phú trong Thơ Đường ở Việt Nam (1996) đã nêu quá trình du nhập

của thơ Đường, trong đó có thể thơ Đường luật và ảnh hưởng của nó đối với thơ Việt Nam Theo ông, thơ Đường luật đã được các sĩ phu yêu nước dùng làm vũ khí đấu tranh với những tên tuổi lớn như Phan Đình Phùng, Nguyễn Hữu Huân, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng… làm sáng danh cho thơ Đường luật… Sau này, thơ Đường luật còn được Tú Mỡ, Đồ Phồn vận dụng trong thơ trào phúng

Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại (1999) đã dành

một mục viết về đặc trưng thi pháp của thơ Tự tình, trong đó có nhắc đến thể thơ Đường luật [58,tr.170-181]

Trần Thị Lệ Thanh trong luận án Tiến sĩ Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (2002) đã khảo sát trên 5.000 bài thơ Đường luật để khẳng định: Sự hiện

diện của thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (chương 1); Hệ thống đề tài

và cảm hứng chủ đạo trong thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: thiên nhiên, yêu nước, lịch sử, nhân thế (chương 2); Những đặc điểm về ngôn ngữ của thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: từ ngữ, ngữ pháp, ngữ âm (chương 3) [76]

Tóm lại, từ những đánh giá và nhận định trên của các nhà nghiên cứu phê bình, có thể nói thơ Quách Tấn là một hiện tượng độc đáo của nền văn học Việt Nam trong buổi giao thời của Thơ Mới và thơ Cũ Quách Tấn đã tuân thủ những luật lệ quy phạm của các thể thơ Đường luật, nhưng ông biết làm mới, làm nổi bật

Trang 25

thể thơ này bằng cách kết hợp những tinh hoa ấy với nội dung hiện thực tươi mới, sinh động, mang hơi hướng của cái tôi cá nhân và phần nào cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng thời đại, mang nặng nỗi niềm riêng tư của cá nhân hòa cùng nỗi đau của dân tộc Tất cả những ý kiến trên đã giúp cho người viết luâ ̣n văn có đi ̣nh hướng chung để dàn dựng ý tưởng trong quá trình thực hiện đề tài

3 ĐỐI TƯƠ ̣NG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài mà luâ ̣n văn nghiên cứu là Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn Các tập thơ đã xuất bản của Quách Tấn đều sáng tác theo thể thơ

Đường luật, trong đó có một số rất ít bài viết theo thể lục bát, thể đồng dao Ở đây,

để xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn , luận văn chỉ giới hạn đối tươ ̣ng và phạm vi nghiên cứu là hai tập thơ của Quách Tấn xuất bản trước năm

1945: Một tấm lòng và Mùa cổ điển là chủ yếu , và ít nhiều có liên hệ đến nhữ ng sáng tác thơ của Quách Tấn xuất bản sau năm 1945 cho đến khi ông ta ̣ thế vào năm

1992 như: Đọng bóng chiều , Mộng Ngân Sơn, Giọt trăng, Vui với trẻ em v.v , và Tiếng vàng khô (bản thảo đánh máy , chưa xuất bản ); đồng thời ít nhiều có so sánh với thơ Đường luật trên Nam Phong tạp chí và trong phong trào Thơ Mới để nhằm

thấy được nét riêng và đóng góp của Quách Tấn trong phong trào Thơ Mới nói riêng, trong thơ ca hiện đại nói chung khi ông đã lựa chọn một thể thơ cũ để sáng tác Nhưng Quách Tấn không chỉ làm thơ, mà ông còn nghiên cứu biên khảo về văn hoá, viết thi thoa ̣i và hồi ký cùng dịch thuật thơ chữ Hán Qua mô ̣t số hồi ký cùng thi thoa ̣i, người đo ̣c sẽ hiểu sâu hơn về cuô ̣c đời của ông ; về mối quan hê ̣ của ông với các nhà nghiên cứu , nhà văn hoá và các văn nghệ sĩ đương thời ; về quá trình hình thành các tập thơ cũng như nguyên do sáng tác một bài thơ Vì thế, để dựng lại cuô ̣c đời, sự nghiê ̣p, tìm hiểu giá trị nội dung , nghê ̣ thuật thơ Quách Tấn , bên ca ̣nh những sáng tác thơ , chúng tôi còn đọc các hồi ký , thi thoa ̣i của ông ; đo ̣c những gì

mà các nhà nghiên cứu , những văn nghê ̣ sĩ viết về ông , về thơ của ông , để có cái nhìn toàn diện hơn khi thực hiện đề tài

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là đề tài nghiên cứu về một thể loại thơ của một tác giả có so sánh thơ của các tác giả khác cùng thời trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, cho nên luận văn sử du ̣ng phương pháp chủ yếu là phương p háp loại hình để nghiên cứu về loại

Trang 26

hình thể loại thơ Đường luật của Quách Tấn và của các tác giả khác đăng trên báo chí cùng thời và trong phong trào Thơ Mới, bên cạnh sử dụng một số phương pháp

Tất cả những phương pháp trên được vận dụng đan xen khi nghiên cứu nhằm xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn về nội dung cảm hứng, về nghệ thuật biểu hiện, để chỉ ra nét riêng trong thơ Quách Tấn , lý giải vì sao giữa lúc Thơ mới chịu ảnh hưởng phương Tây đan g đô ̣c chiếm thi đàn và thơ c ũ của các nhà thơ lớp trước bi ̣ công kích , vâ ̣y mà thơ Quách Tấn vẫn đứng vững vàng, được các nhà Thơ Mới mở cửa đón chào, đươ ̣c công chúng ái mô ̣ và được nhà phê bình Hoài

Thanh xếp cho mô ̣t chỗ ngồi xứng đáng trong Thi nhân Viê ̣t Nam

5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Tìm hiểu về Quách Tấn và thơ của ông, từ trước đến nay có không ít người

quan tâm; tìm hiểu về thơ Đường luật trên Nam Phong tạp chí và trong phong trào

Thơ Mới rải rác đó đây cũng được các nhà nghiên cứu nhắc đến trong một vài công

trình, đặc biệt là luận án Tiến sĩ của Trần Thị Lệ Thanh đã tìm hiểu “Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào đặt vấn đề Xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn để nghiên cứu Do

vậy, đây là một đề tài tương đối mới và khó Đề tài này có vài đóng góp mới:

Một là, xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật nói chung, thơ Đường luật của Quách Tấn nói riêng, trên cơ sở đối chiếu so sánh với thơ Đường luật trong văn học Việt Nam hồi nửa đầu thế kỷ XX trong bối cảnh hiện đại hoá văn học nước nhà Hai là, tìm hiểu mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn nhìn từ phương diện nội dung cảm hứng

Ba là, tìm hiểu mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn nhìn từ phương diện nghệ thuật biểu hiện

Trang 27

Ở đây khi xác lập mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn ở các phương diện, luận văn ít nhiều có cái nhìn so sánh đồng đại, nhằm chỉ ra nét đặc sắc rất riêng của Quách Tấn khi sử dụng thể thơ này để sáng tác lúc Thơ Mới thắng thế trên thi đàn, mà thơ của ông tuy sáng tác theo thể loại cũ nhưng vẫn được các nhà Thơ Mới nồng nhiệt đón nhận và mở rộng cửa để ông ung dung bước vào thi đàn

6 GIỚI THIỆU CẤU TRÚC LUÂ ̣N VĂN

Luâ ̣n văn được viết 158 trang chính văn Ngoài phần Mở đầu 22 trang

(tr.1-tr.22) trình bày những vấn đề chung , trọng tâm của luận văn đư ợc triển khai trong

- Chương 2: Mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn nhìn từ nội dung cảm hứng, 38 trang (tr.74-tr.111) Chương này đi sâu tìm hiểu mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn nhìn từ nội dung cảm hứng, cụ thể là từ đề tài, những cảm hứng chủ đạo, mà từng khía cạnh, ít nhiều có so sánh với thơ Đường luật trên

Nam Phong tạp chí và trong phong trào Thơ Mới

Chương 3 Mã nghệ thuật thơ Đường luật của Quách Tấn nhìn từ nghệ thuật biểu hiện, 41 trang (tr.112-tr.151) Chương này nêu lên quan niệm của Quách Tấn

về việc làm thơ, việc lựa chọn và sử dụng thể thơ, những cách tân về ngôn ngữ thơ, đổi mới trong cấu trúc câu thơ, nét mới trong tổ chức nhịp điệu và hệ thống giọng điệu để bộc bộ phong cách riêng Cuối mỗi chương đều có Tiểu kết Cuối cùng là Kết luận, 04 trang (tr.152-tr.155), Tài liệu tham khảo với 94 danh mục Phần Phụ lục là Danh mục những bài viết của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận văn

Trang 28

Chương 1 THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA QUÁCH TẤN VÀ XÁC LẬP MÃ NGHỆ THUẬT THƠ ĐƯỜNG LUẬT

1.1 QUÁCH TẤN: NHÀ THƠ XUẤT SẮC CỦA DÕNG THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI 1.1.1 Cuộc đời

Quách Tấn sinh ngày 23 tháng 11 năm Kỷ Dâ ̣u (tức 04-01-1910) nhưng ghi trong giấy khai sinh là 01-01-1910 (Đúng ra, năm Kỷ Dâ ̣u âm li ̣ch ứng với dương lịch là 1909, nhưng vì gần cuối năm âm li ̣ch nên mới sang tháng giêng dương li ̣ch của năm sau) Ông chào đời ta ̣i thôn Thuâ ̣n Nghĩa , sau khi đã đầy tháng thì mẹ đưa

về sống tại thôn Trường Định , huyện Bình Khê , tỉnh Bình Định (tức xã Bình Hòa , huyê ̣n Tây Sơn, tỉnh Bình Định hiện nay) là quê hương của mẹ

Lúc nhỏ Quách Tấn học chữ Hán với thầy đồ trong làng , nhưng không thấy hứng thú, thường bỏ ho ̣c đi chơi Đến năm 12 tuổi, ông bỏ ho ̣c chữ Hán , theo cha học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp tại trường Pháp - Viê ̣t Quy Nhơn (Quốc ho ̣c Quy Nhơn) Năm 19 tuổi (1929), ông thi đâ ̣u bằng Cao đẳng Tiểu ho ̣c (Primaire Supérieur) Vì lúc này cha mẹ đã qua đời (cha mất năm 1923, mẹ qua đời năm 1928) nên Quách Tấn phải xin đi làm viê ̣c ở Tòa sứ của Pháp để nuôi hai em Ông đươ ̣c bổ làm phán sự Tòa sứ ta ̣i tòa Khâm sứ Huế (1930), rồi đổi lên Tòa sứ Đồng Nai Thươ ̣ng ở Đà La ̣t , làm việc tại đây cho đến năm 1935 mới được đổi xuống làm viê ̣c ta ̣i Tòa sứ Nha Trang

Năm 1945, cả nước hồ hởi tham gia khởi nghĩa , giành chính quyền , tiếp theo

là kháng chiến chống Pháp bùng nổ , gia đình ông tản cư về Bình Đi ̣nh Cũng như nhiều văn nghê ̣ sĩ khác , Quách Tấn tham gia kháng chiến chống Pháp , làm thủ quỹ cho Ủy ban ủng hô ̣ kháng chiến và Mă ̣t trâ ̣n Liên hiê ̣p Quốc dân huyê ̣n Bình Khê (1945-1949)

Từ năm 1949 đến năm 1951, ông mở trường Trung ho ̣c tư thu ̣c Mai Xuân Thưởng ta ̣i thôn An Chánh huyê ̣n Bình Khê , tỉnh Bình Định Năm 1951, ông được điều đô ̣ng da ̣y trường Trung ho ̣c An Nhơn rồi trường Trung ho ̣c Bình Khê (1951-

Trang 29

Cuô ̣c kháng chiến chốn g Pháp kết thúc , ông đưa gia đình hồi cư về lại Nha Trang (1954) Lúc này, chính quyền miền Nam đã tái bổ nhiệm ông vào ngạch Thư

ký hành chính Từ đó cho đến năm 1965, ông đã làm viê ̣c ta ̣i Tòa Hành chính Quy Nhơn (1955-1957), Sở Du lịch Huế (1957-1958), Ty Kiến thiết Nha Trang (1958-1963), Tòa Hành chính Nha Trang (1963-1965) Năm 1965, ông nghỉ hưu và tiếp tục viết văn làm thơ

Năm 1987, ông bi ̣ mù mắt Từ đây cho đến khi từ giã cõi đời (1992), mă ̣c dù tuổi cao (quá bát tuần ) và đôi mắt bị mù , nhưng ông vẫn chưa chi ̣u dứt nợ văn chương Ngoài cái thú làm thơ , ông còn dùng trí nhớ của mình đo ̣c cho con cháu chép lại những chuyện xưa , tích cổ, những tài liê ̣u cũ rất hiếm người biết, ngỏ hầu lưu la ̣i cho mai sau

Thân phu ̣ ông là Quách Phương Xuân , lúc nhỏ học chữ Hán , lớn ho ̣c chữ Pháp, đâ ̣u bằng Thành chung Bình sinh, cụ rất ham văn chương , nhất là thơ văn Quốc âm Khi làm thông ngôn cho hãng Délignon ở Phú Phong tỉnh Bình Định , cụ

có mở lớp dạy Quốc văn và Pháp văn (không lấy tiền ) cho con cháu và con em trong ha ̣t Tính tình ông cụ vui vẻ , phóng khoáng, hay bông đùa , thỉnh thoảng làm thơ, thiên về loại trào phúng

Thân mẫu là Trần Thị Hào , con nhà cự tô ̣c , tinh thông chữ Hán , thuô ̣c thơ Nôm rất nhiều và viết chữ Hán rất đe ̣p Tính bà nghiêm minh, dạy con cái lấy nghĩa nhân làm gốc

Chính cách sống của song thân đã ảnh hưởng lớn đến tâm tính và cuô ̣c đời của nhà thơ Quách Tấn

Anh em gồm 10 ngườ i nhưng còn sống đến lớn chỉ có 3 người: Quách Tấn , Quách Tạo và Quách Thị Mộng Lan

Quách Tấn lập gia đình năm 1929, vợ là Nguyễn Thi ̣ Nhiếp , hiê ̣u Thanh Tâm người ở thôn Phú Phong , huyê ̣n Bình Khê , tỉnh Bình Định, sinh được 12 con, sống đến lớn được 8 người, hiê ̣n nay còn 6 (2 nam, 4 nữ)

Lương ít, con đông, suốt đời làm công chức thanh liêm nên nhà thơ không có

gì để lại , trừ ngôi nhà ngói mua được hồi mớ i đổi vào làm viê ̣c ta ̣i Nha Trang (1935) Ngôi nhà kiến trúc kiểu biê ̣t thự “nhỏ mà xinh xinh” , có một cây mận to

Trang 30

trồng trước sân , thể hiê ̣n cái phong thái nho nhã , cái đức tính giản dị , khiêm tốn , thanh đa ̣m mà chững cha ̣c của ông

Như trên có nói , từ năm 1935, ông về làm phán sự ta ̣i Nha Trang , Khánh Hòa

và đã chọn thành phố biển làm quê hương thứ hai , sống ta ̣i đây cho đến lúc tạ thế vào lúc 07 giờ 10 phút ngày 28 tháng 11 năm Nhâm Thân (tức 21-12-1992) tại số nhà 12 đường Bến Chợ , phường Xương Huân , thành phố Nha Trang , tỉnh Khánh Hòa (hiê ̣n con cháu của Quách Tấn vẫn đang sinh sống ta ̣i đây và ngôi nhà cũng là

đi ̣a điểm viếng thăm của nhiều người có tấm lòng yêu mến nhà thơ)

1.1.2 Sự nghiệp văn chương

Quách Tấn tự Đăng Đạo , hiê ̣u Trường Xuyên , còn có các hiệu : Đi ̣nh Phong,

Cổ Bàn Nhân, Thi Na ̣i Thi ̣, Lão Giữ Vườn

Quách Tấn tập làm thơ từ năm 1925, lúc học Đệ Nhất niên (như lớp 6 hiê ̣n nay) ở trường Trung học Quy Nhơn (Collège de Quy Nhon ) Thầy vỡ lòng là giáo

sư Hà Văn Bính , sách vỡ lòng là Quốc văn trích diễm của giáo sư Dương Quảng

Hàm Nhờ ảnh hưởng của song thân nên Quách Tấn đã quen hơi hướng và dáng d ấp của thi ca , vì thế ông thu nhận được dễ dàng những lời giảng dạy ở lớp Cuối niên khóa 1925-1926, ông đã thông tha ̣o các nguyên tắc đa ̣i cương về các thể Đường luâ ̣t, Lục bát , Song thất lu ̣c bát , Ca trù và đã làm được năm mười bài đúng niêm luâ ̣t Lúc ra trường (1929), Quách Tấn đã thạo các thể thơ Đường luật và các thể thơ Viê ̣t Nam Mãi đến năm 1932 nhờ Tản Đà tiên sinh dìu dắt và Phan Sào Nam tiên sinh nâng đỡ, ông mới chính thức bước vào làng thơ

Quách Tấn làm thơ chuyên về thể thơ Đường luật , các bài thơ của ông thường

đăng ở An Nam tạp chí (Hà Nội), Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), Tiếng Dân (Huế)

Ngoài nhà thơ Tản Đà (vừa là thầy , vừa là ba ̣n văn chương ), những ba ̣n bè thiết cốt trước đây như : Hàn Mạc Tử , Chế Lan Viên , Yến Lan, Bích Khê, cũng đã ảnh hưởng đến đời văn chương của ông Bên cạnh, cũng phải kể cả hai người tình như hai luồng gió đã làm rung đô ̣ng những dây đàn hồn thơ nơi ông Mối tình và

hình ảnh của “đóa khoe tươi” thường thấp t hoáng trong tác phẩm ông , đó là Liên Tâm, người giúp cho tâm hồn ông bớt khô khan Nếu không gă ̣p nàng , có thể Mùa cổ điển vẫn giữ tính chất như Một tấm lòng và những tác phẩm sau không có hương

sắc của tình yêu Và một người nữa là Chức Thành , người đã đem trở la ̣i nơi ông

Trang 31

mô ̣t nguồn cảm hứng ma ̣nh mẽ, sau 10 năm tâm hồn và thân xác bi ̣ nhiều nỗi đời đè

ép đến gần như khô cằn

Thời bấy giờ phong trào Thơ Mới nổi lên công kích thơ Đường luâ ̣t (thường gọi là thơ cũ ) hết sức ki ̣ch liê ̣t Nhưng Quách Tấn vẫn “Quyết giữ mô ̣t lòng thủy chung với nguồn cảm hứng và lề lối sáng ta ̣o của mình” , ung dung làm thơ Đường luâ ̣t “Sau khi người đa ̣i diê ̣n cho thơ cổ điển trong thời tiền chiến là thi sĩ Tản Đà từ trần, ông là người đô ̣c nhất đa ̣i diê ̣n cho thơ cổ điển trong thời hâ ̣u chiến Và với

mô ̣t nghê ̣ thuâ ̣t sáng tác trác luyê ̣n đô ̣c đá o, riêng biê ̣t của mình , ông đã có mô ̣t chỗ ngồi riêng biê ̣t trên thi đàn và trong văn ho ̣c sử Viê ̣t Nam” [19]

+ Như ̃ng tâ ̣p thơ tiêu biểu của Quách Tấn:

Năm 1939, Quách Tấn góp những bài thơ đã làm từ trước cho xuất bản Một tấm lòng, nhà in Thụy Ký , Hà Nội xuất bản Tản Đà viết lời Tựa [63,tr.7-9] và Hàn

Mặc Tử viết lời Ba ̣t [63,tr.89-93]

Năm 1941, Quách Tấn cho ra tiếp Mùa cổ điển do nhà in Thu ̣y Ký , Hà Nội

xuất bản, Chế Lan Viên viết lời Tựa vào đ ầu xuân năm 1941 [64,tr.9-16] Tập thơ sau đó đươ ̣c Nxb Tân Việt Sài Gòn tái bản năm 1960, bản in lần này giữ lại 29 bài trong tâ ̣p cũ và có thêm 30 bài mới, đây là những bài được viết từ năm 1945 đến năm 1956

Năm 1965, ông cho ra mắ t Đọng bóng chiều (bản in tại Paris , không ghi nhà

xuất bản) Tâ ̣p thơ gồm 108 bài thất tuyệt chọn lọc trong số thơ làm từ xuân 1941

đến xuân 1958 So với Mùa cổ điển, tâ ̣p thơ này có cách kiến trúc công phu , già dặn

và mới m ẻ hơn Tuy vâ ̣y , nô ̣i dung thi phẩm đã chứng tỏ ông vẫn giữ bản sắc của mình không chịu ảnh hưởng của thời đại , trước sau ông cũng chỉ là ông , mô ̣t nghê ̣

sĩ Chính đây là điều độc đáo của Quách Tấn , nó đã khiến ông giữ mộ t tư thế riêng

biê ̣t trên thi đàn Viê ̣t Nam Trước khi đổi tên thành Đọng bóng chiều , bản thảo tập thơ này có nhan đề là Lá mã tiền Có sự thay đổi nhan đề tập thơ , như chính Quách

Tấn cho biết ở Lời nói đầu của tâ ̣p thơ : “Tâ ̣p thơ này gồm 108 bài thất tuyệt Mô ̣t

bài rút ở Một tấm lòng, sáu bài trích ở Mùa cổ điển, mô ̣t trăm bài cho ̣n trong số thơ làm từ xuân 1941 đến xuân 1958 Trước kia lấy tên là Lá mã tiền do mô ̣t trong những bài tuyê ̣t cú đầ u tiên có câu “Theo thời hoa cỏ đua màu thắm ; Ngậm đắng

Trang 32

riêng đôi khóm Mã Tiền” Nhưng khi đem ra sắp xếp la ̣i , nhâ ̣n thấy tên sá ch không nói trọn niềm Thơ, bèn đổi lại là Đọng bóng chiều cho hợp tình, hợp cảnh”

Năm 1966, ông cho ấn hành Mộng Ngân Sơn gồm 135 bài ngũ ngôn tuyệt cú ,

làm từ 1947 đến 1965 Ngân Sơn là đi ̣a danh mô ̣t xã miền núi tỉnh Phú Yên , nơi mà

em trai của ông là Quách Ta ̣o (Quách Kiến Đạo ) đã ở trong những ngày tản cư (1947) Tập thơ do nhà xuất bản Hoa Nắng , số 8, Guy de la Brosse , Paris 5e, xuất bản Qua thi phẩm , ông cũng vẫn tự ta ̣o cho mình mô ̣t nếp sống riêng biê ̣t , thảnh thơi, vươ ̣t khỏi những vương vấn xích xiềng của xã hô ̣i đang xáo trô ̣n , phân hóa

và xác định thêm sự chọn lựa của mình trên thi đàn

Năm 1973, nhà xuất bản Rừng Trúc (Paris) in lần thứ nhất tâ ̣p Giọt trăng nhân

dịp Tết Quý Sửu Ấn bản gồm 60 bài thơ ngũ tuyệt (rút trong một số 100 bài sáng

tác tro ng thời gian từ 1966-1972) Trong lời Tựa Nhìn ngắm giọt trăng (viết ở

Paris), Thi Vũ đã đánh giá rất cao tâ ̣p thơ này “thi nhân như bước xa vào cõi Như

Nhiên hùng vĩ” [68,tr.17], chỉ mới nhìn tập thơ in trên giấy Tuyết đào , bìa in trên giấy Trúc non , mà khi cầm đến , người đo ̣c đã cảm thấy ngay sự êm di ̣u , chỉ muốn nâng niu

Hai tâ ̣p thơ tiếp theo, Vui với trẻ em (1994) và Trăng hoàng hôn (1999) đều do

kỷ XV): Lữ Đường thi tuyển di ̣ch, Nxb Văn ho ̣c, Hà Nội, 2000

+ Như ̃ng tác phẩm thơ khác của Quách Tấn:

Những tác phẩm sau đều chưa xuất bản (tư liê ̣u do gia đình nhà thơ cung cấp)

- Viết tư ̀ năm 1955 đến 1975:

1 Vị la phù (1956) Thơ ngẫu chiếm làm trong lúc rảnh để mua vui

2 Tiếng va ̀ ng khô (1972) Thể thơ Đường luâ ̣t thất ngôn

3 Nhánh lục (1972) Thơ lục bát

Trang 33

4 Mây cổ tha ́ p (1973) Thơ ngũ ngôn bát cú

5 Cánh chim thu (1975) Thơ ngũ ngôn và thất ngôn bát cú

- Viết tư ̀ 1976 đến 1986:

1 Nư ̉ a rừng trăng lạnh (1976) Thơ lu ̣c bát

2 Trăng hoa ̀ ng hôn (1977) Thơ lu ̣c bát tứ tuyê ̣t

3 Giàn hoa lý (1979) Thơ lục bát tứ tuyê ̣t

4 Phấn bươ ́ m còn vương (1983) Thơ thất ngôn bát cú

5 Trăm thiên Đươ ̀ ng luật Thơ thất ngôn luâ ̣t tuyển cho ̣n trong các tâ ̣p thơ

- Viết từ 1987 đến 1992:

1 Móc đọng tàu cau Thơ thất ngôn luật

2 Ao đắp tâm tư Thơ thất ngôn luật

3 Xuân còn rơi rớt (1992) Thơ thất ngôn luâ ̣t

+ Thơ di ̣ch và văn biền ngẫu (1955-1975) chưa xuất bản:

1 Viê ̣t Nam Hán thi tuyển di ̣ch (dịch thơ cổ từ triều Đinh đến triều Nguyễn và

thơ Đường - Tống)

2 Tâ ̣p văn biền ngẫu: gồm trên 15 bài văn tế, văn bia

+ Tác phẩm văn xuôi:

Năm 1942, ông cho in tâ ̣p văn xuôi Trăng ma lầu Viê ̣t Tác phẩm này được

Nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 2003 Đây là tập truyện ngắn theo thể truyền kỳ , được

tác giả viết phỏng theo tâ ̣p Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

Trong thời gian này , tâ ̣p Duyên Tiên hoàn tất, cũng thuộc thể truyền kỳ , viết phỏng theo tập Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm

Năm 1958 đến 1960, xuất bản 4 tâ ̣p Nghìn lẻ một đêm, chuyê ̣n cổ nước Ả Râ ̣p,

viết phỏng theo Mille et une nuits của Galland và Mille nuits et nuit của Mardrus Năm 1994, 04 tâ ̣p Nghìn lẻ một đêm được tái bản

Năm 1968, xuất bản tâ ̣p đi ̣a phương chí Nước non Bình Đi ̣nh

Năm 1969, xuất bản tập Xứ Trầm hương , đây là công trình biên khảo về đi ̣a

phương chí tỉnh Khánh Hòa Sau đó được tái bản vào các năm 1992, 2002 bởi Hô ̣i Văn ho ̣c Nghê ̣ thuâ ̣t tỉnh Khánh Hòa

Trang 34

Hai tâ ̣p Nước non Bình Đi ̣nh và Xứ Trầm hương được đông đảo đô ̣c giả và các

nhà nghiên cứu ngợi ca và đánh giá Quách Tấn không chỉ có tài năng ở thơ mà còn lỗi la ̣c về biên khảo văn hoá nữa

Năm 1971, tâ ̣p truyê ̣n ký trích trong tâ ̣p hồi ký Bóng ngày qua của Quách Tấn đươ ̣c xuất bản Tâ ̣p này viết về Đời Bích Khê

Năm 1988, ông cho xuất bản 03 tâ ̣p văn xuôi:

- Nhà Tây Sơn (viết chung vớ i Quách Giao , ghi chép dựa theo những tài liê ̣u của phụ thân ông để lại Đây chỉ là mô ̣t số tư liê ̣u được cho ̣n lo ̣c, được sắp xếp có hê ̣ thống bằng lời văn thuâ ̣t chuyê ̣n giản di ̣, tự nhiên và lôi cuốn người đo ̣c

- Đôi ne ́ t về Hàn Mặc Tử : Đây là cuốn hồi ký của tác giả ghi la ̣i những kỷ niê ̣m cùng lời giới thiê ̣u, bình giá về thơ Hàn Mặc Tử

- Họ Nguyễn thôn Vân Sơn giớ i thiê ̣u thân thế và sự nghiê ̣p văn chương của ho ̣ Nguyễn thôn Vân Sơn gồm có cu ̣ tú Nguyễn Khuê (cha) và 4 người con là Nguyễn

Bá Huân, Nguyễn Tro ̣ng Trí , Nguyễn Thúc Mâ ̣u , Nguyễn Quý Luân Theo Quách Tấn, họ đều là những kẻ sĩ có chí khí và tài năng lỗi lạc của tỉnh Bình Định

Những tác phẩm văn xuôi khác chưa xuất bản:

- Viết từ năm 1955 đến 1975:

1 Hương vươ ̀ n cũ: thi thoa ̣i nói về thơ văn cổ từ đời Trần đến đời Nguyễn

2 Trong vươ ̀ n hoa thơ: thi thoại về thơ Đường luật hiện tại

3 Như ̃ng bức thư thơ: (tâ ̣p 1) nói về điển tích, giai thoa ̣i trong làng thơ

4 Bươ ́ c lãng du : ghi chép , giới thiê ̣u những thắng cảnh , cổ tích từ Huế đến

Phan Rang

5 Cảnh cũ còn đây : cổ tích li ̣ch sử về Hà Nô ̣i , Huế và Ngũ Hành sơn ở Đà Nẵng

6 Như ̃ng mảnh gương xưa: (3 tâ ̣p) ghi chép những truyê ̣n của Trung Hoa

7 Nghìn lẻ một đêm: (4 tập) dịch thuật (tiếp theo bốn tâ ̣p đã xuất bản)

8 Bóng ngày qua: (15 tập hồi ký)

9 Trăng ma lầu Viê ̣t: (tâ ̣p 2)

10 Đôi ne ́ t về Đào Tấn (nhuâ ̣n sắc truyê ̣n ký của Quách Giao )

- Viết từ năm 1976 đến 1986:

1 Như ̃ng bức thư thơ (tâ ̣p 2): ghi la ̣i những điển tích, giai thoa ̣i trong văn thơ

Trang 35

2 Hương phấn na ̀ ng Hương (2 tâ ̣p) nói về các bài thơ luật có giá trị bị bỏ quên

của Việt Nam

3 Thư gư ̉ i các bạn ham đọc thơ Đường luật: viết về phép làm thơ Đường luâ ̣t

4 Luâ ̣t thơ sơ yếu: viết về phép làm thơ Đường luâ ̣t

5 Linh Phong tam kiê ̣t : viết về hành tra ̣ng của ba bậc chí sĩ yêu nước chống

Pháp là Mai Xuân Thưởng, Tăng Ba ̣t Hổ, Võ Trứ

6 Dạo quanh hý trường: chuyện vui về hát bô ̣

7 Lươ ̣c thuật tuồng cổ hát bội: của Đào Tấn và các tác giả khác

8 Bát canh tập tàng: ghi chép những chuyê ̣n linh tinh

9 Tà bá nạp: ghi chép những chuyê ̣n linh tinh

10 Như ̃ng giấc mộng không mê: chép lại những giấc mộng thú vị

11 Ghi dấu thơ ̀ i gian (tâ ̣p 1)

Hai tập Thư gửi các bạn ham đọc thơ Đường luật và Luật thơ sơ yếu sau này được biên tập lại, cho xuất bản với nhan đề là Thi pháp thơ Đường, Nxb Trẻ, 1998

- Năm 1987 mắt bi ̣ hỏng, không đo ̣c đươ ̣c, nhưng ông vẫn tiếp tu ̣c viết:

1 Vang bo ́ ng phong trào Cần vương tỉnh Khánh Hòa

2 Lươ ́ t qua 40 năm thơ văn tỉnh Khánh Hòa (từ 1935 đến 1975)

3 Hoàn tất Ghi dấu thơ ̀ i gian (tâ ̣p 2)

+ Như ̃ng bài viết của Quách Tấn đã đươ ̣c in trên các báo:

An Nam tạp chí (Hà Nội), Tiếng Dân (Huế), Phụ nữ tân văn (Sài Gòn), Tràng

An (Huế), Lành mạnh (Huế), Sông Hương (Huế), Liên Hoa (Sài Gòn), Trầm hương (Nha Trang), Tạp chí Nha Trang (Hội Văn ho ̣c Nghê ̣ thuâ ̣t tỉnh Khánh Hòa ), Báo

Khánh Hòa Chủ nhật , Lao động Chủ nhật (Sài Gòn), Tuổi trẻ cười (Sài Gòn), Sài Gòn Giải phóng, Văn nghê ̣ Thành phố Hồ Chí Minh, Người Bình Đi ̣nh

Qua những tư liê ̣u do gia đình thi sĩ cung cấp , chúng tôi đã thống kê được như trên, từ đó, có thể khẳng định rằng Quách Tấn không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng

mà còn là một nhà văn, nhà dịch thuật, nhà biên khảo văn hoá xuất sắc Ông là mô ̣t tác giả thành công ở nhiều thể loa ̣i văn học

1.1.3 Quách Tấn với nhóm “Bàn Thành tứ hữu”

“Bàn Thành tứ hữu” có nghĩa là bốn người ba ̣n ở thành Đồ Bàn Đồ Bàn là địa danh, tên kinh đô củ a vương quốc Chămpa ngày xưa , khi bi ̣ quân dân Đa ̣i Viê ̣t đời

Trang 36

Lê Thánh Tông đánh ba ̣i, quốc vương Chămpa phải bỏ kinh đô Trà Kiê ̣u cùng thánh

đi ̣a Mỹ Sơn (Quảng Nam) để vào đây lập kinh đô mới Đi ̣a danh Đồ Bàn thuô ̣c tỉnh Bình Định ngày nay , nằm ở ngoa ̣i ô thành phố Quy Nhơn Đây là mô ̣t danh xưng

mà các bạn yêu văn chương ở Bình Định , trong đó có Trần Thống ở thôn Kiê ̣n Mỹ huyê ̣n Bình Khê , tă ̣ng cho bốn nhà thơ tiền chi ến thân yêu nhau như anh em ruột đang sinh sống và sáng tác ta ̣i Bình Đi ̣nh là : Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan,

Quách Tấn Những người ấy còn dùng bô ̣ Tứ linh: long, lân, quy, phụng để đặt tên cho tứ hữu: Hàn Mặc Tử là Rồng; Chế Lan Viên là Phụng; Yến Lan là Lân; Quách Tấn là Rùa Quách Tấn cho rằng “tuy đă ̣t bổn để mua vui , song bốn linh vâ ̣t kia đã

nói lên một cách khái quát chính xác cuộc đời của tứ hữu về mặt vật chất cũng như về mă ̣t t inh thần” [71] Cần lưu ý là nhóm Bàn Thành tứ hữu này có khác với

Trường thơ loạn với tuyên ngôn sáng tác cụ thể, mà Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử là những người chủ xướng, trong khi đó thì Quách Tấn không tham gia Trường thơ loạn này

1.1.4 Quách Tấn: nhà thơ thuỷ chung với thơ cách luật

Trước năm 1945, Quách Tấn đã cho xuất bản hai tập thơ: Một tấm lòng (1939)

và Mùa cổ điển (1941) Đây là hai tâ ̣p thơ tiêu biểu cho sự tiếp nối cái cũ và hô ̣i nhâ ̣p cái mới, được Hoài Thanh và Hoài Chân định vị trong Thi nhân Viê ̣t Nam Một tấm lòng có 74 bài, trong đó có 67 bài Đường luật (10 bài thất ngôn tứ tuyệt, 04 bài

ngũ ngôn tứ tuyệt, 53 bài thất ngôn bát cú), còn lại 07 bài các thể thơ khác (01 bài thất ngôn trường thiên, 05 bài lục bát, 01 bài ca theo lối kết hợp ngũ ngôn, tứ ngôn

và lục bát) Mùa cổ điển , có 36 bài thì có 34 bài thơ Đường luật (28 bài thất ngôn bát cú; 06 bài thất ngôn tuyệt cú), còn lại là 02 bài lục bát Nếu Một tấm lòng chưa được đánh giá cao thì đến Mùa cổ điển, tập thơ và tác giả được bạn đọc, nhà phê

bình nồng nhiệt tán thưởng và “Làng Thơ Mới tự mình mở cửa đón mời mô ̣t người cũ Họ không nói chuyện hơn thua nữa Thực hành mô ̣t ý kiến phát biểu ra từ trước ,

họ nhã nhặn bỏ luôn cái danh hiê ̣u Thơ Mới; từ nay thơ ho ̣ chỉ go ̣i là Thơ”

[74,tr.39-40] Mùa cổ điển được mê ̣nh danh là hồn thơ Đường trong thơ Viê ̣t và là điểm ga ̣ch nối cách tân giữa thơ cũ và Thơ Mới, mà Hoài Thanh đã cho rằng “một tập thơ cũ

đã khép lại một thời đại trong thi ca” [74,tr.28 và tr.39]

Trang 37

Chắc hẳn Quách Tấn cũng đã thấm nhuần tư tưởng của Lưu Hiệp trong Văn tâm điêu long: “Tâm thuâ ̣t ảnh hưởng rất xa , tình cảm và tư tưởng của văn chương

biến đổi rất sâu Cái nguồn mà kín đáo thì nước sạch sinh ra ; cái gốc mà vững chắc thì cái ngọn dồi dào Cái đẹp của văn có khác nhau Có cái đẹp lồ lộ (tú), có cái đẹp kín đáo (ẩn) Đó là cái ý quan tro ̣ng ở ngoài lời văn Cái đẹp kín đáo (ẩn) lấy viê ̣c ý sum suê làm công phu ; cái đẹp lồ lộ (tú) lấy viê ̣c trác tuyê ̣t làm khéo Đấy cũng là cái đẹp của văn chương xưa, là nơi gặp gỡ của tài năng và tư tưởng” [23]

Giữa lúc các nhà thơ náo nức trang bi ̣ cho mình thi tứ , vần điê ̣u sao cho phù

hơ ̣p với ngo ̣n triều lãng ma ̣n , ca tu ̣ng tình yêu nồng cháy , đam mê, thì Quách Tấn lại tỏ lòng trung kiên với lối thơ xưa , như quyết giữ cho trọn vẹn chung thủy với hình ảnh huy hoàng của thời quá khứ, những đường nét cổ điển của Đường thi Quách Tấn thường nói: “Trong thơ cũng như trong đời, tôi chỉ cười bằng tiếng cười của tôi, chỉ khóc bằng nước mắt của tôi và những gì đã ra nơi miệng, nơi bút tôi đều xuất phát từ đáy lòng Ở đời tôi luôn luôn giữ chữ Thành và chữ Tín Làm thơ, đức thành tín lại càng quý trọng bội phần” [71] Là nhà thơ rất chung thủy với thơ Đường luật, nhưng ý và tứ trong thơ ông vẫn rất mới, nên không lỗi thời với tiến trình phát triển của thơ Việt

Có một số nhà thơ như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đông Hồ… ban đầu sáng tác

theo các thể thơ cũ, chủ yếu là Đường luật, nhưng trước phong trào Thơ Mới phát

triển, công kích thơ cũ, thì họ đã rời bỏ thể thơ cũ để sáng tác theo thể Thơ Mới Hàn Mặc Tử từ năm 1930 với bút hiệu là Minh Duệ Thị, Lệ Thanh, Phong Trần đã

nổi danh với các bài thơ Đường như Thức khuya, Chùa hoang, Gái ở chùa, đã

từng được cụ Phan Bội Châu ngợi khen trên báo Đến năm 1936 lại nổi danh với tập

thơ Gái quê, một tập Thơ Mới nhưng trong đó vẫn có một số bài thơ Đường luật Bích Khê đã nổi danh với những bài thơ cũ trên báo Tiếng dân, Phụ nữ tân văn…

đến năm 1937 khi quen với Hàn Mặc Tử thì Bích Khê chuyển hướng sáng tác theo

thể Thơ Mới để hai năm sau (1939) cho xuất bản tập Tinh huyết, được Hàn Mặc Tử

viết Tựa Đông Hồ và Mộng Tuyết cũng từ bỏ thể thơ cũ mà sáng tác theo thể Thơ Mới Cần nói thêm rằng, Hàn Mặc Tử và Bích Khê đều là bạn thân với Quách Tấn

Cả ba đều nổi danh trong lĩnh vực thơ Đường luật Nếu về sau Hàn Mặc Tử và Bích Khê sáng tác theo thể Thơ Mới, thì chỉ riêng mỗi mình Quách Tấn kiên trì ở lại với

Trang 38

thơ Đường luật, nhưng ông đã làm phong phú thêm về hình thức lẫn nội dung cho thể thơ cũ với lời thơ trau chuốt, ý thơ giàu sang và đã được văn học sử Việt Nam dành cho một chỗ ngồi trên Tao đàn Nhà thơ không lên tiếng trên thi đàn để bênh vực cho thơ cũ và cũng như không bài xích Thơ Mới, ông chỉ lặng lẽ phát huy cái cao đẹp của thơ Đường luật để làm phong phú và giàu sang hơn cho Thơ Mới Những người yêu mến thơ Đường luật vẫn tìm được hứng thú trong thơ Quách Tấn Những người thích cái mới trong Thơ Mới vẫn tìm được hương vị nồng thắm,

mới mẻ trong thơ Đường luật của Quách Tấn Trong bài Tựa của tập thơ Một tấm lòng, thi sĩ Tản Đà đã đặt thơ Quách Tấn ngang với thơ của Yên Đổ, Hồ Xuân

Hương, Bà Huyện Thanh Quan Nhà thơ Chế Lan Viên đã thừa nhận thơ của Quách Tấn có những câu thơ đẹp nhất trong những câu thơ đẹp nhất Việt Nam Hoài Thanh cũng đã viết: “Quách Tấn đã tìm được những lời thơ rung cảm chúng ta một cách thấm thía Người đã thoát hẳn cái lối chơi chữ nó vẫn là môn sở trường của nhiều người trong làng thơ cũ” [74,tr.268] Thơ của Quách Tấn gồm được cái uyên thâm, trong sáng của thơ Đường, cái giản dị hồn nhiên của ca dao Việt Nam và những rung cảm thiết tha của Thơ Mới Ở thơ ông là sự hòa hợp trọn vẹn giữa cũ và mới

Để hiểu rõ hơn về Quách Tấn - người thủy chung với thể thơ cách luật, thiết nghĩ cũng nên điểm qua ảnh hưởng của Đường thi trong thơ của ông

1.1.5 Ảnh hưởng thơ Đường đối với thơ Quách Tấn

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân viết: “Đêm đã khuya, tôi

ngồi mô ̣t mình xem thơ Quách Tấn Ngoài kia có lẽ trăng sáng lắm Nhưng trời về thu, khí trời lạnh lạnh , cử a sổ trên bàn viết đóng kín Ngọn nến trên bàn tỏa ra một bầu ánh sáng chỉ đủ sáng chỗ tôi ngồi Chung quanh tối cả Tối và im Mô ̣t thứ im

lă ̣ng dày đă ̣c Trong ấy có muôn ngàn thứ tiếng ta không nghe Lúc này chính là lúc xem thơ xưa Tôi lắng lòng tôi để đón mô ̣t sứ giả đời Đường , đời Tống Đời Đường

mới có cái âm u ấy” [74,tr.267]

Những lời “tâm sự” của tác giả Thi nhân Việt Nam đã chỉ cho người đo ̣c thấy

được cái hồn thơ mang âm hưởng Đường thi của Quách Tấn Điều này thể hiê ̣n rất

rõ ở bài thơ: “Đêm thu nghe quạ kêu”:

Từ Ô Y hạng rủ rê sang,

Trang 39

Bóng lẫn đêm thâu bỗng rộn ràng

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng, Thu sông Xích Bích nguyê ̣t mơ màng

Bồn chồn thương kẻ nương song bạc, Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng

Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi, Tình hoang mang gợi tứ hoang mang…

Đo ̣c kỹ bài thơ, đă ̣c biê ̣t là ba từ đầu tiên “Ô Y hạng” làm ta liên tưởng đến bài

Ô Y hạng của Lưu Vũ Tích đời Đường:

Chu Tước kiều biên dã thảo hoa,

Ô Y hạng khẩu ti ̣ch dương tà

Cựu thời Vương, Tạ đường tiền yến, Phi nhâ ̣p tầm thường bách tính gia

(Cỏ hoa dại bên cầu Chu Tước, Ngõ Ô Y lướt thướt nắng tà

Én lầu Vương, Tạ xưa xa, Bây giờ bay đậu vào nhà thường dân.)

(Đinh Ngọc Vũ di ̣ch)

Mô ̣t câu hỏi được đă ̣t r a ở đây, tại sao tác giả lại nghĩ rằng quạ “Từ Ô Y hạng

rủ rê sang”? Trong khi bài “Ô Y hạng” không hề nói đến qua ̣, mà là “ngõ Áo đen /

xóm Áo đen” (Ô: màu đen) Từ màu đen, nhà thơ liên tưởng đến con quạ (quạ có bộ lông đen tuyền), tức dùng điển theo lối liên tưởng – cảm giác Quách Tấn từng nói:

“tôi dùng điển “Ô Y” trong bài “Đêm thu nghe quạ kêu” không phải vì vô ý hoă ̣c dốt điển , mà chính vì có sở do ” [71] Cái sở do kia phải chăng do bài thơ “Ô Y hạng” ám ảnh và chi phối suy tư của ông?

Bốn câu thơ thươ ̣ng giải:

Từ Ô Y hạng rủ rê sang Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng Thu sông Xích Bích nguyê ̣t mơ màng”

Trang 40

Lời thơ hay, cảnh thu đẹp, ý thơ mang phong vị Đường thi Ngoài bài thơ của Lưu Vũ Tích vừa nêu, ý thơ của Quách Tấn còn khiến người đọc liên tưởng đến bài

“Phong Kiều dạ bạc “ của Trương Kế đời Đường:

Nguyê ̣t lạc ô đề sương mãn thiên, Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự,

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

(Trăng ta ̀ chiếc quạ kêu sương,

Lư ̉ a chài cây bến, sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đâ ̣u bến Cô Tô,

Nư ̉ a đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.)

( Ngô Tất Tố di ̣ch)

Từ mô ̣t câu thơ mở đầu trong bài Phong Kiều dạ bạc của Trương Kế “nguyê ̣t lạc, ô đề, sương mãn thiên” đã được Quách Tấn khéo léo ph át triển thành bốn câu

đầu trong bài thơ của ông

́ i hai từ “ô đề”, Quách Tấn viết thành hai câu:

“Tư ̀ Ô Y hạng rủ rê sang,

Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng.”

Ba từ “sương mãn thiên” đã được nhà thơ phát triển thành câu thứ ba:

“Trơ ̀ i bến Phong Kiều sương thấp thoáng,”

Hai từ “nguyê ̣t lạc” đã được Quách Tấn phát triển thành câu thứ tư:

“Thu sông Xi ́ch Bích nguyê ̣t mơ màng.”

Rồi đến hai câu luâ ̣n:

“Bồn chồn thương ke ̉ nương song bạc,

Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng?”

Chính Hoài Thanh nhận xét “ta có thể lơ đãng không thấy rõ sương trên bến

Phong Kiều, trăng trên dòng Xích Bích Không thấy cả cái giếng sầu ru ̣ng Nhưng

sắc vàng kia! Cái sắc vàng trong giây phút chiếu sáng cả trời thơ !” [74,tr.268]

Hai câu luận của bài thơ la ̣i gợi cho ta nghĩ đến mô ̣t bài thơ khác c ó liên quan

đến tiếng quạ kêu Đó là bài Ô dạ đề của vị thi Tiên Lý Bạch đời Đường:

“Hoa ̀ ng vân thành biên ô dục thê,

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh chủ biên (1977), Điển cố văn học, Nxb Khoa học Xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố văn học
Tác giả: Đào Duy Anh chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1977
2. Bưu Văn Phan Kế Bính (1970), Việt Hán văn khảo, (Nam Ký HN xuất bản lần đầu 1927), Nxb Mặc Lâm, SG, in lần thứ 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Hán văn khảo
Tác giả: Bưu Văn Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Mặc Lâm
Năm: 1970
3. Phan Canh (1999), Thi ca Việt Nam thời tiền chiến, Nxb Đồng Nai, tb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi ca Việt Nam thời tiền chiến
Tác giả: Phan Canh
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1999
4. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá Thông tin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2001
5. Huy Cận - Hà Minh Đức chủ biên (1997), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào Thơ Mới), Nxb Giáo dục, tb lần thứ nhất, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào Thơ Mới)
Tác giả: Huy Cận - Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
7. Nguyễn Đình Chú (2003), Thử tìm hiểu nguyên nhân tồn tại của thơ Đường luật Việt Nam trong thế kỷ XX, in trong: Bút xưa – Thơ Đường luật thế kỷ XXI, Hoài Yên sưu tầm, tuyển chọn, Nxb Văn hoá Dân tộc, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút xưa – Thơ Đường luật thế kỷ XXI
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Văn hoá Dân tộc
Năm: 2003
8. Nguyễn Đình Chú (2007), Nữ sĩ Ngân Giang giữa nền thơ Đường luật Việt Nam thế kỷ XX, in trong: Thắp sáng Đường thi, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ sĩ Ngân Giang giữa nền thơ Đường luật Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
9. Nguyễn Đình Chú (2012), Nguyễn Đình Chú tuyển tập, Nguyễn Công Lý giới thiệu và tuyển chọn, Nxb Giáo dục Việt Nam, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chú tuyển tập
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
10. Nguyễn Xuân Diện - Trần Văn Toàn (1998), Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của thơ Đường đối với Thơ Mới, Tạp chí Hán Nôm, số 3, tr.46-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Hán Nôm
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện - Trần Văn Toàn
Năm: 1998
11. Lê Chí Dũng (1999), Sáng tạo trong thơ Đường luật, in trong: Nguyễn Khuyến: về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, HN, tr.518-529 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo trong thơ Đường luật
Tác giả: Lê Chí Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
12. Lê Chí Dũng (2001), Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm Đường luật, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm Đường luật
Tác giả: Lê Chí Dũng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
13. Đặng Anh Đào (1994), Văn học Pháp và sự gặp gỡ với văn học Việt Nam , Tạp chí Văn học, HN, số 7, tr.1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1994
14. Phan Cƣ̣ Đê ̣ (1982), Phong trào Thơ Mới , Nxb Khoa học Xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Thơ Mới
Tác giả: Phan Cƣ̣ Đê ̣
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1982
15. Phan Cự Đê ̣, Trần Đình Hượu và… (2001), Văn học Viê ̣t Nam 1900 – 1945, Nxb Giáo dục, HN, tb lần thƣ́ 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Viê ̣t Nam 1900 – 1945
Tác giả: Phan Cự Đê ̣, Trần Đình Hượu và…
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
16. Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1974
17. Hà Minh Đức (2012), Thơ tình trong phong trào Thơ Mới (1932-1945), Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 6 (484), tr.25-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 2012
18. Lam Giang (1970), Hồn thơ nước Việt, Nxb Sống Mới, SG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn thơ nước Việt
Tác giả: Lam Giang
Nhà XB: Nxb Sống Mới
Năm: 1970
19. Quách Giao (sưu tầm) (1994), Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học , Nxb Trẻ, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học
Tác giả: Quách Giao (sưu tầm)
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1994
20. Nguyễn Thi ̣ Bích Hải (1995), Thi pháp thơ Đường , Nxb Thuâ ̣n Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường
Tác giả: Nguyễn Thi ̣ Bích Hải
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1995
21. Dương Qua ̉ng Hàm (1968), Viê ̣t Nam văn học sử yếu , (Nha học chính Đông Pháp in lần đầu 1943), Trung tâm Ho ̣c liê ̣u Bô ̣ Quốc gia Giáo du ̣c, SG, tb lần thứ 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Trung tâm Học liệu Bộ Quốc gia Giáo dục
Năm: 1968

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w