1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua góc nhìn trần thuật học

82 434 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 730,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bakhtin cũng đã từng nhận định tiểu thuyết - “ Đó là thể loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới vì thế mà thân thuộc, sâu sắc với thời đại ấy, tr

Trang 1

HOÀNG THỊ HIỀN LƯƠNG

TIỂU THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH QUA GÓC NHÌN TRẦN THUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ : 602234

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HÀ VĂN ĐỨC

Hà Nội – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

Phần 1 : Mở đầu 2

1.Lý do chọn đề tài 2

2.Lịch sử vấn đề 6

3.Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 8

4.Cấu trú c luâ ̣n văn 10

Phần 2: Nô ̣i dung chính 12

Chương 1:Thời gian và không gian trần thuâ ̣t trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 12

1.1 Một số vấn đề lý thuyết 12

1.2 Không gian trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 13 1.3 Thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 23

1.4 Tiểu kết 31

Chương 2: Kết cấu và điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 33

2.1 Một số vấn đề lý thuyết 33

2.2 Kết cấu trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuâ n Khánh 34

2.3 Điểm nhìn và các cấp độ trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 44

2.4 Tiểu kết 53

Chương 3 : Ngôn ngữ trần thuâ ̣t trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 54

3.1 Một số vấn đề lý thuyết 54

3.2 Ngôn ngữ độc thoại 55

3.3 Ngôn ngữ đối thoại 64

3.4 Tiểu kết 71

Phần 3: Kết luận 72

Tài liệu tham khảo 76

Các sách tác phẩm: 76

Các sách công cụ: 76

Các bài viết trên các trang web : 77

Trang 3

Phần 1 MỞ ĐẦU

Dường như các nhà tiểu thuyết luôn ngầm lựa chọn một trong hai hướng: truyền thống hay cách tân Bên cạnh đó, xu hướng tiểu thuyết mạng, tiểu thuyết thương mại cũng đang dần có được một vị trí khá ổn định trong lòng độc giả Một trong những đề tài chiếm được sự quan tâm của nhiều cây bút là đề tài lịch sử: những nhìn nhận, đánh giá, nhận thức lại quá khứ ở những góc cạnh khác nhau Các tiểu thuyết này có tham vọng đi dọc chiều dài thời gian, khái quát những thời kỳ đã qua, theo sát từng các sự kiện, những cuộc cách mạng song hành với việc lý giải những vấn đề bức xúc của thực tại Những mảng hiện thực rộng lớn được soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau, tạo nên một cốt truyện đa tầng và một bầu không khí sử thi cho các tác phẩm Tuy nhiên đôi khi do nhà văn quá

ôm đồm nên các sự kiện còn mang tính trùng lặp, rườm ràm, gây nên cảm giác nặng nề, khô khan, và khó chinh phục được độc giả

Khuynh hướng thứ hai khá tự do trong bút pháp nghệ thuật, với những nỗ lực cách tân khiến người ta dễ nghĩ tới những tiểu thuyết có dấu

ấn của cảm quan hậu hiện đại Khuynh hướng này thường lấy tâm trạng của con người trong cuộc sống hiện đại làm đối tượng phản ánh: Những linh hồn cô đơn, lạc loài; những trái tim đầy tổn thương, hoang dại; những nỗi niềm không cất thành tiếng, không chia sẻ thành lời Cứ như thế độc

Trang 4

giả như bước vào một thế giới của những cung bậc tâm trạng khác nhau, đầy phức tạp và những mâu thuẫn Dường như đó là bức tranh đời sống tinh thần của con người trong cuộc sống hiện tại Các nhà viết tiểu thuyết muốn đi tìm lối thoát và lời giải cho những bế tắc trong nội tâm của con người, nhưng dường như họ chưa làm được điều đó Những tác phẩm mới chỉ dừng lại ở sự phản ánh, và đôi lúc không tránh khỏi tính phiến diện và cực đoan Nhưng một dấu hiệu cách tân mà chúng ta dễ nhận thấy ở những cuốn tiểu thuyết theo khuynh hướng này là sự đổi mới trong nghệ thuật viết: kết cấu phân mảnh, tính đa âm, sự va chạm của các loại ngôn ngữ…Tất cả đều thể hiện sự tìm tòi trong lối viết và khát vọng đổi mới

của một thế hệ mới nhiệt tình, năng nổ

Bakhtin cũng đã từng nhận định tiểu thuyết - “ Đó là thể loại duy nhất nảy sinh và được nuôi dưỡng bởi thời đại mới của lịch sử thế giới vì thế mà thân thuộc, sâu sắc với thời đại ấy, trong khi đó thì các thể loại lớn khác chỉ được thời đại mới kế thừa ở dạng đã hoàn tất (…) do đó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn hiện thực Chỉ kẻ biến đổi mới hiểu được sự biến đổi” [7, tr 25] Nói gắn gọn, có thể hiểu rằng tiểu thuyết là thể loại năng động, thích ứng và biến đổi theo sự phát triển của từng thời đại Tiểu thuyết biến đổi không có giới hạn, nên nhiều lúc nó kéo theo sự thâm nhập của mọi thể loại khác vào trong cấu trúc của mình

Sự phát triển của tiểu thuyết nhiều lúc khiến người tiếp nhận nghĩ rằng nó

là thể loại vô định hình, thậm chí mọi mô hình cấu trúc đều bị nó phá vỡ Đây là thể loại luôn có xu hướng cách tân về mọi mặt từ nội dung đến hình thức thể hiện

Tiểu thuyết Việt Nam không nằm ngoài xu thế đấy Từ sau 1986, tiểu thuyết Việt Nam đã có những bước phát triển theo hướng đa dạng hóa, hiện đại hóa về cả phương thức nghệ thuật lẫn nội dung tư tưởng Các nhà

Trang 5

văn luôn cố gắng tìm tòi những cách viết mới, với mong muốn tìm ra một hướng đi riêng cho thể loại vốn “khó tính” này Nhưng dường như mọi đóng góp cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ tìm tòi, đổi mới Do vậy, nhìn lại nền tiểu thuyết trong vòng 20 năm qua, chúng ta vẫn khó nhận ra những cây bút thực sự có dấu ấn phong cách riêng

Nguyễn Xuân Khánh là một trong số ít các nhà văn nhận được những đánh giá cao của giới phê bình, nghiên cứu Số lượng tác phẩm của ông không nhiều nhưng hầu hết đều là những tác phẩm có giá trị và có những đóng góp quan trọng về mặt thể loại Với văn chương Nguyễn Xuân Khánh là người đến muộn Nhưng lại là người đến muộn có duyên

Có người suốt cuộc đời cầm bút chỉ mong có được cái duyên như nhà văn lão thành này mà không được Cái duyên đầu khi cầm bút sáng tác chính

là những đề tài lịch sử Hai tác phẩm làm nên tên tuổi Nguyễn Xuân Khánh cũng là hai trong số những tác phẩm làm nên diện mạo của nền văn học đương đại, và có lẽ sẽ là hai tác phẩm có sức sống lâu bền trong nền văn học dân tộc nói chung Sáng tác không nhiều nhưng Nguyễn Xuân Khánh đã buộc người ta phải nhớ đến mình như một đại diện của một người viết tiểu thuyết lịch sử thành công

Nguyễn Xuân Khánh cũng là nhà văn khá nhạy cảm với các vấn đề tiếp biến văn hóa Con người ấy sống giữa lòng Hà Nội nhưng vẫn mang trong mình cái chân chất của một người dân quê, luôn đau đáu trong mối

ân tình không thể dứt với bao nền tảng văn hóa của dân tộc Ông day dứt trước những biến đổi của xã hội khiến cho cái bản sắc đang dần bị mai một Trong hai tác phẩm nhà văn đã lưu giữ cho chúng ta những sinh hoạt, phong tục văn hóa rất đẹp và có giá trị của người Việt Điều quan trọng mà nhà văn muốn gửi gắm chính là sự tiếp biến của văn hóa trong

Trang 6

quá trình giao lưu với các nền văn hóa khác và trong quá trình biến thiên của lịch sử

Ngoài ra, nhà văn lớn tuổi này còn khát khao đi tìm những câu trả lời cho những bế tắc của con người trong đời sống thực tại Tiểu thuyết của ông cũng đề cập đến nhiều vấn đề đời tư, thế sự đầy ám ảnh

Nguyễn Xuân Khánh bắt đầu nghề viết cũng đã khá lâu Đầu tiên ông chủ yếu dịch sách Những tác phẩm dịch của ông bao gồm: “Những quả vàng” của Nathalie Saraute; “Lời nguyền cho kẻ vắng mặt” của Tahar Ben Jelloun; “Nhân dạng nam” của Elizabeth Badinter; “Người đàn bà ở đảo Saint Dominique” của Bona Dominique Không chỉ đam mê dịch sách mà những thôi thúc viết trong ông không bao giờ ngơi nghỉ, nên ông còn là tác giả của những cuốn: “George Sand - Nhà văn của tình yêu”, “Miền

hoang tưởng”, “Hai đứa trẻ và con chó mèo xóm núi” (Nhà văn Châu Diên đã từng có một bài viết khá hay về cuộc đời văn của Nguyễn Xuân

Khánh từ những tác phẩm đầu tay đến những tá c phẩm được cho là đỉnh cao Chúng tôi xin dẫn bài viết này trong phần Phụ lục cuối luận văn )

Sự nghiê ̣p sáng tác tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh có thể nói là

bắt đầu được ghi dấu ấn từ những tác phẩm : Miền hoang tưởng , Hồ Quý

Ly, Mẫu Thươ ̣ng Ngàn Ngoài ra ông đã từng viết 1 số tác phẩm nhưng chưa được xuất bản (Trư cuồng- bản lưu hành trên mạng, Đội gạo lên chùa- sắp xuất bản) Không phải là đồ sô ̣ so với mô ̣t đời văn , nhưng đã là quá đủ khi chừng ấy có thể làm nên mô ̣t phong cách tiểu thuyết mới , có sức ảnh hưởng không nhỏ tới văn đàn

Người viết đã từng nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh trong khóa luận tốt nghiệp đại học cách đây 2 năm Nhưng lúc đó , chúng tôi chỉ xoáy sâu vào khía cạnh thể loại của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh , mà

Trang 7

chưa đi sâu vào nghê ̣ thuâ ̣t tiểu thuyết có thể xem là chín muồi của cây

bút tài hoa này

Nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua góc nhìn Trần thuật học có thể xem là một hướng đi để khai thác được tương đối toàn diê ̣n về nghê ̣ thuâ ̣t tiểu thuyết của ông Mục đích của đề tài muốn khẳng định một phong cách nghê ̣ thuâ ̣t tiểu thuyết trong nền tiểu thuyết cò n khá non trẻ của văn học đương đại Chúng tôi tin rằng nghệ thuật tiểu thuyết của

Nguyễn Xuân Khánh sẽ còn tác đô ̣ng rất nhiều tới những cây bút viết tiểu thuyết đương đa ̣i Mô ̣t nhà văn không còn trẻ song đã làm được nhữ ng viê ̣c mà rất nhiều nhà văn trẻ mong muốn nhưng khó có thể làm được

2 Lịch sử vấn đề

Nguyễn Xuân Khánh cầm bút đã lâu , nhưng sự nghiê ̣p của ông chỉ

thực sự được ghi dấu bắt đầu từ khi Hồ Quý Ly ra đời Do vâ ̣y, những

công trình nghiên cứu khoa học về các sáng tác của ông chưa thực nhiều Nếu có thì chỉ một số báo cáo khoa học sinh viên ở các trường đại học Phần lớn các báo cáo chỉ khai thác các khía ca ̣nh khác nhau về nghê ̣ thuâ ̣t tiểu thu yết của ông , hoă ̣c các vấn đề về thể loa ̣i Ngoài ra còn có 1 số bài viết mang tính chất giới thiê ̣u ở trên các báo Ở các bài viết này , hầu hết các tác giả đều đề cao sự đóng góp của Nguyễn Xuân Khánh trên văn đàn , cũng như ngợi ca sức sáng ta ̣o không nghỉ ngơi của mô ̣t nhà văn “lớn

tuổi”

Nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc khi nói về Mẫu Thượng Ngàn đã đưa

ra những lời ngợi ca : “Bằng cuốn tiểu thuyết này, bằng khám phá này - tôi muốn nói vậy - Nguyễn Xuân Khánh một lần nữa khiến ta kinh ngạc vì bút lực còn dồi dào đến tràn trề và say đắm của anh Tác giả đã ngót 75 tuổi Gừng già thật cay!” [13, tr 1] Tác giả Ngô Khánh Lê Huyền : “Văn

Trang 8

chương Nguyễn Xuân Khánh chững chạc, đúng mực, thấm đẫm tình cảm

và luôn kèm theo bề sâu văn hóa dày đă ̣c [12, tr 1]

Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên : “Lối viết của Nguyễn Xuân Khánh đúng là cổ điển nhưng vẫn mang đậm hơi thở của đời sống hiện đại…Hồ Quý Ly” - bằng một ngòi bút già dặn, vững chắc, thỉnh thoảng điểm những thử nghiệm về hình thức (nhân vật chính khi là ngôi thứ ba, khi là ngôi thứ nhất ), đã đào sâu vào bi kịch của một nhân vật lịch sử hồi đầu thế kỷ 15, một nhà cải cách tài ba và táo bạo, một con người đến quá sớm trong một thời đại quá trì trệ, đã phải trả giá đau đớn: Ông bị chính quần chúng nhân dân chống lại và bỏ rơi khi quân xâm lược đến Cuộc kháng chiến do ông khởi xướng không được hưởng ứng, cả hai cha con ông đều bị kẻ thù bắt làm tù binh, và cuối cùng chết trong cảnh đi đày

ô nhục

Ðương nhiên khi người ta dựng lại những bi kịch lịch sử như vậy, thì bao giờ cũng là để gợi những liên tưởng hiện đại nào đó Thông điệp của Nguyễn Xuân Khánh là sự trăn trở, đồng cảm với công cuộc đổi mới và những nhà cải cách trong lịch sử Có thể gọi đó là một kiểu nhân vật hùng

vĩ, lớn lao

Còn Mẫu thượng ngàn là nhân vật quần chúng nhưng mang tính đại

diện tiêu biểu cho dân tộc Việt Suy nghĩ về sức sống của dân tộc qua những đụng độ văn hoá Việt - Pháp, Đông - Tây trước nạn ngoại xâm Đạo Mẫu trong tiểu thuyết (thể hiện qua nhân vật nữ: Bà Tổ Cô bí ẩn, bà

Ba Váy đa tình, cô đồng Mùi, mõ Hoa khốn khổ, trinh nữ Nhụ…) vừa là tín ngưỡng vừa thể hiện tính phồn thực và sự trường tồn của dân tộc Việt.” [14, tr 1]

Nhìn chung các bài viết mới chỉ đ ưa ra mô ̣t số nhâ ̣n xét sơ lược về những thành công của Nguyễn Xuân Khánh Mục đích của luận văn là

Trang 9

hướng tới mô ̣t cái nhìn tổng thể , khái quát nhất về sự nghiệp văn học của ông Vớ i mô ̣t nhà văn lớn tuổi , viê ̣c chúng ta nh ìn nhận về giá trị và đóng góp của họ thời điểm bây giờ là một việc làm cần thiết Đặc biệt khi sức viết của Nguyễn Xuân Khánh vẫn còn dồi dào và có vẻ như chưa có dấu

hiê ̣u nguôi ca ̣n (cụ thể là ông sắp cho ra đời m ột cuốn tiểu thuyết mới có

tên Đội gạo lên chùa ) Trong khóa luâ ̣n tốt nghiê ̣p đa ̣i ho ̣c cách đây 2 năm người viết đã có di ̣p đề câ ̣p đến những đóng góp về mă ̣t thể loa ̣i của tiểu

thuyết Nguyễn Xuân Khánh Trong luâ ̣n văn này , chúng tôi sẽ tập trung khai thác về nghê ̣ thuâ ̣t viết tiểu thuyết của ông Bở i, dù viết không nhiều tác phẩm , nhưng Nguyễn Xuân Khánh đã sớm ta ̣o dựng cho mình mô ̣t

phong cách tiểu thuyết khá nhất quán trong sự vâ ̣n đô ̣ng của s ự sáng tạo không ngừng Đặc biệt các sáng tác của ông đều thể hiện một bút pháp

khá điêu luyện , khó lẫn lộn trên văn đàn Nhìn tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh theo góc độ của Trần thuật học có thể sẽ giúp cho chúng tôi c ó được những nhâ ̣n xét khách quan và khái quát về sự nghiê ̣p của ông

3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu theo Trần thuật học cũng bởi ưu điểm vượt trô ̣i của nó

Trước hết, "Trần thuật là một phương thức cơ bản của tự sự, một yếu tố quan trọng tạo nên hình thức của tác phẩm văn học Cái hay, sức hấp dẫn của một truyện ngắn hay tiểu thuyết phụ thuộc rất nhiều vào nghệ thuật kể chuyện của nhà văn” [10, tr 187]

Vai trò đậm nhạt của trần thuật còn phụ thuộc vào đặc điểm của thể loại, những khuynh hướng phát triển của thể loại ấy Trong địa hạt của tác phẩm tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng , nghệ thuật trần thuật đóng vai trò tối quan trọng Nó không chỉ là yếu tố liên kết, dẫn dắt câu chuyện

mà còn là bản thân của câu chuyện Khi mà cốt truyện không còn đóng

Trang 10

vai trò xương sườn, nhân vật bị xoá mờ đường viền cụ thể thì yếu tố trần thuật là chìa khoá mở ra những cánh cửa của truyện

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, "Trần thuật " là phương diện cơ bản

của phương thức tự sự là việc giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của một người trần thuật nhất định ( ) Thành phần của trần thuật không chỉ là lời thuật

mà chức năng của nó còn là kể việc Nó bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả ( ) Trần thuật gắn liền với toàn

bộ công việc bố cục, kết cấu tác phẩm [6, tr 364]

Do vâ ̣y nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh theo trần thuâ ̣t

học sẽ cho chúng ta cái nhìn tương đối toàn diện về nghệ thuật văn

chương của nhà văn Có thể xem đó là chìa khóa để chúng ta khám phá phong cách của tác giả , cũng như những đặc sắc của các tác phẩm

Sự nghiê ̣p sáng tác của Nguyễn Xuân Khánh khô ng phải là đồ sô ̣ , nhưng hầu hết nhữ ng tác phẩm của ông đều mang đến một dấu ấn đă ̣c biê ̣t, khó có thể trộ n lẫn- tạo nên một phong cách tiểu thuyết riêng của nhà văn Trên thực tế đô ̣c giả biết đến sự nghiệp tiểu thuyết của Nguyễn Xuân

Khánh chủ yếu qua hai tác phẩm: Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn

Ngoài ra ông từng sáng tác một số tác phẩm khác như : Miền hoan g tươ ̉ng - đã xuất bản khá lâu , Trư cuồng – chưa được xuất bản chính thức , và tác

phẩm mới nhất sắp được xuất bản cũng hứa he ̣n là mô ̣t bước đô ̣t phá trong nền văn chương đương đa ̣i là Đội gạo lên chùa Trong luâ ̣n văn này ,

người viết cố gắng tạo được một cái nhìn tổng thể , khái quát nhất về sự nghiê ̣p văn chương của Nguyễn Xuân Khánh , ba tác phẩm mà chúng tôi

tâ ̣p trung khai thác là ba tác phẩm đã được in ấn chính thức : Miền hoang tưởng, Hồ Qu ý Ly và Mẫu Thượng Ngàn Thực ra pha ̣m vi nghiên cứu

Trang 11

không phải là nhiều , nhưng để thấy được tầm vóc của Nguyễn Xuân

Khánh thể hiện trong đó lại là một quá trình không phải đơn giản Ngườ i viết cố gắng tìm hiểu được nhữn g nét chung nhất làm nên mô ̣t Nguyễn Xuân Khánh – người có thể xem là truyền lửa cho mô ̣t nền tiểu thuyết

đang có những chuyển đô ̣ng tích cực

4 Cấu trúc luâ ̣n văn

Luâ ̣n văn của chúng tôi gồm 3 chương, khai thác các khía ca ̣nh khá c nhau trong nghê ̣ thuâ ̣t trần thuâ ̣t của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh Phần 1: Mở đầu

Phần 2: Nô ̣i dung chính

Chương 1: Thời gian và không gian trần thuâ ̣t trong tiểu thuyết

Nguyễn Xuân Khánh

1.1 Một số vấn đề lý thuyết

1.2 Không gian trần thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh 1.2.1 Không gian song trù ng : Thực và Ảo

1.2.2 Hiện tượng coi tro ̣ng , đề cao không gian gia đình

1.3 Thờ i gian trần thuâ ̣t trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

1.3.1 Hiện tượng thời gian gián cách

1.3.2 Hiện tượng thời gian nén

1.3.3 Thờ i gian trong sự tương ứng với không gian : thờ i gian

chết 1.4 Tiểu kết

Chương 2: Kết cấu và điểm nhìn trần thuâ ̣t trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

2.1 Một số vấn đề lý thuyết

2.2 Kết cấu trần thuật tro ng tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

2.2.1 Hình thức k ết cấu phân mảnh

Trang 12

2.2.2 Kết cấu tâm lý

2.3 Điểm nhìn và các cấp đô ̣ trần thuâ ̣t trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

2.3.1 Sự di ̣ch chuyển điểm nhìn liên tục

2.3.2 Các cấp độ trần thuật

2.4 Tiểu kết

Chương 3: Ngôn ngữ trần thuâ ̣t trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

3.1 Một số vấn đề lý thuyết

3.2 Ngôn ngữ đô ̣c thoa ̣i

3.2.1 Độc thoại nhân vật

3.2 2 Độc thoại của người vắng mặt

3.3 Ngôn ngữ đối thoa ̣i

3.3.1 Đối thoại nhân vật

3.3.2 Hội thoa ̣i (Đối thoại đám đông )

3.4 Tiểu kết

Phần 3:Kết luâ ̣n

Trang 13

Phần 2 NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1 THỜI GIAN VÀ KH ÔNG GIAN TRẦN THUẬT TRONG TIỂU

THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH

1.1 Một số vấn đề lý thuyết

Trong sáng tác văn học, thời gian được đo bằng nhiều kích thước khác nhau và xuất hiện dưới những dạng khác nhau tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm Nó gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật và như một hệ quy chiếu mang tính chất ẩn để phản ánh hiện thực, thể hiện tư duy của tác giả Phạm trù thời gian gắn với mỗi thể loại văn học nhằm cung cấp những cơ sở để phân tích cấu trúc bên trong của hình tượng văn học

Tìm hiểu thời gian trong tác phẩm văn học thực chất là cách phân

chia các ranh giới của các thế giới nghệ thuật phản chiếu trong tác phẩm

đó Có hai phạm trù thời gian chính là thời gian cốt truyện và thời gian

văn bản Thời gian văn bản : Độ dài của từng sự kiện được tác giả kể lại (số trang , số dòng… ) Sự chú tro ̣ng thời gian văn bản cho 1 số sự kiê ̣n nào đó thể hiê ̣n vấn đề trung tâm của tác phẩm , cũng như tập trung tư tưởng của nhà văn Thời gian cốt truyê ̣n : Cách kể chuyện của nhà văn theo trình tự thời gian nào , có sự sai trật so với thời gian tuyến tính hay không ? Thường hai loại thời gian trên luôn tồn tại song song và được soi chiếu lên nhau Bởi thực chất khi chúng ta tìm hiểu độ dài của một đoạn văn trong một tác phẩm, mục đích cũng là để xem vị trí của nó trong tổng thể cốt truyện, từ đó nhận thức được sự đầu tư của tác giả, nhịp điệu của văn bản hay suy ngẫm của nhân vật

Trang 14

Khi nghiên cứu về thời gian trong tác phẩm văn học bao giờ chúng ta cũng đặt thời gian cốt truyện trong mạch chảy của thời gian tuyến tính Với 1 tác phẩm giá trị và công phu, cốt truyện luôn có sự đảo lộn về thời gian, thậm chí người đọc còn phải vẽ cả sơ đồ mới dựng lại được diễn biến thực của câu chuyện đó

Không gian là một phạm trù triết học chỉ hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới Không gian văn ho ̣c là m ôi trường trong đó nhân vâ ̣t sống và vâ ̣n đô ̣ng Nó bao gồm phong cảnh , cũng như điều kiện khí hậu , những thành phố , khu vườn , căn phòng …Không gian chi phối đến hành

vi, suy nghĩ và tình cảm của nhân vật Khi tìm hiểu không gian của cốt truyện, những dấu hiệu mà chúng ta không thể bỏ qua là : sự di ̣ch chuyển không gian; Sự thu he ̣p hay mở rô ̣ng không gian ; Không gian chung, không gian riêng ( không gian cộng đồng , cá nhân… ) Ngoài ra còn một phạm trù không gian khác là không gian diễn ngôn : Môi trường , không gian hiê ̣n hành của người kể chuyê ̣n , nơi người kể chuyê ̣n sống

Tác phẩm nghệ thuật là 1 thế giới- thế giới nghệ thuật Thế giới đó có con người tồn tại trong không gian và thời gian nhất định Không gian và thời gian trong tác phẩm không chỉ là không gian – thời gian vật chất mà

là một phương thức biểu hiện thế giới tinh thần, hiện thực đời sống

1.2 Không gian trần thuâ ̣t trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

1.2.1 Không gian song trùng : thực và ảo

Hiện tượng song trùng về không gian xuất hiện khá nhiều trong tiểu thuyết đương đại Lý do có thể giải thích là bởi cảm giác vô định, mất phương hướng của con người trong cuộc sống hiện tại Sự tồn tại hai thế giới song trùng trong cuộc sống một con người không chỉ phản ánh đời sống nội tâm phức tạp của họ, mà còn là một nhu cầu được khám phá và thấu hiểu bản thân mình Hai thế giới khác biệt nhưng không hoàn toàn

Trang 15

mâu thuẫn, bởi nó soi chiếu, phản ánh lẫn nhau, giống như hai mặt của một cuộc đời Nguyễn Xuân Khánh đã nhận ra điều đó và ông đã khai thác thành công hiện tượng này trong tác phẩm của mình, tạo ra dấu ấn riêng, làm nên một nét phong cách khó có thể tìm thấy ở cây bút khác Trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh xuất hiê ̣n hiê ̣n tượng không gian song trùng Thực và Ảo Không gian thực là không gian của hiện tại, thời đại, của sự tỉnh táo, của sự sống, ánh sáng Còn không gian ảo là không gian của tâm linh, của giấc mơ, của cái chết, và bóng tối Mỗi nhân vật trong tác phẩm của ông luôn đi tìm mình trong cả hai không gian ấy

Có những lúc cái thực và ảo lẫn lộn Đến mức bản thân nhân vật cũng không phân biệt được Sống giữa đời thường mà như đang đi trong giấc mộng

Từ tiểu thuyết được xuất bản đầu tiên: Miền hoang tưởng, Nguyễn

Xuân Khánh như đã định hình một phong cách riêng trong việc tạo dựng không gian cho tác phẩm mình: không gian lạ bởi sự mờ ảo giữa hư và thực Các nhân vật trong tác phẩm đều theo đuổi 1 lý tưởng riêng, nhưng

họ đều gặp nhau ở 1 điểm là hiện thực không cho họ cơ hội để thực hiện

nó Và họ tìm cách “đánh mê” mình Họ sống như trong mộng 22 lần tác giả để cho nhân vật mình mơ Đặc biệt, nhà văn để cho nhân vật trò chuyện với Chúa 16 lần, và lạc vào thế giới của một bức tranh hư ảo đến 6 lần Nhân vật chính: Tư, thậm chí còn tìm mình trong 1 bức tranh của người bạn Tư tạo cho mình 1 không gian riêng, vô thực nhưng cố đem nó

để áp vào hiện thực, do vậy anh sống như 1 kẻ lạc loài Không gian của anh bao trùm bởi những hoang tưởng, khắc khoải, bởi chúa, bởi tiếng đàn,

cả tiếng vượn hú và bóng hình 1 người con gái lúc ẩn lúc hiện

Hồ Quý Ly: Không gian thực chính là không gian của lịch sử, thời

đại Tác phẩm tái hiện lại gần như cả một giai đoạn lịch sử thời Trần từ

Trang 16

năm 1370 đến năm 1400 - giai đoạn suy vi, khủng hoảng Cụ thể các đời vua được nhắc đến là: Vua Dụ Tông, vua họ Dương, Cung định vương Trần Phủ, Nghệ Tông, Duệ Tông, Thuận Tông, Hoàng thái tử An, loạn nhà Hồ.Tất cả các nhân vật đều được đặt trong dòng chảy của thời kỳ lịch

sử đầy sự biến thiên này Do phần lớn nhân vật đều là nhân vật có thật (44/50 nhân vật có thật), nên có thể thấy mỗi nhân vật đều được cố định bởi 1 vị trí nhất định trong không gian hiện thực- đó là cái thực bất biến Nguyễn Xuân Khánh không làm công việc của một nhà viết sử, nên không gian bề nổi ấy với ông gần như chỉ là một phần của tảng băng trôi Tác giả muốn đi sâu tìm hiểu thế giới bên trong của nhân vật Muốn tìm ra dòng nước ngầm ẩn sâu phía dưới những cột mốc, sự kiện Do vậy trong tác phẩm tồn tại một không gian khác, nơi chúng ta không thể tìm thấy ghi chép trong một tài liệu lịch sử nào Một không gian của những giấc mơ, của nội tâm…- Không gian ảo

Trong Hồ Quý Ly, dường như nhà văn rất có ý thức khi đặt nhân vật

vào trong những giấc mơ để khám phá thế giới nội tâm của họ Hơn 10 lần nhà văn để cho nhân vật sống trong mơ Có 3 nhân vật nằm trong sự sắp đặt hữu ý này là Nghệ hoàng, Hồ Quý Ly và Hồ Nguyên Trừng Có thể thấy trong những giấc mơ này xuất hiện nhân vật, cũng như các mối quan hệ của họ, và có cả suy nghĩ nội tâm Nghệ hoàng mơ về một bài thơ

có hai con vật: hầu mõm đỏ và gà trắng, không cần giải thích có lẽ cũng hiểu đây chính là biểu trưng cho hai nhân vật: Quý Ly và Nghệ Tông- và kết quả của giấc mơ chính là dự đoán về nguy cơ của một cuộc “thoán nghịch” sắp tới Giấc mơ ám ảnh nhất có lẽ chính là giấc mơ của Hồ Quý Ly.Trong giấc mơ Hồ Quý Ly gặp Nghệ hoàng, gần như những suy nghĩ sâu kín nhất của vua và tôi đều được thể hiện một cách rõ ràng, những tình cảm cũng bộc lộ chân thực, quan trọng hơn qua đó ta thấy được một

Trang 17

phần con người Hồ Quý Ly: con người cô độc, có cả sợ hãi lẫn sự hoài nghi về chính mình Rõ ràng không gian ảo- giấc mơ dù không được diễn

ra trong hiện thực nhưng lại là một phần của hiện thực, bởi chính ở đó sự thực vốn được che đậy hàng ngày lại được thể hiện chân thực nhất, con người được là chính mình, các mối quan hệ hiện nguyên hình bản chất của

Thế giới ảo mà Nguyễn Xuân Khánh tạo dựng trong Hồ Quý Ly

mang những sứ mệnh: Dự đoán tương lai, Soi chiếu nội tâm, Kiếm tìm hạnh phúc Cái ảo không chỉ tồn tại trong những giấc mơ mà nó hiện hữu ngay trong thực tại-Lúc nhân vật đang tỉnh táo Nhân vật luôn có xu hướng tách mình ra khỏi không gian thực tại, đặt mình trong một không gian riêng của nhưng suy nghĩ riêng- không gian của tâm linh, của nội tâm Ở đó ta thấy một Hồ Quý Ly đang dằn vặt với những câu hỏi không cùng, đang đối diện với những nỗi ám ảnh mà ông biết khó có thể thoát ra- một Hồ Quy Ly quá đơn độc vì không ai hiểu mình, và mình lại quá hiểu rõ người khác Ông hoảng hốt trong giấc mơ gặp Nghệ hoàng, không phải vì ông sợ vị vua đã mất, mà sợ chính bản thân mình, sợ mình sẽ không kiên trì, sợ những phút giây yếu đuối mà chùng bước, cao hơn cả là

sợ không ai ủng hộ mình Có lúc Quý Ly đã nghi ngờ chính con đường mình đang đi Hai lần trong tác phẩm nhà văn để cho Hồ Quý Ly khóc trước bàn thờ người vợ quá cố- công chúa Huy Ninh Những giọt nước mắt ấy là những giọt nước mắt của một con người đang cảm thấy cô đơn, đúng hơn là cô độc Không có tri âm! Nguyên Trừng hiểu ông, nhưng tận sâu trong lòng không ủng hộ ông Vị Thái Sư vật lộn với nỗi trống vắng không thể giãi bày cùng ai: “ Bảo là nỗi cô đơn của kẻ thoán nghịch cũng được bảo là nỗi cô đơn của kẻ làm việc lớn cũng được” [1, tr 98]

Trang 18

Mẫu Thượng Ngàn: không gian ảo là không gian của tâm linh, của

những câu chuyện dân gian và những hiện tượng kì lạ không thể giải thích được bằng khoa học Câu chuyện ông Đùng bà Đà với bi kịch của một tình yêu chung dòng máu; Câu chuyện về ông Hộ Hiếu với những cơn ốp Đồng kì lạ có thể chữa bệnh được cho con người, và dự đoán số phận của họ Cao hơn cả là câu chuyện về Mẫu với những hình ảnh mang tính biểu tượng cao như Mẫu Thượng Ngàn, Cô Chín Đền Sòng Không gian kì ảo này không phải là một không gian mê hoặc, đánh lừa con người, mà nó thể hiện những khát vọng ẩn sâu trong lòng mỗi người: khát vọng được yêu thương, sẻ chia trong vòng tay của Mẫu- đó là một không gian thẫm đẫm tính văn hóa

Sử dụng không gian ảo tác giả muốn đưa vào tác phẩm những chi tiết

kì ảo, mang tính huyền thoại, tạo ra những ẩn số gợi sự chú ý của người đọc Những lễ hội văn hóa dân gian vốn là một truyền thống đẹp của dân tộc Nguyễn Xuân Khánh đã tạo dựng một không gian văn hóa bên cạnh không gian của lịch sử như để chứng minh sự tồn tại 2 thế giới trong cuộc sống của con người: một thế giới thực, và một thế giới ảo- của tâm linh, của những điều kì lạ khó có thể giải thích bằng khoa học Cái ảo nhưng không phi lý, không vô nghĩa Ngay từ đầu tác phẩm người đọc đã thấy những nhân vật cứ náo nức chờ đợi đến ngày hội như một sự kiện thiêng liêng, có ý nghĩa trọng đại Từ những kẻ xâm lược đến những người dân

xa xứ đều lần lượt trở về làng Cổ Đình, để rồi họ cùng gặp nhau trong đêm hội kì diệu ấy Trải qua bao nhiêu biến động của lịch sử, trước hoàn cảnh đất nước xâm lược; rồi bệnh dịch tả hoành hoành nhiều lúc khiến con người muốn đầu hàng Song cuối cùng họ vẫn đứng vững cho đến giờ phút linh thiêng, khi tất cả tinh thần, niềm tin yêu đều hướng về Mẫu

Trang 19

Tác giả đã miêu tả lễ hội kẻ Đình công phu và tỉ mỉ, đủ ba phần: Trước hội, chính hội và sau hội Trước hội là phần chuẩn bị: từ lựa chọn diễn viên, tập đàn và hát ca trù đến việc dọn dẹp đình làng, chuẩn bị các trò chơi (bơi chải, chọi gà, bắt chạch trong chum, đấu vật, thổi cơm, làm hình nhân ) đều được tiến hành sôi nổi và chuyên tâm Chính hội có một phần quan trọng là phần Lễ: Mẫu được rước bởi các trinh nữ, giá Mẫu

là giá đầu tiên, được diễn ra trong chừng mười phút: uy nghi mà hiền từ nhân hậu: “Luồng sinh khí hỉ xả tỏa ra mạnh lắm Nó làm cho nỗi lòng của kẻ đang gặp khổ sở được xoa dịu biến kẻ ác đang có dã tâm trở nên hiền hòa ” [2, tr.708] Giá đồng thứ hai là giá “Quan lớn tuần chanh”[2, tr.709] - một vị “anh hùng văn hóa” được hư cấu: oai phong, uy nghiêm.Giá thứ ba là giá Bà Chúa Thác Bờ- là người từ bi thường giáng trần chữa bệnh cứu người Các giá được rước trong tiếng nhạc, tiếng phách và những lời ca Kết thúc rước giá tất cả mọi người trong điện thờ đều nhập đồng- “con người như được nạp năng lượng mới để tiếp tục sống tất cả đều trở nên tinh khiết ” [2, tr 712] Phần thứ ba: sau hội

là lễ rước ông Đùng bà Đà và phong tục “trải ổ” Nhà văn đã tái diễn không khí của phần này trong sự huyền bí, linh thiêng và có cái gì đó sờ

sợ Không gian màn đêm với những ánh lửa le lói là cái nền cho những cặp tình nhân đến với nhau Đấy là một không gian mang tính huyền thoại, kì ảo

Một lễ hội kéo dài suốt ba ngày được tái diễn khá chân thực và gợi trí

tò mò cho người đọc Cái linh thiêng và kì diệu trong ngày hội lan tỏa khắp cốt truyện, khiến cho nhiều người nghĩ rằng đây là một cuốn tiểu thuyết phong tục Sự kiện này dù được tạo dựng trên cơ sở những chất liệu dân gian nhưng nó vẫn là sự hư cấu của tác giả Nhà văn đã khéo léo chắp nhặt những dữ liệu còn lại, thông qua trí tưởng tượng, kinh nghiệm

Trang 20

và sự sáng tạo của mình để đem người đọc thực sự bước vào trong một không khí văn hóa đậm bản sắc dân tộc Xây dựng sự kiện này tác giả muốn giữ lại cho chúng ta một nét văn hóa truyền thống đẹp đang dần bị mai một trong cuộc sống thị trường đầy những toan tính này Bên cạnh đó đặt sự kiện văn hóa trên cái nền của cuộc chiến tranh chống Pháp tác giả muốn khẳng định sức sống lâu bền của một dân tộc không một thế lực nào

có thể dập tắt Mùa “trải ổ” là mùa sinh sản, các thế hệ con của Mẫu sẽ là những người kế tục và gìn giữ những gì thuộc về dân tộc mình (dù đó có thể là những đứa con sinh ra trong sự cưỡng bức: con của Nhụ)

Và dường như trong Mẫu Thượng Ngàn, không gian ảo có xu thế lấn

át không gian thực Mục đích của nhà văn muốn chứng minh giá trị của sức mạnh tinh thần trong mọi cuộc chiến, nó có thể giúp dân tộc ấy chiến thắng mọi sự nô dịch, áp bức về chính trị cũng như văn hóa

Không gian ảo trong Mẫu Thượng Ngàn thường gắn liền với bóng

đêm, thậm chí là cái chết Đọc tác phẩm hẳn ai cũng bị ám ảnh bởi cái đêm người ta thay nhau đi chôn người chết vì bệnh dịch tả, những bước chân, những dáng người, cả tiếng khóc ơ hờ gợi nên sự tang tóc đến lạnh

người Nhưng trong Mẫu Thượng Ngàn các nhân vật luôn có xu hướng

vượt ra khỏi không gian của cái chết, vươn đến không gian của sự sống

Đó là sự tái sinh! Không gian của sự sống thường gắn liền với những chiếc giường, trên chiếc giường ấy bằng sự sẻ chia và sự cảm hóa về thể xác của những nhân vật nữ, những người đang đứng trước lưỡi hái của tử thần đều được vực dậy Phillip được Mùi cứu sống; Ông Hộ Hiếu được Bà Pháo, Lý Cỏn có bà Ba Váy, Điều có Nhụ chính cái sinh khí của những người phụ nữ đã đưa những người đàn ông ấy ra khỏi sự cám dỗ của bóng tối

Cái ảo thường gắn liền với những hiện thượng khó giải thích là vậy!

Trang 21

Tóm lại không gian thực chính là không gian của thời đa ̣i , xã hội, lịch

sử Khi sống trong không gian thực thì các nhân vâ ̣t hoàn toàn tỉnh táo ,

cái tỉnh táo đế n mức khôn ngoan (Hồ Quý Ly ), và đáng sợ (Trư cuồng ), hay đam mê (Mẫu Thượng Ngàn ) Cái tỉnh táo ấy gắn với tính thực tế , có

khi là thực du ̣ng của cuô ̣c sống Nó buộc nhân vật quên đi mình là ai Không gian ảo thường tồn tại trong các giấc mơ của nhân vật Giấc

mơ thực chất vẫn mang trên mình cái vỏ của hiê ̣n thực Có thể thấy trong những giấc mơ này có nhân vật, có các mối quan hệ, có cả suy nghĩ nội tâm Rõ ràng không gian ảo- giấc mơ dù không được diễn ra trong hiện thực nhưng lại là một phần của hiện thực, bởi chính ở đó sự thực vốn được che đậy hàng ngày lại được thể hiện chân thực nhất, con người được

là chính mình, các mối quan hệ hiện nguyên hình bản chất của nó

Ngoài ra trong không gian ảo thường xuất hiê ̣ n những dự đoán , dự cảm về tương lai của nhân vật , là nơi nhân vật soi vào cuộc sống của mình.Không gian ảo còn là không gian của tâm linh, của những câu chuyện dân gian và những hiện tượng kì lạ không thể giải thích được bằng khoa học

Không gian kì ảo này không phải là một không gian mê hoặc, đánh lừa con người, mà nó thể hiện những khát vọng ẩn sâu trong lòng mỗi người: khát vọng được yêu thương, sẻ chia ; Đó cũng là một không gian thẫm đẫm tính văn hóa

Sử dụng không gian ảo tác giả muốn đưa vào tác phẩm những chi tiết

kì ảo, mang tính huyền thoại, tạo ra những ẩn số gợi sự chú ý của người đọc

Bên ca ̣nh đó còn có sự tồn ta ̣i song trùng giữa không gian sự sống / cái chết ; bóng tối / ánh sáng Không gian của cái chết thường gắn với bóng

Trang 22

đêm các nhân vật luôn có xu hướng vượt ra khỏi không gian của cái chết, vươn đến không gian của sự sống Đó là sự tái sinh!

1.2.2 Hiện tượng coi trọng, đề cao không gian gia đình

Trong các tác phẩm , nhà văn luôn già nh cho gia đình mô ̣t không gian rất trang tro ̣ng Đó là không gian của những mâu thuẫn nhưng cũng là của sự sẻ chia , đồng cảm nhất Không gian gia đình cũng là nơi duy trì những nền tảng văn hóa của dân tô ̣c Đó là 1 không gian xã hô ̣i thu nhỏ

Trong Hồ Quý Ly, những biến động của triều đại thể hiện qua biến

động của gia đình, dòng họ Một Hồ Quý Ly mạnh mẽ, táo bạo, kiên quyết đến mức lạnh lùng nơi triều chính, lại là một Hồ Quý Ly phức tạp, mâu thuẫn, cô đơn, bi kịch khi trở về với không gian gia đình Ở đó ông

có người ủng hộ, sùng bái con đường của ông như Hồ Hán Thương; Ông soi mình trong suy nghĩ của Hồ Nguyên Trừng- người duy nhất thấu hiểu được những tâm sự sâu kín trong lòng ông; và ông đối diện với nỗi cô đơn trống trải đến cực cùng trước bài vị của người vợ mà ông yêu thương nhất Không phải ngẫu nhiên mà tác giả giành hẳn hai chương: Chương 9: Một ngày của thái sư (1); Chương 10: Một ngày của thái sư (2), để miêu

tả cuộc sống riêng của nhân vật Đó là hai chương Hồ Quý Ly sống trong bầu không gian chính là gia đình, lúc ông được là chính mình, được ngẫm nghĩ, chiêm nghiệm và vật lộn với những suy nghĩ về con đường đang đi,

về những người xung quanh và về bản thân

Trong Mẫu Thượng Ngàn, dường như cả xã hội đã được thu nhỏ

trong hai đại gia đình lớn: Họ Vũ và họ Đinh - hai dòng họ với những mâu thuẫn từ lâu đời về địa vị và chức tước, sự xâm nhập của những kẻ ngoại bang, tình yêu và sự thù hận Cuộc sống gia đình song hành với sự biến thiên của lịch sử, thời đại Dù có bao thăng trầm nhưng cuối cùng những gì thuộc về nền tảng gia đình vẫn được duy trì, nhưng con người

Trang 23

trong đó đã vật lộn để đấu tranh với bao thử thách để sống và tồn tại Quan trọng hơn cả gia đình là nơi lưu giữ những nét văn hóa bản sắc của dân tộc, mà bất kì kẻ thù nào cũng không thể xóa nhòa

Rất nhiều lần trong các tác phẩm của mình , Nguyễn Xuân Khánh để cho nhân vâ ̣t vâ ̣t lô ̣n trong những mối quan hê ̣ phức ta ̣p của gia đình Thâ ̣m chí có lúc các nhân vâ ̣t đã cho ̣n cách giải thoát là vượt ra khỏi không gian ấy Nhưng cuối cùng gia đình vẫn là nơi trở về cho những tâm hồn lưu la ̣c Các nhân vật đều có xu hướng quay về nơi mình đã sinh ra, quay về nơi cội nguồn của nền văn hóa dân tộc: Trịnh Huyền, Tuấn, Huy, Nhụ, Những nhân vật chọn con đường ra đi như Điều và Hoa không phải

vì họ bỏ cội nguồn mà vì họ không dám đối diện với hiện thực cuộc sống của mình, họ muốn chạy trốn số phận Sức hút của một nền văn hóa chính

là nguyên nhân khiến nhân vật không thể rời xa nơi mình đã sinh ra và lớn lên Nhụ là nhân vật có kết cục đau đớn, hơn ai hết cô trở về quê là đối diện với quá khứ đầy nước mắt của mình, nhưng cô vẫn trở về, không phải để trả thù, để oán hận, mà trở về với gia đình, với mẫu - nơi duy nhất

cô tìm được tình yêu thương trọn vẹn

Sự quan trọng, và ý nghĩa của không gian gia đình khiến các nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh luôn khát khao có 1 gia đình trọn

vẹn Trong Miền hoang tưởng, dù mỗi nhân vật có 1 con đường đi riêng

thì với họ gia đình vẫn là điều thiêng liêng nhất Ngọ và Lan, Tư và Ngà, gia đình Anh Trần…- tất cả đều là sự kết hợp của tình yêu thương, sự đồng cảm và sẻ chia cho những tâm hồn không đơn độc

Với Nguyễn Xuân Khánh không gian gia đình còn là không gian của sự tái sinh Nơi sự sống chiến thắng cái chết , nơi những sinh linh bé nhỏ chào đời… Không phải ngẫu nhiên tác giả để cho các nhân vật nữ sinh con nhiều, đặc biệt là bà ba Váy (5 đứa con), mà đó là một biểu tượng của

Trang 24

sức sống, một sự tồn tại bất diệt của giống nòi- nó thể hiện sự vĩnh hằng của cả dân tộc Kết thúc tác phẩm cũng là hình ảnh của một đứa trẻ- một đứa con lai- sự kế thừa tinh hoa của các nền văn hóa (kế thừa theo hình thức giao lưu hoặc cưỡng chế)- đại diện cho một một thế hệ mới những con người nhận thức được quá khứ của dân tộc, và bản sắc văn hóa của mình, để bảo vệ và phát triển nó Các nhân vật trong tác phẩm bao gồm bốn thế hệ: thế hệ của những người đi trước như cụ đồ Tiết; thế hệ của Trịnh Huyền, bà Ba Váy , thế hệ của Nhụ, Điều, Xuân , và thế hệ của đứa con của Nhụ Cứ thế họ kế tiếp nhau, phát huy nền tảng văn hóa của dân tộc, thể hiện một sự trường tồn không gì có thể ngăn cản được Tác giả giao cho các nhân vật nữ trong tác phẩm một khả năng kì diệu là tái sinh những người cận kề cái chết Người phụ nữ có thể cứu sống con người bằng tất cả mọi khả năng có thể có: sự sẻ chia, sự gần gũi, và bằng chính cơ thể mình- tất cả đều là tình yêu thương mang tính bản năng của Mẫu nói chung Bà ba Váy và Nhụ đã cứu sống chồng bằng toàn bộ tình thương được gửi gắm qua chính hơi ấm và sinh khí của cơ thể Đó là tình yêu thương của những con người cùng sống chung trong một bầu không khí của gia đình!

Nhà văn luôn có ý thức đặt không gian gia đình trong sự đối lập với không gian của xã hô ̣i, thâ ̣m chí là của thời đa ̣i Tác giả muốn khẳng định đằng sau sự biến thiên của li ̣ch sử , của cuộc sống vẫn có một chốn luôn bình yên , luôn vĩnh hằng và không bao giờ đổi thay là gia đình , và tình yêu thương của gia đ ình

1.3 Thời gian trần thuâ ̣t trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

1.3.1 Hiện tượng thời gián gián cách

Hiê ̣n tượng gián cách về mă ̣t th ời gian thường được sử dụng nhiều trong các cuốn tiểu thuyết mang trên mình sức chứa đựng mô ̣t pha ̣ m vi

Trang 25

hiê ̣n thực li ̣ch sử lớn Cái riêng của Nguyễn Xuân Khánh là hiện tượng gián cách về mặt thời gian trong tiểu thuyết của ông được tạo nên bởi

dòng tâm lý nhân vật , chứ không phải vì mu ̣c đích của người viết

Song song vớ i tru ̣c thời gian chính của li ̣ch sử là diễn biến của thời gian trong suy nghĩ , hoài niệm và ước mơ của nhân vật Đó là hành trình thời gian của tâm tra ̣ng Do vâ ̣y xuất hiê ̣n hai khuynh hướng gián cách trong tiểu thuyết của ô ng:

Thời gian hồi tưởng : Trong các tác phẩm nhà văn rất hay lựa cho ̣n hình thức quay ngược thời gian Thời gian của cốt truyện hầu hết đều bị đảo lộn Điều này cũng có thể giải thích được Bởi vì tác giả không chọn con đường song hành cùng sự phát triển của lịch sử mà chọn cách khúc xạ

sự phát triển đó qua từng đôi mắt của mỗi nhân vật Do vậy ở mỗi chương lịch sử đều được tái diễn ở nhiều góc độ khác nhau Cốt truyện được xây dựng theo hình thức:

Hiện tại 1 - Quá khứ - Hiện tại 2 (trong đó hiện tại 2 là sự phát triển từ hiện tại 1) Hình thức này là hình thức chung của các tác phẩm nhưng nó cũng được tái diễn ở từng chương cụ thể, thậm chí trong từng phần nhỏ của chương (thông qua sự nhìn nhận của từng nhân vật).Quá khứ và hiện tại luôn có xu hướng lồng ghép, đan cài vào nhau, đây là hình thức đồng hiện về mặt thời gian Trong hai cuốn tiểu thuyết, thời gian còn tồn tại như một nhân tố tích cực phục vụ cho ý đồ của nhà văn trong việc viện dẫn các sự kiện

Trong Miền hoang tưởng, 12 lần tác giả sử dụng hiện tượng gián cách

về thời gian Đây hầu hết là những lần nhân vật chính (Tư) hồi tưởng về quá khứ ở Tây Bắc Đó là quãng thời gian ghi dấu những kỉ niệm của một thời lao động, trưởng thành của người lính sau trận đánh Nơi có hạnh phúc, giận hờn và cả tình yêu mới chớm nở Những nỗi ám ảnh về quá

Trang 26

khứ, cũng như sự nhớ nhung người yêu cứ trở đi trở lại trong những bức thư Tư viết cho Ngà, và cả trong những giấc mơ của anh Tư rời bỏ Tây Bắc như muốn chạy trốn quá khứ, theo đuổi niềm đam mê của mình, nhưng rồi mộng khó thành mà thực tại thì khó khăn Nên anh cứ sống trong những giấc mơ một thời còn dang dở Quá khứ cứ thế ám ảnh trên những trang sách!

Trong Hồ Quý Ly, hiện tượng thời gian gián cách xuất hiện 26 lần

Trang 192 tác giả viết: “Giờ tị, cổng thành mở, hôm nay là cuộc hành xử gồm rất nhiều vụ án ”để giải thích cho sự kiến này tác giả quay ngược thời gian kể về công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly; phát hình tiền giấy, thu hút sĩ tử hay ở trang 223 tác giả viết : “ quân thầy chùa của Phạm

Sư Ôn nổi loạn cũng nhân cơ hội này kéo về Thăng Long ”, sau đó nhà văn quay ngược thời gian trở về 30 năm trước đó, giải thích sự ra đời và quá trình hình thành nhân cách con người Phạm Sư Ôn Lí giải nguyên nhân của cuộc nổi loạn

Ở Mẫu Thượng Ngàn hiện tượng này cũng rất phổ biến 23 lần là con

số thời gian gián cách xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết này Nhà văn nêu

ra kết quả trước, sau đó giải thích nguyên nhân bằng cách kéo lùi thời gian về quá khứ một cốt truyện nhỏ được hình thành Khi kể về Trịnh Huyền, tác giả chọn cho người đọc một góc tiếp cận đầy những câu hỏi,

đó là tiếp cận với khuôn mặt một nửa đẹp một nửa xấu xí của ông, để rồi dẫn người đọc trở về với quá khứ của con người này Cách thức này được sử dụng cho hầu hết các nhân vật trong truyện, và mỗi lần nhà văn

sử dụng thời gian làm phương tiện là mỗi lần hình thành một cốt truyện nhỏ về một nhân vật

Có thể tạm hình dung mô hình thời gian trong Mẫu thượng ngàn như sau:

Trang 27

(1) Sự kiện 1 -sự kiện 2 -sự kiện 3

Tg sự kiện tgian skiện

(2) Tg nhân vật Tg nhân vật tgian nhân vật

(3) Tgian văn hóa Tg văn hóa tgian văn hóa thời gian văn hóa Trong đó:

(1): Cốt truyện được tạo nên bởi hệ thống sự kiện lịch sử

(2): Cốt truyện về cuộc đời của mỗi nhân vật

(3): Cốt truyện về văn hóa

Có thể thấy thời gian sự kiện ngắn nhất, thời gian của nhân vật có độ lùi so với sự kiện, thời gian văn hóa kéo dài theo 3 chiều: quá khứ- hiện tại- tương lai

Thời gian vượt cấp : gắn liền với những suy đoán về tương lai ; còn gọi là hiện tượng “nhảy cóc” về thời gian Nhiều lúc cốt truyện đang diễn

ra theo hướng tuyến tính thì bỗng đến phần tiếp theo nhà văn lại kéo người đọc quay lại quãng thời gian trước đó hoặc tiến lên hàng chục năm.Trong Hồ Quý Ly ngay chương 1, tác giả viết: “năm nay: Trần Nghệ Tông mở hội thề ” [1, tr 12] ; sau đó không lâu nhà văn lại quay về :

“mấy năm trước Phạm Sư Ôn nổi loạn đốt chùa” hoặc trong trang 132, tác giả diễn tả độ dài của một quãng thời gian chỉ trên một con đường :

“ nghe tiếng cười của Quý Ly, Trừng quay mặt đi lặng lẽ nhìn những vòm cây hòe Đi giữa con đường Hòe Trừng như còn nghe cả tiếng cười của cha mình năm xưa Thế mà đã thấm thoắt 15 năm Cha ta đã viết xong cuốn Minh Đạo” Cũng con đường dưới những vòm cây Hòe ấy, lịch sử

đã đi được chặng đường 15 năm, bao nhiêu sự kiện đã diễn ra Hiện

tượng gián cách này ở Mẫu Thượng Ngàn ít hơn Có thể giải thích được điều này thông qua chính việc lựa chọn lịch sử của nhà văn Vì trong Hồ Quý Ly nhà văn chọn một giai đoạn lịch sử dài, với nhiều sự kiện biến cố,

Trang 28

nên ngòi bút dễ tung hoành qua các khoảng thời gian khác nhau mà không

sợ làm loãng cốt truyện.Còn Mẫu Thượng Ngàn chỉ chọn khoảng thời gian

lịch sử trong vòng hơn chục năm, cơ hội cho nhà văn xê dịch ở nhiều mốc thời gian không nhiều, nếu quá lạm dụng sự gián cách sẽ làm vỡ mạch truyện, khiến cho cốt truyện loãng mà khó có thể tạo ra điểm nhấn

1.3.2 Hiê ̣n tượng t hời gian nén :

Hiện tượng thời gian nén được sử du ̣ng nhiều trong những tiểu

thuyết dung lượng lớn Thực chất đây là hình thức “tóm tắt” về mă ̣t thời gian Vì trên thực tế , thờ i gian hiê ̣n thực của tác phẩm kéo dài có khi đến

cả h àng chục năm trời Và dĩ nhiên không phải mỗi giai đoạn trôi qua đều được nhà văn sao chu ̣p la ̣i Những gì nhà văn lựa cho ̣n chỉ phu ̣c vu ̣ cho mục đích biểu hiện của tác phẩm Có những khoảng thời gian không có ý nghĩa đặc bi ệt, cũng như sự tác động đối với tiến trình cốt truyện , nhà văn chọn cách nén nó lại Nhờ vâ ̣y ta ̣o nên được sức nă ̣ng cho tác phẩm Có những lúc chỉ cần mô ̣t khoảnh khắc trôi qua , nhà văn giành hẳn cả chương truyê ̣n để vi ết về nó , nhưng có những khi hàng chu ̣c năm chỉ được nén la ̣i trong nữa trang giấy , hoă ̣c thâ ̣m chí chỉ vài dòng ngắn ngủi

Tác giả thường dồn nén các sự kiện vào một điểm, sau đó mới phân

tách nó ra Trong Miền hoang tưởng, có 7 lần tác giả sử dụng hình thức

nén về thời gian Thực chất khoảng thời gian tái hiện trong tác phẩm không dài Nên việc sử dụng thời gian nén nhiều lần không cần thiết Phần lớn nhà văn dùng khi muốn giải thích một sự kiện hoặc một cuộc đời nào đó Tác giả cố tình kể nhanh về một khoảng thời gian trong một dung lượng văn bản ít ỏi nhằm hướng sự chú ý của người đọc đến kết quả của vấn đề

Với Hồ Quý Ly lại khác, do khoảng thời gian lịch sử được tái hiện

kéo dài suốt một triều đại trong nhiều năm; nên việc sử dụng thời gian

Trang 29

nén như một thủ pháp nhắm đẩy nhanh tốc độ, nhịp điệu của tác phẩm 17

lần là số lượng thời gian nén trong tiểu thuyết này Mở đầu Hồ Quý Ly,

tác giả liệt kê toàn bộ sự kiện lịch sử diễn ra trong cốt truyện chỉ qua mấy dòng ngắn: “Cứ nhìn những sự kiện xảy ra trong những năm gần đây thì rõ: Quân Chiêm Thành tiến sát kinh đô mấy lần, Phạm Sư Ôn nổi loạn, vua Trần Duệ Tông đánh Chiêm Thành tử trận, vua Trần Phế Đế bị ông vua già truất ngôi và giết chết Trần Nhân Tông ba đời làm vua Cho con

út Thuận Tông lên ngôi Đất nước chao đảo, quyền thế nằm trong tay ông vua già và ông vua trẻ nít Trong khi đó thế lực Hồ Quý Ly càng mạnh”[1,

tr 15]

Trong Mẫu Thượng Ngàn cũng vậy; nhà văn cũng sử dụng hình thức

nén về thời gian trong 17 lần Từ những trang đầu tiên tác giả đã dồn tụ khoảng thời gian 20 năm của cốt truyện vào trong cảm nhận của một người đàn ông mới trở về quê : “Đã hai chục năm rồi nhưng cảnh chẳng khác xưa mấy tí Ngọn núi phía dưới dòng là núi Đùng, ở đó có nhiều chuyện lạ ” [2, tr 10] Sự dồn nén về mặt thời gian tạo cho truyện một không khí sử thi ngay từ những trang đầu tiên Mặt khác nó định hướng cho người đọc khi bước vào một thế giới ngút ngàn những sự kiện và nhân vật, phần nào đó còn kích thích trí tò mò của độc giả!

Với những cuốn tiểu thuyết đồ sộ, mang tầm vóc sử thi, việc sử dụng hiện tượng thời gian nén sẽ giúp nhà văn giải quyết rất nhiều vấn đề Có những khoảng thời gian nhà văn cần lướt qua đề tập trung vào vấn đề quan trọng nhất Như vậy mục đích của thủ pháp này gồm: Định hướng độc giả, giải thích hiện tượng, lướt nhanh về thời gian, tăng không khí sử thi cho tác phẩm, đẩy nhanh tốc độ văn bản, gia tăng nhịp điệu…

Trang 30

1.3.3 Thời gian trong sự tương ứng với không gian: thời gian chết

Khi thời gian và không gian có s ự trùng khít nhau , nhân vâ ̣t ngừng

vâ ̣n đô ̣ng trong khoảng thời gian ấy Lúc ấy ta có thể gọi đó là thời gian

chết Ví dụ trong tác phẩm chưa được xuất bản như Trư cuồng đó là lúc

người ta tưởng nhân vâ ̣t đã chết , nhưng thực chất có 1 câu chuyê ̣n đang diễn ra trong giấc mơ của nhân vâ ̣t Đây cũng là lúc các nhân vâ ̣t chuyển sang đô ̣c thoa ̣i nô ̣i tâm

Hiê ̣n tượng thời gian chết được tác giả sử du ̣ng như để ta ̣o nên mô ̣t

khoảng lặng cho tác phẩm Đây cũng có thể xem l à hiện tượng trì hoãn về

mă ̣t thời gian Do các cuốn tiểu thuyết có dung lượng khá đồ sộ , mang không khí sử thi, nên hiện tượng trì hoãn thời gian khá phổ biến, (hay còn gọi là trì hoãn thời gian sử thi) Đây là hình thức được sử dụng khá nhiều trong các tiểu thuyết dài, đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết lịch sử Để làm giãn sự phát triển của cốt truyện, tạo những khoảng trống để nhà văn gửi gắm quan niệm tư tưởng của mình, người viết thường thêm vào các phần bình luận, trữ tình ngoại đề, hoặc thay vào một sự kiện khác tưởng không liên quan Sự trì hoãn này vừa làm cho không khí của truyện thêm phần li kì và thu hút, kích thích sự chú ý của người đọc, vừa khiến người đọc được thư giãn bởi một bầu không khí khác

Với Miền hoang tưởng, đó là những giây phút khi nhân vật đắm chìm

trong thế giới của âm nhạc, hội họa Dường như lúc ấy mọi sự vận động đều vô ích, nó không thể xua tan đi thế giới vô hình đang bao quanh nhân vật : “…Tôi ngồi trước đàn dương cầm, vừa đánh vừa suy nghĩ Anh Trương Chi xưa hát tiếng đàn buồn, tiếng hát giàu có Những thoáng buồn, những thoáng âm, những thoáng biến trong giọng hát đò đêm – có cái gì tí tách, hay mưa dầm dề, hay trái tim ứ máu…” [3, tr 60] Quá khứ - hiện tại - tương lai như dồn tụ, chất nặng trong giây phút ấy – giây

Trang 31

phút ý nghĩa nhất với nhân vật Chỉ có trái tim và tiếng đàn, chỉ có sự tri

âm, đồng điệu Mọi ranh giới dường như biến mất!

Dường như có những phần trong tiểu thuyết người đọc cảm thấy thời gian như ngừng trôi Mọi sự vận động đều ngưng trong lại trong 1 bầu không gian tĩnh lặng đến lạ: không gian của văn hóa Đó là lúc nhà văn say sưa miêu tả cảnh vườn mai mang vẻ đẹp cổ kính mà kiêu sa của thượng tướng Trần Khát Chân; cảnh thiên nhiên núi rừng huyền ảo, lãng mạn mà kì bí nơi chốn Thanh Hư quán; hay đắm chìm trong những bức

tranh do Phạm Sinh, Nguyên Trừng vẽ đầy sức sống và sự ám ảnh (Hồ Quý Ly); hay khung cảnh làng quê yên bình, với những phong tục tao nhã như uống nước mưa, phà trà, lấy mật ong đầy chất thơ (Mẫu thượng ngàn) Để có những trang viết ấn tượng ấy đòi hỏi rất nhiều ở trí tưởng

tượng phong phú, ngòi bút điêu luyện của nhà văn Thực sự đọc những đoạn văn tả cảnh của Nguyễn Xuân Khánh trong hai tác phẩm, người đọc cũng như được đắm mình trong một thế giới khác lạ : “Mùa đông khi lá mai rụng hết, những nụ mai không biết ẩn nấp từ đâu bỗng đột nhiên đồng loạt đâm chồi lên ở khắp mọi cành, cứ như thể một phép lạ đã mời đón chúng về chen chúc gọi mùa xuân ” [1, tr 204] ; “ Cuối xuân đầu hạ, hoa núi ê hề, trong rừng có hàng trăm thứ hoa đua nở Những cây nhãn rừng, rồi dâu da rừng đơm hoa trắng xóa…còn có bao nhiêu loài hoa dại: những bông hoa tím không tên, những bụi mẫu đơn đỏ rực Thiên đường hoa!” [2, tr 50].Có những lúc cảm giác như nhà văn quá say sưa trong những nét đẹp bình dị mà thiêng liêng của dân tộc, nên ngòi bút cứ mặc sức phóng trên trang giấy, tưởng không thể dừng, và thời gian cũng như ngưng đọng trong cái giây phút mê đắm ấy của người viết!

Trong Mẫu Thươ ̣ng Ngàn có những chương dường như nhà văn chỉ

dừng la ̣i ở sự miêu tả và những cảm nhâ ̣n đơn thuần Ở chương “ Nhụ và

Trang 32

Điều” có thể xem như thời gian được đóng khung lại trong những phong

tục đẹp của dân tộc Cái lấp lánh của những khoảng không gian văn hóa đã ngự tri ̣ , chiến thắ ng mo ̣i sự trôi chảy của thời gian : “Các cầu ong đã đầy và bít nắp Cụ Tiết dùng một lưỡi dao thật mỏng , sắc như dao cạo , khéo léo cắt những tầng ong nhiều m ật, cắt chúng thành những miếng nhỏ Sau đó , lấy mô ̣t chiếc ch ậu sạch và khô , đă ̣t những chiếc đũa dài lên miê ̣ng châ ̣u , rồi đă ̣t những miếng tổ ong lên đũa ngãng…” [2, tr.51] Cứ thế những đoa ̣n văn nối tiếp nhau , và mọi biến thiên của cuộc sống , của

xã hội dường như chẳng có ý nghĩ a gì trong giây phút ấy – giây phút con người được đắm chìm trong thế giới của văn hóa , của phong tục , của tinh thần…

Trong khoảng thời gian ngừng vâ ̣n đô ̣ng ấy , bạn đọc có thể cảm nhận được thế giới tinh thần của nhà văn Dường như đó là lúc bút lực của tác giả được thăng hoa , mă ̣c sức miêu tả , thể hiê ̣n Nguyễn Xuân Khánh là cây bút nă ̣ng tình với nền văn hóa dân tô ̣c , nên ông luôn giành mô ̣t phần trang tro ̣ng trên trang viết của mình cho những né t đe ̣p thuô ̣c về bản sắc Trong những trang viết đó , ta có thể cảm nhâ ̣n được sự ngưng đo ̣ng của thời gian và không gian Mọi khoảng trống đều giành cho niềm đam mê

và tình yêu dân tộc

1.4 Tiểu kết

G.Genette gọi thời gian tự sự là “thời gian giả” để phân biệt với thời gian của bản thân câu chuyện hoặc sự kiện được trần thuật Thời gian

“giả” trong hai tác phẩm là thời gian đảo lộn so với thời gian của lịch sử

“Giả” theo cái nghĩa về mặt trình tự, nhưng thực chất đó là thời gian được soi chiếu bởi rất nhiều cái nhìn, và được tái diễn liên tục, có thể nói tác giả đã để cho cốt truyện đi lại trên một trục thời gian nhiều lần, khép kín

về mặt sự kiện Chính bởi vậy mà thời gian trở thành một phần không thể

Trang 33

thiếu cấu trúc nên tác phẩm, là cơ sở, nền tảng để nhà văn xây dựng hệ thống nhân vật, sự kiện phục vụ ý tưởng nghệ thuật của mình

Cũng như vậy , không gian trong tác phẩm thực chất là không gian tái tạo Dù trong đó có một phần của hiện thực Đó là nơi mà nhà v ăn đă ̣t nhân vâ ̣t của mình vào , với những mối quan hê ̣ , những suy ngẫm riêng

Dù vô tình hay hữu ý thì thời gian và không gian vẫn tồn tại như một sự

sắp đă ̣t Bởi nó thể hiê ̣n ý nghĩa tư tưởng và nô ̣i dung biểu hiê ̣n của tác

phẩm

Mô ̣t khi chúng ta giải mã được những ẩn số về mă ̣t thời gian và

không gian trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh , cũng là khi chúng ta đã bước được vào thế giới nghê ̣ thuâ ̣t riêng của những tác phẩm đó Nguyễn Xuân Khán h luôn có ý thức đă ̣t thời gian và không gian trong sự tương ứng với nhau , soi chiếu nhau Trong không gian của li ̣ch sử , của thời gian là những khoảng thời gian đứt quãng Nhân vật được xây dựng trong sự trải nghiê ̣m với những kho ảng thời gian , không gian ấy Chính vì

vâ ̣y mà mỗi cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh đều ta ̣o được sự ám ảnh trong lòng độc giả

Trang 34

Chương 2 KẾT CẤU VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TIỂU

THUYẾT NGUYỄN XUÂN KHÁNH 2.1 Một số vấn đề lý thuyết

Vấn đề điểm nhìn trần thuật trong văn bản, theo Iu Lôtman "bao giờ cũng là vấn đề quan hệ giữa sáng tạo và cái được sáng tạo", nhà văn đặt

mình ở vị trí nào để quan sát và thể hiện những nhận suy về cuộc sống

Theo Trần Đình Sử- (Dẫn luận thi pháp học): “Điểm nhìn văn bản là

phương thức phát ngôn trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả…Khái niệm “điểm nhìn” mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thể

và khách thể cả phương diện vật lí, tâm lí, văn hoá”; hay nói đơn giản hơn thì điểm nhìn là: “điểm hay chổ đứng để xem xét, bình giá một sự vật,

một sự kiện , một hiện tượng tự nhiên hay xã hội”(Nguyễn Thái

Hoà-“Mấy vấn đề về thi pháp của truyện”)

Về chức năng , điểm nhìn mang ý nghĩa của sự lựa cho ̣n và giới ha ̣n thông tin trần thuâ ̣t , cái nhìn sự kiện và cấu trúc của sự kiện từ điểm nhìn của một người nào đó và của việc tạo ra cái nhìn đồng cảm hoặc mỉa mai

ở người quan sá t

Không thể hiểu được sâu sắc tác phẩm văn học nếu ta không tìm hiểu điểm nhìn nghệ thuật, bởi lẽ để miêu tả, trần thuật, nhà văn buộc phải xác định, lựa chọn điểm nhìn hợp lý Trong văn học, điểm nhìn trần thuật được hiểu là vị trí người trần thuật quan sát, cảm thụ và miêu tả, đánh giá đối tượng Người ta có thể nói đến điểm nhìn qua các bình diện vật lý, bình diện tâm lý (điểm nhìn bên trong hay điểm nhìn bên ngoài, giới tính, lứa tuổi ), qua trường nhìn (của tác giả hay của nhân vật) Trong tác phẩm, việc tổ chức điểm nhìn trần thuật bao giờ cũng mang tính sáng tạo

Trang 35

cao độ Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp, giá trị của tác phẩm bắt đầu

từ việc nhà văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn mới về cuộc đời Mặt khác, thông qua điểm nhìn trần thuật, người đọc có dịp đi sâu tìm hiểu cấu trúc tác phẩm và nhận ra đặc điểm phong cách của nhà văn

Kết cấu có thể xem là bô ̣ khung của tác phẩm Nếu kết cấu không vững thì tác phẩm rất dễ bi ̣ gãy vụn Theo lý thuyết lý luận văn học truyền thống thì kết cấu là “sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan theo một chiều hướng tư

tưởng nhất định” (Tr 143, Lý luận văn học, Khoa Văn, ĐH KHXH & NV,

Nxb Giáo dục, 2003) Quá trình này hướng đến hai phần là các yếu tố bên trong (nội dung của tác phẩm) và các yếu tố bên ngoài (bố cục của tác phẩm) Từ đó, kết cấu trở thành một trong những tiêu chí để đánh giá một

tác phẩm hay dở; độc đáo hay không Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

dường như nằm ngoài hệ quy chiếu đó, nó trở thành một hình ảnh thu nhỏ, một bức tranh mô tả nội hàm kết cấu mang thêm nhiều yếu tố mới trong văn chương hiện đại

2.2 Kết cấu trần thuâ ̣t trong tiểu thuyế t Nguyễn Xuân Khánh

2.2.1 Hình thức kết cấu phân mảnh

Kết cấu phân mảnh được các nhà tiểu thuyết đương đại sử dụng khá nhiều Đây là kiểu kết cấu được tạo nên từ hệ thống các mảng có tính độc lập tồn tại bên cạnh nhau Ta có thể hình dung một cốt truyện truyền thống giờ đây đã bị nghiền nát, đập vỡ thành từng mảnh vụn rời rạc, không theo một trình tự thời gian hay mối liên hệ nhân quả nào và mỗi mảnh vụn chính là một mảnh của hiện thực Trong quan niệm của các nhà văn thời kì đổi mới, hiện thực không phải là một khối duy nhất mà là có

vô số mảnh vỡ xuất hiện từ nhiều phương hướng khác nhau Hiện thực

Trang 36

không phải là một khối đơn giản và đồng nhất trong nhãn quan của mọi người Ngay cả với bản thân một người thì cùng lúc họ cũng có thể nhìn thấy nhiều thế giới khác nhau bởi mỗi người có thể cùng lúc chịu chi phối nhiều hệ quy chiếu khác nhau Các nhà tiểu thuyết thời kì đổi mới nhận thấy rằng không có một mẫu hình thế giới lý tưởng và trường cửu để hướng đến mà có vô số mẫu hình thế giới để lựa chọn, không có một hiện thực cố định để tiếp cận mà có vô số hiện thực bất định để ứng phó Thế giới là tập hợp của những mảnh vụn hiện thực – mỗi mảnh vụn nằm ở một chỗ riêng của nó – mỗi mạnh vụn tự nó là một tâm điểm, nó có giá trị tự thân của nó

Trong tiểu thuyết Ng uyễn Xuân Khánh có sự đan xen của rất nhiều cốt truyê ̣n Câu chuyê ̣n của li ̣ch sử , của cuộc sống luôn bao hàm trong nó câu chuyê ̣n của những nhân vâ ̣t Mỗi nhân vâ ̣t là mô ̣t cuô ̣c đời được dựng lên hoà n chỉnh Thoạt nhìn qua chúng ta dễ cảm nhận mỗi chương là 1 câu chuyện độc lập với nhau Nhưng đó chính là những mảnh vỡ của bức tranh chung, giữa chúng có sự kết nối bền chặt, chỉ khi người đọc thực sự

đi sâu vào nó mới có thể cảm nhận được

Phần lớn, Nguyễn Xuân Khánh đã cho ̣n hì nh thức kết cấu phân đôi

để có thể đi hết trọn vẹn từng cốt truyện Hình thức phân đôi này có thể diễn ra ở các chương , hoă ̣c các că ̣p chương , nhưng cũng có khi nằm trong chính bản thân của cốt truyện (phân đôi ngầm )

Hồ Quý Ly: Từ chương 3 đến chương 10 xuất hiện các “cặp chương” với

nội dung chính kể về các nhân vật cụ thể Chương 11 tồn tại đa nhân vật- chủ yếu là nhân vật phụ Chương 12 và chương 13 là hành trình đến Thanh đô và hội thề Đốn Sơn

Trang 37

Có thể thấy những nhân vật mà nhà văn giành hẳn hai chương để kể

là nhân vật có vị trí khá quan trọng nếu không muốn nói là trung tâm

trong toàn bô ̣ ma ̣ch chảy của cốt truyê ̣n Hiện tượng phân đôi này cũng

thể hình dung là cách thức dựng nên bức chân dung hai mă ̣t của nhân vâ ̣t

Hai mă ̣t ấy không mâu thuẫn nhau mà soi chiếu nhau Ở chương 9 và

chương 10, người ta có thể nhâ ̣n thấy 2 con người Hồ Quý Ly : Mô ̣t nhà

cải cách với những chính sách táo bạo – và một con người với những mâu

thuẫn nô ̣i tâm giằng xé , phức ta ̣p Trong mỗi că ̣p đôi n ày người đọc cũng

dễ nhâ ̣n thấy có sự khác biê ̣t ở bút pháp xây dựng nhân vâ ̣t : lúc thì nhân

vâ ̣t được soi chiếu dưới cái nhìn của những nhân vâ ̣t khác ; và lúc thì nhân

vâ ̣t tự phơi trải lòng mình qua những dòng đô ̣c thoa ̣i nô ̣i tâm

Mẫu Thượng Ngàn: Sự phân đôi ở tác phẩm này không nằm ở cách

bố trí các chương mà nằm trong chính cấu trúc của cốt truyện

Hình thức lưỡng phân này thể hiện những thực thể và các yếu tố song

hành- đó là hai mặt của cuộc sống, của một con người, là những yếu tố có

thể mâu thuẫn nhưng không thể tách rời- ý nghĩa nhân bản đó của các tác

phẩm được toát lên từ chính bố cục của nó Một ý nghĩa khác có thể nhận

Chương 3 Chương4 Chương5 Chương6 Chương7 Chương8 Chương 9 Chương 10

Nghệ tông

Trần Khát Chân

Thuận Tông

Hồ Quý

Ly

Trang 38

ra sau khi đọc tác phẩm này đó là sự cặp đôi về mặt “tính” Đó là hình thức lưỡng phân của vũ trụ, một biểu tượng của văn hóa, là cội nguồn của

sự “sinh”-hình thành nên con người

Vd: Mẫu Thươ ̣ng Ngàn :

Nửa mặt xấu (của Trịnh Huyền)

Nửa mặt đẹp (Trịnh Huyền)

Miền hoang tưởng được kết cấu bởi 2 mảnh ghép lớn: một thế giới

trong những bức thư và một thế giới trải nghiệm: Chương 1: Những bức thư tình/ Chương 2: Khắc khoải Nhưng đi sâu vào tác phẩm người đọc sẽ nhận ra bản thân trong sự phân đôi ấy lại có rất nhiều những mảnh ghép nhỏ: 15 bức thư là 15 mảng hiện thực được ghép nối với nhau (trong đó

có 10 lá được gửi đi, 5 lá không gửi và chỉ có 2 lá thư hồi âm)

Sự phân mảnh trong kết cấu phản ánh quan niệm về thế giới của tác giả Các nhân vật trải nhiệm trong nhiều khoảng hiện thực, là đi tìm mình, tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống, tìm vị trí xứng đáng thuộc về mình

Bước chân của Tư (Miền hoang tưởng) đã đi qua rất nhiều cuộc đời, anh

chứng kiến những khoảng tối, khoảng sáng trong thế giới mình đang sống,

Trang 39

để rồi chợt nhận ra mình quá bé nhỏ, và anh trở về với vị trí của mình: bên cạnh người yêu thương

Việc nhà văn xé bức tranh hiện thực trong tác phẩm của mình thành nhiều mảnh nhỏ, sắp xếp một cách tưởng như lộn xộn thực chất lại nằm trong dụng ý nghệ thuật của ông ta Nhiều lúc sự kết nối của các chương, đoạn không nằm ở trật tự trước – sau mà ở trong chính những dòng chảy của tâm trạng Câu hỏi ở chương này có khi lại được tìm thấy câu trả lời ở chương khác Tưởng chừng như nhà văn đánh đố độc giả, nhưng thực chất Nguyễn Xuân Khánh là người rất rõ ràng Ông giải thích mọi vấn đề trọn vẹn trong tác phẩm của mình Khát vọng của nhà văn suy cho cùng là cũng chỉ mong muốn độc giả đi hết hành trình của cuốn tiểu thuyết, đồng cảm, sẻ chia với nó, để tìm ra những câu trả lời trong đó mà thôi!

2.2.2 Kết cấu tâm lý

Các tác phẩm đều chú trọng đến đời sống tâm lý nhân vật Có thể xem tâm lý đã thành mô ̣t dòng kết cấu chủ đa ̣o Có những lúc diễn biến cốt truyê ̣n trôi theo những suy nghĩ của nhân vâ ̣t , thoát ra khỏi cái vỏ vật chất đơn thuần

Tâm lý nhân vâ ̣t diễn ra theo hai ma ̣ch ch ính:

Có ý thức : Khi nhân vâ ̣t hành đô ̣ng theo những suy nghĩ , toan tính của bản thân Nhiều lúc ta thấy nhân vâ ̣t của Nguyễn Xuân Khánh rất thực tế, thâ ̣m chí là thực du ̣ng Trong cuô ̣c sống thực , họ luôn tỉnh táo tìm cho mình mô ̣t hướng đi , mô ̣t con đường hợp lý nhất để thỏa mãn các nhu cầu riêng Do vậy ma ̣ch tâm lí nhân vâ ̣t những lúc này luôn diễn ra trên mô ̣t

đường thẳng Người đo ̣c có thể theo đuổi nó giống như khi lâ ̣t giở từng trang sách để đ i đến trang cuối cùng

Hồ Quý Ly trước khi trở thành một nhân vật văn học, thì đã là một nhân vật lịch sử Hành động, suy nghĩ của ông dù sao cũng đã phần nào

Trang 40

được đóng đinh trong sử kí Nên dù muốn hay không Nguyễn Xuân Khánh vẫn phải xây dựng Hồ Quý Ly- một con người có ý thức như lịch

sử đã ghi chép lại Con đường sự nghiệp được Hồ Quý Ly vẽ ra một cách tỉnh táo Và mỗi bước đi, hành động của ông dường như đều đã có chủ định từ trước Cái tỉnh táo đến lạnh lùng, khiến đôi lúc người ta thấy một

vị Thái Sư trở nên đáng sợ, vô tình Ông có khát vọng thay đổi đất nước, nên ông vạch ra và thực hiện những chính sách cải cách táo bạo Và để thực hiện được nó ông buộc phải bước qua những rào cản, thử thách: làm đau người khác và làm đau cả chính bản thân mình

Ông biết khi nào thời vận của mình đến, và lúc leo lên đến vị trí cao nhất trong triều chính (dưới 1 người trên vạn người), ông cũng không quên vai trò và nghĩ vụ của mình Ông từng khuyên Nguyên Trừng:

“Trong đạo hiếu, việc làm rạng rỡ tổ tiên, làm cho tên tuổi dòng họ vang danh, lưu truyền sử sách, đó chính là đại hiếu Lúc nào trong tâm khảm con cũng phải nhớ con dòng dõi họ Hồ Việc đổi sang họ Lê chỉ nhất thời; người quân tử cũng phải biết chịu khuất thân, miễn chí lớn cuối cùng đạt được” [1, tr 52], rồi ông kể cho con nghe về dòng dõi nhà Hồ như muốn thổi lên ngọn lửa tự hào dòng tộc và ý thức được hành động của mình Mọi thứ dường như đã được ông tính trước Sự tỉnh táo khiến ông luôn nghi ngờ những người xung quanh mình, có thể nói ông chẳng tin ai :

“Cha tôi là một người đa nghi, đa sát” [1, tr 54] Cái con người có ý thức trong Hồ Quý Ly đã tạo cho ông một bộ mặt tàn nhẫn đến ghê người Đến nỗi Bùi Mộng Hoa viết về ông chỉ có 1 câu ngắn gọn nhưng đầy đủ hàm ý : “Thâm tai, Lê sư”[1, tr 54] Cái thâm hiểm ở ông từ suy nghĩ đến hành động : “…Câu chuyện này lại vạch mặt chỉ tên cha tôi để chỉ trích, ắt hẳn cha sẽ sai người đi truy lùng, và chắc chắn một đợt khủng bố kẻ sĩ sẽ lại xảy ra…”[1, tr 55] Trên con đường đi tới đích của ông không có chỗ cho

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Khánh (2010), Hồ Quý Ly, NXB Phụ nữ , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quý Ly
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2010
2. Nguyễn Xuân Khánh (2007), Mẫu Thượng Ngàn, NXB Phụ nữ , Hà Nô ̣i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu Thượng Ngàn
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2007
3. Nguyễn Xuân Khánh , Trư cuồng , http:// vietnamthuquan.vn 4. Nguyễn Xuân Khánh (1990), Miền hoang tưởng , NXB Đa ̀ Nẵng . 5. Các sách công cụ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền hoang tưởng
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh
Nhà XB: NXB Đa ̀ Nẵng
Năm: 1990
6. IU.M.Lotman (2004), Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Người dịch Trần Ngọc Vương (chủ biên), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc văn bản nghệ thuật
Tác giả: IU.M.Lotman
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
7. Kate Hamburger (2004), Lôgic học về các thể loại văn học, người dịch Vũ Hoàng Địch, Trần Ngọc Vương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgic học về các thể loại văn học
Tác giả: Kate Hamburger
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
8. Lê Bá Hán,Trần Đình Sử (chủ biên) (2004): Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán,Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2004
9. M. Bakhtin (2003), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Người dịch Phạm Vĩnh Cƣ, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
10. M. Kundera (1998), Nghệ thuật tiểu thuyết, người dịch:Nguyên Ngọc, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tiểu thuyết
Tác giả: M. Kundera
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 1998
14. Ngô Khánh Lê Huyền , http://www.sankhauvietnam.com.vn/Story/ chuacogi/2007/2/ 1501. html Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://www.sankhauvietnam.com.vn/Story/
15. Nguyên Ngo ̣c , http://vietbao.vn/Giai-tri/Mot-cuon-tieu-thuyet-that-hay-ve-van-hoa-Viet/40150088/236/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cuốn tiểu thuyết thật hay về văn hóa Việt
Tác giả: Nguyên Ngọc
16. Phạm Xuân Nguyên , http://vtc.vn/13-3597/van-hoa/ mau-thuong- ngan-noi-luc-van-chuong-cua-nguyen-xuan-khanh.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu Thượng Ngân Nỗi Lực Văn Chương Của Nguyễn Xuân Khánh
Tác giả: Phạm Xuân Nguyên
11. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2005), Văn học Việt Nam thế kỉ XX-những vấn đề lịch sử và lý luận, NXB Giáo dục Khác
12. Trần Đăng Suyền (2000), Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao, NXB Văn học, Hà Nội Khác
13. Trần Đình Sử (chủ biên ) ( 2004), Tự sự học -một số vấn đề lí luận và lịch sử ,NXB Đại học sƣ phạm , Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức lƣỡng phân này thể hiện những thực thể và các yếu tố song - Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh qua góc nhìn trần thuật học
Hình th ức lƣỡng phân này thể hiện những thực thể và các yếu tố song (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w