Toàn bộ vấn đề Sự vận động phát triển hệ thống chủ đề - đề tài trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm thời Trần đã toát lên một sự giải thoát tự tại chứa đựng những triết lý sâu xa nhưng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ HƯƠNG
SỰ VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI TRONG VĂN CHƯƠNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Ngọc Vương
HÀ NỘI – 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: XÁC ĐỊNH NỘI HÀM CỦA KHÁI NIỆM VĂN CHƯƠNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 7
1.1 Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm 7
1.2 Tác giả văn học trong Thiên phái Trúc Lâm 8
Tiểu kết chương 1 10
Chương 2: SÁNG TÁC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI 11
2.1 Khái niệm chủ đề - đề tài 11
2.2 Hệ thống chủ đề - đề tài qua sáng tác của một số tác giả trong Thiền phái Trúc Lâm 11
2.2.1 Trần Thái Tông 11
2.2.1.1 Con người nhân ái vị tha rộng mở 16
2.2.1.2 Con người giác ngộ với những phẩm hạnh cao cả 19
2.2.2 Tuệ Trung Thượng Sĩ 21
2.2.2.1 Bậc trí có cái nhìn thông đạt xem sống chết là lẽ thường mà thôi 26 2.2.2.2 Nếp sống đạo Thiền - Suối nguồn hạnh phúc 32
2.2.3 Trần Nhân Tông 34
2.2.3.1 Ngộ: Vô thường vô ngã thiền thơ 36
Trang 42.2.3.2 Ngộ: Trực cảm tâm linh thiền thơ 39
2.2.3.3 Ngộ: Thủy nguyệt điền viên thiền thơ 40
2.2.3.4 Ngộ: Lâm tuyền dã thú thiên thơ 42
2.2.3.5 Ngộ: Sơn thôn lạc chiếu thiên thơ 43
2.2.4 Pháp Loa 45
2.2.5 Thiền Sư Huyền Quang 49
Tiểu kết chương 2 56
Chương 3: HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI CỦA VĂN CHƯƠNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM TRONG HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI CHUNG CỦA VĂN HỌC DÂN TỘC CÙNG THỜI 57
3.1 Chủ đề - đề tài của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV 57 3.1.1 Văn học Phật giáo 57
3.1.2 Văn học yêu nước 61
3.2 Đóng góp của Thiền phái Trúc Lâm vào hệ thống chủ đề - đề tài của văn học dân tộc 65
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đạo Phật từ Ấn Độ được du nhập vào Việt Nam đã hơn hai ngàn năm Trong suốt chiều dài lịch sử đó, Phật giáo đã tồn tại và song hành cùng vận mệnh thăng trầm của dân tộc Trải qua nhiều thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần,…đạo Phật được xem là quốc giáo Đặc biệt là thời nhà Trần không những đất nước thịnh trị mà văn học cũng phát triển rực rỡ Song song với sự phát triển của văn chương Phật giáo thời bấy giờ, nền văn học Việt Nam cũng được khơi nguồn phát triển
Văn học Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã trải qua nhiều thời kì Trong từng thời kì, do đặc điểm riêng về kinh tế, văn hoá xã hội, hệ tư tưởng,… nên diện mạo văn học không tránh khỏi có sự khác nhau Văn học thời Trần ra đời trong hoàn cảnh cả đất nước liên tục chiến đấu chống ngoại xâm và Phật giáo phát triển cực thịnh nên bên cạnh mảng văn học yêu nước còn có sự xuất hiện của mảng thơ thiền như một khu vườn nghệ thuật mới lạ
và đầy sức thu hút Dù do hoàn cảnh lịch sử, tác phẩm thơ văn thiền không còn lại bao nhiêu, nhưng xuất phát từ tinh thần "thức nhất phiến, tri toàn thiên" ta vẫn tìm thấy nhiều điều thú vị
Toàn bộ vấn đề Sự vận động phát triển hệ thống chủ đề - đề tài trong
văn chương Thiền phái Trúc Lâm thời Trần đã toát lên một sự giải thoát tự tại
chứa đựng những triết lý sâu xa nhưng rất gần gũi với con người Bằng những việc làm, sự nhập thế tích cực của các vị Thiền sư, các vua quan là những Phật tử thuần thành đã đưa văn chương Thiền phái Trúc Lâm vào lòng dân tộc Đây chính là nét độc đáo mà chúng ta có thể tìm thấy ở thời đại nhà Trần
và đó cũng chính là lý do vì sao người viết chọn đề tài này
Nhưng vì kiến thức người viết còn hạn hẹp cho nên không sao tránh khỏi những sai sót trong khi viết, dù đã cố gắng hết sức Người viết mong được quý vị hoan hỉ phủ chính và chỉ bảo thêm
Trang 62 Lịch sử vấn đề
Đứng về phương diện chính trị - xã hội, nhìn chung các Thiền sư thời Trần đều là những người có tấm lòng yêu nước nồng nàn, có tinh thần tự chủ
dân tộc cao, xứng đáng là những tấm gương sáng cho đời sau noi theo
Đứng ở phương diện văn học, các Thiền sư thời kỳ này còn là những nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc Những sáng tác văn chương của họ đã góp phần to lớn cho việc hình thành nên văn học viết Việt Nam buổi đầu của thời
kỳ độc lập tự chủ Bởi vậy, đã có không ít các công trình nghiên cứu về văn thơ thời kỳ này nói chung và văn thơ của các thiền sư Thiền phái Trúc Lâm nói riêng
Việc làm sáng tỏ vấn đề Sự vận động phát triển hệ thống chủ đề - đề tài
trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm thời Trần được thể hiện qua các sáng
tác văn chương của các Thiền sư sẽ giúp chúng ta có sự nhìn nhận sâu sắc hơn triết lý sống của các Thiền sư ở văn học giai đoạn này nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Từ đó, có sự đánh giá khách quan, đúng mức về những đóng góp của các Thiền sư thời kỳ này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ nền độc lập tự chủ cũng như trong lĩnh vực văn học
Hướng nghiên cứu này có các công trình đáng lưu ý như:
- Quyển Thực thể Việt nhìn từ các tạo độ chữ, tác giả Trần Ngọc
Vương, Nhà xuất bản tri thức Hà Nội năm 2010
- Quyển Văn học trung đại Việt Nam do Lê Trí Viễn chủ biên (tài liệu
lưu hành nội bộ của trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 1985) và
quyển Văn học trung đại Việt Nam (thế kỉ X - cuối thế kỉ XIX) do Đoàn Thị
Thu Vân chủ biên (NXB giáo dục, 2008) viết về văn học thời đại Lý - Trần
- Hai chuyên luận của tác giả Nguyễn Công Lý là Bản sắc dân tộc
trong văn thơ Thiền tông thời Lý - Trần (NXB Văn hóa thông tin, 1997) và Văn học Phật giáo thời Lý - Trần diện mạo và đặc điểm (NXB Đại học quốc
Trang 7gia TP Hồ Chí Minh, 2002) cung cấp cho độc giả cái nhìn có hệ thống, đầy
đủ về diện mạo, đặc điểm và bản sắc dân tộc trong văn học thời Lý - Trần, đặc biệt là về dòng văn học Phật giáo của một thời đại phát triển rực rỡ vào
bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Nguyễn Phạm Hùng với ba chuyên luận: Văn học Lý - Trần nhìn từ thể
loại (NXB Giáo Dục, 1996), Thơ thiền Việt Nam - Những vấn đề lịch sử và tư tưởng (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1998) và Trên hành trình văn học trung đại (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2001) đã đưa ra nhiều lí giải thú vị
về thơ thiền Việt Nam qua các thời kì (thời nhà Lý, thời nhà Trần, thời nhà Lê đến nhà Nguyễn) cũng như sự cần thiết phải nghiên cứu thơ thiền từ khía cạnh
thể loại Đặc biệt trong công trình Thơ thiền Việt Nam - Những vấn đề lịch sử
và tư tưởng (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1998), ở chương V - Thơ thiền thời Trần, Nguyễn Phạm Hùng đã chỉ ra nét riêng trong sáng tác của các
gương mặt tiêu biểu cho thơ thiền thời kì này như Trần Thái Tông, Trần Tung (Tuệ Trung), Trần Nhân Tông, Huyền Quang
- Năm 2008, luận án tiến sĩ ngữ văn Giá trị văn học trong tác phẩm của
Thiền phái Trúc Lâm của Trần Lý Trai đã lí giải
- Những sáng tác của các tác giả thuộc Thiền phái về các mặt:
+ Tư tưởng Thiền học với quan điểm Phật tại tâm, chủ thuyết “cư trần
lạc đạo” tinh thần tùy duyên, phương thức hành Thiền tu chứng
+ Những cảm hứng chính như: cảm hứng bản thể giải thoát, cảm hứng
cõi thiên nhiên Phật nhiệm màu, cảm hứng nhân văn - thế sự, cảm hứng quê hương đất nước - quê hương Thiền tông
+ Giá trị nghệ thuật về các mặt: thể loại, ngôn ngữ, các thủ pháp nghệ thuật
- Năm 1985, Ủy ban khoa học xã hội - Viện nghiên cứu triết học cho
xuất bản quyển Lịch sử Phật giáo Việt Nam do Nguyễn Tài Thư chủ biên
Công trình này bàn về Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập từ Ấn Độ sang vào thế kỉ thứ II cho đến thế kỉ XIX
Trang 8- Nguyễn Lang, trong quyển Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, NXB
Văn học, 1992 đã dành bảy chương trong tổng số mười lăm chương để giới thiệu về Phật giáo đời Trần
- Năm 1995, quyển Thiền học đời Trần do Viện nghiên cứu Phật học
Việt Nam xuất bản, gồm 28 bài viết của nhiều tác giả xoay quanh vấn đề tác phẩm, tư tưởng của các thiền gia đời Trần
- Nguyễn Hùng Hậu viết Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập I,
Từ khởi nguyên đến thế kỉ XIV – NXB khoa học xã hội, năm 2000 và Trương
Văn Chung bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ về Tư tưởng triết học của
Thiền phái Trúc Lâm đời Trần năm 1996 Cả hai công trình này đều đi vào
phân tích, tổng kết tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm qua việc phân tích hành trạng và tác phẩm của từng nhân vật Thiền phái như: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang
- Quyển Lịch sử Phật giáo Việt Nam, (Từ Lý Thánh Tông đến Trần Nhân
Tông) của Lê Mạnh Thát được NXB TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 2002
- Gần đây nhất vào tháng 11 năm 2008, tại Quảng Ninh đã diễn ra hội thảo về Trần Nhân Tông nhân 700 năm ngày vị tổ thứ nhất của phái Thiền Trúc Lâm viên tịch Trong hội thảo này có rất nhiều bài tham luận khi viết về
Trần Nhân Tông như: Vua Trần Nhân Tông và tinh thần "Bụt Ở trong nhà ,
Vua Trần Nhân Tông và bài học giải phóng dân tộc v.v…
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đây là một đề tài khá rộng và nội dung chủ yếu là nói về hệ thống chủ
đề - đề tài trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm qua những tác phẩm văn thơ thời Trần Cho nên, khi viết, người viết chỉ trú trọng đến những tài liệu có liên quan đến đề tài Tất cả những tài liệu mà người viết sử dụng đều không ngoài phạm vi những tác phẩm liên quan đến văn học thời Trần
Trang 93.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu các tác phẩm văn chương của năm Thiền sư thuộc Thiền phái Trúc Lâm đời Trần như sau:
- Trần Thái Tông (1218 – 1277)
- Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291)
- Trần Nhân Tông Đại Sĩ (1258 - 1308) - Sơ tổ Trúc Lâm Yên Tử
- Pháp Loa ( 1248- 133) Nhị tổ Trúc Lâm Yên Tử
- Huyền Quang (1254 - 1334) Tam tổ Trúc Lâm Yên Tử
4 Mục đích nghiên cứu
Khi viết đề tài này, người viết không ngoài mục đích là muốn khơi nguồn lại thời vàng son của Phật giáo Việt Nam trong đời nhà Trần và đồng thời giúp người viết hiểu rõ hơn về tư tưởng trong văn thơ của các vị Thiền
sư Qua những phong cách, những tư tưởng đó cũng là lợi ích phần nào trong cuộc sống nhân sinh
Tiếp đó là tìm hiểu xem vấn đề hệ thống chủ đề - đề tài trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm của các Thiền sư giai đoạn này được thể hiện qua các sáng tác văn học ra sao? Có gì khác với hệ thống chủ đề - đề tài của các tác giả cùng thời khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp và thao tác sau:
Phương pháp phân tích tổng hợp: tài liệu nghiên cứu và sáng tác văn
học của các Thiền sư thời kỳ này có rất nhiều Vì vậy, khi nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng thao tác phân tích tài liệu để tìm ra những dấu hiệu đặc trưng có liên quan đến đề tài
Phương pháp so sánh: Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, và
văn học Phật giáo cũng có từ rất sớm nên luận văn so sánh sự vận động phát
Trang 10triển hệ thống chủ đề - đề tài trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm với sáng tác của các tác giả cùng thời khác
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Xác định nội hàm của khái niệm văn chương Thiền phái Trúc Lâm
Chương 2: Sáng tác của Thiền phái Trúc Lâm nhìn từ góc độ chủ đề -
đề tài
Chương 3: Hệ thống chủ đề - đề tài của văn chương Thiền phái Trúc
Lâm trong hệ thống chủ đề - đề tài chung của văn học dân tộc cùng thời
Trang 11NỘI DUNG Chương 1: XÁC ĐỊNH NỘI HÀM CỦA KHÁI NIỆM
VĂN CHƯƠNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
1.1 Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm
Đầu thế kỷ XIII, triều đình nhà Lý bắt đầu suy yếu Các nhà vua khi lên ngôi còn quá non trẻ, lớn lên ham chơi, bỏ bê việc triều chính Vua Cao Tông mải mê xây cung điện, nghe đàn hát Vua Duệ Tông thì nhu nhược, lại mắc bệnh cuồng Trong triều các gian thần, nịnh thần lộng hành nhiễu loạn Ngoài
xã hội, nhiều năm mất mùa, đói kém triền miên Nạn hỗn chiến giữa các phe phái phong kiến càng trở nên sâu sắc
Trong triều đình bấy giờ, họ Trần ngày càng chiếm ưu thế, anh em con cháu họ Trần lần lượt nắm giữ các chức vụ quan trọng trong triều Vốn sống bằng nghề đánh cá, họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông ven biển, đến đời Trần Lý (ông nội của vua Trần Thái Tông) đã trở thành một cự tộc có thế lực vùng Hải Ấp nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình
Năm 1209, khi trong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạy lên Tuy Hoá, Thái tử Sảm chạy về Hải ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần
Lý Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Phạm Bình Di), đưa vua Lý trở lại kinh đô Cậu ruột Trần
Thị Dung là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ
Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi Hoàng tử Sảm lên ngôi vào năm 1211, tức là vua Lý Huệ Tông Ông cho đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi Lúc này, Tô Trung Từ được phong là Thái úy phụ chính
Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị Thái hậu họ Đàm khống chế, nên mọi việc đều phó thác cho Đàm Dĩ Mông, người chức cao, quyền lớn nhưng "không
có học thức, không có mưu thuật, lại nhu nhược không quyết đoán chính sự ngày
Trang 12một đổ nát” Lợi dụng tình hình đó, Đoàn Thượng làm phản, tụ tập bè đảng ở Hồng Châu thả sức cướp bóc, khiến triều đình không chế ngự nổi
Năm 1216 , trước tình thế bức bách của Đàm thái hậu, Lý Huệ Tông
đã bí mật rời bỏ hoàng cung, cùng với Trần Thị Dung trốn đến nơi đóng quân của Trần Tự Khánh Từ đó, vua Lý hoàn toàn phụ thuộc vào thế lực anh em họ Trần
Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, mọi việc đều uỷ quyền cho Trần Thủ
Độ (em họ Trần Thừa và Tự Khánh) khi ấy là chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân
Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, rồi cắt tóc đi tu ở chùa Chân Giáo Liền sau đó, Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoàng lên 7 tuổi lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh lên 6 tuổi Một năm sau, vào tháng 12
âm lịch năm 1225, Trần Thủ Độ ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà Trần bắt đầu nắm quyền cai trị
Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) còn nhỏ, mọi việc triều chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và cha là Nhiếp chính Trần Thừa
Nhà Trần trải qua 13 đời vua bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm
1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Thiếu
Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly - tổng cộng là 175 năm Những vị vua và tôn thất nhà Trần mến mộ Phật giáo, nghiên cứu tu tập và có sự chứng đắc, điển hình là vua Trần Nhân Tông, sau hai lần đánh thắng quân Nguyên - Mông (1285 và 1287) đã nhường ngôi lại cho Trần Anh Tông, về làm Thái thượng hoàng và tu hành trên núi Yên Tử rồi sáng lập thiền phái Trúc Lâm
1.2 Tác giả văn học trong Thiên phái Trúc Lâm
Đối với thiền phái Trúc Lâm thì Trúc Lâm Điều Ngự Trần Nhân Tông
là đệ nhất Tổ, nhưng tính theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử phải kể từ
Trang 13Thiền Sư Hiện Quang là Tổ ban đầu Sư là người khai sơn chùa Vân Yên (chùa Hoa Yên ngày nay) Vốn là đệ tử của Thiền Sư Thường Chiếu, dòng Vô Ngôn thông, nhưng tỏ ngộ nơi Thiền Sư Trí Thông chùa Thánh Quả
Thiền sư Viên Chứng, cũng gọi là Quốc Trúc Lâm, người đã từng đón tiếp vua Trần Thái Tông tìm lên Yên Tử năm 1236
Quốc sư Đại Đăng, người đã tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ Thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa tại kinh đô Thăng Long và là thầy của vua Trần Thánh Tông
Thiền sư Tiêu Dao, là Thầy của Thượng Sĩ Tuệ Trung, cũng gọi là Đại
sư Phúc Đường, vì sư ở Tinh xá Phúc Đường mà Thượng Sĩ Tuệ Trung có bài
thơ tựa "Thượng Phúc Đường Tiêu Dao Thiền sư"
Thiền sư Huệ Tuệ, theo Việt Nam Phật giáo Sử luận của nguyễn Lang cho là sư vốn làm Thầy Hoà Thượng truyền giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi vua xuất gia
Trúc Lâm Đại Đầu Đà Trần Nhân Tông, theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử, ngài thuộc hàng thứ sáu, nhưng là người khai sáng ra dòng Thiền
Trúc Lâm của Đại Việt nên là Sơ Tổ
Theo sách Đại Nam Thiền Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục của Hòa
thượng Phúc Điền hệ thống truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được tiếp nối qua các vị sau: Tổ sư Pháp Loa,Tổ sư Huyền Quang, Quốc sư
An Tâm, Quốc sư Phù Vân Tĩnh Lự, Quốc sư Vô Trước, Quốc sư Quốc Nhất,
Tổ sư Viên, Tổ sư Đạo Huệ, Tổ sư Viên Ngộ, Quốc sư Tổng Trì, Quốc sư Khuê Thám, Quốc sư Sơn Đằng, Đại sư Hương Sơn, Quốc sư Trí Dung, Tổ
sư Tuệ Quang, Tổ sư Chân Trú, Đại sư Vô Phiền
Mặc dù tác giả trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm thì có nhiều nhưng với nội dung của đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu các tác phẩm văn chương của năm Thiền sư thuộc Thiền phái Trúc Lâm đời Trần như sau:
Trang 14- Trần Thái Tông (1218 – 1277)
- Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291)
- Trần Nhân Tông Đại Sĩ (1258 – 1308) – Sơ Tổ Trúc Lâm Yên Tử
- Pháp Loa (1248 – 1330) - Nhị Tổ Trúc Lâm Yên Tử
- Huyền Quang (1254 – 1334) - Tam Tổ Trúc Lâm yên Tử
Thiền phái Trúc Lâm được một vị vua nhà Trần sáng lập, được xem là dạng Phật giáo chính thức của Đại Việt thời đó nên có liên quan mật thiết đến triều đại nhà Trần, phải chịu một hoàn cảnh mai một sau khi triều đại này suy tàn Vì vậy, sau ba vị Tổ là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông sơ tổ Trúc Lâm truyền thừa cho Pháp Loa là đệ nhị Tổ, đến Huyền Quang đệ tam Tổ, sau
đó hệ thống truyền thừa của phái này không còn rõ ràng như trước nữa
Tiểu kết chương 1
Trên đây, chúng tôi đã trình bày về sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và sự truyền thừa của các tác giả văn chương Thiền sư trong Thiền phái này rất hùng hậu, để thấy văn chương đời Trần được hình thành và phát triển là nhờ lực lượng sáng tác của những Thiền sư với thể loại phong phú, nội dung xúc tích, đa dạng, đa sắc thái, thể hiện rõ bản sắc dân tộc đậm tính nhân văn và giàu lòng yêu nước Thời kỳ này, có những minh quân sau khi bỏ
áo hoàng bào khoác áo nâu sòng đã hoàn thành rất tốt vai trò Thiền sư vừa tu tập giải thoát vừa có tinh thần yêu nước thương dân
Trang 15Chương 2: SÁNG TÁC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI 2.1 Khái niệm chủ đề - đề tài
Về khái niệm chủ đề - đề tài thì có rất nhiều sách đề cập tới, nhưng ở đây với nội dung của đề tài luận văn nên người viết chỉ nêu khái niệm chủ đề
- đề tài thuộc Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi ( chủ biên) Theo sách này thì “khái niệm đề tài giúp ta xác định tác phẩm viết về cái gì, còn khái niệm chủ đề lại giải đáp câu hỏi vấn đề
cơ bản của tác phẩm là gì” và lấy đó làm cương yếu cho bài nghiên cứu của mình Thời Trần xã hội thịnh trị nên hệ thống chủ đề - đề tài chung trong văn chương của các Thiền sư lúc bấy giờ là đều thấy tính chất vô thường, giả tạo của vạn vật vũ trụ này và muốn nhân sinh tu hành đạt tới cực lạc giải thoát
2.2 Hệ thống chủ đề - đề tài qua sáng tác của một số tác giả trong Thiền phái Trúc Lâm
2.2.1 Trần Thái Tông
Trần Thái Tông (1218 - 1277), vị vua đầu tiên của nhà Trần đã từng trực tiếp xông pha trận mạc Sau chiến thắng đã nhường ngôi cho con là Trần
Thánh Tông để làm thơ và nghiên cứu Phật giáo rồi viết ra Thái hư lục và
Thiền tông chỉ nam Qua thơ văn ông, người đời sau thấy được một vị vua
khoan hậu, tuy chưa hề xuất gia nhưng vẫn tha thiết với Phật pháp và mơ ước một cuộc sống thanh tịnh, an nhiên, coi thường quyền lực và phú quí
Theo tài liệu ghi chép lại thì Thái Tông sáng tác được tác phẩm Tác
phẩm đầu, như ta đã biết là Thiền tông chỉ nam Sáng tác rất sớm trong cuộc
đời của ngài, khi ngài mới khoảng 31, 32 tuổi, và được Quốc sư khen là trái tim của Bụt nằm trong đó
Tác phẩm thứ hai là Kim cương tam muội kinh chú giải Vua đã chú giải Kinh Kim cương tam muội và chúng ta còn bài tựa của tác phẩm này
Trang 16Tác phẩm thứ ba là Lục thời sám hối khoa nghi mà chúng ta đã nói qua
ở trên đây
Tác phẩm thứ tư là Bình đẳng lễ sám văn Một tác phẩm sám hối khác
Bình đẳng ở đây là Samat, tức là không phân biệt giữa mình và Phật, tại vì tự tính của mình và của Phật hoàn toàn bình đẳng Không phân biệt người lạy và
người bị lạy
Tác phẩm thứ năm là Khóa hư lục có thể là những bài hướng dẫn về tu
tập, hợp lại thành một cuốn sách “Khóa” có nghĩa là những bài học, những thời khóa công phu “Hư” có nghĩa là thực tập với một thái độ tự do, không bị vướng mắc Chúng ta biết có nhiều người thực tập và bị dính mắc vào những hình thái thực tập cho đến nỗi không thừa hưởng được bản chất của sự thực tập Thực tập như vậy thì rất là nặng nề, kẹt vào hình thức Như vậy khóa hư
ở đây có nghĩa là những thời thực tập với một thái độ không bị vướng mắc
Tác phẩm thứ sáu là Thi tập, tức là những bài thơ của vua để lại
Tác phẩm Kim cương tam muội kinh chú giải hiện nay chúng ta không thấy còn nữa Chỉ còn một bài tựa được in lại trong sách Khóa hư lục mà thôi Trong bài tựa này vua có nói rằng mỗi khi vua đọc Kinh kim cương tam muội
là trong lòng phát sinh ra trăm ngàn mối cảm hứng Vì vậy cho nên vua đem
những cảm hứng đó, đem hết ruột gan để làm những lời chú giải Kinh kim
cương tam muội
Chúng ta biết Kinh kim cương là sự thực tập lấy đi bốn ý niệm về
Ngã, về Nhân, về Chúng sinh, và về Thọ giả Nếu sống tỉnh thức để có thể nhận diện được bốn ý niệm đó trong đời sống hàng ngày, để đừng vướng
mắc vào chúng, thì mình đã sống thường trực trong tam muội gọi là Kim
cương tam muội
Bình đẳng lễ sám văn cũng là một nghi thức sám hối và nay cũng đã
mất, và bài tựa cũng còn được giữ lại trong sách Khóa hư lục Nếu ta suy tư
Trang 17về đề tài của tác phẩm và nếu căn cứ trên bài tựa thì chúng ta có thể biết rằng
nghi thức này được viết sau Lục thời sám hối khoa nghi và nghi thức này có một chiều triết học thâm sâu hơn là nghi thức Lục thời sám hối khoa nghi
Khi có thì giờ nghiên cứu, học hỏi những tác phẩm của vua Trần Thái Tông, chúng ta nhận thức rằng cái nhu yếu đầu tiên mà chúng ta thấy được trong các tác phẩm đó là nhu yếu muốn sống tỉnh thức Vua không muốn sống đời sống mê ngủ, đắm chìm
Chúng ta biết tác phẩm Lục thời sám hối khoa nghi là một sự nhắc nhở
không phải chỉ bằng lý thuyết, bằng cách đọc, mà nhắc nhở bằng sự thực tập mỗi ngày sáu lần Nhắc rằng con mắt của mình có thể đưa mình đi rất xa; lỗ tai của mình có thể đưa mình đi rất xa; lưỡi của mình cũng có thể đưa mình đi rất xa Và khi đi xa rồi thì mình đánh mất quê hương, mình không thấy được những cái quan trọng nhất của sự sống Không thấy được nhu yếu thâm sâu nhất của cuộc đời mình Tình trạng của những người không tu học, không có chính niệm, không có tăng thân là tình trạng gọi là "túy sinh mộng tử", nghĩa
là khi sống thì sống như một người say, khi chết thì cũng chết ở trong giấc mộng Sống say chết mộng Vua không muốn như vậy Vua nhắc nhở mình
phải sống tỉnh thức, cho nên thời khóa Lục thời sám hối khoa nghi là để đánh
thức mình dậy trong mỗi giờ phút của sự sống
Trong Khóa hư lục vua có làm những bài kệ về bốn núi, gọi là Tứ sơn
kệ Đây là một phương tiện để vua tự nhắc mình đừng sống trong cơn say,
đừng chết trong giấc mộng
Chúng ta biết rằng ngày xưa, hồi Phật còn tại thế, một hôm Phật có nhắc vua Ba Tư Nặc một vấn đề Hôm đó vua đến thăm Phật, và được Phật
hỏi những câu về bốn ngọn núi: “Đại vương! Nếu Đại vương đang ngồi trong
cung mà có một phái đoàn trinh thám của Đại vương chạy về và nói rằng từ phương Đông có một ngọn núi vĩ đại đang di chuyển lần lần đến kinh đô, và
Trang 18trên con đường di chuyển nó làm tan nát hết những công trình xây dựng, những sinh mạng, những sông núi Khi vừa nghe báo cáo như vậy xong thì có một phái đoàn khác, về tới cung và nói từ phương Tây cũng có một ngọn núi
vĩ đại đang di chuyển tới kinh đô, và trên đường đi nó cũng đang tiêu diệt tất
cả những sinh mạng, sông núi, thành quách Và rốt cuộc thì Đại vương được báo cáo từ bốn phía có bốn ngọn núi đang đi tới như vậy Đại vương biết rằng Đại Vương không có thì giờ nữa Bốn ngọn núi đó tượng trưng cho sinh, lão, bệnh, tử và chúng đang đi tới ép vua Vậy thì Đại Vương phải làm gì?”
Phật thấy vua đã lớn tuổi mà tu học không được tinh chuyên mấy, có vẻ nhởn nhơ cho nên Phật mới đưa ra hình ảnh bốn trái núi bao vây, đang từ từ tiến tới, để nhắc nhà vua rằng thời gian đã cấp bách, không gian đã thu hẹp
Vua Ba Tư Nặc cũng thông minh lắm nên vua nói: “Bạch Đức Thế Tôn, trong
trường hợp đó thì câu trả lời duy nhất là mình phải sống những giờ phút còn lại của mình cho chính niệm”
Khi vua Trần Thái Tông đọc được kinh đó thì vua rung động, tại vì nhà vua cũng muốn làm được như vua Ba Tư Nặc, và có thể muốn làm hơn vua
Ba Tư Nặc nữa Cho nên vua đã làm bốn bài thơ về bốn trái núi, và vua đã viết những bài chú giải về bốn trái núi rất là hay Quý vị nên tìm đọc cho biết
Chuyện Bụt nói về bốn trái núi cho vua ghi chép trong biệt dịch Tạp A
Hàm (Samyukt gamma), và trong Kinh Tăng Nhất A Hàm (Ekattarik gamma)
Ngày xưa vua Trần Thái Tông đã được đọc những kinh đó
Trong bài tựa Phổ khuyến phát Bồ đề tâm, vì vua nghĩ rằng khi nào có
được tâm bồ đề thì mình sống mới tỉnh thức, mới có hạnh phúc Vì vậy vua đã sáng tác một bài văn gọi là "Mời tất cả quý vị hãy phát tâm bồ đề ":
“Công danh cái thế, chẳng qua một giấc mộng dài, Phú quý kinh người, khó trách “vô thường” hai chữ, Tranh nhân chấp ngã, rốt cuộc là không,
Trang 19Khoe giỏi khoe hay, rốt cùng chẳng thực,
Tứ đại rã rời thôi già trẻ, Núi khe mòn mỏi hết anh hùng,
Già cũng vậy, trẻ cũng vậy, sẽ có ngày bốn đại rã rời ra Anh hùng cũng vẫy mà người khiếp nhược cùng đều vậy cả
Tóc xanh chưa mấy mà mầu bạc đã pha,
Kẻ mừng mới đi thì người điếu đã tới
Những người nào bắt đầu có hai màu tiêu muối ở trên đầu, đọc bài này chắc thấm lắm Mừng đám cưới vừa xong thì người điếu đám ma cũng vừa tới
Một bao máu mủ, Bao năm khổ luyến ân tình
(Nhất bao nùng huyết Trường niên khổ luyến ân tình) Đọc những hàng chữ này chúng ta nên nhớ tác giả là ai, tác giả đã từng
yêu, từng khổ Nhất bao là một cái bao, một cái bọc Nùng huyết là máu và
mủ ở trong con người của chúng ta Đó là bất tịnh quán Con người chỉ là một
bao máu mủ mà thôi Vậy mà ngày này sang ngày khác, đêm này sang đêm khác, năm này sang năm khác, nhớ thương, quyến luyến, khổ đau vì người ân, người tình
Bảy thước xương khô, Mặc sức xan tham tiền của
Bảy thước đây là bảy thước ngày xưa, bằng khoảng thước bảy thước tám bây giờ Bảy thước xương khô là một bộ xương khô Nhìn cho kỹ thì mình chỉ mang một bộ xương khô đi theo thôi Vậy mà mình tom góp đồng này đồng khác, nghĩ rằng hạnh phúc nằm ở chỗ tom góp Điều này người nào
có đi ngang qua thì mới thấm thía, người nào chưa đi ngang qua thì có thể mỉm cười hoài nghi
Trang 20Thở ra không hẹn thở vào, Ngày nay không tin ngày kế,
Trôi nổi sông yêu giờ nào nghỉ,
Nấu nung nhà cháy biết bao thôi?
Sông yêu tức là ái hà, sông tham ái (Ái hà thiên tích lãng - Khổ hải vạn
trùng ba) “Thiên tích lãng” là có những đợt sóng cao ngàn trượng “Ái hà
thiên tích lãng” là ý nói trong sông yêu có những đợt sóng cao cả ngàn
trượng, mình sẽ chìm đắm, sẽ chết đuối trong những đợt sóng đó “Khổ hải
vạn trùng ba”, là trong biển khổ có những đợt sóng vạn trùng
Chúng ta có bài tán:
Ái hà thiên tích lãng, Khổ hải vạn trùng ba, Dục thoát luân hồi khổ, Tảo cấp niệm Di Đà
Trong nghi thức tụng niệm đại toàn chúng ta có bài niệm Phật tương đương:
Sông ái dài muôn dặm, Biển mê sóng vạn tầm, Cõi luân hồi muốn thoát, Niệm Phật hãy nhất tâm
2.2.1.1 Con người nhân ái vị tha rộng mở
Trần Thái Tông đã thể hiện tấm lòng nhân ái, vị tha, rộng mở qua Khóa
hư lục kể từ khi tiếp nhận lời khuyên của thiền sư Viên Chứng: “Phàm làm bậc nhân quân thì lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình” (Thiền tông chỉ nam tự) Để được như
vậy con người phải biết sống hòa hợp, thuận theo đạo lý, chung sống trong một cộng đồng Mọi người tự ý thức thủ tiêu những ham muốn cá nhân, thay vào đó là tấm lòng cần phải trang trải Như vậy, từ con người cá nhân vị kỷ,
Trang 21chứa chất bản ngã đã trở thành con người sống theo tinh thần vô ngã, xa lìa các ham muốn của đời sống vật chất Đó là con người có sự biến chuyển nội tâm đi từ những thái độ hành vi bất thiện đến sự thăng hoa
Nếu văn học Phật giáo đời Lý, khi đề cập đến hình ảnh con người, dù là con người vô ngã, vô úy, vô ngôn,… đi nữa, chỉ gợi chứ ít khi tả thì đến văn học
Phật giáo đời Trần, nhất là Trần Thái Tông qua Khóa hư lục đã sử dụng bút pháp
tả thực để mô tả con người từ hình thể bên ngoài đến nội tâm bên trong
Đoạn văn sau đây trong bài Phổ Thuyết Sắc Thân là một minh chứng :
Xưa kia má hồng sắc thắm, ngày nay xương trắng tro tàn Mây mịt mùng khi giọt lệ chứa chan, trăng hiu hắt chốn gió sầu lay động Canh khuya vắng, thần sầu quỷ khóc; tháng năm chầy, ngựa xéo trâu quần Lửa đóm lập lòe dưới đám cỏ xanh, tiếng trùng nỉ non trên hàng dương trắng Bia mộ nữa chình, phủ đầy rêu biếc; chăn trâu hái củi, dẫm sạt lối mòn Dẫu có văn chương nức tiếng; dù cho tài sắc nghiêng thành Nào ai có khác chi ai; rốt cuộc đều về một mối Mắt bị "sắc" lôi lên núi kiếm; tai theo "tiếng" gọi đến rừng dao Đầu mũi ngửi khói tanh hôi; trong lưỡi ngậm hòn sắt nóng Thân khiếp sợ đồng sôi tưới tắm; ý chua cay vạc lửa dầu nung Trần gian dù trăm tuổi trăm năm; địa ngục một ngày một tối Thân mạng con người được nằm trong thực tại của cõi "sinh
là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, cái gì không ưa mà phải hơn là khổ, cái gì muốn mà không được là khổ, nói tóm lại triền miên trong ngũ trược giả hợp là khổ " Đúng như cái nhìn triết lý nhà Phật
Thân tự cầm tù trong các dục vọng, thói quen đã tích lũy sai lạc từ bao nhiêu kiếp Thói quen nguy hiểm nhất là thói quen trong suy nghĩ nhận thức sai lạc về thân Thân này phải biến chuyển, không thể thường tại vĩnh hằng Con người đang ở trọ trong cái thân giã huyễn mà cứ ngỡ tưởng chừng như thật có Thân tự buộc mình vào cõi tương đối thịnh suy cuộc đời con người tự bám víu vào cái tự ngã cạn cợt đầy tham vọng mà vẫy vùng trong khổ đau
Trang 22Chẳng phải ngạc nhiên khi Trần Thái Tông viết lên những dòng văn chương như thế về thân Con người theo đó cảm nhận sự vận hành trong không gian ảm sầu, thời gian như ngắn lại theo dòng tâm lý ngập tràn lo âu
"mây mịt mùng khi mưa lệ chứa chan; trăng hiu hắt chốn gió sầu lay động Canh khuya vắng, thần sầu quỷ khóc; tháng năm chầy, ngựa xéo trâu quần"
Ông khắc họa hình ảnh con người qua một thân mạng hãi hùng thế kia Mục đích là tự thân thoát ra sự vận hành của "cái thân" để đến một cõi lòng tĩnh lặng, cùng chia sẻ lòng mình với mọi người
Con người trong Khóa hư lục là con người được hóa hiện từ cuộc sống
trần trụi của nó Từ tính cách tham ăn, khát uống, tranh quyền đoạt lợi yêu ghét buồn vui, đắm chìm trong các dục, cho đến sự trải nghiệm cả đời người Tất cả được mô tả như là một hiện tượng thẩm mỹ, có sự vận động tâm linh
đa chiều luôn diễn tiến không ngừng L Tônxtôi thật có lý khi ông phát biểu:
" Con người như những dòng sông Nước trong mọi con sông như nhau và ở đâu củng vậy cả Nhưng mỗi con sông khi thì hẹp, khi thì trong veo, khi thì lạnh, khi thì ấm Con người cũng như vậy Mỗi con người mang trong mình những mầm mống của mọi tính cách của con người và khi thì thể hiện những tính này, khi thì thể hiện những tính chất khác và thường không giống bản thân mình tuy vẫn cứ chính là mình"
Hình ảnh con người được xác lập như là một chủ thể, một nhân vật trung tâm với xác thân bị giới hạn được đề cập và nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau ở trong tác phẩm Trong ý nghĩa đó, con người thấy rõ những giới hạn, khuyết tật từ trong quan điểm sắc thân thông qua ngòi bút sắc sảo của bút pháp tả thực văn học Phật giáo ở thời Lý - Trần Nhờ vậy, con người
sẽ vượt thoát, an trú trong đời sống hạnh phúc, cảm nhận những giá trị thẩm
mỹ từ hiện thực
Trang 232.2.1.2 Con người giác ngộ với những phẩm hạnh cao cả
Con người giác ngộ trong Khóa hư lục được bắt nguồn từ khát vọng của Trần Thái Tông muốn lên núi Yên Tử tu hành để làm Phật, như trong Thiền tông
chỉ nam tự có viết: "chỉ muốn làm Phật chứ không muốn làm gì khác"
So với những khái niệm về con người giác ngộ trước đó, chúng ta sẽ nhận ra những điểm tích cực, tiến bộ, cụ thể, thiết thực hiện tại của biện chứng giải thoát Đến thời Trần Thái Tông, hình ảnh con người giác ngộ được minh họa qua hình ảnh "lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật" Đấy là con người thấy rõ chân lý một cách trực tiếp, đồng nghĩa "kiến tính thấy Phật tính tại tâm”
và thường sống theo bản tính thường nhiên, trong sáng, liễu đạt các pháp
Đọc Khóa hư lục, chúng ta thấy Trần Thái Tông xác lập con người giác
ngộ là con người "kiến tính" Khái niệm "tính" được diễn tả bằng nhiều tên gọi như "giác tính", "bản tính", "pháp tính", " Phật tính", "chân như", "chân tâm",
"chân nguyên" “Kiến tính” là thấy được bản tính thấy được con đường giác
ngộ Trong bài Tọa thiền luận, Trần Thái Tông nói: “Phàm người học đạo, chỉ
cần thấy tính " Trong bài Phổ khuyến phát Bồ đề tâm văn, ông viết: "Do thấy ánh sáng trí tuệ, phản chiếu lại mình thấy được tính mà thành Phật"
Con người muốn thấy được “tính” thì phải tự thân hành trì, không thể trông cậy vào ai, kể cả đấng siêu hình, đó là con đường "cố thủ nội khán" (quay đầu nhìn vào phía trong) Tại đây sự trở về quê nhà chính là con đường giã từ "thả lòng buông bỏ" sự đắm chìm dục lạc của kẻ lang thang phong trần
như bài khai bạch, của Lục thời sám hối khoa nghi khắc họa:
Phượng hoàng đài bạn, hôn hôn thị tửu tham hoan;
Anh vũ lâu tiền, mộng mộng mê hoa thủ lạc
( Bên gác phượng hoàng say đắm cuộc vui chè rượu
Trước lầu anh vũ miệt mài cái thú mê hoa)
Đó là hình ảnh trở về quê nhà, chẳng phải tìm kiếm nơi xa xôi của ảo ảnh thiên đường hay Niết bàn mà tác giả diễn đạt bằng hình ảnh "nhật viễn
Trang 24gia hương vạn lý trình" (ngày hết xa quê, vạn dặm trường) trong bài Phổ
thuyết tứ sơn; "Đồ trình bất thiệp gia hương đảo" (Quê hương đến được đâu
cần lối) trong Niệm tụng kệ; "Bất lao tiến bộ đắc hoàng gia" (Đường xa không bước cũng về nhà) trong Niệm tụng kệ
Rõ ràng, con người giác ngộ là con người tự tìm lại chính mình Phật
và chúng sinh không khác Trong bài Niệm Phật luận, Trần Thái Tông khẳng
định "thân ta tức thân Phật, không có hai tướng" Ý tưởng đó sau này được
Tuệ Trung Thượng Sĩ diễn dịch "khi mê không biết ta là phật" trong Thượng
Sĩ ngữ lục, còn Trần Nhân Tông thì "Nhân khuấy bụi nên ta tìm Phật; Khi ngộ
rồi Phật chính là ta” trong Cư trần lạc đạo phú
Sinh mệnh con người rốt cuộc chỉ "mệnh tựa ngọn đèn trước gió, thân như bọt nước đầu ghềnh" Cuộc đời thật mong manh, đầy mộng mị Con người cần giáp mặt, vượt thoát Ngay cả công danh phú quý, chỉ là một giấc mộng dài Ai thấu hiểu nỗi lòng tác giả khi chính mình từng vượt thoát bước
ra khỏi sự mộng mị của cuộc đời Chính lẽ đó, nhà vua không dưới 12 lần mô
tả về giấc mộng "vô thường" trong tác phẩm Khóa hư lục, tiêu biểu như:
"công danh cái thế vô phi đại mộng nhất trường; phú quý kinh nhân bất miễn
vô thường nhị tự" (công danh lừng lẫy, chẳng qua một giấc mộng dài; phú
quý hơn người, khó tránh hai chữ vô thường)
Nhờ nhận chân cuộc đời là mộng, tâm thức con người mở rộng không cùng, độ lượng hết thảy Nhờ triết lý ấy mà Trần Thái Tông tỉnh thức, trở thành bậc vĩ nhân, thành vị minh quân của quốc gia, thành bó đuốc của Thiền tông, hiếu nghĩa với anh em, chung tình với người yêu, sẵn sàng sung trận giữa làn thiên đạn, xem tính mạng như lông hồng, xem ngai vàng như chiếc giày rách, miễn sao ích nước lợi nhà Phải chăng con người giác ngộ là con người luôn bước ra ngoài thế giới đáo sứ mộng trung huyết mộng? Con người giác ngộ cũng là con người tự do ra vào thế giới vô thường ảo ảnh Với tinh
Trang 25thần vô trước, vô trú, con người bước ra khỏi thế giới tư duy hữu ngã, nhị nguyên phân biệt của sự giới hạn hai đầu giữa sinh và tử, đến và đi, có và không, một và khác của các cặp phạm trù đối đãi Họ là con người ung dung
tự tại, đi bất cứ nơi nào họ muốn Hay khi miêu tả cảnh vật và con người lúc
gần sáng: "Giọt lậu điểm canh tàn, tiếng gà vừa gáy sáng Bóng đuốc tiệc hoa
vừa dứt, giải sao ngân hán lặn rồi Giấc điệp lại quay về thế mộng; tiếng chuông khua vỡ chốn âm thầm Ánh trăng nhạt ngậm nửa vành non biếc, vầng trời hồng chưa ló mặt duềnh xanh Vách xưa tiếng dế nỉ non; đường ngự
vó câu rộn rã Đầu thành khói lạnh vấn vương; trời thắm sương mai mù mịt Đúng là khi đạo sĩ chầu trời; vừa là lúc tăng sĩ hành đạo Muôn hộ nghìn nhà chưa mở cửa, một đêm sáu khắc đã nên công Tất cả đường đời; rối bời kiếp sống ôm gối nằm tuy sợ đương đêm; mở mắt ngủ chưa hay trọn kiếp”
Nhìn chung, con người trong Khóa hư lục được Trần Thái Tông diễn tả
một cách sâu sắc đầy đủ cả hai mặt đạo và đời Con người ấy luôn chan chứa
và nặng lòng yêu thương quê hương đất nước, luôn lấy lợi ích của cộng đồng đặt trên lợi ích cá nhân, ở đó không có bóng dáng của sự ích kỷ, tranh chấp,
mà làm sao chỉ ước mong mang lại bình an, hạnh phúc cho người khác Con người ấy được ông nâng lên một tầm cao hơn đó là sự tu tập buông bỏ, xem các pháp là vô thường huyễn hóa, danh lợi là bã phù du, tiền tài là sợi dây ràng buộc, từ đó buông xả tất cả để chứng đắc quả vị giải thoát giác ngộ ngay giữa cuộc đời đầy nhiễm ô
2.2.2 Tuệ Trung Thượng Sĩ
Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291) tên thật là Trần Tung là con trai Trần Liễu, anh ruột Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và cũng là anh ruột hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm vợ vua Trần Thánh Tông Khi Trần Liễu mất (1251), Thượng Hoàng Trần Thái Tông "cảm vì nghĩa, phong cho ông tước Hưng Ninh Vương" Cũng như phần lớn các vương hầu thân tín của
Trang 26nhà Trần, trong ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông (1257-1258; 1288), Trần Tung đã trực tiếp tham gia cầm quân chống giặc Dưới quyền điều khiển của Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn, trong cuộc kháng chiến lần thứ hai, vào ngày 10 tháng 6 năm 1285, khi Thoát Hoan túng thế bắt đầu rút khỏi bờ Bắc sông Hồng thì ông cùng với Hưng Đạo Vương đem hơn hai vạn quân đến đón đánh, kịch chiến với tướng giặc là Lưu Thế Anh và đuổi Thoát Hoan chạy dài đến sông Như Nguyệt Và trong cuộc kháng chiến lần thứ ba, ông còn được giao những nhiệm vụ ngoại giao quan trọng, nhiều lần đến đồn trại giặc vờ ước hẹn trá hàng, làm cho quân giặc mất cảnh giác, sau
1287-đó cho quân đến cướp doanh trại giặc
Sau ngày kháng chiến thắng lợi, tài liệu có nhắc tới Trần Tung hầu như rất ít Hình như ông được nhận chức Tiết độ sứ, coi giữ phủ Thái Bình, nhưng chỉ ít lâu, ông đã lui về ấp Tịnh Bang, có lẽ là trang ấp được phong, dựng Dưỡng Chân Trang, tiếp tục đuổi theo ham thích cũ là tham cứu đạo Phật
Trước kia Trần Tung đã từng theo học Thiền sư Tiêu Dao, một nhân vật nổi tiếng cuối đời Lý và là học trò của Thiền sư Tức Lự Nhưng ông tu Phật mà không hề xuất gia, không giữ đúng các phép "tam quy", "ngũ giới",
và có phần chắc vẫn có gia đình như mọi vương hầu khác Bằng trí xét đoán sắc sảo của mình, Trần Tung đã trở thành một nhà Thiền học có bản lĩnh, có
lý trí, không câu nệ ở giáo điều sách vở, biết đập vỡ thái độ khư khư bám víu vào những khái niệm có sẵn, biết "hoà quang đồng trần" Ông được Thượng hoàng Trần Thánh Tông rất kính trọng, tôn làm sư huynh, và vua Trần Nhân Tông tôn làm thầy, mặc dầu thật ra ông không trực tiếp đào tạo ra phái Trúc Lâm, mà chỉ đàm thoại với nhà vua trong nhiều năm gần gũi cũng như trong những dịp vào chầu, tham dự các kỳ lễ hội
Sáng tác của Trần Tung được tập hợp trong bộ Thượng sĩ ngũ lục, bộ
sách gồm ba phần: Phần thứ nhất là phần "ngữ lục" - những bài giảng của ông
Trang 27cho học trò và những công án của ông; Phần thứ hai gọi là sách "Tụng cổ", phần này do Pháp Loa ghi lại, Trần Nhân Tông khảo đính, gồm 49 bài thơ
dưới nhiều đề tài và nhiều thể loại, trong đó có một bài Tịnh bang cảnh vật trùng với bài Đề dã thự của Trần Quang Khải và bài Tứ sơn khả hại trùng với thơ Trần Thái Tông; Phần thứ ba gồm một bài Thượng sĩ hành trạng của Trần
Nhân Tông, tám bài tán của tám nhà Thiền học phái Trúc Lâm và một bài bạt của Đỗ Khắc Chung Toàn bộ tập sách do sư Tuệ Nguyên, chùa Long Động khắc in vào năm Quý Hợi, niên hiệu Chính Hoà thứ tư (1683), được khắc lại một lần nữa vào năm Quý Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 24 (1763), rồi lại được sư Thanh Cừ khắc lại năm Quý Mão (1903)
Nho gia ghét bỏ Trần Tung, nhưng Phật gia lại hết lời ca ngợi ông Từ
vị Tiết độ sứ, Hưng Ninh Vương Trần Tung sớm trở thành Tuệ Trung Thượng
Sĩ, một ngôi sao sáng trên bầu trời thiền Việt Nam Tuệ Trung Thượng Sĩ là học trò xuất sắc của Thiền sư Tiêu Dao Tiêu Dao Thiền sư còn gọi là Phúc Đường đại sư, cư trú ở Phúc Đường tinh xá (chưa rõ ở đâu) là một Thiền sư nổi tiếng thời Lý Ông là đệ tử của Ứng Thuận phái Vô Ngôn Thông, đồng thời là người thừa kế thiền sư Đại Đăng, tổ thứ ba chùa Hoa Yên núi Yên Tử Trần Tung rất mực cung kính, khâm phục thiền sư Tiêu Dao:
(Bài: "Trình Thiền sư Tiêu Dao ở Phúc Đường")
Tu tri thế hữu nhân trung Phật Hưu quái lô khai hoả lý liên
(Nên biết trong đời sinh đức Phật
Lạ chi giữa lửa nở sen vàng)
(Đỗ Văn Hỷ dịch) Tuệ Trung Thượng Sĩ đã tiếp thu được mọi nguyên lý sâu xa, vi diệu nhất của Thiền học từ sư phụ Tiêu Dao, rồi truyền dạy lại cho Trần Nhân Tông, đệ nhất Tổ phái Thiền học Trúc Lâm Yên Tử Chính vì thế Tuệ Trung
Trang 28Thượng Sĩ được coi là người tiên phong của phái Thiền học Trúc Lâm Yên
Tử Tuệ Trung Thượng Sĩ là một nhà Thiền học có bản lĩnh, có lý trí, không giáo điều sách vở Ông tu Phật nhưng không xuất gia, không toạ thiền, không trì giới, không ăn chay, không cầu thành Phật, không thuyết pháp, mà "hoà
quang đồng trần" (cùng thế tục hoà sáng), sống "hoà lẫn với thói thường chứ
không làm ra cách trái hẳn với người đời", "cứ tuỳ cái tính tự nhiên của mình
mà làm chứ không câu chấp ở cái danh" (Thượng Sĩ hành trạng) Không ăn
chay, không trì giới đối với người tu Phật là thái độ trái với truyền thống giáo điều mà các tín đồ không thể hiểu nổi Khi thấy trong khi dự tiệc, Tuệ Trung Thượng Sĩ gặp thịt cứ ăn, Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái Hậu lấy làm
lạ, hỏi rằng: "Anh tu Thiền mà ăn thịt thì thành Phật sao được?" Câu trả lời
của Tuệ Trung Thượng Sĩ sau đây đã thể hiện rõ tinh thần tự do, độc lập trong nhận thức sự vật ở chính sự vật chứ không lệ thuộc vào bất cứ tín điều nào:
"Phật tự Phật, huynh tự huynh Huynh dã bất yếu tố Phật, Phật dã bất yếu
tố huynh Bất kiến cổ đức đạo: "Văn Thù tự Văn Thù, giải thoát tự giải thoát ?"
(Phật là Phật, anh là anh Anh không cầu làm Phật, Phật không cầu làm anh Chẳng thấy các bậc đại đức xưa nói: "Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát" đó sao?)
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Tuệ Trung Thượng Sĩ là người đầu tiên đưa ra khái niệm "bản thể", một khái niệm mà ngày nay triết học Đông - Tây thường nói tới Bản thể luận (bàn về nguồn gốc sự vật) là vấn đề ông thường thể hiện trong sáng tác của mình Theo ông, bản thể là KHÔNG Mọi hiện tượng, sự vật trong tự nhiên và xã hội đều là những khái niệm không phản ánh được thực chất của vạn pháp, chỉ là ước định của người đời mà thôi
Từ bản thể KHÔNG sẽ xuất hiện ảo hoá, vô minh mà phân thành nhị kiến Bởi nhị kiến mà xuất hiện mọi thứ: sinh - tử, mê - ngộ, phàm - thánh, chân - vọng, sắc - không, phải - trái Do nhị kiến mà kiến giải cũng thiên lệch Nếu lấy kiến giải để trình kiến giải thì lại càng sai lệch hơn:
Trang 29"vong nhị kiến" Để diệt nhị kiến, ông đưa ra phương pháp phá chấp Muốn giác ngộ tới chân lý tối hậu phải tự tìm hiểu, phải có tâm hồn trẻ thơ không thiên không lệch Khi đã giác ngộ, lại trở về với tồn nhiên như nhiên, trở về
với không (vô) Có người chấp vào kinh sách mà hỏi ông: "Sắc tức thị không,
không tức thị sắc" (Sắc là không, không là sắc) là thế nào?" Ông trả lời: "Sắc bản vô không, không bản vô sắc" (Sắc vốn chẳng phải không, không vốn
không phải sắc) Theo ông, kinh điển chỉ là phương tiện mà thôi và ông khuyên mọi người:
Đừng gánh nặng hai vai Mới qua cầu khỉ được
Tư tưởng Thiền tông của Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng thể hiện ở mệnh
đề "tức Tâm, tức Phật" Tâm, không thể nói được; Phật, không thể thấy được
Tâm và Phật quan hệ mật thiết với nhau, hễ có cái này thì cũng có cái kia, hễ cái này mất thì cái kia cũng mất Bản thể của Tâm không tướng, không hình, không nhìn thấy được Nếu muốn biết bộ mặt thật của Tâm thì thật là chuyện nực cười Ông khuyên mọi người không nên tìm Tâm ở ngoài ta, bởi vì Phật trong ta Đó chính là Tâm ta vậy:
Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm Phật tâm khước dữ ngã tâm hợp
(Phật tâm ca)
Trang 30(Tâm của muôn loài tức Phật tâm Tâm Phật cũng phù hợp với tâm ta)
(Đỗ Văn Hỷ dịch) Một khi tâm con người bao dung, mở rộng, chứa được tâm của vạn pháp, đạt được tâm Phật là giác ngộ, là giải thoát
Sinh tử là vấn đề quan trọng nhất trong nhân sinh quan của Tuệ Trung Thượng Sĩ Ông cho rằng, sinh tử đều là vọng (không chân thực), chỉ là nhận thức sai lầm mà thôi Sinh tử phụ thuộc vào Tâm: Tâm sinh thì sinh tử sinh, Tâm diệt thì sinh tử diệt Sinh tử vốn không có tự tính Sinh tử cũng tuân theo quy luật tự nhiên như mặt trời mọc đằng đông, mặt trăng lặn đằng tây vậy Con người chẳng nên lo lắng trước sống chết, hãy coi sống chết là việc nhẹ nhàng không quan trọng, vì sống chết là lẽ thường mà thôi
Tâm chi sinh hề sinh tử sinh Tâm chi diệt hề sinh tử diệt
(Sinh tử nhàn nhi dự )
(Tâm sinh thì sống chết sinh Tâm diệt thì sống chết diệt)
(Đỗ Văn Hỷ dịch)
2.2.2.1 Bậc trí có cái nhìn thông đạt xem sống chết là lẽ thường mà thôi
Thiền học của Tuệ Trung Thượng Sĩ là tín ngưỡng nội tâm, luôn luôn
tự khai phóng, tự hoàn thiện, hướng con người tới cuộc sống tốt đẹp ở ngay trần thế Mặc dù quan điểm Thiền học của ông cũng như của Thiền tông Việt Nam nói chung là quan điểm duy tâm, nhà Trần vẫn lấy hệ tư tưởng của Thiền tông làm hệ tư tưởng chủ đạo của đất nước và đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực văn hoá và chống ngoại xâm Vào thời
Lý, Phật giáo Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao với ba trường phái Thiền tông cùng tồn tại Trong thời kỳ đầu, vừa tiếp nhận chính quyền từ
Trang 31tay nhà Lý, nhà Trần vẫn phải đề cao Phật giáo để thu phục nhân tâm và tiếp tục phát triển nền văn hoá mà nhà Lý đã đạt được, đồng thời tiến tới xây dựng một hệ tư tưởng độc lập của mình Cùng với Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ có ảnh hưởng rất lớn vào việc hoà nhập ba phái Tỳ
Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường, dẫn tới sự phát triển của Thiền phái duy nhất thời Trần là Trúc Lâm Yên Tử vào thế kỷ XIII Phật giáo thời Trần được coi là Phật giáo nhất tông Quan niệm Thiền và tư tưởng tuỳ nghi "vào xứ mình trần cởi áo đi, phải đâu quên lễ, chỉ tuỳ nghi " (bài "Vật bất năng dung" ) và “hợp thời đúng lúc cốt tinh anh" (bài "Ngẫu tác") của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã góp phần làm cho Phật giáo Việt Nam
có tinh thần nhập thế tích cực, nhập thế vì quê hương đất nước, vì đồng loại chứ không phải vì cá nhân Theo ông, mọi hoạt động trong cuộc sống hàng ngày đều là thiền (Hành diệc thiền, toạ diệc thiền) Khi đất nước bị xâm lăng thì đánh giặc cứu nước là biết tuỳ nghi, là hợp thời đúng lúc, là thiền
Hệ tư tưởng Thiền tông với vị trí là hệ tư tưởng chủ đạo của đất nước thời Trần đã góp phần quyết định làm nên ba lần đại thắng Nguyên - Mông của dân tộc ta Nhờ ảnh hưởng tư tưởng thiền mà quân dân nhà Trần đã từng chích lên cánh tay hai chữ "sát thát", coi cái chết vì nước vì dân nhẹ như lông hồng, tạo nên sức mạnh tinh thần Đại Việt, quét sạch giặc xâm lăng ra khỏi bờ cõi
Là một quý tộc trí thức uyên bác, nhà thiền học lớn, Tuệ Trung Thượng
Sĩ được vua Trần Thánh Tông kính trọng gọi là sư huynh và ban cho tên hiệu Thượng Sĩ (danh hiệu tương đương như Bồ Tát; Thượng Sĩ là người mà mọi hành động đều lợi mình và lợi cả người) Trần Nhân Tông – Nhà văn hoá lớn, nhà thơ xuất sắc thế kỷ XIII, người sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử đã thừa nhận Tuệ Trung Thượng Sĩ là thầy và đánh giá ông là một bậc đại trí tuệ, một quả núi lớn trong rừng Thiền:
Trang 32Pháp hải độc nhãn Thiền lâm tam giác
(Biển pháp một ngươi Rừng Thiền ba phía) Trần Tung - Tuệ Trung Thượng Sĩ còn là một nhà thơ tiêu biểu, một gương mặt sáng giá trong làng thơ thiền Việt Nam thế kỷ XIII Những sáng
tác của ông chủ yếu được tập hợp trong bộ Thượng Sĩ ngữ lục
Tính chất phóng khoáng, không quá lệ thuộc vào bất kỳ một tín điều nào (kể cả tín điều nhà Phật) là đặc điểm chủ yếu tạo nên bản sắc tư tưởng và chi phối phong cách nghệ thuật thơ của ông Xuất phát từ việc đập vỡ thái độ bám víu vào khái niệm, đả phá những vấn đề giả tạo trong đời sống đạo để ca lên khúc nhạc huyền diệu của muôn đời (Diệu khúc bản lai tu cử xướng - Bài
"Thị chúng" ), Trần Tung đã tạo cho thơ Thiền của mình một phong cách riêng, phong cách mà các nhà nghiên cứu gọi là "phong cách phóng cuồng"
Là một nhà Thiền học nhưng thơ Trần Tung lại có khí cốt cao ngạo, tung hoành như Trang Tử Trước cảnh đẹp hùng tráng của núi sông, vũ trụ, ông chống gậy đi du ngoạn, không quan tâm đến ăn uống, hoàn toàn tự tại tiêu dao, thoát tục đến hoá cuồng Cái cuồng siêu thoát vì nhận thức bản thể KHÔNG của Thiền tông Siêu thoát đến cùng cực, siêu thoát từ trần gian đi vào cõi Thiền (Bài "Phóng cuồng ngâm") Có lúc thơ ông lại mang tâm sự ẩn nhẫn của một xử sĩ Ban đầu ông chưa nghĩ tới thú giang hồ, vì còn bận với đường công danh Nhưng rồi thời gian thoi đưa, công danh lận đận, tuổi đã cao, ông mới nghĩ đến thú giang hồ Ông theo con thuyền tiêu dao của Tạ Tam, vượt thác ghềnh, đắm mình với non xanh nước biếc, tiếng sáo chiều hôm, gió mát trăng thanh, tiếng nhạn báo thu về… Tiêu dao là cuộc sống ẩn sĩ của ông (Bài "Giang hồ tự thích") Đôi khi ông lại day dứt khôn nguôi về
Trang 33đường công danh nhưng không đạt sở nguyện Ông tự đánh giá mình cao hơn những gì triều đình ban cho ông nên ông bất mãn thế thái nhân tình
Tiêu đầu lạn ngạch bị kim bào, Ngũ thất niên gian thị xưởng tào
Túng dã siêu quần kiêm bạt tuy, Nhất hồi phóng hạ nhất hồi cao
(Bài "Chiếu thân" ) Sém đầu dập trán bởi đua chen, Năm bảy năm nay kiếp ngựa hèn
Ví phỏng tài năng siêu việt hết, Mỗi lần rớt xuống, một lần lên
(Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ dịch) Trong thế giới huyền bí nhà Phật mà Trần Tung dấn thân vào, ông vẫn
cố gắng suy nghĩ độc lập, kiểm nghiệm mọi tín điều, mọi hành động, mọi thói quen Ngay cả việc ngồi thiền ông cũng coi chẳng qua chỉ là quá trình tập
trung tư tưởng, chẳng liên quan đến niệm Phật
Đường trung đoàn toạ tịch vô nghiên Nhàn khán Côn Luân nhất lũ yên
Tự thị quyện thời tâm tự tức Bất quan nhiếp niệm, bất quan Thiền
Bài "Ngẫu tác"
Giữa nhà không nói, chỉ ngồi yên Nhàn ngắm Côn Luân sợi khói lên Lúc mệt mỏi rồi tâm tự tắt
Cần chi niệm Phật với cầu Thiền
(Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ dịch)
Trang 34Ông phê phán sự mù quáng tin theo những giáo lý có sẵn, vì như thế là mình chỉ làm theo người khác chứ đâu còn là mình nữa Ông khuyên mọi người hãy độc lập xét đoán sự vật, không nên dựa dẫm vào người khác Chỉ khi nào vứt bỏ được thái độ dựa vào người khác và tự mình tư duy, hành động thì ánh sáng trí tuệ mới bừng dậy trong ta
Báo quân hưu ỷ tha môn hộ Nhất điểm xuân quang, xứ xứ hoa
(Bài "Thị học" ) Thôi chớ cửa người nương dựa nữa, Một tia xuân đến nở hoa đầy
(Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ dịch)
Là một người cuồng ngông trong vườn Thiền thời Trần, Trần Tung đã để lại những vần thơ phóng túng đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam Hơn thế nữa, không dừng lại ở những vần thơ phóng túng, ông còn thể hiện tâm trạng
phóng cuồng của mình bằng những bài ca phóng cuồng như: Phật tâm ca, Phóng
cuồng ngâm, Trừu thần ngâm, Sinh tử nhàn nhi dĩ, Phàm thánh bất dị Những
bài ca phóng cuồng của ông về đời sống tu hành thường mang triết lý sâu sắc, cảm xúc tinh tế, hình tượng phong phú và sinh động, câu thơ giàu âm điệu:
Trang 35Trần Tung là nhà thơ thiền có phong cách phóng cuồng sôi nổi và dữ dội, độc đáo và hấp dẫn Thơ thiền của ông chứa đầy Phật lý và thế tục, mỗi hình tượng thế tục đều gắn với Phật lý và Phật lý nằm trong hình tượng thế tục Con người đời thường và con người Phật giáo ở ông hoà quyện vào nhau Bằng cách lập luận sắc sảo, sử dụng linh hoạt nhiều hình tượng độc đáo thể hiện sâu sắc quan điểm Thiền và đậm chất Lão Trang, Trần Tung đã sáng tạo được những vần thơ đầy hào khí, bay bổng, sinh sắc, lạ thường, phóng cuồng
mà vẫn tỉnh táo, huyền diệu và thoát tục mà không xuất thế
Là nhân sĩ yêu nước, mỗi khi Tổ quốc bị giặc xâm lăng, Trần Tung đã đảm nhận những nhiệm vụ khó khăn và nguy hiểm nhất, khi làm sứ giả vào tận sào huyệt của địch đấu trí trên mặt trận ngoại giao, lúc làm tướng trực tiếp chỉ huy chiến đấu Ở cương vị nào ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, lập nhiều công trạng
Là một nhà thơ thiền, ông để lại số lượng thơ thiền nhiều nhất đương thời (49 bài thơ, 4 bài kệ, 13 bài tụng), những bài thơ có giá trị về cả nội dung
và nghệ thuật, thể hiện một phong cách mà không một nhà thơ nào bắt chước được: Phong cách phóng cuồng
Với chủ trương tùy tục, tích cực nhập thế và làm cho đời sáng tươi mà Tuệ Trung đề ra, con người không cần đi tìm Phật ở đâu xa, Phật hiện hữu ngay trong tâm thức mình Ngay từ đầu thời Trần, quốc sư Viên Chứng - thầy của Trần Thái Tông đã đưa ra quan điểm về Phật "tâm tịch nhi tri, thị danh chân Phật" (lòng lặng mà biết, đó chính là chân Phật)
Và sau đó, Trần Thái Tông thì phát biểu dứt khoát "Phật thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng” (thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng) Tuệ
Trung thì chủ trương Phật tại tâm ở trong bài Phật Tâm Ca, còn trong Thượng
Sĩ ngữ lục thì cho rằng khi mê thì không biết ta là Phật, hay “Phật và chúng
sinh không khác nhau", mày ngang mũi dọc cũng như nhau, Phật với chúng
Trang 36sinh không khác mặt Trần Nhân Tông trong Cư Trần Lạc Đạo thì tuyên bố
“Phật ở trong nhà, chẳng phải tìm xa" Như vậy, vào thời Trần, một quan điểm mới về Phật được hình thành trong bối cảnh đất nước Đại Việt đang nỗ lực bảo vệ các thành quả của cha ông đạt được, cũng như dốc lòng xây dựng
và phát triển đất nước, ắt hẳn sẽ tạo sự tác động lớn vào tâm thức con người
và xã hội Mỗi khi tư duy về Đức Phật thay đổi thì nội dung sinh hoạt Phật giáo thay đổi hẳn Chỉ cần lòng lặng mà biết, thân ta không khác thân Phật, khi tâm sinh thì Phật sinh thì ai cũng thành Phật Nói cách khác, ở đâu có con người, ở đó có sự giác ngộ của chân tâm, có sự sinh hoạt Phật giáo Thiền tông trong bất kỳ môi trường nào
2.2.2.2 Nếp sống đạo Thiền - Suối nguồn hạnh phúc
Khi con người chấp nhận quan điểm Phật tại tâm và thể nhập vào đời sống thì có thể hiểu và hành động theo bản tâm chân thật của chính mình, mục đích là đem lại các giá trị hạnh phúc cho chính mình và mọi người Một quan điểm về Đức Phật như thế sẽ tạo ra cái nhìn mới về bản chất bình đẳng của con người Mọi người đều bình đẳng không phân biệt đẳng cấp, sang hèn, giàu nghèo, nam nữ,… vì họ đều có khả năng thành Phật ở đời Nó sẽ tạo ra
sự đồng cảm, không còn tự ti, mặc cảm mà tích cực hoàn thiện nhân cách cá
nhân và sẵn sàng đóng góp cho đời cho đạo
Mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống đối với mỗi cá nhân hiện hữu đều được nhìn nhận trên cơ sở bình đẳng, từ đó người ta dễ dàng thông cảm, chia sẻ và đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận một vấn đề để cùng nhau có một hướng giải quyết tốt đẹp nhất mà không có một thế lực nào chi phối
Rõ ràng một lối sống thiền mà Tuệ Trung đề xuất như thế không có gì
là cao siêu, huyền bí mà thật đơn giản, cụ thể, rất hiện thực hóa ở đời Phật
Trang 37giáo quan điểm hạnh phúc là sự vắng mặt của khổ đau Xem ra, hạnh phúc khởi nguyên từ trong thực tại để rồi tuôn chảy về thực tại nhiệm màu
Trong ý nghĩa tận cùng đó, nếu có một người nào cố tình cắt chia thực tại bằng tư duy phân biệt, chẻ chia thì chẳng bao giờ có một giây phút bình
an, hỷ lạc.Thực tế sinh mệnh con người từ khi cất tiếng khóc chào đời vốn đã
bị trói mình trong các siềng xích từng ý niệm phân biệt giả hợp Cho nên, con người vội vã tìm kiếm ảo giác hạnh phúc bên ngoài đời thường Kinh Viên Giác từng tuyên bố "Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác", nghĩa là Phật pháp chỉ có ở thế gian này, ngoài thế gian này không thể có Phật pháp Cho nên các học giả trong thế giới thiền học thường xuyên khuyến cáo đừng bao giờ chấp trước chẻ chia thế giới thực tại này thành Phật quốc hay địa ngục trần gian Sự phân biệt này càng làm cho con người thêm thôi thúc tìm cầu vị ngọt chất chứa vị ngọt của "ái thủ” (sự yêu thương đối đãi và chấp trước) Chính Thiền sư Hy Vận từng tuyên bố "nếu muốn thành Phật thì không cần phải học hết Phật pháp, chỉ cần học vô cầu, vô trước Nếu không cầu tức trở thành tâm bất diệt, bất sinh bất diệt tức là Phật"
Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng thế thôi, ông sống giữa đời nhưng thể nhập diệu tính của cuộc đời Đạo Phật là đạo giải thoát, giải thoát mọi hệ lụy của cuộc đời Kinh Kim Cương dạy rằng "phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng", thế nên Tuệ Trung đã mời gọi mọi người hãy từ bỏ những công ước, những giới điều trói buộc tâm thức con người, hãy lên đường bước vào đời sống và
thể nhập thực tại
Hãy an trú vào chính niệm, giải thoát luôn có mặt trong cuộc sống hằng ngày Ông đã truyền cái sức sống mới, niềm tin mới khác cái mà những gì họ sống họ hành động
Qua Phật Tâm Ca Tuệ Trung Trung Sĩ đã cho ta thấy rằng con người Đại Việt trong ông chính là con người giải thoát chứng đắc ngay giữa cuộc
Trang 38đời ô trược qua tư tưởng hòa quang đồng trần Ngoài ra ông cũng khẳng định rằng trong mỗi con người, mỗi chúng sinh đều có Phật tính và khả năng chứng đắc quả vị như đức Phật vậy
Và muốn đạt được điều đó ông đã vạch ra một phương châm sống rất hiện thực đó là sự xa lìa cấu nhiễm trần tục, cởi bỏ vòng dây tham ái, sống một nếp sống tự tại vô nhiễm ấy chính là nguồn hạnh phúc đích thực mà con
người cần đạt đến
2.2.3 Trần Nhân Tông (1258-1308)
Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, con đầu của vua Trần Thánh Tông, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ 1258 Ông lên làm vua từ năm Kỷ Mão 1279 và sau lên núi Yên Tử tu hành đắc đạo Đồng thời ông là người sáng lập và là Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ở Việt Nam
Trần Nhân Tông vốn là một người có tư chất thông minh lại được Tuệ Trung Thượng Sĩ truyền trao những yếu chỉ của Thiền Tông, cộng với kiến thức uyên thâm quảng bác của mình nên lĩnh vực văn thơ của ngài có một phong cách rất riêng
Từ góc độ tư tưởng thiền học và cảm quan văn học, các bài thơ của Trần Nhân Tông phong phú về thể loại và hàm xúc ý nghĩa về thiền học, về
cơ bản có thể phân thành năm loại phong cách như sau: l Ngộ: Vô thường vô ngã thiền thơ; 2 Ngộ: Trực cảm tâm linh thiền thơ; 3 Ngộ: Thủy nguyệt điền viên thiền thơ ; 4 Ngộ: Lâm tuyền dã thú thiền thơ; 5 Ngộ: Sơn thôn lạc chiếu thiền thơ
Trong tiến trình hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, và hơn 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng, đất nước ta
đã có một thời gian dài Bắc thuộc, vì vậy mà trong lĩnh vực đời sống xã hội
và phong tục tập quán, cũng như văn học ngôn ngữ hay tín ngưỡng tôn giáo v.v,… đều có sự ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc từ nền văn minh Trung Hoa
Trang 39Trải qua thời gian gần 10 thế kỷ lệ thuộc Trung Hoa (179 TCN - 938 SCN), đến thời kỳ đất nước giành được độc lập chủ quyền dân tộc, thì giai đoạn Lý - Trần được đánh giá là thời kỳ hưng thịnh của dân tộc trên tất cả các lĩnh vực trong đó có sự thành tựu đáng kể về lĩnh vực văn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học Phật giáo "Có thể nói, văn học Phật giáo Lý-trần là một tiếng nói rất riêng „một đi không trở lại‟ Tiếng nói ấy chính là tinh hoa của thời đại Phật giáo cực thịnh, là tinh hoa của văn học Phật giáo Việt Nam, góp phần làm cho nội dung văn học Việt Nam thêm đa dạng và phong phú " [38, tr.18]
Với quá trình tô bồi cho vườn hoa văn học nghệ thuật của dân tộc Việt Nam thêm phần đặc sắc, trong đó có một ngòi bút uyển chuyển đầy năng lực,
đó chính là sơ tổ Trúc Lâm Thiền phái, Phật Hoàng Trần Nhân Tông, một nhà văn hóa lớn và cũng là một vị anh hùng của dân tộc Việt Nam
Vì chịu ảnh hưởng sâu rộng từ nền văn hóa và ngôn ngữ Trung Hoa, nên nền văn học của Việt Nam thời Trần chủ yếu là sử dụng Hán ngữ làm phương tiện biểu đạt Tuy nhiên, đến giai đoạn Trần Nhân Tông trị vì, Ngài
đã khuyến khích toàn dân nên dùng song song hai loại chữ viết, đó là chữ Hán
và chữ Nôm, một sự sáng tạo về chữ viết đã được ra đời và tương đối hoàn chỉnh trong triều đại nhà trần
Trước khi Trần Nhân Tông khai sáng thiền phái Trúc Lâm, đã có ba Thiền phái du nhập và bén rễ tại Việt Nam là: Tỳ Ni Đa Lưu Chi Thiền phái,
Vô Ngôn Thông Thiền phái và Thảo Đường Thiền phái Các thiền phái này đều do các vị Thiền sư Ấn Độ và Tăng nhân Trung Hoa khai sáng, nhưng đến khi Trúc Lâm Thiền phái ra đời thì chính Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã khéo chắt lọc những tinh hoa tư tưởng của ba Thiền phái trước, đồng thời kết hợp với văn hóa truyền thống, tâm linh tín ngưỡng của người Việt mà hình thành nên Thiền phái Trúc Lâm, mang đậm bản sắc văn hóa Phật giáo của người Việt Nét đặc sắc của văn học thời Trần là đặc điểm thơ với thiền kết hợp, các Thiền sư, Tăng nhân và Cư sĩ thường làm thơ theo thể thơ Đường
Trang 40luật, nhằm biểu đạt thiền tâm ý cảnh của mình, đã làm cho thiền và thơ trở thành mối lương duyên bất hủ Cho nên, sự kết hợp của thơ với thiền đã trở thành phong cách thanh cao nho nhã của hàng thi nhân biểu đạt sự cảm thụ thẩm mỹ văn học, hòa điệu với đời sống tinh thần phong phú, và họ thường sử dụng các thể loại như: “Vô thường vô ngã thiền thơ; Trực cảm tâm linh thiền thơ; Thủy nguyệt điền viên thiền thơ; Lâm tuyền dã thú thiền thơ; Sơn thôn lạc chiếu thiền thơ”, v.v… nhằm thể hiện sự cảm khái rộng mở của tâm hồn trước những phong cảnh tuyệt vời từ thiên nhiên
Từ góc độ tư tưởng thiền học và cảm quan văn học, các bài thơ của Trần Nhân Tông phong phú về thể loại và hàm ý nghĩa về thiền học, về cơ bản có thể phân thành năm loại phong cách như sau: 1 Ngộ: Vô thường vô ngã thiền thơ; 2 Ngộ: Trực cảm tâm linh thiền thơ; 3 Ngộ: Thủy nguyệt điền viên thơ; 4 Ngộ: Lâm tuyền dã thú thiền thơ; 5 Ngộ: Sơn thôn lạc chiếu thiền thơ
2.2.3.1 Ngộ: Vô thường vô ngã thiền thơ
Thiền học chính tông chủ trương tu thân với tự nhiên và thoát ly thế tục, nghiêm trì tịnh giới với giữ gìn sáu căn thanh tịnh Cần khai phát trí tuệ chân tâm là điều kiện tiên quyết để thể nhập thiền, chỉ khi nào bản tâm của thiền giả thanh tịnh chuyên chú mới thể nhập lý thiền và đạt thành sở ngộ Trong những tác phẩm thơ thiền của ngài Trần Nhân Tông, ít nhiều có biểu hiện của tham thiền và thể ngộ "vô ngã” giữa chủ thể và khách thể, quán sát các sự vật hiện tượng mà ngộ "vô thường" Dưới đây là một bài thơ thiền mà
ý thơ nói lên tâm ngộ vạn vật "vô thường" của thi nhân