1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật

105 1,6K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới nghiên cứu tại hải ngoại đã có nhiều bài phê bình khá sắc sảo, cho thấy sự quan tâm đối với thơ Du Tử Lê, đáng chú ý có các bài viết: - Du Tử Lê, màu-xanh-vàng-phai Đặng Phú Phong -

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ NHƯ NGỌC

THƠ DU TỬ LÊ DƯỚI GÓC NHÌN TƯ DUY NGHỆ THUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ NHƯ NGỌC

THƠ DU TỬ LÊ DƯỚI GÓC NHÌN TƯ DUY NGHỆ THUẬT

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

Người hướng dẫn khoa học: TS Diêu Thị Lan Phương

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

NỘI DUNG 11

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT 11

VÀ QUAN NIỆM THƠ CỦA DU TỬ LÊ 11

1.1 Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật 11

1.1.1 Quan niệm về tư duy 11

1.1.2 Quan niệm về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ 14

1.2 Nhà thơ Du Tử Lê 20

1.3 Quan niệm nghệ thuật của Du Tử Lê 23

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG 35

ĐẶC SẮC TRONG THƠ DU TỬ LÊ 35

2.1 Cái tôi trữ tình trong thơ Du Tử Lê 35

2.1.1 Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình trong thơ 35

2.1.2 Nội dung cái tôi trữ tình trong thơ Du Tử Lê 37

2.2 Biểu tượng trong thơ Du Tử Lê 50

2.2.1 Biểu tượng trong tư duy thơ 50

2.2.2 Những biểu tượng đặc sắc trong thơ Du Tử Lê 53

Tiểu kết chương 2 70

Chương 3: NGÔN NGỮ THƠ DU TỬ LÊ 71

3.1 Ngôn ngữ trong tư duy thơ 71

3.2 Ngôn ngữ thơ Du Tử Lê 74

3.3 Nhạc tính trong thơ Du Tử Lê 82

Tiểu kết chương 3 93

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nổi tiếng với lĩnh vực thơ tình ở miền Nam từ trước giải phóng, Du Tử

Lê còn được xem là một trong những tác giả có thơ được phổ nhạc nhiều

nhất Những bài hát như Ơn em, Trên ngọn tình sầu (Từ Công Phụng), Khúc Thụy Du (Anh Bằng), Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau, Tình sầu Du Tử Lê

(Phạm Duy) đã đi vào lòng người yêu nhạc nhiều thế hệ

Sau giải phóng, Du Tử Lê định cư ở nước ngoài (Mỹ) Trong thời gian này, thơ Du Tử Lê đã được giới thiệu rải rác trở lại trong nước qua các bài viết đặc sắc của các nhà phê bình như Thanh Thảo, Phạm Xuân Nguyên, Trần Mạnh Hảo gây được chú ý trong công luận

Du Tử Lê sống giữa thời kì đất nước có nhiều biến động, cùng với những biến cố xảy ra trong cuộc sống cá nhân đã tác động mạnh mẽ đến con người, hành động và nhất là tâm lí nhà thơ Du Tử Lê là một hiện tượng thơ tương đối phức tạp, những đặc trưng cho thi ca của người nghệ sĩ đặc biệt này cho đến nay vẫn còn là một ẩn số Đương thời, con người Du Tử Lê và những đóng góp của Du Tử Lê về thơ đã chịu không ít sự từ chối, từ phía người đọc

và cả giới phê bình thơ Suốt hai giai đoạn văn học, miền Nam 1954-1975 và hải ngoại, Du Tử Lê đã có những đóng góp trong việc cách tân, thử nghiệm làm mới thi ca qua chính sáng tác của mình, nhưng sự đón nhận hình như không được đồng đều và không được giới làm văn học nói đến một cách công bằng Trước 1975, ông được giải Văn học nghệ thuật toàn quốc năm 1973 ở

bộ môn thơ Tuy nhiên, tên tuổi Du Tử Lê không được nhắc tới nhiều Bộ Văn học miền Nam của Võ Phiến chỉ nhắc qua loa tên của Du Tử Lê hai lần, trong

khi một bài thơ của một nữ sinh đăng báo Tết của trường trung học cao nguyên đã được Võ Phiến ghi nhận như một đóng góp đáng ghi vào văn học

Trang 5

sử Bù lại, từ hai thập niên trở lại đây, đã có những nghiên cứu, trình bày và giới thiệu thơ ông

Hiện nay, dưới ánh sáng của thành tựu lí luận văn học đã dần mở ra những cách đọc, cách hiểu mới, khả dĩ tiếp cận thơ Du Tử Lê Qua đó, những luận điểm quan trọng trong quan niệm và quá trình sáng tạo của nhà thơ đã được nhìn nhận một cách khách quan, khoa học Tuy nhiên, việc xem xét, đánh giá đầy đủ giá trị thơ văn và vị trí của tác giả này trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam nói chung vẫn chưa nhiều so với tài sản thơ ca mà ông sáng tác Thiếu những công trình nghiên cứu thật sự công phu, toàn diện, đánh giá đầy đủ những thành tựu, đóng góp của Du Tử Lê cho thơ ca dân tộc

Hơn nữa, văn học miền Nam là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học dân tộc Tuy nhiên, nghiên cứu về mảng văn học nhiều vấn đề này hiện nay còn yếu và thiếu những công trình tầm cỡ, chuyên sâu Thơ Du Tử

Lê nói riêng và Văn học đô thị miền Nam 1954 - 1975 nói chung cần có được những công trình nghiên cứu với cái nhìn thỏa đáng, đúng đắn và khách quan Một cách biệt lập, các nhà nghiên cứu văn học miền Nam giai đoạn 1954 -

1975 và các cây bút nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam ở nước ngoài từ sau 1975 đến nay đã có những đóng góp không nhỏ vào nền văn học nước nhà Những công trình nghiên cứu giàu tính khoa học sẽ giúp người đọc có cái nhìn xuyên suốt, thấu đáo về bộ phận văn học này cũng như toàn bộ lịch

sử văn học Việt Nam nói chung

Từ những hấp dẫn và cả thách thức khi tiếp cận thơ Du Tử Lê, người

viết quyết định lựa chọn đề tài: Thơ Du Tử Lê dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật, mong đóng góp một phần vào những công trình nghiên cứu về thơ ông

2 Lịch sử vấn đề

Du Tử Lê là một hiện tượng phức tạp, có nhiều tranh cãi trái chiều cả trong và ngoài nước về con người đời thường cũng như con người thơ ca

Trang 6

Tại hải ngoại, Du Tử Lê đã và đang có những thành công nhất định: Cho tới hôm nay, ông là nhà thơ châu Á duy nhất được phỏng vấn và

có thơ đăng trên hai nhật báo lớn của Hoa Kỳ: Los Angeles Times (1983) và New York Times(1996) Thơ ông cũng đã và đang được đưa vào giảng dạy, làm tài liệu nghiên cứu, đọc thêm tại một số trường đại học Hoa Kỳ và châu

Âu

Năm 1998, nhà xuất bản W W Norton, New York đã chọn Du Tử Lê vào một trong năm tác giả Việt Nam để in vào phần "Thế kỉ 20: thi ca Việt Nam" khi tái bản tuyển tập World Poetry An Anthology of Verse From Antiquity to Our Present Time (Tuyển tập Thi ca thế giới từ xưa đến nay)

Trong cuốn Understanding Vietnam, tác giả, giáo sư Neil L Jamieson

đã chọn dịch một bài thơ của Du Tử Lê viết từ năm 1964 Cuốn sách này sau trở thành tài liệu giáo khoa, dùng để giảng dạy tại các đại học Berkeley, UCLA, và Cambridge, London

Giới nghiên cứu tại hải ngoại đã có nhiều bài phê bình khá sắc sảo, cho thấy sự quan tâm đối với thơ Du Tử Lê, đáng chú ý có các bài viết:

- Du Tử Lê, màu-xanh-vàng-phai (Đặng Phú Phong)

- Du Tử Lê - Người tình thủy chung với văn chương (Thái Tú Hạp)

- Hứng nhạc trong thơ Du Tử Lê (Lê Văn)

- Một thoáng bâng khuâng với thơ Du Tử Lê (LM Trần Cao Tường)

- Phỏng vấn nhà thơ Du Tử Lê (Trường Đinh)

- Thơ Du Tử Lê: Hiện tượng và Thể loại (Nguyễn Vy Khanh)

- Tính vỡ vụn của thời đại trong lục bát Du Tử Lê (Vương Thành) Những bài viết này đã đưa ra những đánh giá khoa học về con người

cũng như thơ ca Du Tử Lê Thái Tú Hạp trong bài viết Du Tử Lê - Người tình thủy chung với văn chương đã ca ngợi: “Du Tử Lê, chàng lãng tử đã ăn ở thủy

chung với văn chương Việt Nam lâu dài nhất Với văn chương, Du Tử Lê

Trang 7

chưa hẳn là nơi chốn giải sầu, tạm quên lãng những phù trầm nhân thế, những giải tỏa niềm đau khoảnh khắc, là cõi tịnh an sau những miệt mài xông xáo vào cuộc sống đầy khói xe và tiếng động Văn chương Du Tử Lê hiện thực, đầy tim óc và tủy xương tận tình như một nghiệp dĩ Bóng với hình đeo đuổi nhau đến suốt một đời” [30] Trong khi đó nhà văn Mai Thảo nhận định:

“Tiếng thơ Du Tử Lê bây giờ theo tôi là tiếng thơ vô địch Hắn bỏ lại sau lưng những người cùng thời: Trong sự bỏ lại phía sau đó, có cả tôi nữa Tôi ví tiếng thơ Du Tử Lê là tiếng thơ Ao Vàng Và ngôi vị vô địch của Du Tử Lê, tôi nghĩ khó ai có thể theo kịp hoặc thay thế nổi”

Trên tạp chí Văn Học số Xuân, đề tháng 1 năm 1975, nhà văn Lê Huy

Oanh, trong nhóm Sáng Tạo đã có một bài viết nhìn nhận nỗ lực cách tân thể thơ lục bát của nhà thơ Du Tử Lê Đó là chủ trương chia lại nhịp đi của lục bát Trước Du Tử Lê lục bát được xây dựng trên nhịp chẵn hay nhịp 2 đều

Du Tử Lê chủ trương mang nhịp lẻ, hay nhịp chỏi đến cho lục bát Thử

nghiệm này ông đã bắt đầu từ năm 1966 với bài Bài cuối 66, đăng trên tạp chí Văn, 1966, xuất bản tại Sài Gòn

Sau đó, trong một bài viết đăng tải trên tạp chí Thế Kỷ 21, số 29 đề

tháng 9 năm 1991, nhà thơ Nguyên Sa viết: “Tôi biết thơ Du Tử Lê thật hay, lúc ở Việt Nam, tôi thấy Du Tử Lê làm thơ được, những năm đầu ở Mỹ, tôi thấy thơ Lê hay hơn trước Bây giờ tôi nghĩ rằng Du Tử Lê đã đi xa hơn những người làm thơ cùng thời với anh một quãng đường trông như gang tấc

mà trong thơ, xa vạn dậm.”

Nguyễn Vy Khanh trong Thơ Du Tử Lê - Hiện tƣợng và thể loại viết:

“Du Tử Lê đã liên tục thử nghiệm, canh tân, suốt cuộc đời làm thơ và có vẻ không lùi bước! Ông muốn làm mới ngôn ngữ, biến hóa cấu trúc, cách đặt câu, chấm câu, làm mới cách diễn tả thơ (và văn) trên trang giấy, đem thị giác mới đến với thơ”

Trang 8

Những nhận xét trên, phần nào đã đề cao thơ ca Du Tử Lê, đánh giá vai trò quan trọng của ông trong nền thi ca miền Nam Việt Nam 1954-1975 và cho đến tận hôm nay

Tuy nhiên, Du Tử Lê không được hoan nghênh và biết đến nhiều ở trong nước Điển hình là vào ngày 18-8-2005, báo Công an thành phố Hồ Chí

Minh đã đăng bài Bộ mặt ngạo mạn của Du Tử Lê của hai tác giả Trọng Đức

và Lê Nguyễn, phản hồi cho việc Nhà xuất bản Văn nghệ xuất bản tập thơ Du

Tử Lê, với nhiều ý kiến công kích cả về thơ ca lẫn con người của ông

Du Tử Lê là một hiện tượng thơ vô cùng đặc biệt Và dù khen hay chê, người đọc vẫn không thể phủ nhận một điều rằng Du Tử Lê và thơ ông vẫn là

cả một dấu hỏi lớn cần được khám phá Các bài phê bình về thơ Du Tử Lê đều là những ý kiến khoa học nghiêm túc, xác đáng, nhưng phần nhiều vẫn chỉ dừng lại ở các nhận diện lẻ tẻ, thiếu tính chất hệ thống Sự cần thiết phải tiếp cận tác phẩm Du Tử Lê trên phương diện văn bản, đi sâu tìm hiểu những quan niệm và cách tân thơ ông hứa hẹn cần sự ra đời của những công trình

khoa học chuyên sâu hơn

3 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Nhiệm vụ chính của luận văn là nghiên cứu quan niệm thơ Du Tử Lê, thế giới nghệ thuật thơ Du Tử Lê để tìm hiểu tư duy thơ của tác giả, từ đó nhận diện những thay đổi đó đã tác động nên nội dung cái tôi trữ tình, biểu tượng cũng như hình thức sáng tạo nghệ thuật trong thơ ông như thế nào

Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ Du Tử Lê trước năm 1975, đặt trong dòng chảy của văn học dân tộc, trong sự so sánh, đối chiếu với những nhà thơ khác (cùng thời)

Sự nghiệp sáng tác của Du Tử Lê rất đa dạng, bao gồm cả truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, hồi kí, truyện thiếu nhi và thơ Trong khuôn khổ luận văn này, người viết sẽ chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm tư duy thơ Du Tử Lê

Trang 9

trong những sáng tác của ông trước năm 1975 Cụ thể là 5 tập thơ đã xuất bản trong nước:

1 Thơ Du Tử Lê (1964);

2 Tình khúc tháng 11 (1965);

3 Tay gõ cửa đời (1967);

4 Thơ Du Tử Lê (1967-1972);

5 Đời mãi ở phương Đông (1974)

Sau năm 1975, Du Tử Lê định cư ở hải ngoại Thời gian này ông đã có

một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ: Ở chỗ nhân gian không thể hiểu (1989);

Đi với về, cũng một nghĩa như nhau (1991); Chấm dứt luân hồi: em bước ra (1993); Nhìn nhau chợt thấy ra sông núi (1994); Thơ tình (1996); Sông núi người thơm nỗi nhớ nhà (1996); Chỉ như mặt khác tấm gương soi (1997); Hoa nào tin quả đắng đến không ngờ (1999); Vì em, tôi đã làm sa di (2001); Toàn tập thơ Du Tử Lê I (1964-1975,) thơ HT Productions xb, 2002; Qua môi em: tôi thở biết bao đời, thơ thiền tính tập 2 HT Productions xb, 2004.; (Nếu cần,) hãy cho bài thơ một tên gọi, thơ HT Productions xb, 2006; Toàn tập thơ Du Tử Lê II (1975-1993,) thơ HT Productions xb, 2007; Mất hay còn, chưa hẳn khác nhau đâu (thơ thiền tính tập 3) HT Productions, 2008; Lại chuyện vãn, (lần này, ít thôi,) với bệnh ung thư, thơ HT Productions xb

2008; …)

Những sáng tác ở hải ngoại vận động theo một hướng khác, một phần nằm ngoài quỹ đạo thơ trước giải phóng của Du Tử Lê nên người viết sẽ không khảo sát, trong quá trình nghiên cứu chỉ sử dụng để so sánh, đối chiếu, nhận diện những thay đổi trong thơ ông

4 Phương pháp nghiên cứu

Những phương pháp chủ yếu được người viết sử dụng trong quá trình nghiên cứu bao gồm:

Trang 10

- Phương pháp lịch sử - xã hội: đặt đối tượng trong tiến trình lịch sử, chú ý đặc trưng của thể loại nghiên cứu để xem xét quá trình sáng tác qua các thời kì khác nhau của Du Tử Lê, chỉ ra sự vận động, chuyển đổi tư tưởng cũng như phương thức biểu hiện, từ đó tìm hiểu những đóng góp riêng của tư duy thơ Du Tử Lê đối với văn học dân tộc

Đánh giá Du Tử Lê và các vấn đề của thơ Du Tử Lê trong sự gắn kết với hoàn cảnh của cá nhân, dân tộc và thời đại mà Du Tử Lê sống để thấy được sự tác động của lịch sử lên một đời thơ và cách thức phản ứng đặc biệt của Du Tử Lê

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: so sánh thơ Du Tử Lê với thơ của các tác giả cùng thời để tìm ra những nét chung mang tính thời đại và những nét đặc sắc, riêng biệt, độc đáo cùng những biến đổi trong tư duy thơ Du Tử

Lê Mặt khác so sánh Du Tử Lê với chính Du Tử Lê để thấy được sự đổi mới liên tục của ông trong suốt chặng đường thơ

- Phương pháp phân tích tổng hợp: vận dụng những quan điểm triết học, mỹ học, tâm lý học Mác - Lênin để thấy được mối giao thoa giữa khoa học, nghệ thuật và thơ ca; từ sự phân tích cụ thể tác phẩm, người viết tổng hợp khái quát để có những kết luận khách quan, tránh những áp đặt chủ quan không bám sát văn bản thơ

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật và quan niệm thơ của Du Tử Lê

Chương 2: Cái tôi trữ tình và một số biểu tượng đặc sắc trong thơ Du

Tử Lê

Chương 3: Ngôn ngữ thơ Du Tử Lê

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT

VÀ QUAN NIỆM THƠ CỦA DU TỬ LÊ

1.1 Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật

1.1.1 Quan niệm về tư duy

Tư duy là một thuật ngữ có nội hàm khá rộng Nó không chỉ là đối tượng của triết học, tâm lí học mà còn là đối tượng nghiên cứu của nghệ thuật

Từ điển triết học (NXB Sự thật, 1976, tr.676) của M Rodentan, P Iudin định

nghĩa: “Tư duy là một hoạt động nhận thức lí tính của con người Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỉ tế bào thần kinh” “Tư duy không chỉ là một sản phẩm xã hội hay là một sản phẩm của tự nhiên mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân loại” [71, tr.16] Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ giữa con người với con người và giữa các sự vật hiện tượng “Tư duy là kết quả phát triển của vật chất tự tổng hợp qua hàng vạn, hàng triệu năm Sự ra đời của tư duy chính là bằng chứng về sự xuất hiện của con người… Tư duy (Pensée) là toàn bộ những hoạt động tâm lí của con người, chỉ con người mới có, đó là đời sống trí tuệ của con người” [71, tr.16] Tư duy bắt nguồn từ tư tưởng và cuối cùng nó lại tạo ra tư tưởng Như vậy có nghĩa là tư duy phụ thuộc rất nhiều vào tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan của con người, của thời đại Vì vậy mà xã hội có tự do tư tưởng thì tư duy cũng như khả năng nhận thức, khả năng sáng tạo của con người càng được phát huy mạnh mẽ

Tư duy được phân biệt với ý thức (conscience) Nói đến ý thức là nói đến sự “phản ánh” hiện thực của hoạt động tâm lý Hay nói đúng hơn, ý thức

Trang 12

là tư duy ở trạng thái tĩnh, và tư duy là ý thức ở trạng thái động, tư duy là hành động nhận thức của con người Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng; truy tìm các mối quan

hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng các phương tiện ngôn ngữ, đó là toàn

bộ chức năng nhận thức của tư duy “Cái quan trọng đối với tư duy là cái mà con người chưa biết đến” (V.I.Lênin) Tư duy và lý trí (raison) không phải là một Nói đến lý trí là nói đến cái logic có tính nguyên tắc của nhận thức Nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lý trí nhằm mục đích nhận thức Tư tưởng (Idée) hay còn gọi là quan niệm tư tưởng, vừa là kết quả lại vừa là xuất phát điểm của tư duy Quan hệ con người với con người, con người với xã hội, con người với hoàn cảnh sống… là những mối quan hệ chủ yếu tạo nên quan niệm tư tưởng

ở mỗi con người Tư tưởng, do đó, mang một nội dung quyền lợi, một nội dung tình cảm nào đó Tư tưởng mang tính chất dân tộc, đoàn thể, quốc gia, tính giai cấp, nghĩa là mang tính chủ quan hơn so với tư duy Tư tưởng nằm ở phạm trù nội dung, tư duy nằm ở phạm trù phương pháp Điều này có thể hiểu

là, nếu phương pháp tư duy đúng mà quan niệm tư tưởng sai thì càng ngày càng dẫn sâu vào sai lầm

Nói đến tư duy là nói đến những hoạt động của bộ óc người ở trạng thái sống động của nó Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não Đó là một quá trình xử lý lượng thông tin do các khí quan cảm giác thu nhận được Trong lịch sử phát triển của con người, sự hình thành và phát triển của tư duy gắn làm một với sự hình thành và phát triển của chủ thể

“… phán đoán đầu tiên của sự sống là ở chỗ, với tư cách là chủ thể cá thể, sự

sống tách mình ra khỏi tính khách quan” (Kharaptrenco M.B Sáng tạo nghệ thuật Hiện thực Con người Tập I, II NXB Văn học H, 1985 tr 216)

Trang 13

“Nói đến “sự sống” trong vận động tư duy chính là nói đến cơ sở sinh

lý của tư duy Yếu tố “sống” đó sẽ tạo cho tư duy một thuộc tính quan trọng,

đó là sự trao đổi tinh thần có tính chất giao tiếp, tính chất “cảm ứng”, “giao cảm” giữa người với người Bởi vậy, giao tiếp ngôn ngữ là một giao tiếp có tính bề ngoài, còn trao đổi tinh thần, giao lưu tư tưởng và tình cảm là bản chất hoạt động của tư duy Nhưng cả tư tưởng và tư duy sẽ không nảy sinh được nếu không có ngôn ngữ Ngôn ngữ là công cụ của tư duy Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư tưởng Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ

hồ, những phản ứng có tính bản năng trước hiện thực Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là tiếng kêu bập bẹ của trẻ sơ sinh mà thôi Tư duy là cho ngôn ngữ phát triển tinh xảo Ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu được vào bản chất của sự vật hơn” [71, tr.19]

Tư duy khoa học không đồng nhất với tư duy logic, nó là biểu hiện của

tư duy logic ở trình độ cao và thể hiện ở một ngành chuyên môn nhất định Nghĩa là, có những khi tư duy logic không biểu hiện một nội dung khoa học nào cả, nó mới là logic giản đơn, hình thức Ngược lại, có những trường hợp

cá biệt, tư duy khoa học không phản ánh cái lý luận thông thường mà tưởng như là cái “siêu logic” - đó là ở những phút giây sáng tạo đột biến do trực giác nhà khoa học nắm bắt một cách ngẫu nhiên

Tư duy nghệ thuật là sự vận dụng trực tiếp phương pháp tư duy hình tượng vào trong các ngành nghệ thuật khác nhau

Có thể nghiên cứu tư duy logic và tư duy hình tượng để giải quyết các vấn đề thuộc về tư duy khoa học và tư duy nghệ thuật Có thể coi tư duy khoa học với tư duy logic, tư duy nghệ thuật với tư duy hình tượng như là những cặp khái niệm tương đương nhưng không đồng nhất với nhau Tư duy nghệ thuật mang tính chủ quan còn tư duy khoa học mang tính khách quan Tư duy

Trang 14

logic và tư duy hình tượng khi đạt tới đỉnh cao thì có thể gặp nhau ở tầm bao quát và tính sinh động của nó

Tư duy logic biểu hiện rõ nhất trong tư duy toán học và tư duy lý luận Phương pháp tư duy logic thường thoát khỏi những biểu tượng trực quan mà chủ yếu là vận dụng khái niệm Tư duy toán học, tư duy logic làm biến đổi các mối quan hệ đã biết để đi tìm các mối quan hệ mới giữa các khái niệm, các đại lượng

Tư duy hình tượng không đồng nhất với tư duy nghệ thuật Nghệ thuật

có tính hình tượng nhưng hình tượng không chỉ có trong nghệ thuật Ở tư duy hình tượng, các biểu tượng trực quan do quá trình quan sát thu nhận được là công cụ trực tiếp của tư duy Tư duy hình tượng là quá trình khôi phục các biểu tượng trực quan, sáng tạo ra các biểu tượng mới và thể hiện dưới một hình thức cụ thể

1.1.2 Quan niệm về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ

Hoạt động nghệ thuật là hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng,

tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động ấy nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ Tư duy nghệ thuật vì thế lấy phương tiện tư duy là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được với cơ sở là tình cảm, xúc cảm của người nghệ sĩ, thông qua trí tưởng tượng phong phú và

sự liên tưởng tinh tế mà người nghệ sĩ sáng tạo nên những hình tượng, biểu tượng mới “… tồn tại là nội dung của tư duy nhưng “hình thức” của nó thuộc

về chủ thể sáng tạo Đối với tư duy khoa học thì “hình thức” ấy đã được khách quan hóa theo quy luật vận động của khái niệm và quan hệ logic giữa các khái niệm Đối với tư duy nghệ thuật “hình thức” ấy là sự biểu hiện trực tiếp của quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và trình độ văn hóa của người sáng tạo” [71, tr.55] “Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm

“hiện thực trực tiếp” cho nó Ngôn ngữ đó là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật,

Trang 15

các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện Nó có mã nghệ thuật, tức là hệ thống năng động gồm các quy tắc sử dụng kí hiệu để gìn giữ, tổ chức

và truyền đạt thông tin Điểm xuất phát của tư duy nghệ thuật vẫn là lí tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hóa các kết quả nhận thức Đặc điểm của tư duy nghệ thuật là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính ẩn

dụ Trên cơ sở của tư duy nghệ thuật người ta tạo ra các tư tưởng và quan niệm nghệ thuật, lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật Dạng tư duy này chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với tài năng biết cảm nhận một cách nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, nắm bắt tinh thần thời đại, dự báo tương lai và tài năng sáng tạo nghệ thuật” [24, tr.382] Tư duy nghệ thuật vì vậy gắn liền với quá trình sáng tác, bị chi phối bởi tư tưởng, quan niệm của từng nhà văn, từng thời đại, đồng thời nó cũng thể hiện cách nhìn, cách khái quát hiện thực của riêng nhà văn, thể hiện bản sắc, cá tính sáng tạo của nhà văn Ở một góc

độ nào đó thì tư duy nghệ thuật có sự giao cắt và làm nên phong cách nghệ thuật của nhà văn

Nói về phong cách học, Khrachenko cho rằng: “Cái chính ở đây là làm sao xác định được những kiểu tư duy nghệ thuật, những con đường và hình thức sáng tạo hình tượng” của nhà văn Tìm hiểu tư duy nghệ thuật của nhà văn là bước đầu tiên trong hành trình đi tìm phong cách nghệ thuật của nhà văn đó Chính bởi sự phụ thuộc sâu sắc của tư duy nghệ thuật vào thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn và tinh thần thời đại nhà văn đó sống nên việc tìm hiểu tư duy nghệ thuật của một tác giải cụ thể cần bắt đầu từ việc tìm hiểu đặc trưng tư duy của chủ thể trong thời đại cụ thể và quan niệm nghệ thuật của nhà văn và của thời đại đó Khi đã chỉ ra được kiểu tư duy của tác giả thì bước tiếp theo là chúng ta chứng minh nó qua các biểu hiện cụ thể như

sự sáng tạo biểu tượng, cách thức sử dụng ngôn ngữ và những lối biểu hiện khác, từ đó bước đầu có thể chỉ ra phong cách tác giả

Trang 16

Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng

nó mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú nhờ khả năng biểu hiện của ngôn ngữ thơ phong phú và đa dạng Phương tiện ngôn ngữ của tư duy thơ là một phương tiện giao tiếp có tính xã hội hóa cao độ Cho nên thơ

có thể biểu hiện được nhiều tâm trạng, nhiều dạng cảm xúc, nhiều nội dung cụ thể và trực tiếp

Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ

Tuy nhiên, do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định

Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại Về mặt nội dung nhận thức, có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động của những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức dưới dạng phổ biến nhất của một cộng đồng người

So với tư duy logic thì tư duy hình tượng có được một phạm vi rộng rãi hơn cho sự liên tưởng và quyền tưởng tượng của người sáng tạo Tư duy thơ chấp nhận một khả năng tưởng tượng dường như vô tận của nhà thơ Khả năng tưởng tượng của tư duy khoa học là ở chỗ trừu tượng hóa, vô hình hóa các sự vật và hiện tượng Còn nhà thơ thì cụ thể hóa, hình tượng hóa hiện thực khách quan theo một đường dây liên tưởng

Đối với sáng tác thơ, trí tưởng tượng tạo nên tứ thơ, ý thơ và cả lời thơ Khi mục đích biểu hiện thay đổi thì liên tưởng thay đổi theo Liên tưởng trong thơ càng đa dạng thì biểu tượng càng sinh động, nhận thức càng sâu sắc Trong quá trình sáng tạo, tư duy nghệ thuật chứa đựng nhiều yêu tố ngẫu

Trang 17

nhiên Logic thi ca gắn liền với các yếu tố ngẫu nhiên, phi lý tính Cái tất yếu trong mục đích biểu hiện, trong nội dung tư tưởng và ý đồ sáng tác đã không gạt bỏ cái ngẫu nhiên mà là sự tập hợp cái ngẫu nhiên theo logic chủ quan Logic chủ quan bao hàm cả cái hợp lý và cái phi lý, cả lý trí và tình cảm, cái ngẫu nhiên và cái tất yếu

Tư duy thơ là sự khôi phục và sáng tạo nên các biểu tượng trực quan để biểu hiện tư tưởng và cảm xúc, nhưng không phải do nhận thức cảm tính quyết định, mà nó theo logic chủ quan của tác giả Logic chủ quan vừa phản ánh cái logic khách quan vừa bao hàm một ý nghĩa tự do của hoạt động tinh thần, hoạt động tình cảm Nghĩa là nó không phản ánh cái logic khách quan một cách máy móc và trực tiếp mà phản ánh cái yếu tố tâm lý Tư duy thơ tạo cho ta thêm một biểu tượng mới về sự vật, hiện tượng Hành trình của trí tưởng tượng mang tính chất ngẫu nhiên bao nhiêu về mặt hình ảnh trực quan, thì mang tính chất tất yếu bấy nhiêu về mục đích biểu hiện

Tư duy thơ đối với nhà thơ là việc làm thơ Nhà thơ sử dụng ngôn ngữ

để tạo ra những sản phẩm cũng bằng ngôn ngữ Vậy nên, ngôn ngữ đối với nhà thơ vừa có ý nghĩa phương tiện, vừa có ý nghĩa mục đích Nhà thơ vừa là người thiết kế, vừa là người thi công cho ngôi nhà của mình

Tư duy nghệ thuật nói chung, tư duy thơ nói riêng gần với đời sống hiện thực hơn so với tư duy khoa học vì tính chất trực quan của các biểu tượng Do tính chất lý tính của loại chất liệu ngôn ngữ, tư duy thơ đòi hỏi các biểu tượng phải cụ thể và sinh động

Tư duy thơ nói riêng cũng như lao động trí óc nói chung đều để lại trong sản phẩm của nó dấu ấn của một cuộc hành trình: hành trình của trí tưởng tượng Tư duy thơ là tư duy sáng tạo trong một trạng thái đầy cảm hứng

Trang 18

Tư duy thơ có khả năng hướng nội, hướng ngoại và kết hợp giữa hướng nội và hướng ngoại Tư duy thơ hướng ngoại: là nhằm vào đối tượng miêu tả, trình bày nó dưới ánh sáng của quan niệm thẩm mĩ Tư duy thơ hướng nội: tác giả tự nghĩ về mình, tự quan sát và biểu hiện cái tôi nội cảm của mình Tư duy hướng nội là hướng nhận thức quan trọng của thơ trữ tình Tư duy thơ vừa hướng nội, vừa hướng ngoại: tác giả nhân danh một nhân vật trữ tình nào đó, nhân danh một cái ta rộng lớn, nhưng không dấu mình hoàn toàn mà hiện ra khi thì trực tiếp, khi thì gián tiếp Có khi như là một người trong cuộc, người chứng kiến, có khi hòa lẫn với nhân vật trữ tình thứ hai

Tư duy thơ cũng như các hình thức tư duy nghệ thuật khác đều sử dụng những biểu tượng mang tính trực quan nhưng điểm khác biệt là ở chỗ:

1 Trong thơ, các biểu tượng trực quan được thể hiện bằng một thứ ngôn ngữ có tính kí hiệu, phi vật thể Tác phẩm văn học chỉ tồn tại trên cơ sở tiếng nói và chữ viết của một cộng đồng người Đối với cộng đồng khác thì

nó hầu như không có giá trị nếu không được phiên dịch ra Điều này khác với hội họa, âm nhạc…

2 Trong thơ ca, luôn tồn tại cái tôi trữ tình dù trực tiếp hay gián tiếp Các lĩnh vực khác (nhiếp ảnh, họa sĩ, điêu khắc…), người sáng tạo chỉ để lại dấu ấn có tính chất phong cách, phương pháp Có chăng, khi họ lấy bản thân làm đối tượng thì mục đích chính là tự thuật chứ không phải là nghệ thuật

Tư duy thơ là kiểu tư duy nghệ thuật ngôn từ, nhưng nó khác với văn xuôi và văn bản kịch ở chỗ: tự sự đòi hỏi tư duy tuân theo “lẽ phải thông thường”, nghĩa là về mặt liên kết văn bản nhận thức phải đảm bảo tính tuần

tự Sự vận động của ngôn ngữ phải đảm bảo tính liên tục, tính tiếp nối của logic nội dung Còn trong thơ, sự vận động của ngôn ngữ không nhất thiết phải tuần tự mà có thể nhảy vọt do liên tưởng của nhà thơ Đồng thời, sự vận

Trang 19

động của ngôn ngữ thơ phải tuân theo truyền thống thể loại với những yêu cầu về nhịp, về nhạc, về hình thức văn bản…

Tư duy thơ thường được biểu hiện thành từng dòng phát ngôn trên văn bản và từng quãng ngắt hơi trong khi đọc Như vậy, sự tồn tại của dòng thơ đã làm ảnh hưởng đến tư duy thơ, tính nhạc điệu của ngôn ngữ cũng chi phối tư duy thơ Sự ngắt dòng tạo ra cảm giác đứt đoạn, không liên tục của mạch tư duy theo từng ý nghĩ riêng lẻ Thơ tự do về liên tưởng, tưởng tượng nhưng phải theo một hình thức ngôn ngữ loại hình nhất định của thể thơ Tư duy thơ

bị chi phối bởi một số tiêu chí có tính hình thức: yêu cầu về liên kết vần và liên kết ý

Tư duy thơ trước thời phong kiến: thơ ca hết sức tự do, chưa có vần luật, thơ không đạt được trình độ nghệ thuật cao Trải qua một thời gian dài, thơ ca bác học đã dần hình thành Thơ từ chỗ rất tự do, phóng túng đã định hình dần về loại thể Tư duy thơ thời kỳ hưng thịnh của xã hội phong kiến là

sự sáng tạo có tính chất bắt chước, sáng tạo theo khuôn mẫu của cổ nhân Tư duy thơ từ chỗ tự do vận động và phát triển theo dẫn dắt của trí tưởng tượng

đã đi đến chỗ vận động theo những lối mòn định sẵn Hành trình của trí tưởng tượng từ chỗ là chọn lọc hình ảnh một cách hồn nhiên, ngẫu nhiên nay lại phải triển khai theo hướng tất yếu Tư duy hình tượng đã thiên về tư duy logic Sự gò bó về hình thức đã dẫn đến sự hạn chế các tài năng thi ca, là vật cản đối với trí sáng tạo

Tóm lại, tư duy thơ là sự khôi phục và sáng tạo ra các biểu tượng trực quan, vai trò của nhận thức cảm tính là vô cùng quan trọng nhưng không phải quyết định Những quan niệm về thơ, về nhân sinh, về thời đại sẽ làm cho nhà thơ chú ý nhiều hơn đến loại biểu tượng này hay loại biểu tượng khác Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ

Trang 20

nở tất cả 11 lần, nhưng cuối cùng chỉ còn lại Du Tử Lê và hai người anh: Lê Đình Quỳnh (tức nhà văn Lê Vương Ngọc), Lê Đình Dư và một người chị là

Lê Thị Băng Tâm Những người anh và chị khác của Du Tử Lê đã chết khi còn nhỏ hoặc trong chiến tranh

Năm 1954, sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ được kí kết, đất nước Việt Nam bị chia cắt với hai chế độ: Miền Bắc lập chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, theo chế độ xã hội chủ nghĩa Miền Nam do Ngô Đình Diệm lãnh đạo, lập chính phủ Việt Nam cộng hòa, theo chế độ cộng hòa Bước ngoặt lịch sử quyết định khúc rẽ của cá nhân, Lê

Cự Phách lúc này cũng không phải ngoại lệ Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, Lê

Cự Phách di cư vào Nam cùng với gia đình Đầu tiên ông định cư ở Hội An (Quảng Nam), sau đó là Đà Nẵng Đến năm 1956, ông vào Sài Gòn và theo học trường Trần Lực, trường Chu Văn An, sau cùng là Đại học Văn Khoa

Lê Cự Phách làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội Như có lần ông đã tâm sự khi trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng nói Việt Nam hải ngoại: “… tôi tìm đến với thơ rất sớm, khi mới 10 tuổi, có dễ chỉ vì đời sống ấu thơ của tôi nó quá lẻ loi, nó quá cô quạnh” Sau khi di cư vào Sài Gòn, Lê Cự Phách bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới nhiều bút hiệu khác nhau Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu

tiên vào năm 1958 cho bài Bến tâm hồn, đăng trên tạp chí Mai

Trang 21

Du Tử Lê từng là sĩ quan của Quân lực Việt Nam cộng hòa, cựu phóng

viên chiến trường, thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền phong (một

tạp chí của Quân lực Việt Nam cộng hòa), và là giáo sư dạy giờ cho một số trường trung học Sài Gòn

Năm 1973 tại Sài Gòn, ông được trao Giải thưởng Văn chương toàn

quốc, bộ môn Thơ với tác phẩm Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972 Với giải

thưởng này, Du Tử Lê chịu không ít những đánh giá, khen chê từ phía độc giả

và giới phê bình văn học nghệ thuật Nhà phê bình văn học Hoài Thanh - tác

giả cuốn Thi nhân Việt Nam đã viết một bài rất dài cho đọc trên đài phát thanh

Hà Nội trong đêm giao thừa năm đó, để lên án thi phẩm Thơ Du Tử Lê Hoài Thanh đã không ngần ngại gọi Du Tử Lê là nhà thơ tư bản, và kết án Du Tử

Lê là “nhận tiền của Mỹ ngụy dùng thơ văn lãng mạn để làm giảm sút tinh thần chiến đấu của thanh thiếu niên miền Nam Việt Nam”

Đầu năm 1973, nhà văn Lê Huy Oanh, có viết một bài phê bình khá dài

về cuốn thơ ấy, đăng tải trên tạp chí Văn Học, Sài Gòn, thời đó Trong đó có một số điểm đáng chú ý là chủ tâm đổi mới thể lục bát và chủ tâm gia tăng nhạc tính cho thể thơ tự do Tuy nhiên, có một điểm rất quan trọng (theo quan điểm Lê Huy Oanh) là nỗ lực thi ca hóa, hay quần chúng hóa những danh từ, những hình tượng thuộc về đạo Thiên Chúa, mặc dù Du Tử Lê không phải là một Ky Tô hữu

Tờ Thái Bình số đề tháng 12 năm 1975, xuất bản tại California, một lần

nữa lại nêu đích danh và trích dẫn thơ Du Tử Lê để kết luận rằng Du Tử Lê là một trong vài nhà thơ miền Nam chủ tâm dùng thơ văn để ru ngủ tâm hồn thanh thiếu niên miền Nam, khiến cho họ sao nhãng “tinh thần chống Mỹ cứu nước” Trong khi đó, trên thực tế, thơ Du Tử Lê không chỉ gây ảnh hưởng mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam mà ảnh hưởng này còn lan tràn mạnh mẽ ở

Trang 22

cả miền Bắc nữa Sau tháng 4 năm 1975, toàn bộ tác phẩm của Du Tử Lê bị cấm lưu hành ở Việt Nam

Thơ Du Tử Lê được in trong cuốn sách Understanding Vietnam của

Giáo sư, Tiến sĩ Neil L Jamieson Cuốn sách này do đại học Berkeley xuất bản từ năm 1992, bản paperback in năm 1994, được dùng làm sách giáo khoa, ban cao học văn chương, tại các đại học Berkeley, UCLA ở Hoa Kỳ, Đại học Cambridge ở Luân Đôn

Ngày 17 tháng 4 năm 1975, Du Tử Lê cùng với Mai Thảo và Phạm Duy bị kết án tử hình vắng mặt trên đài phát thanh của Mặt trận giải phóng miền Nam vì có thái độ chống đối cộng sản quyết liệt Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ

Hiện ông đang sống ở miền Nam California, tiếp tục nghề viết và là nhân viên khế ước của đài tiếng nói Hoa Kỳ từ năm 1996 Ông cũng từng là

chủ nhiệm các báo Việt ngữ Nhân chứng, Tay Phải và Văn nghệ ở Hoa Kỳ

Như vậy, có thể có thể khẳng định: Du Tử Lê là một chiến sĩ Ngụy quyền, thuộc về “phe kia” trong cuộc chiến chống Đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam Nghiên cứu thơ ca của một nhà thơ “phản cách mạng”, ở đây, chúng tôi đặt ra hai vấn đề:

Thứ nhất, vấn đề thuộc về “hoàn cảnh” Những năm 60 của thế kỷ XX

là những năm tháng cam go, đầy thách thức của lịch sử Cuộc chiến tranh chống Mỹ đang ở giai đoạn quyết liệt Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội

và chi viện cho miền Nam chống Mỹ Hệ tư tưởng của hai miền cũng khác nhau Ở miền Bắc hệ tư tưởng có phần ổn định hơn Trong khi đó, miền Nam chịu ảnh hưởng ồ ạt của các trào lưu tư tưởng Tây phương Sự lựa chọn của con người khốc liệt hơn Con người bị đặt trong những tình huống buộc phải lựa chọn “bên này” hoặc “bên kia” Có những người đã đi theo cộng sản,

Trang 23

chống Mỹ cứu nước Cũng có người lựa chọn (hoặc buộc “bị lựa chọn”) làm những người lính Ngụy Suy cho cùng, sự lựa chọn ấy tùy thuộc vào nhận thức, tầm suy nghĩ của mỗi người Với Du Tử Lê, đi theo chế độ cộng hòa cũng là một sự chọn lựa bắt buộc thuộc về nhận thức và lịch sử

Thứ hai, ở đây chúng tôi chỉ xem xét Du Tử Lê ở khía cạnh “con người

thơ ca” Về mặt chính trị, Du Tử Lê là người thuộc “phía bên kia” Và “con người thơ ca” dù muốn hay không, dù ít dù nhiều cũng đều chịu ảnh hưởng của “con người chính trị” Mặc dù vậy, (tuy không loại trừ) nhưng chúng tôi

cố gắng hạn chế tối đa những phần thuộc về phát ngôn chính trị trong tác phẩm thơ Du Tử Lê Chúng tôi cố gắng bám sát văn bản thơ để có thể hiểu phần nào cách cảm, cách nghĩ của Du Tử Lê Chính vì Du Tử Lê là một người lính Ngụy, chính vì Du Tử Lê là người đã cầm súng chống lại đồng bào mình

mà người viết càng muốn tìm hiểu thơ ca của ông, để xem dưới nhãn quan của một con người như thế thì cuộc sống, cuộc chiến, tình yêu hiện lên như thế nào; để có cái nhìn sinh động hơn, đa chiều hơn, nhân bản hơn về cuộc sống, chiến đấu của dân tộc ta trong những năm tháng quyết liệt của lịch sử

1.3 Quan niệm nghệ thuật của Du Tử Lê

Quan niệm nghệ thuật là một khái niệm đã được sử dụng khá phổ biến

trong phê bình nghiên cứu văn học Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa:

“Quan niệm nghệ thuật chính là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó Là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn là cuộc đời, hình tượng văn học phải được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, con người và cảnh vật phải được nhìn ở giác độ nào đó Để tái hiện cuộc sống con người, tác giả phải hiểu cách họ giao tiếp với nhau, với thế giới và với bản thân, cách

họ sống, hành động và suy nghĩ, điều họ quan tâm và không quan tâm trong cuộc đời Tổng hợp tất cả mọi điều đó tạo thành cái mô hình nghệ thuật về thế

Trang 24

giới và con người bao quát mà tác giả xuất phát để khắc họa hình tượng của những con người và số phận cụ thể, tổ chức quan hệ của các nhân vật, giải quyết xung đột, xây dựng kết cấu tác phẩm Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó” [24, tr.273, 274] Tinh thần cơ bản của khái niệm quan niệm nghệ thuật chính

là ở sự cắt nghĩa, lý giải hiện thực của nhà văn trong tác phẩm, khái niệm này cho chúng ta thấy rõ nhà văn ở phương diện nhận thức, thế giới quan Mỗi nhà văn, khi sáng tạo, dù tuyên ngôn hay im lặng, đều viết dưới ánh sáng của một quan niệm nghệ thuật nào đó Quan niệm này chi phối trực tiếp tư duy nghệ thuật, khúc xạ lên những hình ảnh, biểu tượng, nhân vật và in dấu vào ngôn ngữ “Quan niệm nghệ thuật là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là sự quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật” [24, tr.275]

Không khí tự do, dân chủ nhất định về văn hóa của miền Nam những năm 1954 - 1960 tạo điều kiện cho những người trí thức trẻ ham mê sáng tạo được thỏa sức bộc lộ mình Nhưng bên cạnh đó, những mất mát, chia lìa từ chiến tranh, chia cắt và chết chóc cũng không làm nguôi lòng người thi sĩ Đô thị lúc đó khiến ta liên tưởng đến nước Nhật thời hậu chiến với những dư âm khủng hoảng, đớn đau, với những câu hỏi về số phận con người Xã hội tan tác, rã rời trong tay những kẻ mưu đồ trong và ngoài nước, mạng sống con người bị coi là cỏ rác Trong guồng máy chiến tranh, thân phận con người đặt bên hố tuyệt vọng giữa sự sống - cái chết Tất cả mọi giá trị truyền thống đều

bị đem ra thử thách, để rồi bị gạt sang một bên Với Du Tử Lê, trước những biến cố của thời đại, của hoàn cảnh lịch sử, của chia cắt và chiến tranh khiến con người đau hơn nỗi đau của thân phận Tiếng nói của thơ ca nói riêng và

Trang 25

văn học nghệ thuật nói chung không thể giải quyết được những đòi hỏi của số phận đang đè nặng lên tâm tư của mỗi người dân Việc tất yếu là phải thay đổi

tư duy và quan niệm nghệ thuật Ở miền Bắc, trong bài Một vài ý nghĩ về thơ

(1957), Văn Cao đã tự hỏi, nhẹ nhàng và dè dặt: “Chúng ta đã đi qua một thời

kỳ dài thiên về cảm xúc và một thời kỳ cảm giác Cái thời kỳ thiên về tư tưởng có phải đang bắt đầu không?” [6] Trong khi đó ở miền Nam, làn sóng cách tân nghệ thuật, đặc biệt là yêu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật trào lên một cách mạnh mẽ và sôi nổi Du Tử Lê cũng là một nhân vật nằm trong guồng quay cách tân ấy Những suy nghĩ độc đáo, sâu sắc, giàu tính lý luận với chất chồng những suy tư của ông về việc làm thơ, viết văn đã được bày tỏ trực tiếp qua những lần ông được phỏng vấn, hoặc gián tiếp qua tác phẩm của mình

Giai đoạn sau những năm 1955, ở miền Bắc, phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ra đời với ý thức cải tạo toàn diện đời sống con người, dân chủ hóa đất nước và tự do sáng tác Riêng trong địa hạt thi ca, những nhà thơ như Hoàng Cầm, Trần Dần và Lê Đạt còn muốn đoạn tuyệt với thơ mới để bước vào thơ hiện đại Nhưng họ thất bại và Nhân Văn Giai Phẩm nhanh chóng bị dập tắt, nhường chỗ cho những vấn đề chính trị còn cấp bách lúc bấy giờ đang diễn ra

ở miền Bắc Trong khi đó, văn nghệ miền Nam phát triển trong không khí tự

do, cởi mở hơn nhiều 20 năm văn học này có sự đóng góp của nhiều nhóm văn nghệ, nhiều trào lưu tư tưởng tập trung ở các tạp chí như Sáng tạo, Quan điểm, Văn hóa ngày nay, Nhân loại, Văn đàn, Bách khoa, Văn học, với những gương mặt tiêu biểu như: Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Quách Thoại, Tô Thùy Yên, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Văn Trung, Trần Dạ Từ… Vào giai đoạn đầu 1954 - 1963, một nền văn nghệ tự do sinh hoạt trong một không khí văn hóa, tin tưởng, thì đến giai đoạn sau 1964 - 1975, văn nghệ đa dạng hơn nhưng cũng đa tạp hơn Riêng trong lĩnh vực thơ ca, “Thơ

Trang 26

miền Nam hôm nay đã bước vào những chân trời khác: xã hội, tuổi trẻ, chiến tranh, chính trị, suy tưởng về triết học Thi ca thời này đã dẫm ra ngoài khung cảnh cũ người ta vốn ấn định sẵn tại nước mình: khung cảnh trưởng giả, đài các, mơ mộng, ảo tưởng Thơ miền Nam từ 1954 đã có sắc thái biệt lập với tất

cả thời kỳ khác, sắc thái thực tiễn và siêu hình” [48] Mai Thảo phát biểu:

“Văn học nghệ thuật mặc nhiên không thể còn là tả chân Nguyễn Công Hoan, lãng mạn lối Thanh Châu, những khái niệm Xuân Thu, những luận đề Tự Lực… Những trào lưu cạn dòng phải nhượng bộ dứt khoát cho những ngọn triều lớn dậy thay thế… Cái vấn đề lớn nhất của chúng ta bây giờ, trước sau vẫn là phải làm sao đoạn tuyệt được hoàn toàn với những ám ảnh và những tàn tích quá khứ… Công tác chặt đứt với những trói buộc cũ phải được đặt lên

hàng đầu… và thơ bây giờ là thơ tự do” [Dẫn theo Thụy Khuê, Cấu trúc thơ,

http://thuykhue.free.fr/stt/s/chuong12.html]

Du Tử Lê và thế hệ ông là lớp người đã kinh qua những biến động dữ dội của đời sống dân tộc: tổng khởi nghĩa và cách mạng tháng Tám 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng thời thể nghiệm rõ hơn bao giờ hết sự khốc liệt của chiến tranh Sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động, những va đập của thời đại đã đưa cuộc đời Du Tử Lê tới những bước ngoặt khác nhau Với người thanh niên trẻ Du Tử Lê, nỗi đau

về chia cắt, về thân phận còn nhức nhối hơn bao giờ hết khi ông là chứng nhân trực tiếp của cuộc di dân lịch sử hơn một triệu người từ Bắc vào Nam

Từ giã quê hương sau lưng, vào Nam, đã là một điều đau đớn, đã là một đoạn đường chia ly Nhưng lớn lao và ảnh hưởng lớn hơn cả là sự trống trải tâm

hồn

Về nguyên do đến với thơ ca, Du Tử Lê chia sẻ nhân thời điểm đánh dấu chặng đường năm mươi năm sáng tác thi ca của ông: “Tôi là người có sáu ngón tay Tôi bị tật ở bàn tay phải Tuổi nhỏ của tôi rất cô độc Tôi sống rất

Trang 27

nhút nhát Chắc vì thế thành ra tôi tìm trong sách vở, trong văn chương để xoa dịu sự cô đơn của mình” [7] Với Du Tử Lê: “Chọn lựa đến với văn học nghệ thuật là một chọn lựa hoàn toàn tự do, tự do tới tuyệt đối Bởi vì không một ai bắt chúng ta phải trở thành thi sĩ, hay ca sĩ, nhạc sĩ Như chúng ta hoàn toàn

tự do tìm tới một tín ngưỡng vậy Và… có hàng trăm con đường, ngõ ngách khác nhau, để đến với văn học nghệ thuật Có người đến với văn nghệ để tìm lợi nhuận Có người đến với văn nghệ như đi tìm một phương cách cứu rỗi chính mình Ngay tự khởi đầu, tôi đã chọn lấy cho mình con đường thứ hai Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình bị thiệt thòi, bị đối xử bất công hết” [63] Tuổi thơ Du Tử Lê chịu nhiều thiệt thòi, cay đắng như bao đứa trẻ thời ấy khi không được sống trong không khí thanh bình, êm ả Đó là thời của chiến tranh, chạy loạn, chạy giặc, tản cư, di cư, chia lìa, chết chóc Du Tử Lê rất ít bạn vì mặc cảm sáu ngón tay Nỗi trống trải trong tâm hồn cứ ngày một nhân lên khi những người anh , người chị lần lượt mất vì bệnh tật , chiến tranh Những biến cố lịch sử của dân tộc thời đại cùng những mất mát trong gia đình

đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tâm hồn cậu thiếu niên Lê Cự Phách thời ấy

Du Tử Lê viết : “tôi lớn lên trong vỏ ốc cu ộn tròn / triền nước mặn ướp xác thân nhăn nheo / cơn nước rút về phía sau thành phố ghẻ lở / tôi làm người tôi khốn khổ từ đây / rồi ngày tháng mưa bay mắt cuồng tuyệt vọng / vỏ ốc vỡ tôi

trần truồng trong ánh sáng chiến tranh” (Phù sa - Tình khúc tháng mười một)

Và có lẽ những điều ấy đã đưa Lê Cự Phách đến gần hơn với thơ ca nghệ thuật Ông tâm sự: “Tôi chỉ viết khi bị thôi thúc, bức bách bởi một lực vô hình Và khi viết, tôi chỉ nghĩ đến tôi, đến một hay vài người nào đó Không

hề có đám đông trong lúc tôi viết… Tôi làm thơ hay viết văn, trước nhất, cho chính tôi; và nhiều lắm là một, hai người nào đó Nói cách khác, tôi không

có một tham vọng, dù nhỏ bé hay to lớn nào về những gì tôi viết xuống” [55]

Trong lời tựa tập Thơ Du Tử Lê 1967 - 1972, Du Tử Lê tâm sự rất thành thật:

Trang 28

“Tôi làm thơ vì những hạnh phúc không đạt được, nếu hiểu hạnh phúc là mục đích cuối cùng của đời người Do đó thơ tôi là những khúc-ca ngắn cho-một-mình hay cho-hai-người” [46] Sau này, sau những biến cố của cuộc đời, khi

đã định cư tại hải ngoại, Du Tử Lê có cái nhìn chất chứa suy tư hơn về thơ ca

và cuộc đời: “Với cá nhân tôi thôi, ngày nào bạn còn thấy rộn rã nỗi nhớ quê hương, lòng thương yêu tổ quốc ở xa của mình; ngày nào, bạn còn rung động, còn xốn xang ruột gan trước một người khác phái, trước những cảnh đời diễn

ra quanh bạn, thì ngày đó, bạn còn đề tài, bạn còn viết được, dù bạn bao nhiêu tuổi Vấn đề không phải người ta bao nhiêu tuổi, mà vấn đề ở chỗ trái tim trong ngực ta có còn rung động? Thực sự rung động nữa hay không mà thôi”

[63]

Du Tử Lê sống và cống hiến giữa một thời điểm “nhạy cảm” của đất nước, một nền văn học mà có nhà phê bình đã gọi nó là “văn học giữa hai cuộc di cư”, biến động của chiến tranh, của chia cắt và nỗi thống khổ của những thân phận hèn mọn Tuy vậy, thời điểm trước 1975, thơ ca Du Tử Lê ít được nhìn nhận và đánh giá ở trong nước Sau này, khi ông đã tỵ nạn cộng sản ở Hoa Kỳ, và sau những năm tháng dài của hai cuộc chiến tranh, chúng ta

đã có cái nhìn cởi mở hơn về văn nghệ miền Nam Và bây giờ, giới nghiên cứu đã bắt đầu đánh giá lại thơ ca Du Tử Lê, dù rằng hiện nay thi phẩm của ông vẫn chưa được công bố rộng rãi trong nước Mặc dù có nhiều rào cản ngăn cách như vậy, nhưng nghiên cứu thơ ca hôm nay cũng cần phải nhìn nhận một cách khách quan hơn về con người và thơ ca của người thi sĩ nhiều

“thị phi” này

Du Tử Lê sáng tác rất đa dạng Từ thơ ca, kịch, tiểu thuyết đến truyện ngắn, bút ký… Bao trùm những sáng tác của Du Tử Lê là tiếng nói của thân phận con người được soi tỏ trong chiến tranh, tình yêu và đời sống đô thị Đó vừa là tiếng nói của con người nhược tiểu với những bi đát, phẫn nộ, cô độc,

Trang 29

hoài nghi… vừa là tiếng nói thiết tha, khao khát, yêu thương bùng vỡ Với những sáng tác của mình, Du Tử Lê luôn mong muốn nó “có được cái nhịp đập của trái tim, của thời đại” Đó là lý do giải thích vì sao Du Tử Lê cũng quan niệm: “Nghệ thuật trước hết là một lối nhận thức đời sống” (Thanh Tâm Tuyền) Hẳn nhiên đó không phải là lối nhận thức giản đơn trong một trật tự được tự nhiên hóa với sự yên ổn thoải mái - sẽ dễ dàng ru ngủ con người trong những phù du, ảo vọng

Du Tử Lê là một hiện tượng nhiều tranh cãi cả trong thơ lẫn cuộc sống

Để có được những giây phút hoan ca trong thơ, hẳn người thi sĩ đã phải trải qua những giây phút “hạnh phúc yêu đương và phẫn nộ”, phải đọc nhiều, đi nhiều, thấy nhiều, cảm nhiều, mơ mộng nhiều, suy nghĩ nhiều, nhớ thương nhiều… Du Tử Lê đã sống nhiều và đã trải đời sống mình ra thơ Với quan niệm đời sống là một dòng sông chảy trôi không ngừng nghỉ, Du Tử Lê luôn mong muốn thơ ca có những bước tiến mới, thế hệ các nhà thơ sau này phải hơn hẳn thế hệ những người sáng tác trước đây Và tất nhiên, có một Du Tử

Lê khác, hơn Du Tử Lê bây giờ là một điều rất đáng trân trọng Quan niệm

ấy, tưởng chừng như Du Tử Lê có phần đề cao thái quá thơ ca của chính ông Nhưng nếu xét trong tương quan giữa một thế hệ những người cầm bút và sự phát triển tất yếu của văn học nghệ thuật thì đó hẳn là một mong muốn chính đáng

Du Tử Lê sáng tác từ rất sớm Về ảnh hưởng của những nhà thơ tiền chiến trong thơ Du Tử Lê, ông tâm sự: “Thuở nhỏ, tôi rất mê thơ Huy Cận Khoảng mười lăm mười sáu, tôi rất mê thơ Nguyên Sa Tôi nghĩ rằng, trong những giai đoạn đó, tôi có bị ảnh hưởng hai người đó rất nhiều Đôi khi tôi thấy tôi cũng có bị ảnh hưởng thơ của ông Xuân Diệu, Chế Lan Viên… Giai đoạn đó thuộc về thời niên thiếu của tôi Nhưng tôi thích nhất và tôi nghĩ, nhiều phần, tôi chịu ảnh hưởng thơ Huy Cận, nhất là thơ năm chữ” [5] Sau

Trang 30

Hiệp định Giơnevơ 1954, Du Tử Lê di cư vào Nam Sài Gòn những năm

1956, một cách ngẫu nhiên, hội tụ những điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt nghệ thuật: cuộc di cư - đưa đến lực lượng sáng tác chủ yếu, bối cảnh chính trị xã hội mới - đưa đến thái độ nhập cuộc, “lên đường” của nhà văn, đặc biệt ảnh hưởng của văn hóa phương Tây - mở ra những chân trời nghệ thuật mới Những biến thiên lịch sử đó thôi thúc sự tự do sáng tác và sự trỗi dậy của đổi mới tư duy văn học Cùng với sự tự do nhất định về văn hóa và sự du nhập ào

ạt của phương Tây đã khiến những người trí thức như Du Tử Lê được tiếp nhận những luồng sinh khí mới, hoàn toàn khác lạ Ông đọc nhiều sách của phương Tây, và tiếp nhận văn học châu Âu qua nhiều nguồn khác nhau Những tư tưởng Tây phương, bao gồm hiện sinh và siêu thực, đến với Du Tử

Lê qua Nietzsche, Sartre… Cho đến bây giờ Du Tử Lê vẫn thừa nhận ông yêu thích Kahlil Gibran (1883-1931; thi sĩ, họa sĩ gốc Liban) và Boris Pasternak (1890-1960; nhà văn, nhà thơ Nga - Xô viết; đạt giải Nobel Văn chương năm

1958, Tác phẩm: Bác sĩ Zhivago (tiểu thuyết), Chị tôi-cuộc đời (thơ)) Hai người này đã có ảnh hưởng sâu đậm trong thơ Du Tử Lê, nhất là những sáng tác ông viết tại hải ngoại sau này

Du Tử Lê quan niệm rất đơn giản về tính thẩm mỹ trong văn chương Ông cho rằng: “… thẩm mỹ quan trong văn chương nói chung, thi ca nói riêng, dù nhân danh điều gì (thí dụ cách tân, làm mới, thẩm mỹ quan ) thì nó cũng sẽ chỉ có ý nghĩa nếu được đám đông chấp nhận Ngược lại, nó sẽ qua

đi Như rất nhiều trào lưu văn học, với những thẩm mỹ quan mới, đã qua đi” Với Du Tử Lê: “Không có một tiêu chí hay tiêu chuẩn rõ rệt, dứt khoát nào dành cho lãnh vực thẩm mỹ quan trong văn chương Nó tùy thuộc quan niệm, trình độ, cảm quan, cũng như tài năng hoặc mục đích theo đuổi của mỗi người cầm bút” Và “cái đẹp nằm ở nơi, bạn có thật sự rung động, có thật sự tin tưởng vào hình thức hay, nội dung mà bạn đã chọn lựa để chuyển tải những

Trang 31

cảm nhận, những trăn trở nơi đáy tầng tâm, thức của bạn tới người đọc? Ngoài ra, theo tôi, tất cả chỉ là trá ngụy” [29]

Là một người luôn lao động miệt mài để cống hiến cho thi ca nghệ thuật, trong hành trình sáng tạo của mình, Du Tử Lê luôn cố gắng cách tân, tìm tòi cái mới Lao động nghệ thuật đối với Du Tử Lê luôn đòi hỏi sự tận tâm, tận lực, chu đáo “Trước đấy, tôi làm thơ theo hứng, tức là khi cảm xúc đến thì tôi viết xuống Sau này, tôi nhận thấy nếu làm như vậy, khi thơ đã in

ra rồi, không sửa chữa được nữa Nên tôi làm thơ bằng cách là khi cảm hứng đến, tôi viết xuống như một bài “nháp” thôi, hoặc khi có một ý tưởng nào đến, tôi ghi “note” lại Sau đó nhiều tháng, có khi cả năm, hơn năm, có dịp, tôi trở lại với bài thơ đó Khi đó, tôi mới thật sự làm bài thơ ấy Đó là cách làm việc của tôi… đến ngày hôm nay” [7] Văn học, nghệ thuật cũng đòi hỏi sự lao động cật lực nơi các tác giả, như những người làm công việc khác Để có một bài thơ hay, chưa nói đến được công chúng mến mộ, ghi nhận đã là cả một quá trình đòi hỏi người nghệ sĩ phải thực sự nghiêm túc trong quá trình làm việc Thơ ca cũng như con người, cần phải có “hồn tính” của nó Một bài thơ hay là bài thơ phải có sự “chân thật” Chân thật với những cảm xúc, rung động từ con tim “Thơ của tôi là những lời nói thật Nghĩa là thơ của tôi là phần kết tụ của những cảm xúc từ trái tim tôi Cảm xúc đó, có thể khởi đi từ chính bản thân tôi, hay từ sự trải qua của những người khác” Đó là sợi dây vô hình liên kết, nối tác giả vào với người đọc của anh ta Quan niệm này của Du

Tử Lê rất gần gũi với quan niệm của Thanh Tâm Tuyền khi Thanh Tâm Tuyền đánh giá cao và có quan niệm rất rõ về tính chân thực cần phải có của tác phẩm văn học: “Người nghệ sĩ đưa sinh mệnh mình để đảm bảo sự thành thật của tác phẩm” Tính chân thực ấy phải khởi nguồn từ hiện thực đời sống Bởi lẽ đã qua rồi cái thời kì “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo”, công thức và cứng nhắc; người viết văn “là người ràng buộc mật thiết với đời sống, một đời

Trang 32

sống cụ thể hằng ngày đụng chạm quanh người hắn ngay khi hắn nhìn vào sự vật để tìm lấy cái bản thể hay đạt tới sự vĩnh viễn, cái khuynh hướng của hắn vẫn là phải chụp lấy trong những tình thế nhất định bằng những kinh nghiệm độc nhất” Người cầm bút, phải gắn bó chặt chẽ với đời sống, và nắm bắt nó bằng cái kinh nghiệm độc nhất của mình, không thể vay mượn ở bắt kì đâu

Trong mối quan hệ nhà văn - tác phẩm - độc giả, Du Tử Lê có những quan niệm khá thú vị Ông cho rằng một bài thơ, hay một tác phẩm, ngay khi

ra khỏi tác giả, nó đã có ngay cho nó một đời sống, một định mệnh; mà tác giả, dù là ai, cũng chẳng thể can thiệp Điều đó cũng có nghĩa là một tác phẩm khi trở thành phổ cập, nó không còn thuộc về tác giả nữa Nó thuộc về bất cứ

ai, đem lòng yêu mến, xót xa cho nó Những quan niệm này của Du Tử Lê, từ những thập niên trước, đến hôm nay vẫn luôn mới và đúng Và vì vậy, tác giả, hơn ai hết phải là người luôn luôn biết cách làm mới mình, cách tân thơ ca của mình, bởi lẽ “một nhà thơ hay một nhà văn, kể như đã chết, khi không làm mới được chính mình” [4]

Nổi tiếng với những sáng tác về tình yêu từ trước năm 1975, thơ tình

Du Tử Lê luôn dành được sự quan tâm lớn của ông Ở lĩnh vực này, Du Tử

Lê quan niệm: “… một nhà thơ chỉ có thể sáng tác được những bài thơ tình thật hay nếu trong lòng họ lúc bấy giờ đang có một tình yêu lớn, nhất là thứ

tình yêu có bóng dáng của bất an, của trắc trở” [4] Những bài thơ như Ơn em, Trên ngọn tình sầu, Khúc Thụy Du… nhận được sự mến mộ của không ít độc

giả yêu thơ và cả những thính giả âm nhạc khi những sáng tác này được chắp thêm đôi cánh của nhạc điệu

Với người nghệ sĩ, sáng tạo nghệ thuật đi liền với vinh quang nhưng bên cạnh đó lại là những rủi ro tiềm ẩn Người nghệ sĩ đã chấp nhận mình trong “cuộc chơi” đồng nghĩa với việc phải đối mặt với những khó khăn Trần Dần đã từng trăn trở với chính mình trong công cuộc lao động “chữ”: “Tôi

Trang 33

muốn một thứ thơ kèm theo muôn vàn nghĩa, có buồn tủi, sầu khổ, đầm nước mắt, thơ bao trùm đất nước và thời gian, ăn lấn sang mọi thế kỉ, nhập vào cái biện chứng bao la của sự vật” Và cái buồn tủi, sầu khổ, đầm nước mắt ấy cũng chính là những trải nghiệm mà các nhà thơ, những người nghệ sĩ phải trải qua để đi đến cái đích: Sáng tạo Không sáng tác một cách tùy hứng, Du

Tử Lê dành nhiều thời gian để suy ngẫm về văn, về đời Những câu hỏi như văn chương là gì? Hình thức, nội dung văn chương (nhất là thi ca) đang ở đâu? Thế nào? Tuy rằng cho đến nay, thế giới chưa có trường dạy làm thơ, nhưng ta có thể quy luật hóa thi ca, như một vài chìa khóa căn bản, để mở cửa ngôi nhà ấy Du Tử Lê hằng quan niệm yếu tính căn bản của thơ là văn phạm, văn phạm thơ Nhưng muốn hiểu thế nào là văn phạm của thơ, trước nhất phải hiểu văn phạm bình thường, văn phạm nói chung, là gì cái đã… Sự thật thì chúng ta khó định nghĩa rõ ràng đâu là sự khác biệt giữa văn xuôi và thi ca Nếu chúng ta lấy vần điệu để phân biệt giữa văn xuôi và thi ca thì chúng ta sẽ gặp câu hỏi là những bài thơ tự do không có vần điệu thì sao? Cho nên theo quan niệm riêng của Du Tử Lê thì: sự khác biệt giữa văn xuôi và thi ca là sự khác biệt về phương diện văn phạm Văn xuôi có văn phạm riêng của văn xuôi, thi ca có văn phạm riêng của thi ca… Công việc viết lách thường khởi thủy từ cái gọi là năng khiếu hay thiên bẩm Viết nhiều, viết lâu đương nhiên

có kinh nghiệm Năng khiếu cộng với kinh nghiệm viết, trải nghiệm phong phú của đời sống và một tâm hồn nhạy cảm, khát khao giao cảm với đời sẽ cho ra được những tác phẩm xứng đáng

Trong hoàn cảnh xã hội và điều kiện thơ ca những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, giống như những người cùng thời, lúc đầu, Du Tử Lê làm thơ lãng mạn, vì ảnh hưởng văn thơ tiền chiến, thời ấy Sau này, phong trào thơ tự do lên cao, Du Tử Lê cũng làm thơ tự do Nhưng theo Du Tử Lê, thời khởi đầu ấy, ông không hề có một ý niệm gì về văn chương Cũng giống như

Trang 34

một fashion, một phong trào về quần áo, thời đó, người ta thích cái gì thì Du

Tử Lê đi theo phong trào đó Du Tử Lê cho rằng: Văn chương không phải là nơi để biểu diễn những kiến thức hay khuynh hướng của chúng ta

“coi trọng”, vốn là người đứng bên kia chiến tuyến, thiết nghĩ là việc làm cần thiết Không phải để ngợi ca, mà quan trọng là tìm hiểu xem văn nghệ sĩ miền Nam thời ấy nhìn nhận về xã hội, về cuộc chiến tranh, về tình yêu, thân phận con người… như thế nào, để góp thêm một mảng màu vào bức tranh vốn đa màu sắc của văn học dân tộc

Du Tử Lê với những quan niệm nghệ thuật, thơ ca khác với những văn nghệ sĩ của dòng văn học chủ lưu lúc bấy giờ, đương thời, đã chịu không ít sự

từ chối, phê phán, thậm chí có người còn cho đó là lập dị, là thứ văn chương

ru ngủ, làm mềm yếu tinh thần chiến đấu của thanh niên Việt Nam, là thứ thơ

ca “tán gái” rởm đời Nếu xóa bỏ định kiến và nhìn nhận khách quan hơn, hẳn

ta sẽ thấy nhiều nét mới trong cả nội dung và hình thức trong thơ ca của tác giả này

Trang 35

Chương 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG

ĐẶC SẮC TRONG THƠ DU TỬ LÊ

2.1 Cái tôi trữ tình trong thơ Du Tử Lê

2.1.1 Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình trong thơ

Cái tôi thực chất là một khái niệm triết học (R Descartes, G Hegel, H Bergson…) K Marx định nghĩa: “Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người, có quan hệ tích cực đối với thế giới và đối với chính bản thân mình Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình

và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình Cái tôi có thể xem là cấu trúc phần tự giác” Như vậy cái tôi vừa mang bản chất

xã hội, có quan hệ khăng khít với hoàn cảnh, vừa mang bản chất cá nhân độc đáo Nói về cái tôi là nói về bản chất của chủ thể trong nhận thức và sáng tạo

Nó có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật nói chung và thơ ca trữ tình nói riêng

Thơ trữ tình là “thuật ngữ dùng chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình trong đó, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học” [24, tr.317] Thơ trữ tình luôn gắn với cái tôi trữ tình

Trong Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam, Nguyễn Bá Thành

đã định nghĩa về cái tôi trữ tình một cách đầy hình ảnh: “Thơ trữ tình là những bản tốc kí nội tâm, nghĩa là sự tuôn trào của hình ảnh, từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng tạo Chính vì vậy, về bản chất mọi nhân vật trữ tình trong thơ chính là những biểu hiện đa dạng của cái tôi

Trang 36

trữ tình” [71, tr.166] “Cái tôi trữ tình trong thơ được thể hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ” [71, tr.56] “Tuy nhiên, do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định” [71, tr.57]

Trong lịch sử thơ ca đã chứng kiến sự cách tân của thơ gắn liền với sự vận động của cái tôi trữ tình Trong thơ cổ cũng như thơ mới, cái tôi trữ tình luôn luôn chiếm địa vị hàng đầu Nếu trong thơ cổ, “cái tôi trữ tình ẩn khuất theo lối vô nhân xưng là chủ yếu” [71, tr.166] thì khi thơ mới ra đời, cái tôi trữ tình đã giành lấy vị trí trung tâm trong mọi bài thơ, “cái tôi trữ tình luôn luôn được thể hiện dưới dạng trực tiếp Nghĩa là đối tượng thẩm mĩ là những trạng thái tình cảm khác nhau của chủ thể Tôi vui, tôi buồn, tôi cô đơn, tôi yêu, tôi nhớ… Cái tôi ấy giãi bày, đối thoại trực tiếp với độc giả” [71, tr.166] Nhưng đối với thế hệ thi nhân hiện đại, vị trí của cái tôi đã không còn như trước nữa Cái tôi trở về với thân phận, với sự tiếp nhận của ý thức, thậm chí đào sâu vào cõi vô thức để tìm đến bản thể chân chính của con người Cái tôi trữ tình trong thơ hiện đại vì vậy chân thực hơn, nhưng cũng khốc liệt hơn, nó đưa con người đối diện với chính mình trong cả những phần khuất tối nhất

Cái tôi là điểm khởi đầu và cũng là điểm kết thúc của quá trình sáng tạo Nó là linh hồn của chủ thể trữ tình Thơ trữ tình nào cũng dựa trên sự rung động của cái tôi cá nhân, mang số phận cá tính riêng của các tình huống trữ tình Tuy nhiên, khám phá cái tôi trữ tình trong thơ, không có nghĩa là khám phá cuộc đời tác giả Cái tôi trữ tình tự nó là một giá trị độc lập, tự nó

có một đời sống riêng độc đáo mà ngay cả các thi sĩ khi sáng tạo ra cũng không thể bao quát hết Nhiệm vụ của người đọc là phiêu lưu cùng cái tôi đó,

Trang 37

để tìm hiểu, cảm nhận những gì là chân thực nhất của con người, của cuộc sống được nuôi dưỡng trong thơ

2.1.2 Nội dung cái tôi trữ tình trong thơ Du Tử Lê

Tôi có gì ? tôi có được gì đâu ngoài một sự thực

sự thực như đời tôi đạn bom sự thực như những gì đang tàn như tôi sống nhờ mượn lốt mang danh những người không phải là tôi…

(Tôi, Du Tử Lê - Tình khúc tháng mười một)

Du Tử Lê đã viết những lời thơ như vậy trong tập Tình khúc tháng mười một, xuất bản năm 1965 Những lời thơ đầy hoài nghi, chán nản, buồn

tủi, chất chứa tâm trạng của cậu thanh niên Lê Cự Phách năm hai mươi tư tuổi

và bắt đầu nhàm chán chính bản thân mình Đó là cái tôi đã trải qua những giây phút hạnh phúc, đau khổ, hoang mang, xót xa, hoài nghi, tuyệt vọng, rạng rỡ, âm u, dịu dàng, hung bạo, mệt mỏi, chán chường… của cuộc sống chiến tranh Từ đây, báo hiệu trong thơ ca con người này sẽ xuất hiện liên tục những dấu hỏi về cuộc đời, về ý nghĩa sự sống của bản thân, về tình yêu, về thân phận con người, về những mảnh đời lắt léo trong cuộc chiến điêu tàn, những ám ảnh về thân phận con người giữa chiến tranh, di cư, hỗn loạn và khủng hoảng của các giá trị sống… Ở một góc sâu khuất nơi trang giấy, cái

tôi trữ tình trong thơ Du Tử Lê hiện lên đầy day dứt Từ Thơ Du Tử Lê (1964), Tình khúc tháng 11 (1965), Tay gõ cửa đời (1967) đến Thơ Du Tử Lê (1967-1972) và sau đó là Đời mãi ở phương Đông (1974), cái tôi trữ tình đã

trải qua một hành trình khám phá, phân đôi, chia rẽ, giằng xé giữa nhiều thái cực khác nhau, cái tôi lên tiếng đòi quyền sống, quyền được tự do và khao khát yêu thương Cuộc hành trình của cái tôi là cuộc hành trình khám phá

Trang 38

không biết mệt mỏi của người nghệ sĩ nhận chân những giá trị đích thực trong hiện thực cuộc sống “không ngớt hoàn thành, tìm kiếm chỗ đứng chờ đợi xác định” (Huỳnh Phan Anh) để bước đến cái đích cuối cùng của thi ca là cõi sống

2.1.2.1 Cái tôi hiện sinh

Hiện sinh ở đây được hiểu là tồn tại, hiện hữu của con người Thuật

ngữ hiện sinh ra đời cùng với sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh vào thế kỉ XIX Vấn đề trung tâm mà chủ nghĩa này hướng tới đó là sự tồn tại của con người trong thế giới, coi con người là chủ thể - là cá thể sống có cảm xúc, tư duy và hoạt động Xuất phát điểm của cá nhân được mô tả là “thái độ hiện sinh” - một tình trạng mất định hướng, bối rối trước thế giới có vẻ vô nghĩa và phi lý Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh cho rằng trong thế giới ngày nay mọi giá trị tinh thần đang mất hết ý nghĩa mà không thể bù đắp lại được Điều đó sẽ dẫn tới tấm thảm kịch truyền kiếp “thân phận con người” mà nhà triết học Đan Mạch Kierkegaard từ thế kỉ XIX, đã có nói đến trong các thuyết

về tội lỗi của con người ở “một thời đại mất Chúa” (thực chất là sự quan niệm

về sự mất ý nghĩa của cuộc sống) Theo họ, con người đang bị bỏ rơi trong nỗi cô đơn giữa cái hiện hữu thù nghịch, cho nên cuộc đời chỉ là một sự vô nghĩa, “sự vô nghĩa sinh ra từ sự đối chiếu giữa lời kêu gọi của con người và

sự im lặng của cuộc đời” (A.Camus) Người đọc bắt gặp trong thơ Du Tử Lê

sự cô đơn ấy của con người, và hành trình tìm về cái tôi bản thể để lấp đầy những khoảng trống vô nghĩa Bước vào thế giới thơ của Du Tử Lê, người đọc sẽ không khỏi ám ảnh trước một cái tôi luôn dằn vặt, luôn đớn đau và kiếm tìm bản thể của chính mình trong một không gian đô thị, thành phố với ngổn ngang những hàng rào dây thép gai, cột điện, mái nhà, công trường… sẵn sàng bao vây con người Cái tôi trong thơ ông, trước hết, là một cái tôi

Trang 39

hiện sinh, cái tôi ý thức được chính mình, đối diện với thế giới và con người xung quanh

Cái tôi trữ tình trong thơ, không phải đến thời đại của Du Tử Lê mới xuất hiện, đã có những thời kì mà cái tôi được nhắc đến như sự vinh danh của

cá nhân mà đỉnh cao là Thơ Mới “Lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, cái tôi của nhà thơ được ý thức một cách đầy đủ, với rất nhiều tự hào, trở thành một trung tâm từ đó nhà thơ nhìn ngắm thế giới và chiêm nghiệm cuộc đời, một đối tượng để nhà thơ quan sát, mô tả và thể hiện” [52] Tuy nhiên, do bị chi phối bởi quan điểm thẩm mỹ coi cái đẹp là những gì nhẹ nhàng thơ mộng, cái tôi được nói đến vẫn chủ yếu dừng lại ở cái tôi cảm xúc, được biểu hiện dưới những câu thơ có vần, có nhịp, mềm mại và ngân nga Yêu, thường chỉ là yêu thầm Nhớ, thường chỉ là nhớ xa xôi Buồn, thường chỉ là buồn vô cớ Thơ Mới cũng đôi khi chứng kiến sự lên tiếng của cái tôi duy lý, đó là cái tôi dằn vặt của Vũ Hoàng Chương, cái tôi khắc khoải của Thâm Tâm, cái tôi thống thiết của Chế Lan Viên, cái tôi dị biệt của Hàn Mặc Tử… song cái tôi duy lý vẫn chưa chạm ngưỡng đến tận cùng của bản thể con người Cái tôi dịu lại, đằm xuống trong những cảm xúc nhẹ nhàng, mơ mộng Nếu lấy Thơ Mới làm điểm mốc quan trọng để soi chiếu những thay đổi trong quan niệm về thơ của các nhà thơ miền Nam Việt Nam những năm sau 1954,

sẽ thấy, hầu hết các nhà Thơ Mới đều phủ nhận vai trò của lý trí mà đề cao vai trò của cảm xúc trong tư duy thơ ca Đỉnh cao của quan niệm phủ nhận lý trí một cách cực đoan được biểu hiện trong tác phẩm Xuân Thu Nhã Tập Đây

là một hướng tìm tòi tiếp nối của Thơ Mới khi những ngòi bút Xuân Thu Nhã Tập chừng như đã nhận ra cái đỉnh điểm của thời đại hoàng kim thơ đã tới lúc thoái trào Tình yêu, sự cô đơn, nỗi buồn với mọi cung bậc, màu sắc đã được khai thác đến vỉa cuối cùng Họ cho rằng trực giác là bản chất có tính cội nguồn trong thơ Các nhà thơ miền Nam trong không khí sáng tạo mới cho

Trang 40

rằng thơ phải được xây dựng trên sự khắc khoải, sự dằn vặt của ý thức Nếu như các nhà Thơ Mới đặt mình chủ yếu trong mối quan hệ với thiên nhiên để lắng nghe và ghi nhận những tiếng động khẽ khàng trong hồn mình, thì các nhà thơ như Du Tử Lê lại đặt mình chủ yếu trong mối quan hệ với lịch sử, với thân phận con người nói chung để nhận diện những cơn khốc liệt trong tâm hồn mình Điều đó giải thích vì sao trong khi các nhà Thơ Mới làm thơ như những thi sĩ, nghĩa là những kẻ đang sống trong thế giới của cái đẹp, của mộng mơ thì các nhà thơ sau 1954 làm thơ như những người thường không phải là thi sĩ, nghĩa là những kẻ đang sống giữa thế giới đầy bão bùng, đầy bụi bặm của hiện thực

Các nhà thơ miền Nam Việt Nam sáng tác sau 1954 thường quan niệm thơ là sự bày tỏ cõi lòng đớn đau của thân phận, nó không hề mang sứ mệnh cứu rỗi mà chỉ giúp con người nhìn thẳng vào sự thật hiện hữu trước mắt, với tất cả những gì là thái cực yếu tính nhất của con người Như Thanh Tâm Tuyền đã từng phát biểu: “Mỗi tiếng, mỗi lời viết ra tôi đều thấy nó chứa đựng những hận thù, khinh bỉ, dày vò, đớn đau, tuyệt vọng, nhơ nhuốc, dối trá, hằn học, trơ trẽn, bệnh hoạn, xấc láo, thô bạo, cục cằn, tủi hổ, yếu đuối, bất lực, chết chóc” [75] Nếu các nhà Thơ Mới quan niệm nhà thơ là những kẻ sáng tạo, một thứ tạo hoá con con; thì các nhà thơ sau 1954 lại quan niệm nhà thơ chỉ là người hục hặc tra vấn cuộc đời và tâm hồn mình, người đi lượm nhặt những mảnh vỡ trong nhận thức và trong cảm xúc để lắp ghép, tô bồi lại thành một tác phẩm nghệ thuật Các nhà Thơ Mới luôn luôn cô độc; các nhà thơ sau 1954, như Thanh Tâm Tuyền khẳng định, “[Tôi] không còn cô độc” nữa Họ đồng nhất họ với thân phận con người nói chung, do đó, họ đỡ bơ vơ hơn, đỡ lạc loài hơn, nhưng ngược lại, họ lại bị dày vò hơn và nhiều đau đớn hơn: họ phải gánh cái gánh nặng của cả nhân loại Với Du Tử Lê, vị trí ngôi báu trong thơ được gỡ bỏ, thơ đúng hơn là một phương tiện đưa đến vùng ý

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1998), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
2. Vương Hồng Anh, Những ngày với Du Tử Lê ở KBC 3168, Sài Gòn http://www.banvannghe.com/D_1-2_2-59_4-1201_5-4_6-4_17-53_14-2/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngày với Du Tử Lê ở KBC 3168, Sài Gòn
3. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Nguyễn Ngọc Bảo, Mạn Đàm Với Nhà Thơ Du Tử Lê http://dutule.com/D_1-2_2-106_4-47_5-4_6-3_17-16_14-2_15-2/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạn Đàm Với Nhà Thơ Du Tử Lê
5. Nguyễn Ngọc Bảo, Năm Mươi Năm Ấy Bây Giờ Là Đây http://dutule.com/D_1-2_2-106_4-1337_5-4_6-2_17-16_14-2_15-2/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm Mươi Năm Ấy Bây Giờ Là Đây
6. Văn Cao, Mấy ý nghĩ về thơ, http://www.dactrung.com/Bai-bv-133-May_y_Ve_Tho.aspx10/18/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý nghĩ về thơ
8. Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu? http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=9215Bản mới bổ sung ngày 20/9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện Văn học miền Nam: Tìm ở đâu
9. Chủ nghĩa hiện sinh, vi.wikipedia.org/wiki/Chủ_nghĩa_hiện_sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh
10. Chủ nghĩa hiện sinh, my.opera.com/Hoang%20Ngoc%20Hung/blog/ch-nghia-hi-n-sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh
13. Trần Tiến Dũng, Quỳnh Như Thiên (1994), Chủ nghĩa siêu thực trong thơ Pháp thế kỉ XX, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa siêu thực trong thơ Pháp thế kỉ XX
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Quỳnh Như Thiên
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1994
15. Hà Minh Đức (2006), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
16. Hà Minh Đức (1987), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
17. Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên (2006), Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Việt Nam hình thức và thể loại
Tác giả: Hà Minh Đức, Bùi Văn Nguyên
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
18. Đinh Văn Đức (2005), Các bài giảng về lịch sử tiếng Việt (thế kỷ XX), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về lịch sử tiếng Việt (thế kỷ XX)
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
19. Nguyễn Đạt, Nhà thơ nói về thơ tình http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=3069 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ nói về thơ tình
20. Trường Đinh, Phỏng Vấn Nhà Thơ Du Tử Lê www.dutule.com/D_1-2_2-106_4-3863_5-4_6-1_17-16_14-2_15-2/10/17/2011 07:07 PM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phỏng Vấn Nhà Thơ Du Tử Lê
21. Trọng Đức, Bộ mặt ngạo mạn của Du Tử Lê http://dcvonline.net/modules.php?name=News&file=comments&sid=485&tid=15267&mode=nested&order=&thold= Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ mặt ngạo mạn của Du Tử Lê
22. Bằng Giang (1961), Từ thơ mới đến thơ tự do, NXB Phù Sa, Sài Gòn 23. Gordon E. Bigelow, Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh, triethoc.edu.vn 24. Lê Bá Hán,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006), Từ điển thuật ngữ Văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ thơ mới đến thơ tự do", NXB Phù Sa, Sài Gòn 23. Gordon E. Bigelow, "Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh", triethoc.edu.vn 24. Lê Bá Hán,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2006), "Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Bằng Giang (1961), Từ thơ mới đến thơ tự do, NXB Phù Sa, Sài Gòn 23. Gordon E. Bigelow, Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh, triethoc.edu.vn 24. Lê Bá Hán,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Phù Sa
Năm: 2006
7. Nguyễn Vĩnh Châu (Đài VOA) http://dutule.com/D_1-2_2-106_4-2824_5-4_6-3_17-16_14-2_15-2/ Link
14. Đặc điểm ngôn ngữ thơ, http://www.go.vn/diendan/showthread.php?583657-Dac-diem-ngon-ngu-tho 14-11-2010 15:24 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w