1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng từ 1986 tới nay

104 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận văn là Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng từ 1986 tới nay, nhằm khảo sát để thấy được nét đặc trưng của truyện ngắn Ma Văn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO THỊ MINH HƯỜNG

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN

MA VĂN KHÁNG TỪ 1986 TỚI NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐÀO THỊ MINH HƯỜNG

THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN

MA VĂN KHÁNG TỪ 1986 TỚI NAY

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS Hà Văn Đức

Trang 3

Chương1 Hành trình nghệ thuật của ma văn Kháng và vị trí thể loại

truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn 17

1.2 Vị trí thể loại truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn 23

1.2.2 Vị trí thể loại truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn 27

Chương 2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng 31

2.1 Giới thuyết về nhân vật và vai trò của nhân vật trong truyện ngắn 31

2.2 Các kiểu nhân vật chính trong truyện ngắn Ma Văn Kháng 36

Trang 4

2.2.4 Nhân vật vượt lên số phận 54

Chương 3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng 63

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua yếu tố nhân tướng, nghề nghiệp 63

3.1.2 Yếu tố nghề nghiệp 70 3.2 Nghệ thuật xây dựng qua yếu tố tâm linh 74

Trang 5

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Ma Văn Kháng là nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam đương đại Bảy mươi tư tuổi đời và trên năm mươi năm cầm bút, với tinh thần miệt mài, cần mẫn, với niềm say mê, đau đáu với nghề, Ma Văn Kháng thực sự “giàu có” trong khu vườn văn của mình: với 13 tiểu thuyết, trên 200 truyện ngắn, và một hồi ký văn chương đầy đặn…đã phần nào đáp ứng lòng mong mỏi của không chỉ đồng nghiệp mà với cả đông đảo công chúng yêu văn chương ông Có thể nói, văn Ma Văn Kháng luôn thấm đẫm chất đời và mang hơi thở cuộc sống, nó không chỉ in đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật của nhà văn, mà ngay từ khi ra đời nó đã dự báo tính thời đại của đời sống văn học và tinh thần nhân văn mới mẻ

Có được điều ấy chính bởi dòng chảy văn chương của nhà nghệ sỹ được khơi từ mạch nguồn ấm áp của chính cuộc sống Mỗi trang viết của ông không chỉ thấm đẫm những quan niệm nhân sinh, thế sự mà dường như soi thấu tâm can, gan ruột con người, mỗi tác phẩm vừa là tiếng nói đồng cảm, sẻ chia với nỗi đau khổ của con người vừa đấu tranh quyết liệt cho cái đẹp, cái thiện ở cuộc đời

Cùng thời với các nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam trong giai đoạn văn học sau 1975, đặc biệt là dòng văn học sau Đổi mới như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng không còn là cái tên xa lạ với cả người yêu văn chương cũng như giới phê bình nghiên cứu Bởi lẽ, “ngay từ những sáng tác đầu tay, người cầm bút đã đến với người đọc trong tư cách một nhà văn có ý thức về chỗ đứng trong vương quốc văn chương, nghệ thuật” (PGS TS Lã Nguyên) Có thể nói, với số lượng tác phẩm ra đời đều đặn chính là cách Ma Văn Kháng đáp lại những tình

Trang 6

cảm yêu mến của công chúng đối với ông, cũng như minh chứng những lao động nghệ thuật nghiêm túc, không ngừng sáng tạo và tìm tòi nhằm xác lập một hướng đi, một lối ra cho tiểu thuyết và truyện ngắn đương đại của nhà văn

Thành tựu của Ma Văn Kháng kết tinh ở cả hai thể loại: tiểu thuyết và truyện ngắn Đặc biệt là truyện ngắn, một thể loại “giống như một búp chè được sao khô, nén chặt lại, nhưng khi dội nước vào thì tở ra, cho cả một đại dương nước trà thơm” [27; 414] ấy đã đưa nhà văn đến với duyên văn chương và trình

trước làng văn đứa con tinh thần đầu đời của mình, đó là truyện ngắn Phố cụt

(1961) Từ dấu mốc đầu tiên này, truyện ngắn đã tiếp tục góp phần khẳng định tên tuổi nhà văn và sau này giúp Ma Văn Kháng gặt hái được những thành công nhất định: Với Giải nhì (không có giải nhất) – cuộc thi truyện ngắn Báo Văn

Nghệ 1988; Giải “Cây bút vàng” trong cuộc thi truyện ngắn và ký năm 1996 –

1998 do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam đồng tổ chức; giải thưởng văn học ASEAN, 1998; giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I, năm

2001 Những giải thưởng ấy đã ghi nhận những lao động nghệ thuật bền bỉ, sung sức trên cánh đồng văn chương của ông đối với văn học Việt Nam hiện đại

Trong luận văn này, chúng tôi quan tâm tới những cống hiến và đóng góp

to lớn của Ma Văn Kháng ở mảng truyện ngắn, đặc biệt là thế giới nhân vật vô cùng phong phú trong sáng tác của nhà văn ở thể loại này Đó là sự chọn lựa không chỉ xuất phát từ tình cảm cá nhân mà còn từ một nhu cầu khoa học thực

sự Thông qua một hiện tượng tiêu biểu cũng như những đóng góp to lớn của một cá nhân, để qua đó đánh giá được thực tiễn phát triển của thể loại này trong giai đoạn văn học Đổi mới nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung

Đã có không ít bài viết, công trình nghiên cứu về sáng tác của Ma Văn

Trang 7

và hệ thống về thế giới nhân vật, đặc biệt là thế giới nhân vật trong sáng tác của ông ở mảng truyện ngắn sau năm 1986

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận văn là Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng từ 1986 tới nay, nhằm khảo sát để thấy

được nét đặc trưng của truyện ngắn Ma Văn Kháng và khẳng định sự tìm tòi, đổi mới đối với giá trị nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng, từ đó góp phần khẳng định tài năng, tâm huyết và đóng góp to lớn của nhà văn đối với nền văn học Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề:

Nhìn lại sự nghiệp sáng tác của nhà văn chúng ta có thể nhận thấy Ma Văn Kháng không chỉ thành công ở mảng tiểu thuyết mà cả ở thể loại truyện ngắn Song hành cùng với chặng đường sáng tác của ông, đặc biệt từ sau khi văn học phất lá cờ đổi mới, các tác phẩm của nhà văn càng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học

Điểm lược các công trình nghiên cứu, các bài báo, từ báo viết đến báo

mạng viết về Ma Văn Kháng, có thể kể đến như: Lã Nguyên – Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn, 1999; Nguyễn Đăng Điệp - Cảm nhận về Đầm Sen của Ma Văn Kháng, Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 5, 1998; Nguyễn Thị Huệ - Tư duy mới về nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng những năm 80, Tạp chí Văn học, số 2, 1998; Xuân Tùng, Nhà văn Ma Văn Kháng trả lời phỏng vấn: “Nhà văn cần có cái tâm”, Giáo dục Thời đại, ngày 24/4/1999; Hoàng Yến, Truyện ngắn San Cha Chải – bài ca của Thuyết tính

thiện, Tạp chí Văn hóa văn nghệ Công an, số 11, 1998; Võ Văn Trực- Nhà văn

Ma Văn Kháng: Chi chút như con ong làm mật, http://antgct.cand.com.vn ;

Nguyễn Ngọc Thiện - (2000), Tài năng và bản lĩnh nghệ sĩ, Nxb Hội Nhà văn,

Hà Nội; Nguyễn Ngọc Thiện, Hỏi chuyện nhà văn Ma Văn Kháng, Báo Văn

Trang 8

nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 45, 1998; Đặng Hiển, Một chiều giông một bài ca lao động, một niềm tin ở con người và sự sống, Báo Giáo dục và thời đại, số 20, 2003; Bùi Hiển, Vẻ đẹp thuần khiết trong Trăng soi sân nhỏ, Văn nghệ, số 12, 1995; Trần Bảo Hưng, Đọc Heo may gió lộng của Ma Văn Kháng, báo văn nghệ, số 47,1993; Nguyễn Thị Bích - Nhân vật người phụ nữ trong

gió-"Trốn nợ" của Ma Văn Kháng; Đỗ Phương Thảo (2008), Nghệ thuật tự sự trong

sáng tác của Ma Văn Kháng, Nxb Văn học, Nguyễn Tiến Lịch (2007)- Thi pháp truyện ngắn Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sỹ - ĐH KHXH &NV, ĐHQG

HN, Trần Thị Thanh Huyền (2007), Tiểu thuyết về đề tài miền núi của Ma Văn

Kháng, Luận văn thạc sỹ - ĐH KHXH &NV, ĐHQG HN, Nguyễn Thị Hoa (2008)- Tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sỹ - ĐH

KHXH &NV, ĐHQG HN; Dương Thị Thanh Hương (2009) Phong cách tiểu thuyết Ma Văn Kháng, Luận văn tiến sỹ - ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN…Các

bài báo, công trình nghiên cứu này đều tập trung khai thác các khía cạnh, các mảng đề tài, đa diện, đa chiều, nhằm tìm ra những cái đẹp của văn chương Ma Văn Kháng, cũng như sự nỗ lực, cống hiến hết mình cho văn chương, nghệ thuật của ông Điều này cho thấy Ma Văn Kháng và sáng tác của ông được dư luận chú ý quan tâm và ít nhiều cũng là một hiện tượng nổi bật của văn học đương đại

Trên cơ sở tìm hiểu các công trình nghiên cứu, phê bình và các bài báo viết về Ma Văn Kháng, chúng tôi xin điểm lại một số khuynh hướng đề cập đến đặc điểm truyện ngắn, sự thể hiện phong cách văn chương, quan niệm nghệ thuật về con người cũng như thế giới nhân vật trong sáng tác của Ma Văn Kháng, ở cả hai giai đoạn trước và sau Đổi mới

Với những sáng tác những năm 1986 trở về trước, thực tế cách phân

Trang 9

này, tuy nhiên chỉ mang tính tương đối và chứa đựng mục đích nghiên cứu của người viết Vì thực chất dòng chảy văn chương của Ma Văn Kháng là một mạch nguồn xuôi chiều, tiếp nối và phát triển Nói tới những sáng tác của ông ở giai đoạn này, đặc biệt, khi quan tâm tới thế giới nhân vật của Ma Văn Kháng, nhà nghiên cứu Lã Nguyên cho rằng: “Đời sống con người và xã hội vùng biên ải gắn chặt với trình độ văn hóa, một giới hạn văn minh Thế giới ở thời mới khai thiên là nơi ngự trị của cái hoang sơ, rừng rú Vô khối con người ở đây không ý thức được hành vi của mình Cho nên, không phải ai có dính líu với địch đều là

kẻ thù của nhân dân Có lẽ Ma Văn Kháng đã viết Giàng Tả để nói lời minh oan cho những con người như thế”[23;12] Trước Đổi mới, Ma Văn Kháng tập trung viết về đề tài miền núi, giai đoạn này cũng là sự thử nghiệm của ngòi bút nên các tác phẩm của ông chưa thực sự nổi bật, các bài viết về nhà văn cũng thưa thớt

Xa Phủ là tập truyện ngắn đầu tay của Ma Văn Kháng Sự xuất hiện của

tập truyện đã gây chú ý và có một số bài viết đánh giá Có thể kể đến bài viết đầu tiên của tác giả B.V.N đăng trên Báo Nhân dân ngày 5/7/1970 Theo B.V.N

thì Xa Phủ nhắc đến cái cũ để thấy được bản chất tốt đẹp của xã hội ta, phản

ánh một cách tập trung sự đổi mới của các dân tộc ít người vùng Tây Bắc”

Khi khái quát những sáng tác của Ma Văn Kháng về miền biên ải Lã Nguyên nhận định: “Mọi sự chú ý của nhà văn đều hướng về vùng biên ải

Vùng biên ải là nhan đề một cuốn tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Các truyện ngắn Giàng Tả, kẻ lang thang, Vệ sỹ của quan châu, Ông lão gác vườn và con chó Phúm, Mã Đại Câu – người quét chợ Mường Cang, Móng vuốt thời gian, Thím Hoóng… đều là những truyện ngắn đặc sắc viết về vùng biên ải Đây mới

đúng là mảnh đất cung cấp nhiều chất liệu giúp Ma Văn Kháng đưa ra những khái quát nghệ thuật mới mẻ”; “Sáng tác của Ma Văn Kháng gợi dậy ở người

Trang 10

đọc tình cảm xót xa, vừa giận vừa thương: xót xa những kiếp người không được làm người, thương cho sự hoang sơ, mông muội và giận thay cho sự bạo tàn, man rợ mang “hình sắc của thời mới khai thiên” [23; 14] Nhìn chung, khi bàn

về tác phẩm của Ma Văn Kháng trong giai đoạn trước Đổi mới, giới nghiên cứu phê bình đều thống nhất khẳng định sáng tác của nhà văn hầu như tập trung vào

đề tài miền núi, những con người miền núi, những vùng đất, những cảnh đời ông đã chứng kiến và đi qua trên miền biên ải còn nhiều hoang sơ của “thời mới khai thiên” này

Sáng tác của Ma Văn Kháng thành công hơn ở những năm sau Đổi mới, thế nên số lượng, chất lượng của các bài nghiên cứu ở hai thời kỳ này cũng có

sự khác biệt Sau năm 1986, vẫn tiếp tục mảng đề tài về miền núi Tây Bắc, tuy nhiên, giai đoạn này, ngòi bút của Ma Văn Kháng không chỉ hướng tới những vấn đề xã hội, con người của miền núi mà văn chương ông đã dành phần lớn

“mối quan hoài” về con người, tình đời trong đời sống xã hội vùng thành thị và nông thôn đang thay đổi từng ngày cùng công cuộc đổi mới của đất nước nhìn dưới góc độ đạo đức, nhân sinh Với nhãn quan tinh tế, thái độ bao dung và tấm lòng nhân ái, Ma Văn Kháng đã bóc dần những lớp lang của đời sống xã hội thể hiện trong từng cảnh sinh hoạt đời thường, những quan hệ, những cách ứng xử phô bày sự lựa chọn theo lợi ích cá nhân của con người trước trục xoay biến ảo của nền kinh tế thị trường; “sự đốn mạt, ma quái, tà ngụy của cuộc đời từ góc

độ nhân tính” [23; 18]; “sự thiếu hụt nhân tính, thói vụ lợi tầm thường, thói đạo đức giả, thói đố kỵ ghen ghét, tính ích kỷ thâm căn, khả năng không thể thương yêu người khác ngoài mình, ngoài huyết thống, căn bệnh lãnh cảm… là những nguyên nhân đang từng ngày, từng giờ giết chết con người Các truyện ngắn

Người đánh trống trường, Trăng soi sân nhỏ, Bồ nông ở biển, Chọn chồng, Cô

Trang 11

nhiều toát lên tinh thần ấy Về phương diện này, truyện Mảnh đạn có nhiều hàm

ý Thiên truyện để lại trong lòng ta một niềm day dứt khôn nguôi, người ta hóa điên vì vết thương chiến tranh để lại hay vì xú khí của thói ích kỷ và căn bệnh lãnh cảm đang vây bọc quanh mình?” [23; 18]

Có thể nói, “mảng truyện ngắn viết về thành thị của Ma Văn Kháng không phải là những tiếng reo hân hoan trước sự thăng hoa của tình đời, tình người Đằng sau câu chữ của những tác phẩm ấy, người đọc nhận ra tiếng nói ngậm ngùi, cảm khái chứa đựng tình thương và nỗi buồn mênh mông trước một nhân thế đang phai lạt nhân tình” [23; 19]

Có thể khẳng định rằng, sau năm 1986, sự nghiệp sáng tác của Ma Văn

Kháng thực sự nở rộ với hàng loạt những tập truyện Ngày đẹp trời (1986), Heo may, gió lộng (1992), Vòng quay cổ điển (1997), Cỏ dại (2002), Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng (2002), Trốn nợ (2009)… Và ngay lập tức gây xôn

xao dư luận Nhiều bài báo, bài viết, bài phê bình nghiên cứu về truyện ngắn của Ma Văn Kháng tập trung khám phá

Theo tác giả Bùi Việt Thắng, Ngày đẹp trời (1986) là tập truyện mà

“Ma Văn Kháng đã khéo léo khai thác những truyện đời thường mà không rơi vào tầm thường vô vị…mỗi truyện ngắn viết ra như một “nhát cắt ngang” sắc gọn làm nổi rõ hình hài đời sống trong những hình thái phong phú phức tạp của nó” [35; 3] Là một chuyên gia về truyện ngắn, tác giả bài viết có những nhận xét sâu sắc: “Truyện ngắn của Ma Văn Kháng thuộc loại truyện có cốt truyện,

dễ kể lại, dễ nhớ, nhưng không lấy cốt truyện làm mục đích, dù nó là điển hình,

mà có nới rộng kích tấc của truyện ngắn tạo nên sức liên tưởng lớn ở người đọc đến những vấn đề thiết thân trong đời sống xã hội và mỗi con người” [35; 3] Tuy nhiên, để xây dựng chân dung nhân vật, bên cạnh những yếu tố khác, “Ma Văn Kháng cũng rất coi trọng yếu tố ngoài cốt truyện, thường sử dụng ở đầu

Trang 12

tác phẩm trong phần giới thiệu vùng đất và chân dung nhân vật một cách trang

trọng (như Đồng bạc trắng hoa xoè, San Cha Chải)”[67]

Nhận xét về tập truyện Đầm sen (1997), tác giả Nguyễn Đăng Điệp

nhận định: “Trong cái thế giới biến dạng và quay đảo này, con người rất dễ bị tha hóa biến chất” Tác giả bài viết nhấn mạnh “thứ văn đầy chất đời, đầy ắp hơi thở của sự sống, sắc sảo biến hóa và tài hoa”[7]

Trong lời giới thiệu về tuyển tập Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng

Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2002, Lã Nguyên lại đề cập đến đặc điểm truyện ngắn Ma Văn Kháng, đó là “một triết luận hết sức nhất quán Triết luận ấy lấy tình người, tính người và sự hồn nhiên làm mẫu số để nhà văn trò truyện về con người và cuộc đời”, “Những truyện hay nhất của Ma Văn Kháng là những truyện nói về “dòng đời”, “mạch sống”, “Đó là cảm hứng trước vẻ đẹp nhân bản, vừa mang tinh thần thuần khiết phương Đông, vừa phồn thực, cường tráng thấm đẫm cảm quan hiện đại” [23; 9]

Và trong thế giới nhân vật ấy, nhà văn thực sự thành công ở việc xây dựng nhân vật nữ, họ “đời” nhất trong thế giới nhân vật của ông

Trốn nợ, tập truyện ngắn gần đây nhất của Ma Văn Kháng (Nxb, Phụ

nữ, 2008), mở ra trước mắt người đọc một không gian rộng lớn: từ miền rừng núi hoang sơ đến nơi thành thị phồn hoa; từ miền sông nước Nam Bộ đến những vùng rẻo cao Trong không gian đó hiện hữu một thế giới nhân vật phong phú thuộc nhiều tầng lớp và thế hệ từ những người quý phái, sang trọng đến người “dưới đáy” xã hội; “nương theo cốt truyện nhẹ nhàng là những dòng suy tư thầm lặng của nhân vật Mỗi truyện chỉ là lát cắt của đời sống nhưng những dòng tâm tưởng của nhân vật lại có sức khái quát về con người và đời sống xã hội Ma Văn Kháng thường đặt nhân vật vào những tình huống thử

Trang 13

thách” [65] Tác giả Nguyễn Thị Bích nhấn mạnh: đó là một bức tranh thu nhỏ

về cõi nhân gian thời hiện đại.

Chính nhà văn đã tự bộc bạch: “Thôi thúc tôi viết bao giờ cũng là cái đẹp xúc động, thật cao cả, thật khiêm nhường và thật lớn lao trong những hoàn cảnh đau buồn nhất Tôi gửi gắm tin yêu của tôi vào tất cả những cay đắng xót xa của các thân phận Bằng cách đó tôi biểu lộ tình yêu với cái đẹp của cuộc sống” [52]

Có thể khái quát rằng, từ sau 1986, thể loại truyện ngắn của Ma Văn Kháng được các cây bút nghiên cứu quan tâm ở hai vấn đề chính: khát vọng hoàn thiện con người và lòng cảm thương, ưu ái đối với thân phận con người

Nhìn chung, những đánh giá, ghi nhận của các học giả, nhà nghiên cứu

và công chúng về tác phẩm cũng như chặng đường sáng tác của Ma Văn Kháng

là đồng thuận và thống nhất Ông được cả bạn đọc chuyên nghiệp và không chuyên đón nhận nhiệt thành cũng như dõi theo từng bước cống hiến cho nghệ thuật của nhà văn Tuy nhiên, chưa thực sự có một công trình mang tính hệ thống hoặc khảo sát một cách kĩ lưỡng về mảng truyện ngắn, đặc biệt là thế giới nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn từ Đổi mới đến nay Phần nhiều các nhà nghiên cứu mới đi vào một khía cạnh hoặc nghiêng về đào sâu tiểu thuyết Vì vậy, luận văn này hi vọng sẽ góp phần truy tìm căn cội bản thể con người, nghệ thuật xây dựng nhân vật, thế giới nhân vật phong phú cùng những quan điểm nghệ thuật về con người qua việc đi sâu tìm hiểu về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng, nhằm hướng tới một cái nhìn toàn diện và khách quan hơn Thông qua những nghiên cứu này sẽ đánh giá được vai trò và đóng góp của Ma Văn Kháng trong quá trình cách tân hiện đại hoá nghệ thuật xây dựng nhân vật trong thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại

Trang 14

Điểm lại lịch sử vấn đề, có thể thấy thế giới nhân vật trong sáng tác của

Ma Văn Kháng được giới nghiên cứu phê bình đề cập tới một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ở những mức độ nhất định Tất cả những bài viết, công trình nghiên cứu trên đây ít nhiều đều đem lại những gợi ý cần thiết cho chúng tôi trong quá trình triển khai và thực hiện đề tài luận văn

3 Đối tượng nghiên cứu:

- Thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn

Ma Văn Kháng từ năm 1986 tới nay: đối tượng nghiên cứu chính

- Nhân vật trong truyện ngắn của một số nhà văn khác (cùng thời hoặc khác): đối tượng để đối chiếu so sánh

4 Phương pháp nghiên cứu

Mục đích khoa học của luận văn là khảo sát, khám phá thế giới nhân vật đầy phong phú, được bao chứa bởi một cái vỏ khổng lồ là cuộc sống xã hội với nhiều tầng vỉa, đa đoan đa sự, qua đó góp phần khẳng định chiều sâu tư tưởng, giá trị nhân văn và những đóng góp to lớn trong sáng tác của Ma Văn Kháng đối với nền văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới

Để làm nổi rõ những vấn đề liên quan đến đề tài Luận văn, chúng tôi thực hiện một số phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp đặc trưng thể loại, phương pháp thống kê … để có cái nhìn tổng quan hơn về đối tượng nghiên cứu

5 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm ba phần, ngoài phần mở đầu và kết luận thì phần nội dung chính gồm 3 chương

Chương 1: Hành trình nghệ thuật của Ma Văn Kháng và vị trí thể loại truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn

Chương 2: Các kiểu nhân vật chính trong truyện ngắn Ma Văn Kháng Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn

Trang 15

B PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Hành trình nghệ thuật của Ma Văn Kháng và vị trí thể loại truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn

Từ lúc khởi nghiệp cho tới khi trở thành một nhà văn có tên tuổi trên văn đàn, với mỗi nhà nghệ sỹ là khác nhau Có thể với người này được bắt đầu từ một thành công nho nhỏ, một đứa con tinh thần đầu đời, để rồi sau đó đánh dấu một bước ngoặt cuộc đời – đi theo nghiệp viết; có thể với người khác, ước nguyện và tâm hồn ngay từ buổi đầu đã ươm mầm với văn chương nghệ thuật; nhưng cũng có người luôn tâm niệm “sống rồi mới viết, quan trọng là sự trải nghiệm của bản thân, của suy ngẫm trước cuộc sống” (Ma Văn Kháng), toàn tâm toàn ý dành cho lý tưởng, thực hiện lý tưởng lớn lao của cuộc đời mình và hoàn toàn nghe theo tiếng gọi của con tim: cống hiến trí lực của mình cho tổ quốc Đinh Trọng Đoàn – Ma Văn Kháng là một trường hợp như vậy Ở ông, khởi thủy là lý tưởng cháy bỏng của thời thanh niên sôi nổi: “Đây là thời kỳ

mỗi lần miệng cất lên câu hát Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian là một lần con

tim rộn ràng sôi sục, là như có lửa thốc ở trong lòng Đây là thời kỳ trong môi trường tập thể đâu đâu cũng có thể bắt gặp các câu chuyện nói đến, trước hết là

Paven Coócsaghin trong Thép đã tôi thế đấy của N Ôxtrốpxky, rồi đến Paven Vơlátxốp trong tiểu thuyết Người Mẹ của M Goócky Sau nữa là Đankô với trái

tim bốc lửa móc ra từ lồng ngực Là Chim báo bão Là Dôi-a, nữ anh hùng du kích Liên Xô, là Matrôxốp chiến sĩ Xô Viết lấp lỗ châu mai Là Mariétxép anh hùng phi công thương binh cụt chân trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại Sao tôi yêu thế tuổi thanh niên ra chiến trường chống quân bạch vệ của N.Ôxtrốpxky

và tuổi trẻ cần lao phong trần của Mácxim Goócky! Những mẫu hình đẹp nhất của phẩm giá con người thời ấy sao mà phong phú, và có sức thôi miên con người đến thế!"[27; 36] Và lý tưởng ấy đã dẫn đường cho ông đi tới mảnh đất

Trang 16

địa đầu tổ quốc để gieo mầm tương lai – người lái đò tri thức Như thấu hiểu tới tâm can đồng nghiệp của mình, sau này, chính Bùi Bình Thi khẳng định: “Tôi dám chắc những năm chập chững đầu đời này, Ma Văn Kháng không hề nghĩ đến mơ ước rồi sau này sẽ viết văn Không đâu, nếu vậy đã không còn gì là chập chững Nhưng có điều này, ở đời, dẫu bất cứ là nghề nào khi nó thành nghiệp, nhất là nó lại trở nên là nghiệp chướng nữa, thì người đời nghĩ đến ngay cái nghề ấy, cái nghiệp chướng ấy nó có linh hồn”

1.1 Hành trình nghệ thuật của Ma Văn Kháng

Hành trình nghệ thuật của một nhà văn luôn song hành và gắn bó với cuộc đời Văn được chắt, cất và tinh lọc từ cuộc đời mà ra Với Ma Văn Kháng cũng không là ngoại lệ, văn ông tự nhiên, tuôn chảy từ mạch nguồn cuộc sống,

từ sự trải nghiệm và cống hiến cho cuộc đời một cách nghiêm cẩn nhất Nói như Gabrien Máckét, đại ý: Nhà văn phải sống với toàn bộ đời sống hiện thực, với các biến cố và huyền thoại của nó, đồng thời phải dùng chính đời sống để giải

thích đời sống [27; 42] Đây có thể xem là một yếu tố cốt tử, một nguyên tắc

bất biến đối với nhà nghệ sỹ khi họ muốn kiến tạo nên đứa con tinh thần của mình Với Ma Văn Kháng, đó chính là sự ngầm định cho hướng đi, trên con đường duy nhất - văn chương - thứ “nghiệp chướng” vô vàn khổ hạnh nhưng cũng hết sức thiêng liêng, lớn lao và hạnh phúc trọn vẹn đối với ông Nói như

Võ Văn Trực: “Ma Văn Kháng đã biến tất cả những thứ thu lượm được thành năng lượng tâm hồn và trào chảy ra đầu ngòi bút” [51]

Nói tới thành công hôm nay của Ma Văn Kháng, bạn đọc vốn đã yêu mến nhà văn không thể nào quên hình ảnh một thanh niên Hà Nội, trong dáng thư sinh, trong trẻo, nhưng đầy hoài bão và lý tưởng cách mạng sục sôi cùng cây đàn ghita - hành trang lên đường, vượt qua trên một trăm cây số đường núi đầy

Trang 17

người: Tây Bắc Đến đây, người viết lại hình dung: có lẽ, chính thực tế cuộc sống, niềm khát khao đến cháy bỏng của lớp lớp trí thức trẻ ngày ấy đã trở

thành biểu tượng đi tới trong Tiếng hát con tàu của cố thi sỹ Chế Lan Viên ở

giai đoạn lịch sử này

Với Ma Văn Kháng, cái ấn tượng như khảm khắc vào tâm hồn con người không thể nào nguôi quên ở cái buổi ban đầu ấy lại chính là hiện thực cuộc sống còn khó khăn ở miền miên viễn này Có thể nói, hoàn cảnh làm nên con người, càng khó khăn bao nhiêu, sức mạnh tiềm tàng trong con người càng trở nên mạnh mẽ, quyết liệt bấy nhiêu Đinh Trọng Đoàn đã để lại sau lưng cái vinh dự được trở về tiếp quản Thủ đô ngày ấy, vinh dự mà không phải thanh niên ưu tú nào cũng có được, để đến mảnh đất dường như chưa bứt ra khỏi hậu quả của chiến tranh Ông vừa tham gia dựng trường, dựng lớp, vận động đồng bào cho con em đến trường, vừa tham gia các hoạt động dân sinh, đến những nơi bà con cần tới cán bộ, cần tới tri thức nhất Với Ma Văn Kháng, những công việc ích dụng như vậy là việc không nề hà Sự thâm nhập cuộc sống vừa như tự thân, vừa như riết róng ấy đã giúp Đinh Trọng Đoàn - Ma Văn Kháng nắm bắt sâu sắc nhiều tầng vỉa của cuộc sống; thấu hiểu và thực sự trải nghiệm; đồng cảm được với nhiều mảnh đời và số phận con người; điều đó càng khiến ông thêm gắn bó với con người, cuộc đời này; và sau tất cả, như có một tiếng nói từ bên trong, lớn lao, thôi thúc ông mãnh liệt: viết về cuộc sống ấy Có thể nói, cuộc sống là thứ kết dính giữa lý tưởng, lẽ sống và tâm hồn ông với văn chương nghệ thuật Nói như nhà văn trẻ Phạm Duy Nghĩa: “cuộc sống gợi những nỗi niềm nhân văn quá nên tự nhận lòng phải viết” Và như nhà văn Nguyễn Kiên từng bộc bạch: “ Tôi nghĩ, những ai đã có duyên nợ với văn chương không dễ rời hẳn mảnh đất này Khi đã qua những trải nghiệm cuộc sống, lòng yêu văn chương sẽ thôi thúc người viết cầm bút trở lại” Đúng vậy, từ cuộc sống hiện

Trang 18

thực ngày ấy đã bắt rễ cho một khát khao mới, lớn dần và đang cựa mình trong tâm hồn nhà giáo trẻ, tạo nên bước ngoặt lớn lao, quyết định tới sự hình thành nhen nhóm nên một nhà văn lớn trong tương lai, điều mà trong sự lựa chọn của mình, Đinh Trọng Đoàn – Ma Văn Kháng không bao giờ hình dung tới Cuộc sống và viết đã khiến Ma Văn Kháng luôn thức nhận: “Một khi kiến văn được

mở rộng, vốn sống trực tiếp được bổ sung bằng vốn sống gián tiếp và lí luận dẫn dắt, những con chữ sẽ trở nên cứng cáp, sức lực dồi dào, vóc dáng mạnh mẽ như con người” [46; 339] Ông luôn ý thức rằng “Để có những trang viết sâu sắc, cảm động, phải nỗ lực rất nhiều, phải có hiểu biết mang tính chất học thuật sâu sắc” [8] Cùng với những ý thức về nghiệp viết hết sức nghiêm túc ấy là một nguyên tắc dường như không thay đổi của Ma Văn Kháng: “Ngày nào cũng viết Không viết cái dài thì viết cái ngắn Không viết cái ngắn thì viết đề cương

Không viết đề cương thì viết ý nghĩ chợt đến ” [49]

Đúng như nhận định của nhà văn Nguyễn Ngọc Thiện: “Con đường mà

Đinh Trọng Đoàn từ một chàng trai đầy nhiệt huyết, nuôi dưỡng hoài bão lớn trong lập thân, lập nghiệp, qua cương vị nhà giáo trẻ tận tâm, tận lực với nghề dạy văn ở bậc phổ thông và có đôi chút năng khiếu văn chương đến sự khẳng định tài năng của cây bút trẻ Ma Văn Kháng vào những năm 60, 70 – thật không dễ dàng chút nào! Được khích lệ, anh vững tâm cầm bút, quyết chí đeo đuổi nghiệp văn, trở thành một cây bút vững vàng, có nghề trong khi vẫn đảm nhiệm công việc của một viên chức nhà nước (nhà giáo, trợ lý – thư ký của Bí thư Tỉnh ủy, nhà báo và sau này nhà quản lý trong cơ quan xuất bản)” [48]

Có thể khẳng định rằng, hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng được

đánh dấu từ truyện ngắn Phố cụt in trên Báo Văn nghệ năm 1961 Tuy nhiên,

truyện ngắn có tính chất ghi dấu ấn sâu sắc đối với Ma Văn Kháng, theo đó, đã

Trang 19

Phủ (1969) Chính nhà văn từng bộc bạch: “Xa Phủ, cái mốc son trên con

đường đi với văn chương của tôi! Cảm hứng từ truyện ngắn này được nuôi dưỡng, trở thành xung lực mãnh mẽ khiến tôi viết được cả loạt truyện ngắn tiếp theo với nhân vật, cuộc sống là vùng đồng bào các dân tộc, để năm 1969 tôi được Nhà xuất bản Văn học in cho tập truyện ngắn đầu tay cũng mang tên Xa Phủ” [27; 184]; và liền ngay sau đó, ông tiếp tục cho ra đời 4 tập truyện ngắn:

Mùa mận hậu (1972); Người con trai họ Hạng (1972); Bài ca trăng sáng (1972); Cái móng ngựa (1974) Năm 1974 Ma Văn Kháng trở thành hội viên

Hội Nhà văn Việt Nam Một năm sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, Ma Văn Kháng tạm biệt mảnh đất Lào Cai - miền đất Tây Bắc của tổ quốc, để về chính nơi ông được sinh ra: Hà Nội Có thể nói, 22 năm ấy “biết bao là tình” nhưng cũng còn đó không ít “nhọc nhằn”, “nhớ thương” Có lẽ, khi đã tạm biệt mảnh đất Tây Bắc rồi, nhìn lại chặng đường đã qua, để bắt đầu đi tới, Ma Văn Kháng đã không thể dự cảm hết được những khó khăn đang chờ ông trước mắt

Về Hà Nội, có thể là cơ hội to lớn mở ra với bao người, song cuộc đời vốn vẫn muốn thách thức ông, một con người luôn cháy ngời lý tưởng đẹp đẽ và tình yêu cuộc sống đến không cùng, ông đã phải đối mặt với bao nỗi nhọc nhằn mưu sinh, thế sự dường như là quá sức đối với con người Nhưng có lẽ, chính những giai đoạn đan kết bao khó khăn khắc nghiệt và đáng nhớ nhất này cộng với khoảng thời gian trên hai mươi năm sống tại Lào Cai đã thôi thúc mạnh mẽ ngòi bút ông ghi lại: đó là những câu chuyện thấm đẫm chất đời, tình người và

dư vang của một thời kỳ lịch sử xã hội còn chưa thoát ra khỏi những nỗi đau, sự nhọc nhằn Chính nhà văn thừa nhận, đại ý: thời kỳ này dù có quá nhiều khó khăn trong cuộc sống đối với tôi, song nhìn lại, tôi thấy đó là một may mắn May mắn là ở chỗ, tôi được tôi luyện trong một thời kỳ lịch sử quan trọng – đất nước tiến hành đổi mới - giai đoạn mở ra nhiều vấn đề lớn lao cho người sáng

Trang 20

tác khơi dòng, cộng với sự trải nghiệm của hai mươi năm cầm bút và sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong mĩ cảm của nhà nghệ sỹ (so với những quan niệm học thuật còn ấu trĩ của giai đoạn trước Đổi mới, như nhà văn từng thừa nhận), hơn thế, khi ấy cộng với độ chín của tuổi nghề đã giúp tôi có sức bật lớn

Vì vậy, có thể khẳng định rằng: đây là thời kỳ nở rộ của truyện ngắn Ma Văn Kháng Hàng loạt tác phẩm đã ra đời trong giai đoạn này và để lại nhiều dư

vang trong lòng người đọc, như: Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986), Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988), Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988), Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết 1989), Đám cưới không có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989), Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết 1992), Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992), Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994), Ngoại thành (truyện ngắn 1996), Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập 1996)…Mỗi con chữ như mặn xót mồ

hôi, nước mắt, chắt ra qua nghiền ngẫm và trải nghiệm từ chính dòng đời, mạch sống của nhà văn và được chuyển vào tác phẩm ở cả hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, đặc biệt là sự thể hiện hình ảnh và bức tranh cuộc đời tác giả một

cách trung thực trong hồi ký văn chương Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương ở những năm cuối của thập kỷ đầu tiên trong thế kỷ 21 này

Tựu trung, nhìn lại những chặng đường lớn trong đời viết văn quá nửa thế kỷ của Ma Văn Kháng, với 22 năm ở Lào Cai (Tây Bắc), trải qua các cương

vị công tác như: hiệu trưởng trường cấp 2, 3 Lào Cai; Thư ký Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai; phóng viên, Phó Tổng biên tập Báo Lào Cai; từ năm 1976 đến nay ở Thủ đô Hà Nội; lần lượt trải qua các cương vị công tác như: Phó Tổng biên tập Nhà xuất bản Lao động, Uỷ viên Ban chấp hành, Uỷ viên Đảng đoàn Hội Nhà văn khoá V, Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài…thì điều sau chót, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi nhà văn nói chung, Ma Văn Kháng nói

Trang 21

con người, cuộc đời cũng như sức sống của chúng trong lòng độc giả Thành quả trong hành trình nghệ thuật trên nửa thế kỷ của nhà văn Ma Văn Kháng, có thể xem là đồ sộ: trên 200 truyện ngắn, tạp văn, 13 tiểu thuyết (tiểu thuyết mới nhất xuất bản năm 2009, do Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành và đã đạt giải thưởng lớn của Hội Nhà văn Hà Nội), và một hồi ký văn chương (2009) Đó có lẽ là những cống hiến lớn lao nhất ông dành cho nghệ thuật và cũng là những món quà quý nhất nhà văn đáp lại một cách chân thành đối với lòng yêu mến của công chúng đã đón nhận văn chương Ma Văn Kháng trong mấy chục năm qua

1.2 Vị trí thể loại truyện ngắn trong sự nghiệp sáng tác của

Trang 22

luận văn, chúng tôi cố gắng giới thuyết sơ lược về truyện ngắn và vị trí thể loại truyện ngắn trong sáng tác của Ma Văn Kháng, trong đó luận văn đề cập đến vấn đề trung tâm mà nhà văn xây dựng trong truyện ngắn là nhân vật và vai trò của nhân vật, đặc biệt là nhân vật truyện ngắn sau Đổi mới, để từ đó làm nổi rõ mối quan tâm hàng đầu của nhà văn trong mảng sáng tác này

1.2.1 Khái niệm truyện ngắn

Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và rộng lớn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hình tượng nghệ thuật cụ thể, hoặc phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh, hay khám phá cái bí ẩn trong đời sống tâm hồn con người… Vì thế trong truyện ngắn thường có ít nhân vật và ít sự kiện phức tạp Vậy, truyện ngắn là gì? Theo Truman Capote cho rằng truyện ngắn “là một tác phẩm nghệ thuật có

bề sâu nhưng lại không được dài” [31; 52] Còn K.Pautốpxki lại định nghĩa về truyện ngắn như sau: “thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái bình thường và cái bình thường hiện ra như một cái không bình thường” (tuyển tập Phan Cự Đệ, Nhà xuất bản Giáo dục, tr 742) Nhà văn Nguyễn Minh Châu hình dung truyện ngắn một cách hình ảnh: “Truyện ngắn như một mặt cắt giữa một thân cây cổ thụ, chỉ liếc qua những đường vân trên các khoanh gỗ tròn kia,

dù trăm năm cũng thấy cả cuộc đời thảo mộc” (Trang giấy trước đèn, tr 267)

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng lại khái niệm: “Truyện ngắn là thể loại năng động

ít bị những quy tắc có tính quy phạm gò bó, chi phối Hình thức truyện ngắn luôn vỡ ra, đổi thay lại, luôn tự xác định tính bền vững của mình” [46; 132]

Theo Từ điển văn học Việt Nam: “Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung

lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một

Trang 23

một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn

đề xã hội” [46; 30] Tuy nhỏ hẹp về quy mô phản ánh thực tại, truyện ngắn vẫn

có khả năng đề cập được những vấn đề xã hội có tính khái quát rộng lớn, sâu sắc Tựu trung, có thể khẳng định rằng, truyện ngắn dù viết về thời đại nào, viết

về cái gì, hay được viết bằng thi pháp gì; dù bị phân định, hay chế ước bởi một thứ lí thuyết nào, hoặc “dù bị hạn chế về qui mô, bị quy tắc bởi độ nén cao, song chúng vẫn có khả năng khai thác sâu những bước ngoặt của số phận”[50]

Chính yêu cầu về độ nén cao và khả năng khai thác sâu những bước ngoặt của số phận trong truyện ngắn, khiến nhân vật của truyện ngắn cũng nằm trong guồng quay chi phối căn cốt mang tính thể loại Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người, từ đó đưa đến một cách hoặc trực tiếp hay gián tiếp

để chúng ta hiểu hơn mặt nào đó của thế thái nhân tình Có thể qua nhân vật Hộ

(Đời thừa – Nam Cao) độc giả phần nào hình dung được cái bi kịch đời sống

thế sự của một lớp văn sỹ thành thị ở những thập niên 50 của thế kỷ 20; có thể

qua Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng – Nguyễn Minh Châu), người đọc như được

tiếp thêm một niềm tin vào cuộc kháng chiến, cho dù còn khốc liệt nhưng nhất định sẽ thắng lợi, và đặc biệt, đằng sau cái nền đầy bão lửa của hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, vẫn lấp lánh vẻ đẹp tâm hồn con người và niềm tin son sắt vào một tình yêu đẹp đẽ đầy nhân bản Hoặc qua cuộc đời của những nhân vật

như thầy Khiển (Thầy Khiển), ông Hoàn (Cái Tý Ngọ), ông Thại (Tóc huyền màu bạc trắng),… của Ma Văn Kháng, lại đem tới cho độc giả những hình dung

và sự sẻ chia đồng cảm với những thân phận nhỏ bé, hữu hạn của con người trước sự giăng bủa của lưới số phận vô hình

Trong bài viết “Tôi viết truyện ngắn” nhà văn Ma Văn Kháng cho rằng:

“Số phận bất kỳ một nhân vật nào, dù có rắc rối đến đâu, cũng được thu vào và

Trang 24

chói sáng ở một giây phút nhất định: ở giây phút ấy nhân vật phát hiện ra mình

là ai; và tôi cố gắng diễn tả thật kỹ lưỡng cái giây phút hệ trọng ấy của mỗi nhân vật trong truyện…tôi cho rằng, ở mỗi truyện ngắn, bao giờ cũng có một điểm rơi ở trọng lực, người viết cần có ý thức (và cả tự do vô thức) về điểm rơi

đó để viết cho hay, để ngòi bút phải thăng hoa xuất thần”[45; 327]

Có thể nói, chỗ khác biệt tương đối rõ nét của truyện ngắn và tiểu thuyết chính là nhân vật Nếu nhân vật của tiểu thuyết thường là một thế giới thì nhân vật chính của truyện ngắn chỉ là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn là thể loại gần gũi với cuộc sống hàng ngày vì nó rất năng động khi xoáy sâu vào những vấn đề nóng bỏng, bức xúc đang được độc giả quan tâm Trong quá trình phát triển, truyện ngắn sẽ thâu nạp thêm những đặc điểm mới phù hợp với thể

loại và sự phát triển của xã hội hiện đại

Ma Văn Kháng thừa nhận: “Tôi, tựu trung vẫn là một người thích viết truyện ngắn theo lối cổ điển, vẫn thủy chung một cách rất khó hiểu với những câu chuyện được viết theo cách truyền thống xưa cũ, tất nhiên là có những yếu

tố biến đổi ở trong đó rồi” [45; 328]

Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Mỗi tác phẩm văn học là một hiện tượng của đời sống được thể hiện qua cái nhìn, qua cách cảm nhận đánh giá mang tính chủ quan của nhà văn Vì vậy, tác phẩm văn học bao giờ cũng thể hiện thái độ, quan điểm, lập trường, tư tưởng, sự sáng tạo của nhà văn, những cảm xúc tâm trạng ý nghĩ của con người được bộc lộ trực tiếp qua những lời lẽ bộc bạch, thổ lộ và làm thành nội dung chủ yếu thì ở trong thể loại

Trang 25

tự sự, một thể loại giàu tính khách quan được thể hiện quá rõ trong tính cách, trong đời sống nội tâm của nhân vật

1.2.2 Vị trí thể loại truyện ngắn trong sáng tác của Ma Văn Kháng

Chiếm một vị trí quan trọng và có khối lượng tác phẩm đồ sộ, truyện ngắn trở thành mảng sáng tác chủ yếu bên cạnh tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Đặc biệt, khi ở vào cái tuổi “xưa nay hiếm”, sức khỏe phần nào không cho phép nhà văn lao tâm khổ tứ trên chặng đường “đi săn hổ giữ” (cách dùng

từ của Ma Văn Kháng khi nói tới công việc viết tiểu thuyết) thì hầu hết thời gian ông dành cho truyện ngắn Có thể nói, trên mảnh đất văn chương đầy duyên nợ này, Ma Văn Kháng vẫn chiếm lĩnh tâm hồn người đọc bằng một lối

đi riêng, không trộn lẫn, khiến ta có cảm tưởng, dù tác phẩm của ông có bị che

đi tên tác giả, người đọc vẫn biết đó là văn Ma Văn Kháng Ở thể loại truyện ngắn của Ma Văn Kháng cũng vậy, dù viết về đề tài gì, viết ở không gian nào, bằng bút pháp gì thì mối quan tâm hàng đầu của nhà văn bao giờ cũng là nhân vật và khắc họa chân dung nhân vật Nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng đôi khi phảng phất cái đẹp thanh khiết, lãng mạn như nhân vật của

Pautốpxki (trong Bình minh mưa), hay Aitơmatốp (trong Giamilia núi đồi và thảo nguyên); có lúc lại lọc lõi, tinh đời như nhân vật của Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Nam Cao (Chí Phèo, Đôi mắt); có lúc lại cộc cằn, thô ráp như nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu)…và nói chung đều sinh động và rất

“đời”

Ma Văn Kháng là nhà văn thành công trên nhiều thể loại Nếu như trước

những năm 1986, những cuốn tiểu thuyết như Đồng bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải (1983), Mùa lá rụng trong vườn (1985)… đã đưa tên tuổi nhà văn

đến với đông đảo công chúng, thì sau Đổi mới, với thành công nở rộ ở mảng

truyện ngắn (tập Ngày đẹp trời (1986) được xem là tập truyện ghi dấu mốc quan

Trang 26

trọng trong thay đổi quan niệm học thuật của nhà văn ở giai đoạn này) với các

tập truyện ngắn và tuyển tập truyện ngắn như: Ngày đẹp trời (truyện ngắn 1986), Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn 1988), Trái chín mùa thu (truyện ngắn 1988), Heo may gió lộng (truyện ngắn 1992), Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn 1994), Ngoại thành (truyện ngắn 1996), Truyện ngắn Ma Văn Kháng

(tuyển tập 1996), đã khẳng định vị trí và tầm cỡ của ông trên văn đàn Truyện ngắn của Ma Văn Kháng đã thực sự để lại những ấn tượng sâu đậm nhất trong lòng bạn đọc và cũng là đề tài trao đổi khá thú vị giữa các nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu văn học vào những năm đầu của Đổi mới đến nay

Nhìn lại hành trình nghệ thuật của nhà văn Ma Văn Kháng, ta thấy truyện ngắn chiếm ưu thế hơn hẳn về số lượng so với tiểu thuyết và các thể loại khác; thêm nữa, được in và tái bản nhiều lần ở các tập truyện, tuyển tập truyện ngắn chọn lọc, trên các báo, tạp chí, trang web Tính cả những tác phẩm viết trước

và sau 1986, Ma Văn Kháng đã công hiến cho nghệ thuật với trên 200 truyện ngắn, tiêu biểu phải kể đến các tập truyện như:

- Ngày đẹp trời (1986),

- Vệ sĩ của Quan Châu (1988)

- Trái chín mùa thu (1988)

- Heo may gió lộng (1992)

- Trăng soi sân nhỏ (1994)

- Ngoại thành (1996)

- Truyện ngắn Ma Văn Kháng, Nhà xuất bản Công an nhân dân (1996)

- Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng, Nhà xuất bản Hội Nhà văn (2002)

- 50 truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng, Nhà xuất bản Văn hóa sài gòn (2006)

- Trốn nợ, Nhà xuất bản Phụ nữ (2009)

Trang 27

Có thể nói, so với nhiều nhà văn khác, thành tựu của Ma Văn Kháng ở mảng truyện ngắn là tương đối đồ sộ Đó là một nhà văn không chỉ luôn cần mẫn mà ông còn là một nghệ sỹ có sức viết khỏe, đều đặn và một tinh thần cống hiến vì nghệ thuật thật hiếm có Sáng tác của Ma Văn Kháng đã và đang thực sự vượt qua được sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian và trở thành phần tài sản

có giá trị không chỉ của nhà văn mà còn của cả nền văn học Việt Nam đương đại Có được thành quả như thế là bởi Ma Văn Kháng rất tâm đắc với truyện ngắn Là một nhà văn mẫn cảm tinh tế trước nhân tình thế thái; nắm bắt nhanh nhạy những biến chuyển bên trong của đời sống xã hội và số phận con người

Là nhà văn, hơn ai hết, Ma Văn Kháng hiểu “truyện ngắn là thể loại rất nhanh đạt tới hiệu quả, nó cho phép ngày hôm nay viết ngay về sự kiện ngày hôm qua (Kôbô Arê) nên nhà văn đã chọn thể loại này để có thể trả lời kịp thời những

vấn đề của đời sống, những truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ, Thầy Khiển, Heo may gió lộng, Ngày đẹp trời,… đã đi thẳng vào những vấn đề nhân tình thế thái,

những mối quan hệ gia đình, thân tộc đang trở nên lỏng lẻo, những vấn đề xã hội đặt ra bức bối, qua đó, nhà văn muốn gián tiếp đưa ra lời đề nghị về cách sống và sự tự đánh giá nhìn nhận bản thân của mỗi con người

Tiểu kết:

Khái quát lại, tổng quan hành trình nghệ thuật của Ma Văn Kháng có thể khẳng định rằng: cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn chiếm một vị trí quan trọng trong hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng Có thể nói, ông đã phát huy được hết năng lực khi lựa chọn truyện ngắn - “cái thể loại văn học bé bỏng” (Mai Ngữ) nhưng lại là thể loại có ưu thế nhất để khám phá và thể hiện cuộc sống Chính từ đó, Ma Văn Kháng đã gieo vào mảnh đất văn chương của mình một mầm sống nghệ thuật mới từ những luống cày đầu tiên còn non nớt trở thành

Trang 28

những đường cày đầy vâm váp, khỏe khoắn, đa sắc mầu và tạo nên những sản phẩm có phong cách riêng độc đáo Cùng với thế hệ nhà văn tiên phong của cao trào đổi mới văn học như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,… và sau này là các nhà văn Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh,… Ma Văn Kháng đã góp phần không nhỏ tạo nên một diện mạo mới cho văn học Việt Nam hiện đại Có lẽ, chưa thời kỳ nào, truyện ngắn nở rộ đầy khỏe khoắn và thấm đẫm chất đời như giai đoạn này Con người được lật xới ở nhiều lớp lang, hình khối khác nhau và không còn được “vuốt tròn” để trở thành những nhân vật lý tưởng như văn học giai đoạn trước 1975 Thân phận con người được khám phá ở tầng sâu nhân bản

Có thể nói, truyện ngắn cũng là thể loại theo suốt hành trình nghệ thuật của nhà văn, từ khi khởi bút gia nhập vào làng văn và giờ đây, khi đã ở cái tuổi xưa nay hiếm, trở thành lớp nhà văn cựu trào của văn học Đổi mới, Ma Văn Kháng vẫn dành sự tận tâm, lòng say mê nghệ thuật và đau đáu với nghiệp viết, ông đã và đang tiếp tục có những đóng góp đáng kể cho nền văn học đương đại Việt Nam Chính thể loại này đã đưa tên tuổi nhà văn trở thành một trong những tác giả tiêu biểu và có nhiều đóng góp nhất trong giai đoạn văn học Đổi mới đến nay

Trang 29

Chương 2: Các kiểu nhân vật chính trong truyện ngắn Ma Văn Kháng 2.1 Giới thuyết về nhân vật và vai trò của nhân vật trong truyện ngắn

2.1.1 Giới thuyết về nhân vật Nhân vật là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực, khái quát tính cách con người Chính vì vậy, theo Từ điển thuật ngữ văn học: “nhân vật

thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người”,

vì thế, “nhân vật luôn luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm” [40; 65] Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu

tả thế giới một cách hình tượng Tuy nhiên, khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ và không chỉ một con người cụ thể nào cả Nó được xem như là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ và không thể đồng nhất

nó với con người có thật trong đời sống

Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của con người Do tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử nên chức năng khái quát tính cách của nhân vật văn học cũng mang tính lịch sử Nói tới nhân vật văn học, Phêđin cho rằng: nhân vật là một công cụ- một công cụ tinh vi sắc bén

Văn hào Đức W.Gớt có nói: “Con người là điều thú vị nhất đối với con người và con người cũng chỉ hứng thú với con người” Con người là nội dung quan trọng nhất của văn học Vì thế có lần M.Gorki khuyên các nhà văn trẻ:

“Anh hãy bỏ nghề viết đi Đấy không phải là công việc của anh, có thể thấy rõ như thế Anh không có khả năng miêu tả con người cho sinh động, mà đấy lại là

điều chủ yếu”(Bàn về văn học) Nhân vật văn học, đó chính là hình tượng nghệ

thuật về con người Văn học lấy nhân vật làm đơn vị nghệ thuật cơ bản để phản ánh hiện thực và thể hiện quan niệm của nhà văn về con người Gắn với thực tiễn sáng tác của mỗi thời đại khác nhau việc thể hiện nhân vật cũng đánh dấu những xu hướng tiến hoá riêng của tư duy nghệ thuật Nhân vật văn học có thể

Trang 30

ví như chiếc chìa khoá dẫn dắt người đọc khám phá thế giới nghệ thuật tác phẩm Nói như nhà phê bình Bùi Việt Thắng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”[46; 249] “Văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng…Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định” [8]

Tựu trung, các nhân vật văn học rất đa dạng Xét về vai trò của nhân vật trong tác phẩm, có thể nói, dù ở thể loại nào, tiểu thuyết, truyện vừa, hay truyện ngắn…đều không thể thiếu nhân vật Nhân vật đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tập trung đề tài, chủ đề và tư tưởng tác phẩm; đồng thời nhân vật mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng và đạo đức tốt đẹp của tác giả, của thời đại

2.1.2 Vai trò của nhân vật trong truyện ngắn

Có thể nói, truyện ngắn “sống” được là nhờ nhân vật, nhân vật chính là yếu tố đầu tiên, có tính cốt tử đối với sự sống còn của truyện ngắn “Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định Với ý nghĩa như vậy, Phêđin cho rằng nhân vật là một

công cụ, ông nói điều này khi bàn về tác phẩm Sống lại của L.Tônxtôi:

“Nhêkhliuđốp là một công cụ tinh vi sắc bén – ngoài Nhêkhliuđốp ra, không ai

có thể vạch ra tốt hơn những bí mật của bọn người nhà nước đang nắm giữ chính quyền, cũng như những bí mật của tâm hồn người Nga đang bị bóp nghẹt dưới chế độ Nga hoàng… Thay thế Nhêkhliuđốp bằng một nhân vật khác, và

như vậy Sống lại cũng mất theo” [9; 126] Có thể nói, nhân vật văn học chính là

nhân tố làm nên diện mạo của tác phẩm văn học nói chung và làm nên phong cách tác giả nói riêng cũng như đúc nên đứa con tinh thần – thứ cầu nối giữa nhà văn – độc giả trong mối quan hệ bền chặt

Trang 31

Nhân vật văn học có thể là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm

văn học và có thể có tên riêng như Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao), Quỳ (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành- Nguyễn Minh Châu), là Nhiên (Nhiên, nghệ sỹ múa - Ma Văn Kháng), Seoly (Seo ly, kẻ khuấy động tình trường- Ma Văn Kháng)…những nhân vật không tên như “tôi” (Đi săn khỉ - Vũ Trọng Phụng), như chị “cả” (Thanh minh trời trong sáng – Ma Văn Kháng), nhân vật

“tôi” (Nhiên nghệ sỹ múa, Trung du chiều mưa buồn, Người giúp việc - Ma Văn

Kháng)… Song cũng cần lưu ý thêm rằng, nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất con người thật trong đời sống Theo Sêkhốp, đại ý: nhân vật truyện ngắn phải được hiểu theo nghĩa rộng, có khi là người, có khi là vật Cho dù là tồn tại dưới dạng nào thì tất cả các nhân vật đều hướng tới con người (Nói như Sêkhốp, đại ý: nếu anh cho tôi chi tiết về cái đèn, ngày mai tôi sẽ có câu chuyện về cái đèn) Như vậy, nhân vật có thể là bất

cứ gì khi nhà văn chọn nó làm đối tượng phản ánh và chuyển tải thông điệp đến với công chúng Nhân vật văn học nói chung còn thể hiện quan niệm nghệ thuật

và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì thế nhân vật luôn gắn với chủ

đề tác phẩm Thêm nữa, nhân vật đảm nhiệm vai trò thiết cốt đối với bất cứ tác phẩm văn học nào: đảm nhiệm vai trò dẫn dắt cốt truyện, giải quyết các xung đột, khâu nối các chi tiết, mang chở ý nghĩa tư tưởng, chủ đề tác phẩm, và là

“cái loa phát thanh” cho tư tưởng, quan niệm nghệ thuật của nhà nghệ sỹ Ở

trường hợp này, các nhân vật Độ (Đôi mắt – Nam Cao), Tnú (Rừng Xà nu – Nguyễn Trung Thành), Lão Khúng (Phiên chợ Giát – Nguyễn Minh Châu), Nam (Trăng soi sân nhỏ) là một ví dụ điển hình Độ (Đôi mắt) là đại diện tích

cực cho một lớp văn sỹ đã thấy được thực tiễn và ý nghĩa lớn lao của cuộc cách mạng, thấy được sức mạnh của quần chúng và xác định con đường duy nhất đúng đắn là tìm về với nhân dân; đồng thời đặt ra một vấn đề quan trọng đối với

Trang 32

nhà văn đó là vấn đề “nhận đường” trong văn học Tư tưởng “nhận đường” của lớp nhà văn thời ấy là một thực tế đặt ra gắt gao, khẩn thiết, và điều này đã

manh nha từ trong Hồi ký Ở rừng (1947) của nhà văn Cũng giống như Độ, Nam (Trăng soi sân nhỏ), cũng là một nhà văn Tuy nhiên, hoàn cảnh của Nam

khác với Độ, thời đại Nam sống có độ lui vài thập kỷ, khi đất nước đang thực hiện công cuộc đổi mới Là một văn sỹ có tên tuổi, Nam luôn là trung tâm chú ý của công chúng và đồng nghiệp, và như vậy, việc các cơ sở có nhã ý mời anh xuống thực tế để viết, để nói chuyện văn chương là chuyện hết sức bình thường, nhưng vốn là người rụt rè, khiêm tốn, Nam luôn giữ kẽ và “chỉ sợ phiền hà cho người khác” Thực tế cuộc sống, đi và viết, Nam gặp nhiều những con người luôn trục lợi, thực dụng, hợm hĩnh và hư vinh (như Bân), những tâm hồn, trí tuệ méo mó, bệnh tật (như Thuấn)…đã khiến anh luôn trăn trở: “văn chương là chuyện đời thông qua việc đào bới bản thể mình ở chiều sâu tâm hồn, chứ đâu phải là đi hớt lấy cái váng bọt nổi trên mặt của ngoại vật Đâu có phải cứ lăn lộn xuống cơ sở, gần gụi cái búa, cái bay, sống giữa tiếng máy, mùi than thì mới viết được văn hay” [23; 442] Suy nghĩ của nhà văn Nam như một lời phản biện lại sự nhận thức có phần ấu trĩ và nhuốm màu tư lợi của một bộ phận văn sỹ đương đại Trở đi trở lại vấn đề đi, viết và sáng tạo nghệ thuật, Ma Văn Kháng muốn đem tới một góc nhìn thẳng đối với quan niệm học thuật và trải nghiệm ngòi bút của nhà văn Văn chính là cuộc đời, nhưng văn chương không thể bê cái khối nguyên tảng cuộc đời ấy vào tác phẩm, bởi cùng với các thành tố khác, văn học còn đặt ra vấn đề yếu tố tài năng và sự sáng tạo nghệ thuật của nhà nghệ sỹ khi kiến tạo nên đứa con tinh thần của mình

Có thể nói, nhân vật văn học được miêu tả qua biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn

Trang 33

Vì vậy nhân vật gắn liền với cốt truyện Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâu thuẫn, nên khác với hình tượng hội họa và điêu khắc nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian, mang tính chất quá trình Chính vì vậy, “nhân vật là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng” Đối với Ma Văn Kháng, hệ thống nhân vật đã phản ánh trung thành, rõ nét quan điểm nghệ thuật

về con người và hiện thực trong các chặng đường sáng tác; phục vụ đắc lực cho việc chuyển tải ý tưởng, thông điệp của nhà văn; qua đó cũng cho thấy sức sáng tạo trong cách xây dựng nhân vật nhưng vẫn in đậm dấu ấn diện mạo rất riêng của nhà văn Nhân vật có vai trò hết sức quan trọng trong tác phẩm, bởi bản thân nhân vật đã khái quá hóa cao độ cuộc sống và con người, kiểu người của thời đại Cố nhiên, nhân vật chính là xương sống, là linh hồn của mỗi tác phẩm, nhân vật cũng là người phát ngôn cho tư tưởng, quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn

Có thể khẳng định rằng, bất cứ sự phân chia nào cũng có tính tương đối Phân định một số kiểu nhân vật của Ma Văn Kháng, chúng tôi không ngoài mục đích khảo sát sự thể hiện của nhà nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo nhân vật của nhà văn qua những đặc trưng cơ bản của từng kiểu loại

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thật sự phong phú

Họ là những công nhân, nông dân, trí thức, những người thợ, những người ở, người đánh xe, công an, người quét chợ, người đánh trống trường, phóng viên, giáo viên, nhà quản lý…tựu trung đều sinh động và rất “đời” trong sáng tác của nhà văn Nói như nhà nghiên cứu Lã Nguyên: “nhân vật của Ma Văn Kháng dù phức tạp đến đâu, có những biểu hiện phong phú như thế nào, sau khi tiếp xúc ta có thể nhận diện Nếu ở tiểu thuyết, số phận của các nhân vật được trải dài theo cuộc đời của nhân vật, thì ở truyện ngắn, đôi khi đó là

Trang 34

những mảnh vỡ Mảnh vỡ số phận của con người trong thế giới nhân vật của

Ma Văn Kháng mang đầy màu vẻ, và chúng tôi, đứng ở giác độ nghiên cứu lại muốn cô chúng trong một số kiểu loại nhân vật, có nghĩa rằng, các kiểu nhân vật của Ma Văn Kháng không gọi tên theo nghề nghiệp, theo chức phận xã hội của nó mà được gọi theo một “mô hình con người” [39] Nói như vậy không có nghĩa là mỗi quan niệm về con người của nhà văn sẽ tương ứng với một kiểu nhân vật nhất định Tuy nhiên, việc đưa ra những kiểu nhân vật dưới đây, chúng tôi phần nào căn cứ vào tác phẩm cụ thể, đồng thời gắn chúng với những quan niệm của nhà văn về con người trong quá trình xây dựng nên thế giới nhân vật phong phú này

Có thể khẳng định rằng, thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng vô cùng đông đảo và đa dạng, nhưng không phải bất cứ nhân vật nào cũng minh họa cho một kiểu nhân vật nhất định Bởi có những nhân vật, có thể cùng một lúc hội tụ một vài tính cách tạo nên một kiểu con người nào đó được nhà văn xây dựng, nhưng đôi khi có nhân vật chỉ hiện diện như những “nhân vật đám đông” và không tạo thành một kiểu nhân vật nào cả Xác định như vậy, chúng tôi muốn đưa tới sự nhất quán mang tính tương đối về những mô hình, những kiểu nhân vật được minh họa trong luận văn này Trong thế giới nhân vật đông đảo ấy, chúng tôi tạm phân định thành bốn kiểu loại nhân vật: Đó là kiểu nhân vật người yếu đuối, nhân vật bi kịch, nhân vật tha hóa và nhân vật vượt lên số phận

2.2 Các kiểu nhân vật chính trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

2.2.1 Nhân vật người yếu đuối

Có thể khẳng định rằng, các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng đều đi từ một đặc điểm chung là hướng về khắc họa những số phận con

Trang 35

và chủ yếu bằng: đó chính là con người Mọi phản ánh dù ở thiên hình vạn trạng, song cuối cùng nó vẫn xoay quanh mối quan tâm tới tâm hồn, số phận con người và suy cho cùng mọi tác phẩm nghệ thuật đều hướng đến con người Các nhà nghệ sỹ của mọi thời đại đều tìm đến con người, giải mã cuộc đời, số phận con người theo những cách riêng của mình - tùy thuộc vào yếu tố thời đại,

xã hội và yêu cầu lịch sử - để đi đến mục đích cuối cùng là hiểu con người hơn, góp phần làm cho cuộc đời nhân bản hơn, tốt đẹp hơn

Cuộc sống luôn chứa đựng những yếu tố phức tạp, vì vậy con người luôn phải gồng mình lên để chống chọi lại cái khó khăn, chật hẹp và bon chen của đời sống Hơn ai hết, người nghệ sỹ với khả năng tinh tế vốn có đã nhận ra những khoảng không bình yên và chứa đầy mâu thuẫn, giằng xé trong tâm hồn con người, sự khuyết thiếu và yếu nhược về bản lĩnh của con người trước hoàn cảnh khi chúng trở nên tương đối phức tạp Ma Văn Kháng cùng với các nhà văn thời kỳ đầu của Đổi mới đã khái quát hiện thực chủ yếu bằng các nhân vật loại hình Đó là những “nhân vật thể hiện tập trung một loại phẩm chất, tính cách nào đó của con người hoặc các phẩm chất tính cách, đạo đức của một loại người nhất định của một thời đại” (theo Từ điển Thuật ngữ văn học) [41; 66] Hạt nhân cốt lõi của kiểu nhân vật này là yếu tố “loại” chứ không phải là cá tính Vì vậy, chúng có khả năng khái quát cao Nếu trong văn học trước 1975, các nhân vật loại hình đã thể hiện tập trung những phẩm chất ưu tú của dân tộc, thời đại, trở thành những hình mẫu lí tưởng (nhân vật lí tưởng) của xã hội và

“được miêu tả trong vẻ đẹp kì diệu khác thường” [41; 66]; thì đến văn học Đổi mới, trong bối cảnh đất nước hòa bình, con người đã bước ra khỏi ánh hào quang của chiến thắng để trở về với đời sống xã hội, phải đối diện với mọi nhu cầu cá nhân, khi ấy con người đã trở nên thật hơn rất nhiều Thực tế đời sống khó khăn, thiếu thốn đã có tác động trực tiếp đến tính cách con người, có thể

Trang 36

biến một bộ phận người này thành một kiểu người trở nên lãnh cảm, trơ lạnh, một bộ phận người kia trở thành người tha hóa, “mòn đi”, “ruỗng ra” hoặc có thể biến một bộ phận người trở nên yếm thế, chùn bước, hay trung dung, lo sợ

trước những hoàn cảnh dữ dội – kiểu người yếu đuối Kiểu nhân vật yếu đuối

xuất hiện không nhiều trong truyện ngắn Ma Văn Kháng, tuy nhiên, điều đặc biệt có sức ám ảnh độc giả đối với kiểu nhân vật người yếu đuối là: họ không chỉ là “phái yếu” (phụ nữ), càng không phải là những con người ốm yếu về mặt thể chất, mà tính chất ấy nhằm nói đến một kiểu con người yếu đuối về tính cách, bản lĩnh; và cố nhiên, nhìn ở góc độ nhân vật yếu đuối nó mang một hàm ý: đó là những con người có tính cách yếu đuối, thậm chí nhu nhược về mặt tinh thần, ý chí trong cuộc sống Số phận của những người yếu đuối có phần nào đó gần với nhân vật bi kịch, những con người luôn tự làm nhỏ bé mình Lương tâm, phẩm giá của những con người yếu đuối buổi ban đầu luôn tốt đẹp, nhưng, khi cuộc sống mà họ đang kinh qua gặp phải những sóng gió; những mối quan

hệ gia đình, xã hội trở nên phức tạp bắt họ phải đối mặt, đưa họ vào một phép thử, một sự lựa chọn khắc nghiệt, thậm chí là phải trả giá, mất mát…tất thảy họ đều thể hiện thái độ trung dung, không quyết liệt và kết cục, số phận của những con người ấy đều ngả sang một ngã rẽ mang màu sắc bi kịch Trong một loạt truyện ngắn của Ma Văn Kháng, những con người ở vào hoàn cảnh như Bướm

(Cái bướm tung tăng), Quý (Chọn chồng), Lợi, Hào (Lỡ làng), Hoằng, bà cụ

Mạ (Người giúp việc), Lương (Bồ nông ở biển), Đoan (Heo may gió lộng), Thuấn (Trăng soi sân nhỏ),…đều là những con người không vượt qua được

chính mình để thay đổi số phận Những con người này mặc dù đã có sự “bừng ngộ” về ý thức kiếm tìm hạnh phúc nhưng cuối cùng đều không vượt qua trở ngại quyền lực hay sức cuốn hút của đời sống giầu sang quyền quý cũng như

Trang 37

yêu thời tuổi trẻ đã khiến chị rơi vào lầm lỡ và lấy phải kẻ đầu trộm đuôi cướp (là Kiến) để chịu cuộc đời bất hạnh Đến khi gặp Tốn, một thầy giáo có tâm hồn

và đạo đức tốt, Quý đã tìm thấy tình yêu thực sự với anh nhưng cô không dám giành lấy hạnh phúc của mình vì e sợ một quyền lực vô hình nào đó Bướm

(Cái bướm tung tăng) cũng có hoàn cảnh tương tự Do hoàn cảnh cuộc đời, do

tự ái với tình yêu thuở ban đầu, Bướm đã ghép cuộc đời mình với một người đàn ông làm nghề đạp xích lô, hắn triền miên say sỉn trong rượu chè và luôn chửi bới, đánh đập cô Khi gặp Kha, một thầy giáo có tâm hồn thanh khiết và giàu lòng nhân ái bao dung, Bướm đã yêu Kha và tìm thấy ở anh niềm tin và tình yêu đích thực của cuộc đời mình, nhưng rốt cuộc Bướm đã không dám đấu tranh để vượt qua chính mình, để tìm và giữ lấy cái hạnh phúc của cuộc đời mình Cô, một lần nữa, lại rơi về đúng hoàn cảnh do mình tự dăng mắc, buông xuôi phó mặc cho số phận Có thể nói, các nhân vật nữ này của Ma Văn Kháng đều được tự chọn lấy cách sống cho mình nhưng trên hành trình để xác lập một bước “vượt rào” về số phận ấy, thì họ lại buông xuôi thoả hiệp khi gặp chướng ngại vật Sự thoả hiệp ấy đồng nghĩa với việc họ đầu hàng trước hoàn cảnh và khước từ với chính hạnh phúc của mình

Với bà cụ Mạ trong Người giúp việc lại ở hoàn cảnh khác Là người đi ở

cho gia đình Hoằng, gia đình công chức thành thị, bà cụ Mạ luôn tận tụy với chức phận của mình Vốn là người nhanh nhẹn và thạo việc, bà cụ Mạ đã mau chóng thích nghi với hoàn cảnh nhà Hoằng Bà chăm sóc, nâng niu hai đứa nhỏ như chính chúng là cháu ruột của bà Bà vun vén, chăm lo nhà cửa cho vợ chồng Hoằng Từ cái chum nước luôn đầy Từ những bữa cơm tươm tất…đều

do bàn tay của bà sắp xếp Nhưng lẽ đời lại không xuôi chiều Khi cuộc sống của vợ chồng Hoằng có những mâu thuẫn, từ chỗ xóc máy, chửi bới lẫn nhau,

họ quay ra đổ mọi tội lỗi và trút những xỉ vả lên đầu bà cụ Mạ Vốn là người

Trang 38

hiền lành, “giàu tình thương trẻ, hậu tình, phúc đức” bà cụ Mạ luôn “nhẫn nhịn trong phận tôi đòi, vẫn cúc cung chu đáo không hề giảm sút với chức trách” [23; 359] trước sự lăng mạ vô lối của vợ Hoằng Không dừng lại ở đó, vợ chồng Hoằng còn “lập kế hoạch” để đuổi bà cụ khỏi nhà mình và “vỗ tuột món nợ ân nghĩa” với bà cụ Thật đáng thương, nhưng cũng thật đáng giận cho số phận của

bà cụ Mạ Bà chấp nhận “nhịn nhục” để theo đuổi cái công việc tôi đòi, bà coi công việc “ tôi đòi nó là cái số kiếp”[23; 365] mà quên đi sĩ diện và quyền được tôn trọng tối thiểu đối với bản thân Không còn ở nhà Hoằng, bà cụ Mạ lại đi ở cho nhà khác Kết thiên truyện là lời nói rân rấn trong nước mắt của người con gái của bà cụ Mạ: “em không biết nghĩ thế nào Hay tôi đòi nó là cái số kiếp, là cái thói ỷ lại, dựa dẫm, là cái phận, cái thói quen mà mẹ em và ai cũng có không

vào hoàn cảnh…” [23; 280] Khác với những thân phận người phụ nữ không

dám vượt qua hoàn cảnh, trong sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng ta lại bắt gặp vô khối những người đàn ông nhu nhược, hèn yếu trước hoàn cảnh, thậm

chí đổ lỗi cho hoàn cảnh Trong truyện ngắn Mất điện, đứng bên lề với tư cách

là người kể chuyện, nhà văn đã để cho chính người vợ Luyến quyết liệt tranh biện với chồng về cách sống và lẽ phải qua đoạn đối thoại của họ Luyến cho rằng “trong thời buổi này tốt nhất là không đụng chạm vào ai cả” và anh đã chọn lẽ sống “tránh đi là cách tự vệ khôn ngoan an toàn nhất”[23; 277] Đáp lại mọi lí lẽ của chồng, vợ Luyến cả quyết “Thế còn lẽ phải thì ai bảo vệ? Chả việc

Trang 39

người vợ, Luyến cay đắng thừa nhận: “Tôi hiểu như tôi bây giờ mới là xấu Nhưng tôi không tự tôi điều khiển được tôi, tôi phải không ngoan” Có thể nói, trong một xã hội đầy phức tạp, những con người như Luyến không còn là cá biệt, họ nương theo hoàn cảnh, tự trút bỏ nhân cách của mình chỉ mong được

yên ổn trước sự phức tạp của cuộc sống Trong Bồ nông ở biển Lương lại lâm

vào hoàn cảnh khác Mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu, tưởng là “xưa cũ như trái đất”, vậy mà oái oăm, vẫn xảy đến gia đình Lương “Nghĩa là mối bất hòa thoạt đầu chỉ là những cái li ti nhỏ nhặt Nghĩa là thoạt đầu chỉ là những móc máy vặt vãnh, những tức tối con con từ thời nảo thời nao bới ra, nhưng kết cục

là lăn xả vào nhau, mắng nhiếc nhau không tiếc lời và sau rốt là Lương phải ngửa ngực ra hứng nhận các ngọn giáo công kích từ hai phía” [23; 423] Hàng ngày, phải chứng kiến mối bất hòa của vợ và mẹ, Lương càng thêm nhức nhối, nhưng sự yếu nhược về bản lĩnh, về trách nhiệm bổn phận của người làm con, làm chồng đối anh đã trở thành những nguyên nhân kịch phát những hằn học, giận dỗi của hai người phụ nữ này; và những cuộc cãi vã không dứt ấy đã khiến Lương “cảm thấy mình là một kẻ bất lực”[23; 429] Những con người ấy, chính

họ, đã tự làm mình nhỏ bé và yếu đuối trước cuộc đời Nhà văn đã gửi vào thiên truyện những nỗi xót xa cho nhân tình thế thái và nỗi giận thương cho thân phận con người

Có phần giống hoàn cảnh của Lương, Đoan trong Heo may gió lộng đã

gặp phải bi kịch tương tự Đứng trước một bên là tình ruột thịt máu mủ, một bên là tình nghĩa vợ chồng, cả hai thái cực Đoan đều không dung hòa được, không thể hiện được vai trò trụ cột gia đình để chi phối một cách rành rẽ và hợp đạo lý Cấn cá về lối ứng xử và thái độ hằn học, vô lễ của người vợ, nhưng Đoan cũng không thể có hành động quyết liệt hơn để bảo vệ và bao bọc người chị gái ruột (chị Thảo) của mình đang ở nhờ tại nhà anh để chữa bệnh Sự chi

Trang 40

phối trong vai trò là người đàn ông trụ cột gia đình, là người điều hòa các mối quan hệ thân tộc của Đoan hoàn toàn thiếu vắng Anh phản ứng yếu ớt và kinh

sợ trước sự xấn xổ, tàn nhẫn của vợ Sự xuất hiện của chị Thảo trong nhà Đoan

đã khiến vợ anh “bực bội, khó chịu hết sức” Nghe những lời nói “cạn tàu ráo máng, mất tình mất nghĩa, phũ phàng tàn tệ” của vợ, Đoan chỉ biết “nghiến răng

để khỏi kêu trời” [23; 381] Và xung đột đã nổ bung khi vợ Đoan vin vào câu nói bâng quơ hồi nào của chị Thảo để đay đả với Đoan: “Chẳng quá đáng gì sất Tôi không thể chịu được nữa Bà ấy ở đây thì tôi đi! Tôi đi để 2 chị em ông sống với nhau!” Đoan: “Mẹ Thúy, đừng cả giận mất khôn” Vợ Đoan: “Tôi không thích dính với ai cả!” Đoan: “Sao?” Vợ Đoan: “Tôi-không - thích – dính – với –ai – cả Nghe rõ chưa!” Đứng trước sự giận giữ vô lý của vợ, mặt Đoan “há hốc vì kinh sợ” Chấm dứt xung đột kinh hoàng ấy, là khoảng lặng Đoan cũng im lặng Màn vĩ thanh của thiên truyện là sự ra đi của chị Thảo Là

sự buồn thương của bé Thúy (con gái Đoan) Là dự cảm của Đoan về “cuộc chia lìa hết sức lặng lẽ và đau đớn” với chị gái và “bà chị gái Đoan không bao giờ trở lại với gia đình Đoan nữa”

Những con người như Luyến (Mất điện), Hoằng (Người giúp việc), Lương (Bồ nông ở biển), Đoan (Heo may gió lộng),…đều là những người đàn

ông tốt bụng nhưng lại tỏ ra nhu nhược hèn yếu trước hoàn cảnh, “phụ thuộc một cách hèn hạ vào trước kẻ quyền chức, giàu sang”, “không dám biện hộ cho

tư cách của mình” [23; 362], “cũng như sự hèn nhát, lòng hảo tâm, tình yêu mến, nỗi đau đời, niềm căn giận, thói đố kỵ, ghen ghét, tính ích kỷ thâm căn, khả năng không thể yêu thương kẻ khác ngoài mình ngoài huyết thống minh,…đều có cái mầm nguyên thủy, đều là nghiệp căn trong tăm tối, bền dai như sự sống, vì chính chúng đảm bảo cho sự sống an toàn của mối cá thể con

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Mai Anh (1999), Đặc điểm truyện ngắn của Ma Văn Kháng từ sau 1980, Luận văn thạc sỹ - ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm truyện ngắn của Ma Văn Kháng từ sau 1980
Tác giả: Phạm Mai Anh
Năm: 1999
2. Yên Ba - Ma Văn Kháng sống rồi mới viết, Báo Văn hóa, ngày 13/9/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ma Văn Kháng sống rồi mới viết
3. Nguyễn Văn Dân (1999), Lý luận văn học – Nghiên cứu và ứng dụng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học – Nghiên cứu và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
4. Nguyễn Văn Dân, Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học Xã hội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
5. Phạm Quỳnh Dương (2008) - Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh, Luận văn thạc sỹ- ĐH KHXH &NV, ĐHQG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh
6. Xuân Dương - Bản lĩnh người thầy và ngòi bút chiến đấu của nhà văn, Báo Người giáo viên nhân dân, số 6, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản lĩnh người thầy và ngòi bút chiến đấu của nhà văn
7. Nguyễn Đăng Điệp - Cảm nhận Đầm sen của Ma Văn Kháng, Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 5, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm nhận Đầm sen của Ma Văn Kháng
8. Hà Minh Đức (chủ biên), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Ma Văn Kháng – Cuộc sống miền núi và những trang viết của tôi. Văn nghệ số 395, ngày 7/5/1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống miền núi và những trang viết của tôi
10. Ma Văn Kháng - Sự thức tỉnh những nguồn cảm xúc, Báo Nhân dân, ngày 23/8/1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thức tỉnh những nguồn cảm xúc
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Báo Nhân dân
Năm: 1981
11. Ma Văn Kháng(1988), Trái chín mùa thu, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trái chín mùa thu
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1988
12. Ma Văn Kháng - Ngẫu hứng và tự do sáng tạo, Tạp chí Văn học số 02 năm 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngẫu hứng và tự do sáng tạo
13. Ma Văn Kháng, Những năm tháng tập rèn, Văn nghệ Lao Cai, tháng 12/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những năm tháng tập rèn
14. Ma Văn Kháng (1995), Trăng soi sân nhỏ, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trăng soi sân nhỏ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1995
15. Ma Văn Kháng (1996), Vùng biên ải, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng biên ải
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 1996
16. Ma Văn Kháng (1996), Truyện ngắn Ma Văn Kháng, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Ma Văn Kháng
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1996
17. Ma Văn Kháng - Sự thức tỉnh những nguồn cảm xúc, Báo Nhân dân, ngày 23/8/1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thức tỉnh những nguồn cảm xúc
18. Ma Văn Kháng (1997), Ngoại thành, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại thành
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1997
19. Ma Văn Kháng (1997), Vòng quay cổ điển, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vòng quay cổ điển
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1997
61. Http://www.phongdiep.net 62. Http://antgct.cand.com.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w