Tiêu biểu là các bài viết “Đôi điều quanh ba cuốn tiểu thuyết vừa được giải của Nguyễn Khắc Phê; “Về một xu hướng tiếp cận tác phẩm” của Đỗ Ngọc Thống bút chiến với Đỗ Văn Khang; “Nhữn
Trang 1BÙI THỊ HỢI
VĂN XUÔI TỰ SỰ CỦA BẢO NINH
TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI VIỆT NAM
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
MÃ SỐ: 60 22 34
Trang 2Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Xuân Thạch
Phản biện 1: PGS.TS Mai Hương
Phản biện 2: PGS.TS Phạm Thành Hưng
Luận văn được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn thạc sỹ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Vào lúc 11h30', ngày 04 tháng 01 năm 2012
Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm thư viện Quốc gia Hà Nội
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3
3.PHẠM VI NGHIÊN CỨU 10
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 11
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI 12
1.1 Những biến chuyển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới 12
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội 12
1.1.2 Những đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 13
1.1.3 Những khuynh hướng mới của văn xuôi 19
1.1.3.1.Khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới 19
1.1.3.2 Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực 22
1.1.3.3 Khuynh hướng triết luận 24
1.1.3.4 Khuynh hướng thực huyền ảo 27
1.2 Bảo Ninh và văn học Việt Nam đương đại 30
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương 30
1.2.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh 33
1.2.3 Những truyện ngắn đặc sắc 38
CHƯƠNG 2: SÁNG TÁC CỦA BẢO NINH – MÔT CÁI NHÌN MỚI VÈ HIỆN THỰC 42
2.1 Nỗi ám ảnh quá khứ trong tác phẩm của Bảo Ninh 42
2.1.1 Kí ức về chiến tranh 42
2.1.1.1 Khúc ca bi tráng về một thế hệ người Việt Nam anh hùng thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước 43
2.1.1.2 Chiến tranh khốc liệt, tàn bạo và hủy diệt 45
2.1.2 Hiện thực bất cập thời hậu chiến 50
2.1.3 Kí ức về Hà Nội bình yên và những biến động lịch sử 53
Trang 42.2 Thế giới nhân vật trong sáng tác của Bảo Ninh 56
2.1.1 Hình tượng người lính khiếm khuyết 56
2.1.2 Hình tượng người phụ nữ 58
2.1.3 Hình tượng người trí thức, người nghệ sĩ 65
2.3 Những suy tư mới mẻ về hiện thực 70
2.3.1 Chiến tranh được nhìn từ góc độ nỗi buồn 70
2.3.2 Số phận của con người trong lịch sử 76
2.3.3 Ước mơ về hòa bình, hòa giải dân tộc 80
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐỔI MỚI NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC TỰ SỰ CỦA BẢO NINH 83
3.1 Đổi mới về kết cấu 83
3.1.1 Khái niệm kết cấu 83
3.1.2 Kết cấu dòng ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh và những truyện ngắn đặc sắc 84
3.2 Đổi mới về giọng điệu 97
3.2.1 Giọng điệu trần thuật 97
3.2.2 Giọng ngậm ngùi buồn thương 99
3.2.3 Giọng mỉa mai chua xót 106
3.2.4 Giọng tra vấn 110
3.3 Đổi mới về phân tích tâm lý trong Nỗi buồn chiến tranh và một số truyện ngắn đặc sắc 112
KẾT LUẬN 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Trang 5một nhu cầu "thay máu" của chính mình để phù hợp với thời đại Trong bối cảnh ấy
văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã kịp thời có những bước đi mới mẻ, phong phú và đa dạng Văn xuôi chuyển từ tính thống nhất một khuynh hướng sang tính nhiều khuynh hướng, từ chịu ảnh hưởng của các quy luật thời chiến sang chịu tác động của quy luật thời bình, từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời tư Hệ thống tiêu chí thẩm mĩ có nhiều thay đổi, nhiều giá trị không còn phù hợp với cuộc sống đang đổi thay hàng ngày, trong khi đó nhiều giá trị mới được xác lập Sự giao lưu văn hoá đa chiều đã góp phần thúc đẩy thêm khát vọng tìm tòi khám phá của văn nghệ sĩ Người nghệ sĩ phải là người khai phá những miền đất lạ bởi bản chất của nghệ thuật là phải phản ánh tính hiện sinh của đời sống Con người hôm nay đang sống đang suy nghĩ không thể phù hợp với con người hôm qua đã nghĩ và tồn tại
Văn xuôi Việt Nam sau 75 đổi mới trên nhiều phương diện trong đó có đổi mới quan niệm về văn chương, về con người Những thay đổi ấy bao giờ cũng được soi sáng trong những sáng tác cụ thể và được chuyển hoá thành nghệ thuật thực thụ chứ không chỉ là lý thuyết suông, đặc biệt tiểu thuyết được coi là một thử nghiệm lớn Văn chương khi đã trút bỏ vai trò chính trị trở lại với bản chất nghệ thuật đích thực của mình thì nhà văn có nhiều cơ hội trong việc nghiền ngẫm hiện thực Các vấn đề về cuộc sống, giá trị đạo đức, ý thức dân chủ, ý thức về cái tôi đã trở thành chủ đề nổi bật khiến cho văn học càng đổi mới mạnh mẽ Người ta hình dung lại con người, thay đổi cách miêu tả, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu mới Tất cả những
Trang 6điều này chúng ta đều bắt gặp trên những trang viết của các nhà văn Họ trăn trở tìm hướng đi mới cho con thuyền văn chương của mình Có người lặng lẽ đối chứng lại với những quan niệm sơ lược hoặc phiến diện một thời về thế sự, để từ đó nhằm đấu tranh cho sự hoàn thiện của mỗi con người trong thời đại mới như Nguyễn Minh Châu Có người suy ngẫm về quá khứ để nắm bắt nhịp thở hiện tại như Dương Thu Hương Có người tìm đề tài trong những cái bộn bề phức tạp của hiện thực cuộc sống, đối thoại cùng người đọc để tìm ra biện pháp tháo gỡ như Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Huy Thiệp Và cùng chung dòng chảy ấy ta bắt gặp Bảo Ninh - một trong những cây bút đã góp phần không nhỏ vào sự thay đổi nhanh chóng bộ mặt nền văn học Việt Nam từ sau 1975 Có thể không nói quá rằng ông là người viết về chiến tranh, viết về những năm tháng chiến đấu của người lính, về kẻ thù bên kia chiến tuyến, về những khó khăn của cuộc sống thời kỳ đất nước chia cắt và viết về những khó khăn của cuộc sống thời hậu chiến môt cách sâu sắc nhất, cảm động nhất, để lại nhiều ấn tượng nhất trong lòng người đọc Những điều ông viết có thể xem như là một sự tri ân cho những cuộc đời mà
tuổi trẻ của họ kinh qua dấu ấn thời đại của dân tộc, dấu ấn mà sau này dù có nỗi
khổ nào của ngày hôm nay cũng không sánh bằng những nỗi đau khổ đã trải qua và trái lại mai đây dù được sống sung sướng tới thế nào cũng chẳng hạnh phúc nào bằng hạnh phúc ngày đã qua
Nhắc đến Bảo Ninh người ta nhớ ngay đến Nỗi buồn chiến tranh - giải
thưởng Hội nhà văn năm 1991 Những năm gần đây có rất nhiều báo cáo khoa học, luận văn thạc sỹ, cũng như những luận văn tốt nghiệp viết về tác phẩm nổi tiếng
này Tuy vậy, Bảo Ninh không chỉ có một tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, mà ông còn sáng tác truyện ngắn và trong đó có những truyện cự kỳ đặc sắc như: Mùa khô
cuối cùng, Lá thư từ Quí Sửu, Hà Nội lúc không giờ, Rửa tay gác kiếm, Thời tiết của kí ức, Khắc dấu mạn thuyền, Vô cùng xưa cũ, Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng,
Ba lẻ một, Thách đấu Bội phản,v.v, với phong cách viết cô đọng và những khúc vĩ
thanh đầy cuốn hút Thế nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn bộ sáng tác của Bảo Ninh Vì những lí do đó, chúng tôi mong muốn qua luận văn này sẽ góp
thêm một tiếng nói bằng việc đi vào khảo sát tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và
Trang 7những truyện ngắn đặc sắc của Bảo Ninh đồng thời có so sánh với văn xuôi Việt
Nam thời kì đổi mới để thấy những nét riêng, vị trí riêng của nhà văn
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong phạm vi vấn đề nhằm tìm hiểu những đóng góp của tác giả Bảo Ninh vào quá trình phát triển văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới trên phương diện đề tài
và những cách tân nghệ thuật, chúng tôi quan tâm tới những công trình nghiên cứu
về lý luận thể loại, những đánh giá tổng kết về văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, đặc biệt là các bài viết về nhà văn Bảo Ninh và sáng tác của ông Dưới đây chúng tôi xin tổng thuật lại những công trình, bài viết có liên quan
2.1 Từ sau năm 1986, với những thay đổi trong tư duy văn học và việc tiếp nhận
nhiều lí thuyết nghiên cứu hiện đại, tình hình nghiên cứu văn xuôi đã có nhiều thành tựu quan trọng Trong số những thành tựu đó phải kể đến những công trình nghiên
cứu lí luận về thể loại văn học thời kì Đổi mới: công trình Lí luận văn học của tập
thể các tác giả tại trường Đại học tổng hợp cũ (nay là trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội) Đây là công trình lí luận bao quát những vấn đề cơ sở lí luận chung đến các vấn đề thuộc cấu trúc tác phẩm văn học, loại thể văn học và
phương pháp sáng tác Công trình Giáo trình Dẫn luận thi pháp học - vốn là tập
hợp những bài giảng của GS.TS Trần Đình Sử tại Đại học Sư phạm - đã bao quát toàn diện từ khái niệm, lịch sử, các trường phái, quan niệm về con người, thời gian, không gian, cốt truyện, ngôn từ, v.v trong tác phẩm văn học của lí thuyết thi pháp
học Tiếp đến là một số các công trình tập thể và các sách chuyên luận như: Văn học
Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (Nguyễn Văn Long,
Lã Nhâm Thìn chủ biên, 2006, NXB GD, Hà Nội); 50 năm văn học Việt Nam sau
cách mạng tháng Tám do Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường viết văn Nguyễn Du –
Tạp chí văn nghệ Quân đội tổ chức (1996), Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX của Viện Văn học (2002), Văn học Việt Nam thế kỉ XX (Phan Cự Đệ chủ biên, 2005),
v.v đã có những đánh giá tổng kết về bức tranh chung của văn học Việt Nam thời
kỳ đổi mới Công trình tập thể Văn học Việt Nam thế kỉ XX – những vấn đề lịch sử
và lí luận (2005) của các nhà giáo, nhà nghiên cứu khoa học như Phan Cự Đệ, Trần
Đình Sử, Mã Giang Lân, v.v đã tổng kết văn học Việt Nam thế kỉ XX dưới ánh
Trang 8sáng của loại hình học, thi pháp học và văn học so sánh Đặc biệt, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi kế thừa và vận dụng khung lí thuyết từ công trình của TS
Phạm Xuân Thạch Sự hình thành hệ thống thể loại tự sự nghệ thuật trong tiến trình
hiện đại hoá văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX (2008) Đây là công trình
chuyên sâu tìm hiểu về thể loại tự sự, thông qua việc ứng dụng lý thuyết thi pháp học, trần thuật học, luận án đã đưa ra nhiều kiến giải sắc sảo về bức tranh vận động của thể loại tự sự Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng một khung lý thuyết khả dĩ có thể mô tả được bản chất và sự vận động của đối tượng từ vấn đề người kể chuyện, ngôi kể, điểm nhìn, miêu tả, phân tích nhân vật đến các vấn đề thời gian, giọng điệu Đây là công cụ nghiên cứu quan trọng giúp chúng tôi thấy được những cách tân mới
mẻ về hình thức thể loại cũng như nội dung trong sáng tác của Bảo Ninh
Ngoài các công trình nghiên cứu về lí luận thể loại nói chung là tập hợp nhiều các công trình, các sách chuyên khảo, chuyên luận, v.v về tiểu thuyết Việt
Nam nói riêng như: công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của GS Phan Cự Đệ
là công trình dày dặn chuyên biệt về vấn đề lí luận thể loại tiểu thuyết Với công trình này, người viết đã có một sự tổng quát toàn diện về quá trình hình thành, phát triển của văn học Việt nam hiện đại trên cơ sở các khuynh hướng tiểu thuyết, vấn đề điển hình hoá, vấn đề thể loại, lao động của người cầm bút trong tiểu thuyết Trên
tinh thần thay đổi cách tư duy và phương pháp tiếp cận thể loại, Đổi mới tư duy tiểu
thuyết (2002) gồm nhiều bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu – phê bình đã
đánh giá thực trạng, sự cấp thiết cần đổi mới tiểu thuyết Ngoài ra phải kể đến các công trình chuyên sâu về quá trình đổi mới, cách tân của văn xuôi nói chung và tiểu
thuyết nói riêng như luận án tiến sĩ Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt
Nam sau năm 1975 – khảo sát trên nét lớn của tác giả Nguyễn Thị Bình, luận án
tiến sĩ Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại giai đoạn
1986 – 2006 của tác giả Mai Hải Oanh đã đề cập tới những biến đổi lớn trong tiến
trình đổi mới của văn xuôi, tiểu thuyết đương đại Việt Nam Đặc biệt chúng tôi quan tâm tới những bài nghiên cứu về sự phát triển của tiểu thuyết từ 1986 đến nay, của các tác giả: Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Phong Lê, Nguyễn Thị Bình, Lại Nguyên Ân, Bích Thu, Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ Tuấn Anh, Vương Trí
Trang 9Nhàn, Nguyễn Đăng Điệp, Phạm Xuân Nguyên, Phạm Xuân Thạch, Huỳnh Như Phương, Lê Ngọc Trà, Mai Hương, Tôn Phương Lan, Lê Dục Tú, Ma Văn Kháng, Bích Thu, Nguyễn Ngọc Thiện, Trần Độ, Nguyễn Hà, Trần Thị Mai Nhân Các tác giả đều thống nhất ở việc nhìn nhận tiểu thuyết là một thể loại năng động Tiểu thuyết Việt Nam đương đại ngày càng tăng cường yếu tố đa thanh, tính dân chủ và tính đối thoại, sự thay đổi về nội dung cùng sự thay đổi về thi pháp thể loại như một đòi hỏi tất yếu của một thể loại năng động và luôn bám sát hiện thực đời sống Trong các bài viết của các tác giả nói trên chúng tôi nhận thấy nổi bật lên hai hướng tiếp cận vấn đề chính sau:
- Hướng tiếp cận thứ nhất: các bài viết mang tính chất nhận định tổng quan
về quá trình phát triển thể loại Ở hướng tiếp cận này, GS Hà Minh Đức đã có những tổng kết về thành tựu văn học Đổi mới trong đó có tiểu thuyết GS Phong Lê
trong bài viết Từ sự nghiệp đổi mới nhìn lại lịch sử các mối giao lưu với văn học
phương Tây hiện đại và Tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng Tám – 1945 đã cho thấy một sự thay đổi đa dạng của văn xuôi, tiểu
thuyết thời kỳ Đổi mới Trong bài viết Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời
kỳ đổi mới và Tiểu thuyết Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỷ, PGS.TS Bích Thu chỉ rõ thực tế tiểu thuyết Việt Nam đang vận động và sẽ
tiếp tục vận động Bài viết Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – một cái nhìn khái quát
của PGS.TS Nguyễn Thị Bình lại nhấn mạnh nhu cầu thay đổi tư duy nghệ thuật của người viết trong một cái nhìn tổng quát về tiểu thuyết Đổi mới
- Hướng tiếp cận thứ hai: các bài viết đi sâu vào việc phân tích sự phát triển các khuynh hướng tiểu thuyết, những đặc điểm nghệ thuật trong hình thức và nội dung cũng như các yếu tố mang tính thẩm mỹ thể loại nói chung PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện quan tâm đến “tiểu thuyết hướng nội” trong văn xuôi Việt Nam hiện đại: khai thác và khám phá chiều sâu tâm hồn con người với tất cả sự phong phú và phức tạp Thông qua việc tìm hiểu sự vận động của văn học đương đại từ phương diện thể loại, PGS Vũ Tuấn Anh đã cho thấy một xu hướng thay đổi trong thể loại tiểu thuyết từ khuynh hướng sử thi sang khuynh hướng đời tư, số phận Trên tạp chí nghiên cứu văn học số 11 – 2006, các tác giả Mai Hương, Bùi Thanh Truyền đã có
Trang 10những ý kiến xác đáng về tiểu thuyết đương đại Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo một số bài viết của các tác giả Đặng Anh Đào, Lưu Liên, Phạm Xuân Nguyên, Ma
Văn Kháng có đề cập tới những khía cạnh về lí luận thể loại như Tính chất hiện
đại của tiểu thuyết, Nguồn gốc và tiền đề của tiểu thuyết, Tiểu thuyết - một thể loại năng động đầy triển vọng, "Sự vận động trong con người" ở tiểu thuyết sử thi hiện đại Bên cạnh đó, một bộ phận các tác phẩm dịch về lí luận thể loại đã có tác động
quan trọng đối với công tác nghiên cứu văn học Việt Nam thời gian qua Tiêu biểu:
công trình của Bakhtin Lí luận và thi pháp tiểu thuyết do Phạm Vĩnh Cư dịch và
Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki do Trần Đình Sử dịch đã khảo cứu thi pháp tiểu
thuyết trên cơ sở xây dựng lí thuyết chung về thể loại; cuốn tiểu luận Nghệ thuật
tiểu thuyết của Milan Kundera do Nguyên Ngọc dịch nêu lên nhiều nhận định về sự
phát sinh, phát triển và khái niệm tiểu thuyết
Không chỉ chú ý đến những công trình lí luận về thể loại nói chung, tiểu thuyết nói riêng chúng tôi còn quan tâm tới những công trình, những bài viết, những
chuyên luận.v.v.về thể loại truyện ngắn Việt Nam Trong số đó phải kể đến cuốn Sổ
tay viết truyện ngắn do nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn sưu tầm, biên soạn (NXB
Tác phẩm mới, Hà Nội, 1980) đã tập hợp nhiều ý kiến của các nhà văn trong và ngoài nước nhận xét, phát biểu về đặc điểm truyện ngắn (những ý kiến của các tác giả, các nhà phê bình lí luận nước ngoài chiếm non nửa dung lượng sách) Đáng lưu
ý là bài viết Truyện ngắn – một số vấn đề nghề nghiệp như là ý kiến mang tính bàn
luận, nhận xét của người sưu tầm, biên soạn “thông báo một số khía cạnh lí luận của vấn đề”, “xác định những đặc điểm chủ yếu làm nên bản chất cái thể tài tự sự cỡ nhỏ này” Tiếp đến là hai công trình tiêu biểu về truyện ngắn của tác giả Bùi Việt
Thắng: Bình luận truyện ngắn (Nxb Văn học, 1999), Truyện ngắn- những vấn đề lý
thuyết và thực tiễn thể loại (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000) Trong hai công
trình này Bùi Việt Thắng đã tập trung cái nhìn của mình dưới góc độ thể loại, khảo sát một cách tương đối đầy đủ, toàn diện về truyện ngắn Trước hết, công trình
Bình luận truyện ngắn là sự góp nhặt toàn bộ những gì mấy chục năm anh đọc và
ngẫm nghĩ về các tác giả, tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn Ở Truyện ngắn-
những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại, tác giả đi từ định nghĩa, nguồn gốc để
Trang 11xác định các yếu tố đặc trưng, các kiểu truyện ngắn, từ đó cung cấp một cái nhìn khái quát về sự phát triển truyện ngắn Việt Nam thế kỷ XX Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo các bài viết của các nhà văn: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Nguyễn Kiên, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Thân.v.v họ phát biểu những suy nghĩ, quan niệm của mình về thể tài mà họ từng có tác phẩm được người đọc và các nhà nghiên cứu phê bình ghi nhận Tiêu biểu là 3 bài viết của Nguyễn Minh Châu tập
hợp trong cuốn Trang giấy trước đèn, in lần đầu 1993, tái bản 2002: Đôi điều về
truyện ngắn, Nghĩ về truyện ngắn, Nói về truyện ngắn của mình có bàn luận trực
tiếp về truyện ngắn Gần đây nhất là cuốn chuyên luận của tác giả Lê Huy Bắc:
Truyện ngắn: lí luận, tác gia và tác phẩm (tập một, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004)
Tác giả cuốn sách bày tỏ mong muốn từ việc tìm hiểu lí luận và thành tựu truyện ngắn thế giới và Việt Nam để “hình thành một hệ thống lí luận về truyện ngắn nói chung, truyện ngắn của từng giai đoạn và của từng tác giả…” Đây là những cơ sở khoa học quan trọng giúp chúng tôi tiến hành nghiên cứu mảng truyện ngắn của Bảo Ninh
Như vậy, trong những công trình trên, dưới những mức độ khác nhau, vấn đề
lí luận thể loại đã được đề cập một cách cụ thể ở nhiều phương diện Các nhà nghiên cứu - phê bình đã tiếp nhận nhiều lí thuyết nghiên cứu hiện đại, nổi bật là hướng nghiên cứu theo thi pháp học, tự sự học mà cụ thể là vận dụng tư tưởng của M.Bakhtin Những vấn đề lý thuyết thể loại từ các công trình nghiên cứu trên là cơ
sở khoa học quý báu để chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu
2.2 Bảo Ninh được văn đàn biết đến sau truyện ngắn Trại bảy chú lùn in năm
1987, nhưng chỉ thực sự tạo ra làn sóng phê bình khen chê với tác phẩm Nỗi buồn
chiến tranh - Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 1991 Từ khi ra mắt độc giả Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã trở thành một “hiện tượng có vấn đề” của văn
học nước nhà Cuốn tiểu thuyết ngay sau khi xuất bản (với tên gọi Thân phận tình
yêu do Hội Nhà văn in) đã trở thành tâm điểm của cuộc thảo luận do tuần báo Văn
nghệ tổ chức Trong cuộc thảo luận ban tổ chức có đưa ra nhận định: “Đây là một
trong số ít tác phẩm được dư luận bạn đọc hết sức chú ý và đã gây ra nhiều luồng ý
Trang 12kiến nhận xét khác nhau, thậm chí trái ngược nhau Âu đó cũng là lẽ thường tình và
là điều đáng mừng với một tác phẩm văn học”
Về hướng khẳng định giá trị của cuốn tiểu thuyết người đầu tiên mà chúng ta
không thể bỏ qua là Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến Trong bài “Những nghịch lý của
của cuộc chiến tranh”, ông đã nhiệt liệt cổ vũ cho một lối nghĩ mới, một lối viết
mới, xuất phát từ nhận xét cho rằng văn học ta từ 1945 - 1975 chủ yếu nói bằng
“thuận lý” một nghĩa Bộ mặt “gớm guốc” tàn bạo của chiến tranh được Bảo Ninh
mô tả rất hiện thực nhưng không phải không có sự thăng hoa, ông đã khẳng định giá trị tích cực của tác phẩm là đem đến cho người đọc một cái nhìn mới, sâu sắc về chiến tranh
Các ý kiến tham gia thảo luận của các tác giả Trần Đình Sử, Cao Tiến Lê, Phạm Tiến Duật, Nguyên Ngọc, Vũ Quần Phương, Hồ Phương, Chu Lai, Nguyễn Phan Hách, Đỗ Đức Hiểu, Ngô Văn Phú, Tôn Phương Lan, Nguyễn Trọng Tân,
đưa ra đều sâu sắc và thuyết phục xong đều nhất trí ở giá trị khẳng định: “Một tác
phẩm văn chương đích thực, văn đẹp lắm, cực kỳ đẹp, chi tiết tuyệt vời gây ấn tượng không thể nào quên Những chi tiết gợi bóng dáng một tác phẩm lớn.”
(Nguyễn Phan Hách) Sau đó các ý kiến này đều được đăng tải trên báo văn nghệ số
37, 43, 44, 47 năm 1991 Tiêu biểu là các bài viết “Đôi điều quanh ba cuốn tiểu
thuyết vừa được giải của Nguyễn Khắc Phê; “Về một xu hướng tiếp cận tác phẩm”
của Đỗ Ngọc Thống (bút chiến với Đỗ Văn Khang); “Những nhịp mạnh của tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh” của Đỗ Đức Hiểu in trong Tạp chí Tác phẩm mới
tháng 1/1992.v.v(chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong phần 1.2.2 của Chương 1)
Về hướng phủ nhận giá trị của tác phẩm, người chính thức phủ nhận hoàn toàn tác phẩm của Bảo Ninh là tiến sỹ Mỹ học Đỗ Văn Khang trên báo Văn nghệ
ngày 26/10/1991 với bài “ Nghĩ gì khi đọc Thân phận tình yêu” ông đã phủ nhận
không thương tiếc giá trị của tác phẩm :”Tác phẩm có cảm hứng chủ đạo là dối bời,
bất định, tư tưởng rõ ràng hoang mang, dễ rơi vào phủ định” Những cảnh tàn khốc
của chiến tranh trong tác phẩm bị gọi là “chủ nghĩa tự nhiên trong văn học” Nhân vật trong tác phẩm bị “thiết kế sai, chẳng có ý tưởng nào cả” Cách tiếp cận như thế
đã bị một số nhà phê bình lên tiếng phản bác một cách gay gắt Tiếp đó là ý kiến
Trang 13phê phán không kém phần quyết liệt của Trần Duy Châu trên tạp chí Cộng Sản số
10/1994 đã cho rằng: “Tác giả đã không thể lập luận được đã cố ý sử dụng những
yếu tố tâm thần không bình thường để được “ miễn truy cứu trách nhiệm” trước tòa
án lương tâm của thời đại, đây là “bài ai điếu của kẻ lạc loài xúc phạm những
người đang sống” Về nghệ thuật của tiểu thuyết thì ông cho là : “Thuần túy là kỹ thuật - một sự khéo tay nếu có” Đã có rất nhiều ý kiến không đồng tình với ý kiến
nhận xét của Trần Duy Châu
Sau đó là một khoảng thời gian dài tác phẩm bị lãng quên, vắng bóng trong các công trình nghiên cứu, các tác phẩm phê bình và các chuyên luận về văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Mãi đến năm 2003, cuốn sách của Bảo Ninh lặng lẽ
được tái bản và xuất hiện trong đời sống văn học Việt Nam với tiêu đề Nỗi buồn
chiến tranh (NXB Hội Nhà văn) và Thân phận tình yêu (NXN Hội phụ nữ) Trong
những bài viết đánh giá về tác phẩm trong những năm gần đây đáng chú ý phải kể
đến bài viết của TS Phạm Xuân Thạch với nhan đề Nỗi buồn chiến tranh viết về
chiến tranh thời hậu chiến - từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp
đăng trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
do Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn chủ biên - NXB GD - 2006 Bài viết đã đưa
ra những lí giải sâu sắc về những cách tân trong cấu trúc tác phẩm, đổi mới về đề tài, đổi mới về xây dựng nhân vật từ đó đưa tác giả đưa ra một đề nghị một cách đọc mới – “đọc sâu”, “đọc liên văn bản” để có thể chạm đến mọi tầng nghĩa của tác
phẩm Sau đó là các bài viết: Phép lặng với việc đổi mới một số nét về nghệ thuật
trong Thân phận của tình yêu - Báo cáo khoa học năm 2004 của Nguyễn Ngọc
Bích, Kết cấu không gian trong Thân Phận của tình yêu - Báo cáo khoa học năm
2002 của Khương Thị Thu Cúc, Nghệ thuật trần thuật của Bảo Ninh qua thân phận
của tình yêu - Báo cáo khoa học năm 2001 của Đỗ Văn Hiểu Từ đại học Paris TS
Đoàn Cầm Thi có bài viết “Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam
đương đại” Trên các website chính thức của Bộ Thông tin và Truyền thông cũng
đăng tải nhiều bài viết về tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh cũng như những bài phỏng
vấn tác giả Qua đây người đọc có thể hiểu rõ hơn về quan niệm văn chương của nhà văn cũng như những yếu tố tác động tới nghề văn của Bảo Ninh:
Trang 14http://www.vietnamnet.vn;http://www.vannghesongcuulong.org.vn;http://tuoitre.vn;
http://evan.vnepress.net Ngoài ra Nỗi buồn chiến tranh cũng trở thành đề tài
nghiên cứu của nhiều học viên cao học, sinh viên tại các trường đại học, Viện
nghiên cứu chuyên ngành tiêu biểu: Thân phận tình yêu - Nhìn từ góc độ thi pháp
tiểu thuyết Luận văn tốt nghiệp, ĐHSP Hà Nội, 2002 của Nguyễn Thị Phương
Thanh; Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội, 2006 của Nguyễn Thị Thanh; v.v
Như vậy đã có một dòng chảy phê bình, đánh giá về tác giả Bảo Ninh nhưng
chủ yếu thông qua tiếp cận tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh mà chưa có tác giả nào
tiếp cận toàn bộ sáng tác của tác giả Chính vì thế, trong phạm vi nghiên cứu của mình chúng tôi muốn góp thêm một tiếng nói tri ân đối với quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc của nhà văn với mong muốn xác định những đóng góp của nhà văn vào sự Đổi mới văn xuôi Việt Nam trong toàn bộ sáng tác của mình chứ không
tập trung vào một tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh
Trên đây là những trình bày tổng quan của chúng tôi về tình hình nghiên cứu văn xuôi Việt Nam thời kì Đổi mới, những bài viết, những công trình khoa học về tác giả Bảo Ninh và sáng tác của ông có liên quan đến đề tài
3.PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, ba tập truyện ngắn Chuyện xưa, kết đi
được chưa?, Lan man trong lúc kẹt xe và Truyện ngắn của Bảo Ninh Nghiên cứu
trên các bình diện: đề tài, hệ thống nhân vât, đặc điểm nghệ thuật để thấy được những đổi mới của Bảo Ninh trong sáng tác, từ đó có những đánh giá đúng đắn về những đóng góp của tác giả vào văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu của mình chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vấn đề vị trí của một tác giả trong một
giai đoạn văn học có liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học như văn học sử, lý luận văn học, ngôn ngữ học Chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu của các
Trang 15ngành khoa học liên quan để hỗ trợ và làm sáng tỏ các khía cạnh của vấn đề nghiên cứu
4.2 Trên cơ sở của đề tài đặt ra và tiếp thu những lí thuyết nghiên cứu văn học hiện
đại một cách tích cực, luận văn sử dụng phương pháp luận: Phương pháp thi pháp
học kết hợp lí thuyết tự sự học được chúng tôi sử dụng như một phương pháp nòng
cốt của luận văn nhằm thể hiện cụ thể và nổi bật được những giá trị về mặt thẩm mỹ trong sáng tác của Bảo Ninh cũng như các sáng tác và khuynh hướng văn học thời kì Đổi mới Ngoài ra, trong quá trình tiến hành đề tài nghiên cứu, luận văn của chúng tôi còn phối kết hợp các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, v.v cũng như vận dụng một số nghiên cứu của lịch sử văn học (sưu tầm, thống kê tư liệu về tác giả, sự nghiệp sáng tác…)
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận luận văn có cấu trúc như sau:
Chương1: Bảo Ninh trong đời sống văn học đương đại
Chương 2: Sáng tác của Bảo Ninh – Một cái nhìn mới về hiện thực
Chương 3: Những đổi mới nghệ thuật trong sáng tác tự sự của Bảo Ninh
Trang 16
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: BẢO NINH TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Những biến chuyển của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội
Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân ta giành được chủ quyền sau hơn tám mươi năm bị thực dân Pháp đô hộ Chưa kịp bắt tay vào xây dựng đất nước thì chúng ta đã phải tiến hành cuộc kháng chiến trường kì gian khổ chống Pháp kéo dài suốt chín năm Sau đó lại là cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ và tay sai Mãi tới ngày 30 tháng Tư năm 1975, cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm kéo dài suốt ba mươi năm mới thực sự chấm dứt Tuy vậy từ năm 1978 đến năm 1979 chúng ta vẫn còn phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây – Nam và biên giới phía Bắc để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc Biết bao xương máu đã đổ xuống, biết bao trí tuệ, sức người, sức của đã hóa thân cho một dải non sông hòa bình thống
nhất Số phận nghiệt ngã nào đã biến mảnh đất Việt Nam hiền lành thành “Bãi
chiến trường bốn nghìn năm gươm khua, ngựa hí quân reo” (Theo Nguyễn Thanh
Sơn: Nỗi buồn chiến tranh đến từ đâu, http://www.tanvien.net) Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, con người buộc phải thích nghi với một cuộc sống bất thường Văn hóa thời chiến hình thành Nhãn quan giai cấp, dân tộc, lợi ích của cuộc chiến đấu trở thành chuẩn mực đo đếm các giá trị Nhân dân Việt Nam phải hi sinh hạnh phúc cá nhân vì lợi ích của giai cấp và dân tộc
Sau 1975 nhất là từ những năm 80 trở đi, dân chủ hóa là xu thế lớn của xã hội Nó cũng trở thành xu hướng vận động bao trùm của nền văn học Đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nhu cầu đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo
cơ sở cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học được khơi dòng và phát triển mạnh
mẽ Dân chủ hóa đã thấm sâu và được thể hiện ở nhiều cấp độ và bình diện của đời sống văn học, nhưng bao quát ta vẫn có thể nhận thấy một khuynh hướng vận động bao trùm chi phối một cách sâu sắc mọi mặt của nền văn học từ tư tưởng, cảm hứng chủ đạo đến các phương thức nghệ thuật, đó là xu hướng văn học vận động theo hướng dân chủ hóa, tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân
Trang 171.1.2 Những đổi mới của văn xuôi từ sau 1975
Quan sát sự vận động của văn học Việt Nam từ sau 1975, chúng ta dễ dàng nhận thấy lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật có sự biến đổi thật sự mạnh mẽ và sâu sắc Nhìn trên những nét lớn có thể thấy tập trung ở những phương diện sau: mở rộng quan niệm về hiện thực đi liền với đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ, giọng điệu
Giai đoạn 1945 – 1975 với nguyên lý “văn học phản ánh hiện thực” và yêu cầu quán triệt lí luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học trở nên gắn
bó với đời sống xã hội hơn, theo sát từng biến cố lịch sử, từng bước phát triển của phong trào cách mạng Tính hiện thực được đồng nhất với quan niệm lí tưởng về hiện thực Hiện thực được lựa chọn là hiện thực chính trị rộng lớn, là những đề tài lớn như công – nông – binh, là đời sống cách mạng ở những nơi mũi nhọn, là cuộc sống mới và con người mới
Từ khoảng đầu những năm 80, cuộc sống thời bình đã thực sự trở lại, con người hằng ngày phải đối diện với bao nhiêu vấn đề của thực tiễn, của đời thường, của các quan hệ thế sự, của đời sống riêng tư Các nhà văn có sự mẫn cảm với cuộc sống đã không thể bỏ qua cái hiện thực đời thường đó và họ đã nhìn ra nhiều vấn đề
có ý nghĩa, đáng được quan tâm trong đó Từ đề tài lịch sử dân tộc vốn là đề tài chủ đạo và chi phối mọi bình diện của hiện thực, văn học đã chuyển sự quan tâm chủ yếu sang thể tài thế sự và đời tư Với sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực như thế, văn xuôi đã vượt qua tình trạng bị lệ thuộc vào đề tài, lệ thuộc vào một cách nhìn đã được định trước, mở ra khả năng phong phú, vô tận trong sự khám phá và thể hiện hiện tính muôn mặt, muôn vẻ của thực đời sống Khi văn chương được giải phóng khỏi “chủ nghĩa đề tài” thì điều đó vừa là một thuận lợi, vừa là một thách thức với nhà văn Họ có thể viết về mọi điều, kể cả những điều trước kia cần phải kiêng kị, nhưng cái quan trọng lại là ở chỗ nhà văn có phát hiện được điều gì mới, muốn biểu đạt cái gì của riêng mình trong những cái quen thuộc hay xa lạ với người
đọc Bài tiểu luận Viết về chiến tranh của Nguyễn Minh Châu (năm 1978), bản “đề dẫn” của Nguyên Ngọc và bài Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật Việt Nam
Trang 18giai đoạn vừa qua của Hoàng Ngọc Hiến (năm 1979) thực chất là sự dự báo những
thay đổi trong quan niệm văn chương, trong đó có vấn đề quan niệm về hiện thực
Từ những truyện ngắn mang tính thể nghiệm của Nguyễn Minh Châu như Bức
tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Một lần đối chứng, v.v., đến các tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời
xa vắng của Lê Lựu, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người của Nguyễn Khải, v.v,
và hàng loạt tác phẩm ra đời năm 1986, đã xuất hiện một cách nhìn hiện thực đa dạng, nhiều chiều, thể hiện mối quan hệ tự do của nhà văn đối với hiện thực Không phải ngẫu nhiên, người ta nói nhiều đến khái niệm “suy ngẫm”, “nghiền ngẫm” về hiện thực Hiện thực là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp, cần khám phá, tìm tòi Nhà văn lựa chọn hiện thực nào không quan trọng bằng cách đánh giá của ông ta về hiện thực ấy
Văn xuôi thời kỳ đổi mới đã đem lại nhiều biến đổi trong nghệ thuật trần thuật Văn xuôi từ bỏ sự áp đặt một quan điểm (quan điểm của cộng đồng) được cho
là đúng đắn nhất Ngày nay, người viết có thể đưa ra nhiều quan điểm khác nhau, chính kiến khác nhau Để làm được điều đó, cách tốt nhất là chuyển dịch điểm nhìn vào nhiều nhân vật để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình
và để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại Sự thay đổi vai kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ các tình tiết, sự việc không theo một trật tự thời gian duy nhất, tất cả những thủ pháp ấy đều nhằm tạo ra được hiệu quả nghệ thuật mới Trong sự đa dạng về phương thức trần thuật, nhiều nhà văn, nhà báo, một người chứng kiến, quan sát kể lại câu chuyện về người khác hoặc kể về chính mình, Nguyễn Khải lại cách tân nghệ thuật trần thuật bằng cách tổ chức kiểu cấu trúc đối thoại có sự tham gia của nhiều ý thức độc lập qua hệ thống
hình tượng cụ thể (Cha và con và , Khoảnh khắc đang sống, Gặp gỡ cuối năm) Ở
Cha và con và , tuy lập trường của tác giả vẫn chi phối nhân vật, nghĩa là nhân vật
không được nói “tiếng cuối cùng” về mình, nhưng nhiều người đã nhận ra đây là cuộc “đối thoại giữa lí tưởng tôn giáo và chủ nghĩa xã hội” (Lại Nguyên Ân) Sự lựa chọn cách sống, quan điểm về đời sống giữa các nhân vật cha già quản hạt, ông thầy xuất, cha Hòe, cha Thư, v v., ít nhiều cho thấy giá trị của kinh nghiệm cá nhân, tính
Trang 19độc lập về tư tưởng của nhân vật Gặp gỡ cuối năm chưa phải là phức điệu nhưng
cuộc đối thoại quanh bàn tiệc tất niên của ngót chục con người, “bảo hoàng” có, cấp tiến có, cộng sản có, chống cộng sản có, thiền có, khoa học có, phần nào đã mang tính đa thanh và người dẫn chuyện đã không còn đứng cao hơn nhân vật nữa Sau
này với Nguyễn Trí Huân (Chim én bay), Ma Văn Kháng (Đám cưới không có giấy
giá thú), Nguyễn Minh Châu (Chiếc thuyền ngoài xa, Phiên chợ Giát), Nguyễn
Khải (Một cõi nhân gian bé tí, Cái thời lãng mạn, Nhóm bạn thời kháng chiến), Phạm Thị Hoài (Thiên sứ, Mê lộ, Từ Man Nương đến A.K và những tiểu luận), v.v.,
ý thức đối thoại được triển khai phổ biến theo lối trần thuật từ điểm nhìn của nhân
vật Trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thái độ đầy cam chịu của
người đàn bà thuyền chài, hay thói vũ phu hung bạo của chồng bà ta được tác giả luân phiên đánh giá qua các nhân vật: đứa con trai, đứa con gái, nhà nhiếp ảnh, viên thẩm phán Mỗi người đều từ niềm tin riêng mà phán xét.Thật thú vị là tất cả họ đều nông nổi hơn người đàn bà thất học, thô kệch ấy vì chỉ bà biết rõ rằng cuộc sống sông nước không thể thiếu bàn tay chèo chống của người đàn ông và đàn bà sống vì
con cái chứ không vì mình Trong Ăn mày dĩ vãng(Chu Lai), thực trạng thời hậu
chiến với các vấn đề đạo đức và niềm tin được trần thuật qua cách nhìn của Hai Hùng, Ba Sương, Tám Tính, Ba Thành, Tường, Tuấn và qua những lời bình luận trữ tình ngoại đề của nhân vật người dẫn chuyện, tạo thành một ấn tượng phức hợp buồn vui, căm phẫn, tin yêu lẫn lộn Mỗi điểm nhìn trần thuật gắn liền với một sự trải nghiệm và như vậy, hiện thực được đánh giá theo nhiều cách Người đọc tự nhiên bị lôi cuốn vào “trò chơi” của nhà văn vì anh ta được giành quyền quyết định sau cùng đối với cái hiện thực mà nhà văn trình bày Trong số các nhà văn đổi mới,
có lẽ Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp là hai tác giả tạo ra những điểm nhìn trần
thuật thật sự khác biệt Trong Nỗi buồn chiến tranh, mỗi nhân vật là một ý thức,
một bản ngã “chỉ có thể thâm nhập được bằng đối thoại”, một thái độ tự do đối với lập trường của tác giả Kiên được nhiều người xem như phát ngôn trực tiếp của tác giả nhưng thực ra Kiên chỉ đại diện cho một mình anh, chuỗi kí ức điệp trùng chỉ nhằm làm sáng tỏ ý thức về bản ngã của anh ta “Còn hơn là một khuyết tật, trong Kiên rõ ràng là có mầm bẩm sinh của tội ác, của thói nhẫn tâm, khô rắn, lạnh lùng
Trang 20Một sự trống rỗng bất hạnh và tệ mạt Một lương tri không lành Có lẽ anh lớn lên chỉ với nhiều nhất là một phần hai nhân cách”[100,123] Thái độ đối với đời sống của Kiên không ngừng bị các nhân vật khác phán xét và chính anh cũng tự phán xét Bên cạnh Kiên, Phương hay Can hay Sơn – người yêu và những đồng đội của anh đều là những bản ngã riêng biệt Ngay cả các nhân vật phụ của tác phẩm (mẹ Kiên, cha Kên, bố dượng Kiên, người hàng xóm, v v) cũng xuất hiện trong ý thức đối thoại Ở Nguyễn Huy Thiệp, vai trò chủ động về tư tưởng của mỗi nhân vật lại khiến cho tác phẩm luôn là một cấu trúc đa tầng, đa nghĩa, người đọc không thể dễ dàng tìm được “câu phán” của nhà văn Bản thân người kể chuyện cũng tỏ ra chẳng mấy tin vào mình, có khi còn “đứng thấp hơn nhân vật” (Đặng Anh Đào), trong khi
đó mỗi nhân vật đòi quyền bình đẳng bằng “chân lí” và “lẽ phải” riêng của nó Tính phức điệu này cùng với một bút pháp biến hóa có thể dao động từ giới hạn của cái lung linh huyền ảo đến giới hạn của cái nghiệt ngã, trần trụi, từ “mơ mộng” đến
“khắc nghiệt”, khiến cho người đọc phải giật mình xem lại kinh nghiệm nghệ thuật của mình Đọc Nguyễn Huy Thiệp nhiều người đã không giấu được niềm thán phục trước một ngòi bút đầy biến hóa, “tiền văn” không đoán được “hậu văn” Mỗi chi tiết đều là “điểm rơi” của tư tưởng, chi tiết nào cũng đầy sức gợi và có khả năng kích thích đối thoại rất mạnh
Trong thời kỳ chiến tranh và cách mạng, văn học nhìn con người chủ yếu ở
tư cách con người công dân, con người dân tộc, giai cấp Điều đó là phù hợp và cần thiết Nhưng cũng vì thế mà các bình diện khác, những tư cách khác của con người thường bị văn học bỏ qua, hoặc nếu có quan tâm thì cũng phải được nhìn nhận theo
hệ quy chiếu của các giá trị cộng đồng, thống nhất với phần căn bản (con người dân tộc, con người giai cấp) Văn xuôi hôm nay đã tiếp cận con người ở nhiều tư cách,
vị thế và trên nhiều bình diện Nó đặc biệt quan tâm đến con người như một cá thể, một thực thể sống, trong đó chứa đựng cả phần nhân loại phổ quát Từ nhận thức và quan niệm mới về con người, tất sẽ dẫn tới những đổi thay trong thế giới nhân vật của văn xuôi
Trong văn xuôi trước 1975, các nhân vật được nhận diện trước hết theo lập trường dân tộc và cách mạng, bởi thế dễ dàng xếp họ vào loại chính diện hay phản
Trang 21diện, tích cực hay tiêu cực Các nhân vật lại được khuôn vào trong những khung hình của tầng lớp xã hội, giai cấp Hệ thống nhân vật vì thế thường được phân chia theo tầng lớp, nghề nghiệp, vị trí xã hội hoặc lứa tuổi, chẳng hạn như nông dân, công nhân, trí thức, người lính, bà mẹ, người phụ nữ, v.v Trong văn xuôi thời kỳ đổi mới, khi đã vượt qua giới hạn chật hẹp và cứng nhắc của cái nhìn con người và thể hiện nhân vật như trên, người cầm bút đã mở ra sự phong phú, đa dạng dường như vô tận cho thế giới nhân vật Rất khó có thể đưa ra một bảng phân loại hay liệt
kê nào có khả năng bao quát được thế giới nhân vật của văn xuôi hiện nay Nhưng cũng có thể dễ dàng nhận ra khá nhiều kiểu loại nhân vật mới, vốn chưa có hoặc rất
ít trong văn xuôi trước 1975: nhân vật cô đơn, con người bi kịch, con người lạc thời, nhân vật tư tưởng, nhân vật kì ảo, v v Sự phong phú của các cá nhân, như xưa nay vốn vậy, đòi hỏi phải xem xét nó từ nhiều phía, nhiều “tọa độ” Xuất hiện con người
“không trùng khít với chính mình”, con người phức tạp, nhiều chiều Sống với thời
gian hai chiều của Vũ Tú Nam là sự tự phán xét của lương tâm trước hai chiều thời
gian quá khứ và hiện tại Bức tranh của Nguyễn Minh Châu là con người đối diện
với chính mình, là “tòa án lương tâm” sáng suốt nhất phân xử tư cách con người trong mối quan hệ với “số đông người” và với “cá nhân” anh thợ cắt tóc Ở tư cách thứ nhất, người họa sĩ có lý: “ tôi là nghệ sĩ chứ đâu phải là anh thợ vẽ truyền thần Công việc của người nghệ sĩ phục vụ cả số đông chứ đâu phải chỉ phục vụ một người” Ở tư cách thứ hai, anh ta là kẻ ích kỉ, dối trá: “Vì mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh có quyền quên tôi đi hả? Có quyền lừa dối
hả?” Lời nguyền thuở ấy của Trần Tài dõi theo diễn biến cuộc trả thù kiểu giang hồ
của những tay “anh chị” đã đi đến kết luận: “Con người phức tạp thật, nhiều khi mình cũng không hiểu hết mình” Nguyễn Khải triết lý: “Cái thế giới tinh thần của con người là vô cùng phức tạp vì sự vận động của nó luôn luôn nhắm tới cái thật cao và thật xa” Ông ngạc nhiên thấy có người “no ăn mà buồn Không phải lo nghĩ
mà lại buồn” (Anh hùng bĩ vận), có người “hiền lành là thế, hồn nhiên là thế mà có ngày sẽ trở thành kẻ sát nhân?” (Đổi đời), v.v Nhiều nhân vật của ông đã sống đến
quá nửa đời người mà vẫn không học được cách hiểu con người, dù người đó là
những thân yêu nhất, như Chính (Một cõi nhân gian bé tí) dù là một vị thẩm phán
Trang 22“có cỡ” nhưng “không hiểu được cái thế giới kì quặc của người già và cũng chẳng hiểu bao nhiêu cái thế giới luôn luôn biến động của đám trẻ” Không phải Chính thiếu hiểu biết mà vì con người quá phức tạp, rắc rối Chính đã thấy Định luôn sống trong trạng thái phân thân “ban ngày sống theo cách mình đã chọn nhưng ban đêm lại phải sống với cách thượng đế đã chọn”, đã biết ông Vũ than thở: “ chả ai hiểu tôi và tôi cũng không thật hiểu ai” Theo đuổi những con người “có số phận không bình thường”, Nguyễn Khải đi đến triết lí: “Vẫn là con người Việt Nam mình mà gặp thêm một người lại tuồng như buộc mình phải hiểu lại chút ít về con người”
(Hai ông già ở Đồng Tháp Mười) Còn Nguyễn Minh Châu từ tập truyện ngắn
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành trở đi dường như liên tục làm những thử
nghiệm, “đối chứng” về “tính chất kì lạ của con người” Hạnh, Cơn giông, Sắm vai,
Chiếc thuyền ngoài xa, Dấu vết nghề nghiệp, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam,v v,
đều ít nhiều diễn tả cái phức tạp của đời sống, những giằng xé nội tâm khiến con người nhiều lúc bị phân thân, biến dạng
Khi tư duy tiểu thuyết mạnh lên, thay thế tư duy sử thi thì ngôn ngữ văn xuôi cũng biến đổi theo hướng đó Khi văn xuôi tiếp cận đời sống ở cự li gần chứ không phải qua một “khoảng cách sử thi tuyệt đối” (M.Bakhơtin), tiếp cận với thái độ thân mật suồng sã chứ không phải thái độ tôn kính, thì lệ lời cũng phải thay đổi, từ thứ ngôn ngữ trang trọng, chuẩn mực, chuyển sang thứ ngôn ngữ đời thường, đậm tính khẩu ngữ, thông tục Chưa bao giờ ngôn ngữ văn chương gần với ngôn ngữ sinh hoạt – thế sự đến thế Chưa bao giờ trong văn chương (kể cả thơ, kịch, phim) những câu chửi thề, chửi tục, lối nói trần trụi, bụi bặm, dân dã xuất hiện nhiều đến thế Không chỉ Nguyễn Huy Thiệp mà cả Nguyễn Quang Lập, Tạ Duy Anh, Lại Văn Long, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh, Chu Lai, v.v Các nhà văn nữ cũng mạnh dạn thể nghiệm những thành phần ngôn ngữ mới theo định hướng rút ngắn triệt để khoảng cách giữa nghệ thuật và dòng chảy xô bồ, ào ạt của đời sống
Trên đây là những khái quát cơ bản của chúng tôi về tình hình đổi mới trong văn học Việt Nam từ sau 1975 đặc biệt là từ sau Đổi mới (1986) dựa trên những gợi
ý từ các nghiên cứu của TS.Phạm Xuân Thạch và có sự tham khảo nhiều bài viết của các nhà khoa học như GS.Hà Minh Đức, GS.Phong Lê, PGS.Bích Thu,
Trang 23PGS.Mai Hương, PGS.Vũ Tuấn Anh, PGS.Lê Dục Tú, PGS.Nguyễn Thị Bình, GS.LÊ Ngọc Trà, PGS.Nguyễn Văn Long, nhà văn Nguyên Ngọc,V.v Những thay đổi trong quan niệm về nghệ thuật và sáng tác của các tác giả đương đại đã thu hút
sự quan tâm trực tiếp từ giới nghiên cứu phê bình, và như một lẽ tự nhiên nhất, nghiên cứu phê bình văn học giai đoạn này đã có nhiều thành tựu góp phần tích cực vào xu hướng đổi mới nền văn học Việt Nam nói chung
1.1.3 Những khuynh hướng mới của văn xuôi
1.1.3.1.Khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới
Sự thành công của một loạt các sáng tác tiểu thuyết lịch sử trong đời sống văn học đương đại đã trở thành đề tài tranh luận của nhiều nhà nghiên cứu phê bình
về các vấn đề như ranh giới của một cuốn sách về lịch sử và một tác phẩm tiểu thuyết, vai trò của hư cấu, có hay không tính chân thực ở một cuốn tiểu thuyết lịch
sử, v.v Xung quanh các vấn đề này, giới phê bình cũng như phần đông dư luận đều cho thấy chính những thay đổi về quan niệm sáng tác khiến các nhà văn đã có cách cảm và cách thể hiện khác trước về đề tài lịch sử Các tiểu thuyết gia đương đại đã đứng ở góc nhìn cá nhân đưa ra các nhân vật lịch sử lên trang sách để từ đó họ tự bộc lộ tính cách, thể hiện cách nhìn về các vấn đề lịch sử một cách khách quan hơn thậm chí trái ngược với những suy nghĩ từ trước đến nay về sự kiện và nhân vật lịch
sử
Quan sát các sáng tác thuộc khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới có thể nhận thấy “một hiện tượng có tính chất phổ quát: quá trình cá nhân hóa hư cấu” [83] Ở đây, nhà văn không chịu sự chi phối và lệ thuộc từ các quan niệm của cộng đồng mà hoàn toàn đưa ý kiến chủ quan của mình vào trung tâm các sáng tác tự sự
Trên tinh thần của kịch bản Hội thề đoạt giải A trong Cuộc thi sáng tác kịch bản
phim truyện lịch sử Thăng Long, nhà văn Nguyễn Quang Thân đã viết tiểu thuyết
Hội thề suốt gần bốn năm trời (từ 9 – 2004 đến 3 – 2008) Hội thề đã cho thấy một
cách nhìn, cách quan niệm lịch sử của nhà văn Nguyễn Trãi được Nguyễn Quang Thân khắc họa như một điển hình của sỹ phu Bắc Hà, nho nhã trong từng lời ăn tiếng nói Trái lại, các tướng lĩnh Lam Sơn, qua sự tái hiện của nhà văn, là những người mang đậm tính cách võ biền, ít học, thô lỗ Cuốn tiểu thuyết vẻn vẹn 300
Trang 24trang thêm một lần nữa đem đến cho người đọc một cách hình dung về nhân vật lịch
sử đặc biệt là hình ảnh người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi Với một sáng tác đầu tay, tác giả Kiều Thanh Tùng đã chọn thể loại tiểu thuyết lịch sử làm “mảnh đất” để
thể hiện những suy nghĩ riêng của mình trong cách biểu hiện đề tài Ở Sắc đẹp
khuynh thành, nhà văn chú trọng vào việc miêu tả một loạt các nhân vật lịch sử
trong thời điểm chuyển giao giữa hai triều đại Lý – Trần, đặc biệt là hình ảnh Trần Thị Thu Ngừ (Trần Thị Dung) Nhân vật lịch sử hiện lên gần gũi với những chi tiết đời thường hàng ngày, có tính đời tư như việc ăn uống, tắm giặt, v.v., với cách nói năng mang khẩu ngữ dân giã của người bình thường Trong xu hướng cách tân, đổi mới tiểu thuyết lịch sử đương đại, đến với lịch sử bằng cái nhìn mang nặng dấu ấn
của sự hư cấu cá nhân như Sắc đẹp khuynh thành cũng là một hướng tiếp cận lịch
sử hết sức mới mẻ, ít nhiều tạo nên sự thích thú trong tâm lý tiếp nhận của bạn đọc yêu văn học
Sự thay đổi trong phương thức tiếp cận đề tài lịch sử của các nhà văn đương đại đã dẫn tới một loạt những biến đổi trong cấu trúc tiểu thuyết Ở các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử sáng tác theo khuynh hướng này, cốt truyện tiểu thuyết truyền thống đã bị phá vỡ bằng các kỹ thuật xáo trộn thời gian tự sự khi nhà văn phối kết hợp những kỹ thuật này với tuyến nội dung chính trong tác phẩm Khai thác đề tài lịch sử nhưng nhà văn không thực hiện thao tác ghi chép lại lịch sử một cách im lìm bất động Thông qua sự kiện và nhân vật lịch sử, nhà văn thiếp lập một cái nhìn hoàn toàn mang tính dấu ấn cá nhân về lịch sử, những bài học lịch sử có liên quan trực tiếp đến đời sống hôm nay Và như vậy, lịch sử đã trở thành một phương tiện, một chất liệu để nhà văn thể hiện những suy tư mang tầm khái quát về cuộc đời và
con người Cùng với sáng tác của những nhà văn như Nguyễn Xuân Khánh với Hồ
Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn, Hoàng Quốc Hải với bộ sách 4 tập mang tên: Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân Công chúa và Vương triều sụp đổ,
Ngyễn Mộng Giác với Sông Côn mùa lũ hay Hà Ân với Khúc khải hoàn dang
dở,v.v thì Giàn thiêu là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất sáng tác theo
khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử kiểu mới Trong Giàn thiêu, người đọc không bắt
gặp hình mẫu lý tưởng một con người duy nhất trong hình ảnh của những nhân vật
Trang 25lịch sử như Nguyên Phi Ỷ Lan, nhà sư Từ Đạo Hạnh Đằng sau ánh hào quang của hình tượng mang tính “ngưỡng vọng” trong tiềm thức nhân dân, những cá nhân lịch
sử hiện lên đa chiều với những mâu thuẫn giằng xé giữa quyền lực và những tham vọng trần tục nhất Có thể tìm thấy trong tác phẩm hàng loạt những băn khoăn của
tác giả về thân phận con người, về cái tốt, lẽ thiện và cái ác ở cuộc đời Qua Giàn
thiêu, nhà văn Võ Thị Hảo còn đồng thời gửi gắm thông điệp về khát vọng tự do và
tình yêu cũng như trách nhiệm của người cầm bút trước thời cuộc
Đề tài lịch sử đã tạo nên thành công trong nhiều sáng tác của các nhà văn đương đại Những sáng tác tiểu thuyết lịch sử trong thời kỳ Đổi mới đã có một sự thay đổi rõ rệt trong quan niệm sáng tác khi các nhà văn tạo cho mình một sự độc lập trên trang viết Nhà văn không làm công việc ghi chép lại lịch sử mà làm một cuộc khảo sát trong chính thế giới nội tâm của nhân vật để nhận diện dấu ấn lịch sử hoặc phản chiếu các sự kiện lịch sử qua số phận các nhân vật Trong dòng chảy của
các sáng tác đương đại, tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác không
chú trọng tái dựng lại một thời kỳ đã qua mà nhằm luận giải một cách nhìn nhận mới về hình tượng lịch sử Xây dựng nhân vật người anh hùng áo vải Quang Trung cùng những chiến công lừng lẫy cũng như khắc họa tâm tư nhân vật trong các mối quan hệ vợ - chồng, anh – em, thầy – trò,v v, nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã nhận diện lại bối cảnh lịch sử, những bước ngoặt của dân tộc vào cuối thế kỷ XVIII Dấu
ấn của thời đại lịch sử có thể được tìm thấy trên số phận cá nhân lịch sử và thậm chí
ở những con người bình thường nhất Đây là một điểm đặc sắc mà người đọc có thể bắt gặp qua các sáng tác tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu thời kỳ này Những thân phận
nhỏ bé như cô cung nữ Ngạn La trong tác phẩm Giàn thiêu hay một loạt các nhân vật ở tầng lớp bình dân trong hai tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu thượng ngàn của
nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã mang trên mình những “vết thương”, những “vết khắc” từ chính những tranh chấp quyền lực chốn cấm cung cũng như các biến động
dữ dội của hoàn cảnh lịch sử
Giống như nhiều khuynh hướng tiểu thuyết khác ở Việt Nam, từ khi ra đời đến nay, tiểu thuyết lịch sử đã đi qua một chặng đường dài và có nhiều đóng góp tích cực vào quá trình phát triển thể loại cũng như yêu cầu đổi mới tiểu thuyết ở thời
Trang 26kỳ đất nước mở cửa đặc biệt là trong hơn chục năm trở lại đây Những thay đổi trong quan niệm nghệ thuật, phương thức tiếp cận đề tài của nhà văn đồng thời đã dẫn tới những biến đổi quan trọng về mô hình cấu trúc tác phẩm Các nhà văn đương đại đã sử dụng một loạt các kỹ thuật sáng tạo lên văn bản hư cấu tự sự, các nhà tiểu thuyết theo khuynh hướng lịch sử kiểu mới đã tạo nên sự mới mẻ ở việc biểu đạt nội dung tư tưởng Nhà văn không chịu áp lực từ các quan niệm số đông của cộng đồng mà chủ động xử lí đề tài, dùng lịch sử như một “phương tiện”, một
“chất liệu” thiết lập một cách hình dung mới về sự kiện, nhân vật lịch sử đồng thời nêu lên được mối quan hệ mật thiết giữa các vấn đề trong quá khứ và hiện tại
1.1.3.2 Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực
Khuynh hướng này phát triển sôi nổi vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới Nó ra đời đáp ứng yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, lấy quá khứ làm đối tượng phân tích, không phải toàn bộ quá khứ mà là những phần khuất lấp, những vấn đề chưa được văn học thời trước quan tâm đúng mức Trong ý thức về hiện tại, việc rút
ra bài học từ quá khứ là hết sức cần thiết Những sai lầm ấu trĩ, những định kiến hẹp hòi, căn bệnh chủ quan duy ý chí của một “thời xa vắng” gây nên bi kịch cho không
ít cá nhân, làm hao mòn nhân tính, được mổ xẻ khá thuyết phục ở Thời xa vắng,
Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Chuyện làng ngày ấy, Bước qua lời nguyền, Những thiên đường mù, Bi kịch nhỏ, Những mảnh đời đen trắng, Phiên chợ Giát, Tóc huyền màu bạc trắng.v v Các sự kiện lịch sử vẫn làm nền cho câu
chuyện nhưng trung tâm soi ngắm của tác giả là số phận con người
Trước năm 1985, hoàn cảnh chiến tranh và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã chi phối cách tiếp cận và phản ánh hiện thực trong văn học, nhà văn chủ yếu
viết theo những môtip quen thuộc: sự đổi mới, hồi sinh (Mùa lạc – Nguyễn Khải),
tinh thần dũng cảm kiên cường, sẵn sàng hi sinh cho cách mạng, cho nhân dân
(Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi; Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành; Hòn đất -
Anh Đức; v v) Văn học đi theo một con đường quen thuộc: từ nô lệ đến giải phóng, từ bóng tối đến ánh sáng, từ đau khổ đến hạnh phúc Sau 1985, văn học không tiếp tục đi trên con đường mòn đó nữa mà nó được mở thêm rất nhiều lối mới, phạm vi cũng rộng hơn rất nhiều Các nhà văn đã mở rộng hiện thực bằng cách
Trang 27tạo nên tính đa nghĩa cho chủ đề của mình, tất cả các mặt của đời sống cứ thế lần lượt được mổ xẻ, soi rọi qua từng trang viết của mỗi nhà văn
Những tác phẩm sáng tác theo khuynh hướng này đặc biệt chú ý đến nông
thôn Việt Nam Một loạt tác phẩm đã lấy bối cảnh nông thôn như: Bến không chồng (Dương Hướng); Thời xa vắng (Lê Lựu); Phiên chợ Giát, Khách ở quê ra (Nguyễn Minh Châu); Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường); v v Nông
thôn vốn là một không gian yên bình, là nơi bảo tồn những giá trị truyền thống của dân tộc, là nơi tình người thắm đượm sắt son Tuy nhiên đây cũng là nơi trói buộc con người trong những tư tưởng lạc hậu, những tập tục cổ hủ, những tập quán tréo ngoe Ta có thể thấy sức mạnh của lời nguyền từ rất lâu đời của dòng họ Nguyễn
qua biết bao bi kịch của các thế hệ cháu con trong tác phẩm “Bến không chồng” của
Dương Hướng: “Nước sông Đình ngàn năm không cạn/Cầu Đá Bạc vạn kiếp trơ trơ/Bến Tình còn đẹp còn mơ/Mối thù họ Vũ bao giờ mới nguôi” Lời nguyền truyền kiếp đã cản trở tình yêu giữa Vạn và Nhân, đã gây bao trắc trở, đắng cay, tủi
nhục cho Hạnh và Nghĩa Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc
Trường cũng đã phơi bày một hiện thực nông thôn rùng rợn, xung quanh mối xung đột kéo dài nhiều thế hệ giữa hai dòng họ Trịnh Bá và Vũ Đình Tác phẩm phơi bày những mâu thuẫn gay gắt, với những màn đấu trí, đấu lực hừng hực lòng thù hận, lúc này chẳng còn đâu tình làng nghĩa xóm, tình đồng bào ruột thịt giữa hai dòng
họ Bao cái dở của dòng họ gặp cái yếu kém và sự lợi dụng của tổ chức Đảng và chính quyền địa phương đã xáo trộn cuộc sống của rất nhiều người, gây ra bi kịch cho những người lương thiện như bà Son, Đào.v v Cái nhìn chân thực, sắc sảo trong tác phẩm như một hồi chuông để mọi người giật mình nhìn lại những gì đã và đang xảy ra
Ở những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, bên cạnh những chiến công hiển hách, bên cạnh những tượng đài chiến thắng đầy vinh quang là biết bao những đớn đau, biết bao nước mắt, đắng cay, tủi cực của những con người trở về từ cuộc chiến
và giờ đây bắt đầu lại với cuộc sống đời thường Các nhà văn không đi vào miêu tả, tái hiện lại không khí chiến trận đầy mưa bom bão đạn nữa mà tập trung vào những
số phận con người, những bi kịch của con người trong những mảng đời riêng đã bị
Trang 28chiến tranh hủy hoại Nhân vật Nghĩa trong tác phẩm “Bến không chồng” của
Dương Hướng đã bị chiến tranh cướp đi quyền làm cha để rồi từ đó gia đình tan nát,
người vợ anh yêu thương phải rời xa anh Nhân vật Lực trong “Cỏ lau” của
Nguyễn Minh Châu nói mà như khứa vào lòng người đọc “chiến tranh, kháng chiến không phải như một số người khác, đến bây giờ tôi không hề mảy may hối tiếc dốc tất cả tuổi trẻ vào đấy cống hiến cho nó, nhưng nó như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ.” Những vết thương mà chiến tranh để lại trong tâm hồn những người lính sẽ không thể phai nhòa Và cuộc sống xã hội thực tại với đầy mưu mô toan tính càng làm người lính thấy mình chới với, chơi vơi Họ đã bị thương về thể xác nhưng họ còn đau đớn hơn nhiều với những vết thương trong tâm hồn Những lí tưởng cao đẹp, những chiến công oanh liệt, những địa vị cao sang cũng không thể bù đắp những quyền lợi thiêng liêng của mỗi con người Đó là quyền làm chồng, làm cha Đó là quyền làm vợ, làm mẹ Các nhà văn đã có một sự đồng cảm, thông cảm và xót thương thực sự với những số phận bất hạnh đó Chính nhờ những trang viết đầy tình người như thế mà người đọc thấu hiểu hơn cho những lớp người trở về từ cuộc chiến và thấy mình cần chia sẻ với họ nhiều hơn
Như vậy, đi theo khuynh hướng nhận thức lại hiện thực, điều chỉnh lại những chuẩn mực đạo đức, những nguyên tắc sống, những thói quen cũ, v v Văn học từ sau Đổi mới đến nay đã tạo được sự khác biệt so với giai đoạn trước Lúc này, văn học không còn tuyệt đối phục vụ cho chính trị nữa mà nó trở về với con người, với những gì bình dị nhưng cũng không ít vấn đề nảy sinh trong cuộc sống đời thường
1.1.3.3 Khuynh hướng triết luận
Cảm hứng triết luận hay triết lý là sự bình luận, lí giải, phân tích về một vấn
đề thông qua hình tượng nghệ thuật so với sức mạnh của lí trí tỉnh táo, gắn liền với việc soi xét đối tượng dưới các góc độ văn hóa, lịch sử, và triết học Trong văn học Việt Nam, từ trước Đổi mới, khuynh hướng này đặc biệt trở thành một nét nổi bật
trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu với Bức tranh, Bến quê, Dấu vết nghề
nghiệp, Chiếc thuyền ngoài xa ,v.v, và đặc biệt nhà văn Nguyễn Khải với một loạt
các sáng tác như Xung đột, Mùa lạc, Hãy đi xa hơn nữa, Một người Hà Nội, Gặp gỡ
Trang 29cuối năm, Cha và con và , Thời gian của người, v.v Sự gia tăng yếu tố triết luận
trong văn xuôi thời kỳ Đổi mới là một đặc điểm quan trọng Sự phát triển của khuynh hướng tiểu thuyết giàu tính triết luận là một biểu hiện thể hiện rõ sự trăn trở trong suy tư của người cầm bút về những vấn đề của con người và đạo đức nhân sinh
Những tác phẩm viết theo khuynh hướng triết luận ra đời trong thời gian gần đây phần nào biểu hiện nhu cầu tuyên ngôn về quan niệm sáng tác của người cầm bút tại thời điểm văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng đặt ra yêu cầu đổi mới, cách tân thể loại Không phải ngẫu nhiên mà ở nhiều tác phẩm tiểu thuyết thời kỳ này thường xuất hiện hình ảnh nhân vật nhà văn Với cuốn tiểu thuyết đầu tay gây
nhiều tranh cãi: Cơ hội của chúa do Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 1999,
Nguyễn Việt Hà đã xây dựng một loạt các nhân vật mà trọng tâm là giới trí thức
(đặc biệt là nhân vật nhà văn Hoàng) Tiểu thuyết Cơ hội của chúa có sự phong phú
của rất nhiều chủ đề, từ tình yêu, tình bạn, tình anh em đến các lĩnh vực tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị, v.v, và sự đa dạng của một loạt các nhân vật mà trọng tâm là giới trí thức Tác phẩm bộn bề những nhân vật, sự kiện đã thể hiện suy ngẫm của nhà văn về nhiều vấn đề trong thực tiễn xã hội mà trọng tâm là mối quan hệ giữa trí thức và cuộc đời, về tôn giáo, v.v
Sau tiểu thuyết Cơ hội của chúa và thành công của tập truyện ngắn Của rơi (2005), nhà văn Nguyễn Việt Hà tiếp tục cho ra đời tiểu thuyết Khải huyền muộn Cũng giống như sáng tác trước đó, Khải huyền muộn là một tiểu thuyết tương đối
khó đọc với độc giả thông thường Với một cấu trúc tác phẩm mang “hơi thở” của cuộc sống đương đại giữa rất nhiều các sự kiện đan xen và đều dang dở như chính
nó, tác giả Nguyễn Việt Hà đã cố gắng thể hiện quan niệm về công việc viết văn của mình, của những người trong giới với mình Dường như tác giả chỉ làm công việc là
kể lại, viết lại chính những gì mình đang trải qua, đang làm (viết văn) Trong tác phẩm, nhà văn không đưa ra một tuyên ngôn “đao to búa lớn” về Chân – Thiện –
Mỹ mà chúng ta thường bắt gặp Đằng sau những câu chuyện dường như không có kết thúc ấy tác giả muốn nói điều gì? Sống thật khó sống và công việt viết văn là
Trang 30công việc không dễ dàng gì nhưng vẫn phải viết, dù biết công việc viết văn ấy ẩn tàng rất nhiều may rủi nhưng vẫn phải viết vì nó là thiên chức của người cầm bút
Có thể thấy, từ Cơ hội của chúa tới Khải huyền muộn, Nguyễn Việt Hà đã
thể hiện suy ngẫm của người trí thức về tình yêu cuộc sống, khát vọng sống chân chính và đặc biệt là gửi gắm không ít các ý tưởng nhằm nói về chuyện nghề, về công việc tìm kiếm một lối viết mới, Nguyễn Việt Hà là nhà văn đương đại tiêu biểu có những đóng góp nghệ thuật tích cực vào công cuộc cách tân thể loại văn xuôi, tiểu thuyết đang diễn ra sôi nổi hiện nay đồng thời, các tác phẩm đã thể hiện
sự dũng cảm của nhà văn trong việc tạo dựng phong cách nghệ thuật độc đáo
Trong xu hướng vận động nói chung, hầu như ở các tác phẩm tiểu thuyết từ sau Đổi mới ít nhiều đều thể hiện những băn khoăn, suy ngẫm của nhà văn trước những vấn đề nhân sinh của đời sống Bộ phận nhóm sáng tác này phần nào đã phản ánh nhu cầu được nói lên những suy nghĩ, trăn trở của nhà văn trước những vấn đề
có liên quan trực tiếp tới số phận con người, nhân dân, đất nước trong quá khứ, hiện tại và tương lai Thuộc thế hệ các nhà văn đương đại sớm thành danh, Tạ Duy Anh
là cây bút sung sức không chỉ ở lĩnh vực tiểu thuyết mà còn ở rất nhiều truyện ngắn
Tiểu thuyết Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh ngay khi ra mắt lần đầu tiên đã thu
hút sự chú ý mạnh mẽ của độc giả ở nhiều lứa tuổi Với một cuốn sách chỉ có độ dày hơn một trăm trang nhưng tác phẩm phản ánh được nhiều vấn đề hiện thực cuộc sống cũng như chuyên chở và truyền tải trọn vẹn thông điệp của tác giả Nhân vật chính trong tiểu thuyết là một đứa trẻ hài nhi trong bụng mẹ Nhưng câu chuyện được nghe bởi một bào thai, trong một bệnh viện phụ sản, nơi những người mẹ, dù muốn hay không muốn có con, đã cho thấy sự cạn kiệt về nhân tính ở con người trong một đời sống hiện đại đã trở thành phổ biến Bên cạnh hiện thực tàn nhẫn tràn
đầy khắp các chi tết, Thiên thần sám hối là tiểu thuyết mang tính luận đề rất cao
Tác phẩm là câu hỏi nhức nhối về thân phận con người, là lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với con người về những giá trị nhân bản trong đời sống Và qua việc thể hiện cảm nhận bi đát về cuộc đời, nhà văn Tạ Duy Anh cũng gieo vào lòng người đọc một niềm hy vọng về sự sống, về lòng nhân ái và sự dũng cảm đối mặt với cái ác, cái ồn tạp trong cuộc đời khi vẫn để đứa bé hài nhi chào đời
Trang 31Các tác phẩm tiểu thuyết thuộc khuynh hướng triết lý trong thời kỳ Đổi mới
đã cho thấy sự sáng tạo đáng ghi nhận cả về mặt thi pháp và nội dung biểu hiện Tiểu thuyết triết lý phần nào đã phản ánh được những suy tư, chiêm nghiệm, đúc kết, lý giải của nhà văn về cuộc đời, con người và các vấn đề có mối quan hệ mật thiết với đời sống nhân sinh Chất triết lý trong các sáng tác đương đại có thể được các nhà văn bộc lộ trực diện bằng lời văn trên trang viết hoặc thông qua việc xây dựng hình tượng hay cách đặt vấn đề,.v.v Tuy nhiên, dù dưới hình thức nào, với các sáng tác này, nhà văn đã để lại những khoảng lặng cho người đọc tự ngẫm và đưa ra những câu trả lời cho riêng mình
1.1.3.4 Khuynh hướng thực huyền ảo
Huyền thoại hay thần thoại với tư cách là ý thức nguyên hợp của các cộng đồng người nguyên thủy Từ những mảnh vỡ còn sót lại của ý thức nguyên thủy, huyền thoại đã đi vào ý thức sáng tạo văn học Tiêu biểu cho những sáng tạo này là
sự bùng nổ văn xuôi Mỹ La tinh vào những năm 60 của thế kỷ XX Những sáng tác này tạo thành trào lưu văn học theo “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo” Và như vậy, trong tác phẩm văn học, huyền ảo được xem là một yếu tố nghệ thuật Huyền ảo bao giờ cũng có sự pha trộn giữa cái thực và cái ảo Việc sử dụng yếu tố huyền ảo trong tác phẩm văn học sẽ giúp cho tác phẩm trở nên lạ hóa, đa nghĩa, tạo ấn tượng mạnh trong lòng người đọc
Với tư cách là một khuynh hướng, huyền ảo thực sự có rõ rệt và có thành tựu
lớn trong sáng tác của các nhà văn thời kỳ Đổi mới Trong Thiên sứ, nhà văn Phạm
Thị Hoài đã có dụng ý rõ rệt qua việc sử dụng triệt để các yếu tố huyền thoại Hình tượng thiên sứ với sự ra đời kỳ lạ của bé Hon, nụ cười và đôi môi của bé, cả cái chết trong sạch vô ngần của bé đã tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm Huyền thoại hóa còn thể hiện ở nhân vật Hoài (một nhân vật được xây dựng dưới dạng “hóa thân”, biến dạng) Qua con mắt của cô bé “mãi giữ cho mình ở tuổi mười bốn”, một thế giới của sự sống đầy sự tha hóa hiện lên một cách lạ lùng thậm chí cay nghiệt Cũng
trong mạch sáng tác này, Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh là tác phẩm tiêu biểu khi
tác giả sử dụng khá thành công thủ pháp nghệ thuật huyền ảo Một thế giới vừa hư
vừa thực trong Đi tìm nhân vật tạo nên sức ám ảnh nơi người đọc trước hiện thực ồn
Trang 32tạp Đúng như tiêu đề của tiểu thuyết, một quá trình đi tìm bản ngã của chính mình
đã theo đuổi nhân vật “tôi” như một nỗi ám ảnh về sự sống và cái chết từ những bí
ẩn của quá khứ, những tổn thương tâm hồn hiện tại, những va chạm đầy lạ lùng từ
những cuộc gặp gỡ trong cuộc đời, Ra đời năn 1996, tiểu thuyết Cõi người rung
chuông tận thế của Hồ Anh Thái có sự kết hợp nhuần nhuyễn các yếu tố ảo – thực
Với việc xuất hiện liên tiếp ba cái chết đầy bí ẩn của ba thanh niên có tính cách ngang ngược là Phũ, Cốc, Bóp đều liên quan tới một cô gái Nhân vật chính là chàng trai, người kể chuyện, đã chứng kiến sự việc Anh đã lần tìm theo dấu vết cảu
cô gái tên Mai Trừng để tìm ra cội nguồn của ba cái chết cũng như sức mạnh kì lại của cô Trong tác phẩm, yếu tố huyền ảo được xem là chìa khóa để tác giả tạo nên
sự bí ẩn cũng như giải mã mọi bí ẩn đã khiến các sự kiện trở nên sinh động, cuốn hút sự dõi theo nơi người đọc
Trong số các tác giả đương đại, Nguyễn Bình Phương là nhà văn rất có ý thức trong việc sử dụng huyền thoại với mật độ dầy trong các tác phẩm Từ những
sáng tác đầu tiên như Vào cõi (1991), Bả Giời (1992) và đặc biệt sau này là Những
đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thủy (2004), Ngồi (2006)e đã bộc lộ rõ sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật của
Nguyễn Bình Phương TS Phạm Xuân Thạch cho rằng nếu chọn một hiện tượng văn học tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam đương đại thì “ưu tiên số một” là các sáng tác của Nguyễn Bình Phương, “sáng tác của anh kết tụ nhiều vấn đề có ý nghĩa tiêu biểu cho tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ hậu chiến cả trên bình diện mỹ học lẫn
kỹ thuật sáng tác và mô hình tiểu thuyết” [81] Sự thay đổi trên đã dẫn tới hiện thực phản ánh trong tác phẩm của anh thường có “độ lệch” rất lớn so với hiện thực trong thực tế Đó là một thế giới được “trộn lẫn” giữa cái hiện tại và hiện thực trong vô thức mang đậm màu sắc ma quái, tâm linh, dường như chúng không thực hiện hữu
Mô hình hai thế giới thực - ảo là môtip quen thuộc trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Bình Phương Với tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy, người đọc bắt gặp trong tác
phẩm một thế giới hiện thực và một thế giới của cõi hư ảo mà ở đó người đọc có thể nhận diện ra sự tha hóa của cuộc sống này một cách cụ thể hơn Một lần nữa ta lại
bắt gặp mô hình thế giới kép trong Ngồi của Nguyễn Bình Phương Nhân vật và các
Trang 33sự kiện trong câu chuyện dường như được tác giả “thả tự do” và “đang rơi tự do” giữa hai thế giới thực - ảo Họ từ đâu tới? Cuộc đời của họ rồi sẽ ra sao? Tất cả là những điều bí ẩn với bạn đọc
Ở các sáng tác thuộc khuynh hướng hiện thực huyền ảo, sự giao thoa của thế giới ảo – thực đã tạo nên các khoảng trống buộc người đọc không ngừng đặt ra những câu hỏi về giá trị cuộc sống, về thân phận con người Các nhà văn thường chú ý khám phá hiện thực trong cõi vô thức đồng thời sử dụng triệt để các biểu tượng có sức khái quát và gợi nghĩa cao Và một đặc điểm rất dễ nhìn thấy ở nhiều tiểu thuyết là dạng thức “mờ hóa” nhân vật hoặc xuất hiện nhân vật “mất tích” một
cách vô cớ Xuất hiện rồi đột ngột ra đi khỏi cõi đời này của bé Hon trong Thiên sứ, việc đến và đi đều lặng lẽ của “cô gái câm” giữa cuộc đời nhân vật “tôi” ở Đi tìm
nhân vật mãi mãi là niềm bí ẩn khôn nguôi, những con người đột nhiên đi khỏi cuộc
đời không một dấu vết như người cha của Nhung hay Quân trong Ngồi của Nguyễn
Bình Phương được xem như những “dấu lặng” gieo vào lòng độc giả
Tương tự, trong tiểu thuyết Sự trở lại của vết xước (2007) của Trần Nhã
Thụy, sự mất tích của nhân vật người vợ dường như bị xóa sạch khỏi đời sống hiện thực đã tạo nên những khoảng trống và sự hụt hẫng lớn nơi tâm hồn nhân vật “tôi” – người chồng Đây là cuốn sách đầu tay gây được tiếng vang trong giới sáng tác và phê bình văn học của tác giả Cuộc sống thật mong manh và có một lúc nào đó con người muốn biến mất khỏi thế giới này như một lối thoát nhằm giải thoát mình khỏi những mệt mỏi, ngột ngạt đang diễn ra hàng ngày Đó chính là ý nghĩa ngầm ẩn
mà Trần Nhã Thụy muốn bộc lộ trong tác phẩm Đối diện thường trực với hiện thực
và viết về những điều mình cảm nhận là lựa chọn của Trần Nhã Thụy trước nỗi đau, những điều chưa tốt, những điều bất công trong cuộc sống Những suy tư, chiêm
nghiệm trong Sự trở lại của vết xước được gợi lên qua sự kiện người vợ mất tích và
đặc biệt là những “vết xước” vô hình và hữu hình hiện diện ở nhân vật “tôi” Đấy là nỗi hoang mang, lo lắng của con người trước hiện tượng “nhiễm độc từ từ” cả về thể chất lẫn tâm hồn
Khuynh hướng sử dụng yếu tố huyền ảo trong sáng tác tiểu thuyết đã tạo thành một bộ phận sáng tác quan trọng thể hiện khát vọng sáng tạo và luôn tìm tòi
Trang 34của các nhà văn Ở các tác phẩm viết theo khuynh hướng này, trong cấu trúc tiểu thuyết, yếu tố lạ hóa được thể hiện rõ rệt từ việc mờ hóa nhân vật, sử dụng các thủ pháp lắp ghép, phân mảnh, sự linh hoạt trong cách dùng ngôi kể và sự di chuyển điểm nhìn cũng như tạo sự lạ hóa trong sử dụng ngôn ngữ Trên phương diện nội dung, tác phẩm được kể không tuân theo logic nhân quả, cái ảo và thực đan xen nhau, các đoạn hội thoại không đặt nặng tính hô ứng rõ rệt, câu chuyện thường hình thành theo kiểu đan xen lẫn lộn giữa rất nhiều câu chuyện Và vì thế, hình thức truyện lồng truyện được nhiều nhà văn đương đại sử dụng
1.2 Bảo Ninh và văn học Việt Nam đương đại
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn chương
Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương sinh ngày 18 tháng 6 năm 1952 tại Diễn Châu, Nghệ An Quê gốc ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nhưng lớn lên ở Hà Nội Sinh ra trong một gia đình trí thức, cha là một vị giáo sư ngôn ngữ nổi tiếng Việt Nam – GS Hoàng Tuệ Anh vào bộ đội năm 1969, chiến đấu ở mặt trận B3 – Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10 Năm
1975 anh giải ngũ Rời quân ngũ cùng bộ đồ lính bạc phếch trên người, Bảo Ninh lang thang kiếm sống đâu đó với những công việc chẳng lấy gì làm vui vẻ Chỉ đến khi ba của anh, Giáo sư ngôn ngữ Hoàng Tuệ dắt anh đến tận nhà người bạn thân là Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến (Trường viết văn Nguyễn Du) thì cuộc đời Bảo Ninh mới thực sự bước sang một trang khác (Từ 1984 – 1986 Bảo Ninh học khóa 2 trường viết văn Nguyễn Du) Ngày ấy, mặc dù điểm thi vào trường viết văn Nguyễn
Du của Bảo Ninh khá thấp, nhưng với “con mắt xanh” lão luyện trong nghề văn của mình, GS.Hiến vẫn quyết định nhận anh vào học vì có lẽ, ngay từ thời điểm ấy, ông
đã phát hiện được một tài năng văn chương cho đất nước sau này Khi đọc những bản thảo truyện ngắn đầu tay viết về đề tài chiến tranh của Bảo Ninh, GS.Hiến khuyên anh chưa nên công bố vội, hãy viết lại cho kỹ hơn và hay hơn Quả không sai, chỉ sau đó một thời gian, ngay khi còn đang theo học dưới mái trường viết văn
Nguyễn Du, bản thảo cuốn tiểu thuyết đầu tay Nỗi buồn chiến tranh đã được Bảo
Ninh hoàn thành một cách xuất sắc và gây sự bất ngờ lớn với ngay cả người thầy đang dìu dắt anh là GS.Hoàng Ngọc Hiến Ngay sau khi được công bố, năm 1991,
Trang 35Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt
Nam và tên tuổi của anh lập tức gây sự chú ý của cả văn đàn trong và ngoài nước Tâm sự về thành công bước đầu ấy, Bảo Ninh khiêm tốn: “Thật ra, đấy là sự ghi dấu của nền văn học Việt Nam thời đổi mới nên một tác giả mới như tôi vẫn được
chú ý, và cuốn Nỗi buồn chiến tranh đã nhận được giải thưởng vào thời kỳ đặc biệt
đó, thời kỳ văn học có những thay đổi sâu sắc và đích thực” Nhưng niềm vui đến
với Bảo Ninh không lâu, Nỗi buồn chiến tranh tạo ra một làn sóng dư luận với
nhiều ý kiến trái chiều, và nó dần bị chìm vào quên lãng Trong mắt nhiều người, Bảo Ninh hình như đã thuộc về quá khứ Dư luận văn đàn nhiều năm qua rầm rập chạy theo các nhà văn mới như người ta chạy theo mốt Bảo Ninh như bị bỏ quên trong thế giới văn chương, tên anh chìm lẫn trong hàng trăm tên tuổi khác Mãi đến năm 2003, cuốn sách của Bảo Ninh lại lặng lẽ được tái bản và xuất hiện trong đời
sống văn học Việt Nam với tiêu đề Nỗi buồn chiến tranh (NXB Hội Nhà văn) và
Thân phận tình yêu (NXB Hội phụ nữ) Năm 2007 sóng gió lại đến với cuốn sách
và người “sinh” ra nó Cuốn sách được một doanh nhân người Anh, ông Dominic Scriven, sống và làm việc nhiều năm ở Sài Gòn, thuê ê kíp làm phim của Mỹ với dự định mua bản quyền tiểu thuyết và chuyển thể làm phim Tên Bảo Ninh và tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh lại trở thành đề tài tiêu biểu cho các bài viết trên báo,
trên internet, bạn đọc ngóng chờ, hồi hộp, và mừng cho nhà văn sau hơn chục năm chìm lắng giờ đã được trả về với vị trí xứng đáng, nhưng không lâu sau lại ngậm ngùi khi nhà văn tuyên bố không hợp tác và dừng sản xuất phim vì nhiều lí do Nhưng giá trị của tác phẩm không phải vì thế mà mất đi, sau những biến động của những năm “chào đời” (1987 – 1991), với thời gian 16 năm đủ để nó khẳng định mình trong đời sống văn học 5- 2011 Bảo Ninh được trao giải Nikkei Asia Prizes
với những đóng góp lớn của tác giả về văn hóa qua thiên tiểu thuyết Nỗi buồn chiến
tranh (Giải thưởng thường niên của báo Kinh tế Nhật Bản, dành cho những cá nhân
và tập thể người châu Á có cống hiến xuất sắc trên 3 lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật và văn hóa)
Có lẽ trở thành một người lính trong thời điểm cuộc chiến tranh ở giai đoạn tàn khốc nhất (1969 – 1975), nên mặc dù khoác áo lính trong một thời gian ngắn (6
Trang 36năm) nhưng chiến tranh đã chiếm trọn cuộc đời Bảo Ninh cả phần xác lẫn phần hồn
Trả lời phỏng vấn trên ANTĐ, Bảo Ninh tâm sự: “Nếu bây giờ tôi chỉ 20 và không
phải trải qua một cuộc chiến tranh nào, tôi cũng sẽ vẫn viết về chiến tranh Mà chắc là viết hay hơn một Bảo Ninh đã qua chiến tranh” <nguồn:
http://ww.anninhthudo.vn-Hoàng Hồng> Bảo Ninh viết không nhiều, có thể nói là viết chậm như theo lời nhà văn nói, số lượng tác phẩm của ông chỉ có một tiểu
thuyết Nỗi buồn chiến tranh và ba tập truyện ngắn: Truyện ngắn Bảo Ninh; Lan
man trong lúc kẹt xe và Chuyện xưa kết đi, được chưa? Hầu hết các chuyện của anh
đều lấy bối cảnh chiến tranh, dù không miêu tả trực tiếp, nhân vật trong tác phẩm của anh dù trải qua chiến tranh hay là đứng bên ngoài nó thì trong kí ức nhân vật chiến tranh đều để lại một dấu ấn sâu đậm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc đời nhân vật Những tác phẩm viết về chiến tranh của Bảo Ninh là tiếng nói thống thiết
về đau thương, hi sinh mất mát, và một điều không thể thờ ơ đó là sự quên lãng, sự hớn hở một cách thản nhiên và dễ dãi với chiến thắng mà cái giá của nó là hàng triệu đồng đội của anh phải trả cho chiến thắng và hòa bình hôm nay Anh đã viết về cuộc chiến tranh của anh gần bằng cả máu của mình bằng tất cả sự say đắm đến cùng của một người từng ở tận đáy của cuộc chiến đem hết cả tuổi trẻ và cả cuộc đời mình góp phần vào cuộc chiến tranh ấy Đọc tác phẩm của anh, người đọc có thể nhận ra đó là một nhà văn sống nội tâm sâu sắc, suy tư dằn vặt trước những vấn
đề liên quan đến nhân phẩm, nhân cách của con người trước và sau chiến tranh, anh
là người dường như sống nhiều với quá khứ, quá khứ luôn hiện về trong anh “rối bời, bấn loạn” không một trật tự trước sau Bảo Ninh đã tạo nên một lối văn lạnh lùng mà sôi nổi tàn nhẫn pha sự chua chát thương cảm, tuyệt đỉnh hạnh phúc nhưng cũng tận cùng khổ đau Lời văn Bảo Ninh thì như có nhạc, có thơ và cả hội họa điêu khắc nhưng có khi lại là tiếng khóc, tiếng nức nở, tiếng nỉ non của rừng đại ngàn, của hồn ma, tiếng thét gào dữ dội của không gian, thời gian, quá khứ, hiện tại, tương lai Bảo Ninh không mang đến cho người đọc một sự nhàm chán về lối viết văn đã cũ: lối viết truyền thống, lối viết minh họa, lối viết công cụ, sự vụ mà luôn mang đến cho người đọc sự bất ngờ, một sự suy nghĩ dằn vặt đớn đau về quá khứ về cuộc chiến tranh của riêng anh
Trang 37Cuối năm 1996, Bảo Ninh về làm việc ở Văn nghệ trẻ Không giống như nhiều người làm văn nghệ ở nước ta, Bảo Ninh tương đối kiệm lời Anh không xuất hiện trên các kênh thông tin đại chúng, trong các chương trình giao lưu, anh như đang cố dấu mình trước thiên hạ Bảo Ninh không nổi giận bao giờ, ngay cả khi người ta phê phán anh một điều gì đó rất ác ý Anh chỉ nhún vai và ngọ nguậy cái đầu rồi nói một câu gì đó mà chẳng ai nghe thấy Nhưng đó chỉ là vẻ ngoài ẩn dấu một trái tim nhân hậu, nhạy cảm với cuộc đời như nhà văn Phong Điệp nhận xét:
“Bảo Ninh là người đặc biệt Dáng vẻ xù xì, bất cần, và tính cách ngại giao tiếp, không hoạt ngôn của anh dễ khiến người khác cảm thấy khó gần Từng có thời gian công tác cùng với anh, nhưng thú thực phải mãi đến lúc anh rời báo, tôi mới thực sự hiểu được Bảo Ninh Bảo Ninh là người lịch lãm, tinh tế, cẩn trọng và sắc sảo Bên cạnh cuốn tiểu thuyết quá nổi tiếng, thì những truyện ngắn, những bài báo ký bút danh khác của Bảo Ninh cũng rất đáng đọc Anh chưa bao giờ viết ra một bài, một
chữ nhảm nhí nào Từng câu, từng chữ, đều được anh cân nhắc kỹ càng.” (nguồn:
http://caulongbacchai.com) Bạn thân thường gọi anh với cái tên “Thân phận” thay cho cái tên Bảo Ninh đã quen thuộc với độc giả dường như họ thấy ở anh có gì đó
rất giống số phận của tác phẩm Thân phận tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh)
“Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, câu nói đó thật đúng với Bảo Ninh Bạn đọc
có thể đếm được sáng tác của anh, kể tên từng tác phẩm, nhưng đọc tác phẩm nào là nhớ như bị “đóng đinh” vào trí não bởi một giọng văn đậm chất trữ tình, một tâm hồn nhân hậu, một cây bút đầy trách nhiệm với cuộc sống, với đất nước, với tư cách
là một nhà văn từng đi qua chiến tranh và viết về chiến tranh một cách chân thực, lãng mạn, xúc động và đầy nhân văn Với những đóng góp không nhỏ đó, Bảo Ninh xứng đáng được vinh danh như một gương mặt tiêu biểu của văn học đương đại Việt Nam
1.2.2 Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
Năm 1991 có ba cuốn tiểu thuyết được trao giải nhất của Hội nhà văn là:
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của
Dương Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Trong đó, Mảnh đất lắm người
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không chồng của Dương Hướng là
Trang 38những tác phẩm sớm được dư luận khẳng định còn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo
Ninh lại có một số phận đặc biệt sóng gió Tác phẩm không có cốt truyện, tình tiết rành mạch mà chỉ là những mảng hồi ức của nhân vật Kiên, một người lính tiểu đoàn 27 độc lập hoạt động trên địa bàn B3 còn sống sót, đan xen giữa hiện tại hậu chiến với hai luồng hồi ức về cuộc chiến tranh đẫm máu vừa qua và về mối tình với
cô bạn học trường Bưởi tên Phương Bằng những kí ức chắp nối, tác phẩm như là những độc thoại của Kiên về thân phận con người Tình yêu và chiến tranh, hai chủ
đề, hai nỗi buồn thấm vào nhau, hòa lẫn nhau, da diết, xót xa, hủy diệt
Khác với những tác phẩm trước đó mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng đồng, hùng tâm tráng chí của người lính chiến đấu vì vận mệnh đất
nước, Bảo Ninh đã miêu tả chiến tranh từ một góc độ khác, góc độ cá nhân, thân
phận con người, đi sâu vào những nỗi niềm cá nhân Có lẽ vì thế, trong hơn 10 năm,
tác phẩm đã bị cấm, không được in lại; mặc dù vậy, Nỗi buồn chiến tranh lại rất nổi
tiếng ở nước ngoài: năm 1994 cuốn sách được dịch sang tiếng Anh bởi Frank
Palmos và Phan Thanh Hảo, với tựa đề The Sorrow of War, được ca tụng rộng rãi,
và một số nhà phê bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh Đây là một cuốn sách được đọc rộng rãi ở phương Tây, và là một trong
số ít sách nói viềt chiến tranh từ quan điểm phía Việt Nam được xuất bản ở đây
Bên lề tác phẩm có rất nhiều ý kiến đánh giá khác nhau: khen, chê, đối chọi nhau gay gắt bằng khẩu chiến, bút chiến, nhưng khoa học nghệ thuật bao giờ cũng
có chân lý của nó, những gì có giá trị thực sự nó sẽ được trả xứng đáng Đây là cuốn tiểu thuyết viết về nỗi buồn chiến tranh chứ không phải là khúc khải hoàn chiến thắng Vấn đề đặt ra ở đây là cách nhìn cách nghĩ về chiến tranh, chỉ là cái nhìn về chiến tranh chứ không phải là cuộc chiến tranh nào cả
Năm 1991, tuần báo Văn nghệ tổ chức một cuộc thảo luận về tiểu thuyết
Thân phận tình yêu quy tụ rất nhiều các ý kiến của các nhà văn, nhà nghiên cứu văn
học có uy tín như: Trần Đình Sử, Nguyễn Phan Hách, Cao Tiến Lê, Vũ Quần Phương, Nguyên Ngọc, Phạm Tiến Duật Sau đó các ý kiến này được đăng tải trên báo Văn nghệ số 37 năm 1991 GS Trần Đình Sử cho rằng: “Tác giả đã trừu tượng bớt đi cái phần mục đích, chiến công, nhân tố thắng lợi để chỉ kể lại cuộc chiến
Trang 39tranh với tất cả tính chất chiến tranh của nó Có thể nói tác giả đã lộn trái cuộc chiến tranh ra để ta được nhìn vào cái phía trong bị che khuất lấp một chỗ trống
chưa được lấp”; Ngô Văn Phú thì khẳng định: “Cuốn tiểu thuyết được giải thưởng
là cái được lớn của văn chương Đây đích thực là văn chương” Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: “Đây là một cuốn sách nghiền ngẫm về hiện thực tác giả với tư cách hoàn toàn của người trong cuộc, không đứng ngoài, đứng trên, nhìn ngắm mà
đứng trong, thậm chí ở tận đáy của cuộc chiến tranh”;v.v Cũng trong phạm vi cuộc
tranh luận này, ngoài những ý kiến đánh giá về thành tựu của tác phẩm thì bên cạnh
đó cũng còn có những ý kiến chưa tán đồng hoặc phủ nhận Từ Sơn cho rằng: “Âm hưởng của tác phẩm còn đậm chất bi, âm hưởng hùng còn bị chìm lấp đâu đó, chưa
tạo nên đầy đủ nét bi hùng của một thời đại đã qua”; Vũ Quần Phương lại viết:
“Anh đánh mất hào khí rất đẹp của những năm tháng ấy” và “có cảm giác tác giả có điều gì đó không hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có chỗ cực đoan Đọc những
chi tiết khủng khiếp, đay nghiến, ta thấy tác giả ác”; Nhà văn Hồ Phương vừa khẳng định “đây là một cuốn sách hay viết về chiến tranh”, nhưng cũng lại cho rằng:
“càng đọc về cuối càng có cảm giác cộm lên: tác giả đã dần đánh mất khá nhiều sự chân thật, trong suốt, hết sức tự nhiên của mình Bàn tay tác giả mỗi lúc một lộ ra
trong mọi việc, mọi người Sự cường điệu cũng lộ ra càng đậm nét”, còn cái nhìn
của nhà văn về chiến tranh: “Sao tăm tối thê thảm Dường như chỉ thấy có chết chóc
và khổ cực Dường như chỉ thấy có mất mát và tan hoang, ghê rợn Cũng chính vì thế, ở đây lí tưởng của cuộc chiến, cuộc sống đã không được chú ý tới một cách
đúng mức” Đặc biệt Đỗ Văn Khang với bài “Nghĩ gì khi đọc Thân phận tình yêu”
(báo Văn nghệ số 43 năm 1991) đã phủ nhận hoàn toàn giá trị của tác phẩm, Trần
Duy Châu trong bài viết “Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh” (đăng trên Tạp chí
Cộng sản, số 10 năm 1994) đã không tiếc lời phê phán Năm 2003, sau hơn 10 năm
vắng bóng trên văn đàn, Nỗi buồn chiến tranh lặng lẽ được xuất bản, cùng với một
loạt các bài viết, các công trình khoa học nhằm đưa ra một cách tiếp cận mới về tác phẩm để trả lại “danh phận” cho cuốn sách - “Tác phẩm xuất sắc nhất của Văn học Việt Nam trong vòng hai mươi năm qua, nó không chỉ là viết về chiến tranh, mà còn là sự chứng thực bề sau và bề sâu những biến động của xã hội và con người
Trang 40Việt Nam đi qua chiến tranh và cách mạng” (Phạm Xuân Nguyên, Tiểu thuyết Nỗi
buồn chiến tranh nhìn từ Mỹ, http://www.sachhay.com) Trong số đó, chúng tôi chú
ý đến bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình như Phạm Xuân Thạch, Nguyễn Ngọc Bích, Khương Thị Thu Cúc, Đoàn Cầm Thi, Phạm Xuân Nguyên, Đỗ Văn
Hiểu Qua đánh giá của các tác giả, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh là tác phẩm
đặc sắc, tiêu biểu cho sự đổi mới về nghệ thuật của Văn học Việt Nam hiện đại, thể hiện tài năng của một cây bút có tâm và có tầm với nghệ thuật, với cuộc đời và con
người Trong bài viết Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời hậu chiến - từ
chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp TS Phạm Xuân Thạch đã có một
cái nhìn khái quát khá toàn diện về tác phẩm từ kết cấu, đến mạch ngầm văn bản, thế giới nhân vật, cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và con đường mới viết về chiến tranh trong thời hậu chiến, từ đó tác giả đặt ra vấn đề cần có một lối đọc mới – lối “đọc sâu” (close reading) cấu trúc văn bản, kết hợp với thao tác đọc liên văn bản (intertextualite’) trong hệ thống sáng tác của tác giả và trong đời sống văn chương giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới, đặc biệt, trong sự đối chiếu với những cây bút tiêu biểu của văn học chiến tranh thập niên 80 (Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn
Minh Châu ) Tác giả Đoàn Cầm Thi trong bài viết Chiến tranh, tình dục, tình yêu
trong văn học Việt Nam đương đại (http://evan.com) lại đặc biệt chú ý đến nhân vật
Phương - người phụ nữ Hà Nội, và chủ đề văn học của tiểu thuyết Theo tác giả,
“Nỗi buồn chiến tranh được viết với một niềm say mê, đúng hơn là đam mê, và
mạnh mẽ đến nỗi người đọc tự cho phép mình hiểu rằng đây, nếu như không phải là một tự truyện, thì ít nhất cũng chứa đựng nhiều chi tiết có tính chất tự truyện”, và tác giả đưa ra ý kiến: “Theo tôi, bên cạnh hai chủ đề chính là tình yêu và chiến tranh, một chủ đề nữa, bao trùm lên tác phẩm, vẫn là văn học”, “Theo tôi, nên đọc như một tiểu thuyết mà khởi điểm là sự chia ly, sự chết chóc, của người mình yêu, của cha, của mẹ, của đồng đội, nhưng mục đích chính vẫn là niềm tin hàn gắn với người con gái bị bỏ rơi, với người cha không được hiểu, với người mẹ không được yêu, với người sống và người chết, với chiến tranh và hòa bình, với quá khứ và tương lai.”v.v