Chính những lí do đó đã lôi cuốn chúng tôi đến với tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn, đến với những trang viết đầy ấp ủ và tâm huyết của ông để có thể nhận diện tác phẩm một cách đầy đủ hơn, cụ
Trang 1TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn ho ̣c Viê ̣t Nam
Hà Nội-2013
Trang 2TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn ho ̣c Viê ̣t Nam
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Bích Thu
Hà Nội-2013
Trang 35
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài………4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……….6
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….9
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………10
5 Phương pháp nghiên cứu………10
6 Kết cấu luận văn……… 11
NỘI DUNG……… 12
Chương 1: TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN TRONG DÒNG CHẢY CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Cái nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam đương đại……… 12
1.1.1 Quá trình đổi mới đất nước và đổi mới văn học ……….12
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới……….………….14
1.2 Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn - một hiện tượng của tiểu thuyết Việt Nam đương đại ……… 21
1.2.1 Cuộc đời……… 21
Trang 46
1.2.1 Con đường sáng tạo văn học ……… 21
1.2.3 Đề tài cơ chế và cải cách trong sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn 23
Chương 2: CỐT TRUYỆN VÀ NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN 2.1 Cốt truyện………25
2.1.1 Khái lược về cốt truyện……… 25
2.1.2 Cốt truyện trong tiểu thuyết Luật đời và cha con, Lửa đắng 26 2.2 Nhân vật ……… 29
2.2.1 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Luật đời và cha con, Lửa đắng 31
2.2.1.1 Nhân vật tích cực ……… 31
2.2.1.2 Nhân vật tiêu cực ……… 34
2.2.2 Nghệ thuật khắc họa nhân vật ………37
2.2.2.1 Miêu tả chân dung nhân vật ……… 37
2.2.2.2 Miêu tả tâm lí nhân vật qua xung đột……… 44
2.2.2.3 Miêu tả tâm lí nhân vật qua độc thoại nội tâm ……… 48
Chương 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN 3.1 Ngôn ngữ ……… 53
Trang 57
3.1.1 Ngôn ngữ trong tiểu thuyết ……… 53
3.1.2 Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Luật đời và cha con, Lửa đắng ……55
3.1.2.1 Ngôn ngữ chính trị-xã hội……… 55
3.1.2.2 Ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày……… 62
3.1.2.3 Ngôn ngữ hài hước, dí dỏm……… 68
3.2 Giọng điệu ……… 72
3.2.1 Khái niệm và vai trò của giọng điệu ……… ……… 73
3.2.2 Giọng điệu trong tiểu thuyết “Luật đời và cha con”, “Lửa đắng” ……… 75
3.2.2.1 Giọng “nhại” ……… 75
3.2.2.2 Giọng văn suồng sã, gần gũi với đời sống hiện thực……… 79
KẾT LUẬN……… 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 86
Trang 68
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Bắc Sơn trở thành một hiện tượng văn chương khá đặc biệt khi
cuốn tiểu thuyết đầu tay Luật đời và cha con được Nhà xuất bản Hội nhà văn
cho ra mắt công chúng vào tháng 8/2005 thì đến tháng 10 năm đó, Nhà xuất bản Văn học đã tái bản Sau đó, 16 báo trong đó có báo hình, báo nói, báo điện tử, báo in có bài giới thiệu, phỏng vấn tác giả, trích đọc tác phẩm Nhờ đó, ông nổi tiếng “sớm” so với độ tuổi “muộn” của mình
Văn chương vốn là cái nghiệp của đời ông Dù khi đã bước vào cái tuổi thất thập nhưng ông vẫn ghi tên mình vào làng văn với hàng loạt tập bút ký như:
Người dẫn đường trời (1999), Hoa lộc vừng (1999), Hồng Hà ơi (2000), Nghề
đi mây về gió (2001), Đá dậy thì (2004), cùng các tập truyện ngắn: Thực hư
(1998), Quyền không được yêu (2000), Người đàn ông quỳ (2001), Luật đời
(2003)… Qua đó, cho thấy một cây bút Nguyễn Bắc Sơn “chín muộn, nhưng ào
ạt, dồn dập, tràn đầy sinh lực” (Hoàng Minh Tường)
Nguyễn Bắc Sơn đến với tiểu thuyết khi mái đầu đã điểm bạc Cuốn tiểu
thuyết Luật đời và cha con xuất bản năm 2005 Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tay
với sự dồn nén, tìm tòi, chiêm nghiệm và tâm huyết của một mái đầu bạc trắng sau hơn 40 năm mê đắm văn chương từ cái thuở đứng trên bục giảng rồi làm cán bộ quản lý ở trường cấp 3 Chu Văn An Theo nhà thơ, đạo diễn điện ảnh Đỗ
Minh Tuấn: “Luật đời và cha con là cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên mổ xẻ
sự vận động của toàn xã hội trong quá trình đổi thay cơ chế, một sự vận động đụng chạm chạm đến từng gia đình, từng số phận” Tác phẩm đã được chuyển
thể thành kịch bản phim Luật đời phát sóng trên kênh VTV1 của Đài truyền
hình Việt Nam Ngay sau khi công chiếu, bộ phim đã thu hút sự quan tâm đông
Trang 79
đảo của khán giả và đoạt giải thưởng cao nhất của Liên hoan phim truyền hình
Việt Nam năm 2007: Phim truyền hình nhiều tập, do khán giả bình chọn
Năm 2007, ông lại tiếp tục cho ra đời cuốn tiểu thuyết Lửa đắng (cuốn tiểu thuyết được cho là tập II của Luật đời và cha con) Lửa đắng tiếp tục xoay
quanh những vấn đề nóng và gai góc của xã hội Bằng ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Bắc Sơn đã cho tất cả dường như mặc sức bung phá ra khỏi các giới hạn thông thường Ông đi tìm khuôn mặt thật của từng thế giới người, của cái xã hội đang
bị cuốn mạnh vào vòng xoáy tiền bạc, ham muốn, danh lợi, quyền lực… để từ
đó đưa ra những dự báo chân thực Sức nóng, những vấn đề gai góc trong tiểu thuyết cũng là chính là một nguyên cớ tạo nên hứng thú nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn từ phía chúng tôi
Luật đời và cha con, Lửa đắng đã cuốn hút người đọc, trong đó có chúng
tôi bởi những tình tiết và các mối quan hệ phức tạp… hiện hữu trong một thế giới đầy kịch tính, xen lẫn các yếu tố bi hài làm nổi bật sự đa chiều đa diện của hiện thực và con người Hơn nữa, ngôn ngữ của tác phẩm thân mật, gần gũi, thậm chí có phần bỗ bã góp phần làm cho những vấn đề của cuộc đời với những qui luật nghiệt ngã đỡ căng thẳng, nặng nề trong tâm lý tiếp nhận và thưởng
thức của người đọc Không chỉ vậy, sự kết hợp nhiều thể loại trong Luật đời và
cha con, Lửa đắng cùng với giọng điệu trần thuật giàu sắc thái biểu cảm đã làm
nên chất tiểu thuyết, tạo nên sức hấp dẫn của hai tiểu thuyết này
Chính những lí do đó đã lôi cuốn chúng tôi đến với tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn, đến với những trang viết đầy ấp ủ và tâm huyết của ông để có thể nhận diện tác phẩm một cách đầy đủ hơn, cụ thể hơn và cũng chân thực hơn về những suy nghĩ, tâm tư của ông trước sự chuyển đổi cơ chế xã hội từ bao cấp sang thị trường - một giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam đương đại
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Trang 810
Ngay từ khi bộ tiểu thuyết Luật đời và cha con và Lửa đắng xuất hiện trên
văn đàn đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình và người đọc Xung quanh 2 tiểu thuyết này đã có gần 30 bài phê bình, bài phỏng vấn và 2
cuộc tọa đàm Một do báo Văn nghệ tổ chức ngày 26/12/2005 với Luật đời và
cha con và một do Hội nhà văn tổ chức 9/ 2011 với Lửa đắng, sau khi nó được
nhận giải ba cuộc thi tiểu thuyết (Hội nhà văn tổ chức trong 2 năm 2008 – 2910)
2.1 Các ý kiến nhận xét về tiểu thuyết “Luật đời và cha con”:
Trên báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Tuổi trẻ, Lao động ,Thể thao và Văn
hóa, Hà Nội mới, Người Hà Nội, An ninh Thủ đô cuối tuần, Tạp chí Nhà văn …
như: Luật đời và cha con (Đỗ Minh Tuấn), Luật đời và cha con (Hoàng Minh Tường), Cái nhìn hiện thực và con người trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn (PGS.TS Nguyễn Bích Thu) hay Đi qua ranh giới để tồn tại (PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp), Một cuốn tiểu thuyết về đổi mới (Nguyễn Chí Hoan), Một bức
tranh sống động (Công Minh), Chuyện không chỉ của thời nay (Phạm Xuân
Nguyên)… Do giới hạn dung lượng và sự chi phối của mục đích nghiên cứu nên chỉ đi sâu một khía cạnh nào đó liên quan tới nội dung và hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết
Bài viết của Nguyễn Đăng Điệp đánh giá: “Chính việc biết tạo nên nhiều sắc thái giọng điệu khác nhau đã khiến cho tác phẩm không rơi vào đơn điệu Ngôn ngữ Nguyễn Bắc Sơn là thứ ngôn ngữ gần gũi với cuộc sống Ông sử dụng khá nhiều khẩu ngữ, xây dựng nhiều tình tiết mang tính kịch và biết gia
tăng chất giọng hài hước, dí dỏm… Vì thế, khi đọc Luật đời và cha con, người
đọc như được tiếp xúc trực tiếp với những luồng điện nằm sẵn trong đời, được thấy phù sa đời sống chạm vào xúc giác của mình, được hít thở vị mặn của cuộc sống đang diễn ra trước mắt ta từng phút giây”
Trang 911
Trên báo Người Hà Nội, số ra ngày 31/03/2006, Nguyễn Chí Hoan đã chỉ
ra những đổi mới trong tiểu thuyết Luật đời và cha con: “Cuốn tiểu thuyết này
đặt trọng tâm và dựa cả vào nhân vật và cốt truyện, trong đó phần của các nhân vật có vai trò lấn át Phần cốt truyện được bố cục theo sự xuất hiện của các nhân vật Một sự khác biệt nữa so với hình mẫu ngôn ngữ tiểu thuyết “hiện thực” truyền thống là ở chỗ trong cuốn tiểu thuyết này không có một nhân vật “mang vấn đề” mà có cả một lớp, một loạt”
Phạm Xuân Nguyên cũng đồng tình với Nguyễn Đăng Điệp ở chỗ:
“Nguyễn Bắc Sơn là người viết có giọng kể và ở nhiều chỗ, nhiều đợt cái sự kể
lại hấp dẫn, lại chuyển tải được vấn đề Ưu điểm lớn nhất của Luật đời và cha
con là cái ý vị hài hước, cái “humour”, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, có khi thêm chút
châm biếm, giễu cợt, nó làm cho câu chuyện dễ khô khan, căng thẳng thành ra thú vị, gây khoái cảm trong suy nghĩ khi đọc sách”
Bài viết của Bích Thu chứa đựng sức bao quát lớn hơn cả với nhiều đánh giá về kết cấu, nhân vật, điểm nhìn trần thuật… Tuy nhiên, như đã nhận định ban đầu, các bài viết cơ bản mới chỉ dừng lại trong phạm vi khái quát chung chung chứ chưa đi sâu phân tích, lí giải chi tiết và tỉ mỉ do sự chế ước của nhiều yếu tố chi phối Luận văn của chúng tôi sẽ đi vào những “khoảng trống” ấy
Một số bài nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới có đề cập
đến Luật đời và cha con của Nguyễn Bắc Sơn, tuy nhiên không đi sâu mà chỉ
lấy làm dẫn chứng cho những luận điểm mà các tác giả muốn trình bày Chẳng
hạn, Bích Thu trong Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đăng trên Nghiên cứu văn học số 11 năm 2006 đánh giá: Luật đời và cha con cùng với Đi về nơi hoang dã ( Nhật Tuấn), Ngoài kia miền đất hứa (Nguyễn Quang Thân), Cơn giông (Lê Văn Thảo), Sóng lừng (Triệu Xuân) là những tác
phẩm mang tính “dự báo của lương tri” trong một xã hội còn nhiều bất an và khiếm khuyết Đi tìm đặc điểm thi pháp thể loại từ góc độ xây dựng nhân vật,
Trang 1012
tác giả bài viết cho rằng: Luật đời và cha con đã đi sâu vào con người thân phận
với những khát vọng riêng tư gắn liền sự nghiệp chung của đất nước, tạo mối liên hệ mật thiết giữa con người cá nhân và con người xã hội
2.2 Các ý kiến nhận xét về tiểu thuyết “Lửa đắng”:
Từ lúc Lửa đắng ra đời, đã có hơn 20 đơn vị báo chí phỏng vấn, viết bài giới thiệu Thêm vào đó là một số bài nghiên cứu, phê bình trên báo Văn nghệ,
Công lí, Nhà báo và công luận …
Vũ Duy Thông trong bài Thay lời giới thiệu cho cuốn tiểu thuyết Lửa
đắng nhận định: Lửa đắng là cuốn tiểu thuyết viết về ngày hôm nay, ở ngay
dòng chảy chính của hiện thực, trực tiếp có mặt ở những va đập kiến tạo ra nó,
cả những đổ vỡ hào sáng, cả những kết tụ phũ phàng Thành công đầu tiên của
Nguyễn Bắc Sơn trong Lửa đắng là đã xây dựng được một dàn nhân vật là
những người phần nhiều có chức, có quyền không phải là những hình nộm khô khan minh họa cho một triết lý sống; không phải là những hình kỷ hà trống rỗng
để tác giả trút vào đó quan niệm của mình về họ Các nhân vật của ông tồn tại như người đang sống quanh ta, bởi thế, có lẽ là đầu tiên một cách có hệ thống, trong tiểu thuyết đương đại, người đọc được hé mở tấm màn của chủ nghĩa sơ lược để tiếp cận với lớp người vẫn thường được gọi là “quan” trong xã hội với tấm chân dung chân thực của nó
Đánh giá về tiểu thuyết Lửa đắng, Lê Thành Nghị cho rằng: Đây là một cuốn tiểu thuyết thế sự - đạo đức bởi nó viết một cách trực diện về hiện thực
nóng bỏng của đất nước hôm nay, hiện thực nhọc nhằn của công cuộc đổi mới, hiện thực của cái cũ, lạc hậu với những kìm hãm ghê gớm đầy quyền lực, đầy thủ đoạn của nó và cái mới, cái tốt đẹp, cái hợp quy luật, hợp lòng người quyến
rũ nhưng mong manh Về nghệ thuật thể hiện, Lê Thành Nghị nhận xét: Lửa
đắng chọn lối kể chuyện cổ điển, một văn phong giản dị, ít bay bướm, văn hoa,
Trang 1113
một giọng điệu mang tính thông tấn, báo chí tương đối nhanh và hiệu quả Nhiều chỗ là dòng ý thức của tác giả, của nhân vật làm tăng chiều kích của tâm trạng, của tâm lý và vì vậy tăng thêm tính chân thực nghệ thuật Nhiều chỗ là những bình luận, những trang chính luận sâu sắc Tác giả không hề tả cảnh, không hề cài đặt huyền ảo sống sít, nhưng lại có ý thức đa chất hài (đầy màu sắc chợ búa) vào đúng chỗ cần thiết (trong cuộc trưng cầu ý kiến các hộ buôn bán trước khi xây chợ)
Sau thành công của hai cuốn tiểu thuyết Luật đời và cha con và Lửa
đắng, đã có một số luận văn thạc sỹ viết về hai cuốn tiểu thuyết này Đó là: luận
văn Đặc sắc tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn của tác giả Đào Thị Mỹ Dung, luận văn Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn của tác giả Phạm Lê Hoa
Những ý kiến và nghiên cứu của người đi trước là những gợi dẫn quý báu
để chúng tôi tiếp cận đề tài và tìm hiểu sâu hơn vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm
Luận văn của chúng tôi là một công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối
cụ thể và toàn diện tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn dưới góc nhìn thể loại
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi, giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Từ góc nhìn thể loại, đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề thuộc phạm trù thể loại của tiểu thuyết như: nhân vật, cốt truyện, phương thức trần thuật ngôn ngữ, giọng điệu Đây là những vấn đề nổi bật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 1214
- Luận văn tập trung khảo sát, tìm hiểu tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn dưới
góc nhìn thể loại qua hai cuốn tiểu thuyết: Luật đời và cha con (2005), Nxb Văn học, Hà Nội; và Lửa đắng (2007), Nxb Lao động, Hà Nội, trên cơ sở so sánh
với một số tiểu thuyết cùng thời
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn mong muốn làm sáng rõ tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn dưới góc nhìn thể loại Thông qua đó, hiểu thêm về nghệ thuật trần thuật của nhà văn
và đặt tác phẩm của ông trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích đó, luận văn triển khai những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Đưa ra một cái nhìn tổng quát về tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong mối quan hệ với các xu hướng sáng tác tiểu thuyết giai đoạn hiện nay
- Chỉ ra những nét nổi bật trong thi pháp thể loại của tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn về cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp loại hình, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, và phương pháp tiếp cận thi pháp học
6 Cấu trúc của luận văn:
Trang 1315
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương Cụ thể như sau:
Chương 1: Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn trong dòng chảy của tiểu thuyết
Việt Nam đương đại
Chương 2: Cốt truyện và nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn
Trang 1416
NỘI DUNG
Chương 1
TIỂU THUYẾT NGUYỄN BẮC SƠN TRONG
DÒNG CHẢY CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Cái nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.1.1 Quá trình đổi mới đất nước và đổi mới văn học
Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc với đại thắng mùa xuân năm 1975 đã
mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Trong chiến tranh, đất nước ta
đã phải gồng mình chuẩn bị sức người, sức của cho tiền tuyến Hậu quả để lại thật nặng nề Vì vậy, ta phải dồn sức để khôi phục lại cuộc sống sau chiến tranh Sau năm 1986, đất nước ta vẫn kiên trì con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội nhưng đã bắt đầu gặp phải nhiều khó khăn và khiếm khuyết Bởi trước đó, ta đã phải trải qua một thời gian dài chiến tranh, lại gần mười năm bao cấp Điều đó
đã khiến cho kinh tế không phát triển, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã thể hiện chủ trương đổi mới: “Đối với đất nước ta, đổi mới có ý nghĩa sống còn”, “phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua khó khăn, thực hiện được những mục tiêu do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra”
Cùng với sự đổi mới của đất nước, văn học cũng có bước chuyển mình đáng kể Bởi một trong những chức năng của văn học phản ánh hiện thực Nếu ngòi bút của nhà văn không bắt rễ từ hiện thực thì không thể có sức sống bền bỉ, lâu dài Tuy nhiên, sự phản ánh hiện thực của văn học không phải là sự rập khuôn, máy móc Đời sống vận động không ngừng, ngòi bút phản ánh của nhà văn theo đó cũng phải biến chuyển linh hoạt, đa dạng qua mỗi giai đoạn, thời kì
Trang 1517
khác nhau với những khuynh hướng sáng tác khác nhau Quan niệm văn học phản ánh hiện thực cũng có những biến đổi nhiều chiều cho phù hợp với yêu cầu đổi mới luôn thường trực trong sáng tác
Có thể thấy công cuộc đổi mới của văn học được đặt ra như một nhu cầu bức thiết trước những thay đổi của lịch sử xã hội Đúng như GS Phong Lê nói:
“Văn chương cần tự đổi mới, và đổi mới trở thành nhu cầu tự thân Nó không hoàn toàn chỉ vì một đòi hỏi, một sức ép từ ngoài Hoặc nếu có sức ép thì cũng phải tìm thấy sự thống nhất hoặc thông qua đòi hỏi bên trong Và như vậy, với công cuộc đổi mới đất nước, văn học đang đứng trước nhu cầu mạnh mẽ của sự biến đổi”
Những tín hiệu đổi mới trong văn học được bắt đầu từ những năm 80 và đổi mới mạnh mẽ từ Đại hội VI của Đảng và sau đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Vào cuối năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có cuộc gặp
gỡ với giới văn nghệ sĩ Cuộc gặp gỡ đã tác động mạnh mẽ tới tư tưởng nghệ thuật của giới văn nghệ sĩ Nếu như văn học trong giai đoạn trước chủ yếu phục
vụ cho mục tiêu chung của cách mạng thì giai đoạn này, văn học bám sát quá trình xây dựng và phát triển đất nước nhưng cần nhấn mạnh ở sự phản ánh hiện thực và vai trò dự cảm, dự báo
Trong thời bình, con người trở lại với cuộc sống thường nhật với biết bao những vấn đề xã hội như: hôn nhân, gia đình, tôn giáo, sự thức tỉnh cá nhân, phụ nữ… Và văn học phải có trách nhiệm giải quyết những vấn đề còn đang tồn đọng này trong xã hội
Có thể khẳng định rằng, văn học đã bắt kịp quá trình đổi mới của đất nước Chính vì vậy, nó đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều sáng tạo
về nghệ thuật…
Trang 1618
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới
Thực tiễn văn học từ sau thời kỳ đổi mới cho thấy có hàng loạt cuốn tiểu thuyết ra đời, trong đó có sự góp mặt của các tác giả hải ngoại Như vậy tiểu thuyết không rơi vào tình trạng đáng phải lo ngại mà với sự hiện diện ngày càng nhiều của nó, tiểu thuyết vẫn ngự trị văn đàn, vẫn tỏ rõ vị thế cũng như “giá trị tiềm ẩn” của thể loại trong tương lai
Trong thực tiễn sáng tác văn học nghệ thuật, Việt Nam cũng như ở nước ngoài luôn song hành các tác phẩm viết theo thi pháp truyền thống và hiện đại Mỗi xu hướng sáng tác đều có chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận của riêng mình cũng như đều có những thành công và hạn chế Do vậy không vì cổ xuý cách tân mà khước từ truyền thống và cũng không vì truyền thống mà dị ứng với cái mới Xét cho cùng, khi viết theo thi pháp truyền thống người viết cũng
đã nỗ lực đổi mới về nội dung cũng như ở nghệ thuật trần thuật Nhìn chung, những tiểu thuyết viết theo thi pháp truyền thống phản ánh một cách đầy đủ và trung thực những trải nghiệm của đời sống con người Về mặt tự sự, nó hấp dẫn người đọc trước hết bằng nội dung chuyện kể, bằng những diễn biến đời sống của một nhân vật mang tính cách giống hay khác với họ Tính thẩm mỹ của tiểu thuyết bộc lộ ở sự hài hòa, nhất quán của tổng thể và các phân đoạn khiến câu chuyện mạch lạc, lôi cuốn Về cấu trúc, tiểu thuyết truyền thống dựa trên một cốt truyện, thu hút sự chú ý của người đọc và câu chuyện phải đi tới một kết thúc có hậu, trả độc giả về với “trật tự quen thuộc của đời sống”
Với những tiểu thuyết viết theo hướng hiện đại đã cho thấy hiện thực là phong phú, phức tạp và không thể hoặc khó có thể “kể lại” được Ở đây, tiểu thuyết không làm sứ mệnh cung cấp một bức tranh hiện thực về xã hội mà phải
“phát minh ra các hình thức” Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và những gì ở ngoài văn học bị cắt đứt hoặc bị lui lại phía sau; và chỉ còn lại hai mối quan hệ chính: quan hệ giữa tác phẩm văn học với chính nó và quan hệ giữa tác phẩm
Trang 17cụ hữu hiệu” của văn học để tái hiện lịch sử theo nhãn quan người viết và tiểu thuyết suy cho cùng vẫn là miêu tả số phận con người Không phải ngẫu nhiên
mà nhiều nhà tiểu thuyết đã khắc hoạ khá đầy đặn về lịch sử của một gia đình, một dòng tộc hay một đời người gắn với những biến động của lịch sử, với
những thăng trầm của đời sống xã hội: Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng, Dưới chín tầng trời (Dương Hướng), Dòng
sông mía (Đào Thắng), Cõi người (Từ Nguyên Tĩnh), Bến đò xưa lặng lẽ (Xuân
Đức), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Cõi mê (Triệu Xuân), Luật đời và cha con, Lửa đắng (Nguyễn Bắc Sơn), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Gia
đình bé mọn (Dạ Ngân), Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân
Khánh), Ba người khác (Tô Hoài), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng)… Các
nhà văn đã có một cái nhìn soi thấu một đời người, một thân phận trong hành trình của thế kỷ XX gắn với chiều dài lịch sử qua bao cuộc “bể dâu” Mỗi tiểu
Trang 18số phận Hơn nữa, tiểu thuyết còn có thêm mảng đề tài về cuộc sống con người
Việt Nam ở hải ngoại: Chinatown, Paris 11 tháng Tám, T mất tích (Thuận),
Tìm trong nỗi nhớ, Trên đỉnh dốc (Lê Ngọc Mai), Gió từ thời khuất mặt (Lê
Minh Hà), Thảo (Võ Hoàng Hoa), Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng), Quyên
(Nguyễn Văn Thọ) Sự góp mặt đó làm giàu có hơn đời sống của thể loại, làm cho diện mạo tiểu thuyết phong phú và đa dạng hơn đồng thời tiếng nói về cuộc đời và con người trong tiểu thuyết cũng giàu sắc điệu và đa nghĩa hơn
Hiện thực đời sống con người với những tâm tư, khát vọng, những bi kịch riêng tư chồng chất, những trào lộng, giễu nhại bi hài được các cây bút tiểu thuyết khám phá đến tận cùng, đẩy tác phẩm chạm đến một chiều sâu mới Trong những năm gần đây nhiều tiểu thuyết mang tính tự truyện đã thu hút độc
giả: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Thượng
đế thì cười (Nguyễn Khải), Đời thường (Phùng Khắc Bắc), Gia đình bé mọn
(Dạ Ngân), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng) Tìm đến chất liệu cái tôi, các
nhà văn như trở về với chính mình Với tiểu thuyết tự truyện, cốt truyện được xây dựng trên cơ sở của sự kiện chính về cuộc đời, về con người tác giả Điều đáng nói ở đây là trí nhớ, sự hồi tưởng, ký ức không lấn át yếu tố hư cấu Với loại hình tiểu thuyết này, việc đảm nhiệm chức năng tái tạo lại một đoạn đời của người viết được tổ chức theo nhiều kiểu kết cấu khác nhau, đặc biệt đi sâu vào
khai thác dòng ý thức mà thành công nổi bật ở Nỗi buồn chiến tranh (Bảo
Ninh)
Có thể nói, tiểu thuyết tự truyện không có gì mới lạ với văn học thế giới nhưng là một loại hình khá mới mẻ với văn học Việt Nam, và nó đã gây được
Trang 1921
tiếng vang với người đọc Đây là xu hướng được nhận định là sẽ phát triển, như một ý kiến cho rằng: “Tiểu thuyết tự thuật đã và đang đăng đàn, rồi sẽ chiếm một ngôi vị đáng kể trong nền tiểu thuyết đương đại nước nhà”
Bên cạnh những tiểu thuyết viết theo thi pháp truyền thống là những tác
phẩm viết theo thi pháp hiện đại: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Thoạt kỳ thuỷ,
Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Chinatown, Paris 11 tháng Tám, T mất tích
(Thuận), Người sông mê (Châu Diên), Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà),
Giữa vòng vây trần gian, Giữa dòng chảy lạc (Nguyễn Danh Lam), Cơn giông
(Lê Văn Thảo), Mười lẻ một đêm (Hồ Anh Thái), Đi tìm nhân vật, Thiên thần
sám hối (Tạ Duy Anh), Kín, Nháp (Nguyễn Đình Tú), 3.3.3.9 - những mảnh hồn
trần (Đặng Thân)… Ấn tượng rõ rệt nhất khi đọc các tiểu thuyết này là sự khác
lạ, là sự “gây hấn” với truyền thống Dường như nhà văn không phải đang tái hiện bức tranh hiện thực mà đang trình bày cách thức họ làm ra các kiểu kết cấu nghệ thuật như thế nào Với những kiểu kết cấu thể hiện tinh thần chối bỏ truyền thống, vượt qua mô thức kết cấu quen thuộc, tiểu thuyết sau 1986 đã xác lập mối quan hệ mới giữa văn chương với hiện thực Các tác phẩm kể trên đã
mở ra những thử nghiệm kiếm tìm hình thức mới cho tiểu thuyết khá phong phú
và đang còn tiếp diễn Quan niệm truyền thống về tiểu thuyết đang mờ dần đi Với ý thức cách tân quyết liệt và mạnh mẽ, các cây bút kể trên đã góp phần xoá
bỏ khoảng cách tư duy nghệ thuật giữa văn học Việt Nam và những nền văn học tiên tiến của nhân loại Bao trùm trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Danh Lam, Thuận là một thế giới vô hồn, một thế giới
“mờ”, khó tìm thấy một gương mặt chính thống Người đọc thấy ở các tiểu
thuyết Thoạt kỳ thủy, Ngồi, Giữa vòng vây trần gian, T mất tích, Kín, Nháp…
sự “hồ nghi tồn tại như một loại hình tâm trạng làm nên cảm quan của thời đại mới Các nhà nghiên cứu gọi đó là “dấu hiệu cảm quan hậu hiện đại” (Lã Nguyên)
Trang 2022
Các tiểu thuyết theo hướng hiện đại đã tạo nên cảm giác về sự trôi dạt của thân phận con người Các thủ pháp nghệ thuật như đồng hiện, kỹ thuật dòng ý thức, độc thoại nội tâm, môtíp giấc mơ, ký ức, vọng niệm đã tỏ ra có hiệu lực bộc lộ những miền sâu kín và bí ẩn của con người Ở đây xu hướng tự do, phóng khoáng trong các kiểu diễn ngôn, sự co giãn, mềm dẻo của kết cấu, sự không liên tục của ý tưởng, chối bỏ sự trau chuốt mang tính tu từ đã góp phần tạo nên giọng điệu mới với các sắc thái thẩm mỹ đa dạng Tất cả đã nói lên một cái gì đó về một tâm thức đã xuất hiện nhưng không dễ phát hiện trong đời sống hôm nay: tâm thức hậu hiện đại
Bằng những “âu lo”, “bất ổn” trên bề mặt giọng điệu, nhà tiểu thuyết hướng độc giả đến những “bất ổn”, “lo âu” ở đáy sâu đời sống hiện thực, khiến
họ phải trăn trở nhiều hơn, nghĩ ngợi nhiều hơn trước những gì được viết ra Ở
đó hàm chứa một thái độ “kép”, mâu thuẫn và phức hợp; cười cợt, giễu nhại cái
cũ song cũng chưa tạo được một niềm tin bền chắc vào cái mới Đó là thái độ tìm kiếm hơn là khẳng định Từ đó, giọng điệu ngả sang phía cật vấn, hoài nghi như một hệ quả tất yếu: các nhân vật thường xuyên đặt câu hỏi với chính mình, với những nhân vật khác, với cả chính người viết và người đọc Trong các tác
phẩm Tấm ván phóng dao, Thoạt kỳ thủy, T mất tích, Giữa vòng vây trần
gian hầu như đều là những câu hỏi còn bỏ ngỏ về thân phận và cuộc đời con
người, là những cuộc tìm kiếm bản ngã và cá tính, hạnh phúc và bình yên, niềm tin và lẽ sống còn dở dang, đầy bất an, chưa đến hồi kết thúc
Sự nhoè mờ ranh giới thể loại, sự xâm nhập của các thể loại khác vào cấu trúc nội tại của tiểu thuyết cũng là một nét nổi bật đáng ghi nhận của tiểu thuyết hôm nay Như Bakhtin đã nhận định: “Nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó” Khả năng phối kết, thu hút các thể loại khác khiến cho tiểu thuyết luôn có
xu hướng đổi mới cả về khả năng lẫn nhu cầu khai thác tiềm năng của chính nó
Trang 2123
Từ trước đến nay, dung lượng của tiểu thuyết vẫn được coi là một trong những tiêu chí cơ bản để phân biệt nó với các loại hình văn xuôi như truyện ngắn, truyện vừa Nhưng có một hiện tượng mà người đọc dễ nhận ra là có khá nhiều tiểu thuyết ngắn xuất hiện ở những năm đầu thế kỷ XXI Phần lớn các tiểu thuyết đã thu gọn cái “thân xác bề thế” của nó Từ phía người sáng tác, Tạ Duy Anh, tác giả của các tiểu thuyết ngắn đã nhận định: “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâu chiều dọc, đa thanh hóa sự đối thoại, nhiều vỉa ý nghĩa, bi kịch thời đại được dồn nén trong một cuộc đời bình thường, không áp đặt chân
lý là dễ thấy Tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó Ở con người có thể chiêm ngưỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài xuống lịch sử” Mặt khác sự thu hẹp dung lượng của tiểu thuyết còn phụ thuộc vào sự tương ứng giữa hình thức nghệ thuật với tinh thần của cái hiện thực mà nó phản ánh Đó là cái hiện thực rời rạc, phân mảnh
mà các tiểu thuyết gia hôm nay tìm thấy nơi ẩn náu phù hợp với các mảnh tự sự rời rạc tựa như các truyện ngắn riêng rẽ được lắp ghép thành một sinh thể tiểu thuyết Trong đó, mảnh này suy tư, liên tưởng về mảnh kia, đoạn này chồng chéo lên đoạn kia tạo nên sự pha trộn, xâm nhập của truyện ngắn kịch, tiểu luận triết học, thơ ca, báo chí, nhật ký, huyền thoại vào tiểu thuyết, tạo nên cấu trúc phức hợp Ở đây vấn đề “thay đổi dung lượng” cũng liên quan mật thiết với vấn
đề xâm nhập của các thể loại khác vào cấu trúc nghệ thuật của tiểu thuyết
Trong các tiểu thuyết Tấm ván phóng dao, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy,
người đọc nhận ra chất thơ thẩm thấu vào cơ cấu bên trong của tác phẩm Sự
xâm nhập của tiểu luận triết học trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi
của Hồ Anh Thái khiến tác phẩm mang một giọng điệu trầm tư, giàu suy ngẫm, kích thích cảm hứng đồng liên tưởng, sáng tạo của chủ thể tiếp nhận
Sự làm mới cách thức thể hiện tiểu thuyết với hiện tượng liên văn bản xuất hiện một cách thường xuyên ở nhiều cấp độ và dạng thức khác nhau tạo
Trang 2224
nên kiểu kết cấu truyện lồng truyện Hình thức văn bản trong văn bản góp phần tạo nên những tiếng nói khác nhau, mở rộng trường nhìn, đa dạng hóa cấu trúc của tiểu thuyết Với hình thức này, tác phẩm sẽ tạo nên sự liên thông giữa thế
giới thực và thế giới ảo (Đi tìm nhân vật, Thoạt kỳ thủy ) và nhân vật trong tiểu
thuyết sẽ “được sống lập thể” ở nhiều thế giới khác nhau, nhập nhiều vai khác
nhau, các giới hạn không gian, thời gian do vậy được mở ra đến vô hạn (Paris
11 tháng Tám, Và khi tro bụi, Đức Phật, nàng Savitri và tôi )
Từ sau thời kỳ đổi mới và nhất là trong những năm gần đây, đổi mới tư duy tiểu thuyết ở các nhà văn đã dẫn đến những cách tân quan trọng trên cả phương diện nội dung và hình thức, đặc biệt ở hình thức, ở quan niệm về chất liệu, làm mới ngôn ngữ tiểu thuyết hướng tới tính hiện đại, thậm chí hậu hiện đại của văn học thế giới Tác động của các tiểu thuyết hướng tới sự cách tân triệt để đã ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề tiếp nhận văn học của độc giả đương đại Với người đọc nói chung, các tiểu thuyết viết theo lối mới, đặc biệt những tác phẩm có sự kết hợp hiệu quả của cách thức diễn đạt với nội dung mang tính nhân văn sâu sắc đã tạo ra một “trào lưu văn hóa đọc” khá sôi nổi
trong công chúng (Giàn thiêu - Võ Thị Hảo, Mẫu thượng ngàn - Nguyễn Xuân Khánh, Mười lẻ một đêm - Hồ Anh Thái, Tấm ván phóng dao - Mạc Can, Dưới
chín tầng trời - Dương Hướng, Thượng đế thì cười - Nguyễn Khải) Chính điều
này sẽ góp phần nâng cao thị hiếu thẩm mỹ và “tầm đón đợi mới” với thể loại của người đọc, rút ngắn khoảng cách đẳng cấp của người đọc Tuy nhiên có một vấn đề đặt ra ở đây là không phải tiểu thuyết cách tân nào cũng có độc giả Trên thực tế, đã có không ít tác phẩm “gây sốc” với “tầm đón đợi truyền thống” của người đọc Do cái mới không dễ được chấp nhận, do một số thể nghiệm còn rơi vào cực đoan, người đọc như lạc vào mê cung của các con chữ
Có thể nói bên cạnh những thành tựu mà tiểu thuyết đạt được cũng đồng thời có những giới hạn của nó ở cả tiểu thuyết theo hướng cách tân và theo thi
Trang 2325
pháp truyền thống Ở tiểu thuyết cách tân nhìn chung có sự hấp dẫn vì yếu tố lạ
và mới, đặc biệt là về kỹ thuật nhưng đọc không dễ Ở tiểu thuyết theo hướng truyền thống có những tiểu thuyết hay, được độc giả ưa thích như Hồ Quý Ly,
Mẫu thượng ngàn… nhưng cũng không thể không nói đến những cuốn còn
nghiêng về tái hiện hiện thực theo hướng “nệ thực”, ở một góc độ nào đó đã
“bật đèn đỏ”, không tạo điều kiện cho các nhà văn có thể phát huy sức mạnh của trí tưởng tượng, của hư cấu nghệ thuật, đem đến cái nhìn nhiều chiều kích của không gian, thời gian về lịch sử và con người Vấn đề của tiểu thuyết không chỉ là kỹ thuật, cái mới, không chỉ là tái hiện hiện thực một cách sinh động và chân thật Tiểu thuyết vẫn cần những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, phù hợp và đáp ứng tầm đón đợi của người đọc đương đại
1.2 Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn - một hiện tượng của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
1.2.1 Cuộc đời
Nguyễn Bắc Sơn (tên thật là Nguyễn Công Bác) Ông tốt nghiệp khoa Văn, trường ĐHSP Hà Nội năm 1962 Sau đó, trở thành thầy giáo dạy văn 10 năm liền Năm 1972, ông gia nhập quân ngũ, khi đất nước giải phóng, ông lại trở về với bục giảng Từ năm 1982-1992, ông giữ chức Phó hiệu trưởng trường THPT Chu Văn An (Hà Nội)
Ông được đề bạt lên làm Hiệu trưởng trường học danh tiếng bậc nhất Thủ
đô này nhưng ông đều từ chối Ông bảo, ông không thích cấp trưởng Bởi lẽ làm quản lý trong một guồng máy thời bao cấp, hơn ai hết ông rất hiểu sự ràng buộc,
sự nhiêu khê của công tác quản lý, tổ chức v.v… nên khi được mời về làm Trưởng phòng quản lý báo chí, xuất bản, Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội thì ông nhận lời ngay Ông bảo, không vì cái chức trưởng mà ông ham đâu, cái quan trọng là về đây làm sẽ “thỏa chí tang bồng” với sự viết lách của ông hơn thôi
Trang 2426
1.2.1 Con đường sáng tạo văn học
Vốn là người thích tìm tòi, sáng tạo nhưng thời gian và công việc không cho phép sáng tác, giờ được làm ở mảng báo chí Ông sẽ tha hồ “thỏa chí tang bồng Giờ được làm bên mảng báo chí, xuất bản thì ông sẽ có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn, học hỏi và cập nhật được nhiều thông tin hơn Ở đây, Nguyễn Bắc Sơn mới có thể rời thế giới mô phạm để thực sự được cọ xát với đời sống, thực
tế Chính trong khoảng thời gian này, ông đã có hàng loạt bút ký và truyện ngắn
như “Hoa lộc vừng”, “Hồng Hà ơi”, “Thực hư”, “Quyền không được yêu”…
đồng thời, ông cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu rất ấn tượng
Là người đam mê tìm tòi, những gì với ông cần được lý giải thì ông phải tìm bằng được cách lý giải Trước đó, ông là người có hai bút ký trường thiên
về cầu Long Biên và Sông Hồng được in trong “Bộ tổng tập tạp văn và ký Hà
Nội ngàn năm” và 2 cuốn sách khác Ông cũng có những kiến giải rất hay về
các vấn đề lịch sử ví như bài “Trận địa cọc Bạch Đằng được thi công như thế nào”, “Vì sao một số ít người thuận tay trái, vì sao đa số rẽ ngôi tóc bên trái”,
“Bàn tính gảy Trung Quốc đã ra đời như thế nào?” v.v
Có lần đi máy bay, ông cũng tò mò người ta làm cái nghề này nó như thế nào, thú vị hay không? Cứ như vậy, tập sách viết về lao động đặc thù của những
người “Đi mây về gió” ra đời… Rồi khi làm ở Phòng Quản lý báo chí, xuất bản
ông cũng là người góp ý, sửa đổi mấy văn bản quyphạm pháp luật liên quan đến ngành của mình
Sống hết mình, làm việc cũng hết mình, dù ở vị trí nào, với ông cũng phải làm cho tốt Tuy nhiên, trong thời gian làm ở đây, ông cũng nhận thấy rằng, khi
mà cơ chế thị trường đang dần xuất hiện, nhiều giá trị bị đảo lộn thì đời sống con người, tư duy và bản lĩnh của nhiều người cũng phức tạp và đổi thay để thích ứng với thời cuộc, vì thế có biết bao bi kịch đau đớn trong đời sống xã hội
Trang 2527
Trăn trở là vậy, nhưng khi đã về hưu, Nguyễn Bắc Sơn mới nghĩ đến những “điều lớn lao” cho mình, đó là viết Ông dùng những tư liệu đã tích lũy, nghĩ suy làm chất liệu để sáng tác Ông lại có cái nhìn chính trị khá sắc bén, tư duy chặt chẽ, sắc sảo, tinh tường nên mới thành công ngay từ bộ tiểu thuyết đầu
tiên Luật đời và cha con
Bắt tay vào viết tiểu thuyết, ông cũng không nghĩ tác phẩm mình sẽ thành công, nhưng ông vẫn tự tin viết Ông chọn cho mình một đề tài ở Việt Nam
chưa có người động đến - chính trị
1.2.3 Đề tài cơ chế và cải cách trong sáng tác của Nguyễn Bắc Sơn
Các nhà văn cùng thời với Nguyễn Bắc Sơn đều chọn cho mình một lối đi khá bằng phẳng Trong khi đó, Bắc Sơn lại lựa chọn một đề tài khá gai góc trong xã hội - chính trị Câu chuyện về cơ chế và cải cách cơ chế có lẽ sẽ vẫn là cái vòng luẩn quẩn mà theo Nguyễn Bắc Sơn cần phải cải tiến nhiều hơn nữa
Để viết được về nó chắc không khó nhưng để viết hay và sâu thì có lẽ sẽ đòi hỏi nhiều yếu tố: khách quan có, chủ quan có
Bằng sự từng trải và khả năng học tập của bản thân: 10 năm dạy học, đi
bộ đội, quản lý giáo dục, làm quản lý báo chí, bao nhiêu năm trải mình trong hàng trăm thứ bề bộn của cuộc sống, lại là người chịu quan sát, nghĩ suy, ông đã tích lũy cho mình một vốn sống, một kiến thức vững vàng về chính trị, xã hội Chính vì lẽ đó, trong hai cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn phản ánh rất chân thực hiện thực đời sống với nhiều số phận khác nhau, nhiều con người khá nhau Bên cạnh đó, niềm khao khát được thể hiện những thứ đó bằng một cuốn tiểu thuyết là ước mơ của ông
Đọc những tác phẩm của Nguyễn Bắc Sơn, người ta thấy những hạn chế, những bảo thủ của thể chế hành chính hiện nay dường như vẫn tồn tại Đó là
Trang 2628
tình trạng tất cả qui cho trách nhiệm tập thể, cho cơ chế, cho người tiền nhiệm, nghĩa là tất cả đều không chịu trách nhiệm trước sai lầm, khuyết điểm…
Nguyễn Bắc Sơn cho rằng , Việt Nam là mô ̣t nước nghèo nhưng la ̣i nhiều
tê ̣ na ̣n tham nhũng, quan liêu, lãng phí, chạy chức, chạy quyền thì cần rất nhiều những tiếng nói và hành đô ̣ng dũng cảm để đấu tranh với những tê ̣ nạn đó Cần
có sự đoàn kết toàn dân tộc để chống giặc nội xâm - giă ̣c tham nhũng, quan liêu, lãng phí
Trang 272.1.1 Khái lược về cốt truyện
Theo 150 thuật ngữ văn học của tác giả Lại Nguyên Ân biên soạn, thuật
ngữ “cốt truyện” được áp dụng lần đầu tiên vào thế kỷ XVII bởi các nhà văn cổ điển chủ nghĩa P.Cornelle và N.Boileau [3; 111] Họ muốn nói đến những sự bất thường trong đời sống các nhân truyền thuyết xa xưa mà các nhà viết kịch thời sau thường vay mượn Nhưng trước đó, để gọi tên các câu chuyện, các sự kiện được miêu tả trong đó, các nhà văn La Mã đã dùng thuật ngữ La Tinh
“fabula” (có gốc từ fabulari - nghĩa là kể chuyện, tường thuật) Sự khác nhau của hai thuật ngữ cùng một hiện tượng đã khiến chúng không ổn định và nhất quán về nghĩa
Theo Pospelov, thuật ngữ “cốt truyện” để chỉ sự việc miêu tả các sự kiện, hành động trong đời sống nhân vật diễn ra trong thời gian và không gian trong tác phẩm tự sự và kịch “Nó là một phương diện của lĩnh vực hình thức nghệ thuật” [44; 35]
Trong Giáo trình lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên viết, “Cốt truyện là hình thức tổ chức sơ đẳng nhất của truyện Bất cứ truyện lớn, nhỏ, cốt truyện nói chung bao gồm các thành phần chính: thắt nút, cao trào, phát triển
mở nút” [20; 303] Cốt truyện là một thành phần quan trọng, thiết yếu của tác phẩm văn học thuộc loại tự sự và kịch Như vậy, cốt truyện không chỉ là phương tiện bộc lộ tính cách, thể hiện những thuộc tính của tính cách đó mà nó
Trang 2830
là phạm vi các biến cố cụ thể, nói chung là những quan hệ của con người mới có thể được bộc lộ
Các tác giả trong Từ điển thuật ngữ văn học đã xem cốt truyện là “hệ
thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thức vận động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch”, và “Cốt truyện là một phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội” [16; 88]
Trên cơ sở tổng hợp ý kiến của các nhà lý luận, chúng tôi hiểu cốt truyện
là hệ thống các sự kiện, biến cố được tổ chức một cách chặt chẽ, có tác động qua lại theo một ý đồ nghệ thuật định sẵn Cốt truyện góp phần bộc lộ mâu thuẫn đời sống, các xung đột xã hội, phản ánh bức tranh hiện thực rộng lớn, khắc họa tính cách nhân vật, thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm Từ cách hiểu này, chúng tôi đi vào tìm hiểu việc tổ chức cốt truyện trong tiểu thuyết
Luật đời và cha con, Lửa đắng
2.1.2 Cốt truyện trong tiểu thuyết “Luật đời và cha con”, “Lửa đắng”
Cốt truyện tiểu thuyết trong quan niệm truyền thống là “bộ xương sống” tạo nên chỉnh thể tác phẩm Thông thường, cốt truyện được triển khai theo ba phần cơ bản: thắt nút, đẩy câu chuyện lên đến cao trào và mở nút, giải quyết mâu thuẫn Nó là sợi dây liên kết mối quan hệ giữa các nhân vật, sự việc, qua
đó thể hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm
Cốt truyện trong tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn được bố cục theo sự xuất hiện của các nhân vật Theo đó, có hai tuyến truyện cơ bản bám sát vào mạch chính của chủ đề tư tưởng Tuyến truyện thứ nhất xoay quanh câu chuyện gia đình với những xung đột thế hệ, những bi kịch mang nhiều sắc thái khác nhau trong đại gia đình ông cán bộ cao cấp Lê Hòe Tuyến truyện thứ hai là câu
Trang 2931
chuyện về các cán bộ, Đảng viên đang trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình cải cách, chuyển đổi xã hội sang cơ chế đổi mới năng động thời hiện đại Nguyễn Bắc Sơn đã cố gắng tạo nên nhiều tình huống có sức tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ, hành động của các nhân vật
Cuộc thăm viếng bất ngờ của Tổng Bí thư tới Thanh Hoa là một tình huống có giá trị thúc đẩy câu chuyện tiến triển nhanh hơn Đây cũng là điểm thắt mở đầu cho cuộc đấu tranh quyết liệt giữa lực lượng cải cách tiến bộ và lực lượng phản tiến bộ, đồng thời làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn Thông tin vừa bung ra, hàng loạt các quan chức to nhỏ ngay lập tức bộc lộ rõ sự lo lắng, bất an của mình Thường vụ Chánh Văn phòng Thành ủy Thanh Hoa mới chỉ cầm cái công văn văn phòng Trung ương gửi về, tay đã run run, sống lưng đã lạnh toát vì “linh cảm chính trị mách bảo ông, có cái gì đó nghiêm trọng [50; 95] Rồi Bí thư Thành ủy (cũ) họp ngay với mấy người tâm phúc trước khi mở rộng họp ban thường vụ bàn cách đối phó Cùng sự tấn công hữu hiệu của báo chí, công luận, những bí mật “hậu trường” chính trị dần dần được khui ra, lộ rõ những bất cập trong cơ chế quản lí bộ máy hành chính Nhà nước, tập trung ở Lâm Du - một quận mới nổi lên của Thanh Hoa Hàng loạt tít bài độc đáo chạy
trên khắp các mặt báo bàn về vụ Thủy cung Thần tiên, về phần đất được thành
phố cho chuyển đổi mục đích sử dụng sau khi xây dựng nhà văn hóa; đánh
mạnh vào tâm lí giới quan chức từ cấp quận đến thành phố Tờ Thời luận giật tít
to tướng ngay giữa trang “Đâu là khu đất đẹp nhất thành phố?” [51; 101], sau
đó là “Người ta sẽ làm gì với mấy chục hecta ấy?” [51; 103], “Kẻ ất ơ và Công
ty cổ phần Thiên Thai có được giấy phép chủ đầu tư mấy chục hecta đẹp nhất Thanh Hoa?” [51; 104], “Sự thật về vốn pháp định công ty cổ phần Thiên Thai”
[51; 104]; và đỉnh điểm của cơn bão chính trị là lúc báo An ninh đưa tin: “Lệnh
khởi tố vụ án Thủy cung Thần tiên” [51; 105] Từ một tình huống bất thường, Bắc Sơn đã dẫn dắt độc giả đi vào tuyến truyện thứ hai
Trang 3032
Tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn đã sử dụng nhiều chi tiết đặc sắc để tạo “bộ xương” cốt truyện, bi có hài có Những chi tiết này tưởng như đang diễn ra ở ngoài đời thực Với sáng tạo như vậy, nhà văn đã dẫn dắt người đọc trở lại bầu không khí của những năm khó khăn thời bao cấp, nhìn nhận lại hiện thực một thời, nhiều câu chuyện khiến chúng ta phải cười ra nước mắt từ chuyện tố điêu địa chủ thời cải cách ruộng đất đến chuyện tem phiếu thời “văn hóa” xếp hàng,
từ những chai mỡ được nâng niu từ trong Nam ra đến món “chân giò” bà Phụng biếu thầy giáo thay cho tiền dạy thêm mấy đứa nhỏ Tất cả đều hiện lên chân thực và sống động nhờ giọng văn sắc sảo của Nguyễn Bắc Sơn Hay khi đề cập đến câu chuyện nhất thể hóa hai vai trò trong một cương vị, nhà văn đã phải giấu kín nó trong những câu chuyện, những chi tiết như thật, nhân vật như thật
và số phận như thật đến nỗi độc giả không hề hay biết mình đang đồng hành với tác giả can dự vào một vấn đề chính trị phức tạp, nhạy cảm, thuộc tầm quốc gia
Cách kết thúc hai cuốn tiểu thuyết cũng là một vấn đề được nhiều người
quan tâm Đấy trước hết là một kiểu kết thúc truyền thống, cổ điển vì nó mang
đậm tính chất có hậu Người đọc thấy được điều đó thông qua khát vọng muốn hoàn lương từ vũng bùn nhơ nhớp của Loan số chín, qua sự thay đổi quan niệm sống của Lê Cường, qua những kết quả tốt đẹp của Trần Kiên làm được trong bước đầu thực hiện đề án cải tổ của mình Nó gợi lên ở độc giả những tia sáng lạc quan, tin tưởng về cuộc đời, con người, về sự nghiệp cải cách của Đảng và
Nhà nước Mặt khác, bởi Luật đời và cha con cùng Lửa đắng mới chỉ là những
phấn đấu của cả bộ tiểu thuyết lớn mà Nguyễn Bắc Sơn ấp ủ nên điểm dừng của các tác phẩm đều “để ngỏ”, gợi nhiều suy tưởng ở độc giả về những phần tiếp ìtheo Nó cho thấy tính chất không hoàn tất của câu chuyện cuộc đời và con người, đáp ứng yêu cầu thể loại với cái nhìn mới về bức tranh hiện thực ngổn
ngang ngày hôm nay Cái kết mở của Luật đời và cha con: “Để xem con xoay
vần đến đâu” [50; 533] dẫn độc giả đến với sự nới giãn biên độ khung truyện ở
Lửa đắng
Trang 3133
2.2 Nhân vật trong tiểu thuyết “Luật đời và cha con”, “Lửa đắng”
2.2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết
Trong cuốn Lí luận văn học tập 2, Trần Đình Sử (chủ biên): nói đến nhân
vật văn học là nói đến “con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Nhà văn xây dựng nhân vật để khái quát những quy luật đời sống con người và thể hiện quan niệm của mình về con người Nhân vật văn học cũng có thể là những con người giống như thật hoặc có nguyên mẫu ở ngoài đời Nói cách khác, “nhân vật là phương tiện khái quát có tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng” (Trần Đình Sử)
M.Bakhtin trong Lí luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch) cho
rằng: Nhân vật được xem như một quan điểm đặc thù về thế giới và về bản thân mình, như một lập trường của con người nhận thức và đánh giá bản thân mình
và hiện thực xung quanh mình
Về vai trò của nhân vật, GS Hà Minh Đức lưu ý: “Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một số cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực
Nhân vật tiểu thuyết thuộc loại hình nhân vật tự sự Đó là những nhân vật được khắc họa đầy đặn, rõ nét, nhiều mặt, rất sinh động và đa dạng Nhân vật tiểu thuyết là kết quả năng động của quá trình sáng tạo mang tính cá nhân của nhà văn, nó có thể được hư cấu hoàn toàn, có thể bắt nguồn từ một nguyên mẫu ngoài đời, nhưng nó đều là những “nhân vật sống”, nó không chỉ có các yếu tố ngoại hình, ngôn ngữ, hành động mà còn có đời sống nội tâm phong phú và bản thân nhân vật luôn có sự phát triển nội tại Điều dễ nhận thấy: “điểm khác biệt giữa nhân vật tiểu thuyết với các nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện trung cổ là ở chỗ, nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm trải” [54, 292], chịu
Trang 3234
khổ đau, dằn vặt của cuộc đời Thế giới nhân vật tiểu thuyết có thể rất đồ sộ, tạo nên một xã hội vô cùng phong phú, phức tạp với nhiều quan hệ, hành động, ý nghĩa, tư tưởng, giọng điệu Nhân vật tiểu thuyết được khám phá chủ yếu ở chiều sâu tâm hồn
Nhân vật tiểu thuyết được đặt trong những hoàn cảnh cụ thể và được
“miêu tả như một con người đang trưởng thành, biến đổi và do đời dạy bảo [54, 300], nhân vật phải đi qua nhiều hoàn cảnh, nhiều mối quan hệ, nhân vật vó sự phát triển tính cách tạo nên những tính cách đa dạng, sống động, lôi cuốn người đọc, nhân vật tiểu thuyết là những con người người có ý thức về sự sống của mình, có thể tích cực, củ động cũng có thể thụ động, trì trệ Do tiểu thuyết là thể loại nhìn đời sống từ góc độ đời tư cho nên nhân vật tiểu thuyết thường là những con người cá nhân, đó là những con người tự do trong suy nghĩ, cử chỉ và hành động Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Nhân vật là vấn đề trung tâm của mọi cuốn tiểu thuyết Người viết tiểu thuyết suy nghĩ mọi vấn đề đều phải thông qua nhân vật, xuất phát từ nhân vật hơn từ sự việc”
Tô Hoài khẳng định: “Nhân vật là nơi tư duy nhất, tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” Ma Văn Kháng coi nhân vật là tiêu chí quan trọng để đánh giá tác phẩm: “Nhân vật là sức nổ, sức sống của thiểu thuyết Tiểu thuyết hôm nay yếu về nhân vật nên làm sao hay được”
Các nhân vật trong một tác phẩm tạo thành một thế giới nhân vật Thế giới nhân vật là hệ thống các nhân vật được tổ chức tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật, trong đó mỗi nhân vật là một yếu tố của chỉnh thể Mỗi thế giới nhân vật được quy định bởi cách tổ chức theo ý đồ nghệ thuật, sáng tạo của nhà văn làm cho các nhân vật trong tiểu thuyết có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Trang 3335
Thế giới nhân vật trong tác phẩm là một tổ chức nghệ thuật thống nhất Các nhân vật có mối quan hệ chặt chẽ và sinh động như ngoài đời thực Chủ đề
tư tưởng của tác phẩm thường được biểu hiện qua hệ thống nhân
2.2.2 Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết “Luật đời và cha con”, “Lửa
đắng”
Trong Luật đời và cha con, Nguyễn Bắc Sơn xây dựng khoảng 10 nhân vật đến Lửa đắng thì có thêm 50 nhân vật nữa Cả hai cuốn đều cùng một chủ đề: gia đình xã hội và cơ chế điều hành bộ máy Nhưng Luật đời và cha con tập trung phản ánh vấn đề gia đình xã hội sâu hơn, phức tạp hơn Đến Lửa đắng thì
vấn đề cơ chế là chủ đạo, phát triển đến cao trào
Cốt truyện được bố cục theo sự xuất hiện của các nhân vật Có hai trục cơ bản: nhân vật tích cực và nhân vật tiêu cực Phía nhân vật tích cực có: Trần Kiên, Đoàn Hùng, Thanh Diệu, Thảo Tần, Lê Đại, Bội Trân, các nhà báo như Phạm Năng Triển… và bên kia, đối ứng lại là Vũ Sán, là Bắc - Giám đốc ngành Giao thông Công chính, là cả ê kíp trong giới quan chức quận Lâm Du, rộng ra
là giới quan chức Thanh Hoa
Trang 3436
Ông Lê Hòe sinh ra và lớn lên ở quê, tham gia quân đội trong kháng chiến chống Pháp Sau đó được chuyển về làm cán bộ tuyên huấn thành phố Vợ mất Ông Hòe lấy vợ mới Gia đình ông nhìn bề ngoài là một gia đình mẫu mực, trưởng thành trong cách mạng và thành công trong thời kì đổi mới Bản thân ông rất say sưa với công tác tuyên huấn, tâm huyết với nhiệm vụ của Đảng đề
ra Dưới mắt vợ, ông Hoè chỉ là một “ông nghị quyết”, chẳng biết đến chuyện gì khac còn với các con, Lê Hòe là chỗ dựa tinh thần Ông không chỉ là một người cha mà còn là một người bạn, một cố vấn, một đồng minh thân thiết có thể trở thành tri ân, tri kỉ
Trần Kiên trưởng thành từ phân xưởng cơ khí động lực ở nhà máy Thắng Lợi, anh nổi lên vì cá tính và năng lực trong công việc điều hành sản xuất Dưới góc độ quản lí, anh chính là một cán bộ điển hình, là điểm then chốt kết nối các mắt xích khác nhau trong quá trình cải cách, thực thi đề án cải tổ bộ máy quản lí Nhà nước với mô hình nhất thể hóa hai vai trò trong một cương vị Nếu chỉ dừng lại ở đây, Trần Kiên đơn giản chỉ là nhân vật đại diện cho ý đồ nghệ thuật của tác giả nhưng cái hay và đặc sắc là ở chỗ: Nguyễn Bắc Sơn hướng người đọc khám phá Kiên trong nhiều mối quan hệ khác, trên cương vị một người chồng, một người cha Rõ ràng không thể phủ nhận trách nhiệm và tình yêu mà anh dành cho Thảo Tần và con gái Với Thảo Tần, anh vừa là chồng, vừa là người yêu, lại vừa giống như người bạn tâm giao có thể sẻ chia mọi va vấp, khó khăn trong cuộc sống và công việc Song ở phía sâu thăm thẳm trong tâm hồn Kiên dường như vẫn có một góc khuất muốn tìm về hướng Thanh Diệu – nữ cán
bộ xinh đẹp, duyên dáng, tài giỏi và tinh tế, có chung lí tưởng với anh, luôn cổ
vũ, khích lệ, giúp đỡ anh Thậm chí, có những phút chênh chao, xao lòng “anh ngắm chị, nhìn sâu vào đôi mắt lá dăm đẹp mê hồn của chị… Phải thừa nhận đẹp hơn mắt Thảo Tần” [50; 400], suýt chút nữa đã đẩy Kiên vào vòng tay Thanh Diệu: “Anh phải cố nén mình Anh biết, chỉ cần đặt tay lên vai chị, là lập tức tấm thân thon thả này sẽ nép vào mình Chỉ cần đỡ chị ngồi xuống, anh cũng
Trang 3537
sẽ không kìm được lòng mình để ôm riết lấy chị [50, 400-401] Cái đáng quý chính là ở chỗ Kiến tự đấu tranh để giữ mình thoát khỏi cám dỗ, để trở về bên mái ấm gia đình, bên tình yêu mà anh luôn cố gắng nâng niu, giữ gìn, vun đắp
Sự giữ mình của Kiên do vậy không đơn giản chỉ vì mục đích chính trị theo kiểu lo sợ “quan trên trông xuống, người ta trông vào” Những phút xao lòng dĩ nhiên không làm Kiên đẹp hơn, song cũng không làm anh xấu hơn Đó là nhân
tố níu giữ Kiên ở lại cuộc đời xô bồ này với tư cách một nhân vật tiểu thuyết chân thực và sinh động Diệu cũng thế, chị đã mấy lần định nổi loạn, định phó mặc tất cả song chị không dám Những dòng tin nhắn không gửi, những lời yêu thương không thể bứt ra khỏi miệng chị, chỉ dừng lại ở dòng độc thoại một mình mình biết: “… Chỉ hôn nhau một lần duy nhất này thôi anh nhé Em dành
nụ hôn thiêng liêng này cho anh, coi như đã trao tất cả cho anh rồi đấy, anh yêu
ạ Chứ không cho, không bao giờ cho chồng em nữa đâu, kể từ cái tát ấy” [50; 403] Cứ như thế, cả hai người dù ở rất gần nhau nhưng không ai dám vượt qua ranh giới mỏng manh vô hình đang giăng mắc Đi trên ranh giới mỏng manh ấy, nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn giúp chúng ta hiểu rõ hơn sự phức tạp và
bí ẩn của thế giới bên trong con người – cái thế giới luôn chịu sự chi phối của hai lực lượng vừa hòa đồng vừa đối lập, vừa chối bỏ lại vừa chung sống với nhau bởi “con người không bao giờ trùng khít với chính nó” (M.Bakhtin)
Nguyễn Bắc Sơn đã xây dựng một nhân vật là nhà báo - một chiến sĩ
xung kích của Đảng Đó là Phạm Năng Triển - Tổng Biên tập báo Thời luận
Anh là điển hình cho tính chân thật, cương quyết, sáng tạo và khôn khéo Tờ
Thời luận do anh làm chủ bút đã dũng cảm phanh phui những vấn đề nóng của
xã hội như: vụ đất đai ở quận Lâm Du, vụ Thủy cung Thần Tiên…
Hai cuốn tiểu thuyết viết về đề tài chính trị Vì vậy, không thể thiếu nhân vật là những vị lãnh đạo cao cấp của Đảng Điển hình trong số này là nhân vật Tổng Bí thư Qua các buổi làm việc với cộng sự có thể thấy Tổng Bí thư là
Trang 3638
người có tư tưởng chính trị, lập trường, chính kiến, tầm suy nghĩ, sự bao quát, lời nói rất mẫu mực, nghiêm túc Tổng Bí thư cũng là người dám chấp nhận cái mới, nếu có lợi cho đất nước
Ngoài ra, trong hai cuốn tiểu thuyết liên hoàn, nhà văn Nguyễn Bắc Sơn còn gửi gắm những suy nghĩ, phản ánh xã hội qua một loạt các nhân vật tích cực như: Thảo Tần - một cô giáo hết lòng vì học sinh, một người mẹ, một người vợ đảm đang trong công việc gia đình Thanh Diệu – một người phụ nữ làm công tác chính trị uy tín, có ý thức sống trong sạch, giữ vững phẩm hạnh của người phụ nữ trong mọi hoàn cảnh
Chính cơ chế của nền kinh tế thị trường đã khiến con người biến đổi, bị cám dỗ Điển hình của sự xuống cấp đạo đức là Vũ Sán Anh ta đã biết đầu tư đúng cửa cho con đường thăng quan tiến chức của mình bằng cách chạy các cửa Sán còn móc nối được với một người nước ngoài sõi tiếng Việt Ông ta có
đủ mánh khóe, chỉ đường đi nước bước cho Sán Cuộc đời Sán được tổng kết bằng bốn chữ nhẫn: kiên nhẫn chờ thời cơ, nhẫn nhục luồn cúi cầu cạnh, nhẫn tâm chà đạp người khá, dùng chữ nhẫn để mua chức quyền
Nhân vật chức sắc nữa tha hóa không kém, đó là Lê Việt Bắc - Giám đốc
Sở Giao thông công chính Anh ta có cách bóp nặn tiền thiên hạ thật trơ trẽn,
Trang 3739
Ấy là gợi ý để mỗi em từ mẫu giáo, nhà trẻ đến học sinh phổ thông, sinh viên đại học, các trường các lớp trong quận đóng góp một bữa quà sáng “động viên” ông ta là đường Ngoài cái tính dâm dê có hạng, hắn còn có cách moi tiền của Nhà nước một cách công khai bằng cách nặn ra các đề tài khoa học vô bổ, vô lí, không có tính ứng dụng trong thực tiễn
Có thể nhận thấy, thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn thật đa dạng, phong phú và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Một điều làm nên
sự khác biệt của tiểu thuyết Nguyễn Bắc Sơn so với tiểu thuyết truyền thống là cách xây dựng nhân vật Ông không dồn nội dung tư tưởng lên vai bất kì một nhân vật nào mà là cả một “dàn”, một “lớp” nhân vật “mang vấn đề” (Nguyễn Chí Hoan) Vì thế, thật khó phân định rõ ràng đâu là nhân vật trung tâm điển hình nhất Ban đầu, tưởng rằng vị trí đó sẽ dành cho Lê Hòe song càng ngày khi mạch truyện càng trải ra theo trục bố-con-cháu, bên cạnh Lê Hòe còn có thêm nhiều khuôn mặt khác cũng giữ vị trí quan trọng đối với việc chuyển tải nội dung tư tưởng tác phẩm Lý giải điều này, thiết nghĩ nên lấy sợi dây được thiết lập ngay trong nhan đề phần một: “luật đời” - “cha con”
Lớp nhân vật chuyển tải những tư tưởng nghệ thuật liên quan tới câu chuyện cải cách sâu rộng của Đảng và Nhà nước giai đoạn đổi mới, như một lẽ
tự nhiên bởi phần lớn họ là Đảng viên, giữ vị trí lãnh đạo - bộ phận vẫn được xem là gương mẫu đi đầu về mọi mặt Nói cách khác, vì vấn đề thuộc về mô hình, về cơ chế nên tác giả không thể mời các nhân vật có liên quan vào cuộc Lần đầu tiên chúng ta thấy hiện diên lên trang văn một hệ thống các cán bộ cấp cao như Tổng Bí thư, Bí thư Thành ủy, Trưởng ban tư tưởng văn hóa Trung
ương… Theo nhận xét của Vũ Duy Thông khi viết lời giới thiệu Lửa đắng thì
Bắc Sơn đã “hé mở tấm màn của chủ nghĩa sơ lược để tiếp cận với lớp người thường được gọi là “quan” trong xã hội với tấm chân dung chân thực của họ” Ông bồi đắp cho lớp nhân vật “mang vấn đề” đó bằng da thịt cuộc đời, chứ
Trang 3840
không biến họ thành những “con rối” Mỗi nhân vật là một bức chân dung sinh động được soi ngắm từ nhiều mối quan hệ, nhiều tư cách, cương vị khác nhau Ứng với từng góc độ quan sát, một phần gương mặt của nhân vật lộ diện ra Từ
đó, Bắc Sơn cho độc giả chứng kiến nhiều sự trùng hợp hay “trật khớp” giữa tính cách và hành vi, lời nói nhân vật
Ở đây, Nguyễn Bắc Sơn chọn dàn nhân vật chủ yếu là cán bộ, Đảng viên song Bắc Sơn không rọi chiếu các mối quan hệ chính trị phức tạp từ bình diện giai cấp mà xem xét nó từ phương diện nhân tính, tính cách con người Và các mối quan hệ được soi chiếu cũng không dừng lại ở quan hệ chính trị mà đa dạng, đa sự hơn rất nhiều Tiểu thuyết thời kì đổi mới, với sự thay đổi quan niệm về con người trong sáng tác nghệ thuật cũng chọn đây là điểm xuất phát quan trọng Người viết có những sự chuyển hướng trong nhận thức, tư duy về bản thể người, ưu tiên cho việc soi sáng thế giới tâm hồn và số phận con người
từ gốc độ đời tư Nói như M.Kundderra trong Nghệ thuật tiểu thuyết: “Tinh thần
tiểu thuyết là tinh thần của sự phức tạp Mỗi cuốn tiểu thuyết nói với độc giả:
“Sự vật ở đời phức tạp hơn anh tưởng” Đó là chân lí vĩnh cửu của tiểu thuyết [31, 24] Chân lí ấy giúp nhà văn nhận ra những sự tương đồng và không tương đồng giữa cương vị chính trị với nhân cách, bản tính nhân vật, khám phá và phát hiện cái phần “nhân tính dư thừa” chưa được biết đến Đồng thời, nó cũng giúp nhà văn mạnh dạn đi vào những khía cạnh nhân bản nhất trong con người, phá vỡ cái nhìn đơn phiến, tĩnh tại để có một cái nhìn phức tạp hơn, đa diện hơn
và vì thế sâu sắc hơn về con người Bất kì nhân vật nào dưới ngòi bút linh hoạt
của Bắc Sơn cũng hiện ra trong sự đan xen, hòa trộn giữa phần “con” và phần
“người”, giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội Vấn đề là phần nào sẽ chiếm ưu thế, nổi trội để quy định tính cách, hành vi của nhân vật
2.2.2 Nghệ thuật khắc họa nhân vật
2.2.2.1 Miêu tả chân dung nhân vật
Trang 3941
Chân dung - ngoại hình nhân vật là diện mạo của con người được miêu tả qua trang phục và yếu tố thể chất có tính đặc thù biểu hiện ra bên ngoài như: dáng vẻ, màu da, khuôn mặt, ánh mắt, mái tóc, mũi, miệng, chân tay… Chân dung - ngoại hình nhân vật giúp người đọc phân biệt, nhận dạng bề ngoài con người nhân vật, đồng thời là yếu tố nghệ thuật cần thiết để bước đầu khắc họa hình tượng nhân vật trong tác phẩm Khắc họa ngoại hình còn góp phần miêu tả tính cách nhân vật, thể hiện ý đồ sáng tạo nghệ thuật của tác giả
Nhân vật là “con đẻ tinh thần” của nhà văn Vì vậy, nó phải có đầy đủ mọi yếu tố để làm nên cuộc đời một con người trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học Do đó, khắc họa nhân vật là một trong những yếu tố thể cái tài của nhà văn Ở một số nhà văn như Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu… khắc họa ngoại hình, diện mạo là thủ pháp để thể hiện tính cách và số phận nhân vật Còn trong văn học đương đại, các nhà văn thường ít đi sâu vào việc miêu tả chi tiết cụ thể mà chỉ phác họa vài nét tiêu biểu nhất của nhân vật Và nhà văn Nguyễn Bắc Sơn cũng vậy, khi miêu tả thế giới nhân vật của mình, ông cũng lựa chọn miêu tả những nét đặc sắc nhất
Khi khắc họa chân dung ông Hòe - một cán bộ tuyên huấn, chuyên viên cao cấp chính trị thì ngay từ dáng vẻ, ngoại hình bên ngoài đã tạo nên sự nghiêm nghị, chững chạc của một cán bộ Đảng làm công tác tuyên huấn Nhà
văn tập trung rất nhiều vào chi tiết “cặp lông mày”: “Đôi lông mày lưỡi mác
dướn lên; đôi lông mày lạ lung này chỉ có trong sân khấu tuồng cổ, trong vai Trương Phi Không hiểu sao lại đầu thai vào con người này? Hai lưỡi mác to, rậm, đến cuối chân mày lại dựng ngược hẳn lên 90 độ Trông thật dữ tướng”
[50, 10]
Đôi lông mày trên “khuôn mặt chữ điền” của ông Hòe nhất quán với tính cách của ông, thể hiện ông là con người trung thực, cứng rắn và rất thẳng thắn, phù hợp với phẩm chất của một người làm công tác tuyên huấn Kết hợp phong
Trang 4042
thái đường hoàng khi nói chuyện trước hội trường cả ngàn người: “ông chỉnh lại
chiếc micro, dù nó đã được để vừa tầm Không cao, không thấp, không xa, không gần, không ngẩng lên, không chúc xuống Hình như cứ phải nắm mấy ngón tay vào đấy mới yên tâm Rồi ông gõ thử, xem nó đã sẵn sàng phục vụ mình chưa Động tác ấy giống như một phản xạ Nó truyền cho ông một luồng kích thích, một sự hưng phấn Khi buông nó ra, hai tay chống vào hai mép bục ưỡn ngực, nghe giọng mình sang sảng, âm vang cả một vùng trời” [50, 12-13]
Khi bà Phụng bị chạm nọc: “Tất cả các thớ thịt trên gương mặt to, quắc
thước của ông đều căng ra Đôi lông mày rậm trợn ngược lên” chứng tỏ ông bị
kích động khi bà động chạm đến “nghị quyết” Hay khi thể hiện sự ngạc nhiên khi biết Sở Giáo dục và đào tạo thành phố Hải An chưa tổ chức cho cán bộ học
nghị quyết thì “cặp lông mày lưỡi mác dướn lên” còn “bộ mặt chữ điền của ông
không căng lên mà lại chùng xuống, mắt chớp liền mấy cái như đang theo đuổi một ý nghĩ nào đó” [50, 11] Ông ngạc nhiên không thể hiểu nổi sao họ lại làm
như thế Thế thì ở đây người ta lãnh đạo, điều hành công việc ra sao
Cũng như khi nghe Đại hội hỏi ông ý kiến về một việc gì đó thì đôi lông
mày cũng phản xạ tự nhiên: “khuôn mặt to, quắc thước với đôi lông mày lưỡi
mác của ông nhướn lên” [50, 165]
Đặc biệt, sau cái hôm Đại đưa ông đi “thư giãn”, với ông là sự day dứt,
dằn vặt ghê gớm, điều đó cũng được bộc lộ trên khuôn mặt: “đôi lông mày
Trương Phi rậm rì, vểnh ngược ở cuối chân mày, không động đậy, không nhíu lại, vô cảm trên hàng mi chậm chạp mỗi khi phải chớp” [50, 300]
Một lần nữa, đôi lông mày ấy lại xuất hiện ở chi tiết ông cùng con trai là
Lê Đại sang Nga Lê Hòe tỏ rõ thái độ phản ứng với viên cảnh sát: “Ông quắc
đôi lông mày lưỡi mác vểnh ngược như muốn ăn tươi nuốt sống nó” [50, 324]