Trong số những nhà nho chí sĩ coi văn chương là một vũ khí lợi hại để đấu tranh với kẻ thù ấy, Huỳnh Thúc Kháng và sự nghiệp văn học của ông gắn bó chặt chẽ với những biến động của thời
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-VŨ THỊ VÂN
THƠ VĂN HUỲNH THÚC KHÁNG TRONG TIẾN TRÌNH
HIỆN ĐẠI HOÁ VĂN HỌC VIỆT NAM
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Trang 2MỤC LỤC
Trang Phần một : Mở đầu 1
1 Cốt cách xứ Quảng trong con người Huỳnh Thúc Kháng 7
Trang 3văn học Việt Nam
những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
2 Huỳnh Thúc Kháng và tiến trình hiện đại hoá văn học 67 Việt Nam
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam diễn ra quá trình chuyển biến từ xã hội phong kiến cổ truyền phương Đông sang xã hội cận hiện đại tư sản phương Tây Đó là bước chuyển cực kì sâu sắc cả về thời gian lẫn không gian lịch sử Sự thay đổi này xảy ra sớm nhất và nổi bật nhất trong phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc Xã hội Việt Nam xuất hiện nhiều xu hướng mang tính chất cải cách Điểm mới là các phong trào cách mạng này đều do các sĩ phu nặng lòng trung nghĩa khởi xướng và nó đã diễn
ra mạnh mẽ, công khai, mượn hình thức của một cuộc vận động văn hoá và dùng văn chương làm công cụ tuyên truyền Đó chính là không gian tư tưởng
và không khí văn chương để các nhà nho chí sĩ xuất hiện trên văn đàn Việt Nam
Trong sự vận động của văn học đầu thế kỉ, từ một nền văn học trung đại mang tính khu vực, văn học Việt Nam bắt đầu chuyển dần từng bước sang nền văn học hiện đại mang tính quốc tế với những tên tuổi lớn như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và nhiều nhà yêu nước khác Vốn là những học trò ưu tú của Nho môn trong một giai đoạn lịch sử đầy biến
động, hơn ai hết họ thấm nhuần lí tưởng “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu
trách” Lí tưởng nam nhi, tinh thần tự nhiệm, sự xuất hiện của trách nhiệm
công dân của các nhà nho chí sĩ hồi đầu thế kỉ đã tạo ra “những vùng, những mảng mờ trong tư tưởng, tư duy nghệ thuật với những nỗ lực cách tân to lớn” Trong số những nhà nho chí sĩ coi văn chương là một vũ khí lợi hại để đấu tranh với kẻ thù ấy, Huỳnh Thúc Kháng và sự nghiệp văn học của ông gắn bó chặt chẽ với những biến động của thời đại và phản ánh rõ nét không khí thời
Trang 5đại cũng như khuynh hướng vận động của văn học Việt Nam trong giai đoạn giao thời nhạy cảm ấy Nói đúng hơn, Huỳnh Thúc Kháng từ một nhà nho đã vươn lên trở thành một trong những lãnh tụ tiêu biểu nhất của phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX, đồng thời là một tác gia văn học tiêu biểu
và quyền uy của văn học Việt Nam giai đoạn đó Chúng tôi nhận thấy ở Huỳnh Thúc Kháng hội tụ đầy đủ đặc điểm của một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của thế hệ ông :
Thứ nhất, Huỳnh Thúc Kháng đã để lại một văn nghiệp khá đồ sộ thuộc
nhiều thể loại khác nhau, từ thơ, phú (chữ Hán, chữ quốc ngữ), điếu, văn xã thuyết, phê bình, dịch thuật,… quan trọng hơn là khi khảo sát thơ văn ông chúng tôi thấy ông đóng một vai trò rất quan trọng, là một trong những người tiên phong và quyền uy nhất trong quỹ đạo vận động của văn học Việt Nam từ phạm trù trung đại tiến dần sang phạm trù hiện đại, hội nhập vào quỹ đạo văn học thế giới hai mươi, ba mươi năm đầu thế kỉ XX Chính những nhà nho chí
sĩ đầu thế kỉ mà tiểu biểu là Huỳnh Thúc Kháng đã làm nên một diện mạo
mới vẻ đẹp đặc biệt của hình tượng “cái tôi” trong thơ ca Việt Nam
Thứ hai, trong số những nhà nho chí sĩ nhập thế bằng con đường lập
ngôn, sáng tác văn chương đương thời, Huỳnh Thúc Kháng là một trong số không nhiều người tiến xa nhất trong văn nghiệp : hoạt động trên một mặt trận rất mới, rất “hiện đại” là báo chí, viết phê bình, dịch thuật,… hơn thế nữa, ông là người duy nhất trong số họ mà sự nghiệp hoạt động cách mạng cũng như văn nghiệp đến được với cách mạng tháng Tám và những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Sự hiện diện của một lão thành cách mạng, một cựu “quốc sự phạm”, một nhà văn nhà thơ mà nhân cách và tài năng đã được nhân dân ghi nhận và ngưỡng vọng giữa văn đàn trong một bối cảnh lịch
sử mới chắc hẳn sẽ đem đến những ảnh hưởng có tác động tích cực đối với sự phát triển của văn học Việt Nam
Trang 6Với những lí do kể trên cùng với mong muốn bổ sung thêm một tên tuổi
lớn nhưng vì những lí do nào đó còn bị khuất lấp vào đội ngũ những nhà văn – chí sĩ tiêu biểu hồi đầu thế kỉ, người viết lựa chọn đề tài này với hi vọng
bước đầu tìm hiểu về sáng tác của Huỳnh Thúc Kháng – một trong những nhà
hoạt động cách mạng chân chính và nổi bật vào bậc nhất trong 30 năm đầu thế
kỉ XX Những năm qua chúng ta đã nghiên cứu thơ văn và trả lại vị trí xứng đáng cho Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Ngô Đức Kế,… thì không có lí
do gì chúng ta không đặt ra vấn đề nghiên cứu Huỳnh Thúc Kháng với tư cách một tác giả văn học, một nhà văn hoá tiêu biểu của dòng văn học yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ trên cả hai phương diện những đóng góp tích cực vào tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà cũng như những điểm hạn chế làm cản trở sự vận động của văn học Việt Nam những năm hai mươi,
ba mươi năm của thế kỉ XX
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Như trên đã trình bày, trong quá trình hoạt động cách mạng, để phục vụ cho mục đích chính trị, Huỳnh Thúc Kháng cũng như nhiều nhà cách mạng đương thời đã sử dụng văn chương như một phương tiện đấu tranh đắc lực
Song, nói như thế đúng nhưng vẫn chưa đủ, còn phải là họ làm chính trị bằng
văn chương Chính vì thế mà các sáng tác của họ gắn liền với những thăng
trầm của lịch sử và đời sống văn hoá, xã hội
Trong quá trình tìm hiểu trước tác của Huỳnh Thúc Kháng chúng tôi nhận thấy : ông có một sức viết không thể xem thường ở nhiều thể loại và với nhiều bút danh khác nhau Tuy nhiên, để làm rõ về vai trò của thơ văn Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam trong phạm vi giới hạn của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ những đóng góp của nhà chí sĩ ở các phương diện : ý thức cá nhân nghệ sĩ, quan điểm thẫm mĩ, hệ
Trang 7thống hình tượng, thể loại, ngôn ngữ văn học,… biểu hiện trong một số tác
phẩm tiêu biểu ở mỗi giai đoạn sáng tác của ông
Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát trước tác của Huỳnh Thúc Kháng
trên quan điểm khách quan hoá sự nghiệp văn học của ông, từ đó đi đến
những đánh giá khách quan giá trị thơ văn Huỳnh Thúc Kháng cả về những đóng góp tích cực cũng như những hạn chế, thậm chí kìm hãm, nhất là khi đặt
nó vào quỹ đạo vận động của văn học sử nước nhà đầu thế kỉ XX
3 Mục đích, Ý nghĩa của đề tài
Trên quan điểm xem xét những đóng góp của thơ văn Huỳnh Thúc Kháng đối với tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỉ XX, tác giả luận văn mong muốn làm sáng tỏ những đóng góp
cũng như nhấn mạnh tác động (cả tích cực lẫn hạn chế, thậm chí là kìm hãm)
của thơ văn Huỳnh Thúc Kháng về mặt nội dung cũng như về nghệ thuật đến
sự hình thành của văn học hiện đại, qua đó khẳng định vị trí của ông với tư cách là một tác giả văn học, một nhà văn hoá tiêu biểu trong 30 năm đầu thế kỉ
Luận văn không mong muốn gì hơn là qua việc khảo sát và sự tìm tòi nghiêm túc của mình, trả lại cho thơ văn Huỳnh Thúc Kháng một vị trí xứng đáng và khách quan trong lịch sử văn học (chứ không phải là trong lịch sử chính trị), qua đó, mong muốn tạo điều kiện cho những người tiếp theo nghiên
cứu sâu hơn thơ văn Huỳnh Thúc Kháng
4 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay, nếu như việc nghiên cứu về vai trò, vị trí của Huỳnh Thúc Kháng trên phương diện lịch sử – chính trị đã được khẳng định, thì ở phương diện sáng tác văn chương đều chưa được thoả đáng, còn có phần phiến diện
Ví dụ như tác giả Vương Đình Quang ngay trong công trình Thơ văn Huỳnh
Trang 8Thúc Kháng đã nhận xét : “… Cái phần để cho người ta thừa nhận Huỳnh
Thúc Kháng là một nhà văn theo quan điểm văn học, mỹ học không có mấy…” Ngoài một số công trình sưu tầm, tuyển chọn các tác phẩm của
Huỳnh Thúc Kháng, phổ biến nhất là cuốn Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng chọn
lọc của nhà nghiên cứu Chương Thâu và Huỳnh Thúc Kháng – tác giả, tác phẩm của Nguyễn Q Thắng, ngoài ra chưa có một công trình nghiên cứu
khoa học kĩ càng và nghiêm túc nào về văn nghiệp cũng như đưa ra những đánh giá về đóng góp của thơ văn Huỳnh Thúc Kháng đối với sự phát triển của văn học Việt Nam đầu thế kỉ Trong chương trình Văn học ở nhà trường phổ thông cũng không có tác phẩm nào của ông, còn các khoá luận, luận văn trong trường đại học hay những chuyên luận về thơ văn Huỳnh Thúc Kháng cũng gần như vắng bóng Đó là một thực trạng đáng phải xem xét lại, nhất là khi đặt các tác phẩm của Huỳnh Thúc Kháng trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam những thập niên đầu thế kỉ XX
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, triển khai đề tài luận văn này, chúng tôi đã
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu truyền thống như : Phương pháp thống kê, phân loại ; phương pháp đối chiếu, so sánh ; phương pháp đồng đại, lịch đại; phương pháp phân tích, tổng hợp ; phương pháp lịch sử – cụ thể Tuỳ từng vấn đề đưa ra mà chúng tôi sử dụng một hay kết hợp một vài phương pháp với nhau
để đạt hiệu quả biểu đạt tốt nhất
6 Cấu trúc luận văn
Chúng tôi trình bày luận văn với 4 phần chính:
- Phần I : Phần mở đầu
- Phần II : Phần nội dung gồm 3 chương :
Trang 9Chương 1 : Con người và sự nghiệp
Chương 2 : Văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng
Chương 3 : Huỳnh Thúc Kháng và tiến trình hiện đại hoá văn học
Trang 10PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP
1 Cốt cách xứ Quảng trong con người Huỳnh Thúc Kháng
Trong phần này của luận văn, chúng tôi mong muốn đi tìm và lí giải nguyên nhân sâu xa ảnh hưởng đến tính cách nhà cách mạng Qua một vài nét phác thảo, chúng tôi cho rằng cốt tinh xứ Quảng – quê hương nhà chí sĩ – đã nhiễm rất sâu vào Huỳnh Thúc Kháng, đến mức mà khi đi tìm lời giải đáp cho
cá tính và cốt cách của nhà chí sĩ, người ta thường tìm về cội nguồn quê hương, mảnh đất Quảng Nam “Lam sơn chướng khí” nhưng cũng là nơi sản sinh ra những nhân vật kiệt hiệt nhất trong thời đại “mưa Âu gió Á” nhiều biến động
Không chỉ dừng lại ở dó, chúng tôi còn nhận thấy, chính những biến loạn của đất nước, cùng sự thất bại “đầu rơi, máu chảy” của Nghĩa hội Quảng Nam hoạt động trong phong trào Cần vương mà ông tận mắt được chứng kiến từ thuở thiếu niên cùng với quá trình theo đòi “cửa Khổng sân Trình” với tinh thần “khắc kỉ phục lễ” được ông tiếp thu và thực hành đến mức sâu đậm Tất
cả những yếu tố này đã tạo nên một Huỳnh Thúc Kháng vừa hết sức trang nghiêm, cẩn trọng, cương quyết, chân thành nhưng cũng lại tới tận mức bảo thủ, ương ngạnh, Đó chính là những nét tiêu biểu nhưng cũng là những
điểm hạn chế trong tính cách con người Huỳnh Thúc Kháng
Những nét tính cách này in đậm trong con người thường nhật của ông và cũng là cơ sở để ta nói rằng nó in đậm trong dấu ấn sáng tạo văn chương của Huỳnh Thúc Kháng
2 Con người và sự nghiệp
Trang 11Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) còn có tên là Huỳnh Hanh, tự là Giới Sanh, hiệu Minh Viên, quê làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang thượng, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì (nay thuộc thôn I, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam Tổ tiên ông vốn là người Bắc vào xứ Quảng lập nghiệp từ thế kỉ XIV, XV và chỉ đơn thuần làm nghê nông Tuy xuất thân từ gia đình nhiều đời làm nông, nhưng thân sinh Huỳnh Thúc Kháng lại mang giấc mộng khoa cử, đi thi vài lần nhưng không đỗ đạt gì, thêm vào đó những biến cố đau lòng của gia đình sau sự ra đi của hai người anh trai vốn nổi tiếng thông minh, ham học hỏi là những nguyên nhân thúc giục Huỳnh Thúc Kháng khắc kỉ đến cùng để theo đuổi nghiệp khoa cử, “trải trên 20 năm như một ngày theo khuôn khổ nghiêm huấn không lúc nào sai” Chính nỗ lực không ngừng nghỉ ấy mà ngay từ nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng đã nổi danh là một trong
tam hùng xứ Quảng (Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phạm Liệu) Tuy
vậy, mãi đến năm 29 tuổi (1904) ông mới đỗ tiến sĩ nhưng lại không lựa chọn con đường hoạn lộ mà cùng với các bạn đồng chí hướng như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, rẽ sang một hướng khác nhiều gian nan, cực nhọc hơn nhưng tiếng thơm lưu lại đến muôn đời : con đường hoạt động cách mạng Những năm cuối thế kỉ XIX, đất nước ta gần như chìm đắm trong vòng
nô dịch cuả thực dân Pháp Những biến động lớn lao trong đời sống xã hội cùng những biến cố từ bên ngoài bằng nhiều con đường được đưa vào Việt Nam đã thúc giục những nhân sĩ tâm huyết với dân tộc không thể mãi khoanh tay nhìn đất nước trong cảnh lầm than, cơ cực Để cứu đất nước ra khỏi thực trạng bi thảm ấy, họ phải nhập cuộc với tất cả sự tự giác và nghị lực phi thường Trong số không ít những khả năng hành chỉ đương thời, duy tân, tự cường là con đường được những chí sĩ như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp lựa chọn và theo đuổi
Trang 12Đỗ đạt theo đúng ước nguyện thân phụ hằng gửi gắm nhưng khá đột ngột khi Huỳnh Thúc Kháng rẽ sang một bước ngoặt khác mà không vì bất kì một biến cố hay áp lực bên ngoài nào tác động vào Đây là một sự lựa chọn dũng cảm, hoàn toàn chủ động có ý thức và có ý nghĩa bước ngoặt không chỉ đối với sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng mà còn đối với lịch sử dân tộc trong một giai đoạn có nhiều biến động lớn lao đầu thế kỉ XX Sự kiện quan trọng này đã được lịch sử ghi nhận : “Người đỗ đạt mà không ra làm quan thì không phải đến thời điểm này mới có, nhưng đỗ chính thức đại khoa mà không ra làm quan thì những người như vậy trong lịch sử khoa cử Việt Nam không nhiều Trước Nguyễn Thượng Hiền, tôi không nhớ được có yếu nhân nào đã từng làm như thế Sau Nguyễn Thượng Hiền, giờ tới lượt hai ông, nghè Ngô
và nghè Huỳnh – những người cùng trang lứa (Huỳnh Thúc Kháng sinh năm
1876, Ngô Đức Kế sinh năm 1878), cùng tâm trạng và rồi, sẽ cùng chung nhiều chặng của số phận” [39]
Cuộc tiếp xúc với các sách báo Tân thư, Tân văn từ phương Tây đưa vào, từ Trung Quốc đưa sang dường như ngay lập tức có tác động mạnh mẽ khiến nhà chí sĩ đi đến một quyết định dứt khoát, cùng các đồng chí thực hiện nam du kêu gọi bài xích lối học khoa cử cũ, đả kích chế độ quân chủ, đề xướng tân học, … Phong trào Duy tân mà Huỳnh Thúc Kháng là một trong ba lãnh tụ đã nhanh chóng lan rộng khắp Trung Kì, nó cho thấy những lời kêu gọi có tính chất hoà bình của một cuộc vận động xã hội để thức tỉnh, giục giã nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng lối sống mới của các ông một khi
đã đi vào lòng quần chúng, tới tận từng thôn xóm sẽ làm bùng phát các làn sóng đấu tranh xã hội, kích thích họ nổi dậy thành những phong trào có tính chất bạo lực cách mạng, dù chỉ là đấu tranh tự phát nhưng những phong trào
ấy đã góp phần không nhỏ làm thay đổi tính chất và mục tiêu các phong trào đấu tranh đang có phần im ắng lúc bấy giờ Trong số các phong trào cách
Trang 13mạng diễn ra dưới ảnh hưởng của phong trào Duy Tân, phong trào chống sưu bùng nổ ở Quảng Nam và sau đó lan rộng ra khắp dải đất từ Hà Tĩnh vào Bình Định, lan sâu vào cả những thôn làng miền ngược hẻo lánh (năm 1908) là tiêu biểu hơn cả Chính sự bùng nổ của phong trào cách mạng này đã khiến hàng loạt sĩ phu yêu nước mà đứng đầu là những lãnh tụ của phong trào Duy Tân phải nhận án lưu đày Côn Đảo Trần Quý Cáp đang làm giáo thụ ở Khánh Hòa phải lên đoạn đầu đài, Huỳnh Thúc Kháng và cả Phan Châu Trinh (khi
đó đang ở Hà Nội) phải chịu án lưu đày, “ngộ xá bất nguyên” trở thành một trong những “đệ nhất tù nhân” của “địa ngục trần gian” Côn Đảo
Năm 1921, sau 13 năm bị lưu đày Huỳnh Thúc Kháng và một số bạn tù được mãn hạn Trở về từ “trường học thiên nhiên” Côn Đảo, Huỳnh Thúc Kháng càng trở nên già dặn, kiên trung, đến mức dù sống trong lòng nghi kị của một số bạn hữu cũ, dù trong hoàn cảnh nghèo khó, nhưng khi thực dân Pháp đưa quan chức, bổng lộc ra làm mồi nhử thì ông vẫn rất mực tỏ thái độ bất hợp tác Vào năm 1926, thực hiện “chính sách ve vãn thuộc địa”, thực dân Pháp chủ trương cải tổ Hội đồng Tư phỏng thành Viện Nhân dân đại biểu (gọi tắt là Viện dân biểu), Huỳnh Thúc Kháng ra ứng cử và trúng cử, rồi được bầu làm Viện trưởng Viện dân biểu
Ngay từ khi mới được bầu làm Viện trưởng, Huỳnh Thúc Kháng đã tranh thủ sự hợp pháp này để đấu tranh công khai đưa ra một số yêu sách đòi
mở rộng dân chủ, thực hiện những chính sách mà chính quyền thuộc địa đã hứa hẹn Những hoạt động mà Huỳnh Thúc Kháng thực hiện trong thời gian này đã một lần nữa cho thấy nhiệt huyết cách mạng, lòng yêu nước mãnh liệt của một trong những lãnh tụ cách mạng kiệt hiệt đầu thế kỉ XX
Với nhãn giới chính trị sắc bén của mình, Huỳnh Thúc Kháng nhận thấy rằng trong vòng xoáy của bão táp thời đại lúc bấy giờ, một dân tộc nhỏ bé, lạc hậu như nước ta không thể đủ sức chống lại một nước phương Tây hùng
Trang 14mạnh Ông trăn trở và nhận thấy rằng, đấu tranh văn hóa là một trong những con đường hứa hẹn mang lại thành công cho sự nghiệp cứu nước Làm Viện trưởng Viện dân biểu để đại diện cho nhân dân nói lên những quyền lợi của mình, thành lập Công ty Huỳnh Thúc Kháng chuyên về In và báo chí, ra đời
báo Tiếng Dân (10 – 08 – 1927), đó là một bước rẽ lịch sử đánh dấu một bước
chuyển mới cao hơn về chất, quyết liệt hơn về tư tưởng của nhà chí sĩ họ Huỳnh Sự kiện một nhà nho chí sĩ ra làm báo, mà lại đứng đầu trên trận
tuyến chống quân thù (ông vừa làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Tiếng Dân),
giữa vòng xoáy mờ mịt của “văn hóa nô dịch” mà những tờ báo do Pháp lập
ra và bảo hộ đang làm mưa làm gió (Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp
chí), quả là một sự kiện lớn mà những người cùng thời với ông, ngoài Ngô
Đức Kế – chủ bút báo Hữu Thanh (1921) ra không có nhiều người đủ can
theo đuổi
Đầu những năm 1940, trong cơn chính biến của cả thế giới, trong nước Nhật đảo chính Pháp, nắm lấy toàn bộ quyền hành trong tay, để “thu phục nhân tâm”, ổn định dư luận, lẽ đương nhiên người Nhật phải tìm đến những nhân sĩ “có máu mặt”, có đủ uy tín và tài năng kéo theo mình đám đông quần chúng nhân dân Một lần nữa cái tên Huỳnh Thúc Kháng trở thành “địa chỉ nóng” Phát xít Nhật bày đủ trò từ dụ dỗ, dọa dẫm những mong được Huỳnh Thúc Kháng nhận lời ra giúp sức cho chính phủ bù nhìn của chúng, nhưng một lần nữa chí khí khảng khái, tấm lòng yêu nước kiên trung của ông lại thể hiện, ông thẳng thắn từ chối cộng tác với Nhật
Cách mạng tháng Tám thành công, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta bị đánh đổ, chính quyền cách mạng được thành lập hướng nhân dân tiến bước theo mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng chế độ cộng hòa Đó cũng là lúc nước nhà phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách mới, đất
Trang 15nước cần những tấm gương mà đạo đức và tầm nhân cách đủ lớn để có thể hiệu triệu sự đồng thuận đồng lòng của quốc dân Nhà lão thành cách mạng Huỳnh Thúc Kháng là gương mặt được Đảng, Chính phủ lâm thời đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh “chọn mặt gửi vàng”, mời ra làm việc trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ
Sự kiện lịch sử này đánh dấu một cuộc tiếp xúc lớn trong hành trình tư tưởng và hoạt động cách mạng của Huỳnh Thúc Kháng Từ chủ nghĩa yêu nước và lấy chủ nghĩa dân tộc làm hệ quy chiếu, nhà chí sĩ đến với chính quyền cách mạng với niềm tin gửi trọn vào nhà yêu nước cách mạng Hồ Chí Minh như một tất yếu lịch sử nhưng cũng lại là một lối hành xử hoàn toàn chủ động có ý thức
Trong quá trình kinh lý miền Trung, do tuổi cao sức yếu, Huỳnh Thúc Kháng tạ thế ngày 21 tháng 4 năm 1947 tại thôn Phú Bình, thị trấn Chợ Chùa, tỉnh Quảng Ngãi – nơi Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Trung bộ đóng trụ sở, hưởng thọ 71 tuổi Trước khi ra đi, Huỳnh Thúc Kháng còn kịp gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh một bức điện báo, trong đó bày tỏ rõ tâm sự của mình :
“Gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả Chỉ tiếc không gặp được cụ lần cuối cùng ! Chúc cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường vinh quang, hạnh phúc”
Chào vĩnh quyết
(Quảng Ngãi, ngày 14 tháng 4 năm 1947)
Huỳnh Thúc Kháng ra đi trong niềm tiếc thương và thành kính vô hạn của quốc dân, đồng bào Nhà chí sĩ được Đảng, Chính phủ, đứng đầu là Hồ Chủ tịch cùng toàn thể nhân dân để quốc tang Trong bức thư gửi đồng bào trong lễ quốc tang Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá
Trang 16thoả đáng những cống hiến của ông đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc :
“Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao
Vì lòng yêu nước mà trước đây cụ bị bọn thực dân làm tội đày ra Côn Đảo, mười mấy năm trường gian nan cực khổ Nhưng lòng son, dạ sắt, yêu nước thương nòi của cụ chẳng những không sờn, mà lại thêm kiên quyết
Cụ Huỳnh là một người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan
Cả đời Cụ không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu
Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập ”
Từ sự nghiệp của nhà chí sĩ, có thể khẳng định rằng : trong số các nhà nho yêu nước đầu thế kỉ, Huỳnh Thúc Kháng là người tiến xa nhất, đúng hơn,
là người duy nhất trong số họ đến được với cách mạng tháng Tám, tiến xa nhất trong phong trào đấu tranh yêu nước và giải phóng dân tộc với hành trạng là tinh thần yêu nước kiên trung Cuộc đời ông, văn nghiệp ông, vì vậy vắt ngang qua hai thời kì với bước rẽ lịch sử đặc biệt quan trọng không chỉ trong đời sống chính trị – xã hội mà cả trong đời sống văn chương
Trang 17Chương 2 VĂN NGHIỆP HUỲNH THÚC KHÁNG
Trước khi đi vào làm rõ mục đích cuối cùng của luận văn là làm sáng rõ vai trò và những đóng góp của Huỳnh Thúc Kháng với tư cách một nhà văn đối với tiến trình vận động tiến vào quỹ đạo hiện đại hóa của nền văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ cả ở những mặt tích cực, có tác động nhất định đến sự phát triển và cả những mặt hạn chế, thậm chí có tác động kìm hãm tiến trình ấy trong một thời đại đầy bão táp và hết sức nhạy cảm, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát một cách nghiêm túc văn nghiệp nhà chí sĩ
Trong quá trình tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng, chúng tôi nhận thấy, các sáng tác văn chương của ông luôn gắn liền với những mốc lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng Trên cơ sở đó, để thuận lợi cho việc triển khai đề tài luận văn, chúng tôi đã bám sát các mốc quan trọng ấy và chia trước tác của ông làm ba giai đoạn Ở mỗi giai đoạn sáng tác, chúng tôi sẽ điểm nhanh lại hoàn cảnh sáng tác trước khi đưa ra một vài nhận xét, đánh giá có tính chất khái quát về giá trị thơ văn nhà chí sĩ
1 Giai đoạn 1 : trước năm 1908
1.1 Bối cảnh lịch sử
Những biến chuyển quan trọng trong cuộc đời Huỳnh Thúc Kháng được đánh dấu khi ông chính thức đỗ Tiến sĩ sau nhiều năm miệt mài đèn sách, nhưng lại chủ động một cách đầy ý thức khi tiếp cận và tìm hiểu các sách tân thư, tân văn của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc ;
Môngtexkiơ, J.Rut xô ở Pháp, “mua được nhiều sách mới (như Mậu Tuất
chính biến, Trung Quốc hồn, Nhật Bản Duy tân sử, Tân dân tùng báo cùng
sách Âu dịch ra Pháp văn), tôi [ ] thường với Tây Hồ đến nhà Đào (Đào
Trang 18Nguyên Phổ), có bao nhiêu tân thơ đọc hết, biết được đôi chút biến thiên của thế giới, thật bắt đầu từ năm ấy” (năm 1903) [19]
Trong số các nhà nho chí sĩ cùng thời như Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ, thì cuộc tiếp xúc với tân thư, tân văn này của hai nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng dường như muộn hơn cả Song điều đáng chú ý ở đây là, ngoài Nguyễn Lộ Trạch và Nguyễn Trường
Tộ đã từng dâng lên vua những bản điều trần đòi canh tân đất nước, rất nhiều các danh sĩ đương thời dường như chưa một ai đủ nhạy bén và tầm tư tưởng cũng như khả năng để vươn lên trở thành “những lãnh tụ, những người “phất
cờ gióng trống, gõ mõ khua chuông”, gây bão tố tạo sấm chớp, cuốn theo mình hầu như trọn vẹn tầng lớp tinh hoa của dân tộc” [39] Chỉ đến khi gần như trong cùng một lúc, tại Nam – Ngãi và Nghệ – Tĩnh hai chí sĩ họ Phan là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh cùng xuất hiện giữa cơn bão thời đại, theo đuổi hai đường hướng cứu nước khác nhau và đều có tác động nhất định tới cuộc vận động cứu nước giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX
Ở mức độ rõ rệt, phong trào Duy Tân mà Phan Châu Trinh cùng hai người bạn cùng chí hướng, hai nhà nho chí sĩ mẫu mực của đất Quảng bấy giờ
là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp với đường lối cách mạng “ôn hoà”, dùng hình thức của một cuộc vận động cải cách văn hoá nhằm “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, cổ động tân học, đả kích lối học khoa cử, phát triển thương nghiệp, hô hào lập các hội thương, hội nông, hội công, nhằm canh tân đất nước theo con đường các nước tiên tiến ở châu Âu, để tích luỹ nội lực cho đất nước đã gây được những tác động tích cực tới mọi mặt đời sống của xã hội ta trong những năm đầu thế kỉ XX Phong trào Duy Tân cùng với nhà trường Đông Kinh Nghĩa Thục đã nhanh chóng lan rộng và gây được một tầm ảnh hưởng lớn trong phong trào yêu nước của quần chúng
Trang 19Con đường cứu nước của bộ ba hào kiệt xứ Quảng dường như đi ngược lại với truyền thống sử dụng bạo lực, lựa chọn đấu tranh vũ trang để giành độc lập dân tộc mà cha ông ta hàng ngàn năm đã lựa chọn Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện đồng đại, chúng ta hẳn nhiên đều nhận thấy rằng đối thủ của chúng ta trong cuộc chiến cuối thế kỉ XIX này là một đối thủ khác hoàn toàn
về bản chất cũng như về trình độ binh lực, tiềm lực kinh tế, khoa học – kĩ thuật, so với phong kiến phương Bắc Chính tính chất này của cuộc chiến cùng với thái độ bạc nhược của triều đình phong kiến đã dẫn đến tình trạng, chưa bao giờ các cuộc khởi nghĩa nổ ra với tinh thần “thiết huyết” đến thế nhưng cùng đều bị nhấn chìm trong những bể máu lênh láng đến thế “Máu của nhiều tầng lớp, nhiều thế lực, lực lượng Có thể nói : máu chảy từ nhiều phía Khi máu đổ quá nhiều mà phía trước vẫn còn mờ mịt, thì điều khả dĩ thi thố là vừa không được làm sai lạc hay bỏ rơi mục đích tối hậu, vừa làm sao để bớt đổ máu vô ích” [39] Xét ở phương diện này, Duy Tân là một con đường cứu nước mới mẻ và chỉ có thể được thực hiện bởi những nhân sĩ ưu tú, can trường của thời đại
Kiên trì con đường đã lựa chọn, bộ ba chí sĩ xứ Quảng đã hăng hái nam tiến, bước chân của các ông đã đặt đến ngay cả những vùng đất hẻo lánh, được coi là miền “ngược” heo hút và khắc nghiệt của Nam Trung Bộ để hô hào cải cách, đấu tranh đòi thực thi dân chủ, mở mang phát triển công thương nghiệp, Những hoạt động ấy, thoạt nhìn là những vấn đề của kinh tế, chính trị, nhưng xét trong bối cảnh lúc bấy giờ, sau khi đã cơ bản dẹp tan các cuộc nổi dậy lớn bé ở khắp ba kì, tiếng vang của phong trào Cần vương đang lắng dần xuống, thực dân Pháp đang dần chĩa mũi nhọn vào địa hạt văn hoá để đầu độc tinh thần thuộc địa thì đó lại là những hoạt động có tầm ảnh hưởng và tác động không nhỏ đến trái tim, ý thức và hành động của đông đảo nhân dân Đúng như C Mác đã viết : “Cố nhiên là vũ khí của sự phê phán không thể
Trang 20thay thế được sự phê phán của vũ khí ; lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh
đổ bằng lực lượng vật chất ; nhưng lí luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [tr 255, 27] Như vậy có thể nói, trước bối cảnh ấy, sự lựa chọn được coi là tối ưu và nhất là phù hợp với sở trường của các nhà nho là dùng văn chương làm vũ khí đấu tranh và vũ khí văn chương cũng lại là vũ khí được nhiều nhà nho chí sĩ lựa chọn có hiệu quả trong hành trình hoạt động cách mạng của mình
1.2 Tác phẩm chính
Giai đoạn sáng tác đầu tiên này cũng chính là giai đoạn đầu tiên trong đời hoạt động cách mạng của nhà chí sĩ, nó gắn liền với phong trào Duy Tân Như đã nói, Duy Tân là một phong trào đấu tranh đòi canh tân đất nước bằng con đường văn hoá, phát triển thương nghiệp,
Từ góc nhìn lưu hành tác phẩm, Lương ngọc danh sơn phú chính là bài
thơ khai nghiệp văn chương của Huỳnh Thúc Kháng, đây cũng là sáng tác tiêu biểu nhất của Huỳnh Thúc Kháng trong giai đoạn sáng tác này Từ bài phú này, cùng với hành trình hoạt động cách mạng, Huỳnh Thúc Kháng còn làm nhiều thơ văn để phục vụ mục đích đấu tranh đòi dân quyền và độc lập dân tộc
Lương ngọc danh sơn phú gắn liền với quá trình nam tiến của bộ ba hào
kiệt xứ Quảng (Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp) năm
1904 Khi vào đến trường thi Bình Định, gặp kì thi khảo hạch (trước thi
Hương) với hai chủ đề Chí thành thông thánh và Lương ngọc danh sơn, ba
nhà chí sĩ liền trà trộn vào đám nho sinh, lấy tên là Đào Mộng Giác và làm hai
bài phú nổi tiếng (Phan Châu Trinh làm bài thơ Chí thành thông thánh, còn Huỳnh Thúc Kháng cùng với Trần Quý Cáp làm bài Lương ngọc danh sơn
phú, nhằm mục đích mượn chính đề tài của cuộc thi để nói lên tư tưởng bài
Trang 21xích nền cựu học truyền thống cùng chế độ khoa cử lỗi thời, đề xướng tân học,
Bài phú thiết tha kêu gọi nhân dân ta kế thừa dòng giống rồng tiên, con cháu Lạc Hồng để nhìn ra bốn biển để soi rọi lại mình, Huỳnh Thúc Kháng cảm thấy đã đến lúc không thể mãi cứ ở yên một chỗ
Không thể để xảy ra tình trạng “một thời làm sai chính sách, Để muôn đời phải chịu tai ương” Tình cảnh ấy đã khiến dân tộc trở nên yếu hèn, nước
đã mất hồn sông núi cũng không còn, đau xót trước thảm cảnh ấy và như dự cảm được bao thảm hoạ sẽ đến, tác giả kêu gọi :
Ăn năn nào kịp, mới hay đổi kế chậm rồi :
Nguy hiểm đến nơi, dầu muốn tạm yên khó thật
Bây giờ nên đau lòng, xót dạ, theo nghĩa bỏ danh
Trên các quan lại, dưới lớp thư sinh ; quẳng bút dậy thẳng, treo
mũ đi lanh
Từ nỗi đau nhân thế ấy, hai ông hạ bút chốt lại bài phú với một quyết
tâm : “Hựu hà tất Chí thành thông thánh, Lương ngọc danh sơn vỉ tai !” (Lại cần gì Chí thành thông thánh, Lương ngọc danh sơn vậy thay) Theo các ông,
chính lối khoa cử lỗi thời, văn hoá lạc hậu là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thảm cảnh mất nước Chính vì thế, nếu phải thay đổi điều gì thì việc đầu tiên là phải thay đổi nền văn hoá, học vấn của đất nước
Với hào khí ấy, Lương ngọc danh sơn phú cùng với Chí thành thông
thánh của hai nhà chí sĩ đã nhanh chóng lan rộng, được rất đông sĩ tử truyền
tay nhau đọc, đồng thời gây không ít trở ngại, tức tối đối với nhà cầm quyền Bài phú vừa thể hiện lòng yêu nước, lòng căm thù giặc sâu sắc, đồng thời là tiếng nói mạnh mẽ và hết sức dũng cảm trong việc phủ nhận nền cựu học cùng chế độ khoa cử lỗi thời Lời kêu gọi quẳng bút lông để suy nghĩ, tìm tòi một hướng đi mới để cứu dân tộc khỏi ách lầm than nô lệ của bộ ba chí sĩ đã
Trang 22có tác động mạnh mẽ, tích cựctới trái tim và khối óc của không ít học trò của Nho môn và đông đảo nhân dân trong vùng Bài phú ra đời là một đòn phủ đầu đầu tiên của các nhà Duy Tân, qua bài phú, ta hiểu tại sao, chỉ xuất phát
từ hình thức của một cuộc vận động tân văn hoá, mà những nhiệt huyết của các nhà chí sĩ lại có thể tác động mạnh mẽ tới trái tim và khối óc của quần chúng, để từ đó, những phong trào quần chúng nổ ra đã vượt xa khuôn khổ của một hoạt động văn hoá, khiến bọn thực dân không thể ngồi yên
Cái văn chương là một bài thơ tiêu biểu nữa của Huỳnh Thúc Kháng
trong giai đoạn sáng tác này Đây là bài thơ đầu tiên ông viết bằng chữ quốc
ngữ nhằm mục đích đả kích lối học cử nghiệp
Nhìn chung, những bài thơ đầu tiên của Huỳnh Thúc Kháng là những lời
hô hào đầy nhiệt tình, thiết tha của nhà chí sĩ để kêu gọi, giục giã những ai còn đang say sưa với cái “bả vinh hoa”, còn nuôi chí lập nên sự nghiệp bằng con đường thi cử của Nho gia hãy nhanh tỉnh giấc, bởi thời đại giờ đã đổi khác, khí vận đã chuyển dời rất xa, những nho sinh của “cửa Khổng sân Trình” còn theo đuổi con đường khoa cử gò bó, khuôn mẫu ấy đã trở thành những người lạc hậu so với thời cuộc
Qua những bài thơ hừng hực khí thế của một nhà nho Duy Tân, tuy được tiếp xúc với các sách tân thư, tân văn khá muộn so với nhiều nho sĩ đương thời, nhưng sự tinh anh, nhạy bén của một tư tưởng lớn đã đưa Huỳnh Thúc Kháng sớm nhập thế và mau chóng trở thành một trong những lãnh tụ khả kính của một phong trào có ảnh hưởng và gây tác động tiến bộ đến toàn bộ nhận thức của quần chúng nhân dân một nước nông nghiệp lạc hậu, quen sống trong cảnh “bế quan toả cảng” khiến dân trí, dân khí trở nên suy yếu nếu xét trong tương quan thời đại Những bài thơ đầu tiên này của Huỳnh Thúc Kháng, khi vang lên, tựa như những bài hịch của núi sông truyền cảm hứng,
Trang 23nhiệt huyết đến bao thế hệ, ngay từ khi mới ra đời, nó được ví “như một tiếng
ra Côn Đảo, trở thành những “đệ nhất tù nhân” tại đây, riêng Trần Quý Cáp phải lên đoạn đầu đài chịu án tử hình Đó là hình phạt mà thực dân Pháp dành cho những danh sĩ của phong trào Duy Tân, bởi khi phong trào bùng nổ mạnh
mẽ và lan ra rộng khắp Trung Kì, chúng đã kịp nhận ra rằng những lời “huyết lệ” của các nhà duy tân được đội dưới lớp vỏ của một cuộc cải cách văn hoá, một khi đã thấm sâu vào quần chúng bấy lâu nay bị đè nén, bóc lột đến tận cùng thì sẽ tạo động lực cho một sự trỗi dậy mạnh mẽ đầy ý thức và tự giác của mọi tầng lớp nhân dân
Suốt 13 năm trường (từ tháng 9 – 1908 đến năm 1921) bị lưu đày tại Côn Đảo, chịu nhiều thử thách, bị tách rời khỏi những biến cố lớn lao của lịch sử nước nhà cũng như phong trào yêu nước cách mạng của nhân dân nhưng ý chí kiên cường, lòng yêu nước mạnh mẽ như một hằng số bất biến vẫn liên tục chảy trong huyết quản nhà chí sĩ khiến cho không một khó khăn nào có thể khuất phục được
Trang 24Ở nơi “địa ngục trần gian” này, những tấm gương kiên trung, những danh sĩ mẫu mực của khắp ba kì, một cách rất tình cờ đã hội tụ lại, với nghị lực và bản lĩnh phi thường, họ không những đã chịu đựng gian khổ, vượt lên trên khó khăn, thách thức và dần dần bằng trí tuệ và sự sáng tạo, những “đệ nhất tù nhân” Côn Đảo đã biến nơi đây trở thành một “trường học thiên nhiên”, một nơi “lửa thử vàng” của rất nhiều thế hệ thanh niên ta trong suốt mấy thập niên trường chinh cứu nước về sau
2.2 Tác phẩm chính
Tác phẩm tiêu biểu nhất của Huỳnh Thúc Kháng trong giai đoạn sáng
tác này là tập Thi tù tùng thoại Đúng như tên gọi của nó, Thi tù tùng thoại
không chỉ ghi chép thơ, mà phần chủ yếu và có giá trị lớn về mặt lịch sử lại là
“thi thoại” của nhiều người cùng góp mặt (tùng) Tập thơ ra đời trong lao tù
Côn Đảo nhưng sau năm 1927 mới được bắt đầu đăng từng bài trên Tiếng
Dân trước khi in thành sách vào năm 1939
Nói về phần thơ, có thể nói, những bài thơ được đăng trong tập thơ đã
đưa Thi tù tùng thoại trở thành tập thơ tù đầu tiên của văn học Việt Nam ta
Trong số những quốc sự phạm bị đày ra Côn Đảo cùng với Huỳnh Thúc Kháng, thơ văn họ làm trong chốn lao tù hẳn không ít, nhưng đủ can đảm để
in lên mặt báo cho đông đảo nhân dân đọc thì không nhiều
Bài ca lưu biệt là một trong số những bài thơ đâu tiên Huỳnh Thúc
Kháng sau khi bị lĩnh án lưu đày Côn Đảo Bài thơ tỏ rõ quan niệm nhập thế của Huỳnh Thúc Kháng, nhất là trong hoàn cảnh lao tù và đất nước thì đang oằn mình dưới ách cai trị thực dân Với những chí sĩ như Huỳnh Thúc Kháng, cuộc đời đúng là một dòng sông mà mỗi khúc sông khi đục khi trong, lúc bình yên khi dậy sóng dữ dội, nhưng điểm cốt yếu để tạo ra điểm khác biệt là dù ở trong hoàn cảnh nào, thậm chí ngay cả khi phải hiện diện giữa tâm bão thời đại, họ cũng không hề nản chí, sờn lòng, họ vẫn nhìn cuộc sống với thái độ
Trang 25hướng tới ngày mai tươi sáng hơn : “trăng kia khuyết đó lại tròn” Chính tinh thần lạc quan biến nguy nan thành cơ hội mới, những nho sĩ – tù nhân Côn Đảo đương thời đã hợp nhau lại, biến nơi “địa ngục trần gian” Côn Đảo thành một “trường học thiên nhiên”, truyền thống ấy khởi nguồn từ họ và kéo dài mãi trong nhiều lớp thanh niên yêu nước trong hai cuộc kháng chiến cứu nước sau này của đất nước
Thi tù tùng thoại là tập thơ ghi chép lại những tâm sự trong thời gian
ngồi tù của nhà chí sĩ Bên cạnh những vần thơ thể hiện chí khí, nhiệt huyết cách mạng của nhà chí sĩ, qua tập thơ, chúng tôi còn nhận thấy rằng ông làm rất nhiều bài thơ, vịnh thơ dành cho vợ, con, bạn bè đồng chí Dường như bên trong con người nhà nho – chí sĩ rắn rỏi đến tưởng như khô khan ấy luôn có
cả một góc riêng dành tình cảm cao quý cho những người thân : Thơ g ửi vợ,
Giải Huân, Câu đối điếu cụ Ngô Đức Kế, Câu đối khóc Tùng Nham, Thơ
chân thành, đầy cảm động đối với những người bạn tri kỉ (với Phan Châu
Trinh có : Khóc cụ Tây Hồ, Ngày kị cụ Tây Hồ,… ; với Trần Quý Cáp có :
Khóc Trần Quý Cáp,…), đó đều là những bài ca nói lên tình cảm sâu đậm mà
Huỳnh Thúc Kháng dành cho những người thân, cho bạn tù, bạn văn chương, những người cùng chí hướng,
Nhìn chung, giọng điệu khảng khái, trầm hùng, chứa đựng tinh thần lạc
quan cách mạng là âm điệu chủ đạo của tập thơ Qua các bài thơ trong Thi tù
tùng thoại ta cũng thấy hiện lên khá sinh động không khí thời đại, diễn tiến
của các phong trào yêu nước đương thời cũng như những hoạt động trong nhà
tù Côn Đảo nơi những danh sĩ của cả ba miền đang bị giam cầm
Trang 26Như trên đã nói, tập Thi tù tùng thoại vừa là thơ vừa xen lẫn các câu
chuyện kể về các bạn tù và bối cảnh lịch sử khi họ xuất hiện Dù những ghi chép lịch sử xen lẫn các bài thơ được chép không tuân theo một thời gian nhất định, nhưng nếu liên kết các sự kiện ấy, ta sẽ thấy hiện lên khá đầy đủ bức tranh của các phong trào yêu nước và cách mạng diễn ra khắp ba kì, trong đó các nhân sĩ yêu nước là những người đứng đầu hoặc tham gia tích cực các phong trào ấy hầu hết đã trở thành những cái gai trong mắt thực dân Pháp và gần như trong cùng một khoảng thời gian họ bị đày đi Côn Đảo chịu giam cầm, bị tách hoàn toàn khỏi phong trào cách mạng trong nước
Thi tù tùng thoại không chỉ có thơ của Huỳnh Thúc Kháng, mà ông còn
chép lại một số bài thơ, câu đối của các bạn tù khác, chẳng hạn như thơ của Tập Xuyên (Ngô Đức Kế), Giải Huân, Thai Sơn, Tiểu La, … nhân các sự kiện hoặc chỉ đơn giản là khi có cảm hứng sáng tác
Nội dung phong phú, bao gồm cả thơ ca và biên niên sử theo phong cách văn chương của tập thơ, Huỳnh Thúc Kháng đã cho thấy một trí tuệ anh minh, trí nhớ siêu việt cùng khả năng lĩnh hội tuyệt vời, một trái tim tràn đầy nhiệt
huyết cách mạng Với Thi tù tùng thoại, quốc dân được biết rõ hơn về đời
sống và những hoạt động mà lớp nho sĩ – tù nhân đầu tiên đã làm tại Côn Đảo, các ông đã biến nơi đây từ một hòn đảo hoang, một “địa ngục trần gian” – nơi thực dân Pháp vốn có ý định thủ tiêu cuộc đời hoặc ít nhất là nhuệ khí chiến đấu của những “phần tử ngoài vòng pháp luật”, thành một “trường học thiên nhiên” rèn giũa tinh thần, khí phách và bản lĩnh cách mạng của lớp lớp người yêu nước Việt Nam
3 Giai đoạn 3 : từ 1921 đến 1943
3.1 Hoàn cảnh lịch sử
Trang 27Năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng được mãn hạn sau 13 năm lưu đày, chịu quản thúc trong nhà tù của chủ nghĩa thực dân Cùng mãn hạn tù với Huỳnh Thúc Kháng lúc này còn có hai người bạn văn chương là Ngô Đức Kế và Đặng Nguyên Cẩn Sau này chúng ta thấy, cả hai cụ nghè Ngô và nghè Huỳnh đều là những người đi tiên phong trên mặt trận văn hóa – tư tưởng, đều đứng đầu hai tờ báo mà tiếng nói của nó có những tác động nhất định đến thời cuộc,
đó là báo Hữu Thanh do Ngô Đức Kế làm chủ bút và báo Tiếng Dân do
Huỳnh Thúc Kháng vừa làm chủ nhiệm kiêm chủ bút
Sau khi Từ Côn Đảo trở về quê nhà, Huỳnh Thúc Kháng sống có vẻ trầm mặc, mọi hành trạng đều hết sức cẩn trọng trong cảnh nghèo khó và bệnh tật Nhưng đến năm 1926 khi thực dân Pháp thực hiện chính sách “ve vãn thuộc địa”, nới lỏng một số chính sách, cho thành lập Viện dân biểu nhân dân, Huỳnh Thúc Kháng ra ứng cử với mong muốn mang tiếng nói của mình đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân và trúng cử làm Viện trưởng Viện dân biểu Trung Kì, sống ngay giữa kinh đô Huế
Tháng 4 năm 1927, công ty Huỳnh Thúc Kháng được thành lập, với tư cách là Viện trưởng Viện dân biểu Trung Kì, Huỳnh Thúc Kháng xin xuất bản
tờ báo Tiếng Dân Đến ngày 10 tháng 8 năm 1927 báo Tiếng Dân số đầu tiên
ra đời do Huỳnh Thúc Kháng vừa làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nằm dưới sự kiểm duyệt của Tòa Khâm sứ Tòa soạn của báo đặt tại số nhà 123 đường Đông Ba (nay là đường Huỳnh Thúc Kháng), thành phố Huế
Tiếng Dân thuộc thể loại báo chính trị - xã hội, là tờ báo quốc ngữ đầu
tiên của Trung Kì – mảnh đất nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của đế kinh “Những hàng chữ trên mặt tờ báo là những hàng mực nhiệt thành xuất phát từ bầu nhiệt huyết của ông đều nhằm tới một đối tượng chính : nhân dân
Nó là một cơ quan ngôn luận nặng hơn là thông tin, người đọc tờ báo không phải thuần chỉ đọc những dòng chữ mà còn đọc nơi tâm hồn, nhân cách của
Trang 28người chủ trương, người viết những bài bình luận Do đó, Tiếng Dân trở
thành một cơ quan giáo dục nhằm đào tạo một con người biết thương nước yêu nòi, biết căm thù “quân cướp nước và bán nước”, biết thương yêu đùm
bọc nhau trong lúc hoạn nạn” [63, 28] Điều này có thể cho thấy, báo Tiếng
Dân ra đời là một sự kiện đáng chú ý, nhất là trong thời gian các tờ báo do
Pháp bảo hộ như Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí đặt trụ sở tại Hà
Nội đang làm mưa làm gió và có tầm ảnh hưởng không chỉ ở Bắc Kì
Trong Huỳnh Thúc Kháng niên phổ, tác giả có viết : “Từ đó (từ năm 1927), tờ báo Tiếng Dân là nơi tôi co mình giữa chợ đông, ngoài ra không có
gì đáng nói Há chẳng phải duyên văn tự bút thiệt đối với tôi, có chỗ không thể rời được chăng ?”
Sự hiện diện của một danh nho, một “cựu” quốc sự phạm giữa làng báo
mà nếu xét trên phương diện của tiến trình hiện đại hóa đang diễn ra trên mọi mặt của đời sống chính trị – văn hóa – xã hội, thì đó là một tất yếu nhưng lại đầy chủ động có ý thức là niềm an ủi sâu sắc, một chỗ dựa tinh thần vững chắc để quốc dân noi theo, và không chỉ có thế, sự hiện diện ấy cũng đã kéo theo sự xuất hiện của khá nhiều những sự lựa chọn dũng cảm Chúng ta thấy trong khoảng thời gian ấy, nhiều nhà nho tâm huyết với sự nghiệp cách mạng của nước nhà đã ra làm báo, trong số ấy có không ít là những cộng tác viên
đắc lực của Tiếng Dân : Trần Đình Phiên, Nguyễn Quý Hương, Lê Nhiếp,
Nguyễn Xương Thái, Vương Đình Quang, và cả một số trí thức tân học trẻ như Đào Duy Anh, đã tạo nên một tờ báo có sức sống lâu bền, gây được tiếng vang nhất định đối với phong trào cách mạng của nước nhà
3.2 Tác phẩm
Đây là một giai đoạn sáng tác mới và có nhiều tác động nhất đối với tiến trình hiện đại hóa văn học nước nhà của Huỳnh Thúc Kháng Qua việc khảo sát, đánh giá khách quan các tác phẩm của nhà chí sĩ thời kì này, có thể nói
Trang 29đây là giai đoạn ông sáng tác sung sức và trên nhiều mặt trận nhất, trong đó,
có một mặt trận rất mới, rất hiện đại, đó là mặt trận báo chí Hầu hết các sáng tác của ông giai đoạn này đều được thể hiện trên mặt báo cho thấy sự chuyên nghiệp, thức thời của một chí sĩ tiêu biểu đầu thế kỉ XX Sự kiện một nhà nho
ra làm báo quốc ngữ và viết văn để đăng trên mặt báo là một bước chuyển cực
kì quan trọng, thực tế văn học đầu thế kỉ cho thấy : trong số các danh sĩ cùng thời (đặc biệt là các chí sĩ từng là “quốc sự phạm” Côn Đảo), ít ai có đủ can đảm và năng lực xông pha mặt trận mới trên tuyến đầu ngoài Huỳnh Thúc
Kháng và Ngô Đức Kế (chủ bút báo Hữu Thanh)
Việc lục tìm lại các bản Tiếng Dân và dựa trên một số công trình nghiên cứu về Huỳnh Thúc Kháng cho thấy, trong quá trình làm báo Tiếng Dân,
Huỳnh Thúc Kháng lấy nhiều bút danh khác nhau : Sử Bình Tử, Khách Quan, Tha Sơn Thạch, Khí Ưu Sinh, Ưu Thời Khách, Ngu Sơn, Thức Tự Dân, Hà
Hử Nhân, Các bút danh, chúng tôi thấy xuất hiện ở gần như ở khắp các mục của tờ báo, trong đó có không ít bài viết ở các mục bàn luận về những vấn đề của lịch sử, của chính trị, triết học Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ quan tâm đến các sáng tác thơ văn của Huỳnh Thúc Kháng được đăng trên
Tiếng Dân (trừ các sáng tác thuộc Thi tù tùng thoại mà chúng tôi đã đề cập)
Về các sáng tác văn chương của Huỳnh Thúc Kháng, chúng tôi thấy thơ văn ông dù sáng tác trong thời kì nào cũng phản ánh không khí thời đại, nóng bỏng tính thời sự Là một chí sĩ có tinh thần tự nhiệm cao, Huỳnh Thúc Kháng luôn trăn trở, nghĩ suy trước thế thái nhân tình, trước tình cảnh thê thảm của non sông đất nước
Ngoài ra, ông còn làm nhiều câu đối thể hiện niềm thương xót trước những tấm gương trung nghĩa đã hi sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng nước nhà
Trang 30Không chỉ vậy, trong các sáng tác của Huỳnh Thúc Kháng được đăng
trên Tiếng Dân thời kì này, bên cạnh hình ảnh người công dân tự nhiệm luôn
trăn trở việc nước là hình ảnh nhân dân – những nạn nhân trực tiếp và đáng thương nhất của chiến tranh hiện lên sinh động và khá thương tâm trong nhiều bài thơ, đó cũng là đối tượng được nhà chí sĩ quan tâm hàng đầu trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông
Bên cạnh những vần thơ cảm thời thế, thể hiện tâm sự, niềm băn khoăn, trăn trở đối với vận mệnh dân tộc, số phận đáng thương của nhân dân, Huỳnh Thúc Kháng còn viết nhiều bài bình luận, nghiên cứu, phê bình văn chương đặc sắc và có giá trị nhất định về mặt học thuật, lí luận Đây là cống hiến quan trọng nhất của Huỳnh Thúc Kháng trong giai đoạn sáng tác này nhất là khi đặt trong bối cảnh văn học trung đại khi khoa học lí luận, tư duy lí thuyết chưa phát triển thì những bài phê bình, tranh luận văn học của Huỳnh Thúc Kháng càng có ý nghĩa, nó thực sự đã góp phần đưa văn học nước nhà tiến sang một phạm trù mới hợp với quỹ đạo vận động và phát triển của văn học thế giới Những bài nghiên cứu, tranh luận về học thuật, đạo đức học chiếm một
vị trí đáng chú ý trên nhiều số báo của Tiếng Dân Trước tiên, có thể kể đến những bài tranh luận về Hán học : Những điều khuyết điểm của Khổng giáo ;
Hán học ở trong xã hội ta ngày nay ; Lối học khoa cử và lối học của Tống Nho có phải là học đạo Khổng Mạnh không ? ; Di hại bởi một chữ “giải nghĩa lầm” của Tống Nho, chữ “lợi” ở chương đầu sách Mạnh Tử ; Cái thuyết Thúc Tôn Thông Sở Hành không khác Khổng
Tuy nhiên, sẽ là thiếu sót nếu trong số các công trình trên không kể đến
các bài tranh luận của Huỳnh Thúc Kháng xung quanh kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du : Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề có quan hệ
chung không ? (T.D số 317, 17 – 9 – 1930) ; Lại vấn đề chánh học cùng tà thuyết (T.D số 328, 18 – 10 – 1930), Vịnh Kiều, Mê người trong tiểu thuyết
Trang 31cùng mê người trong tuồng hát, Lại câu chuyện bác Truyện Kiều Đây là các
bài bình luận văn học nhưng thực chất lại vừa liên quan đến vấn đề đạo đức học vừa liên quan trực tiếp đến vấn đề chính trị nhạy cảm lúc bấy giờ
Chiêu tuyết những lời báng cho một nhà chí sĩ mới qua đời (Chánh học
trong loạt bài bác Kiều của Huỳnh Thúc Kháng Bài viết này được viết ngay
sau bài viết Phạm Quỳnh trả lời Phan Khôi, bài viết được đăng trên báo Tiếng
Dân số 317 ngày 17 – 09 – 1930 Trong bài viết này, Huỳnh Thúc Kháng đã
thẳng thắn chỉ rõ : “Nay cứ như bức thơ ông trên thì rõ cái mối thù riêng hiềm vặt, đối với chuyện công kích ấy chất chứa trong trái tim ông đã tám chín năm nay, nhân ông Phan Khôi khêu mối mà ông kéo rây ra, toàn bức thư ông không chỗ nào “gãi ngứa” vào bài “Chánh học cùng tà thuyết” kia mà chỉ là những lời nhạo báng Cái lối nặc oán ấy là tâm lí gì ?”
Không dừng lại ở đó, khi viết bài viết có tính chất đối thoại với Phạm
Quỳnh – tác giả phong trào tán dương Truyện Kiều, Huỳnh Thúc Kháng còn
nặng nề lên án Kiều với những ngôn từ đầy thiên kiến : “con đĩ Kiều có cái giá trị gì ? người tô vẽ Kiều kia có công đức gì mà hoan nghênh” Theo cách
đánh giá của ông thì “Truyện Kiều chẳng qua chỉ là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải là thứ sách học, mà nói cho đúng Truyện Kiều là
có hại”
Từ một tác phẩm văn học, Truyện Kiều trở thành một chiêu thức để bọn
thực dân tán dương nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị của chúng Chính vì thế, để chống lại thực dân, để bảo vệ “thuần phong mĩ tục” ngàn đời của cha ông, theo Huỳnh Thúc Kháng, nhất định phải tẩy chay, đả kích kịch liệt
Truyện Kiều, bởi đó là một cuốn sách dạy “làm đĩ”, một cuốn dâm thư, tà
thuyết