Việc thống kê, nhận định những phê bình về Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí như góp phần giúp việc nghiên cứu Truyện Kiều được hoàn chỉnh hơn, để tìm được giá trị, tinh hoa về văn học
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THÙY LINH
VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VÀ BÌNH GIẢI TRUYỆN KIỀU TRÊN NAM
PHONG TẠP CHÍ ()1917-1934)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60220121
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THÙY LINH
VẤN ĐỀ TIẾP NHẬN VÀ BÌNH GIẢI TRUYỆN KIỀU TRÊN NAM
PHONG TẠP CHÍ ()1917-1934)
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRẦN NHO THÌN
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60220121
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
1.1 Truyện Kiều là một tác phẩm mang giá trị lịch sử văn hóa, là một kiệt tác nghệ thuật của Việt Nam và nhân loại 6
1.2 Nhìn lại Nam Phong tạp chí 7
1.3 Tìm hiểu về Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí 9
2 Lịch sử nghiên cứu 11
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
4 Phương pháp nghiên cứu 21
6 Cấu trúc của luận văn 23
PHẦN NỘI DUNG 23
Chương 1: Vấn đề văn học quốc ngữ và phê bình Truyện Kiều 23
1.1.Bối cảnh lịch sử xã hội đầu thế kỷ XX 23
1.2.Chủ đích của Nam Phong 27
1.3.Mối quan hệ giữa văn học quốc ngữ và phê bình Truyện Kiều 31
Chương 2: Vấn đề hiện đại hóa văn học và phê bình Truyện Kiều 40
2.1 Vấn đề hiện đại hóa văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX 40
2.2 Phê bình Truyện Kiều trong bối cảnh hiện đại hóa đầu thế kỷ XX 48
2.2.1 Đội ngũ tác giả tham gia nghiên cứu Truyện Kiều trên Nam Phong 51
2.2.2 Vai trò của Phạm Quỳnh trong tiến trình hiện đại hóa văn học và phê bình Truyện Kiều 61
Chương 3: Những biểu hiện của quan niệm phê bình cũ và mới trong phê bình Truyện Kiều 69
3.1 Những biểu hiện quan niệm phê bình cũ và mới 69
3.2 Các ý kiến đánh giá về Truyện Kiều cùng thời với Nam Phong tạp chí 110
PHẦN KẾT LUẬN 121 TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.125
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Truyện Kiều là một tác phẩm mang giá trị lịch sử văn hóa, là
một kiệt tác nghệ thuật của Việt Nam và nhân loại
Với một tác phẩm vào hàng kiệt tác của nhân loại như Truyện Kiều thì
việc tổng hợp những nghiên cứu về tác giả và tác phẩm càng cần đến cách nhìn toàn diện, khoa học và đầy đủ nhất để có thể đánh giá, nhận định những
phê bình, những bài viết, những cách hiểu về Truyện Kiều trong chiều dài lịch
sử nghiên cứu văn học Bên cạnh đó, Truyện Kiều có ảnh hưởng sâu sắc đến
mọi mặt của đời sống văn hóa xã hội Việt Nam Việc tập hợp những nghiên cứu về tác phẩm này cũng chưa thành một hệ thống hoàn chỉnh Việc thống
kê, nhận định những phê bình về Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí như góp phần giúp việc nghiên cứu Truyện Kiều được hoàn chỉnh hơn, để tìm
được giá trị, tinh hoa về văn học nghệ thuật, về văn hóa xã hội, hội tụ trong kiệt tác của dân tộc
Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt
Nam, mang đậm nét dân tộc Việt, văn hoá Việt Nghiên cứu, phê bình Truyện
Kiều cũng đã có một chặng đường dài hình thành và phát triển Mỗi công
trình nghiên cứu đều đưa ra những nhận định, những cách nhìn của mình về
Truyện Kiều Mặt khác, kiệt tác của Nguyễn Du cũng đã được các nhà phê
bình qua nhiều thời đại nhìn nhận từ nhiều góc độ, khai thác từ nhiều khía
cạnh khác nhau Trong lịch sử nghiên cứu Truyện Kiều không thể không nhắc
đến “hệ thống” những công trình nghiên cứu trong một giai đoạn lịch sử trên
Nam Phong tạp chí
Nhờ có sự hỗ trợ đắc lực của báo chí và nhà xuất bản đầu thế kỷ XX,
việc tiếp nhận Truyện Kiều trở nên rộng rãi hơn, những phản ứng kiểu đọc, kiểu bình luận Truyện Kiều cũng nhanh nhạy hơn, tạo nên không khí tranh
Trang 5luận sôi nổi, mở rộng Cũng do Truyện Kiều được đánh giá là một trong
những tác phẩm sáng tác bằng chữ Nôm “mẫu mực” để các học giả, các nhà nghiên cứu nhìn nhận và tiếp thu những tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc Nhờ
có tiếp xúc từ rất sớm các phương pháp phân tích, khảo cứu tác giả, tác phẩm văn học của Tây Phương, mà thế hệ trí thức Tân học đã có những ứng dụng
khoa học vào nghiên cứu Truyện Kiều, đặt những viên gạch đầu tiên cho
những công trình nghiên cứu quy mô theo nhiều phương pháp khác nhau sẽ
tiếp tục mãi cho đến ngày nay Nếu nhìn lịch sử tiếp nhận Truyện Kiều từ góc
độ phương pháp đọc văn bản, lại thấy trong thế kỷ XX đã diễn ra những chặng đường khác nhau, ở mỗi chặng đường, mỗi phương pháp đọc được lựa
chọn đem lại kết quả khác nhau Vì thế, việc tiếp nhận Truyện Kiều trên Nam
Phong sẽ góp phần vào lý thuyết tiếp nhận nói chung trên thực tiễn Việt Nam
1.2 Nhìn lại Nam Phong tạp chí
Do những thay đổi mạnh mẽ của đời sống xã hội, thay đổi trong cách tiếp nhận văn chương, do sự tác động nhiều mặt của báo, tạp chí dẫn đến nền văn học của nước nhà từng bước hiện đại hóa, chuyển từ văn học trung đại sang phạm trù hiện đại Muốn tìm hiểu sự khởi đầu của văn học Việt Nam hiện đại, không thể không tính đến việc tìm hiểu văn chương trên các báo chí
ở thời kỳ này Nam Phong là tờ tạp chí có vai trò nhiều mặt trong đời sống
tinh thần của xã hội Việt Nam trong vài chục năm đầu thế kỷ XX Về quy mô dung lượng, tầm quan trọng và mức độ sâu rộng của những vấn đề được đề cập, số lượng và điều kiện phát hành thì không có tờ báo hay tạp chí nào cho
đến đầu những năm 1930 có thể so sánh với Nam Phong
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa văn học và báo chí trong giai đoạn đầu kiến tạo nền văn học hiện đại không chỉ có ở riêng Việt Nam mà đó là một hiện tượng mang tính khu vực, xuất hiện ở nhiều nền văn học của các dân tộc khác Không ai có thể phủ nhận được mối quan hệ đặc thù giữa văn học và
Trang 6báo chí Báo chí không chỉ là môi trường giới thiệu và lưu giữ các tác phẩm văn học mà còn tạo nên những khuynh hướng khác nhau tác động đến sự phát triển của văn học, những luồng tư tưởng, những quan niệm khác nhau về các vấn đề văn học đều được hiện diện và quy tụ trên báo chí
Với 210 số trong ngót 17 năm, những nội dung mà Nam Phong tạp chí
đưa ra đều có sự ảnh hưởng nhất định đến nhận thức văn hóa của người dân
Việt Nam trong buổi giao thời Nam Phong tạp chí có thể hiểu, đó là một tạp
chí tổng hợp về ngành khoa học xã hội, không chỉ có Nghiên cứu Văn học mà
còn có Sử học, triết học, dân tộc học, xã hội học, Hán Nôm… Đọc Nam
Phong, người đọc được tiếp nhận tư tưởng mới, chắt lọc những tinh hoa
truyền thống để nhìn lại chặng đường văn học của dân tộc một cách toàn diện
và mới mẻ nhất Từ đó, có thể xem Nam Phong tạp chí như một lần nhìn lại
toàn diện nhất mọi mặt trong đời sống xã hội Việt Nam theo cách nhìn của
người đương thời Tìm hiểu Nam Phong, người đọc không chỉ hiểu về văn
hóa của xã hội đầu thế kỷ XX, cách nghĩ, lối sống và sự chuyển biến tư tưởng khi tiếp nhận nhiều luồng văn hóa khác nhau, chúng ta còn “sở hữu” nguồn tri thức đồ sộ về xã hội, về văn hóa Đông Phương một cách toàn diện nhất dưới
cái nhìn của các nhà nghiên cứu đầu thế kỷ Nam Phong đăng nhiều sáng tác
theo kiểu cũ, bảo thủ như thơ vịnh sử, song cũng đăng những sáng tác theo thi
pháp hiện đại (như Sống chết mặc bay ) Ngay trong một tác phẩm tả chân
như truyện ngắn này thì cũng bao gồm cả thi pháp cũ và mới đan xen lẫn nhau
Có thể nói, tuy Nam Phong ra đời với chủ đích như một cơ quan ngôn
luận của thực dân Pháp nhưng tạp chí đã có công đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, góp phần tạo nên văn hóa hiện đại trong đời sống xã hội bấy
giờ Nam Phong ra đời còn là cái nôi cho sự nghiệp văn chương của những tài
năng phát triển như Nguyễn Bá Học, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Trọng
Trang 7Thuật… Những cây bút chủ lực của Nam Phong phần nhiều là những người
uyên thâm cựu học, lại có vốn Tây học nhất định Chính những công trình
biên dịch, khảo cứu của họ đã góp phần đem lại cho Nam Phong không khí
học thuật vừa thâm trầm vừa mới mẻ Chính họ đã đóng góp một phần to lớn trong việc hiện đại hóa nền văn xuôi nước nhà
Khi tiếp cận tạp chí, một điều dễ nhận ra là trong khoảng giao thời đầu thế kỷ XX, khi sự xâm nhập của các yếu tố văn hóa mới, sự thay đổi của cơ
chế xã hội, khi mà nền Hán học đến hồi mạt vận, thì Nam Phong tạp chí đã rất
thành công trong việc làm sống lại kho tàng văn hóa, văn học truyền thống của cha ông Một cuộc tổng duyệt lại kho tàng văn hóa, văn học truyền thống
và bảo tồn những giá trị đích thực của văn học cổ, đã được tiến hành trên Nam
Phong tạp chí một cách rất quy củ và có ảnh hưởng nhất định trong đời sống
văn hóa, văn học đương thời
1.3 Tìm hiểu về Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí
Do hoàn cảnh lịch sử xã hội, hầu hết giới nghiên cứu chưa có điều kiện
để tiếp cận với văn bản trọn vẹn của 210 số Nam Phong tạp chí Việc đánh giá những nghiên cứu về Truyện Kiều cũng vì thế chưa thực sự đầy đủ và chính xác Khi có điều kiện tiếp xúc và khảo cứu đầy đủ nhất về Nam Phong
tạp chí, luận văn muốn đi sâu tìm hiểu và đánh giá về cách đọc, cách tiếp cận,
cách nhận định về Truyện Kiều của một thời kỳ văn học, một thời kỳ được xem
là giao thời giữa phê bình văn học trung đại và phê bình văn học hiện đại Hơn nữa, chúng tôi cũng muốn góp phần nhỏ trong việc đánh giá
nghiên cứu về Truyện Kiều trong bề dày lịch sử phê bình Truyện Kiều của giới văn học từ xưa đến nay Khi đọc Nam Phong tạp chí, chúng ta hiểu
không phải ngẫu nhiên nhiều học giả tên tuổi như Dương Quảng Hàm,
Nguyễn Đổng Chi… đã từng ghi nhận công lao của Nam Phong tạp chí, của
Trang 8Phạm Quỳnh đối với sự phát triển của văn học nước ta trong buổi đầu của nền văn học hiện đại
Trong sự phát triển mạnh mẽ của phê bình văn học đầu thế kỷ XX, Nam
Phong tạp chí đã mang đến cách nhìn mới, quan niệm mới về Truyện Kiều,
tuy vậy vẫn còn trong đó những cách nhìn theo tư tưởng truyền thống Chính
vì vậy, đề tài đi sâu nghiên cứu về việc tiếp nhận và bình giải Truyện Kiều để
tìm hiểu một bước phát triển mới so với việc đọc của các nhà thơ, nhà văn thời trung đại và xem đây là giai đoạn tiếp nối đến nền phê bình văn học thời
kỳ hiện đại Bên cạnh đó, luận văn muốn nhìn nhận đúng đắn về bước chuyển biến mới từ tư tưởng bảo thủ, truyền thống sang tư tưởng đa chiều hiện đại
Ở thời điểm Nam Phong tạp chí tồn tại, văn học Việt Nam đang ở giai
đoạn chuyển mùa, nhiều yếu tố của nền văn học mới với sự ảnh hưởng từ phương Tây (xuất hiện bút pháp sáng tác mới, thể loại văn học mới), nhưng
về cơ bản, mạch chủ đạo của đời sống văn học thời kỳ này vẫn là sáng tác theo bút pháp truyền thống Chúng ta có thể thấy rất nhiều sáng tác thơ ca vẫn
sử dụng các thể thơ truyền thống với những motip, ngôn ngữ cổ từ hàng nghìn năm nay của truyền thống thơ ca phương Đông… Không ai có thể phủ nhận những học thuật, tư tưởng của Trung Hoa đã làm nền móng cho sự học cũ của
nước ta mấy nghìn năm cho đến thời Nam Phong và cả mãi về sau này Tuy cái học mới đã xâm nhập vào đời sống của người dân nhưng “những ảnh
hưởng cũ chưa chắc tiêu tán được, vì nó đã in sâu vào trong phong tục tập quán, trong nếp nghĩ, lối sống của nhân dân, khiến đôi khi chính chúng ta cũng không thể phân biệt nổi, đâu là của người, đâu là của mình” (Vũ Ngọc
Phan) Từ sự đan xen giữa yếu tố cũ và mới đó, một công việc rất ý nghĩa mà
Nam Phong đã làm, là đánh giá lại tác phẩm Truyện Kiều – một tác phẩm vào
hàng nổi tiếng bậc nhất của văn chương cổ, một công việc đã mở đường cho thể loại phê bình nghiên cứu sau này
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu
Từ khi tác phẩm Truyện Kiều ra đời cho đến nay cũng hơn 200 năm và
việc nghiên cứu, phê bình, tiếp nhận tác phẩm này cũng chưa bao giờ kết thúc Ở mỗi một thời kỳ lịch sử, có lẽ do sự chi phối của ý thức xã hội, của
quan điểm cá nhân mỗi người để nhìn nhận và đánh giá khác nhau về Truyện
Kiều Dù hiểu như thế nào và nhìn dưới góc độ nào đi chăng nữa, thì không ai
có thể phủ nhận được giá trị của Truyện Kiều và sự ảnh hưởng của tác phẩm
đến đời sống tinh thần của người Việt
Việc nghiên cứu Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí hiện nay có thể
nói, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách bài bản và đầy đủ, đánh giá về những mặt mạnh, mặt yếu, mặt tốt, mặt hạn chế trong “hệ thống”
những công trình nghiên cứu về Truyện Kiều trên Nam Phong Mặt khác, ta
có thể thấy Nam Phong là một tạp chí lớn có ảnh hưởng sâu sắc, phản ánh đời
sống văn hóa của một thời kỳ lịch sử biến động Vì vậy, tìm hiểu và nghiên
cứu việc tiếp nhận, bình giải Truyện Kiều trên Nam Phong là một trong những
công việc nghiên cứu cần làm để có cách nhìn nhận đúng đắn và toàn diện
nhất về công lao và sự ảnh hưởng của Nam Phong đối với sự phát triển của
nền văn học hiện đại Để làm được điều đó, chúng ta cùng nhìn nhận lại những “thành tựu” cũng như bước tiến mà giới phê bình đã làm được trong
việc góp phần hoàn thiện đánh giá Nam Phong:
Từ năm 1933, thời điểm Nam Phong tạp chí còn tồn tại, trong cuốn Phê
bình và cảo luận, Thiếu Sơn đã viết “Có nhiều người không biết đọc văn Tây văn Tàu, chỉ nhờ Nam Phong hun đúc mà có được cái tri thức phổ thông tạm
đủ sinh hoạt ở đời Có nhiều ông đồ Nho chỉ coi Nam Phong mà cũng biết được đại khái những văn chương học thuật của Tây Phương” [87,126]. Thiếu
Sơn đã chỉ ra vai trò của Nam Phong tạp chí trong việc bồi dưỡng tri thức văn
hóa và giới thiệu văn chương nước ngoài, đặc biệt là văn chương phương Tây
Trang 10Một năm sau ngày Nam Phong tạp chí đình bản, nhà thơ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, một cây bút có viết cho Nam Phong đã nhấn mạnh về sự thành
công trong việc tạo dựng nên một “tủ sách” toàn thư, một công lao to lớn mà
không phải tạp chí nào cũng làm được trong giai đoạn giao thời: “Người đồng
chí yêu quý thì đã đành, người không đồng chí cũng một lòng tôn trọng, tôn trọng cái tủ sách một văn phái đứng đắn cao thượng Cái cảm tình ấy của quốc dân đối với báo chí, nước ta xưa nay chưa từng thấy có tờ báo nào được cái vinh hạnh đặc biệt như báo Nam Phong vậy” (Báo “Sống”, ngày
9/4/1935)
Khi nhận định về vai trò và ảnh hưởng của Nam Phong tạp chí đối với văn chương và đời sống xã hội, tác giả Vũ Ngọc Phan đã viết: “Nhiều người
thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong tạp chí
để bồi bổ cho cái học còn khiếm khuyết của mình Thậm chí có người đã lấy Nam Phong làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây Muốn hiểu những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ đời Lý, Trần cho đến ngày nay, muốn biết thêm lịch sử nước Nam, tiểu sử các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mất nhà hiền triết Cổ La Hi, chỉ đọc
kỹ Nam Phong là có thể hiểu biết được Một người chỉ đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình Nam Phong tạp chí sinh sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng sống lâu hơn và ở vào một thời thích hợp hơn nên ảnh hưởng về đường văn chương đối với quốc dân Việt Nam đã to tát hơn nhiều”[87,100] Nam Phong ra đời
như một chiếc cầu nối văn hóa, mang tư tưởng văn hóa Đông Tây giao lưu và
gắn kết hài hòa trong mỗi bài viết Khi đọc Nam Phong, chúng ta có thể hình
dung được cả một thời kỳ lịch sử xã hội với tư tưởng cũ, mới đan xen Bên
Trang 11cạnh đó, những người đọc Nam Phong sẽ “thu nhận’ được nhiều kiến thức về
lịch sử, văn hóa dân tộc cũng như của các nước phương Tây, góp phần mở mang đầu óc và tạo lối suy nghĩ mới
Về chủ bút Phạm Quỳnh, tác giả Nhà văn hiện đại đã đánh giá: “Ông là
người chủ trương cái thuyết đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hóa được”[87,110] Đánh giá về Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí, Đào Duy
Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương, 1938, cho rằng: “Về phương diện văn
học thì Nam Phong tạp chí theo một tôn chỉ với Đông Dương tạp chí, dùng Việt ngữ để truyền đạt học thuật cổ kim và du nhập tư tưởng Đông Tây, chứng rằng Việt ngữ không những chỉ thích dụng về các lối văn chương suông mà có thể dùng để viết văn về sử học, triết học và khoa học nữa” Khi
nhắc đến Nam Phong, không ai có thể phủ nhận công lao to lớn của Phạm
Quỳnh trong vai trò “phổ thông hóa” chữ Quốc ngữ Trong giai đoạn văn hóa Việt Nam đang ở bước chuyển từ văn hóa phương Đông truyền thống sang nền văn hóa hiện đại với ảnh hưởng rõ rệt của văn hóa phương Tây, vấn đề
“nền cựu học” đã được đưa ra bàn luận Nền quốc học phải được xây dựng trên những tảng nền nào? Tiếng Việt có ý nghĩa gì đối với một nền quốc học, nơi mà truyền thống vốn nặng về Hán Văn, hiện tại đang bị đè nặng bởi Pháp văn? Thế là nhiều người, nhất là thế hệ trí thức tân học nghĩ đến vai trò của
Truyện Kiều, nghĩ đến tiếng Việt của Truyện Kiều Phạm Quỳnh là người đã
viết năm 1924: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có
gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ”[43,295] Một số nhà nho yêu
nước đã phê phán lời hô hào như vậy Các cụ phê phán Phạm Quỳnh vì một
số lý do khác, nhưng vì Phạm Quỳnh đã ca ngợi Truyện Kiều nên logic dễ
Trang 12hiểu là các cụ đã phê phán luôn Truyện Kiều, bác bỏ khả năng đưa Truyện
Kiều vào hàng quốc học, do vậy đã có những nhận định bất công với kiệt tác
này Các cụ vẫn đứng trên lập trường đạo đức nghiêm khắc để xét đoán tác
phẩm, cho rằng tuy văn chương hay nhưng không thể tránh khỏi “cái vẻ ai,
dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi”, rằng tác phẩm chỉ có ngâm vịnh chơi bời, chứ quyết “không phải là thứ văn chương chính đại” Đối với các cụ, vấn đề Truyện Kiều trước hết là vấn đề văn hóa đạo đức, vấn đề quốc học chủ trương
nền quốc học phải gắn với Hán học, Khổng học chứ không thể đi với tác phẩm mua vui, giải trí như thế Đến năm 1956, Trương Tửu đã đẩy lên thành chuyện chính trị, cho rằng Phạm Quỳnh (vả cả Trần Trọng Kim) đã dùng
Truyện Kiều gây một phong trào văn học có mục đích như ru ngủ thanh niên
và nhân dân để họ yên phận làm nô lệ với ảo tưởng là “Truyện Kiều còn…
nước ta còn” Tuy nhiên, nếu đọc kỹ báo chí cuối những năm 20 đầu 30,
chúng ta sẽ hình dung được ý thức của người Việt Nam lúc đó về tầm quan trọng của tiếng Việt đối với sự thống nhất dân tộc Trên báo chí Sài Gòn, đã
có một cuộc thảo luận về tiếng Việt và SGK ở hai miền Nam Bắc Phan Thứ
Khanh trên tờ ‘Thần chung” tháng 2/1930 đã viết: “Quốc văn là cái nguyên
khí của một nước, một dân tộc”, “Quốc văn tức là cái trí tuệ, cái tư tưởng, cái cảm giác của một dân tộc đúc ra”
Giáo trình Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam tập III của nhóm Lê Quý Đôn có đoạn “Nhưng dù lên án đúng mức cũng không thể không ghi công lớn
cho Nam Phong về vai trò và tác dụng của nó trong sự nghiêp phát triển văn học” Nhận xét về sự cố gắng của Nam Phong trong việc phát triển ngôn ngữ,
nhóm tác giả viết tiếp: “Về trước, người ta còn hoài nghi khả năng tiếng ta
Với Nam Phong, không ai còn chối cãi là tiếng ta chưa phải là một ngôn ngữ văn học, là một ngôn ngữ đang hiện đại hóa Người ta có thể bảo văn của
Trang 13Nam Phong rườm rà, khệnh khạng, véo von, nhưng không ai có thể bảo đó không phải là văn”
Trong Đời viết văn của tôi, Nguyễn Công Hoan đánh giá về Phạm
Quỳnh nhân khi giải thích sự ra đời của truyện ngắn Kép Tư Bền như sau:
“Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh Quốc dân biết
Phạm Quỳnh hơn biết mấy thượng thư Nam triều Cũng không phải vì lợi Làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương thượng thư Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884 Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị, chẳng qua là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền, tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả, mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối”
Ngay những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, năm 1949, trong cuốn
Việt Nam văn học sử (trích yếu), Nghiêm Toản đã đánh giá công lao của Nam Phong tạp chí và Đông Dương tạp chí trong việc chuẩn hóa quốc ngữ, đưa
việc sử dụng quốc ngữ vào các lĩnh vực khoa học, văn học, triết học: “Ảnh
hưởng của Nam Phong rất lớn, không những gây dựng cho tiếng ta đủ chữ phô bày hết mọi tính tình, ý niệm lại phổ thông hóa những điều đại cương thiết yếu trong các học thuật Đông, Tây, mới, cũ và những điểm chính trong văn hóa cổ học như nghi lễ, phong tục, văn chương…”
Từ năm 1954 – 1975, các học giả trên cả hai miền Nam Bắc đều có những công trình nghiên cứu về Nam Phong tạp chí:
Trang 14Ở miền Bắc, một loạt công trình nghiên cứu về Nam Phong tạp chí xuất hiện tiêu biểu như: Đại cương về văn học sử Việt Nam (Nguyễn Khánh Toàn, 1954); Sơ thảo lịch sử văn học (Nhóm Văn Sử Địa, Nhà xuất bản Văn – Sử - Địa, 1957); Lược thảo lịch sử văn học (nhóm Lê Quý Đôn, Nhà xuất bản Xây dựng, 1957); Giáo trình văn học Việt Nam (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
1963) Khác với giai đoạn trước, ở giai đoạn này, các học giả này đều có chung quan điểm theo hướng xã hội học chính trị, có cái nhìn phủ nhận sạch
trơn về đóng góp của Phạm Quỳnh và Nam Phong: “Phạm Quỳnh là tên tay
sai đắc lực của đế quốc Pháp trên lãnh vực văn học, một tên Việt gian lợi hại, chống cách mạng”; “Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí tuyệt nhiên không có công lao gì đối với văn học dân tộc cả” Sở dĩ, tồn tại những nhận
định cực đoan này là vì vào thời điểm đó, quan điểm cộng sản căn cứ vào phần lí lịch của Phạm Quỳnh Khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, thời gian đầu làm ở Ngự tiền văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và
cuối cũng giữ chức Thượng thư Bộ Lại Nhưng trước đó, khi làm Nam Phong,
Phạm Quỳnh đã nhận tiền của Marty để làm báo Căn cứ vào lí do này, quan
điểm cộng sản đã có cái nhìn cực đoan đối với Nam Phong Hiện nay, quan
điểm này đã có thay đổi
Khác với không khí ở miền Bắc, ở miền Nam các học giả có cái nhìn khoa học khách quan hơn
Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, 1961, đã đánh giá Nam Phong tạp chí và Đông Dương tạp chí mặc dù còn vướng nhiều
về quá khứ song cũng đã có cố gắng trong việc dung hòa Âu Á
Thanh Lãng với hai cuốn sách Biểu nhất lãm văn học cận đại, (1862-
1945) (Sài Gòn, 1957); Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) đã đánh giá
cao về Phạm Quỳnh là “một tập sự của thế hệ văn học 1862 – 1913 để biến
Trang 15thành một tay chỉ đạo trong thế hệ văn học 1913 – 1930 rồi biến ra một bóng
Năm 1968, Nguyễn Khắc Xuyên đã đưa ra Mục lục phân tích Nam
Phong 1917 – 1934 đã cung cấp danh mục các bài viết trên Nam Phong, chia
làm hai phần là mục lục theo chuyên ngành và mục lục tên tác giả
Huỳnh Văn Tòng trong Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến
1945 đã giới thiệu Nam Phong tạp chí về cả mặt chính trị và văn học, đánh giá Nam Phong trên cả mặt tích cực và tiêu cực
Năm 1968, với nhận thức: “Nam Phong là tạp chí văn học, văn chương,
xã hội, nghệ thuật lớn, đánh dấu một thời ký đi lên của văn hóa nước nhà”,
đồng thời: “Tờ Nam Phong là tài liệu mang dấu ấn lịch sử văn học Việt Nam,
mặc dầu đường lối chính trị của nó thuộc về một thời đại thực dân và phong kiến”, và “Lịch sử văn học Việt Nam đã trải qua nhiều thời đại, mà Nam Phong thuộc về một trong những thời đại đó”
Năm 1990, trong cuốn sách Tác giả văn học Việt Nam, tập 1, Giáo sư
Nguyễn Đình Chú (chủ biên) khi trở lại với mục tác giả Phạm Quỳnh, bước đầu ông đã có một cách nhìn nhận mới, với những dòng nhận định khá “dí
dỏm” như sau: “Phạm Quỳnh viết đủ thứ, đủ loại như vậy, và đương thời đã
gây được một uy danh không nhỏ, nhưng cũng đương thời dưới con mắt của nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, thì chỉ là cậu bé đang “lom lem những học thuyết ông Mạnh ông Lư”, “bập bẹ những cách ngôn họ Trang họ Liệt” và gần đây, dưới con mắt của nhà học giả mác xít Đặng Thai Mai, thì là người “đủ tiếng Tây để lừa người Việt, đủ tiếng Việt để lừa người Tây”… Ấy mới hay: chưa
Trang 16cần biết động cơ gì, sống trên đất nước ta hễ cứ dính với kẻ thù ngoại bang là trước hết phải chịu sự phán xét, sự phủ nhận đó, mặc dù, nói cho công bằng thì “văn nghiệp” của Phạm Quỳnh, ngoài phần độc tố gây hại ra, không phải không có những điều có tác dụng khách quan đáng kể, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa văn hóa, văn học Việt Nam trong thời cận đại này
[72,173]”
Theo quan điểm đổi mới, Nguyễn Đình Chú trong Công trình Tác giả
Việt Nam, tập I (NXBGD, Hà Nội, 1990) cũng đánh giá khách quan về Nam Phong tạp chí: “…Nói cho công bằng thì văn nghiệp của Phạm Quỳnh, ngoài phần độc tố gây hại ra, không phải không có những điều có tác dụng khách quan đáng kể, góp phần vào công cuộc hiện đại hóa văn hóa, văn học Việt Nam trong thời cận đại này [72, 180]”
Năm 1992, Báo Lao động, số 34/92 ngày 6/9-1992, trang 6, có đăng bài viết của Hoàng Tiến với tiêu đề: Một dấu mốc trên lộ trình văn học Trong bài báo này, tác giả nêu nhận xét: “Văn xuôi của chúng ta xuất phát từ báo chí,
định hình ở Đông Dương tạp chí và trưởng thành trong Nam Phong tạp chí”
Và ở một đoạn khác, tác giả bài báo nhận định: “Tạp chí Nam Phong có thể
coi là một dấu mốc trên lộ trình phát triển của nghệ thuật văn xuôi trong lịch trình tiến hóa của lịch sử văn học Việt Nam”
Năm 1995, khi nghiên cứu vấn đề: Nam Phong tạp chí với sự hình
thành và phát triển của văn xuôi tự sự tiếng Việt buổi giao thời đầu thế kỷ XX,
tác giả Nguyễn Ngọc Thiện đã ghi nhận vai trò của ông chủ bút Nam Phong
tạp chí Phạm Quỳnh trong việc “dịch, giới thiệu, phê bình và khảo cứu lý luận xung quanh tác phẩm và thi pháp thể loại tiểu thuyết… đóng góp xây dựng buổi đầu cho hình thành và phát triển văn xuôi tự sự hiện đại của ta trong những năm 20 và 30 của thế kỷ này [104,69-70]”
Trang 17Năm 2003, trong lời giới thiệu cuốn Luận giải văn học và triết học của
Phạm Quỳnh, Trịnh Bá Đĩnh nhận xét: “Nam Phong nằm ở thời điểm bản lề của quá trình văn hóa, văn học Việt Nam hòa vào dòng chung của văn hóa, văn học thế giới Vấn đề đặt ra cho xu hướng này bấy giờ là dân tộc phải nâng mình lên trình độ quốc tế về mọi mặt: Khoa học, triết học, văn học… Cần xây dựng một nền học vấn mới “tỏ thuật tư tưởng Âu Tây (quốc tế hóa, nhưng vẫn không quên cái quốc túy trong nước (dân tộc hóa)” Ở điểm này ta thấy Nam Phong đã làm được khá nhiều việc [93,5]”
Trong phần Lý luận, phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX, cuốn sách chỉ rõ: “Nam Phong đăng những bài phê bình theo lối mới của Thái Tây” Đặc
biệt, tác giả của chương viết này đã ghi nhận vai trò của Phạm Quỳnh trong
việc dịch thuật, giới thiệu văn hóa, văn học phương Tây mà “ý nghĩa giao lưu
văn hóa là không thể phủ nhận, nó góp phần tích cực cho sự đổi mới văn học dân tộc ở giai đoạn sau” Sách cũng đã dành hẳn một mục để viết về Cuộc tranh
luận văn học đầu tiên mở đầu thế kỷ: tranh luận về Truyện Kiều trên Nam Phong
tạp chí diễn ra giữa các chí sĩ như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng với Phạm
Quỳnh… và đi đến nhận định: “Phạm Quỳnh đã nêu lên một số luận điểm mang
tính chất chính trị, cải lương Ông nêu ra một cách võ đoán về mối liên hệ giữa
sự xuất hiện Truyện Kiều và vận mệnh của một dân tộc [71,683]” và “Cuộc tranh luận này thực chất là sự đụng độ về tư tưởng chính trị, chính trị yêu nước của các nhà nho và chính trị cải lương của những người nuôi mộng quân chủ lập hiến, dung hòa Đông Tây để duy trì và phát triển quốc gia [74,685]”
Năm 2004, cuốn Từ điển văn học bộ mới được xuất bản trang 1272 có nhận định về Nhóm Nam Phong: “Nam Phong tạp chí nặng về biên khảo dịch
thuật và sáng tác văn học, vì vậy đối với văn hóa và văn học dân tộc trong một giai đoạn hơn mười năm, nó đã có những ảnh hưởng không nhỏ Đây là tờ báo gần như duy nhất trong những năm chuyển tiếp giữa thập kỷ 20 và 30
Trang 18của thế kỷ XX, cung cấp cho bạn đọc Việt Nam những kiến thức về văn chương, triết học, lịch sử, địa lý… phương Đông cũng như phương Tây, một cách hệ thống và liên tục… Cũng phải qua Nam Phong, các áng văn thơ tinh hoa cổ điển của dân tộc mới được sưu tầm, phiên âm, phiên dịch và truyền bá sâu rộng trong lớp thanh niên tân học thuở bấy giờ Nam Phong cũng là nơi thử thách, rèn luyện ngòi bút viết văn xuôi quốc ngữ, văn xuôi nghệ thuật và cao hơn là văn xuôi lý luận, trong nước chuyển mình của văn xuôi quốc ngữ nước ta So với Đông Dương tạp chí rõ ràng câu văn Nam Phong thâm thúy hơn, khả năng tư duy trừu tượng cao hơn hẳn, thuật ngữ mới được du nhập
và Việt hóa cũng nhiều hơn nhiều” (Nguyễn Phương Chi)
Năm 2006, trong cuốn Thượng Chi văn tập của Phạm Quỳnh, Trần Văn Chánh viết lời giới thiệu: “Trong lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ cận – hiện
đại, Phạm Quỳnh có lẽ là một trong những nhân vật nổi bật nhưng lại có vẻ gây nên nhiều cuộc tranh luận với những ý kiến đánh giá khác nhau nhất Nói như vậy, dù tán thành hay phản đối, hoặc giữ thái độ chiết trung, mặc nhiên mọi người đã thừa nhận vai trò không thể xem thường của nhân vật này trong bối cảnh lịch sử - văn hóa cụ thể nhất định”, và đối với Phạm Quỳnh: “Nếu chỉ tính riêng cái “công với việc thành lập quốc văn” thôi thì cũng đã là một công lao đóng góp không nhỏ [90, 9-11]”
Nói chung, từ khi Nam Phong tạp chí ra đời đến nay đã có rất nhiều những công trình khoa học nghiên cứu, đánh giá về những vấn đề trên Nam
Phong như: Ảnh hưởng của Nam Phong đối với đời sống văn hóa tư tưởng
của xã hội, đánh giá công lao của ông chủ bút Phạm Quỳnh, và rất nhiều các
khía cạnh được đề cập quy mô trên Nam Phong như: khôi phục bảo tồn vốn
cổ, các thể loại trên Nam Phong… Luận văn của chúng tôi cũng muốn góp phần nhỏ của mình vào việc nhìn nhận lại Nam Phong qua việc đánh giá bình
Trang 19giải, tiếp nhận Truyện Kiều Bên cạnh đó, luận văn mong muốn hoàn thiện quá trình nghiên cứu Truyện Kiều từ khi ra đời đến nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nam Phong tạp chí là một ấn phẩm ra đời với nhiều mục đích, chức
năng và nội dung Đây cũng là một tạp chí giữ vai trò quan trọng trong thời
kỳ chuyển giao của văn học, văn hóa Đông Tây Vì thế, việc nghiên cứu toàn
diện các vấn đề của Nam Phong tạp chí là một vấn đề lớn, phức tạp, cần nhiều
thời gian và công sức nghiên cứu Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi xin
được giới hạn đối tượng nghiên cứu liên quan đến Truyện Kiều, bàn về Truyện
Kiều trên Nam Phong tạp chí trong suốt thời gian tồn tại, từ 1917 – 1934
Cụ thể, trong luận văn này chúng tôi đưa ra vấn đề “Tiếp nhận và bình
giải Truyện Kiều trên tạp chí Nam Phong”, phạm vi nghiên cứu bao gồm:
Những số báo viết về Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí với 210 số
từ năm 1917 đến 1934
Văn bản tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
Văn bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân
Đề tài Vấn đề đọc Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí giúp chúng ta
bổ sung thêm cách nhìn nhận của một thế hệ về Truyện Kiều trong bề dày lịch
sử nghiên cứu tác phẩm Bên cạnh đó, chúng ta hiểu hơn về một giai đoạn văn học, xã hội đã ảnh hưởng đến lối tư duy của các tác giả, các nhà phê bình và
cách nhìn nhận của họ về Truyện Kiều dưới nhiều góc độ khác nhau
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được thực hiện dựa trên một số phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, bình luận văn học: Chúng tôi sử dụng các phương pháp này để thiết lập hệ thống luận điểm chính của đề
tài, cách nhìn nhận và đánh giá, cách hiểu và khẳng định giá trị của Truyện
Kiều qua từng học giả, từng quan điểm tư tưởng Về cơ bản, đề tài luận văn sẽ
sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích để khôi phục diện mạo, dựng lại bối
Trang 20cảnh chung, diễn biến của việc “tiếp nhận và bình giải” Truyện Kiều Từ đó
Phân tích để đánh giá khả năng nhìn nhận tác phẩm văn học, văn hóa truyền thống của các đối tượng tác giả phê bình như thế nào?
- Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, đặt cách nhìn
nhận, phê bình Truyện Kiều của những trí thức, học giả đương thời trên Nam
Phong tạp chí với chính những người cùng thời trên các báo, tạp chí khác và
những nhìn nhận, đánh giá về những giai đoạn phê bình văn học trước và sau
giai đoạn xuất hiện Nam Phong tạp chí để thấy được những giá trị mà họ
mang đến cho bề dày lịch sử nghiên cứu và thấy được những hạn chế trong
cách đánh giá của họ về Truyện Kiều
5 Đóng góp của luận văn
Việc tiếp nhận và bình giải Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí là một
vấn đề hoàn toàn mới, hầu như chưa có công trình khoa học nào hiện nay nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống Vì vậy, qua việc khảo cứu, tìm
hiểu, thống kê, tổng hợp trong 210 số Nam Phong tạp chí để giúp các nhà
nghiên cứu và độc giả có cái nhìn toàn cảnh về việc nhận định, đánh giá về văn học, văn hóa truyền thống
Không thể phủ nhận Nam Phong tạp chí ra đời có mục đích phục vụ
cho chính sách nô dịch của thực dân Pháp, và chính quyền thực dân cũng không che đậy mục đích thâm hiểm của chúng khi cho ra tờ báo này Tuy
nhiên, một số nhà nghiên cứu cũng cho rằng, những việc mà Nam Phong đã
làm, ở một khía cạnh nào đó, ngoài dự liệu của những nhà sáng lập lại trở thành có ý nghĩa, có ảnh hưởng nhất định không chỉ với đời sống văn học mà
cả với đời sống văn hóa xã hội đương thời Đặt trong dòng chảy của văn học
dân tộc thì Nam Phong đã “vô tình” làm được việc tiếp mạch cho dòng chảy
ấy Nghiên cứu vấn đề này và chọn Nam Phong làm đối tượng nghiên cứu có
ý nghĩa tích cực, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà cách nhìn của chúng
ta đối với một số vấn đề quá khứ đã thay đổi, Nam Phong được đánh giá trở
Trang 21lại, luận văn sẽ góp thêm những đánh giá khách quan và công bằng cho những
giá trị và có đóng góp của Nam Phong
Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp thêm tư liệu cho các nhà
nghiên cứu văn học có thêm một góc nhìn về Nam Phong tạp chí trong tiến
trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX, xác định vai trò, vị trí và những đóng góp khách quan của tờ tạp chí này trong quá trình hiện đại hóa văn học nước nhà
Bên cạnh đó, luận văn mong muốn góp phần nhỏ vào việc đánh giá và khẳng định những đóng góp quan trọng của báo chí đầu thế kỷ XX nói chung
và Nam Phong tạp chí nói riêng
6 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Vấn đề văn học quốc ngữ và phê bình Truyện Kiều
Chương 2: Vấn đề hiện đại hóa văn học và phê bình Truyện Kiều
Chương 3: Những biểu hiện của quan niệm cũ và mới trong phê bình
Truyện Kiều
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ VĂN HỌC QUỐC NGỮ VÀ PHÊ BÌNH
TRUYỆN KIỀU
1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội đầu thế kỷ XX
Ba mươi năm đầu thế kỷ XX là một giai đoạn đặc biệt không chỉ của văn chương mà của cả xã hội Việt Nam nói chung Sự xâm nhập của người Pháp một cách cưỡng bức lên cơ cấu xã hội hầu như vẫn còn nguyên vẹn tạo nên một hệ quả tất yếu là sự tồn tại kéo dài và sự biến dạng trước khi chuyển hóa của các giai tầng truyền thống Trong địa hạt văn chương, một hiện tượng độc đáo có thể ghi nhận là sự tồn tại kéo dài dưới dạng biến thể của những loại hình tác giả truyền thống: nhà nho hành đạo trung nghĩa và nhà nho tài
tử Điển hình cho kiểu nhà nho thứ nhất là những nhân cách vẫn được chính
Trang 22sử định danh là những “nhà nho chí sĩ”, những nhà khoa bảng sinh trong những năm 60, 70 của thế kỷ XIX và là người khởi xướng những phong trào đấu tranh với chủ trương duy tân đòi độc lập cho Việt Nam Những tên tuổi điển hình cho loại tác giả này là Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế… Đại diện cho kiểu tác giả thứ hai là Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu Hai kiểu tác giả nói trên là hai khả năng khác nhau trong việc tiếp nhận di sản văn chương truyền thống và đưa di sản ấy vào trong lòng một xã hội đang biến đổi theo khuynh hướng hiện đại hóa
Chúng ta đều biết, xã hội nước ta những năm đầu thế kỷ này với hai cuộc khai thác thuộc địa, với sự thiết lập và củng cố bộ máy chính quyền của thực dân Pháp đã làm xuất hiện nhiều đô thị kiểu mới và nhiều tầng lớp xã hội mới như tư sản, tiểu tư sản, vô sản, dân nghèo đô thị Đó là những lớp người mới có lối sống, thị hiếu và quan điểm thẩm mỹ khác trước Bên cạnh đó, do nhu cầu đào tạo lớp trí thức mới có trình độ văn hóa để phục vụ cho nhà nước Bảo hộ lâu dài, thực dân Pháp đã cho cho một số thanh niên Việt Nam sang Pháp du học Tầng lớp trí thức Tây học xuất hiện Nhiều người đã đi vào hoạt động văn hóa, văn học
Sự xuất hiện một lớp công chúng độc giả mới, một lớp người hoạt động văn học với quan niệm nghệ thuật mới là yêu cầu tiên quyết buộc văn học phải đổi mới theo hướng hiện đại hóa Văn chương thời kỳ này không còn là món ăn tinh thần của tầng lớp trí thức trong xã hội nữa mà đã trở thành món
ăn bình dân của rất nhiều đối tượng độc giả đặc biệt là tầng lớp thị dân, tiểu tư sản, tư sản đương thời Sáng tác văn chương cũng không còn là một công việc sang trọng của số ít người có học vấn cao trong xã hội những khi “trà dư, tửu hậu” mà đã dần trở thành một công việc, một nghề có tính đặc trưng của đời sống văn hóa, văn học thời kỳ hiện đại Các nhà văn chuyên nghiệp lần lượt ra đời và ngày càng đông đảo Văn học Việt Nam trong khoảng 40 năm đầu thế
kỷ XX đã phát triển hết sức mau lẹ trong quá trình hiện đại hóa một cách toàn
Trang 23diện của mình Chính sự phát triển phong phú, đa dạng với nhiều thành tựu của nền văn học dân tộc lúc ấy đã đòi hỏi sự ra đời của ngành nghiên cứu và phê bình văn học
Bên cạnh đó, do nhu cầu văn hóa, văn học ngày càng cao, ngày càng phong phú của mọi tầng lớp công chúng bạn đọc, báo chí cùng các phương tiện in ấn ra đời, phát triển nhanh chóng và mỗi lúc một hiện đại hóa Sự ra đời của báo chí cùng sự phát triển của các nhà xuất bản đã góp phần nâng cao dân trí, nâng cao thẩm mỹ cho độc giả, tạo điều kiện cho văn học phát triển mạnh Với người sáng tác, người nghiên cứu, phê bình văn học, báo chí chính
là nơi thử bút, nơi đăng tải, nơi trình bày quan điểm, phát biểu tư tưởng một cách thuận tiện, kịp thời nhất về các vấn đề văn học nghệ thuật nói chung và từng tác phẩm văn học nói riêng
Trong suốt chín thế kỷ của văn học viết, các thế hệ tác giả văn học Việt Nam đã sử dụng song song hai hệ thống ngôn ngữ để sáng tác đó là chữ Hán
và chữ Nôm (được sử dụng phổ biến từ thế kỷ XV) Chữ Quốc ngữ chủ yếu được giáo dân công giáo sử dụng phổ biến vào thế kỷ XIX Vì thế phải đến lúc người Pháp đặt ách thống trị ở Đông Dương thì chữ Quốc ngữ mới bắt đầu thay thế chữ Hán và chữ Nôm, trở thành thứ văn tự được sử dụng chính thức trong bộ máy hành chính, giáo dục và những sinh hoạt văn hóa tinh thần Đối với nhà cầm quyền thực dân, việc sử dụng chữ quốc ngữ trong phạm vi toàn
xã hội cho phép họ hạn chế ảnh hưởng của giới trí thức truyền thống, cắt Việt Nam khỏi quỹ đạo đồng văn với Trung Quốc và chuẩn bị cho công cuộc Pháp hóa người bản xứ Với trí thức Việt Nam, phải đến phong trào Duy Tân, các nhà nho mới vượt qua được định kiến, chữ Hán là “chữ thánh hiền”, chữ quốc ngữ là
“chữ Tây”, “chữ quân tà đạo”, để cổ động nhân dân học chữ quốc ngữ
Mặt khác, sang đầu thế kỷ XX, báo chí đã thâm nhập một cách sâu sắc vào đời sống văn hóa tinh thần của nhiều tầng lớp người Việt Đã xuất hiện
Trang 24những tờ báo thuộc về cá nhân, nhóm người Việt, phát triển một cách độc lập với chính quyền thực dân, mặc dù vẫn chịu sự chi phối bởi các luật về báo chí Pháp đề ra… Đối với sự hình thành của văn học mới, báo chí và nhà xuất bản kết hợp lại để tạo ra một môi trường văn hóa mới, những phương thức quan
hệ phi truyền thống giữa độc giả và nhà văn, làm thương mại hóa văn học Thời kỳ này cũng là thời kỳ mà lớp công chúng thị dân đã xuất hiện, trở thành một lực lượng tiếp nhận văn học mới khá đông đảo cũng có những đòi hỏi và những nhu cầu thẩm mỹ mới Sức ép để nảy sinh một nền văn học mới bắt nguồn từ hai phía: khách quan và chủ quan, chủ thể và khách thể Vì thế, xây dựng một nền văn học mới vừa là một đòi hỏi của thời đại xã hội, vừa là một đòi hỏi tự thân của chính văn học… Nhìn vào thực trạng văn hóa, văn học của nước nhà hồi đầu thế kỷ XX cho thấy, những yếu tố cần thiết cho một cuộc cách mệnh văn chương đối với lớp trí thức cũ đã không thể diễn ra Ngọn cờ đổi mới văn chương phải nằm trong tay những thanh niên trí thức mới Tây học Sự đổi mới này cũng cần phải có thời gian, bởi chủ thể sáng tạo mới chưa làm chủ được công cụ sáng tạo Đó là vấn đề vừa xây dựng vừa làm chủ văn tự mới và tư duy sáng tạo mới Cần có thời gian khắc phục sự “đứt gãy” về văn hóa, tư duy văn học ở giai đoạn này Vai trò chuyển tiếp khắc phục đứt gãy văn hóa và tư duy văn học mới đó đã thuộc về báo chí hồi đầu
thế kỷ XX, mà ở đó, Nam Phong tạp chí có vị trí là “nguyên thủ” và giữ vai
trò chủ đạo trong tương quan với báo chí đương thời Đến khi chủ thể sáng tạo đã làm chủ được công cụ sáng tạo và tư duy văn học mới, ở nước ta văn học mới có sự đổi thay mạnh mẽ
Nam Phong tạp chí là một tờ có tính chất bách khoa toàn thư, đời sống
xã hội, văn hóa và văn học của dân tộc Việt Nam trong 17 năm rưỡi hầu như được phản ánh một cách rõ ràng Vào thời điểm những năm đầu thế kỷ XX, những tri thức “văn học – khoa học” mà tạp chí đem đến cho bạn đọc có lợi ích
Trang 25trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng tri thức, học vấn cho dân tộc Nam
Phong tạp chí (1917-1934) đã ra đời và sinh hoạt giữa những phức tạp của lịch
sử chính trị xã hội, văn hóa, văn học của nước nhà những năm đầu thế kỷ XX
Nhưng dù thế nào thì Nam Phong tạp chí cũng là sản phẩm của một thời kỳ
văn hóa, văn học của Việt nam, cần được nghiên cứu khách quan và công bằng
1.2 Chủ đích của Nam Phong
Nam Phong tạp chí đóng vai trò “mở đầu” trong tiến trình lịch sử văn
học Việt Nam đầu thế kỷ XX Cùng “ra đời” với một số báo chí và tạp chí
khác đương thời, nhưng Nam Phong là tạp chí tựa như đã làm những công
việc chuẩn bị một cách cơ bản và khá đầy đủ những yếu tố cần thiết cho một cuộc “sinh nở” – cuộc sinh nở của một nền văn học Việt Nam hiện đại Nói
cách khác, Nam Phong tạp chí đã làm được khá toàn diện những gì cần thiết
cho công cuộc hiện đại hóa văn học
Trong quá trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà, Nam Phong tạp chí
đã bắc một nhịp cầu quan trọng đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại
trên nhiều phương diện Nhìn từ góc độ đồng đại, đặt Nam Phong tạp chí vào giai đoạn đầu thế kỷ XX, so với nhiều báo chí, tạp chí khác thời đó, Nam
Phong là ấn phẩm đóng vai trò chủ đạo, trụ cột, là nơi “dẫn gió bốn phương vào đô thành văn học Việt Nam” (Kiều Thanh Quế), là tạp chí tham gia một
cách có ý thức và đầy đủ nhất vào tiến trình hiện đại hóa văn học Nhìn từ góc
độ lịch đại, Nam Phong tạp chí đóng vai trò xây dựng nền móng ban đầu cho
quá trình hiện đại hóa văn học cả về phương diện lý thuyết và thực hành sáng tác, dịch thuật và học thuật Trong tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt
Nam đầu thế kỷ XX, Nam Phong đã góp phần hòa cùng với nhiều mạch
nguồn khác của các báo chí đương thời đổ vào đại dương văn chương chung của dân tộc để làm nên một đồng bằng văn học rực rỡ ở mùa sau, giai đoạn văn học Việt Nam 1930 – 1945
Trang 26Trong suốt 17 năm hoạt động, Nam Phong tạp chí xuất bản được 210 số
báo Tạp chí xuất bản mỗi tháng một kì vào đầu tháng, do viên quan cai trị Pháp là Louis Marty, Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác sáng lập Với sự cộng tác của hơn ba mươi cây bút biên tập, tất cả là những thức giả hữu danh đương thời Vào 11/1932, Phạm Quỳnh được vua Bảo Đại triệu vào Huế và giữ chức Thượng Thư Nam Triều Quyền chủ bút tờ báo được trao cho Nguyễn Trọng Thuật Sau đó được vài số, Lê Văn Phúc đứng ra canh tân, và mời nhiều nhà Tây học trợ bút Tiếp theo, Nguyễn Tiến Lãng đứng ra thừa kế,
nhưng không thỏa mãn được thị hiếu thời cuộc, mãi đến cuối năm 1934 tạp
chí Nam Phong bị đình bản
Chủ đích của Nam Phong là thể hiện chủ nghĩa khai hóa của nhà nước,
biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn, để giúp cho sự mở mang trí thức, giữ gìn đạo đức, bảo tồn quốc hồn quốc túy trong quốc dân Việt Nam, và truyền bá các môn khoa học Tây phương, nhất là học thuật tư tưởng Đại Pháp, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp, và người Nam trong trường kinh tế Đặc biệt chú ý đến sự tập luyện, trau dồi văn quốc ngữ để người Việt Nam sớm có một nền quốc văn riêng biệt
Cụ thể, Nam Phong tạp chí đã thể hiện chủ đích của mình qua các bài Mấy nhời nói đầu (Nam Phong số 1, tháng 7 – 1917); Mục đích của báo Nam
Phong (Nam Phong số 192, tháng 1 – 1934); Nam Phong ngày trước, Nam Phong bây giờ (Hán Thư Nam Phong, số 199, tháng 7 – 1934); Tổng luận sự
nghiệp Nam Phong (Nguyễn Hữu Tiến, Nam Phong, số 210, tháng 12 – 1934)
Có thể nhận thấy, mục đích mà Nam Phong nêu lên trong lời phi lộ ở trang bìa của tạp chí là “bảo tồn cái quốc túy của Việt Nam ta” về cơ bản là đã
có những thành tựu đáng ghi nhận Đặt vào thời điểm lịch sử - xã hội của đất nước ta hồi đầu thế kỷ XX, công việc đi tìm kiếm và khảo cứu, khẳng định lại những giá trị của gia tài văn chương dân tộc quả là có ý nghĩa và đáng trân
Trang 27trọng Việc này Nam Phong đã làm với một tinh thần khoa học, thận trọng,
kiên trì và có những thành tựu đáng kể
Những cây bút tân học đã đem đến cho Nam Phong không chỉ những tri
thức mới, mà còn có cả những thể văn mới Những thể loại văn xuôi quốc ngữ
mới của nước ta, đến Nam Phong mới bước đầu được định hình, hoặc nếu trước đây đã có, cũng “chỉ như một cánh chim lạ đáp xuống cánh đồng văn
học của nước ta”, và chỉ đến Nam Phong, chúng mới được đẩy lên một cách
có ý thức, đạt được sự hoàn thiện về thể loại, cả chất lượng cũng như số lượng của tác phẩm Bấy nhiêu thể loại văn mới đó đã dần thay thế cho những thể loại văn học xưa cũ, và đó cũng là dấu hiệu cơ bản của một nền văn học hiện
đại Tuy nhiên, sự có mặt của cả văn cũ và mới trên Nam Phong tạp chí bản thân nó cũng phản ánh rõ nét tư tưởng “thổ nạp Á Âu”, “điều hòa tân cựu” của Nam Phong Đây cũng là hình bóng, diện mạo chung của văn đàn nước ta
buổi giao thời khoảng từ 1900 – 1930; cái cũ chưa qua, cái mới đã tới
Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã từng nhận định về công lao
to lớn của Nam Phong tạp chí: “Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ
không thể nào quên được tạp chí Nam Phong Vì nếu ai đọc được toàn bộ tạp chí này cũng phải thừa nhận là rất đầy đủ có thể giúp cho người học giả một phần to tát trong việc soạn một bộ bách khoa toàn thư bằng quốc văn”
[87,95] Tuy đóng góp về văn hóa, văn học của Nam Phong cho nền quốc văn
được xuất phát từ chức năng “công cụ không tự giác” nhưng nó đã góp phần
to lớn làm hiện đại hóa nền văn học nước nhà, xây dựng được đội ngũ nhà văn đông đảo có quan điểm thẩm mỹ mới và sáng tạo
Nhìn vào những gì mà Nam Phong tạp chí đã làm được trong thời gian
xuất bản, người ta dễ dàng nhận thấy đó là một kho tàng văn hóa, lịch sử
trong đó Nam Phong không chỉ là một tờ tạp chí đơn thuần mà nó còn “quy
tụ” những tinh hoa của những tinh hoa trong thời kỳ 30 năm đầu thế kỷ XX
Trang 28Điều thấy rõ ràng nhất trên Nam Phong, đó là tờ tạp chí đầu tiên nhìn nhân
một cách nghiêm túc về các giá trị của một đất nước, từ nghiên cứu lịch sử, khoa học, địa lý đến những vấn đề thuộc phạm trù của văn hóa, văn học
Cũng không phải ngẫu nhiên mà Nam Phong thu hút được những nhà nghiên
cứu, nhà văn hóa, nhà khoa học “tầm cỡ” thời bấy giờ Chính vì tạp chí “hội
tụ” được những tinh hoa ấy cũng là một trong những nguyên nhân đưa Nam
Phong trở thành tờ báo có “sức nặng” trong giới phê bình, nghiên cứu và
những độc giả thời bấy giờ Một điều không kém phần quan trọng nữa trên
Nam Phong tạp chí đó là nhìn nhận rõ sự tiến bộ, sự hiện đại của tờ báo giao
thời, đó là một tờ báo được viết với 3 thứ ngôn ngữ: chữ Pháp, chữ Quốc ngữ, chữ Hán đáp ứng các loại độc giả mới cũ khác nhau của giai đoạn giao thời Chính vì sự tiến bộ này đã là một chìa khóa “khai sáng” cách nhìn nhận về vấn đề cho các trí thức, nhà nho đương thời
Không thể phủ nhận Nam Phong ra đời nằm trong âm mưu văn hóa của
thực dân Pháp Thế nhưng, Pháp không thể ngờ rằng, tờ tạp chí với dung lượng lớn mỗi kỳ đó lại trở thành nơi tập hợp một đội ngũ sáng tác đông đảo gồm các văn sĩ Nho học và Tây học ưu tú nhất của thời đại để dần dần họ đã chuyển nội dung của tạp chí hướng về hoạt động học thuật và nghệ thuật, tìm hiểu các nền văn hóa Đông Tây, đặc biệt là văn hóa Việt Nam, hô hào nâng cao dân trí, dân khí và dân chí Cũng từ hệ quả tất yếu của hoàn cảnh lịch sử
xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến lối tư duy của các tác giả khi nhìn nhận
về mọi vấn đề mà họ nghiên cứu Đặc biệt trên mảng nghiên cứu văn học,
việc đánh giá và khẳng định lại những giá trị văn học như Truyện Kiều lại
càng rõ rệt Những tư tưởng văn hóa truyền thống đã ăn sâu vào tâm thức của các nhà nho và những tư tưởng văn hóa của phương Tây du nhập vào Việt Nam qua các trường học đã giúp các nhà trí thức thời bấy giờ biết nhận ra, khẳng định và đánh giá đúng đắn những giá trị của tác phẩm văn học, đặc biệt
là tác phẩm vào hàng kiệt tác của nhân loại như Truyện Kiều
Trang 29Về chủ quan, hành trình 17 năm 6 tháng cho “cuộc đời” của một tạp chí
ở vào giai đoạn trước cách mạng tháng Tám cũng là một hành trình khá dài…
Về khách quan, khi Nam Phong tạp chí phải đối mặt với những cuộc cách
mạng lớn trên văn đàn: như cuộc cách mạng thi ca mở đầu từ tháng 3/1932 và
trào lưu lãng mạn của tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 1933 Nam Phong tạp chí
đã trở nên bất cập trước tiến trình phát triển, trước sự đổi mới của lịch sử văn học nước nhà và trở thành đối tượng công kích của nhiều tờ báo, nhất là tờ Phong Hóa, thể hiện luồng tư tưởng mới với một sự đổi thay mới về hình thức
và có sức thu hút ghê gớm trên văn đàn nước ta vào những năm ba mươi của thế kỷ trước
1.3 Mối quan hệ giữa văn học quốc ngữ và phê bình Truyện Kiều Người đọc và tiếp nhận Truyện Kiều trong thế kỷ XIX về căn bản là các
trí thức nho sĩ Tất nhiên độc giả ở thế kỷ này chưa có ý thức nghiên cứu văn học, những cảm tưởng, nhận xét của họ về tác phẩm đều trình bày dưới dạng thơ ca đề vịnh, bài đề tựa hay bạt chứ không phải viết bằng văn phong nghiên
cứu Một loạt các bài tựa, bạt cho Truyện Kiều được các nhà nho viết ra trong
thế kỷ XIX thường bộc lộ sự đồng cảm, chia sẻ đối với cảm hứng của Nguyễn Du: vấn đề số phận của tài tình, tức của những người phụ nữ tài hoa bạc mệnh, mối tương liên giữa số phận của họ với số phận của những nhà nho nghệ sĩ tài hoa cũng tự xem là bạc phận Thế kỷ XIX cũng chứng kiến cách
đọc Truyện Kiều quen thuộc của nhà nho: phê bình nhân vật theo quan điểm
đạo đức nho giáo, lối phê bình vẫn tiếp tục đến đầu thế kỷ XX
Bối cảnh hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX gắn liền với chữ quốc ngữ, nhiệm vụ xây dựng nền văn học tiếng Việt, chính thức từ bỏ văn học viết
bằng chữ Hán Tuy Nam Phong vẫn có cả mục Hán văn, Pháp văn để phục vụ
những đối tượng riêng, song văn học viết bằng chữ Quốc ngữ vẫn là mục tiêu chính của họ Ở giai đoạn đầu của văn học Quốc ngữ, khi chưa có mẫu mực
Trang 30cho văn học tiếng Việt, các nhà nho, trí thức đã phải tìm kiếm mẫu mực ở văn
học tiếng Việt trong quá khứ, mà tiêu biểu là trong Truyện Kiều hay Ngâm
khúc Trong giai đoạn văn hóa Việt Nam đang ở bước chuyển từ văn hóa
phương Đông truyền thống sang nền văn hóa hiện đại với ảnh hưởng rõ rệt của văn hóa phương Tây, vấn đề “nền cựu học” đã được đưa ra bàn luận Nền quốc học phải được xây dựng trên những tảng nền nào? Tiếng Việt có ý nghĩa gì đối với một nền quốc học, nơi mà truyền thống vốn nặng về Hán Văn, hiện tại đang bị đè nặng bởi Pháp văn? Thế là nhiều người, nhất là thế hệ trí thức tân
học nghĩ đến vai trò của Truyện Kiều, nghĩ đến tiếng Việt của Truyện Kiều
Những yếu tố tác động mang tính thời đại của văn học Việt Nam là chữ quốc ngữ và sự ra đời của báo chí Chữ quốc ngữ được đặt ra từ thế kỉ XVII nhưng chỉ được sử dụng trong phạm vi nhà thờ Thiên Chúa giáo Ngay từ đầu, chính quyền thống đốc Nam Kỳ đã đem chữ quốc ngữ dạy trong nhà trường, viết các giấy tờ hành chính, phiên âm các truyện Nôm, cho Trương Vĩnh Kí, Huỳnh Tịnh Của soạn sách vở Với quan niệm đây là thứ chữ do quân xâm lược sáng tạo, là công cụ tay sai của Pháp, sĩ phu và nhân dân Việt Nam đã tẩy chay chữ quốc ngữ Đến đầu thế kỉ XX, chữ quốc ngữ từ chỗ bị tẩy chay lại dần được đông đảo người Việt chấp nhận và sử dụng nó với tư
cách là phương thức duy nhất phiên âm tiếng Việt Trên Nam Phong, chữ
quốc ngữ là một trong ba chữ viết được sử dụng để phục vụ độc giả (chủ yếu
là tầng lớp thị dân không biết chữ Hán, chữ Pháp)
Cố nhiên việc sáng tác văn thơ bằng chữ Quốc ngữ để thay cho chữ Hán
và chữ Nôm còn phải trải ngót hai mươi năm trong các thử nghiệm cả về hai phía: người viết và người đọc Hàng nghìn năm nền văn hóa cổ truyền đã tạo nên một mô hình ổn định cho sáng tác và tiếp nhận, trong đó cả chữ Hán và chữ Nôm đều đã có đời sống riêng gần như không mấy thay đổi Thế mà không đầy hai thập niên đầu thế kỷ, trong những thức nhận mới của đất nước,
Trang 31nền văn chương, học thuật của dân tộc bỗng chuyển sang một mô hình khác,
mô hình quốc ngữ, với sức chuyên chở và phổ cập được trao cho phong trào báo chí, xuất bản bỗng lần đầu tiên xuất hiện và sớm trở nên sôi nổi như chưa bao giờ có trong ngót nghìn năm nền văn chương học thuật cổ truyền
Bên cạnh chữ quốc ngữ, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng, to lớn của báo chí – một thành tố văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ XX
Trong ba thập niên đầu thế kỉ XX, báo chí đã giữ vai trò là chiếc nôi, “bà đỡ
của văn học hiện đại” Năm 1917, Nam Phong tạp chí đã ra đời thay cho
Đông Dương tạp chí tiếp tục đảm bảo sự “hướng dẫn” của chính phủ bảo hộ
Phạm Thị Ngoạn đã đưa ra một kiến giải hợp lí “Vào thời kì Nam Phong ra
đời, chính quyền thuộc địa kiểm soát chặt chẽ toàn thể báo chí quốc văn, và bất cứ một tác phẩm định kì nào cũng phải tối thiểu có một người Pháp làm sáng lập viên hay chủ nhiệm Không thể đứng ngoài thông lệ, Nam Phong đã chấp nhận thời thế Nhưng không ai có thể phủ nhận là tạp chí đã tìm thấy một lối thoát, khả dĩ phục vụ quyền lợi quốc gia.”
Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1930 là thời kỳ thai nghén và hình thành của ngành nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam Trong khoảng 20 năm đầu thế kỷ này, mọi hoạt động nghiên cứu, phê bình trên báo chí ở nước
ta hầu như còn trong tình trạng thưa thớt, vắng vẻ Từ những năm 20 trở đi, ta mới thấy xuất hiện một số bài nghiên cứu, phê bình trên báo chí đương thời
Đó là những bài giới thiệu và bình luận sách, những bài giảng văn kim cổ, những trang khảo cứu kèm theo những lời “lạm bình”…đăng trên các tờ báo
Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Trung Bắc tân văn, Phụ nữ tân văn, Hữu thanh…Ví dụ, dõi theo Nam Phong tạp chí, ta có thể phần nào hình dung
ra quá trình phôi thai, hình thành, vận động của nghiên cứu và phê bình văn học những năm đầu thế kỷ này Với 210 số báo trong suốt 17 năm tồn tại của
mình (1917 – 1934), Nam Phong tạp chí đã là nơi cung cấp từ ngữ, thuật ngữ
Trang 32mới dùng trong nghiên cứu, phê bình cùng với các kiểu bài phê bình khác
nhau theo cả lối cổ và kim Có thể nói Nam Phong tạp chí là một hiện tượng
tiêu biểu cho việc nghiên cứu, phê bình đang dần trở thành một hoạt động xã hội đặc thù, một bộ môn không thể thiếu được của nền văn học hiện đại lúc
đó Trong giai đoạn này, nghiên cứu và phê bình văn học mới chỉ tồn tại ở dạng những bài viết lẻ tẻ in trên báo chí, chưa có những công trình lớn đáng
kể, chưa có người nghiên cứu phê bình văn học chuyên nghiệp
Nghiên cứu và phê bình văn học lúc này đã kế thừa truyền thống khảo cứu, phê bình của ông cha ta thời xưa và chịu ảnh hưởng sâu sắc lý luận nghiên cứu phê bình hiện đại của phương Tây Truyền thống khảo cứu, phê văn bình thơ của ông cha ta xưa là một hoạt động văn hóa tao nhã của những người có học vấn cao trong xã hội phong kiến Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX, truyền thống này vẫn tồn tại trong đời sống văn học nước ta Các thế
hệ sau đã kế thừa một cách sáng tạo những tinh hoa của truyền thống nghiên cứu, phê bình văn học ấy, đặc biệt là sự tinh tế, nhạy cảm cùng với lối thẩm văn tài hoa của các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình thời xưa
Kế thừa có đổi mới một cách sáng tạo truyền thống nghiên cứu phê bình văn học dân tộc, tiếp thu có chọn lọc các lý thuyết nghiên cứu, phê bình văn học phương Tây hiện đại là một đặc điểm quan trọng của nghiên cứu, phê bình văn học nước ta lúc đó Rõ ràng những bài viết những tác phẩm nghiên cứu, phê bình văn học có giá trị, có sức hấp dẫn người đọc lúc ấy thường là những bài, những tác phẩm kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp nghiên cứu phê bình truyền thống của dân tộc ta với phương pháp phê bình hiện đại của phương Tây
Việc nghiên cứu, bình giải văn chương Truyện Kiều được nhìn nhận ở
nhiều chuẩn mực khác nhau Tính hiện đại của nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam thời kì này còn được thể hiện rõ ở những chuẩn mực mới mà các
Trang 33nhà nho, các trí thức “thấu triệt” được từ việc tiếp nhận văn hóa, văn học phương Tây Nếu ngày trước, ông cha ta coi trọng văn chương mỹ thuật, văn chương hình tượng, lấy việc tuân thủ nghiêm ngặt những luật lệ văn chương (niêm luật, điển tích, điển cố, hệ thống hình tượng ước lệ…) của các tác phẩm
là nguyên tắc chuẩn thì lúc này, lớp người kế cận lại chủ trương chống thứ văn chương rập khuôn theo mẫu của người xưa, đề cao tính độc đáo và sự chân thực của chủ thể sáng tạo
Quan điểm thẩm mỹ thay đổi nên những chuẩn mực để đánh giá văn học cũng biến đổi Hầu như toàn bộ những chuẩn mực cũ để đánh giá văn chương đã bị thay thế Giờ đây các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã có những chuẩn mực mới Những chuẩn mực này rất đa dạng phong phú, tùy theo quan niệm khác nhau của từng xu hướng nhưng lại phù hợp với tính chất hiện đại của nền văn học Việt Nam lúc đó
Sự hình thành và phát triển của ngành nghiên cứu, phê bình văn học lúc
này đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và phê bình Truyện Kiều bước sang
một giai đoạn mới, phong phú và đa dạng cả về số lượng và chất lượng Những ý kiến bình luận tác phẩm giờ đây không chỉ tồn tại dưới dạng đề tựa,
đề từ, đề vịnh… phổ biến trong thời kỳ văn học Trung đại mà đã xuất hiện trên các mặt báo, các tạp chí dưới dạng những bài phê bình khảo cứu ít nhiều
có tính khoa học Đặc biệt là sự xuất hiện của một loạt bài nghiên cứu về
Truyện Kiều trên Nam Phong tạp chí đã đánh dấu những điểm mốc đáng kể
trong việc nghiên cứu, phê bình tác phẩm lúc đó
Nội dung nghiên cứu, bình giá Truyện Kiều khi ấy cũng được mở rộng
hơn Kiệt tác của Nguyễn Du không chỉ được xem xét ở lĩnh vực đạo đức luân
lý, ở sự đồng cảm của kiếp người tài hoa bạc mệnh mà còn được đi sâu tìm
hiểu ở nhiều vấn đề cụ thể xoay quanh vấn đề nguồn gốc Truyện Kiều, thiên tài sáng tạo của Nguyễn Du trong tác phẩm, tư tưởng triết lý của Truyện Kiều,
Trang 34vẻ đẹp của tác phẩm về nội dung và nghệ thuật, giá trị đích thực của Truyện
Kiều trong đời sống văn hóa, văn học dân tộc… Tác phẩm giờ đây được nhìn
dưới nhiều góc độ khác nhau tùy theo chỗ đứng và điểm nhìn của mỗi nhà nghiên cứu, phê bình Cũng vì thế, giai đoạn này đã xuất hiện những cuộc
tranh luận khá gay gắt trên báo chí về Truyện Kiều: Cuộc bút chiến của Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng với Phạm Quỳnh xoay quanh Truyện Kiều
(những năm 20 – 30), cuộc tranh luận giữa hai phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”
và “nghệ thuật vị nhân sinh” mà Truyện Kiều được dẫn làm ví dụ minh họa (nửa sau những năm 30) và các bài phê bình xoay quanh tác phẩm “Nguyễn
Du và Truyện Kiều” của Nguyễn Bách Khoa (những năm đầu thập kỷ 40) Rõ
ràng ở giai đoạn này, cách nhìn nhận, cách nghiên cứu đánh giá Truyện Kiều
của các nhà bình luận đã vượt ra khỏi khuôn khổ phong kiến chật hẹp để vươn tới giao lưu với những quan điểm văn học mới, hòa vào những bước đi của nghiên cứu phê bình văn học giai đoạn này
Có thể nói, không chỉ có vai trò với phong trào nghiên cứu phê bình văn
học Việt Nam trên Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh còn là người giữ vai trò
nòng cốt trong việc đẩy hoạt động phê bình nói chung những năm đầu thế kỷ thành một sinh hoạt thường xuyên và có chất lượng Đặc biệt công trình
nghiên cứu phê bình Truyện Kiều đăng nhiều kỳ trên Nam Phong thể hiện rõ
nhất việc vận dụng phê bình của phương Tây để tìm hiểu một kiệt tác văn chương cổ của dân tộc Cách nghiên cứu của học giả thường vừa chỉ cho độc giả thấy, vừa cung cấp thêm tư liệu (như các tư liệu để xem xét nguồn gốc của
Truyện Kiều) nhằm giúp độc giả có thể mở rộng hướng nghiên cứu tác phẩm
mà đối chiếu, so sánh, từ đó tự mình nhìn nhận, đánh giá thêm những sáng tạo độc đáo, tài tình của Nguyễn Du Trong bài viết này, Phạm Quỳnh cũng vận dụng lý luận khai thác tâm lý nhân vật của phương Tây để phân tích tâm lý cô
Kiều Năm 1919 trên báo Nam Phong số 30, Phạm Quỳnh đã đem cái sở đắc
Trang 35về phương pháp phê bình khảo cứu của văn học thái tây để phân tích Truyện
Kiều, một kiệt tác phẩm văn chương chữ nôm của cụ Nguyễn Du , từ khi ra
đời (đầu thế kỷ XIX) đến nay vẫn được từ vua quan trí thức đến hạng dân giả
quê mùa đều ưa thích Theo họ Phạm, phải dùng phương pháp đó “mới mong
phát huy được cái đặc sắc, bày tỏ được cái giá trị của một nền tuyệt tác trong quốc văn An Nam ta.”
Kết quả hiển nhiên, Phạm Quỳnh đã phát hiện ra được những nét độc
đáo về nghệ thuật của Truyện Kiều, thôi thì từ cách kết cấu điểm xuyết khéo
léo đến lời văn điêu luyện, ý tứ thâm trầm Từ nghệ thuật tả người, tả cảnh
đến tâm lý cô Kiều đều là tuyệt bút: “Truyện Kiều thật là đủ các lối văn
chương, mà lối nào cũng tới cực điểm, mỗi lối một vẻ, lối nào cũng là ‘mười phân vẹn mười’ .” Và theo Phạm Quỳnh “có lẽ không văn chương nào có quyển truyện, bộ thơ mà phổ cập bằng Truyện Kiều ở nước ta”, bởi không
những văn chương nghệ thuật nó hay, lại phản chiếu được tâm sự của con
người ta mà còn là quyển sách cao thượng “Không đâu có quyển sách nào
vừa cao thượng đủ cảm được người học thức, vừa giản dị đủ cảm được kẻ bình dân như Truyện Kiều [43,491]”
Cũng vì nhận thấy tiếng mẹ đẻ có liên hệ mật thiết với sự tồn vong của
dân tộc “có quốc âm mới có quốc hồn, có quốc hồn nước mới sống được”, từ
đó Phạm Quỳnh đã nhìn ra được cái công to của Nguyễn Du qua Truyện Kiều đối với nước nhà Truyện Kiều giúp cho quốc âm được trường tồn vì “người
nước ta, ai là người không thuộc ít nhiều câu trong Truyện Kiều, không ai là người không ưa thích Truyện Kiều…” Lại nữa, “nay nhờ cụ Nguyễn Du mà hương hoả của tổ tiên ta để lại, thêm được một hạt trân châu vô giá, đủ bổ cứu cho sự nghèo nàn của giống nòi ta; hạt trân châu ấy là cái áng phong tình kiêm tiết nghĩa của nàng Kiều vậy, (và) Cụ Tiên Điền ta cũng đã dựng nên cái nhà vàng cho nàng Kiều ở thì đủ biết Cụ là một tay thơ tài, và tài liệu của ta
Trang 36nếu khéo biết dùng cũng không phải là không sung túc.[43,495]” Như thế, mặc
nhiên đối với Phạm Quỳnh, Cụ Nguyễn Du đã thi hành được cái sứ mệnh của một bậc “quốc sĩ”, phá được cho dân tộc cái nghi án thiên cổ “tiếng ta nghèo”
Cụ Nguyễn Du còn là vị sứ giả làm vẻ vang cho nòi giống trên trường
văn hoá quốc tế: “Lạ thay, tiếng An nam ta nhiều người chê là nghèo nàn, non
nớt, thế mà Truyện Kiều thời rõ ra là một áng văn chương lão luyện, tưởng có thể so sánh với những hàng kiệt tác trong các văn chương khác mà không thẹn vậy Đủ biết rằng tiếng ta cũng đủ phong phú, nếu khéo luyện tập cũng làm nên văn chương hay, chẳng kém gì tiếng nước khác chớ không phải như nhiều người tưởng lầm là một thứ tiếng bán khai, đành lòng bỏ đi để đem công
mà học văn chương nước khác"[43,498].Cũng chính từ những bài viết này của
Phạm Quỳnh đã khơi ngòi nổ cho Phong trào phê bình Truyện Kiều trên Nam
Phong Phong trào phê bình Truyện Kiều là sự kiện đáng lưu ý nhất trong sinh
hoạt phê bình văn học đầu thế kỷ Nó đã góp phần quan trọng vào việc tạo điều kiện và dẫn bước cho hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học cổ của dân tộc
Từ khi Phạm Quỳnh ở Pháp về (1923), do sự khích lệ của ông, tờ Nam
Phong trở nên một diễn đàn thường xuyên bàn luận về Truyện Kiều Giá trị
nghệ thuật văn chương Truyện Kiều nhờ đó được khai triển hơn nữa, nhất là
qua ngòi bút phân tích của giới trí thức trẻ như Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam Nhóm này còn tiến xa hơn ông ông chủ bút về chuyện tán dương luân
lý, đạo đức của cô Kiều Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng ý như thế, trong giới cựu học như Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục thì lại lên án cô Kiều rất gắt, và sợ cho cái ảnh hưởng xấu của nó trong xã hội
Lời cảnh cáo của hai nhà cựu học, bỉnh bút của Nam Phong không phải
Phạm Quỳnh không lưu ý, nhưng ông vẫn nghĩ rằng ngày nay, người ta không thể đứng ở quan điểm “văn dĩ tải đạo”, dựa vào giáo điều đạo đức khe khắt của Khổng Mạnh xưa để phê bình một tác phẩm văn chương; huống chi dưới
Trang 37con mắt của Phạm Quỳnh Truyện Kiều là một “tác phẩm mỹ thuật”, đã gây
được “mỹ cảm” trong khắp các tầng lớp quốc dân ta, “ai cũng chịu là hay”…
Như vậy, chúng ta đã khẳng định vai trò của Nam Phong trong đó có bộ phận những bài nghiên cứu về Truyện Kiều đang được khảo sát ở đây có đóng
góp lớn, mở đường cho lý luận nghiên cứu, phê bình đầu thế kỷ XX Nhưng cũng như một số nhận định chung về phong trào lý luận phê bình thời kỳ này,
do một số nhà lý luận phê bình vốn xuất thân nho học, thường chú trọng về học thuật hơn là sáng tác, các nhà tân học tiếp thu tri thức phê bình mới của phương Tây thì chưa tiếp thu một cách sâu sắc và vận dụng một cách nhuần
nhuyễn nên những bài phê bình về văn học nói chung và văn học cổ trên Nam
Phong nói riêng ít yếu tố mới, còn mang nhiều dấu ấn cũ Ngay cả quan niệm
văn học, về căn bản vẫn là quan niệm cũ Quan niệm ấy đã quy định cách nhìn, cách đánh giá của họ về tác phẩm: nhân vật, nội dung tư tưởng, nghệ thuật tác phẩm, ý đồ của nhà văn Điều này cũng thể hiện rõ trong loạt bài phê
bình và đánh giá Truyện Kiều
Trang 38CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VÀ PHÊ BÌNH
TRUYỆN KIỀU
2.1 Vấn đề hiện đại hóa văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX
Hiện đại hóa văn học cả về sáng tác và lý luận phê bình bao gồm dịch
và giới thiệu cả sáng tác và phê bình văn học của Tây phương, kể cả dịch bài
phê bình Truyện Kiều của R Craysăc để đổi mới sáng tác và lý luận phê bình
Chính từ đây mà có nhu cầu ứng dụng các phương pháp phê bình Tây phương
đối với Truyện Kiều Đồng thời, Nam Phong cũng có đăng cả những bài phê bình Truyện Kiều theo quan niệm của các nhà nho cũ (như Nguyễn Đôn Phục) Luận văn xem việc nghiên cứu phê bình Truyện Kiều trên Nam Phong
như là đối tượng phản ánh tiến trình đổi mới và đồng thời cả đặc điểm giao thời của văn học đầu thế kỷ XX
Vào những năm đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam chính thức bước vào thời kì đổi thay lớn Điều kiện nội sinh cùng với những tác động của yếu tố ngoại lai đã làm nên cuộc lột xác trên mọi phương diện của văn học Đây không chỉ là vấn đề của văn học Việt Nam mà còn là thực trạng chung của văn học cả khu vực Đông Á, của những nền văn học từng trải qua thời gian dài phát triển với văn tự chữ Hán, giờ đây được tiếp nhận các yếu tố hiện đại
từ văn học phương Tây Vận hành theo quy luật phát triển chung của cả khu vực, văn học Việt Nam vẫn tạo cho mình một diện mạo riêng trong quá trình hiện đại hóa Tính giao thời là một trong những đặc trưng đã góp phần làm nên gương mặt đặc biệt cho văn học Việt Nam giai đoạn 1900-1930
Quan niệm sáng tác văn chương thời trung đại chính là quan niệm của nhà Nho chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo Đến đầu thế kỷ XX, quan niệm này đã có sự thay đổi do hoàn cảnh lịch sử xã hội Quan niệm của các nhà Nho cũng như các nhà trí thức thời này đã bắt đầu có sự đan xen giữa yếu
tố cũ và mới, từ việc sáng tác văn chương đến phê bình văn học đều chịu ảnh
Trang 39hưởng bởi nhân tố xã hội và văn hóa Đây cũng là thời kỳ duy nhất trong lịch
sử tồn tại 2 luồng tư tưởng trái ngược nhau Một là lực lượng các nhà nho sáng tác và nghiên cứu phê bình theo luân thường đạo lý của phong kiến Họ vẫn sáng tác theo lối văn chương thời phong kiến và bình luận văn học theo cách nhìn của một nhà nho chính thống Trái ngược với họ là lực lượng trí thức mới, họ sáng tác theo các thể loại mới, viết bằng hình thức kết cấu mới
và tích cực phê bình cách nhìn nhận tác phẩm theo con mắt của nhà nho Bởi
có sự đối nghịch như vậy nên trong rất nhiều tạp chí đương thời, tiêu biểu là
Nam Phong đã tồn tại những luồng tư tưởng đối nghịch nhau, dẫn đến nhiều
cuộc tranh luận liên quan đến phương pháp nghiên cứu, sáng tác, nhìn nhận
đánh giá về nhân vật trong tác phẩm Nam Phong là tạp chí đánh dấu rõ nét nhất tính giao thời, trong các số báo của Nam Phong vẫn tồn tại những bài thơ
viết theo thể đường luật, những truyện ngắn, tiểu thuyết mang dáng dấp anh hùng nghĩa hiệp Bên cạnh đó còn có những bài thơ, truyện ngắn hay những bài phê bình mang dấu ấn của phong cách phương Tây hiện đại
Trong Nam Phong tạp chí, vấn đề sáng tác cũng có nhiều thay đổi theo
hướng hiện đại hóa Tuy nhiên, còn nhiều tác phẩm vẫn hướng vào nội dung
ca ngợi trung hiếu, tiết nghĩa hay viết về những con người sống theo chuẩn mực đạo đức phong kiến Đề tài yêu nước, kêu gọi đấu tranh chống giặc cũng được các tác giả dòng văn học yêu nước tập trung thể hiện Bên cạnh những
đề tài quen thuộc ấy, thơ văn đầu thế kỷ XX bắt đầu đi sâu vào một số vấn đề mới mà trước kia chưa được khai thác hoặc khai thác chưa triệt để như số phận người nông dân, cuộc sống của tầng lớp thị dân thời kỳ tư sản hóa hay
sự sa sút của các gia đình phong kiến, tình yêu lãng mạn tự do, phóng túng… Hai loại đề tài cũ và mới đan xen nhau vô tình tạo nên sự đa dạng về nội dung
và tạo ra tính chất phức tạp cho văn chương đương thời
Trang 40Suốt 10 thế kỷ tồn tại của văn học trung đại, văn học viết Việt Nam lấy chữ Hán và chữ Nôm làm phương thức thể hiện duy nhất Ba mươi năm đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi trong sáng tác văn học của cả nước Chữ Quốc ngữ tuy đã chính thức bước vào tác phẩm nhưng dòng văn học chữ Hán vẫn chưa bị đẩy lùi ngay Vì thế không khó để nhìn nhận rằng, lực lượng sáng tác phê bình văn học chữ Hán trong buổi giao thời vẫn khá đông đảo Việc đưa chữ Quốc ngữ vào sáng tác vừa làm nên những giá trị nghệ thuật mới mẻ vừa thể hiện sự hiện đại hóa trong văn học Tóm lại, ở đầu
thế kỉ XX, trong văn học Việt Nam nói chung và trên Nam Phong nói riêng,
những hình thức mới mẻ về ngôn ngữ như đã trình bày cùng hiện diện bên cạnh các hình thức ngôn ngữ vốn có trong văn học trước kia Cả hai đều có vai trò cần thiết, làm nên những món ăn tinh thần phù hợp thị hiếu người đọc lúc bấy giờ Trong quá trình hiện đại hóa ở giai đoạn giao thời, nếu như văn chương Bắc bộ có xu hướng đơn giản hóa ngôn ngữ ảnh hưởng chữ Hán, thì văn chương Nam bộ lại có xu hướng vừa bình dân hóa, đời thường hóa ngôn ngữ văn chương nghệ thuật, vừa tiếp nhận ảnh hưởng ngôn ngữ Pháp
Sự tồn tại song song cái cũ và cái mới đã nói lên tính giao thời của văn học giai đoạn này Chính cách kết hợp, đan cài, pha tạp cái cũ với cái mới đã tạo nên những giá trị đặc biệt, không thể xếp vào kho tàng văn học trung đại
mà cũng chưa thể công nhận là tác phẩm hiện đại Nam Phong tạp chí ra đời
trong khoảng giao thời đó như một mốc lịch sử văn học, đánh dấu xu hướng tiến gần đến văn học hiện đại
Do hoàn cảnh lịch sử, văn hóa xã hội đầu thế kỷ XX có nhiều sự thay đổi lớn, nhu cầu đổi mới theo xu hướng hiện đạo hóa là điều tất yếu Vì thế, việc sáng tác và nghiên cứu văn chương cũng không nằm ngoài xu hướng đó Việc ảnh hưởng lớn từ nền văn hóa châu Âu dẫn đến ý thức hệ thay đổi, quan niệm văn chương trong sáng tác cũng dần thay đổi… Một điều dễ nhận thấy