1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật nhìn từ góc độ văn hóa và thi pháp

100 496 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 878,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi xin được tổng hợp tóm lược một vài ý kiến đánh giá xung quanh tiểu thuyết lịch sử của ông dựa vào hai nguồn tư liệu: đó là Phụ lục các bài viết, phê bình, nghiên cứu trong tuyể

Trang 1

Hà Nội-2013

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 6

3 Mục đích nghiên cứu 13

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Cấu trúc luận văn 15

NỘI DUNG 16

Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN TRIỆU LUẬT 16

1.1 Khái lược về tiểu thuyết lịch sử 16

1.1.1 Khái niệm 16

1.1.2 Khái quát về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 19

1.2 Khái lược về tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật 22

1.2.1 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật 22

1.2.2 Nguyên nhân lựa chọn thể tài tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật 24 1.1.3 Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật trong bối cảnh chung của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 27

Chương 2: TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA……… 34

2.1 Giới thuyết về khái niệm văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 34 2.1.1 Khái niệm văn hóa 34

2.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 36

2.2 Các thành tố văn hóa trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật 38

Trang 4

4

2.2.1 Không gian văn hóa miền Bắc Việt Nam thời Lê mạt 40

2.2.2 Con người trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật – những chủ thể văn hóa 53

2.2.2.1 Hình tượng vua chúa 54

2.2.2.2 Hình tượng người phụ nữ 58

2.2.2.3 Hình tượng những trung thần 63

Chương 3: TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT TỪ GÓC ĐỘ THI PHÁP……… 66

3.1 Giới thuyết về khái niệm thi pháp và thi pháp học 66

3.2 Các yếu tố thi pháp của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật 68

3.2.1 Mối quan quan hệ giữa tính chân sử và hư cấu nghệ thuật 68

3.2.1.1 Hư cấu từ những sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử 69

3.2.1.2 Hư cấu hoàn toàn 74

3.2.2 Nghệ thuật kết cấu 78

3.2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 80

3.2.3.1 Khắc họa tính cách nhân vật thông qua giới thiệu tiểu sử và miêu tả ngoại hình 80

3.2.3.2 Khắc họa tính cách nhân vật thông qua miêu tả hành động 84

3.2.3.3 Khắc họa tính cách nhân vật qua độc thoại nội tâm và miêu tả tâm lý nhân vật 85

3.2.4 Ngôn ngữ 88

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

1945 nở rộ các tên tuổi Nguyễn Tử Siêu, Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai, Ngô Tất

Tố, Nguyễn Huy Tưởng… với số lượng lớn các tác phẩm giá trị đóng góp không nhỏ vào sự nghiệp hiện đại hóa văn học Việt Nam Mặc dù trong giai đoạn 1945 –

1950, các sáng tác tiểu thuyết lịch sử có chiều hướng tạm lắng nhưng ngay sau đó

từ những năm 50, 60 trở đi tiểu thuyết lịch sử đã phát triển trở lại Đặc biệt là từ sau Đổi mới tới nay, thể tài này phát triển rầm rộ với đông đảo các tác giả, nổi bật trong đó là Nguyễn Quang Thân, Hoàng Công Khanh, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Khánh, Hàn Thế Dũng, Lê Đình Khanh, Võ Thị Hảo… Cho nên, việc tìm hiểu thể tài có sự phát triển liên tục như vậy sẽ có những đóng góp hữu ích vào việc làm sáng tỏ quy luật phát triển của văn học Việt Nam thế kỷ XX Ngoài

ra, tiếp cận tiểu thuyết lịch sử trên nhiều khía cạnh còn giúp chúng ta có được những hiểu biết về các vấn đề văn học đương đại và có được cái nhìn sâu sắc hơn

về lịch sử và cuộc sống hiện tại

Có một thực tế là việc nghiên cứu văn học nói chung, nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nói riêng (cho đến nay) còn tồn tại một số bộ phận tác giả, tác phẩm ít được nhắc tới, thậm chí còn bị bỏ quên, vì thế, tiếp cận, tìm hiểu các tác giả, tác phẩm này sẽ chúng ta ngày một hoàn chỉnh bức tranh chung về tiểu thuyết lịch sử, về nền văn học nước nhà Xuất hiện vào những năm 30 của thế kỷ trước, nhà văn Nguyễn Triệu Luật đã để lại cho chúng ta một gia tài văn chương, trong đó

có đến 8 tiểu thuyết lịch sử hoàn chỉnh được lưu lại đến nay: Hòm đựng người (in từng kỳ trên báo Nhật Tân vào năm 1936, thành sách năm 1938), Bà chúa

Chè (1938), Loạn kiêu binh (1939), Ngược đường Trường thi (Phổ thông bán

nguyệt san số 46, 1939), Chúa Trịnh Khải (1940), Rắn báo oán (1941), Thiếp

Trang 6

6

chàng đôi ngả (in chung với Rắn báo oán, 1941), Bốn con yêu và hai ông

đồ (1943) Các tác phẩm này được nhiều nhà phê bình, nhà văn đương thời như

Lan Khai, Trúc Khê, Nguyễn Nhất Lang, Hiên Chy đánh giá cao và được dư luận thời bấy giờ ưu ái, ủng hộ, tuy nhiên sau khi ông mất, những tác phẩm trên cũng không xuất hiện và không được đề cập đến nữa Vì thế, cho đến thời điểm hiện tại,

số lượng nghiên cứu về tác giả này vẫn còn thưa thớt, chưa thực sự đánh giá được đầy đủ và thuyết phục các giá trị của tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật, đồng thời chưa định hình rõ nét được vị trí, vai trò của tác giả Nguyễn Triệu Luật trong dòng chảy lịch sử phát triển của tiểu thuyết lịch sử nước nhà Tiếp cận và tìm hiểu một tác giả như Nguyễn Triệu Luật không chỉ giúp chúng ta có cơ hội nhìn nhận lại phong cách, tài năng của tác giả, mà còn giúp ta hoàn chỉnh bức tranh chung về tiểu thuyết lịch sử nước nhà

Ngoài ra, đối với việc phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học, hoặc một

bộ phận tác phẩm văn học thì việc tìm hiểu từ góc độ văn hóa và thi pháp sẽ giúp chúng ta có được một cái nhìn khái quát hơn về tác phẩm cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật Tiếp cận tác phẩm dưới góc độ văn hóa và thi pháp không chỉ cho ta một hình dung tổng thể về tác phẩm văn học, tránh được việc nhìn nhận một cách phiến diện, khiên cưỡng, từ đó còn giúp chúng ta thấy được chân dung hoàn chỉnh về tài năng cũng như tâm hồn của tác giả

Những lý do trên đây đã cho tôi thấy được sự cấp thiết của một công trình lần đầu tiên nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật từ góc độ văn hóa và thi pháp

2 Lịch sử vấn đề

Sinh thời, Nguyễn Triệu Luật là một tác giả tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng trên văn đàn Đời viết văn của ông đã thu hoạch được số lượng các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử không nhỏ (gồm tám cuốn tiểu thuyết hoàn thiện) và luôn được các nhà nghiên cứu đương thời đánh giá cao, song sau khi ông mất, ông và các tác phẩm của mình trong một thời gian dài hầu như không được nhắc tới Các công trình

Trang 7

7

nghiên cứu về tác phẩm mà cụ thể là tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật không nhiều, chỉ lẻ tẻ các bài viết đăng trên một số tạp chí, sách, báo, nhất là những bài phê bình về tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật trước năm 1945 thì còn lại rất ít

Cho tới nay chưa thực sự có một công trình nào nghiên cứu tiểu thuyết lịch

sử Nguyễn Triệu Luật từ góc độ văn hóa và thi pháp, cũng chưa hề có một công trình nghiên cứu về ông với một dung lượng thích đáng Chúng tôi xin được tổng hợp tóm lược một vài ý kiến đánh giá xung quanh tiểu thuyết lịch sử của ông dựa vào hai nguồn tư liệu: đó là Phụ lục các bài viết, phê bình, nghiên cứu trong tuyển

tập Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật do ông Nguyễn Triệu Căn, con trai nhà văn sưu tập và các bài viết tham luận tham dự Hội thảo Nguyễn Triệu Luật (1903 -

1946) Con người và sự nghiệp của Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức vào ngày

23/8/2012 đã được hợp in trong cuốn Nguyễn Triệu Luật – Con người và tác phẩm,

Nxb Lao động, Hà Nội, năm 2013

Bàn về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật có những ý kiến trái ngược nhau Một số nhà nghiên cứu khi tiếp cận các tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật cho rằng: chúng “khô khan, dài dòng, mải khoe kiến thức” [38], nhiều khi giảm bớt tính văn chương do các đoạn trữ tình ngoại đề, thuyết minh về lịch sử quá nhiều Tiểu thuyết lịch sử của ông khi vừa mới ra đời đã ngay lập tức bị nhắc lên bàn cân để soi xét xem tác phẩm của ông có thực sự là tiểu thuyết lịch sử không?

Dẫn theo nhà văn Trúc Khê thì trên tờ Pháp Việt tạp chí số 254 ra ngày 16/1/1939,

Vũ Ngọc Phan đã có bài viết phê bình quyển Bà chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật Trong bài viết đó, Vũ Ngọc Phan khẳng định tính chất quyển Bà chúa Chè là của một quyển lịch sử ký sự, bởi vì viết Bà chúa Chè Nguyễn Triệu Luật đã hết sức

chú ý vào việc sử dụng các sử liệu, chỉ muốn có thế nào thì nên thế ấy Vũ Ngọc Phan thậm chí còn kết luận: ông Luật đề lịch sử tiểu thuyết ở bìa ngoài là sai [19,

tr.165] Sau này, chính Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, đã xếp Nguyễn

Triệu Luật vào nhóm " Những nhà viết lịch sử ký sự và truyện ký" gồm Đào Trinh Nhất, Trần Thanh Mại, Phan Trần Chúc, Ngô Văn Triện [17]

Trang 8

8

Ngay sau đó, Trúc Khê đã có bài bút chiến nêu ra quan điểm ngược chiều

với Vũ Ngọc Phan mang tên: Bà chúa Chè có phải là cuốn lịch sử ký sự không,

trong đó Trúc Khê đã lên tiếng bảo vệ Nguyễn Triệu Luật với những lập luận khá đanh thép Bài viết Trúc Khê không hoàn toàn bác bỏ lập luận của Vũ Ngọc Phan (tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật là lịch sử ký sự) nhưng cho rằng tuy có chỗ hợp lý song không đầy đủ và sâu sắc dẫn đến đánh giá không chính xác Ông

khẳng định Bà chúa Chè “vẫn là cuốn tiểu thuyết chứ không nên coi là lịch sử ký

sự” và nêu ra quan điểm rằng một cuốn lịch sử ký sự phải nêu toàn bộ sự thực, không được bịa đặt, được ghi chép những chuyện tỉ mỉ của cá nhân dù không ảnh hưởng đến quần chúng, miễn là có “hứng vị”, nhưng sự tưởng tượng phải trong

khuôn khổ Cuốn Bà chúa Chè tuy chuyên về sự thực nhưng trong đó đã có nhiều

chỗ được “tiểu thuyết hóa”, thêm thắt một số chi tiết không có trong sách sử, thậm chí sai so với sách sử, ví dụ như Đặng Thị cầm dao tự đâm vào cổ mình chết trước bàn thờ Tĩnh Vương thì trong sách sử nói rằng nàng uống thuốc độc Tuy nhiên, Trúc Khê vẫn nhấn mạnh khả năng “kê cứu” lịch sử của tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật vì khi viết tác giả đã hết sức chú ý đến sử liệu và đây có thể nguyên nhân dẫn đến hiểu lầm của ông Vũ Ngọc Phan [19, tr.165]

Cũng với hướng khẳng định khả năng viết tiểu thuyết lịch sử theo lối “chú trọng về sự thực” của Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai lại nhận xét nó như là một ưu điểm: “Cũng như tôi, ông Nguyễn Triệu Luật viết tiểu thuyết lịch sử Nhưng, khác với tôi, ông Luật riêng chú trọng về sự thực, trong khi tôi chỉ khuynh hướng về

nghệ thuật Đọc Gái thời loạn, Ai lên Phố Cát, Chiếc ngai vàng, Cái hột mận, nếu người ta mơ màng, say đắm bởi những cái có thể có được thì đọc Hòm đựng người

và Bà chúa Chè, người ta phải sống đầy đủ những cái đã có rồi Cái hay của ông

Luật là ở chỗ ấy” Lan Khai ví von việc đọc tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật như

là “xem các bức ảnh” khiến cho sự việc, cảnh vật không còn nữa vẫn hiện lên được như thật: “Người có thể mất đi rồi, cảnh có thể khác đi rồi, mà hình ảnh vẫn là hình ảnh thực của những người và cảnh đã có thực” [19, tr.163]

Trang 9

9

Cũng qua tác phẩm Bà chúa Chè, nhà văn Nguyễn Tuân (lúc bấy giờ với bút

danh là Nhất Lang) đã có bài phê bình, trong đó khẳng định cái tài của người viết tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật trong việc xử lý thành công một thể tài “khó xơi”: “Viết đến chính sử, người ta thường kể đến cái học – học khảo cứu – của sử gia Viết tiểu thuyết, người ta thường bàn tới nghệ thuật của tác giả Nói về lịch sử tiểu thuyết, ngoài cái học kê cứu sở cứ vào tài liệu, người ta còn phải đếm xỉa tới

cái tài của bố cục, của tưởng tượng Cuốn Bà chúa Chè toàn thể được cả” Tuy

nhiên, Nguyễn Tuân cũng chỉ ra một số hạn chế của tác phẩm một cách thẳng thừng: nếu có chỗ khiến người ta phải phàn nàn về tác phẩm này thì chính là những chỗ chú thích của tác giả Ông phê bình Nguyễn Triệu Luật trong việc chú thích quá nhiều, có người còn cho là thừa, “nếu không ngờ là tác giả muốn khoe chữ Hán” hay “người ta có thể nói rằng lúc này Nguyễn Triệu Luật viết truyện lịch sử

đã đi vắng và chỉ còn lại Nguyễn Triệu Luật giáo học thôi” Cả về đoạn Đặng Thị gặp biến tác giả có nhắc đến chính chuyện riêng tư của bản thân mình nhưng lại dễ

khiến độc giả đặt câu hỏi “tương quan ở đâu” [Nguyễn Nhất Lang, Bà chúa Chè và

Nguyễn Triệu Luật, Phổ thông Bán nguyệt san số 32, 4/1939 dẫn theo Tài liệu 19,

tr.170]

Nhân đọc Hòm đựng người, Hiên Chy trong một bài viết đăng trên tờ Phổ

thông bán nguyệt san đã khẳng định mục đích viết Hòm đựng người của Nguyễn

Triệu Luật là: “Muốn bạn đọc được biết những phong tục cổ hủ, những lâu đài cung điện tự ngàn xưa, những nỗi khổ tâm của những oan hồn đã khuất” [19, tr.178] Tác giả còn chỉ ra những nét hấp dẫn, độc đáo trong cốt truyện, nhân vật, thủ pháp miêu tả, của tác phẩm và nhắc đến Nguyễn Triệu Luật với hai vai trò

“nhà văn” và “nhà khảo cổ” (vừa cung cấp những khung cảnh chân thực của các hủ tục phong kiến tàn khốc lại vừa thêu dệt một mối tình đầy bi kịch của đôi trai tài gái sắc Lê Duy Lễ - Đặng Ấu Mai) Qua đó, Hiên Chy nhận định: cuốn tiểu thuyết đạt được giá trị cao về cả hai phương diện: lịch sử và văn chương Tác giả còn đánh giá rất cao khả năng tái hiện bối cảnh lịch sử của Nguyễn Triệu Luật: “ông đã

lồng truyện Hòm đựng người của ông như in vào thời đại” [19, tr.181]

Trang 10

10

Sau năm 1945, tên tuổi cũng như tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật vắng bóng hẳn trên văn đàn Cho đến tận những năm 90 của thế kỷ XX, sau gần nửa thế kỷ, người ta mới xuất bản trở lại những tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật,

và một lần nữa các tác phẩm của ông lại bắt đầu nhận được sự quan tâm trở lại Phần lớn các ý kiến đánh giá về tác giả và tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật đều thống nhất về vai trò của tác giả đối với tiểu thuyết lịch sử nước nhà đầu thế kỷ XX đến 1945

Tác giả Phạm Toàn nhận xét những tác phẩm của ông mang một tầm vóc đáng kể không chỉ trong văn học nước nhà mà còn có thể so sánh với văn học thế giới: “những cuốn tiểu thuyết lịch sử của ông cuốn nào cũng hay, những văn phẩm của trí tưởng tượng ngang ngửa về giá trị nghệ thuật với những tác phẩm cùng thể loại của các đại tác gia nước ngoài” [19, tr.54] Phạm Toàn khẳng định Nguyễn Triệu Luật là một cây bút luôn trung thành với sự thực lịch sử song cũng nhắc tới khả năng hư cấu, sáng tạo ở nhà văn với những đánh giá khả quan Tác giả cho rằng: đóng góp to lớn của Nguyễn Triệu Luật với tư cách nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là ở hai điểm: thứ nhất là có công dùng văn phong tiểu thuyết để miêu tả và dựng lại bối cảnh cho sinh động như thật; thứ hai là đã tôn cao đươc đặc điểm tâm

lý nhân vật Từ đó, Phạm Toàn cũng chỉ ra cái “động cơ viết văn” của Nguyễn Triệu Luật, đó là: “khai sáng cho người đương thời – kể cả khai sáng trong tuyệt vọng thì vẫn cứ vần đá từng viên mà vá trời!” [19, tr.75]

Phạm Tú Châu trong bài Tính lịch sử: khả năng và mức độ qua tiểu thuyết

Bà chúa Chè thì cho rằng tuy tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật như thật nhưng

không hề thiếu đi các yếu tố hư cấu, chỉ lấy sử làm cái khung để từ đó tưởng tượng

mà thôi [19, tr.105] Phạm Tú Châu trước khi viết bài này đã dành nhiều công sức

để tìm hiểu bối cảnh lịch sử của Bà chúa Chè Qua những tìm hiểu ấy, tác giả

khẳng định lịch sử nguyên sinh giai đoạn này không có, Nguyễn Triệu Luật đã dựa

vào cuốn Hoàng Lê nhất thống chí để làm tư liệu viết nên tác phẩm này Phạm Tú

Châu đã so sánh hai tác phẩm và liên tiếp chỉ ra những nét khác biệt, những chi tiết

hư cấu của Bà chúa Chè so với Hoàng Lê nhất thống chí để độc giả thấy được khả

Trang 11

11

năng sáng tạo của cây bút Nguyễn Triệu Luật Tác giả nhận định tác phẩm dựa trên

tư liệu lịch sử xác thực mà vẫn có sự tô vẽ hợp lý, không hề khô khan, gò bó Được như vậy một phần là nhờ “kiến thức song trùng” (vừa thông thạo Hán học vừa am hiểu Tây học) của nhà văn [19, tr.114]

Lý giải vấn đề tồn tại những đóng góp của Nguyễn Triệu Luật kể trên, Nguyễn Xuân Khánh cho rằng nhà văn sở dĩ có cách miêu tả tâm lý nhân vật như vậy, cách sử dụng xen lẫn hư cấu và sử sách như vậy là do chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiểu thuyết phương Tây du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XX [19, tr.77] Bài

viết Những quan niệm sáng tác tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Nguyễn Triệu Luật,

ông đã phân chia các tiểu thuyết lịch sử của nhà văn làm ba loại: Loại thứ nhất là loại có nhân vật và sự kiện có thật 100%, loại thứ hai là câu chuyện nhân vật không có thật trong lịch sử, loại thứ ba là loại trộn lẫn “cái hư và cái thực” [19,

tr.81] Nguyễn Xuân Khánh còn dựa vào ba bài tựa trong ba cuốn tiểu thuyết Hòm

đựng người, Bà chúa Chè và Ngược đường Trường thi do chính Nguyễn Triệu

Luật viết để phân tích lý giải những quan niệm sáng tác của nhà văn

Qua bài viết Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật, tác giả Nguyễn Chí

Tình đã đánh giá: “Nguyễn Triệu Luật đã nghiên cứu khá công phu và tỏ ra có trách nhiệm với sự thực lịch sử cả những khi ông đã đẩy ngòi bút hư cấu của mình

đi khá xa Thiết tưởng những người viết lịch sử, làm phim lịch sử ngày nay, và cả những người chỉ nghĩ đến chính sử, có thể tìm thấy ở tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật không ít trang viết bổ ích” Trong bài viết của mình, tác giả đã khoanh vùng thời đại lịch sử mà tác giả Nguyễn Triệu Luật hay sử dụng trong tiểu thuyết lịch sử

của mình đó là thời vua Lê chúa Trịnh (trừ Rắn báo oán và Thiếp chàng đôi ngả)

Ông đánh giá cao việc nghiên cứu lịch sử công phu và tinh thần trách nhiệm của nhà văn với lịch sử “cả những khi ông đẩy ngòi bút hư cấu của mình đi khá xa”, đồng thời nhận định các nhà viết tiểu thuyết lịch sử, các nhà làm phim lịch sử ngày nay có thể học hỏi được nhiều điều bổ ích từ tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật [19, tr.214]

Trang 12

12

Mặc dù có nhiều cống hiến cho nền văn học nước nhà như vậy nhưng sau khi Nguyễn Triệu Luật qua đời, các tác phẩm của ông cũng biến mất Dương Yến,

Hồng Mây trong bài viết Đau đáu về người viết lịch sử bị lãng quên từng nêu lên

một sự thực: “Tuy là một người viết sách về lịch sử nhưng bản thân ông thì lại bị người đời lãng quên Chọn viết về những giai đoạn đau thương của đất nước, nhà văn Nguyễn Triệu Luật là người có nhiều đóng góp đối với dòng tiểu thuyết lịch sử

và văn học Việt Nam những năm 1930 Thế nhưng, một thời gian dài, tên ông gần như đi vào quên lãng, không hề được nhắc, được biết đến trong các sử sách văn học”, trong khi ông có cả “một khối lượng tác phẩm có giá trị”, “đủ để định vị Nguyễn Triệu Luật trong văn học Việt Nam” (Phạm Xuân Nguyên) Tác giả cũng nhận định rằng: ông Luật đã để lại cho đời một gia tài văn chương quý giá, nhưng cuộc đời của ông chính người nhà cũng không biết rõ [19, tr.261] Cho đến hiện nay, theo tư liệu chúng tôi sưu tầm được mới chỉ có duy nhất một công trình có

quy mô lớn về Nguyễn Triệu Luật là luận văn thạc sĩ Phong cách tiểu thuyết lịch

sử Nguyễn Triệu Luật của tác giả Mai Thị Thanh Hà ở Đại học Vinh, năm 2009

Trong Luận văn, tác giả Thanh Hà đã xem xét phong cách tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật trên nhiều phương diện: phương diện lựa chọn đề tài, cảm hứng sáng tạo và phương diện hình thức nghệ thuật Qua đó, tác giả đã phần nào đã nêu bật được phong cách đặc sắc của Nguyễn Triệu Luật trong bức tranh chung của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX – 1945 [20]

Như vậy, đa số các nhà phê bình, nghiên cứu đều khẳng định tài năng và vị trí to lớn của tác giả Nguyễn Triệu Luật trong nền văn học nước nhà, đặc biệt là mảng tiểu thuyết lịch sử đang ngày càng phát triển mạnh mẽ ở nước ta Tuy chưa phải độc giả nào cũng đồng tình hoàn toàn với cách viết tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật nhưng tất cả đều thấy rõ ở ông kiến thức sâu rộng về lịch sử nước nhà,

về các phong tục, lễ nghi, lề lối, về các nhân vật lịch sử đã lùi xa vào quá khứ… Mặc dù vậy, các bài viết không nhiều, dung lượng các bài viết không lớn, đa phần

là những ý kiến sơ lược, còn thiếu vắng những bài viết chi tiết, cụ thể hơn với dung lượng lớn Nếu xem xét tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật dưới góc độ thi pháp

Trang 13

13

và văn hóa thì vẫn chưa có một công trình cụ thể nào tìm hiểu Đôi khi một vài yếu

tố thi pháp được nhắc tới nhưng cũng còn nhiều điểm cần hệ thống lại, và bổ sung cho đầy đủ

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Khác với nhiều tác giả tiểu thuyết lịch sử đương thời, hầu hết các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật chỉ xoay quanh một giai đoạn lịch sử nhất định: giai

đoạn lịch sử Việt Nam thời Lê Trịnh, thế kỷ XVII, XVIII (ngoại trừ Thiếp chàng

đôi ngả (nhà Hồ) và Rắn báo oán (nhà Lê)) Để nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử

của Nguyễn Triệu Luật trong phạm vi của luận văn chúng tôi xin lược chọn một số tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu của ông viết về giai đoạn này Trong đời viết văn của mình, Nguyễn Triệu Luật chỉ để lại ba Lời tựa (hoặc Lời nói đầu) trong ba tác phẩm khác nhau thể hiện quan niệm sáng tạo nghệ thuật của mình và coi các tác

phẩm văn học đó là tiêu biểu cho những quan niệm đó, Hòm đựng người và Bà

chúa Chè là hai trong số đó Riêng Lời nói đầu của Bà chúa Chè có vẻ như là dành

cho cả ba cuốn Bà chúa Chè, Loạn kiêu binh, Chúa Trịnh Khải, trong đó tác giả

nhắc tới cả ba tác phẩm trong một mối liên kết mạnh mẽ về nội dung, về kết cấu,

như “ba việc dính liền nhau” được chép riêng (vì thế, tìm hiểu tác phẩm Bà chúa

Chè chúng ta không thể không tìm hiểu về hai tác phẩm Chúa Trịnh Khải và Loạn kiêu binh) Bên cạnh đó, không tính những lần xuất bản riêng lẻ, qua hai lần xuất

bản Tuyển tập các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật vào năm 1998 (Đinh

Trang 14

14

Xuân Lâm tuyển chọn, Nxb Giáo dục phát hành) và 2011 (Nguyễn Triệu Căn

tuyển chọn, Nxb Khoa học xã hội phát hành), bốn tiểu thuyết Hòm đựng người, Bà

chúa Chè, Loạn kiêu binh, Chúa Trịnh Khải là bốn trường hợp duy nhất xuất hiện

ở cả hai cuốn sách, được coi như những tác phẩm tiêu biểu trong tuyển tập tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật Dựa vào những yếu tố sàng lọc kể trên, trong giới hạn của luận văn, chúng tôi lựa chọn phạm vi nghiên cứu đề tài của mình trong bốn quyển tiểu thuyết hoàn chỉnh tiêu biểu của Nguyễn Triệu Luật mà

ông Nguyễn Triệu Căn, con trai của nhà văn đã sưu tầm trong cuốn tuyển tập Tiểu

thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011: Hòm đựng

người, và bộ ba tác phẩm Bà chúa Chè, Loạn kiêu binh, Chúa Trịnh Khải (Bởi

các tư liệu về tác phẩm Nguyễn Triệu Luật vẫn còn đang trong giai đoạn thu thập,

bổ sung nên ở các công trình tiếp theo chúng tôi xin mở rộng phạm vi nghiên cứu cho hoàn chỉnh hơn nữa)

5 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp tiếp cận thi pháp học: là nghiên cứu hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học bằng cách tìm hiểu văn bản qua việc phân tích các biểu hiện ngôn từ của tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật (mối quan hệ giữa tính chân thực và hư cấu, cách xây dựng nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ)

+ Phương pháp tiếp cận văn hóa học: tiếp cận văn học từ quan điểm văn hóa học ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa, trong đó tác phẩm văn học

đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mỹ, quan niệm về con người… từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô típ, hình tượng, ngôn ngữ,… trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật

+ Phương pháp lịch sử - xã hội: là phương pháp có cơ sở là hoàn cảnh, điều kiện xã hội và tiến trình phát triển lịch sử của chính bản thân văn học Nó là đặt tác giả Nguyễn Triệu Luật và các tác phẩm vào bối cảnh xã hội để nghiên cứu Bằng cách đó, hiện tượng văn học sẽ được nhìn nhận trong những mối quan hệ ngoại

Trang 15

6 Cấu trúc luận văn

Chương một: KHÁI LƯỢC VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT

Chương hai: TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT TỪ GÓC

ĐỘ VĂN HÓA

Chương ba: TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT TỪ GÓC

ĐỘ THI PHÁP

Trang 16

16

NỘI DUNG Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ

VÀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN TRIỆU LUẬT

Trong chương này, người viết sẽ làm rõ khái niệm về tiểu thuyết lịch sử, khái quát về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1945 để có được một hình dung tổng thể bức tranh chung về tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này

Từ việc tìm hiểu bối cảnh chung đó, chúng tôi đi vào làm sáng tỏ một cách khái lược về tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật bằng cách tìm hiểu quan niệm về tiểu thuyết lịch sử, nguyên nhân lựa chọn thể tài này của tác giả và các tác phẩm của ông trong bối cảnh chung của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn những năm đầu thế

kỷ XX đến 1945

1.1 Khái lược về tiểu thuyết lịch sử

1.1.1 Khái niệm

Cho đến nay có thể thống kê khá nhiều những quan niệm khác nhau khi bàn

về khái niệm tiểu thuyết lịch sử, tuy nhiên trong khuôn khổ công trình này, chúng tôi chỉ xin dẫn ra vài ý kiến tiêu biểu như sau:

Về khái niệm tiểu thuyết lịch sử, Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên - 1999) có quan niệm như sau (mục Thể

loại văn học lịch sử/ Tiểu thuyết lịch sử): “Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử này

có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm văn học lịch sử thường mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể loại này Đặc điểm của tiểu thuyết lịch sử và kịch lịch sử đòi hỏi nhà văn vừa phải là người nghệ sĩ, vừa là nhà nghiên cứu, có vốn sống và hiểu biết phong phú, có quan điểm lịch sử đúng đắn và tiến bộ” [21, tr.256]

Trang 17

17

Cũng bàn về khái niệm tiểu thuyết lịch sử, Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb

Thế giới lại quan niệm như sau: “Tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Lịch sử trong ý nghĩa khái quát, là quá trình phát triển của tự nhiên và

xã hội Các khoa học xã hội (cũng được gọi là các khoa học lịch sử) đều nghiên cứu quá khứ của loài người trong tính cụ thể và đa dạng của nó Tuy vậy những tiêu điểm chú ý của các sử gia lẫn các nhà văn quan tâm đến đề tài lịch sử, thường

là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các nhà nước, những biến cố lớn trong đời sống xã hội của cộng đồng quốc gia, trong quan hệ giữa các quốc gia như chiến tranh, cách mạng cuộc sống và sự nghiệp của những nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử” [17, tr.1728]

Là một thể tài mang ít nhiều tính đặc thù, tiểu thuyết lịch sử có những quy luật sáng tạo riêng so với các thể tài khác Người viết phải tuân thủ những yêu cầu sáng tạo, phải đảm bảo màu sắc lịch sử, bên cạnh quyền hư cấu Nó phải giải quyết một nhiệm vụ kép đúng như Chế Lan Viên đã nói: tiểu thuyết lịch sử phải nhảy qua hai vòng lửa “lửa lịch sử” và “lửa tiểu thuyết” Cần lưu ý, đề tài lịch sử ở đây

có thể hiểu đơn thuần là nói về câu chuyện xảy ra trong quá khứ mà ở đó, nhân vật của nó đã không còn

Trước hết, tiểu thuyết lịch sử phải là tiểu thuyết do đó nó mang trọn những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết: nó phải có tính hư cấu bởi nó là sản phẩm của trí tưởng tượng, của sự hư cấu Công việc của một nhà văn khác với nhà sử gia thông thường là đưa đến cho bạn đọc những sản phẩm hấp dẫn của trí tưởng tượng chứ không phải là liệt kê, phân tích sử liệu Nhận biết được tính chất đặc thù của tiểu thuyết lịch sử là phải xử lý được mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu nghệ

thuật trong tác phẩm, bài Vài ý kiến về sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong

truyện sử phục vụ các em, nhà văn Hà Ân từng khẳng định: “người sáng tác phải

xem các nguồn tài liệu và phải có kiến giải riêng”, “nhà văn xây dựng nhân vật lịch

sử thành nhân vật tiểu thuyết và đem tới cho các em triết lý mà mình ứng tâm chứ không nhằm mục đích trình bày đầy đủ bối cảnh lịch sử” [2]

Trang 18

18

Bên cạnh việc tiểu thuyết lịch sử là một bộ phận của thể loại tiểu thuyết thì đặc điểm nổi bật của nó là viết về đề tài lịch sử: về các nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử hay giai đoạn lịch sử… Với loại tiểu thuyết lấy lịch sử làm đề tài thì mà yếu

tố tính chân xác của lịch sử vô cùng quan trọng Nhà văn có thể sáng tạo nhưng nhất thiết phải tôn trọng sự thực lịch sử, phải bám sát những cái “đinh treo lịch sử”

để từ đó viết nên câu chuyện của mình Cân bằng được hai việc vừa phải hư cấu sáng tạo vừa phải dựa trên sự thực lịch sử là một công việc hết sức khó khăn bởi nó đòi hỏi ở tác giả tri thức uyên bác của một nhà sử học kết hợp với nhiều kỹ năng (mục đích là biến những tri thức đó thành tác phẩm nghệ thuật) Chúng tôi đồng ý

với quan điểm của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ trong cuốn Văn học Việt Nam thế

kỷ XX: “Trong quá trình sáng tác, các nhà tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trong các

sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ vai trò hư cấu, sáng tạo của nghệ thuật” [13, tr.164] Việc xử lý mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu sáng tạo của tiểu thuyết lịch sử là công việc cần chú trọng hàng đầu, tạo nên sự thành bại của

tác phẩm Như khi đánh giá cao thành tựu của Hồ Quý Ly, cuốn tiểu thuyết lịch sử

tiêu biểu cho thể tài này trong giai đoạn văn học sau Đổi mới, Lại Nguyên Ân đã xem xét mối quan hệ giữa sự thực lịch sử - hư cấu nghệ thuật của tiểu thuyết lịch

sử qua Hồ Quý Ly và chỉ ra rằng: giá trị của Hồ Quý Ly thể hiện ở việc vừa đáp

ứng yêu cầu tái hiện đầy đủ kiến thức lịch sử, vừa vẫn rất tự do sáng tạo khi nhà văn đã khắc họa sống động chân dung nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly, “vừa khai thác tối đa các nguồn sử liệu, vừa phóng khoáng trong hư cấu tạo ra một thực tại tiểu thuyết vừa tương đồng với những thông tin còn lại về một thời đã lùi xa vừa in dấu cách hình dung và trình bày riêng của tác giả” [3]

Có thể nói, tiểu thuyết lịch sử luôn chiếm một vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà Bộ phận tiểu thuyết này được nhận định là một trong những dạng tiểu thuyết ra đời sớm tại Việt Nam, khi văn học Quốc ngữ vừa mới được nhen nhóm, tiểu thuyết lịch sử đã hiện diện qua những sáng tác của

Nguyễn Tử Siêu như Tiếng sấm đêm đông, Trần Nguyên chiến kỷ, Việt Thanh

chiến sử, Giọt máu chung tình của Tân Dân hay Trùng Quang tâm sử của Phan Bội

Trang 19

19

Châu Theo nhà nghiên cứu Phạm Xuân Thạch trong bài viết Văn xuôi tự sự trong

giai đoạn chuyển đổi hệ hình văn học thì: nó là “sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc

khi âm ỉ, khi bùng cháy dữ dội trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX” [55, tr.389] Trong bối cảnh Đất nước đứng trước nhiều đổi thay như hiện nay, tiểu thuyết lịch sử xuất hiện không chỉ với chức năng giải trí mà còn để làm tròn vai trò giáo dục lịch sử và giải quyết chính những vấn đề của hiện tại Trong một thời điểm mà giao lưu văn hóa, lịch sử, xã hội diễn ra mạnh mẽ, cùng với đó là việc giới trẻ Việt đang ngày càng “sính đồ ngoại”, thạo sử nước ngoài hơn sử nước mình thì việc viết những thể tài như vậy quả là mang rất nhiều ý nghĩa mới Tiểu thuyết lịch sử như là một “khí cụ để vẽ nên những điểm tương đồng giữa quá khứ

và hiện tại, và do đó làm sáng tỏ hiện tại” [9, tr.132]

1.1.2 Khái quát về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945

Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam là một bộ phận tiểu thuyết hiếm hoi có những bước phát triển liên tục và có được thành tựu qua nhiều giai đoạn của thế kỷ XX: đầu thế kỷ XX – đến 1945, từ 1945 đến 1954, từ 1954 đến 1960, từ sau 1960 –

1985, 1985 đến nay, trong đó, giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945, tiểu thuyết lịch sử và sự phát triển của nó đã đóng góp không nhỏ cho công cuộc hiện đại hóa văn học nước nhà Ta có thể chia quá trình vận động và phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 thành hai chặng: chặng thứ nhất là từ 1900 đến 1930, chặng thứ hai là từ 1930 đến 1945

Vào những năm đầu của thể kỉ XX (khoảng ba mươi năm đầu thể kỉ XX)

với các tác phẩm tiêu biểu: Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Tiếng sấm

đêm đông, Vua Bố Cái của Nguyễn Tử Siêu, Giọt máu chung tình của Tân Dân

Tử Thời kỳ này số lượng các tác phẩm chưa thực sự nhiều, về nghệ thuật còn chịu ảnh hưởng từ tiểu thuyết chương hồi, nhân vật chủ yếu thiên về hành động để khắc họa tính cách, tâm lý nhân vật chưa được đào sâu tìm hiểu, câu văn còn mang dấu ấn của câu văn biền ngẫu Các tác phẩm này nhìn chung đều xoay quanh hai nội dung chính: yêu nước và thế sự: Ở nội dung yêu nước, các tác phẩm đi vào

Trang 20

20

phản ánh các sự kiện quan trọng, ghi lại những chiến công dựng nước và giữ nước

của cha ông, khơi gợi những truyền thống văn hóa tốt đẹp (tiêu biểu như Trùng

Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Vua Bố Cái của Nguyễn Tử Siêu) Với nội dung

thế sự, các tác phẩm lại tập trung phản ánh cuộc đấu tranh giữa các tập đoàn phong

kiến, phản ánh chân thực cuộc sống cùng cực của nhân dân… (như trong Đinh

Tiên Hoàng của Nguyễn Tử Siêu, Gia Long phục quốc, Hoàng tử Cảnh như Tây

của Tân Dân Tử)

Từ năm 1930 đến năm 1945, tiểu thuyết lịch sử phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ hơn hẳn giai đoạn trước, lan rộng khắp Bắc Nam với hàng loạt các tên

tuổi như Nguyễn Tử Siêu (Trần Nguyên chiến kỉ, Hai bà đánh giặc), Đinh Gia Thuyết (Ngọn cờ vàng), Lan Khai (Cái hột mận, Ai lên phố Cát, Gái thời loạn), Tân Dân Tử (Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc), Nguyễn Triệu Luật (Hòm

đựng người, Bà chúa Chè, Chúa Trịnh Khải, Loạn kiêu binh),… Tiểu thuyết lịch

sử lúc này mở rộng sang theo hướng “dã sử” (một loại kí ức lịch sử được lưu truyền trong dân gian, khác với chính sử do nhà nước tổ chức hoặc các học giả biên soạn và ấn hành, phần lớn dã sử được truyền miệng từ đời này qua đời khác) chứ không chỉ đóng khung trong chính sử Bấy giờ phong trào yêu nước đang dâng cao, sự ra đời của tiểu thuyết lịch sử chính là sự cổ vũ nhiệt tình cho lòng yêu nước

đó Ðây là thời kỳ tiểu thuyết lịch sử có được bước phát triển mạnh mẽ với số lượng nhiều hơn hẳn thời kỳ trước đó Theo tác giả Bùi Văn Lợi trong Luận án

Tiến sĩ Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX đến 1945:

số lượng tác giả, tác phẩm thời kỳ này có sự tăng lên đáng kể so với giai đoạn trước năm 1930: Nếu như trước năm 1930 số lượng tác giả mới chỉ vỏn vẹn 6 người thì đến giai đoạn 1930 – 1945 đã tăng thêm 10 người nâng tổng số tác giả lên con số 16 Số lượng tác phẩm cũng tăng từ 14 tác phẩm ở giai đoạn trước lên

47 tác phẩm (giai đoạn sau xuất hiện tới 33 tác phẩm mới) [31, tr.81] Các tác

phẩm giai đoạn này đã có quy mô lớn hơn hẳn như: Trần Nguyên chiến kỷ dày 244 trang, Vua Quang Trung dày 219 trang, Hai bà đánh giặc dày 383 trang so với Vua

Bố Cái 63 trang, Lê Đại Hành 56 trang ở thời kỳ trước quả là một bước phát triển

Trang 21

21

lớn Những con số này đã khẳng định sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết lịch sử giai đoạn 1930 – 1945 và cho ta hình dung được phần nào sự phát triển chiều hướng đi lên của bộ phận văn học này trong bối cảnh văn học nói chung

Nếu xét trên phương diện lựa chọn đề tài: Các tác phẩm nhìn chung vẫn đi vào thể hiện hai đề tài chính: yêu nước và thế sự Đề tài chống xâm lược nổi bật

lên là các tác phẩm như Ngọn cờ vàng của Đinh Gia Thuyết, An Tư của Nguyễn Huy Tưởng, Trần Nguyên chiến kỷ của Nguyễn Tử Siêu Ở đề tài nội trị là các tác phẩm Đêm hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng, Ai lên phố Cát của Lan Khai, Bà

chúa Chè của Nguyễn Triệu Luật… Một thực tế là lúc này, đất nước chúng ta đang

bị giặc ngoại xâm đô hộ, các nhà văn đều muốn thể hiện thái độ, tình cảm của mình với đất nước, dân tộc Do vậy, nội dung chính trong tiểu thuyết lịch sử thời

kỳ này là ca ngợi lịch sử dân tộc, ca ngợi con người Việt Nam anh hùng Qua đó, các nhà văn muốn khơi gợi lòng tự hào dân tộc, khích lệ lòng yêu nước của người đọc

Nhìn chung ở giai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1945, các tác giả tiểu thuyết lịch

sử đã bắt đầu khai tâm lí nhân vật rất sắc sảo, lối kết cấu tác phẩm đã bắt đầu có sự biến chuyển, xuất hiện nhiều tác phẩm có lối kết cấu không theo trật tự tuyến tính, kết cấu theo hai tuyến nhân vật Tuy nhiên, ở thời gian đầu, các tác phẩm văn còn

bị ảnh hưởng của lối viết kể chuyện chương hồi, kết cấu thời gian đơn tuyến, ngôn

ngữ biền ngẫu, kết thúc có hậu như các tác phẩm của Nguyễn Tử Siêu, (Vua bà

Triệu Ẩu, Tiếng sấm đêm đông ), Phạm Minh Kiên (Việt Nam Lý trung hưng)

Như vậy, qua những nét khái quát nói trên ta có thể thấy được sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đến 1945 Đó

là một sự phát triển ngày một đi lên cả về số lượng lẫn chất lượng: từ việc gia tăng

số lượng tác giả, tác phẩm lẫn hình thức thể hiện Các tiểu thuyết càng về sau càng

có sự chuyển biến trong kết cấu tác phẩm, khai thác tâm lý nhân vật,… chịu ảnh hưởng từ tiểu thuyết phương Tây hiện đại Đây là những chuyển biến tích cực của một bộ phận tiểu thuyết và sự chuyển biến ấy đã đóng góp một phần không nhỏ vào gia tài chung của văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đến 1945

Trang 22

22

1.2 Khái lược về tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật

1.2.1 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật

Trong quá trình sáng tác của mình, không chỉ một lần nhà văn Nguyễn Triệu Luật đề cập đến quan niệm sáng tác Riêng về tiểu thuyết lịch sử, ông để lại cho đời ba bài tựa để làm rõ quan niệm sáng tác của mình, đó là Lời tựa của ba tác

phẩm Hòm đựng người (1936), Bà chúa Chè (1938), Ngược đường Trường thi

(1939)

So với cách viết tiểu thuyết trước đó Nguyễn Triệu Luật có quan điểm hoàn toàn mới Bàn về cách viết tiểu thuyết lịch sử, ông khẳng định: “Trái lại, viết tiểu thuyết lịch sử (Roman historique) không cần theo phép của sử học, không cần có

sự thật Tác giả chỉ phải tưởng tượng ra một câu chuyện “có thể có” ở một thời đại, rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy Mục đích là lấy một chuyện không đâu mà làm sống một thời đại Những tiểu thuyết “Notre dame de Paris”, “Quatre vingt treize” của Victor Hugo đều là bịa đặt, nhưng đọc chuyện đó ta thấy cả thời

đại hồi vua Louis hồi Đại Cách mạng sống lại” (trích Lời nói đầu cuốn Hòm đựng

người) [33, tr.11] Như vậy, ta thấy tác giả Nguyễn Triệu Luật đề cao cả tính chân

xác của lịch sử và tính hư cấu trong một tiểu thuyết lịch sử Đối với nhà văn này dường như sự thực lịch sử và hư cấu đều hết sức quan trọng không thể coi nhẹ:

“Phần chân sử trong tự cũng như có giá mà phần lông bông thêm thắt may ra cũng

có giá Tưởng đó là một lối viết lịch sử tiểu thuyết nên cho nhập cả vào địa hạt văn

chương…” (trích Lời tựa cuốn Ngược đường Trường thi) [33, tr.362]

Mặc dù yếu tố hư cấu rất quan trọng nhưng là một nhà tiểu thuyết lịch sử có tâm phải có trách nhiệm trung thành với lịch sử có sẵn Theo lời Nguyễn Triệu Luật thì dường như ông muốn lịch sử phải luôn được tôn trọng, có thế nào phải viết thế đấy, nhất định không được bóp méo lịch sử: “Tôi chỉ là thợ vụng, có thể nào làm nên thế, gốc tre già cứ để là gốc tre già, chứ không có thể, và cũng không muốn, hun khói lấy màu, vẽ vân cho thành gốc trúc hóa rồng” (trích Lời tựa cuốn

Bà chúa Chè, 1938) [33, tr.162] Như vậy, ở đây tác giả muốn vạch định rõ

phương châm sáng tác của mình, trong đó việc đánh giá lịch sử phải được xuất

Trang 23

23

phát từ lý trí khách quan, tránh đánh giá bằng tình cảm chủ quan, dễ làm sai lệch lịch sử Cũng vì ý thức tôn trọng lịch sử ấy mà mỗi tác phẩm của nhà văn đều được tác giả viết dựa trên việc nghiên cứu tỉ mỉ, công phu những dữ liệu lịch sử, tránh

việc quá dựa vào hư cấu mà làm sai lệch lịch sử Bộ ba tiểu thuyết Bà chúa Chè,

Chúa Trịnh Khải, Loạn kiêu binh đã làm hiện lên cả một thời kỳ rối ren, u ám của

đất nước xưa với cái nền lịch sử chân thực: đó là một cơ chế quyền lực phức tạp luôn ngấm ngầm tranh giành, đấu đá, chi phối lẫn nhau của vua Lê – chúa Trịnh;

đó là việc phế trưởng lập thứ của Trịnh Sâm; việc quân Tam phủ làm cuộc bạo loạn lập Trịnh Khải lên ngôi Chúa rồi lại ỉ công mà gây nhũng nhiễu, nhiều lần gây sức ép với triều đình, tác oai, tác quái khắp nơi; đó là cuộc Bắc phạt của quân nhà Tây Sơn khiến Trịnh Khải phải bỏ kinh thành chạy trốn, …

Từ những quan điểm kể trên, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của tác giả Nguyễn Xuân Khánh: quan niệm tiểu thuyết lịch sử của tác giả Nguyễn Triệu Luật có thể chia ra làm ba ý chính như sau:

Thứ nhất: Đối với tiểu thuyết mà nhân vật và sự kiện là những điều có thật một trăm phần trăm thì những gì có thật trong lịch sử được đưa vào tiểu thuyết phải được tôn trọng, đánh giá một cách công bằng nhất, không được để tình cảm làm thiên lệch

Thứ hai: Cũng có khi nhà văn phải tưởng tượng ra một câu chuyện có thể có trong quá khứ rồi tự mình viết lại Bởi trước hết nhà tiểu thuyết lịch sử là một người viết tiểu thuyết chứ không phải là nhà sử học Việc đề cao yếu tố hư cấu trong tác phẩm tiểu thuyết lịch sử là do chịu ảnh hưởng từ phương Tây

Thứ ba: Dạng tiểu thuyết thứ ba mà Nguyễn Triệu Luật đề cập là dạng tiểu thuyết trộn lẫn chân sử và hư cấu Trong đó vai trò giữa chân sử và hư cấu đều hết sức quan trọng Đây là loại tiểu thuyết lịch sử hay được sử dụng ngày nay

(Nguyễn Xuân Khánh, Những quan điểm sáng tác tiểu thuyết lịch sử của

nhà văn Nguyễn Triệu Luật, 8/2012) [19, tr.77]

Những quan niệm nghệ thuật này đã có tác động không nhỏ đến các sáng tác tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật, đã giúp định hướng phong cách, sự

Trang 24

24

nghiệp của nhà văn trong suốt quá trình cầm bút Từ việc tìm hiểu những quan niệm này ta có thể tiếp cận các tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật dễ dàng hơn, đồng thời nó còn góp phần giúp chúng ta hiểu biết được phần nào về con người và tài năng của tác giả

1.2.2 Nguyên nhân lựa chọn thể tài tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật

Nguyễn Triệu Luật là nhà văn nổi tiếng trên văn đàn Việt Nam từ những năm 30 thế kỷ trước Ông cùng với nhiều tác giả tên tuổi bấy giờ như Ngọc Giao, Nguyễn Công Hoan, Lan Khai, Lê Văn Trương, Vũ Bằng, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm,… tham gia vào nhóm Tân Dân hay còn gọi là nhóm Tiểu Thuyết Thứ Bảy, viết và xuất bản nhiều ấn phẩm văn hóa có giá trị, gây tiếng vang trên văn đàn bấy giờ Song, không giống như đa phần các bạn văn của mình chọn đề tài về cuộc sống hiện tại bấy giờ, Nguyễn Triệu Luật tự tìm cho mình một con đường riêng: tìm về quá khứ Cùng với Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật là một trong hai cây bút viết tiểu thuyết lịch sử của nhóm Tân Dân, giúp cho đề tài lịch sử có chỗ đứng vững chắc trong khối lượng không nhỏ các tác phẩm với đề tài khác của nhóm

Lựa chọn một thể tài khó viết như tiểu thuyết lịch sử lại sáng tác nhiều, sáng tác nhuần nhuyễn, nhận được sự yêu mến của đông đảo bạn đọc và giới phê bình,… tất cả đòi hỏi một bản lĩnh không nhỏ ở Nguyễn Triệu Luật Nguyên cớ tìm đến với thể tài này của nhà văn có thể kể đến các nguyên nhân sau: nguyên nhân xuất phát từ bối cảnh xã hội bấy giờ; nguyên nhân xuất phát từ gia thế của nhà văn; nguyên nhân xuất phát từ công việc nhà văn làm cùng với nghề viết báo; cuối cùng là nguyên nhân xuất phát từ hoài bão cá nhân của Nguyễn Triệu Luật

Thứ nhất, bối cảnh xã hội rối ren của đất nước bấy giờ đã có tác động không nhỏ đến các sáng tác của nhà văn Nguyễn Triệu Luật Sống giữa một xã hội thuộc địa nửa phong kiến đầu thế kỷ XX, nhà văn với tư cách một người dân của một đất nước nô lệ, đã sớm thấu hiểu sâu sắc nỗi đau khổ, nhục nhã dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến Cùng với công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp thi hành nhiều đạo luật dã man và hà khắc đối với người dân Việt Nam

Trang 25

25

Trong bối cảnh đó, từ người nông dân thấp cổ bé họng đến người trí thức tiểu tư sản đều sống trong cuộc sống khiếp nhược, lo sợ, buồn bã, chán nản Thực dân Pháp còn cho xây dựng nhiều nhà tù hơn trường học, áp dụng chính sách ngu dân, bắt người Việt Nam học tiếng Pháp, viết chữ Pháp, văn hóa, lịch sử hàng ngàn năm của nước Việt Nam không được phổ biến hay nhắc tới Tình hình xã hội ấy đã thôi thúc Nguyễn Triệu Luật một nhà văn có nhân tâm chọn đề tài lịch sử làm đề tài chính cho các sáng tác của mình Qua đó nhắc lại cho cả dân tộc những bài học lịch sử của ông trong quá khứ, đem câu chuyện lịch sử soi sáng các vấn đề đương đại để từ đó khơi dậy, thức tỉnh mỗi con người Việt Nam trước cảnh đất nước lầm than đang hiển hiện ngay trước mắt Chính Nguyễn Triệu Luật đã từng tâm sự rằng: “Với tôi thì không phải những khi đất nước bình yên, thịnh vượng mà những khi đất nước tang thương, khốn đốn, tôi mới càng yêu đất nước hơn” (dẫn theo Nguyễn Chí Tình) [19, tr.33] Cũng chính lý do này mà tác giả không lựa chọn những thời điểm lịch sử hào hùng, tươi đẹp trong quá khứ mà lại chọn viết về một thời điểm lịch sử nhiều rối ren, biến động như thời Lê mạt, Nguyễn Triệu Luật cho rằng: “chính trong thời kỳ lắm cái đau, cái khổ ấy, lịch sử và dân tộc mới để lộ hết thực chất, hết muôn mặt có thực của nó, và chúng ta cũng rút ra nhiều bài học hơn” [19, tr.33]

Thứ hai, việc sinh trưởng trong một gia đình Nho học truyền thống và quá trình lớn lên đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc lựa chọn thể tài của tác giả Nguyễn Triệu Luật xuất thân từ gia đình khoa bảng tiếng tăm Ông nội tác giả, Hoàng Giáp Nguyễn Tư Giản (1823 - 1890), từng làm đến Thượng thư Bộ lại dưới triều Tự Đức, cũng từng là một tác giả để lại cho đời nhiều áng văn thơ Ông cũng là cháu năm đời của Nguyễn Án, một danh sĩ nổi tiếng thời Lê Mạt – Nguyễn sơ, tác giả

Tang thương ngẫu lục (viết chung với Phạm Đình Hổ) nổi tiếng đương thời Gia

đình khoa bảng nền nếp đã sớm tôi rèn cậu bé Nguyễn Triệu Luật trong cái nôi của giá trị văn hóa, lịch sử Việt Nam Chịu ảnh hưởng của Nho học, lớn lên lại theo học trường Tây (ông từng là sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, ban xã hội) cho nên Nguyễn Triệu Luật am hiểu văn hóa, lịch sử một cách đa dạng,

Trang 26

26

sâu sắc Gia thế và quá trình học tập ấy đã giúp tác giả có được những kiến thức vững vàng, cũng như một nhãn quan tinh nhạy, một tầm văn hóa nhất định để sau này mạnh dạn theo đuổi một thể tài “khó nhằn” như tiểu thuyết lịch sử

Nguyên nhân thứ ba và cũng hết sức quan trọng trong việc tạo nên ý định lựa chọn thể tài lịch sử của tác giả xuất phát từ nghề nghiệp của ông: một giáo viên dạy Sử Tốt nghiệp xong trường Cao Đẳng Sư phạm, ông trở thành một giáo viên chuyên dạy hai môn Văn học và Lịch sử Suốt quá trình dài học tập về văn học và lịch sử, lại bỏ nhiều thời gian nghiên cứu hai môn này trong thời gian giảng dạy đã tạo cho Nguyễn Triệu Luật kiến thức nền vững chắc khiến cho việc lựa chọn tiểu thuyết lịch sử tưởng khó khăn nhưng sự thực đó lại là “sở trường” của ông

Thứ tư là nguyên nhân xuất phát từ chính hoài bão cá nhân của tác giả Sống trong bầu không khí ngột ngạt của nhiều thập kỉ nô lệ dưới ách thống trị của thực dân, Nguyễn Triệu Luật sớm đã có trong mình một ngọn lửa căm thù giặc ghê gớm, một ý chí quyết tâm cống hiến tuổi thanh xuân cho một tương lai xán lạn hơn cho dân tộc Ông tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1929 với mong muốn cùng với nhiều trí thức khác làm cuộc cách mạng thay đổi vận mệnh đất nước mình Tuy vậy, sau khởi nghĩa Yên Bái (2/1930) thất bại, Quốc Dân Đảng tan rã, bản thân Nguyễn Triệu Luật cũng phải ra tù vào tội, ông đâm ra hoang mang với chính con đường đã chọn Vì thế, không thành công với con đường cải cách xã hội, Nguyễn Triệu Luật trở về đời thời viết văn, viết báo hỏng cải cách đời sống tinh thần của người dân Việt Hoài bão đó đã dẫn ông đến với tiểu thuyết lịch sử Ông

viết nhiều cho các báo như Trung Bắc Tân Văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Phổ thông

bán nguyệt san… với nhiều bài viết có giá trị được người đọc đương thời đón nhận

nhiệt tình Trong số đó, ông lựa chọn viết nhiều và tập trung viết những truyện lịch

sử, nhắc nhở, thức tỉnh người dân nước nhà đang trong cảnh nô lệ lúc bấy giờ những bài học lịch sử, văn hóa của cha ông Tác giả Nguyễn Chí Tình đã từng thuật lại cuộc đối thoại giữa cha ông và Nguyễn Triệu Luật, trong đó Nguyễn Triệu Luật đã nhiều lần thể hiện sự xúc động khi nhắc tới công việc của nhà cách mạng: Khi đồng chí Nguyễn Thái Học hi sinh, ông Luật đã rất buồn bã: “Xin lỗi ông Hiệu

Trang 27

27

trưởng, hôm nay trong giờ Sử ở lớp đệ tam, tôi đã không theo đúng chương trình sắp sẵn Vì hôm nay là ngày người đồng chí của tôi Nguyễn Thái Học đã bị hành hình sau một cuộc chiến đấu anh dũng Tôi quá xúc động, không thể giảng bài đã chuẩn bị, mà phải kể lại tấm gương của người anh hùng cho các học sinh Tôi tin rằng đó là một trang sử bổ ích” Hay trong lần buổi gặp gỡ cuối cùng với cha tác giả Nguyễn Chí Tình, Nguyễn Triệu Luật cũng thẳng thắn bộc lộ hoài bão và khát vọng làm cách mạng của mình: “Nếu chúng ta chỉ biết hoạt động bằng viết văn, viết báo, dạy học thì vẫn còn những người như thân phụ anh hay đồng chí Nguyễn Thái Học của tôi phải lên máy chém mà thời thế vẫn chẳng thay đổi được Chúng

họ thể hiện rõ khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa Riêng đối với Nguyễn Triệu Luật, lịch sử với ông là lịch sử chân thực Ở tác giả luôn có sự trung thành tuyệt đối với các nhân vật và sự kiện lịch sử

Nguyễn Triệu Luật (1903 - 1946), bút hiệu là Dật Lang, Phất Văn Nữ Sĩ, quê ở Đông Anh, Hà Nội Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng, nhiều người

Trang 28

28

đỗ đạt làm quan đến Thượng thư, Thị lang trong suốt các triều đại lịch sử Ông vừa

là một nhà văn, vừa là một nhà báo, vừa tham gia dạy sử, nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Nguyễn Triệu Luật có tổng cộng 8 cuốn tiểu thuyết lịch sử hoàn chỉnh

còn lưu giữ lại đến ngày nay: Hòm đựng người (in từng kỳ trên báo Nhật Tân vào năm 1936, 1938 in thành sách), Bà chúa Chè (Nxb Tân Dân - Hà Nội, 1938),

Loạn kiêu binh (Nxb Tân Dân - Hà Nội, 1939), Ngược đường Trường thi (Phổ

thông bán nguyệt san số 46, 1939), Chúa Trịnh Khải (Nxb Tân Dân - Hà Nội,

1940), Rắn báo oán (1941), Thiếp chàng đôi ngả (in chung với Rắn báo oán, 1941), Bốn con yêu và hai ông đồ (1943)

Ngoài ra, Nguyễn Triệu Luật còn có một cuốn tiểu thuyết nữa là Chúa cuối

mẻ đang in dở trên nguyệt san Tiểu thuyết thứ bảy (từ số 1, 6/1944 đến số 9,

3/19445) Tiểu thuyết lịch sử là đề tài chính trong sự nghiệp sáng tác văn học của ông “Đương thời, ông là nhà văn được độc giả yêu thích, với bút pháp mổ xẻ và

hư cấu lịch sử táo bạo, trần trụi, và chân thực đến độ người đọc không hề mảy may cảm thấy nhà văn nói thay lịch sử, không phá vỡ khuôn hình lịch sử dẫn đến bôi bác lịch sử bằng những tưởng tượng lãng mạn nhạt nhẽo Lịch sử trong tiểu thuyết của ông hàm chứa nhiều dự báo cho hiện tại, song vẫn là một lịch sử vận động tự

nó, theo đúng những quy luật như là nó đã từng là” [19; 247] Không như nhiều tác giả cùng thời, Nguyễn Triệu Luật không lựa chọn đề tài lịch sử trải qua nhiều thế

kỷ, ông có sự quan tâm đặc biệt tới giai đoạn lịch sử thời mạt vận của tập đoàn phong kiến Lê mạt thế kỉ XVIII Đã từng có độc giả viết thư trách hỏi ông, tại sao không viết về lịch sử đau thương của dân tộc hồi cuối thế kỷ XIX Đáp lại, Nguyễn Triệu Luật trả lời rằng: “Lịch sử chỉ là cuộc diễn lại những trò cũ Bước loạn vong, đông tây cổ kim vẫn tương tự như nhau Đã thế thì, gần xa âu cũng thế thôi, can chỉ phải xem việc gần mới biết việc gần Con người ta, có ruột gan ra, thì chuyện người xa muôn dặm, ngàn năm cũng đủ cảm Mà không có ruột gan chi, thì chuyện trong nhà, nước mắt, ruột thịt, cũng vẫn thờ ơ” [33, tr.20] Qua câu trả lời với độc giả thời ấy, Nguyễn Triệu Luật thể hiện rõ quan điểm của mình khi lựa chọn đề tài lịch sử Chỉ cần có cái tâm với lịch sử thì chuyện xưa hay chuyện nay

Trang 29

29

cũng đều có ý nghĩa cả Tiểu thuyết lịch sử vốn lấy chuyện xưa để nói nay Ðất nước hiện tại đang trong cảnh nô lệ, Nguyễn Triệu Luật mong muốn bạn đọc nhìn vào quá khứ để thấy lại lịch sử dân tộc, thức tỉnh lòng tự hào, tự tôn dân tộc và tấm lòng yêu nước ở mỗi con người Cũng cùng chung ý đó, theo lời tác giả Nguyễn Chí Tình thì thân sinh của ông và Nguyễn Triệu Luật có quan hệ rất thân thiết, khi được cha tác giả hỏi về lý do lựa chọn thời điểm lịch sử đất nước nhiều đau thương như nhà Lê – Trịnh để viết Nguyễn Triệu Luật đã trả lời: “tôi thấy mình bị hút về những chuyện u ám trong lịch sử Mà nói cho cùng, chính trong thời kỳ lắm cái đau, cái khổ ấy, lịch sử và dân tộc mới để lộ hết thực chất, hết muôn mặt có thực của nó, và chúng ta cũng rút ra nhiều bài học hơn Với tôi thì không phải những khi đất nước bình yên, thịnh vượng mà những khi đất nước tang thương, khốn đốn, tôi mới càng yêu đất nước hơn” [19, tr.33]

Trong nhà Tân Dân, Nguyễn Triệu Luật là một nhà tiểu thuyết lịch sử có một lối viết khác hẳn so với Lan Khai Trong số các nhà tiểu thuyết lịch sử đương thời, Lan Khai được cho là người viết nhiều, viết khỏe nhất (đến hơn 20 tiểu

thuyết) Tiêu biểu như là: Ai lên phố Cát, Chiếc ngai vàng, Cái hột mận, Bóng cờ

trắng trong sương mù, Cánh buồm thoát tục, Theo lớp mây đưa, Cưỡi đầu voi dữ… Các tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai chủ yếu quan tâm đến khía cạnh nghệ

thuật, tức ở sự hư cấu, sáng tạo trên một cái nền lịch sử Ông cho rằng nếu nhà lịch

sử đi tìm cái “nguyên sự thực”, gác bỏ lại những điều huyền hoặc, mơ hồ thì nhà viết tiểu thuyết lịch sử lại được quyền “biên chép tất cả để thêm hứng thú cho câu chuyện mình kể [51, tr.47] Ông chỉ cốt làm sao để làm sinh động hơn các nhân vật lịch sử có thật, để qua nhân vật lịch sử, bài học lịch sử ông giãi bày tâm sự, quan niệm của chính mình Bên cạnh lớp nhân vật có thật trong lịch sử thì tác giả dành nhiều trang viết cho những nhân vật hoàn toàn hư cấu như Thục Nương, Yến Xuân, nàng Nhạn, Tiên Nhân, Bội Ngọc,… Phong cách của Lan Khai có phần thiên theo hướng lãng mạn và bao giờ trong đó cũng có mối tình trai gái đau

thương như chuyện tình Chiêu Hoàng và Trần Cảnh trong Chiếc ngai vàng, nàng Nhạn và Bàng Tuyết Hận trong Đỉnh non thần, Hoàng Thiếu Hoa và Thục Nương

Trang 30

30

trong Gái thời loạn, Vì mượn truyện kí thác tâm sự nên cách miêu tả nhân vật,

tâm lý nhân vật trong tiểu thuyết của ông nhiều khi còn hơi hiện đại, với nhiều hư cấu, thêm thắt nên đôi khi đọc tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai người ta lại lầm tưởng đang đọc tiểu thuyết tâm lý, tình cảm hay tiểu thuyết kiếm hiệp

Khác với Lan Khai, phong cách viết tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật lại thiên theo hướng hiện thực Ông cố gắng khắc họa và trung thành ở mức

độ cao với các chi tiết lịch sử có thật Những hư cấu, sáng tạo của Nguyễn Triệu Luật chỉ mang tác dụng làm cho sự thực “thật hơn cả thật” mà thôi Các hư cấu mà ông cho là phần “lông bông” cũng chắt lọc ra từng chính những kiến thức khoa học sâu rộng của tác giả về văn hóa, lịch sử và ngôn ngữ Nhiều nhà nghiên cứu khi đọc tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật đã cho rằng ông chịu ảnh hưởng quá

nhiều từ Hoàng Lê nhất thống chí Thậm chí có một số quan điểm cực đoan còn

nhận định truyện của ông vừa khô khan, nặng nề các chi tiết lịch sử, thậm chí còn

bị cho là “thích khoe chữ” Nguyên nhân gây ra những đánh giá trái chiều này là

do tác giả Nguyễn Triệu Luật luôn cố gắng tôn trọng lịch sử, “có thế nào viết thế ấy” và do những kiến thức lịch sử phong phú, sinh động của chính tác giả (vốn là một nhà sử học, một giáo viên dạy sử) mang lại Tuy vậy, đây cũng có thể xem là

ưu điểm của văn chương Nguyễn Triệu Luật, các tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật không chỉ mang tới cho độc giả những bài học từ lịch sử chân thật, mà còn đem đến những kiến thức văn hóa, kinh tế, chính trị, ngôn ngữ phong phú của một thời đại đã qua Xét cho cùng, so với việc cố thêm thắt, hư cấu sao cho hay, cho bay bổng để thu hút người đọc, việc hư cấu sao cho sát thực, cho phù hợp với lịch

sử, cho người đọc khi đọc tác phẩm có được một trải nghiệm quay ngược thời gian đích thực (viết hư cấu mà không làm người ta nhận ra là hư cấu, lại cứ tin đó là sự thực) thì đòi hỏi người viết phải dày công nghiên cứu, tìm tòi hơn nhiều

Khác với nhiều nhà tiểu thuyết lịch sử đương thời, Nguyễn Triệu Luật chỉ tập trung viết về giai đoạn lịch sử xác định: nhà Lê mạt, cuối Lê đầu Nguyễn Chính vì vậy ông phải huy động một lượng kiến thức tổng hợp không nhỏ trên nhiều lĩnh vực để có thể tái hiện sinh động thời đại lịch sử này trong nhiều tác

Trang 31

31

phẩm, hòng tạo nên một bức tranh lịch sử chung về một giai đoạn nhiều biến cố

của lịch sử nước nhà Bộ ba tác phẩm Bà chúa Chè, Chúa Trịnh Khải và Loạn kiêu

binh là một chuỗi tác phẩm liên hoàn, mỗi tiểu thuyết nhằm đến một nhân vật lịch

sử nhất định, một sự kiện nhất địch, quyển viết sau nối tiếp quyển viết trước, quyển

trước là nguyên nhân của quyển sau Trong lời Tựa xuất bản Bà chúa Chè năm

1938 Nguyễn Triệu Luật cũng nói rất rõ: “Vì mê Bà chúa Chè (tức Đặng Thị Huệ -

V.Đ.H) chúa Trịnh Sâm mới bỏ con trưởng lập con thứ Vì bỏ con trưởng lập con thứ, triều đình mới sinh ra vây cánh Vì bè đảng vây cánh, Kiêu binh mới làm loạn

Vì muốn trị Kiêu binh, chúa Trịnh Khải mới giở tay không kịp, trong nội trị bỏ bễ, ngoài vô tâm với cường lân Nhân tâm ly tán, nhà Trịnh mới đứng vào cái địa vị

mạt vận tàn hôi Trong việc chôn nhà Trịnh, Bà chúa Chè là người đào hố; lũ kiêu

bình là lũ đứng chực đẩy người xuống hố; chúa Trịnh Khải là người bị chúng đẩy nhưng cứ chạy quanh miệng hố mà vừa tránh vừa tìm cách đuổi lũ chôn người Lũ chôn người chạy tan rồi, chúa đương lúi húi một mình lấp hố thì vụt đâu có người

xa chạy đến, đẩy mạnh một cái, thế là xong đời, xong cả cơ đồ họ Trịnh Tôi phải đem ba việc: đào hố, đẩy người, và sa hố là ba việc dính liền nhau chép riêng ra

Độc giả đọc xong Bà chúa Chè tức là đã xem việc đào hố Sau đây đọc Chúa Trịnh

Khải và Loạn Kiêu Binh, độc giả sẽ được xem việc sa hố và đẩy người Xong, độc

giả sẽ xem chuyện Cống Chỉnh là chuyện anh chàng từ xa chạy lại đẩy sấp người xuống hố” Có thể tổng hợp thế này: tiểu thuyết Bà chúa Chè là “khởi mào” sự suy vong của nhà Trịnh, Loạn kiêu binh là sự suy tàn, khủng hoảng nghiêm trọng của nhà Trịnh, Chúa Trịnh Khải là người cố gắng cứu vớt nhà Trịnh nhưng không

thành Tóm lại bộ ba tiểu thuyết quyển sau nối tiếp quyển trước đã giúp độc giả có được một cái nhìn toàn diện, chi tiết, hệ thống về một giai đoạn lịch sử, khiến lịch

sử hiện diện rõ nét, sinh động hơn đối với bạn đọc Quyển Hòm đựng người lại, tác

giả viết trước đó lại mang đến cho độc giả một ấn tượng khác hẳn về tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật Ở đây, tác giả chỉ dựa trên một giai đoạn lịch sử xác định (cũng là Lê mạt) để viết nên những câu chuyện, những nhân vật hoàn toàn hư cấu Đây có thể coi là một trong những tiểu thuyết lịch sử nhiều hư cấu nhất của tác giả

Trang 32

32

Tuy các nhân vật, câu chuyện không có thật, song người đọc khi đọc cuốn tiểu thuyết này thì lại cảm thấy nó vô cùng chân thực Nguyên do là vì những hư cấu trong tác phẩm được tác giả viết nên dựa trên một quá trình tìm tòi, nghiên cứu lâu năm về văn hóa, lịch sử của giai đoạn ấy Những tòa lăng trắng muốt, những cung nhân lặng lẽ như những bóng ma, những hình phạt ghê rợn của Tòa án cổ xưa, … tất cả đều được viết dựa trên các dữ liệu lịch sử có thật mà tác giả thu thập được

Vì thế câu chuyện bi thảm của cung nữ Ấu Mai và biết bao người con gái chốn hậu cung cả đời bị giam hãm trong cung điện rồi sơn lăng diễn ra trước mắt độc giả như một cuốn phim chân thực Không chỉ cung cấp cho chúng ta một câu chuyện đẫm nước mắt của người cung nữ mà còn mang đến những kiến thức phong phú về kiến trúc, luật pháp, trang phục, phong tục, ngôn ngữ của thời đại cuối Lê đầu Nguyễn

Như vậy, qua các tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Triệu Luật ta có thể thấy được một bức tranh hoàn chỉnh cả về lịch sử, văn hóa, chính trị, kinh tế của một giai đoạn lịch sử xác định (cuối Lê đầu Nguyễn) Đây cũng là nét đặc trưng trong sáng tác của nhà văn và cũng là điểm đặc biệt khiến tiểu thuyết lịch sử khác biệt Theo tác giả Mai Thị Thanh Hà, ông có lối viết lịch sử chân thực hơn hẳn sovới các nhà tiểu thuyết lịch sử đương thời Viết tiểu thuyết lịch sử mà cuốn trước nối cuốn sau, cuốn sau là kết quả của cuốn trước chứng tỏ ở tác giả một khả năng hệ thống các kiến thức mạnh mẽ, một nhãn quan lịch sử sâu sắc Với khối lượng tiểu thuyết tương đối nhiều (gần chục cuốn tiểu thuyết lịch sử) lại hầu hết viết về cùng một thời điểm lịch sử, điều này đòi hỏi ở tác giả khả năng đào sâu tìm tòi và thách thức cả ngòi bút sáng tạo của nhà văn Vì vậy, trong dòng tiểu thuyết lịch sử đầu thế kỷ XX, Nguyễn Triệu Luật xứng đáng trở thành một tác giả tiểu thuyết lịch sử chân chính, một nhà văn có tài, có khả năng lôi cuốn đông đảo độc giả bởi những câu chuyện lịch sử “không cố tình làm màu” mà vẫn chân thực “hơn cả thực”

Tóm lại, trên đây chúng tôi vừa trình bày những nét khái lược về tiểu thuyết lịch sử nói chung và tiểu thuyết lịch sử Việt Nam giai đoạn những năm đầu thế kỷ

Trang 33

33

XX đến 1945, từ cái nền đó chúng tôi nêu lên những nét khái quát về quan niệm nghệ thuật, nguyên nhân chi phối sáng tác và giới thiệu các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật nhằm giúp người đọc có được một hình dung nhất định về vị trí, vai trò của tác giả trong nền văn học nước nhà Đây sẽ là cơ sở để chúng tôi đi sâu tiếp cận văn bản tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật một cách cụ thể ở các chương tiếp theo của công trình

Trang 34

34

Chương 2: TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ NGUYỄN TRIỆU LUẬT

TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA

Trong chương 2 của công trình, chúng tôi tiến hành tìm hiểu tiểu thuyết lịch

sử Nguyễn Triệu Luật từ góc độ văn hóa bằng cách chỉ ra giới thuyết về khái niệm văn hóa, văn hóa học và phân tích các tiểu thuyết lịch sử dưới nhiều góc độ: không gian văn hóa, nhân vật – chủ thể văn hóa… Qua chương này, chúng tôi hi vọng sẽ

mở ra một hướng tiếp cận hoàn toàn mới về tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật (tiếp cận từ góc độ văn hóa), đồng thời chỉ ra được những giá trị mà các tiểu thuyết mang lại, đóng góp phần nào vào việc nhìn nhận con người và tài năng của tác giả

2.1 Giới thuyết về khái niệm văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

2.1.1 Khái niệm văn hóa

Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với nhiều cách hiểu khác nhau, gây nhiều tranh cãi Theo Wikipedia, ở phương Tây, theo gốc La tinh, văn hóa ban đầu được hiểu là giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trồng trọt [27] Với cách hiểu này, văn hóa gắn liền với quá trình trong đó con người tạo ra các sản phẩm về vật chất và tinh thần, gắn liền với quá trình giáo dục, nuôi dạy và đào tạo con người Ở Trung Hoa, thế kỷ thứ VI trước công nguyên, Khổng Tử đã dùng thuật ngữ “văn” với ý nghĩa là hình thức đẹp đẽ, biểu hiện trong lễ nhạc, đặc biệt trong ngôn ngữ,

giao tiếp, ứng xử của con người với đồng loại Về sau, văn được hiểu là vẻ đẹp,

hóa là sự biến đổi, văn hóa là biến cải, biến đổi bồi đắp cho đẹp Cùng với thời

gian và nhận thức của con người, ý nghĩa của văn hóa ngày càng được mở rộng

phong phú Theo Lương Văn Kế trong tác phẩm Thế giới đa chiều, ngay từ những

năm 1952, hai nhà nhân loại học Mĩ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới [26, tr.313] Tại hội nghị Quốc tế UNESCO năm 1992 ở Mexico, các nhà văn hóa đến từ hơn 100 quốc gia đã thống nhất đưa ra 200 định nghĩa về văn hóa Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc học,

Trang 35

35

nhân loại học, dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,… và định nghĩa về văn hóa ở mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó lại khác nhau Năm 1994, nhà nghiên cứu Phan Ngọc cũng sưu tập và thống kê được đến 300 định nghĩa về văn

hóa trong cuốn Văn hóa Việt Nam với cách tiếp cận mới [36, tr.104]

Tại hội nghị quốc tế UNESCO năm 1992, văn hóa đã được các nhà khoa học định nghĩa là “Tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi sét về bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý” [9, tr.5 – 6]

Văn hóa là một khái niệm nhiều ý nghĩa Trong Tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng chỉ học thức, lối sống, theo nghĩa chuyên biệt chỉ trình

độ phát triển của một giai đoạn, còn theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến những tín ngưỡng, phong tục, lối

sống,… Theo Từ điển Tiếng Việt (1997) của Nxb Giáo dục trang 1247, văn hóa

được định nghĩa bằng 4 nghĩa: “1 - Những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử nền văn hóa của các dân tộc; 2 – Đời sống tinh thần của con người; 3 – Tri thức khoa học, trình độ học vấn; 4 – Lối sống, cách ứng xử có trình

độ cao, biểu hiện văn minh” [30, tr.1247] Trong tác phẩm Toàn thư quốc tế về văn

hóa, trang 164 đã đưa ra định nghĩa: “văn hóa là tập hợp các hệ thống biểu tượng,

nó quy định thế ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng biệt” Tác giả Phan Ngọc thì nhận định: “Văn hóa là mối quan hệ trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều bị cá nhân hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó

là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người khác” [37, tr.17]

Trang 36

36

Mặc dù có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về văn hóa, nhưng tóm lại ta

có thể hiểu như sau: Văn hóa là một khái niệm rộng bao gồm: giá trị, chuẩn mực quy tắc, thiết chế và những yếu tố có tính nhân tạo của một cộng đồng nhất định Văn hóa là cái mà con người và cộng đồng hình thành nên có tính tự nhiên, truyền

từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo ra tính khác biệt giữa tập hợp này với tập hợp khác Vì thế, đặc trưng cơ bản của văn hóa là dân tộc và thẩm mỹ

2.1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học

Như chúng ta đã biết: văn học là một thành tố của văn hóa, nằm trong văn hóa và vì thế chịu sự chi phối của văn hóa Chúng tôi đồng ý với quan niệm của Bakhtin khi cho rằng: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Không thể hiểu nó ngoài bối cảnh nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong

đó nó tồn tại” [39, tr.29] Trong quá trình sáng tác, mỗi nhà văn đều phải tạo nên đứa con tinh thần dựa trên một nền tảng rộng lớn là văn hóa dân tộc và nhân loại Có thể coi văn học là một tấm gương phản chiếu bộ mặt văn hóa của mỗi thời đại, mỗi dân tộc và nó là sự kết tinh toàn bộ các phương diện của văn hóa vào trong thế giới nghệ thuật của mình

Sử dụng sức mạnh của ngôn từ, văn chương có lợi thế diễn đạt trực tiếp lớp vỏ

tư duy lẫn bề sâu của cảm xúc, có khả năng to lớn trong việc hình thành giá trị tinh thần và đời sống của văn hóa dân tộc Vì thế, nếu hiểu văn hóa là những giá trị đọng lại trong tâm trí con người sau sự vùi dập của thời gian thì hình ảnh đẹp và sâu sắc của diện mạo, bản sắc văn hóa Việt Nam lại thể hiện rõ nét qua văn học Để xây dựng tác phẩm văn học, nhà văn có thể dựa vào những tư liệu từ sử học, kinh tế học, thống kê học, xã hội học, dân tộc học Chẳng thế mà các tiểu thuyết của Banzac luôn được coi như một kho tư liệu phong phú về văn hóa, kinh tế, phong tục của nước Pháp hay những tác phẩm của M.Gorki bao chứa trong nó những hình ảnh sâu lắng của văn hóa Nga (con người, xã hội, phong tục tập quán, …) và “tư tưởng về tính tích cực xã hội của văn học ở Gorki có các cội nguồn văn hóa sâu xa” [44]

Vì tính chất đặc thù kể trên mà văn học thường được coi là một sản phẩm văn hóa đặc biệt và là bộ phận quan trọng nhất của văn hóa, một yếu tố chủ đạo

Trang 37

37

trong hệ thống văn hóa Song, nó không phải là một yếu tố bất biến, nó cũng thường xuyên thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn văn hóa Văn học biết tiếp thu những gì ngoài hệ thống vốn có để phát triển Nếu như tiếp thu đến một mức

độ nhất định thì yếu tố văn học sẽ không còn phù hợp với hệ thống văn hóa nữa, nó

sẽ chống lại hệ thống, làm cho hệ thống phải thay đổi cùng với nó Tuy vậy văn học vẫn chỉ là một yếu tố của văn hóa, nó không thể trực tiếp tác động đến hệ thống xã hội mà phải gián tiếp qua hệ thống văn hóa và chỉ có thể tác động đến hệ thống xã hội thông qua văn hóa Cho nên, nghiên cứu văn học phải dựa trên cái khung nghiên cứu văn hóa

Tìm hiểu một tác phẩm văn học theo quan điểm văn hóa là vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của các tác phẩm Một cách tổng quát phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa ưu tiên cho việc phục nguyên các không gian văn hóa, trong đó tác phẩm văn học đã

ra đời , xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, pháp luật, thẩm mỹ, quan niệm về con người cũng như sự chi phối của các phương tiện khác nhau Phương pháp này là sự tổng hợp, trung gian giữa những phương pháp tìm hiểu văn bản khác nhau nhưng vẫn có đặc trưng riêng: thiên về giải mã các hiện tượng nghệ thuật, tìm ra nền tảng văn hóa lịch sử của chúng đồng thời nhấn mạnh đến sự liên tục, đến tính chất mở của chúng trong không gian và thời gian Tác giả Trần Nho Thìn định nghĩa: “Cách tiếp cận văn hóa học… không chủ trương miêu tả thế giới nghệ thuật của các tác phẩm như một vũ trụ khép kín, có giá trị tự thân mà đặt ra nhiệm vụ đối chiếu, so sánh, truy nguyên các quan niệm văn hóa của thời đại nơi tác phẩm được sản sinh để tìm nguồn gốc của các dạng thức quan niệm về con người, về không gian, thời gian trong tác phẩm Tiếp cận văn hóa học thực chất là tiếp cận liên ngành, nơi yêu cầu vận dụng tổng hợp tri thức về lịch sử, tôn giáo, khảo cổ học, nhân loại học, … để giải mã các hiện tượng thi pháp tác phẩm văn học” [48, tr.19]

Hiện nay ở nước ta đã có không ít những công trình nghiên cứu văn học đi sâu vào tìm hiểu văn học trong mối quan hệ với văn hóa như nghiên cứu của tác

Trang 38

38

giả Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung (1997) của Trần Ngọc Vương,

Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học (1997) của Đỗ Thị Minh Thúy, Từ cái nhìn văn hóa (1999) của Đỗ Lai Thúy, Văn học trung dại Việt Nam dưới cái nhìn văn hóa (2007) của Trần Nho Thìn, Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa (2011)

của Lê Nguyên Cẩn, … Từ thực tế và những thành quả mà các công trình nghiên cứu kể trên mang lại, chúng ta thấy được một số thế mạnh trong việc sử dụng phương pháp tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa

Việc tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa đã cho phép khắc phục được tình trạng đánh giá văn học trong phạm vi hạn hẹp, chuyên biệt Bản chất của văn hóa là phạm vi rộng bao gồm rất nhiều yếu tố, việc văn học được chiếu qua lăng kính văn hóa sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn nhiều chiều, đa dạng hơn, tránh sự phiến diện, cực đoan, cảm tính trong nghiên cứu “Việc nghiên cứu như cũ thì phạm vi văn học bị hạn hẹp, còn chuyển sang nghiên cứu văn hóa thì sẽ làm cho nghiên cứu văn học gắn với đời sống đương đại, là một cách để nó

tự cứu mình” [45, 2]

Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa cũng là tìm hiểu vị trí của nhà văn trong dòng chảy lịch sử văn hóa dân tộc Mỗi nhà văn luôn sáng tác dưới sự chi phối của một nền văn hóa nhất định Tác phẩm văn học chính là đứa con tinh thần của nhà văn, một cá nhân lịch sử trong một nền văn hóa cụ thể Vì thế, mỗi nhà văn cũng có tư cách như nhà văn hóa, họ phản ánh lại trong chính tác phẩm của mình những tinh hoa của văn hóa dân tộc mỗi giai đoạn

Như vậy, việc tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ hơn, toàn diện hơn và mới mẻ hơn và tác phẩm văn học Trong công cuộc hội nhập và giao lưu mạnh mẽ về văn hóa như hiện nay thì việc nhìn văn học như một hiện tượng văn hóa sẽ làm cho nghiên cứu văn học gắn bó hơn với đời sống đương đại tạo nên sự hấp dẫn, sáng tạo trên việc tiếp nhận văn học

2.2 Các thành tố văn hóa trong tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật

Giá trị văn hóa hay còn gọi là những giá trị xã hội, nó gắn liền với sự tồn tại

và phát triển của xã hội Mỗi xã hội lại có những tiêu chí giá trị khác nhau tạo nên

Trang 39

hệ giá trị thẩm mỹ của thời đại nó sinh ra mà còn chịu tác động sâu sắc bởi những tiêu chuẩn giá trị trong xã hội quá khứ mà nó đề cập

Với đặc thù riêng biệt của mình, viết về những nhân vật, những hiện tượng những sự kiện xảy ra trong quá khứ, tiểu thuyết lịch sử phải có một phương hướng tiếp cận văn hóa học khác biệt Việc tác giả, một cá nhân của thời điểm hiện tại, chịu sự chi phối bởi các quan điểm thẩm mỹ, các giá trị văn hóa ở thời điểm hiện tại nhưng lại kể cho chúng ta một câu chuyện mang đề tài của quá khứ, tái hiện con người, bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa xa xưa khiến cho việc nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử dưới góc độ văn hóa đặt ra một vấn đề phải tìm hiểu giá trị văn hóa

mà nội dung tác phẩm đề cập dưới sự soi chiếu rộng hơn, trải dài từ quá khứ đến hiện tại, tìm thấy mối liên kết giữa chúng

Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật cũng mang trong mình vấn đề như vậy Là tiểu thuyết lịch sử, lẽ dĩ nhiên các tác phẩm ấy phải kể lại một câu chuyện lấy các chi tiết lịch sử đã xa thời điểm sáng tác làm “đinh treo” Số lượng lớn các tác phẩm tập trung miêu tả giai đoạn xã hội phong kiến Việt Nam thời vua Lê chúa Trịnh thế kỷ XVII, XVIII nhưng lại câu chuyện quá khứ ấy lại được kể bởi một nhà văn hiện đại, con người của thời điểm hiện tại Nguyễn Triệu Luật Vì thế, khi tiếp cận các tiểu thuyết lịch sử của tác giả Nguyễn Triệu Luật nhìn từ góc độ văn hóa tức là nghiên cứu những yếu tố không gian văn hóa, về con người - những chủ thể văn hóa được miêu tả trong tác phẩm thấy được những giá trị văn hóa xưa, từ

đó xem xét nó trong các giá trị văn hóa của của chính thời đại sinh ra nó (thời đại

Trang 40

40

mà tác giả sống) và những quan điểm văn hóa của tác giả Nguyễn Triệu Luật (trong tư cách một cá nhân của hiện tại)

2.2.1 Không gian văn hóa miền Bắc Việt Nam thời Lê mạt

Sinh trưởng trong một gia đình khoa bảng, lớn lên với những câu chuyện kể

về lịch sử văn hóa nước nhà, lại say mê, ham thích và chọn theo đuổi việc nghiên cứu sử học, Nguyễn Triệu Luật sớm đã có những am hiểu sâu rộng và tỉ mỉ về lịch

sử và văn hóa Việt Nam, đặc biệt là xã hội vua Lê chúa Trịnh Nhiều năm nghiên cứu và tìm hiểu đã giúp cho tác giả có khả năng tái hiện sinh động, chi tiết một không gian văn hóa miền Bắc Việt Nam của mấy trăm năm trước

Hoàn cảnh xã hội rối ren, suy vi đầu thế kỷ XX cũng khiến cho một người con yêu nước như Nguyễn Triệu Luật “không yên lòng” Khởi nghĩa Yên Bái thất bại năm 1929, tổ chức Quốc dân Đảng tan rã, bản thân cũng từng bị bắt giam, Nguyễn Triệu Luật đành lui về Mặt trận văn hóa tư tưởng Sự kiện này có thể coi

là một bước ngoặt trong sự nghiệp cầm bút của ông, ông trở về viết văn, viết báo, giảng dạy một cách tích cực với nhiều tác phẩm được đăng báo, xuất bản Thời gian này ông viết nhiều tiểu thuyết lịch sử như ký thác tấm lòng yêu thương, trân trọng lịch sử và các giá trị văn hóa nước nhà Những tác phẩm này đã mở ra cho bạn đọc nhiều thế hệ những không gian văn hóa sinh động, chân thực, giàu tìm tòi, khám phá: từ những hoạt động sinh hoạt văn hóa thời xa xưa đến các kiến trúc văn hóa, các khung cảnh thiên nhiên đậm màu sắc văn hóa, cả những không gian cổ xưa trong mối liên hệ với không gian văn hóa hiện tại

* Các hoạt động sinh hoạt văn hóa

Tiểu thuyết Nguyễn Triệu Luật khắc họa một cách chân thực những hoạt động sinh hoạt văn hóa của người dân miền Bắc Việt Nam trong quá khứ: từ những sinh hoạt văn hóa cầu kỳ, xa hoa của giới cầm quyền chốn cung đình, lăng tẩm đến những nét sinh hoạt văn hóa của người bình dân giản dị nhưng đậm đà bản sắc…

từ những nét sinh hoạt dân gian sinh động như hát đối, hát đúm bên đồi chè, cha con nhà Nho khai bút ngày mồng một Tết,… đến những bữa tiệc hào nhoáng cung

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thu An (2013), Tiểu thuyết lịch sử: thành tựu và triển vọng, phebinhvanhoc.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử: thành tựu và triển vọng
Tác giả: Thu An
Năm: 2013
2. Hà Ân (1979), Vài ý kiến về sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong truyệnlịch sử phục vụ các em, Tạp chí văn học số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong truyệnlịch sử phục vụ các em
Tác giả: Hà Ân
Năm: 1979
3. Lại Nguyên Ân (2000), Hồ Quý Ly, Tạp chí Nhà văn số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quý Ly
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2000
4. M.Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp Doxtoiepxki, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Doxtoiepxki
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
5. Trần Lâm Biền (2013), Vài ý kiến về Kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam thời kỳ mới, Tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài ý kiến về Kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam thời kỳ mới
Tác giả: Trần Lâm Biền
Năm: 2013
6. Phan Kế Bính (2001), Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Thông Tin
Năm: 2001
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (6/2007), Ngữ văn 11 nâng cao tập một, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11 nâng cao tập một
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Ngữ văn 9 tập một, NXB Giáo dục 9. Drothy Brewster & John Angus Burrel (2003), Tiểu thuyết hiện đại (Dương Thanh Bình dịch), Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 9 tập một", NXB Giáo dục 9. Drothy Brewster & John Angus Burrel (2003), "Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Ngữ văn 9 tập một, NXB Giáo dục 9. Drothy Brewster & John Angus Burrel
Nhà XB: NXB Giáo dục 9. Drothy Brewster & John Angus Burrel (2003)
Năm: 2003
10. Nguyễn Đình Chú (1976), Tìm hiểu quan niệm anh hùng của Phan Bội Châu, Tạp chí Văn học số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quan niệm anh hùng của Phan Bội Châu
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1976
11. Nguyễn Đình Chú (1981), Văn học Việt Nam những chặng đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam những chặng đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1981
12. Phan Cự Đệ (2000), Tuyển tập Phan Cự Đệ, Tập II, Nxb Văn học 13. Phan Cự Đệ (chủ biên - 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Phan Cự Đệ", Tập II, Nxb Văn học 13. Phan Cự Đệ (chủ biên - 2004), "Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Văn học 13. Phan Cự Đệ (chủ biên - 2004)
Năm: 2000
14. Phan Cự Đệ (1974), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, tập I, Nxb ĐH và THCN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN Hà Nội
Năm: 1974
15. Hà Minh Đức (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
16. Nhiều tác giả (1997), Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
17. Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (bộ mới)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
18. Nhiều tác giả (2009), Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Giáo dục 19. Nhiều tác giả (2013), Nguyễn Triệu Luật: Con người và tác phẩm, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1900 - 1945)", Nxb Giáo dục 19. Nhiều tác giả (2013), "Nguyễn Triệu Luật: Con người và tác phẩm
Tác giả: Nhiều tác giả (2009), Văn học Việt Nam (1900 - 1945), Nxb Giáo dục 19. Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục 19. Nhiều tác giả (2013)
Năm: 2013
20. Mai Thị Thanh Hà (2009), Phong cách tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Triệu Luật
Tác giả: Mai Thị Thanh Hà
Năm: 2009
21. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên - 1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
22. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2000
23. Tô Hoài (1959), Một số kinh nghiệm viết văn của tôi, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm viết văn của tôi
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1959

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w