2.2- Chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới 2.2.1- Một số chính sách tác động đến sự chuyển đổi kinh tế - xã hội nông thôn thời kỳ
Trang 1Lê Thị Mai
CHỢ NÔNG THÔN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI
KINH TẾ - XÃ HỘI THỜI KỲ ĐỔI MỚI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CHỢ NINH HIỆP, CHỢ HỮU BẰNG, CHỢ THỔ TANG)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2002
Trang 2Lê Thị Mai
CHỢ NÔNG THÔN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI
KINH TẾ - XÃ HỘI THỜI KỲ ĐỔI MỚI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CHỢ NINH HIỆP, CHỢ HỮU BẰNG, CHỢ THỔ TANG)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
Trang 3Danh mục các bản đồ và sơ đồ
Danh mục ảnh
MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
2- Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, thu thập
thông tin
4- Đóng góp của luận án
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1- Một số những công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2- Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: CHỢ NÔNG THÔN TRONG CẤU TRÚC KINH TẾ - XÃ
HỘI CỘNG ĐỒNG LÀNG XÃ CHÂU THỔ SÔNG HỒNG
2.1- Chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng
2.1.1- Cơ sở hình thành chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng
2.1.2- Một số loại hình chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng
2.1.3- Văn hoá kinh doanh cư dân nông thôn châu thổ
Trang 42.2- Chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng trong giai đoạn chuyển
đổi kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới
2.2.1- Một số chính sách tác động đến sự chuyển đổi kinh tế -
xã hội nông thôn thời kỳ đổi mới
2.2.2- Chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng trong quá trình phát
triển
2.2.3- Xu hướng phát triển của chợ nông thôn châu thổ Sông
Hồng
2.2.4 - Một số yếu tố tác động chợ nông thôn phát triển thành
cụm thương mại - dịch vụ / trung tâm kinh tế vùng/ trung
tâm tiểu, thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ/ (trường hợp
chợ Ninh Hiệp, chợ Hữu Bằng, chợ Thổ Tang)
Chương 3: VAI TRÒ CỦA CHỢ NÔNG THÔN TRONG ĐỜI
3.3- Vai trò của chợ nông thôn trong quá trình chuyển đổi xã
hội cộng đồng làng xã giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
- Dân số vùng Đồng bằng Sông Hồng
- Bảng 2.1: Một số đặc trưng văn hoá ứng xử trong kinh doanh nông thôn châu thổ Sông Hồng
- Bảng 2.2:Tương quan giữa môi trường kinh tế-xã hội và qui mô,
hình thức chợ, chủ thể kinh doanh, nông thôn châu thổ Sông Hồng Bảng 2.3: Số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phân theo ngành (1994 - 1998)
- Bảng 3.1: Cơ cấu thu nhập hàng tháng của nông dân tập thể trước
và trong thời gian chiến tranh
- Bảng 3.2: Số lượng chợ vùng đồng bằng Sông Hồng qua các năm
- Bảng 3.3: Dự báo số lượng chợ đồng bằng Sông Hồng đến 2010
- Bảng 3.4: Tỷ trọng số hộ trong các ngành ngoài nông nghiệp nông thôn Việt Nam (Tính đến 1994)
- Bảng 3.5: Tỷ trọng loại hộ ở khu vực nông thôn tình đến 2001
- Bảng 3.6: Cơ cấu kinh tế hộ gia đình xã Ninh Hiệp, Gia Lâm,
Hà Nội
- Bảng 3.7: Cơ cấu kinh tế xã Hữu Bằng, Thạch Thất, Hà Tây Bảng 3.8: So sánh cơ cấu hộ theo ngành nghề ở một số xã quanh Ninh Hiệp (% tính đến 6-1997)
- Bảng 3.9: Tương quan ngành nghề và mức sống của các hộ (%)
- Bảng 3.10: Tương quan môi trường kinh tế - xã hội và hành vi kinh tế (lựa chọn ngành nghề)
- Bảng 3.11: Tương quan của các biến số với chính sách cải cách của nông dân Nigeria
Phụ lục:
Trang 6Bảng1: Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế năm 2001 (%) Bảng2: Cơ cấu lao động* theo trình độ chuyên môn kỹ thuật năm
2001 (%)
Bảng3: Cơ cấu lực lượng lao động* phân theo trình độ học vấn (%) Bảng 4: Thất nghiệp ở thành thị và thời gian lao động ở nông thôn năm 2001 (%)
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
- Bản đồ châu thổ Sông Hồng
- Khung lý thuyết và lược đồ vấn đề nghiên cứu
- Bản đồ vùng ảnh hưởng của chợ Ninh Hiệp
- Bản đồ vùng ảnh hưởng của chợ Thổ Tang
- Bản đồ vùng ảnh hưởng của chợ Hữu Bằng
DANH MỤC ẢNH 1- Cày ruộng cho vụ sau
9- Người bán vỏ ăn trầu
10-Người bán ngũ cốc và thuốc Nam
11- Người buôn bán nhỏ Annam
12- Người buôn bán nhỏ Đan Loan, Cẩm Bình, Hải Dương
13- Một nhà buôn trên sông
Trang 714- Chợ Ba Thá, Chương Mỹ, Hà Tây
15- Hội chợ súc vật
16- Đò ngang chở người đi chợ tại Phát Diệm
17- Lò rèn chợ Phù Lưu
18- Người nông dân bán sản phẩm vườn tại chợ làng
19- Cảnh phiên chợ Nủa ngày 7 tháng chạp 1999
22- Lò nhuộm chợ Nủa ngày 7 tháng chạp 1999
23- Chợ Đa Ngưu, Hưng Yên
29- Xưởng đóng đồ gỗ của gia đình chị H ở Hữu Bằng
30- Kho gỗ đầu làng Hữu Bằng (6- 2000)
31- Dãy nhà mới xây bên đường dẫn vào làng Hữu Bằng
32- Công ty TNHH chế biến chè Thanh Nhiệt tại Ninh Hiệp
33- Hộ may gia công quần áo may sẵn tại Ninh Hiệp
34- Khu nhà, xưởng sản xuất của ông T H, Phùng Xá, Hà Tây (lò cán sắt phế thải Bãi tập kết gỗ, tôn tấm, sắt vụn (6-2000)
35- Cửa hàng cho thuê áo cưới ở phố chợ Ninh Hiệp
36- Phòng chữa răng tư nhân phố chợ Thổ Tang
37- Cửa hàng vải tại phố chợ Ninh Hiệp
38- Cửa hàng Vàng tại chợ Hữu Bằng
39- Cửa hàng thiết bị bưu điện phố chợ Hữu Bằng
40- Phố chợ Thổ Tang
Trang 841- Chở hàng đi Yên Bái, Lào Cai
điểm chung nhất của những biến đổi đó là sự xâm nhập các yếu tố đô thị vào nông thôn
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và việc thực hiện những chính sách kinh tế vĩ mô: phát triển các ngành nghề thuộc nhiều thành phần kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động thị trường, thực hiện thị trường thống nhất, mở cửa, đã tác động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Theo số liệu của Tổng cục thống kê, kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn, thuỷ sản thời kỳ 1994 - 2001 theo quyết định số 34/2001/TTG của Thủ tướng Chính phủ cuối năm 2001, nông thôn Việt Nam đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ lệ hộ phi nông nghiệp ngày càng tăng Giai đoạn 1994 - 2001, các hộ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng tăng ba lần (từ 1,6% lên 5,8%) Các hộ thương mại - dịch vụ tăng hai lần (từ 6,4% lên
Trang 9Kết quả tổng hợp từ 81 xã thuộc địa bàn điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 1994 nhiều làng nghề ở châu thổ Sông Hồng đã thu hút 60 - 90% số hộ tham gia hoạt động ngành nghề, đã tạo ra giá trị sản lượng chiếm từ 76 - 98% tổng giá trị sản lượng của cả làng Tỉnh Nam Định có 86 làng nghề với gần 100.000 lao động thủ công Hà Tây có 73 làng nghề, tỷ trọng lao động phi nông chiếm 72% tổng số lao động Tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 80% năm 1990 giảm xuống 70% năm 1994 và 62,34% năm 1996
22, tr.182-183
Quá trình nâng cao tỷ lệ cơ khí hoá, cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp và các nghề thủ công và kinh tế hộ gia đình nông dân hoạt động theo phương thức tự hạch toán đã tạo ra điều kiện để người nông dân trở thành công nhân nông nghiệp, nông dân kiêm nghiệp, thương nhân, Người tiểu nông, nông dân tập thể trở thành vừa là người sản xuất vừa là người kinh doanh,
Quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, đô thị hoá nông thôn đã tác
động làm nông thôn biến đổi nhanh chóng, mạnh mẽ, thể hiện rõ nhất ở cơ sở
hạ tầng, kiến trúc không gian, Cũng theo kết quả của cuộc tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn, thuỷ sản thời kỳ 1994 - 2001, tỷ lệ số hộ, thôn, xã sử dụng điện và có đường ôtô, trường học, trạm xá khá cao Tính đến năm 2001 đã có::
Trang 1086% số xã, 77% số thôn, 79% số hộ sử dụng điện 8461 xã (94,5%) có đường
ô tô đến trụ sở xã 99,9% xã có trường tiểu học, 84,5% xã có trường trung học
cơ sở, 85,7% xã có nhà trẻ Trạm xá gần như phủ kín trên phạm vi cả nước Truyền thông đại chúng tác động làm mở rộng môi trường xã hội hoá của người nông dân Điều kiện sống, điều kiện làm việc được cải thiện cùng với sự mở rộng các quan hệ xã hội do hiệu quả của nền nông nghiệp hàng hoá đang gia tăng đem lại đã dẫn đến những thay đổi về tâm lý, cách thức tiêu dùng, lối sống, của người nông dân
1.2- Thương mại là một trong những cầu nối giao lưu giữa các vùng và
khu vực Do đó, chợ nông thôn là một trong những môi trường tiếp nhận sự tác động của những yếu tố bên ngoài vào cộng đồng làng đồng thời là cầu nối cộng đồng làng với thế giới bên ngoài qua hoạt động sản xuất - kinh doanh, thương mại do doanh nhân thực hiện
Từ năm 1986, chủ trương Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được cụ thể hoá bằng những đổi mới trong thể chế, chính sách, biện pháp kinh tế, đặc biệt là Nghị quyết hội nghị TW lần thứ 2 ( khoá VI ngày 9 - 4 - 1987) quyết định bỏ cơ chế mua bán nghĩa vụ chuyển sang cơ chế hợp đồng mua bán theo giá thoả thuận, thực hiện chính sách lưu thông hàng hoá, tự do thương mại, thị trường thống nhất trong cả nước, Những quyết định kinh tế vĩ mô đó là điều kiện quyết định, tác động, làm biến đổi mạng lưới chợ khu vực nông thôn Hệ thống chợ và mạng lưới những người buôn bán nhỏ đi vào tận những làng quê hẻo lánh Năm 1994 ước tính 40% tổng lượng hàng hoá nông sản và hàng công nghiệp tiêu dùng được lưu chuyển qua mạng lưới chợ toàn khu vực nông thôn Bên cạnh xu hướng tăng số lượng chợ, thời gian họp chợ cũng thay đổi, chỉ còn 28,5% số chợ họp theo phiên cố định Một số chợ còn duy trì phiên chính và phiên phụ
Trang 11Số lượng chợ họp hàng ngày tăng lên 4, tr 10, 12 Sự phát triển mạng lưới chợ nông thôn đã góp phần tác động trở lại hoạt động sản xuất hàng hoá, phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam nói chung trong hơn một thập kỷ qua Đúng như C Mác đã nhận định, “khi thị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi mở rộng ra thì qui mô sản xuất cũng tăng lên, sự phân công trong sản xuất cũng trở nên sâu sắc hơn”11, tr 614
1.3- Nhìn tổng thể, tác động của chợ đến đời sống kinh tế - xã hội cộng đồng làng rất khác nhau ở mỗi địa phương Thực tiễn đặt ra câu hỏi, từ khi thực hiện chính sách kinh tế mở cửa, hệ thống chợ nông thôn mở rộng song tại sao chỉ có một số ít chợ có hoạt động thị trường đủ mạnh, có tác động trở lại hoạt động sản xuất hàng hoá tại cộng đồng đó và ảnh hưởng đến một số cộng đồng làng xung quanh phát triển? Ở một số địa phương có chợ phát triển thành trung tâm kinh tế vùng/ trung tâm thương mại - dịch vụ cũng là địa phương có sự chuyển đổi kinh tế - xã hội mạnh mẽ theo hướng đô thị hoá, công nghiệp hoá kinh tế nông thôn hơn những làng khác Những yếu tố nào đóng vai trò quyết định trong tiến trình chuyển đổi trên? Và chúng có thể trở thành một trong những giải pháp để thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn vùng châu thổ Sông Hồng? Giải đáp được những câu hỏi này sẽ góp phần tích cực cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn Do đó, việc đặt vấn đề nghiên cứu chợ trong
đời sống kinh tế - xã hội cộng đồng nông thôn, đặc biệt là trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phát triển sản xuất hàng hoá, phát triển thị trường nông thôn hiện nay, là một chủ đề có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn
Đó là lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu “Chợ nông thôn châu thổ Sông
Hồng trong quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới”
Trang 122- Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1- Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu vai trò của chợ nông thôn và những chủ thể kinh doanh trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn thể hiện như thế nào (qua hai vai trò chính: đối với hoạt động sản xuất và đối với sự chuyển đổi xã hội của cộng đồng làng
xã nông thôn)
- Tìm hiểu sự thay đổi trong cấu trúc xã hội các quan hệ thương mại tại chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng do quá trình mở rộng và phát triển thị trường nông thôn phát triển sản xuất hàng hoá, từ đó nhận diện được những biến đổi trong các quan hệ xã hội cộng đồng làng xã trước tác động cuả những chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô
2.2- Nhiệm vụ nghiên cứu: kết quả nghiên cứu thực nghiệm có nhiệm
vụ chỉ ra được:
- Cơ sở kinh tế - xã hội của chợ nông thôn Vai trò của chợ và thương nhân trong đời sống kinh tế - xã hội cộng đồng làng xã vùng châu thổ Sông Hồng,
- Cấu trúc xã hội các quan hệ thương mại kinh doanh tại chợ nông thôn Cách thức chủ thể kinh tế tiếp nhận những tác động của quá trình phát triển thị trường nông thôn, điều chỉnh hành vi kinh tế của họ,
- Xu hướng vận động của chợ nông thôn và tác động của quan hệ thị trường đến một số biến đổi xã hội nông thôn
2.3- Đối tượng nghiên cứu: chợ nông thôn châu thổ Sông hồng trong
quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới
- Chợ nông thôn và các mối quan hệ giữa các nhóm xã hội tham gia hoạt động kinh doanh tại chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng
- Các nhóm xã hội tham gia/ có liên quan tới hoạt động kinh doanh tại
Trang 13chợ: người buôn bán nhỏ, người sản xuất - kinh doanh, chính quyền địa
phương,
2.3- Phạm vi nghiên cứu:
* Địa bàn khảo sát: Tại thời điểm nghiên cứu của đề tài, và trong khuôn
khổ đề tài, châu thổ Sông Hồng bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây5, tr.9
Để thấy rõ những yếu tố làm cơ sở cho chợ nông thôn phát triển mạnh và
xu hướng biến đổi của nó trước tác động của một số chính sách kinh tế - xã
hội vĩ mô phải là những chợ xã (liên làng), chợ huyện (liên xã), nơi có hoạt
động thị trường phát triển mạnh và địa phương có chợ diễn ra những sự chuyển biến rõ rệt trong đời sống kinh tế - xã hội Chợ Ninh Hiệp (Gia Lâm),
chợ Hữu Bằng (Thạch Thất, Hà Tây) và chợ Thổ Tang (Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc) được chọn làm ba nghiên cứu trường hợp vì chúng đáp ứng được điều kiện trên
Tính đại diện của nó thể hiện rõ ở cơ cấu xã hội lao động - nghề nghiệp,
bao gồm Thổ Tang là một địa phương sản xuất nông nghiệp kết hợp với buôn bán Ninh Hiệp và Hữu Bằng là những làng nghề truyền thống: dệt, mộc (Hữu Bằng), may, chế biến nông, lâm sản (Ninh Hiệp) Đồng thời hai làng nghề này cũng kết hợp làm nông nghiệp với buôn bán - dịch vụ tại chợ Xu thế chung ở
cả ba địa phương trên là giảm nghề nông, đồng thời tăng dần việc làm, ngành nghề phi nông nghiệp (tiểu thủ công nghiệp, buôn bán - dịch vụ) Do đó, có
thể coi ba xã Thổ Tang, Ninh Hiệp và Hữu Bằng là hình ảnh thu nhỏ của nông
thôn đồng bằng Sông Hồng trong lịch sử cũng như hiện nay
Thời gian nghiên cứu : Từ năm 1986, hoạt động của chợ nông thôn
trước năm 1986 được đề cập đến để so sánh
Trang 142.5- Giới thiệu chung về địa phương có chợ được chọn nghiên cứu Chợ Thổ Tang (Vĩnh Phúc) - một chợ vùng Trung Du - thuộc xã Thổ
Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, nằm ở đỉnh tam giác châu thổ Sông Hồng Thổ Tang nghĩa là đất trồng dâu nuôi tằm, một vùng thuần nông nghiệp năm 1822 phủ Vĩnh Tường được thành lập, người nông dân Thổ Tang trở thành dân đô thị lập nên chợ Thổ Tang
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Phủ Vĩnh Tường được đổi thành huyện Vĩnh Tường thuộc tỉnh Vĩnh Yên Từ tháng 10-1977 đến tháng 12-1995 hợp nhất với huyện Yên Lạc thành huyện Vĩnh Lạc Tháng 1-1996 huyện Vĩnh Tường được tái lập với diện tích tự nhiên 141,8 km2
Dân số hơn 18 vạn người gồm 28 làng xã, 1 thị trấn nơi có chợ Thổ Tang thuộc xã Thổ Tang Trải qua những biến thiên lịch sử , cho đến nay nghề trồng trọt, dịch vụ, buôn bán với sự hoạt động của chợ Thổ Tang trở thành truyền thống của làng
Dân trong vùng có câu ca: "ngược xuôi, trên dưới, trong ngoài Ở đâu có chợ
có người Thổ Tang" Chợ Thổ Tang hoạt động mạnh nhất vùng chính là do
người dân có truyền thống kinh doanh buôn bán và làm dịch vụ, biết khai thác lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi vì đây là nơi trung chuyển hàng ngược - xuôi Người dân Thổ Tang mang nông sản: rau, quả, củ, lên cung cấp cho các tỉnh miền ngược và chở lâm sản về xuôi bán, một phạm vi hoạt động thị trường khá rộng lớn có sự tham gia tích cực của người dân Thổ Tang Việc thương nhân mở rộng phạm vi hoạt động thị trường đưa nông sản thu gom tại chợ Thổ Tang đến những thị trường miền núi phía Bắc thậm chí sang cả Lào, Trung Quốc, không chỉ góp phần quan trọng giải quyết tình trạng thiếu việc làm do
/ người), mà còn tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển những cánh đồng màu của địa phương và những vùng xung quanh Đất khu vực Thổ Tang
Trang 15thuộc loại đất pha cát Sông Hồng nên rất thuận lợi cho việc trồng màu Hiện nay tỷ lệ khai thác đất thuộc loại cao nhất nước: 7,8 vụ/ năm, trung bình 45 ngày/ vụ màu
Do sử dụng giống tốt, áp dụng khoa học kỹ thuật vào qui trình sản xuất lúa nên năng suất lúa trung bình 11,7 tấn/ ha Nhưng lợi ích kinh tế từ trồng trọt đem lại ở Thổ Tang phải kể đến hơn 400 ha màu Do biết khai thác ưu thế của loại đất pha cát kết hợp với việc ứng dụng khoa học kỹ thuật giống cây trái vụ nên giá trị thu nhập từ trồng màu cả năm 2001 lên 13,277 tỷ đồng trên
578 ha đất (tăng 0,88 tỷ đồng so với năm 2000) Diện tích đất canh tác chuyển sang trồng màu ngày càng tăng, theo cán bộ xã cho biết sang năm 2002 sẽ dành 490 ha vào trồng màu Giá trị hàng hoá trên 1 ha trồng màu năm 2001 là
65 triệu đồng; phấn đấu sang năm 2002 tăng lên 70 triệu đồng/ ha màu
Đây là địa phương có nền nông nghiệp hàng hoá phát triển mạnh trong vùng châu thổ Sông Hồng Ngoài ra còn có một số hộ ngành nghề: sửa chữa
cơ khí, trung và đại tu các phương tiện vận tải, gò hàn, mộc dân dụng, xay xát, chế biến nông sản, lâm sản, may mặc, Một số hộ trong năm 2001 đầu tư hàng trăm triệu đồng lắp đặt dây truyền dệt bao bì, thổi bao nilon
Thổ Tang là một thị trường sôi động nên người dân sử dụng nhiều nguồn vốn trong đó có Quĩ tín dụng nhân dân xã Quĩ hoạt động mạnh được đánh giá
là đơn vị lá cờ đầu của Tỉnh Vĩnh Phúc Trong 2001 Quĩ có lãi gộp là 454 triệu đồng, thực lãi cả năm là 74 triệu đồng (tăng 10,1 triệu đồng so với 2000)
Do hoạt động sản xuất hàng hoá của các ngành nghề đều phát triển mạnh, buôn bán cũng trở thành một nghề truyền thống của xã trong tất cả các giai đoạn kinh tế Năng lực kinh doanh của người dân được phát huy và đem lại hiệu quả kinh tế đặc biệt mạnh từ khi thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý trong sản xuất nông nghiệp, phát triển các ngành nghề theo hướng sản
Trang 16xuất hàng hoá
Thu nhập trung bình của người lao động khoảng 500.000 đồng/ tháng nhưng thu nhập của những hộ dịch vụ vận tải đạt thực lãi khoảng 500 triệu đồng/ hộ/ năm Thu nhập từ ngành nghề kinh doanh dịch vụ thương nghiệp khoảng 26 tỷ đồng cùng các khoản thu khác đưa tổng thu nhập toàn xã trong năm 2001 đạt 53,5 tỷ đồng (tăng 10% so với cùng kỳ năm 2000) bình quân thu nhập 3.960.000 đồng/ người/ năm
Chợ Hữu Bằng thuộc xã Hữu Bằng huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, nằm
sâu trong đồng bằng, xa đường quốc lộ Đất canh tác rất ít (sau cải cách ruộng
(3 thước)/ người)
Năm 2000 có 12.470 nhân khẩu sinh sống trên diện tích 200 ha đất trong
đó có 118 ha đất canh tác Đất nông nghiệp ít nên nơi đây phát triển nhiều nghề thủ công: dệt, mộc, cơ khí, chế biến lâm sản Các hộ gia đình đều hoạt động theo phương thức tự sản tự tiêu do đó, kinh doanh buôn bán trở thành
một nghề truyền thống của làng
Thời kỳ kinh tế hợp tác, bên cạnh hợp tác xã nông nghiệp còn có một hợp tác xã dệt và nhuộm gia công hàng cho Nhà nước đã được thành lập Xã viên được nhà nước trả lương và hưởng chế độ tem phiếu mua nhu yếu phẩm theo giá bao cấp của nhà nước nên diện tích đất cho khu vực lao động nông nghiệp tăng lên 10 thước/ người
Năm 1986 hợp tác xã dệt và nhuộm giải thể, xã viên tự chuyển nghề khác làm ăn sinh sống: sản xuất đồ gỗ gia đình, mở xưởng cơ khí chế tạo máy móc, buôn bán hàng tiêu dùng theo đường tiểu ngạch với thương nhân Trung Quốc, buôn gỗ,
Hiện nay chợ làng phát triển mở rộng thành khu phố chợ kéo dài từ trung tâm chợ đến đường liên huyện (đường 21B) Tập trung ở khu phố chợ là
Trang 17những cơ sở kinh doanh buôn bán, những cửa hàng giới thiệu sản phẩm nghề làng Do hoạt động kinh doanh và những nghề phi nông đều phát triển nên đã thu hút khá nhiều thương nhân từ khắp đất nước đến làm ăn buôn bán, nhà doanh nghiệp và cả những kỹ sư từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đến ký kết hợp đồng kinh tế
Chính quyền xã Hữu Bằng hoạt động kém hiệu quả nên mặc dù đây là một địa phương hoạt động kinh tế khá nhưng chính quyền không có khả năng động viên được sự đóng góp của nhân dân vào các công việc chung của cộng đồng Tình trạng ô nhiễm môi trường, đường làng phần nhiều là đường đất,
dân lấn chiếm đất công ngày càng nhiều,
Chợ Ninh Hiệp thuộc xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm Đây là một xã ven
đô, xưa thuộc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, từ năm 1961 thuộc huyện Gia
Lâm, ngoại thành Hà Nội Theo Báo cáo tổng kết chương trình phát triển
nông thôn và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 1991-2000 của UBND xã
Ninh Hiệp: diện tích đất tự nhiên của xã là 488,86 ha trong đó, đất thổ cư: 6,05 ha, đất nông nghiệp: 472,81 ha Đất canh tác bình quân 1 sào/ người (1994) Số dân trung bình năm 2000 là 13.379 người với tổng số 2.813 hộ Về địa lý, Ninh Hiệp ở vị trí không thuận lợi vì xa đường quốc lộ I, xa trung tâm huyện
Ninh Hiệp là một trong những địa phương có nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, có nhiều ngành nghề truyền thống phong phú: may mặc, dệt, sản xuất
đồ giả da, chế biến nông lâm sản, thuốc nam thuốc bắc, Từ xưa đã sớm hình thành một chợ lớn nằm ngay trung tâm xã, là nơi giao lưu hàng hoá của nhân dân trong xã, trong vùng cũng như các tỉnh lân cận Kinh tế của xã ngày càng
ổn định và phát triển, đặc biệt từ 1986 trở lại đây Tốc độ đô thị hoá nhanh tạo
sự chuyển biến mạnh mẽ tới cục diện kinh tế - xã hội
Trang 18Ngay từ sau năm 1986 các cá nhân, hộ gia đình đã có hoạt động thương mại với nước ngoài thông qua những hợp đồng với Công ty ngoại thương Việt Nam thu gom và chế biến, nông, lâm sản (dược liệu, tinh dầu, lạc, đỗ, ) xuất khẩu sang các nước Đông Âu, Nhật, Trung Quốc, Buôn bán vải, dược liệu, hạt sen khô, theo đường tiểu ngạch với Trung Quốc, Hồng Kông khi biên giới Việt - Trung mở cửa
Mỗi ngành nghề hầu như tập trung ở mỗi xóm ví dụ như xóm 8 là nơi tập trung những hộ chế biến kinh doanh dược liệu Sản phẩm may mặc và dược liệu chủ yếu cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước do đó, hầu hết hoạt động kinh doanh các mặt hàng này do chủ cơ sở sản xuất trực tiếp giao dịch với khách hàng tại nhà qua phương tiện liên lạc: điện thoại, fax; thanh toán qua ngân hàng hoặc trực tiếp
Chợ vải Ninh Hiệp phát triển thành trung tâm buôn bán các mặt hàng vải, chủ yếu nhập từ Trung Quốc, Hongkong Phạm vi thị trường rộng khắp trong và ngoài nước
Chính quyền xã hoạt động có hiệu quả, là chỗ dựa cho hoạt động kinh tế của nhân dân Sự phối kết hợp giữa chính quyền và những hộ sản xuất - kinh doanh chặt chẽ có hiệu quả
Đặc điểm chung của ba chợ Ninh Hiệp, chợ Thổ Tang và chợ Hữu Bằng đều có phạm vi hoạt động thương mại rộng, thu hút nhiều người đến giao thương nên hoạt động dịch vụ cũng phát triển, hình thành những dãy phố trong làng với những cửa hàng cửa hiệu kinh doanh, dịch vụ có quan hệ với thị trường trong và ngoài nước, đều nằm ở địa phương có truyền thống buôn bán và nhiều nghề thủ công phát triển mạnh
3- Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, thu thập thông tin: 3.1- Phương pháp luận nghiên cứu:
Trang 19Từ hướng tiếp cận xã hội học kinh tế, chuyên ngành hẹp giữa xã hội học
và kinh tế học, vấn đề nghiên cứu tập trung vào những nội dung sau đây: 1/ nguồn gốc xã hội của chợ nông thôn; cấu trúc xã hội các quan hệ thương mại tại chợ nông thôn; 2/ giải thích hành vi ứng xử của chủ thể kinh tế tại chợ nông thôn; tìm hiểu những kiểu/ mô hình hành vi kinh tế khác nhau trước tác động của những yếu tố can thiệp (giá trị xã hội, chuẩn mực, thể chế, tập quán, tâm lý xã hội, ); 3/ sự vận động, xu hướng phát triển của chợ nông thôn và những điều chỉnh hành vi kinh tế của chủ thể kinh tế tại chợ có tác động như thế nào đối với từng cá nhân và cho toàn thể cộng đồng?
Xuất phát từ những nội dung nghiên cứu đã xác định, các tiền đề làm cơ
sở lý luận cho sự mô tả và giải thích vấn đề nghiên cứu như sau:
- Qui mô, hình thức, trình độ phát triển của thị trường chịu sự qui định của qui mô, hình thức, trình độ phát triển của hoạt động sản xuất Thị trường phát triển đến mức độ nhất định sẽ tác động trở lại, mở rộng sản xuất dẫn đến
sự tách rời sản xuất và thương mại, tạo nên sự đổi mới trong xã hội, trở thành yếu tố thúc đẩy xã hội phát triển
- Buôn bán, trao đổi hàng hoá là bản chất vốn có của con người Việc con người theo đuổi những lợi ích kinh tế trong thương mại là động lực nội tại thúc đẩy kinh tế phát triển Lợi ích kinh tế định hướng cho hành động song không phải lúc nào con người cũng hành động theo logích kinh tế này mà vẫn chịu sự can thiệp mạnh mẽ từ những yếu tố xã hội trung gian Chính nhờ sự can thiệp này mà các quan hệ thị trường/ quan hệ thương mại không diễn ra theo những logích kinh tế cho dù chính logích này đã giúp cho thị trường vận hành, đem lại cho chủ thể kinh tế những cơ hội tìm kiếm lợi nhuận trong cuộc cạnh tranh trên thương trường Và cũng nhờ những mối quan hệ thương mại không diễn ra theo logích kinh tế này mà hạn chế được sự huỷ hoại đạo đức,
Trang 20môi trường xã hội, do những cuộc tìm kiếm lợi nhuận của hoạt động kinh tế gây ra
- Cá nhân định hướng hành vi nhằm đáp ứng những nhu cầu, sở thích, mong muốn, của mình Sự định hướng này chịu tác động, chi phối của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan: giá trị xã hội, chuẩn mực, thể chế, ý thức hệ, tập quán cộng đồng, giới hạn của năng lực cá nhân, và thông tin, Sự chi phối của những yếu tố này đóng vai trò quyết định đến tính hợp lý của các kết quả lựa chọn hành vi của cá nhân Kết quả của quá trình lựa chọn này có thể đưa đến ba khả năng: 1/ cá nhân hành động theo sở thích, mục đích, lợi ích riêng; 2/ cá nhân hành động tuân theo những mong muốn của xã hội, giá trị xã hội, chuẩn mực, thể chế, ý thức hệ, tập quán cộng đồng, ; 3/ cá nhân có những hành động mang tính thoả hiệp giữa hai cách ứng xử trên, tuỳ theo hoàn cảnh, điều kiện hành động cho phép
- Con người là sản phẩm của xã hội Thị trường nông thôn mở rộng, cấu trúc xã hội của các quan hệ thương mại tại chợ nông thôn trở nên đa dạng, phức tạp hơn thì quá trình tham gia vào các quan hệ thương mại cũng là quá trình những chủ thể kinh tế truyền thống của chợ nông thôn thay đổi tư duy, hành vi kinh tế thích ứng với môi trường hoạt động mới Họ không chỉ làm nghề nông mà có quyền tự do lựa chọn nghề theo khả năng và sở thích trong khuôn khổ pháp luật cho phép Nhiều người chuyển sang làm nghề thủ công nghiệp, thành lập cơ sở sản xuất - kinh doanh, kinh doanh buôn bán, Điều kiện sống được cải thiện họ có điều kiện thay đổi lối sống phù hợp với địa vị, quan hệ xã hội mới Xã hội nông thôn thay đổi
Từ những tiền đề xuất phát này, việc phân tích quá trình vận động và xu hướng phát triển của chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng trước tác động của những yếu tố kinh tế - xã hội vĩ mô, vi mô; phân tích sự thay đổi cấu trúc xã
Trang 21hội của các quan hệ tại chợ nông thôn và các quyết định hành vi kinh tế của chủ thể kinh tế theo những chiều cạnh có mối liên kết chặt chẽ với nhau sau đây:
Các quá trình kinh tế: phân tích bản chất xã hội của chợ nông thôn qua
tác động nhiều chiều của đời sống xã hội Mặc dù hoạt động thương mại do hoạt động sản xuất qui định nhưng qui mô, hình thức hoạt động của chợ, phương thức kinh doanh, những cá nhân và nhóm xã hội tham gia vào hoạt động thương mại chịu ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ, đôi khi mang tính quyết định, của những yếu tố can thiệp: thể chế kinh tế, xã hội, giá trị xã hội, tập quán cộng đồng, ý thức hệ, như thế nào? Sự biến đổi của chợ nông thôn và hành vi kinh doanh của người nông dân châu thổ Sông Hồng, sự biến đổi trong đời sống xã hội nông thôn có mối liên hệ, quan hệ chặt chẽ với những biến đổi trong thể chế kinh tế, trong mô hình, định hướng phát triển của quốc gia như thế nào?
Những hạn chế của hành vi kinh tế: mặc dù con người luôn hành động
hướng đích nhưng việc thực hiện những lựa chọn cá nhân luôn bị giới hạn bởi những yếu tố: giới hạn của khả năng cá nhân, các thể chế xã hội, thái độ xã hội đến việc định hướng lựa chon nghề, qui định phạm vi lựa chọn hành vi kinh tế khác nhau của họ như thế nào?
Các chủ thể kinh tế: phân tích những chủ thể kinh tế ứng xử như thế
nào để các quan hệ thương mại diễn ra có trật tự? Cơ chế và những thể chế nào giúp cho hành vi cá nhân có thể thích nghi và có thể điều phối được lẫn
nhau để các quan hệ thị trường có thể thực hiện được?
Ảnh hưởng của kinh tế đối với xã hội: phân tích tác động của quá trình
phát triển hoạt động thị trường đến xu hướng dịch chuyển cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội - nghề nghiệp như thế nào? quá trình thâm nhập của các quan hệ
Trang 22hàng hoá - tiền tệ vào xã hội cộng đồng làng xã đã dẫn đến những thay đổi như thế nào trong các quan hệ xã hội cộng đồng làng xã truyền thống, trong định hướng giá trị, tâm lý tiêu dùng, lối sống, ?
Để trả lời những câu hỏi này, những quan điểm lý thuyết của các nhà xã hội học, kinh tế học: Weber, Durkheim, Pareto, Granovette, Adam Smith, C Mác, về hành động xã hội, vai trò của thị trường đối với sản xuất trong quá trình phân công lao động xã hội với tư cách là động lực phát triển xã hội, những quan niệm về cách tiếp cận bản chất của hiện tượng kinh tế, giải thích hành vi kinh tế, và những quan điểm lý thuyết giải thích các hiện tượng kinh
tế và hành vi kinh tế, một số lý thuyết về phát triển xã hội, lý thuyết phát triển vùng, lý thuyết hệ thống được sử dụng làm cơ sở lý luận trong nghiên cứu
3.1.1- Khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Hệ khái niệm công cụ
Chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng trong quá trình chuyển đổi kinh tế -
xã hội thời kỳ đổi mới là một chủ đề nghiên cứu trên địa bàn nông thôn do đó,
những khái niệm liên quan dưới đây đã được sử dụng: chợ, thị trường, thương nhân, nông nghiệp, nông thôn, nông dân,
Chợ là một loại hình hoạt động thị trường xuất hiện từ xa xưa cho đến nay ở khắp nơi trên thế giới Chợ là nơi người mua, người bán gặp gỡ, trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ do phương thức tổ chức sản xuất và nhu cầu
xã hội qui định Do đó cũng có nhiều định nghĩa về chợ
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Mỹ, “ chợ là cuộc gặp gỡ định kỳ giữa
các thương gia để tiến hành hoạt động mua, bán hàng hoá công khai tại một nơi nhất định Hàng bán tại chợ rất đa dạng, từ các loại vải may mặc đến các loại đá quí Hàng hoá bán tại một số chợ ở Châu Âu chủ yếu là các loại quần áo Những nước ở phương Đông, chợ có tầm quan trọng và qui mô lớn
Trang 23
“Chợ ở các bang và tỉnh lẻ của Mỹ là những nơi trưng bày nông sản và sản phẩm vườn Chúng có nguồn gốc từ hoạt động chợ ngoài trời do Elkanah Watson khởi xướng lần đầu tiên, được tổ chức tại Pittsfield, Mass, vào năm 1810, “68, p 720-721
* Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa, " chợ là nơi gặp gỡ
giữa cung và cầu các hàng hoá, dịch vụ, vốn; là nơi tập trung hoạt động mua bán hàng hoá giữa người sản xuất, người buôn bán, người tiêu dùng Qui mô, tính chất của chợ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế Chợ có vai trò chủ yếu là nơi tiêu thụ hàng hoá, đồng thời cũng có ảnh hưởng kích thích ngược lại đối với sản xuất Ở nhiều vùng miền núi, chợ còn là nơi sinh hoạt văn hoá các đồng bào dân tộc
“ Qui mô và tính chất của chợ rất đa dạng; có chợ nông thôn tự sản tự tiêu; có loại chợ mang tính chất khu vực hay một vùng rộng lớn Thông thường mặt hàng buôn bán ở chợ rất phong phú, nhiều loại Nhưng cũng có chợ chỉ mua bán những mặt hàng nhất định như chợ trâu bò,chợ gạo, chợ vải Tuỳ theo địa điểm và nhu cầu, chợ có thể họp hàng ngày nhưng cũng có chợ chỉ họp theo phiên nhất định trong tháng Vì vậy có thể xem chợ là sự
Trong ngôn ngữ Việt Nam khái niệm chợ thường có thêm một số từ kèm theo để chỉ loại hình hàng hoá, hình thức sinh hoạt, tính chất, địa điểm họp, của chợ Do đó, có thể phân chia ra nhiều loại hình chợ theo những tiêu chí khác nhau, ví dụ:
+ Theo thời gian họp chợ: Chợ sáng, chợ hôm, chợ phiên (3 hoặc 5 ngày một lần)
+ Theo khu vực, địa vực: chợ quê, chợ nông thôn, chợ đô thị, chợ ven
Trang 24đô, chợ đồng bằng, chợ trung du
+ Theo qui mô hành chính: chợ làng, chợ xã( liên làng), chợ huyện (liên xã), chợ thị trấn, chợ thị xã,
+ Theo tính chất, qui mô trao đổi hàng hoá : chợ đầu mối, chợ bán lẻ, chợ chuyên, chợ tổng hợp,
+ Theo loại hình hàng hoá chủ yếu bán tại chợ: chợ vải, chợ trâu, chợ lụa,
Dù phân chia theo tiêu chí nào thì chợ ở khu vực nông thôn hoạt động trên địa bàn nào đều do chính quyền địa phương đó quản lý do đó, chúng còn
có một tên gọi chung là chợ làng hoặc chợ quê
Từ những định nghĩa và sự phân loại chợ nông thôn như trên, trong khuôn khổ luận án nghiên cứu, có thể định nghĩa chợ nông thôn, với tư cách là yếu tố kinh tế - xã hội cơ bản để phát triển sản xuất hàng hoá, tạo ra nhu cầu
xã hội, như sau:
Chợ nông thôn là nơi người mua, người bán gặp gỡ, trao đổi, mua bán
hàng hoá, dịch vụ phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng nông thôn vào những ngày, buổi nhất định Có các ngành, hàng hoạt động ở từng khu vực riêng trong chợ
Với nội hàm trên thì chợ nông thôn trong khuôn khổ nghiên cứu của luận
án, ở qui mô chợ xã (liên làng) hoặc chợ huyện (liên xã)
Thương nhân: là những người trực tiếp hoặc gián tiếp thường xuyên và
có ý thức tham gia vào hoạt động trao đổi lưu thông hàng hoá và có liên quan đến buôn bán hàng hoá
Nông thôn, các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa để xác định không
gian nông thôn và cùng với sự phát triển của xã hội, nội hàm của khái niệm
nông thôn ngày càng mở rộng "Nông thôn là một kiểu cộng đồng lãnh thổ -
Trang 25xã hội nhất định có tính lịch sử, hình thành trong quá trình phân công lao động
xã hội, có đặc điểm dân số không đông, mật độ dân số tương đối thấp, lao động nông nghiệp đóng vai trò đáng kể " 66, tr 96-97
Trong cuốn Từ điển Xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên định
nghĩa: "theo cách hiểu thông thường, nông thôn là những vùng dân cư sinh sống bằng nông nghiệp" và tác giả nhận xét, trên thực tế "nông thôn là một hiện tượng phức tạp hơn nhiều" do sự phát triển của xã hội và do sự phân công lao động dẫn đến "những vùng nông thôn không có nông nghiệp Nếu trước đây nông thôn đồng nhất với nông nghiệp và nông dân, thì ngày nay sự đồng
nhất ấy không đúng nữa Người ta bắt đầu nói đến một nông thôn đa chức
năng: ngoài sản xuất nông nghiệp, đó còn là nông thôn công nghiệp, nông thôn cư trú, "
Để xác định thế nào là nông thôn, các nhà khoa học thường đưa ra một khái niệm đối lập với nó là khái niệm đô thị và dựa trên một số tiêu chí theo
họ là quan trọng nhất Đó là tiêu chí về nghề nghiệp, về môi trường, kích cỡ cộng đồng, mật độ dân số, về tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, về mức độ
di động xã hội, về hướng di cư, về sự khác biệt xã hội, phân tầng xã hội, về hề thống tác động qua lại, 27, tr.26
Cùng với sự phát triển của xã hội, việc xác định không gian nông thôn không đơn giản Nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị trấn, những tụ điểm dân cư, những trung tâm công thương nghiệp nhỏ mà sự xuất hiện và phát triển của chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nông thôn, có sự phụ thuộc lẫn nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển Chính vì vậy tại một hội nghị của Liên Hợp Quốc (UNCRD), các nhà khoa học đưa ra khái niệm
continiunm Continiunm là một địa bàn kinh tế - xã hội hỗn hợp, gồm ba khu
vực nông thôn, nông thị và đô thị nối tiếp nhau, xen ghép nhau với tỷ lệ khác
Trang 26nhau biến động theo hướng đô thị hoá
Nông nghiệp, theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: "là ngành
sản xuất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi"51, tr.768
Đặc điểm của nghề nông được một số nhà khoa học đề cập đến như là
một xí nghiệp gia đình trong đó, đặc điểm quan trọng là sự cùng chia sẻ công
việc gia đình Có sự chuyên môn hoá và phân công lao động có tính chất tương đối trong các thành viên gia đình Trên thực tế tất cả các thành viên đảm nhận hầu hết các công đoạn của nghề nông Đây là đặc điểm hiếm có ở những nghề khác, thể hiện tính cộng đồng trách nhiệm, cộng đồng sở hữu trong gia đình nông dân
Nông dân, từ hướng tiếp cận nghề nghiệp, là một giai cấp chuyên sản
xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình"60 ,tr 227
Từ hướng tiếp cận hộ nông dân, "nông dân là các nông hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với trình độ hoàn chỉnh không cao"62, tr 51
Trong cuốn Từ điển xã hội học thì nông dân được xác định "là một tập
đoàn xã hội sống bằng nông nghiệp ở nông thôn" Đồng thời tác giả cũng đưa
ra luận điểm "chưa bao giờ nông dân là một tập đoàn xã hội thuần nhất cả" khi xem xét nông dân từ khía cạnh nghề nghiệp và kỹ thuật, và với tư cách là một tầng lớp xã hội 67, tr 192
Về sự khác biệt trong tầng lớp nông dân đã được Ph Anghen đề cập đến
Trang 27từ năm 1894 trong bài viết "Về vấn đề nông dân ở Pháp và Đức" Ông viết:
"cư dân nông thôn mà chúng ta có thể nói chuyện với họ thì gồm những người rất khác nhau và tuỳ theo địa phương khác nhau Cũng như ở Pháp và Bỉ, ở Tây Đức chính nền tiểu nông của những người nông dân có những mảnh ruộng nhỏ đang chiếm ưu thế, trong số đó đa số là người có ruộng đất và thiểu
số là người đi thuê ruộng đất
Ở Tây bắc nước Đức trong vùng hạ du miền Sachen và vùng Scheswigholstein thì phần lớn là phú nông và trung nông Họ không thể không thuê mướn những người ở, cả nam lẫn nữ và cả những người làm công nhật nữa, 11, tập 6, tr 565-566
Cũng như khái niệm nông thôn, nội hàm của khái niện nông dân cũng ngày càng mở rộng cùng với sự phát triển của sự phân công lao động Sự phân công lao động mở rộng theo hướng chuyên môn hoá dẫn đến cơ cấu nghề nghiệp của cư dân nông thôn thay đổi mạnh mẽ Theo sự phát triển của nền kinh tế, ngày càng có nhiều nông dân chuyển khỏi khu vực nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp: công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, xây dựng, ở nông thôn Thực tiễn vận động trên dẫn đến đặc điểm cư dân nông thôn không chỉ bao gồm những người nông dân chuyên làm nghề nông
Mặc dù ngày càng có sự khác biệt về nghề nghiệp, môi trường và điều kiện làm việc của cư dân nông thôn trong quá trình phát triển xã hội thì đặc điểm của người nông dân được đa số thừa nhận: 1/ Nông dân sống gần gũi hoặc ngay trong môi trường làm việc của họ 2/ Nông dân sống thành những cộng đồng với những quan hệ họ hàng, hàng xóm láng giềng gắn bó chặt chẽ với nhau gần suốt cả cuộc đời Họ cùng làm những công việc như nhau trong khoảng thời gian như nhau, cùng thực hiện nhiều nhiệm vụ và chức năng
Trang 28giống nhau, Những sự giống nhau này rất quan trọng về mặt xã hội, nó tạo nên sự cố kết xã hội đồng thời cũng hình thành nên tính cục bộ, bảo thủ
Những định nghĩa về nông thôn, nông nghiệp, nông dân từ những hướng
tiếp cận khác nhau cho thấy nội hàm của chúng không ngừng được mở rộng cùng với quá trình phát triển của xã hội Do đó, khi nghiên cứu chợ nông thôn, nơi diễn ra các quan hệ kinh doanh giữa các nhóm xã hội tham gia vào hoạt động thị trường hàng hoá, trong quá trình chuyển đổi đời sống kinh tế - xã hội nông thôn, hướng tiếp cận của luận án trước hết từ quan điểm phát triển xã hội trong đó đặt sự phân công lao động xã hội làm động lực của sự phát triển xã hội
- Thời kỳ đổi mới: Đổi mới là một chủ trương của Đảng và Nhà nước
được bắt đầu từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Mục tiêu của quá trình đổi mới trước hết nhằm khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, chủ yếu do sai lầm trong quản lý kinh tế của mô hình quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội kiểu cũ đưa lại; tạo tiền đề, điều kiện để Việt Nam có thể đạt được bước phát triển mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh
Quá trình đổi mới đã trải qua hơn 15 năm Giai đoạn đầu tiên với mục
tiêu chủ yếu là xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp để chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa Mở cửa thị trường Giai đoạn tiếp theo bắt đầu từ Đại hội VIII
(1996) có nhiệm vụ chủ yếu là đẩy mạnh các quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở rộng và hội nhập quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế để sớm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Đối với nông nghiệp, nông thôn, quá trình đổi mới có một số mốc quan
Trang 29trọng trong việc ban hành các chủ trương, chính sách, bộ luật làm cơ sở cho sự
(khoá VI - 1987) giải quyết những vấn đề cấp bách về phân phối lưu thông và một số biện pháp, chính sách về phát triển nền nông nghiệp hàng hoá và phát triển thị trường nông thôn, về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thừa
nhận kinh tế hộ gia đình, 3/ Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988) về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp và nông thôn; 4/ Luật đất đai được Quốc hội thông qua năm 1993; 5/ Luật hợp tác xã được Quốc hội thông qua năm 1996 và Luật doanh nghiệp năm 1999, Những chính sách, biện pháp
kinh tế, xã hội, định hướng cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn sau một thời gian thực hiện đã đem lại những chuyển đổi căn bản trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn
3.1.2 - Giả thuyết nghiên cứu
- Quá trình đổi mới ở Việt Nam là một quá trình diễn ra những biến đổi trong mọi mặt của đời sống xã hội Từ những biến đổi trong các quan hệ kinh
tế dẫn đến những biến đổi trong các quan hệ xã hội Chính sách khoán 100 (1981), khoán 10 (1988), đặc biệt là Nghị quyết TW 2 khoá VI về phân phối lưu thông (1987), chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động thị trường, thừa nhận kinh tế hộ gia đình, những "cởi trói" về thể chế, chính sách của Nhà nước đã giải phóng sức lao động, sản xuất thuộc các ngành nghề đều phát triển Những thay đổi căn bản trong cách thức tổ chức sản xuất và do đó cũng làm thay đổi cách thức tổ chức hoạt động trao đổi buôn bán ở khu vực nông thôn Kết quả, mạng lưới chợ nông thôn phát triển
- Kinh tế hộ gia đình theo phương thức tự hạch toán, người nông dân vừa
Trang 30là người sản xuất vừa là người kinh doanh Sự phát triển, mở rộng qui mô sản xuất - kinh doanh của các hộ gia đình đã dẫn đến nhu cầu mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá do đó, phạm vi hoạt động kinh doanh của thương nhân, chủ
hộ sản xuất - kinh doanh, vượt ra khỏi chợ làng đến những vùng, miền trong
cả nước và ra nước ngoài Hoạt động kinh doanh ở một số chợ nông thôn phát triển mạnh đã thu hút thương nhân và cả những nhà sản xuất, doanh nhân từ khắp nơi đến giao thương, kết cấu xã hội các quan hệ thương mại tại chợ nông thôn mở rộng, dẫn đến quá trình mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội, văn hoá giữa cộng đồng làng xã với thế giới bên ngoài, làm biến đổi xã hội nông thôn
- Chính sách kinh tế mở cửa, sản xuất hàng hoá và thị trường phát triển dẫn đến hiện tượng một số chợ nông thôn vận động và phát triển theo xu hướng:
Chợ > phố chợ -> cụm thương mại - dịch vụ/ trung tâm kinh tế vùng/ trung tâm công - thương mại - dịch vụ -> thị trấn -> đô thị nhỏ Đây là địa bàn nông thôn diễn ra những sự biến đổi xã hội theo hướng đô thị
hoá dưới tác động của những quan hệ thị trường
3.1.3- Khung lý thuyết và lược đồ vấn đề nghiên cứu
Trang 313.2- Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin
3.2.1- Nghiên cứu trường hợp
Để thấy rõ những đặc trưng nổi bật và xu hướng vận động của chợ nông thôn cần phải nghiên cứu những chợ có những bước phát triển khá mạnh Mặt khác, trước một tổng thể nghiên cứu khá lớn và tính chất phức tạp của đối tượng nghiên cứu, do điều kiện hạn chế của người nghiên cứu nên luận án đã dựa trên những dữ liệu thông tin thu được qua nghiên cứu trường hợp chợ Ninh Hiệp (Gia Lâm), chợ Hữu Bằng (Thạch Thất, Hà Tây) và chợ Thổ Tang (Vĩnh Lạc, Vĩnh Phúc) làm cơ sở cho việc phân tích những nội dung nghiên
Trang 32cứu
3.2.2- Phương pháp khảo sát xã hội học
Chợ nông thôn là nơi diễn ra các quan hệ thương mại giữa các chủ thể kinh doanh ở khu vực nông thôn Đây là một hoạt động liên quan đến lợi ích kinh tế của chủ thể - một lĩnh vực mang tính nhạy cảm Do đó để có những thông tin tin cậy giúp cho việc nhận biết được những động cơ, lý do định hướng hành vi lựa chọn nghề buôn bán, kinh doanh; những mối liên hệ bên trong giữa các thành viên trong cộng đồng, những yếu tố qui chiếu hành vi kinh doanh của cá nhân/ nhóm kinh doanh trong các quan hệ thương mại, qua các thời kỳ kinh tế đặc biệt là giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường,
những phương pháp khảo sát xã hội học như: quan sát, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm và phỏng vấn bằng phiếu đã được kết hợp sử dụng, trong đó thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu chiếm vai trò chủ yếu trong việc thu thập
cứ liệu, thông tin làm cơ sở cho việc phân tích định tính nhằm tìm hiểu bản chất vấn đề ẩn sau những con số thống kee Phương pháp nghiên cứu tài liệu, quan sát, chụp ảnh cũng được sử dụng để tăng độ tin cậy của thông tin
3.2.3 - Mẫu thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu và phỏng vấn bằng bảng
hỏi: bao gồm những người trực tiếp kinh doanh buôn bán, những người quản
lý, những người trong cộng đồng có quan tâm đến hoạt động này
Cơ cấu mẫu phỏng vấn sâu
Trang 33Nhóm tuổi 20 - 39 40 - 65 65 - 78 Tổng
Mẫu thảo luận nhóm:
tham gia phỏng vấn Nhóm kinh doanh vải tại chợ 1 cuộc/ 2 người
1 cuộc/ 3 người
5
Nhóm kinh doanh dược liệu 2 cuộc/ 2 người 4
Nhóm kinh doanh vải Việt Nam -
Trung Quốc
Nhóm sản xuất - kinh doanh đồ gỗ 3 cuộc/ 2 người 6
Nhóm thu gom và buôn đường dài
Nội dung bảng hỏi (xem phần phụ lục) gồm những câu hỏi cho hai loại
đối tượng: 1/ cho những người hoạt động buôn bán từ thời kỳ kinh tế hợp tác đến nay; 2/ cho những người tham gia vào hoạt động buôn bán, sản xuất - kinh doanh từ sau năm 1986 để tìm ra và so sánh xu hướng lựa chọn nghề kinh doanh, sự chuyển đổi định hướng giá trị nghề nghiệp, ảnh hưởng của môi trường kinh tế - xã hội đến quyết định cá nhân,
Trong quá trình thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu, phỏng vấn bằng bảng hỏi có kết hợp thu thập những thông tin tại những thời điểm khác nhau có liên quan đến nội dung nghiên cứu và những dữ liệu lịch đại làm cơ sở cho việc
mô tả và phân tích chủ đề nghiên cứu
Những thông tin thu được là kết quả nghiên cứu trường hợp vì thế đã hạn
Trang 34chế tính đại diện thống kê cho toàn thể mạng lưới chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng Để khắc phục phần nào hạn chế trên trong quá trình mô tả, phân tích vấn đề nghiên cứu có kế thừa và khai thác những thông tin, dữ liệu từ một
số công trình của một số nhà nghiên cứu Do vậy những nhận định và kết luận nêu lên từ cuộc nghiên cứu này vẫn có thể góp phần mở ra cho các nghiên cứu
điều tra xã hội học qui mô lớn hơn sau này
4 - Đóng góp của luận án:
- Cách tiếp cận từ những hoạt động kinh tế để nghiên cứu một số sự chuyển đổi của xã hội nông thôn trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế - xã hội là một hướng nghiên cứu có nhiều triển vọng trong xã hội học nông thôn, xã hội học kinh tế
- Kết quả nghiên cứu thực ngiệm đã: 1/ Chỉ ra cấu trúc xã hội của các quan hệ kinh doanh tại chợ nông thôn trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế - xã hội thông qua quan hệ giữa nhóm thương nhân với các nhóm xã hội khác trong và ngoài cộng đồng làng xã 2/ Cách thức người nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ châu thổ Sông Hồng tiếp nhận và điều chỉnh hành vi kinh doanh trước tác động của quá trình tham gia vào những hoạt động sản xuất - kinh doanhm hoạt động thị trường chung trong cả nước và hướng ra nước ngoài 3/ Một số đặc trưng chuyển đổi của xã hội nông thôn châu thổ Sông Hồng trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường
Những kết quả trên đây hy vọng sẽ là một đóng góp nhỏ vào việc xác định rõ thêm đối tượng, những nội dung nghiên cứu của xã hội học kinh tế - một vấn đề cho đến nay vẫn còn được nhiều nhà xã hội học bàn luận đến
Dân số vùng đồng bằng Sông Hồng 5,6, tr.9
Năm Cả nước
( nghìn
ĐBSH ( nghìn người)
Trang 35người) Tổng số Thành thị Nông thôn
1995 71.995,5
16.136,7 22,1%
2.689,1 19,9%
13.447,6 23,3%
1996 73.156,7 16.590,4
22,0%
2.925,7 19,4%
13.664,7 23,1%
1997 74.306,9 16.816,6
21,9%
3.179,0 20,2%
14.637,6 24,4%
1999 76.596,7 16.870,6 3.354,4
34,77%
13.516,2 65,23%
2001*** 78.685,8 17.243,3 3.568,5
24,75%
13.674,8 75,24%
Nguồn: Niên giám thống kê 2001
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
Trang 36NGHIÊN CỨU
1.1 - Một số những công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khoa học về những biến đổi xã hội nông thôn trước tác động của kinh tế thị trường, của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, đặc biệt trong bối cảnh khu vực hoá và toàn cầu hoá kinh tế đang gia tăng hiện nay
Những phát hiện, những kết quả nghiên cứu đã gợi ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tục đi sâu tìm hiểu hơn nữa Đó không chỉ là những vấn đề, những hiện tượng xã hội mới mà cả những nhận định trước đây cần phải được nhìn nhận lại cùng những cách tiếp cận và xử lý thông tin thu được để có thể " tìm
truyền thống Trong số những chủ đề nghiên cứu về nông thôn, chợ nông thôn
- một hình thức tổ chức của thị trường nông thôn và hoạt động thương mại của thương nhân là một trong những chủ đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học
Theo mô tả và đánh giá của các nhà sử học, chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng họp theo phiên (5 ngày họp một lần) là sản phẩm của kinh tế tiểu nông kém phát triển Tác giả Vũ Quốc Thúc trong công trình nghiên cứu về kinh tế cộng đồng làng Bắc Bộ Việt Nam nhận định, các chợ là một mạng lưới những "thị trấn lưu động" đảm đương phân phối lưu thông 99% sản phẩm trao đổi trong nước Người nông dân các vùng mua 90% hàng tiêu dùng và tư liệu
Theo kết quả của nhiều công trình do các tác giả nước ngoài nghiên cứu
Trang 37đều nhận định, chợ nông thôn Việt Nam và ở Châu Á đều họp ở các phần đất của hai ba làng giao tiếp nhau Theo họ, có lẽ đó là nơi duy nhất những người nông dân ở các làng gặp gỡ nhau vì một mục đích trao đổi các sản phẩm của
Về thương mại vùng châu thổ Sông Hồng thời kỳ phong kiến, nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều có chung nhận xét: thương mại bị hạn chế, kém phát triển Nghề đi buôn bị coi thường Theo tác giả Bùi Quang Dũng đã nêu, từ hướng tiếp cận "kinh tế đạo đức" trong nghiên cứu xã hội nông thôn Việt Nam, J Scott đã tập trung vào mối quan hệ giữa kinh tế và các thể chế xã hội Theo ông, trong môi trường kinh tế tự túc, nguyên tắc "an toàn trên hết' quyết định những hành vi kinh tế của người nông dân Họ "thà giảm đến mức tối thiểu xác suất gặp tai hoạ còn hơn là tăng đến mức tối đa thu nhập trung bình" Tác giả cho rằng, trong khi J Scott nhấn mạnh tới "nội dung đạo đức" như là cơ sở của thực tiễn kinh tế và trao đổi xã hội của nông dân thì S Popkin lại nhấn mạnh tới "mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và nhóm" Popkin khẳng định "sự tính toán chi phối hành vi" của nông dân thể hiện qua thái độ lạnh lùng "trước việc ra quyết định cá nhân và những tương tác chiến lược" Người nông dân Việt Nam của Popkin là một nhân vật kinh tế biết tính toán15, tr 18-19
Trang 38Trong công trình của các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Đức Nghinh, Phạm Thị Hoà, Vũ Hoàng Tuyên, Thành Thế Vĩ chợ đã được các tác giả xem xét với tư cách là môi trường diễn ra các hoạt động kinh tế - văn hoá - xã hội của cộng đồng làng xã Hoạt động buôn bán nhỏ - chạy chợ rất phổ biến ở các làng Việt cổ truyền vùng châu thổ Sông Hồng, trở thành một bộ phận trong cơ cấu kinh tế của họ cùng với một số đặc điểm của hoạt động buôn bán nhỏ tại nhà
Về thực chất người Việt, đặc biệt là phụ nữ, quen với việc buôn bán Họ thích và không coi nhẹ việc buôn bán Hệ thống chợ nông thôn và hoạt động buôn bán ngày càng phổ biến ở người nông dân từ thế kỷ XV trở đi đã tác động, hấp dẫn đến mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi Nó đã đi vào cả những trò chơi của trẻ con như "chơi đồ hàng/ chơi bán hàng"; những khúc đồng giao:"thả cá
mè, đè cá chép, chân nào đẹp thì đi buôn nem "; và trở thành những tiêu chuẩn để đánh giá lựa chọn, định hướng giá trị:"nhất cận thị, nhị cận giang",
"học buôn học bán cho tày người ta", "trai khôn kén vợ chợ đông".v.v
Đặc trưng nổi bật, người nông dân (đa số là phụ nữ) đi buôn nhưng không tách rời nông nghiệp và nông thôn dù hoạt động này chiếm tỷ lệ thời gian trong năm ít hay nhiều mà luôn có sự sắp xếp, ấn định thời gian cụ thể
Dù hoạt động buôn bán lớn đến mức độ nào thì nông nghiệp và nông thôn vẫn
là điểm xuất phát và nơi trở về của hoạt động này
Thực tiễn này chứng tỏ sản xuất chưa phát triển đến mức có sự tách rời giữa sản xuất và lưu thông phân phối để hình thành nên một tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp mặc dù một số nhà nghiên cứu như P Gourou, Nguyễn Quang Ngọc trong công trình nghiên cứu nông thôn đồng bằng Bắc Bộ có nêu
lên hiện tượng làng buôn (làng Đa Ngưu ở Hưng Yên, làng Báo Đáp ở Nam
Định, Đan Loan ở Hải Dương, Phù Lưu ở Bắc Ninh, )
Trang 39Trong một số công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài từ cách
định về "tính đóng" của làng xã ở Châu Á trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây Họ đã đưa ra, "những hình ảnh về một cộng đồng làng xã Châu Á với những tính biệt lập, đóng kín đã bị phá vỡ, một cấu trúc kinh tế - xã hội
Họ hoài nghi giả thuyết cho rằng kinh tế nông thôn Châu Á truyền thống là "tự cấp tự túc" "Sản xuất để trao đổi với thị trường bên ngoài không được chú ý đến Quá lắm là có trao đổi một ít sản phẩm thặng dư trên một địa điểm trung
công trình nghiên cứu đã đưa ra những bằng chứng về đặc trưng "đa dạng hoá kinh tế" của vùng nông thôn châu Á Các Mác đã phát biểu một câu trở thành
kinh điển về kinh tế gia đình Châu Á là: trong gia đình có sự liên hiệp của
nghề trồng trọt và chế tạo, sự phối hợp đặc biệt của nông nghiệp dệt thủ công, kéo sợi thủ công và cày thủ công"94, tr.15
Ở Việt Nam, mỗi gia đình nông dân vùng châu thổ Sông Hồng sản xuất
ra phần lớn nông sản và một số sản phẩm thủ công, trước hết để phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của chính họ và mua những thứ không sản xuất ra được như dầu thắp, muối ăn, diêm, ở chợ làng sau khi đã bán đi một ít nông sản dư thừa Sản phẩm của họ được sản xuất ra nhiều hơn cùng với quá trình
mở rộng nhu cầu tiêu dùng cuả cộng đồng Và chợ làng - một hình thức hoạt động của thị trường hàng hoá nông thôn ra đời đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán hàng hoá giữa những người tiểu nông, thợ thủ công sản xuất hàng hoá nhỏ trong chính cộng đồng đó và với các cộng đồng làng xung quanh
Một số nhà nghiên cứu nhận xét: hoạt động chợ làng vào những ngày
phiên nhất định là một trong những yếu tố cơ bản để tạo nên "tính mở" của
Trang 40làng xã vì mỗi chợ phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của một vài làng Ngày phiên được sắp xếp hợp lý để trong tháng mọi người đều có thể đi chợ phiên mua bán hàng hoá, dịch vụ Người phụ nữ sẵn sàng ra khỏi làng đến những vùng lân cận hoặc tỉnh khác để thực hành việc buôn bán dù chỉ thu được vài đồng lãi ít ỏi Do đó, họ rất cởi mở và có sự giao thiệp rộng Trong
công trình nghiên cứu Người nông dân đồng bằng Bắc Bộ, P.Gourou đã kết luận: "người nông dân đồng bằng Bắc Bộ không chống lại cái mới nhưng lựa
chọn rất phức tạp"71 Có lẽ hợp lý hơn nếu nhận xét rằng, người nông dân đồng bằng Bắc Bộ không chống lại cái mới nhưng sự lựa chọn cái mới của họ
"không vượt ra khỏi luỹ tre làng" bao xa do sự hạn chế về năng lực, nhận thức
và những ràng buộc của lễ giáo phong kiến
Trong những năm qua, Viện Xã hội học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tiến hành một số đề tài nghiên cứu có liên quan đến hoạt động thương nghiệp và biến đổi trong lựa chọn nghề của người nông dân châu
thổ Sông Hồng trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế Đề tài nghiên cứu "Người
buôn bán nhỏ vùng Trung Du Bắc Bộ" của T.S.kh Bùi Quang Dũng là một
trong những nghiên cứu xã hội học rất hiếm hoi về lĩnh vực thương nghiệp trong giai đoạn chuyển sang kinh tế thị trường Công trình nghiên cứu trên cơ
sở khảo sát 5 chợ (chợ Mọc, chợ Neo, chợ Vôi, chợ An Châu, chợ Cầu Vồ) ở
5 huyện thuộc tỉnh Bắc Giang Tác giả đã đưa ra luận điểm chính: "thực chất của sự phát triển nông thôn hiện nay nằm ở việc "du nhập" các quan hệ hàng hoá tiền tệ vào nông thôn" Trên cơ sở thông tin thu được từ mẫu khảo sát 105
hộ kinh doanh tại 5 chợ trên, tác giả đã phân loại hộ theo nghề nghiệp để phân
tích các vấn đề: chợ - một số khía cạnh giới; thương nghiệp - nông nghiệp; người buôn bán nhỏ, qua đó phác thảo chân dung người buôn bán nhỏ, vai trò của họ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay cũng như đối với sự phát triển theo hướng hiện đại hoá trong tương lai Và tác giả đã đưa ra một trong