Các nhà văn luôn tìm ra hướng tiếp cận thích hợp hiện thực, phản ánh đời sống, tâm tư, nguyện vọng của người nông dân và từ đó độc giả nhận ra quan niệm, cách nhìn của chính nhà văn về h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN THỊ NGỌC HÀ
NÔNG THÔN THỜI KỲ ĐỔI MỚI TRONG
TIỂU THUYẾT THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM
CỦA ĐỖ MINH TUẤN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN THỊ NGỌC HÀ
NÔNG THÔN THỜI KỲ ĐỔI MỚI TRONG
TIỂU THUYẾT THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM
CỦA ĐỖ MINH TUẤN
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TÔN PHƯƠNG LAN
Hà Nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3.Mục đích nghiên cứu 13
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5.Phương pháp nghiên cứu 14
6.Cấu trúc đề tài 15
PHẦN NỘI DUNG 16
CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ NÔNG THÔN TRONG VĂN XUÔI THỜI KÌ ĐỔI MỚI 16
1 1.Khái quát về thể loại tiểu thuyết và những đổi mới trong quan niệm về hiện thực và con người 16
1.1.1.Khái niệm và đặc trưng thể loại 16
1.1.2.Vấn đề đổi mới về quan niệm hiện thực và con người trong tiểu thuyết sau 1975 21
1.2.Tiểu thuyết viết về nông thôn trong văn xuôi đương đại 29
1.2.1.Tiểu thuyết viết về nông thôn đặt trong bối cảnh chung của tiểu thuyết đổi mới 29
1.2.2.Một số tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn trong văn học đổi mới 38
1.3.Đỗ Minh Tuấn và tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm 46
1.3.1.Tác giả Đỗ Minh Tuấn 46
1.3.2.Tác phẩm Thần thánh và bươm bướm 47
CHƯƠNG 2: NÔNG THÔN VÀ NGƯỜI NÔNG DÂN TRONG TIỂU THUYẾT THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM 51
2.1 Hiện thực cuộc sống nông thôn qua Thần thánh và bươm bướm 51
2.1.1 Một nông thôn đầy biến động trước thời kì hội nhập kinh tế thị trường 51
Trang 42.1.2 Đồng tiền - nguồn sức mạnh vạn năng thao túng nhiều mặt giá trị văn
hoá, đạo đức 61
2.2 Hình ảnh người nông dân trong Thần thánh và bươm bướm 69
2.2.1 Người nông dân trong các mối quan hệ 70
2.2.2 Con người với đầy đủ những mặt tốt và mặt xấu 78
2.2.3 Người nông dân với khát vọng đổi đời ngây thơ và mù quáng 89
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN BỨC TRANH NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM 98
3.1 Kết cấu tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm 98
3.1.1 Kết cấu trần thuật 98
3.1.1.Kết cấu hình tượng 100
3.2 Sử dụng bút pháp hiện thực huyền ảo 104
3.2.1 Trong việc thể hiện không gian – thời gian nghệ thuật 105
3.2.2.Trong nghệ thuật xây dựng nhân vật 105
3.3 Giọng điệu nghệ thuật 118
3.3.1 Giọng giễu nhại – xót xa 119
3.3.1 Giọng chia sẻ - cảm thông 127
KẾT LUẬN 128 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nói tới tầm quan trọng của đề tài nông thôn trong văn học, nhà thơ
Hữu Thỉnh đã nhấn mạnh: “ Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đặc biệt từ thời kì đổi mới đến nay, mảng văn học đề tài nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã tạo ra được những giá trị to lớn, chiếm giữ một vị trí quan trọng trong kho tàng đồ sộ, phong phú và đa dạng của nền văn học Việt Nam”[84] Thật vậy, từ xưa tới nay, mảng đề tài viết về nông thôn luôn chiếm một vị trí khá quan trọng trong nền văn học Việt Nam Ở mỗi một giai đoạn lịch sử, hiện thực nông thôn lại đặt ra những vấn đề mang tính thời đại và đặt ra những yêu cầu cấp thiết cần được giải quyết đối với các nhà văn chuyên viết về đề tài này Các nhà văn luôn tìm ra hướng tiếp cận thích hợp hiện thực, phản ánh đời sống, tâm tư, nguyện vọng của người nông dân và từ đó độc giả nhận ra quan niệm, cách nhìn của chính nhà văn về hiện thực và con người cùng với những vấn đề đặt ra trong đời sống nông thôn và người nông dân của giai
đoạn ấy
1.2 Từ sau đổi mới hoà trong dòng chảy của tiểu thuyết nói riêng, của
văn học nói chung, tiểu thuyết viết về nông thôn đã có những chuyển đổi quan trọng về tư duy nghệ thuật, đạt được những thành tựu mới Các nhà văn đã có một cái nhìn lịch sử mới trong một số vấn đề về nông thôn như thời kỳ cải
cách ruộng đất qua tiểu thuyết Ác mộng của Ngô Ngọc Bội, Ba người khác của Tô Hoài, … thời hậu chiến như Sao đổi ngôi của Chu Văn, Bến không chồng của Dương Hướng…Đặc biệt một số tiểu thuyết đã đề cập đến những
vấn đề về nông thôn đương đại trong thời buổi kinh tế thị trường và đất nước
bước vào thời kỳ hội nhập như Ma làng của Trịnh Thanh Phong, Mảnh đất
Trang 6lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Thuỷ hoả đạo tặc của Hoàng
Minh Tường
1.3 Thần thánh và bươm bướm là một cuốn tiểu thuyết viết về nông
thôn xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì sau đổi mới Cuốn tiểu thuyết tiếp cận hiện thực nông thôn từ những phương diện rất mới mẻ: Đó là vấn đề của người nông dân ( công ăn việc làm, trình độ dân trí, tâm linh, đạo đức…), là vấn đề nông thôn ( văn hóa, y tế, các mối quan hệ họ tộc, gia đình…) là vấn
đề nông nghiệp ( đầu tư, dự án…) Tác phẩm đặc biệt thu hút người đọc ở giọng điệu hài hước, giễu nhại từ một cách đặt ra những vấn đề rất nghiêm chỉnh Đỗ Minh Tuấn đã xây dựng một hiện thực giả tưởng trong tác phẩm của mình để từ đó soi tỏ, lý giải hiện thực ngoài đời Ông xây dựng tâm lý, tính cách nhân vật như một cách đưa ra những quan niệm, cách nhìn và cách nghĩ về con người thời hiện đại
1.4 Nông thôn là một trong hai đề tài lớn của văn học sau 1945, cũng
là nơi đang nóng với những vấn đề lớn trong xã hội Đây cũng là nơi đặt ra những thử thách không nhỏ cho bản lĩnh của nhà văn Xuất phát từ lòng yêu
thích và hâm mộ người nghệ sĩ đa tài Đỗ Minh Tuấn cùng tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm, đồng thời chúng tôi cũng mong muốn bổ sung thêm
kiến thức, giúp ích cho việc học tập, nghiên cứu sau này của bản thân nên
chúng tôi quyết định chọn đề tài “ Nông thôn thời kì đổi mới trong tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn” cho luận văn cao học của
mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tiểu thuyết là thể loại từ xưa đến nay không chỉ có khả năng ôm trùm những vấn đề lớn của xã hội, thu hút nhiều người trong giới sáng tác đầu tư
Trang 7thời gian, công sức mà đối với các nhà nghiên cứu phê bình, tiểu thuyết bao giờ cũng là thể loại có sức hấp dẫn đặc biệt đối với họ
Sau Đại hội Đảng VI ( 1986), văn học Việt Nam đã có một bước chuyển mình rất lớn lao trên tất cả các thể loại, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết Sự nở
rộ của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, đặc biệt là các tiểu thuyết viết về nông thôn được coi như một thành tựu của văn học thời kỳ này đã thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm
Trong quá trình tìm hiểu các tư liệu liên quan đến đề tài, chúng tôi có được một số tư liệu và tạm phân ra mấy vấn đề chính sau đây:
2.1 Sự đổi mới tư duy tiểu thuyết và đề tài nông thôn trong tiểu thuyết
sau 1975
2.1.1 Sự đổi mới trong tư duy tiểu thuyết
Sau 1975, khi đất nước thống nhất, văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã bước sang một chặng đường mới, có những bước chuyển và dấu hiệu tích cực, đánh dấu vai trò của đường lối “ cởi trói” văn nghệ của Đảng nói chung và thành công của những cây bút văn xuôi nhiều thế hệ nói riêng Trong cách tìm tòi và thể nghiệm sự sáng tạo của mình, tiểu thuyết đã có nhiều bài viết, đề cập đến các phương diện và khía cạnh khác nhau Có thể kể đến các công trình:
Nguyễn Đăng Mạnh: Về một xu hướng tiểu thuyết đang phát triển (Nhân
Trang 8Nguyễn Thị Bình, “ Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – Một cái nhìn khái quát”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2 – 2007
Phong Lê “ Vài nét tiếp cận lịch sử và giá trị văn xuôi Việt Nam hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3 – 2010
Mỗi tác giả qua các công trình nghiên cứu của mình đều có cách nhìn, cách tiếp cận khác nhau, song tất cả đều thống nhất ở mục tiêu chỉ ra sự đổi mới trong cách tân tiểu thuyết, thể hiện nỗ lực đáng kể trong sáng tạo của các cây bút văn xuôi Việt Nam trong thời kỳ mới Các tác giả đã đưa đến cho người đọc thấy rõ đặc điểm của một xu hướng tiểu thuyết đang nổi lên trong đời sống văn học những năm 80 “Đó là những tiểu thuyết nhà văn - qua tác phẩm - tham gia vào cuộc sống như một nhà tư tưởng, trong đó nội dung triết luận chiếm một vị trí quan trọng” [56] Tác giả Lê Ngọc Trà ( 2002) trong
cuốn sách Thách thức của sáng tạo thách thức của văn hoá, NXB Thanh niên,
còn chỉ ra đặc điểm đầu tiên thể hiện sự cách tân của văn xuôi sau 1975 so với thời kỳ trước là tính chất phê phán Nếu trước đây trong tác phẩm nhân vật chính thường là nhân vật chính diện, là người tốt thì sau 1975 nhân vật chính lại thường là “ những nhân vật tiêu cực, giả dối, làm ăn phi pháp, thấp kém về đạo đức”.[ 90; tr.18] Do vậy cảm hứng chủ đạo cũng thay đổi từ nhiệt tình ngợi ca, khẳng định sang sự phê phán, châm biếm Đặc điểm tiếp theo là “ tinh thần phân tích xã hội và sự chiêm nghiệm lại lịch sử” [ 90; tr.21] Nếu văn học trước đây thiên về trình bày, miêu tả lịch sử và coi đó là sức hấp dẫn của tác phẩm văn học thì văn học sau 1975 thiên về sự nghiền ngẫm lịch sử, nhờ đó nó không chỉ ghi chép mà còn soi sáng chúng dưới nhiều góc độ khác nhau Đặc điểm thứ ba là xu hướng văn học sau 1975 trở lại với đời thường, với số phận riêng” [ 90; tr.25], trong tính phong phú nhiều chiều, con người
“thiên về tính cá biệt hơn tính điển hình” [6] Đặc điểm cuối cùng là sự đổi mới “ phong cách và ý thức nghệ thuật” được thể hiện qua phương thức trần
Trang 9thuật hay việc sử dụng kỹ thuật dòng ý thức cho xây dựng nhân vật đã làm nên nét khác biệt và do đó có sự đóng góp nhất định vào thành tựu chung của văn học sau 1975
2.1.2 Về đề tài nông thôn trong bối cảnh chung của văn xuôi đổi mới
Sau khi Đảng phát động công cuộc đổi mới, văn học nói chung và văn xuôi viết về nông thôn nói riêng cũng có bước chuyển biến cơ bản Có thể nhận thấy, hiện thực được phản ánh trong tác phẩm đã trở nên sinh động, đa dạng và phong phú hơn nhờ không khí dân chủ của xã hội Hàng loạt các tác phẩm viết về đề tài “ tam nông” ra đời và ngay lập tức nhận được sự chú ý của đông đảo dư luận, những ý kiến đánh giá phê bình của các nhà nghiên cứu, các cuộc hội thảo toạ đàm được tổ chức nhằm tiếp thu, tranh luận, đánh giá về những tác phẩm ấy
Nhìn chung, mỗi công trình, mỗi bài viết đều đề cập đánh giá ở những khía cạnh khác nhau nhưng đa số đều hướng đến khẳng định giá trị đóng góp
của từng tác phẩm Chẳng hạn, khi đề cập đến Thời xa vắng của Lê Lựu – tác
phẩm đoạt giải của Hội nhà văn năm 1990, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lưu
nhận định tác phẩm: “ là một sự phê phán mạnh mẽ những thói quen bảo thủ,
là một cảnh tỉnh, một niềm tâm sự nhắn gửi một lịch sử chua xót và thấm
thía” [49] Về tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng – tác phẩm
được nhận giải thưởng của Hội nhà văn năm 1991, Nguyễn Văn Long nhận
định: “ Trong Bến không chồng, Dương Hướng muốn lưu ý người đọc đến
một phương diện của xã hội nông thôn, nó chi phối đời sống người nông dân không chỉ trong quá khứ mà cả cho đến mãi gần đây, đó là ý thức về tập quán
và dòng họ ( …) Nó vừa là một yếu tố góp phần củng cố cộng đồng làng xã, đồng thời cản trở nông thôn trên con đường phát triển” [46; tr.404] Về tác
phẩm Dòng sông mía của Đào Thắng – tác phẩm đạt giải A Cuộc thi tiểu
thuyết 2002 – 2005 của Hội nhà văn , nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến trong
Trang 10bài viết Đọc Dòng sông mía của Đào Thắng(Tạp chí Sông Hương, số 196, tháng 6 /2009) đã nhận định: “Làng Mía cũng như mọi làng xã nông thôn
Việt Nam là địa bàn “thử nghiệm” những cuộc cải cách “long trời lở đất”, những phong trào cải tạo “sắp đặt lại giang sơn” Có những nỗ lực, những thành tựu tích cực Nhưng những mặt trái của những công cuộc “cải cách”,
“cải tạo” này vẫn còn lại đó, bầy hầy, nhức nhối Đọc Dòng sông Mía của
Đào Thắng thấy rõ không tìm hiểu nghiêm túc những mặt trái này thì không
thể hiểu được xã hội và lịch sử Việt đương đại” Đánh giá về tác phẩm Thuỷ hoả đạo tặc - Hoàng Minh Tường – tác phẩm nhận giải thưởng Hội nhà văn năm 1997, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Hằng trong bài viết “ Bức tranh nông thôn một thời qua Gia phả đất, Tạp chí Nhà văn, 12/2012 khẳng định: “
Đấy chính là một bức tranh sinh động và sâu sắc được Hoàng Minh Tường khắc họa lại hiện thực cuộc sống nông thôn và người dân lao động vùng đồng bằng Bắc bộ những thập niên 80 của thế kỷ XX một cách chân thực.”
Trong cuộc hội thảo về tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường do báo Văn nghệ tổ chức vào ngày 25 tháng 1 năm
1991, các nhà nghiên cứu Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử…đều đưa ra những ý kiến nhằm khẳng định sự thành công nhiều mặt của tác phẩm GS Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định: “ Đã lâu lắm mới xuất hiện một tác phẩm viết về nông thôn Việt Nam theo đúng cái mạch
của Tắt đèn, Chí Phèo…” [94; tr 391] Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức cũng
khẳng định: “ Nguyễn Khắc Trường đã viết về nông thôn với cách nhìn chân thực, chủ động làm bộc lộ qua những trang viết một nông thôn có nhiều chuyển động, xáo trộn, đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu, tranh chấp nhau giữa các thế lực” [94;tr.386]
Ở thể loại truyện ngắn, mảng đề tài viết về nông thôn cũng đạt được những thành tựu xuất sắc gắn với các tên tuổi của các nhà văn như Nguyễn
Trang 11Ngọc Tư, Nguyễn Hữu Nhàn…Cùng với đó là hàng loạt bài nghiên cứu, phê
bình đánh giá về các tác giả, tác phẩm ấy Tìm hiểu về truyện ngắn Cánh đồng bất tận - Nguyễn Ngọc Tư, nhà nghiên cứu Hoàng Thiên Nga trong bài viết Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận, Báo Văn nghệ, Số 39, 24 –
9 – 2005, đã nhận định: “ Bối cảnh xã hội thấp thoáng đan xen trong cốt
truyện là rất thật (…) Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận đã góp lời
giục giã chính quyền phải thấm thía hơn về trách nhiệm nâng cao mức sống người dân, có nhiều hơn nữa những xoay chuyển thiết thực để giảm tỉ lệ dân nghèo rất đáng kể ở nông thôn, cụ thể là ngay tại đồng bằng sông Cửu Long” Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã cho ra đời hàng loạt các truyện ngắn viết
về làng quê như: Đám cưới làng, Người quê, Vợ chồng hò hẹn, Làng quê yên
ả… Tháng 6 năm 2011, ông đã được Hội nhà văn Việt Nam trao giải tác phẩm
văn học xuất sắc về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cho truyện ngắn chọn lọc về làng quê đô thị hóa Nguyễn Hữu Nhàn không đi vào những mặt trái của làng quê trong quá trình phát triển, hoặc phê phán chống tiêu cực, mà bằng một cách thật tự nhiên, nhất quán, ông chuyên chú đi vào các tầng văn
hoá của làng quê thời hiện đại Tác giả Đỗ Hà trong bài viết Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn gom chút hương quê chưng cất hương đời” đã nhận định : Các
truyện ngắn của Nguyễn Hữu Nhàn “là những góc nhìn mới mẻ về các vấn đề muôn thuở của làng quê(…) Bức tranh nông thôn có sự pha tạp của “dấu hình” thành thị có nhiều nét mới tích cực nhưng cũng không tránh khỏi những vấp váp Mỗi truyện ngắn là một góc nhìn nông thôn thu nhỏ, thật gần gũi, thân quen mà vẫn rất mới mẻ, độc đáo.” [23]
Sau đổi mới, với không khí dân chủ cởi mở, các nhà nghiên cứu đã có rất nhiều điều kiện thuận lợi khơi sâu vào nhiều tầng, vỉa để đánh giá và nhìn nhận lại nhiều vấn đề của văn học, trong đó có đề tài văn xuôi viết về nông
thôn Tác giả Trần Cương qua bài nghiên cứu Văn xuôi viết về nông thôn nửa
Trang 12sau những năm 80 đã nhận định có hai sự chuyển biến của văn xuôi viết về
nông thôn nửa sau những năm 86 so với những năm trước đó là sự chuyển biến trong chủ đề và sự chuyển biến trong phạm vi bao quát hiện thực Theo tác giả dường như “Lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc về con người mà trước kia chưa có Đó là chủ đề về số phận con người và hạnh phúc cá nhân” [9; tr.35] Ở phạm vi phản ánh hiện thực, tác giả cũng đưa ra nhận xét rằng
“các nhà văn như đã nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn kĩ càng Họ thấy những gì ở tầng sâu, mạnh ngầm của đời sống nông thôn”.[9; tr.36] Và
cũng dưới bút danh khác là Lã Duy Lan, tác giả đã cho ra đời cuốn Văn xuôi
viết về nông thôn tiến trình và đổi mới, Nxb Khoa học xã hội, 2001 Với công
trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa đến một cái nhìn khái quát về văn xuôi viết về nông thôn trước và sau năm 1986 về cả mặt nội dung và nghệ thuật Như vậy, qua một số công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiếp xúc được trên đây, chúng tôi nhận thấy đề tài nông thôn chiếm một vị trí quan trọng trong nền văn học đương đại Đặc biệt từ vài chục năm trở lại đây, tiểu thuyết viết về nông thôn đã mang một diện mạo mới Mảng tiểu thuyết đó được nhiều nhà phê bình quan tâm Trên cơ sở gợi dẫn của những người đi trước,
chúng tôi đi vào nghiên cứu, tìm hiểu về tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn nhằm đi đến sự khẳng định giá trị của cuốn tiểu
thuyết nói riêng và của nền văn học viết về nông thôn nói chung
2.2 Về tác phẩm Thần thánh và bươm bướm
Tác phẩm Thần thánh và bươm bướm vừa ra đời đã tạo được một tiếng
vang lớn trên văn đàn bởi sự mới lạ về giọng điệu, về cách tiếp cận đề tài nông thôn… Chính bởi vậy, tác phẩm đã thu hút rất nhiều sự chú ý, những ý kiến đánh giá và các bài phê bình của các nhà nghiên cứu Sau khi tham dự và đoạt giải thưởng cuộc thi Tiểu thuyết 2005 – 2010 do Hội nhà văn tổ chức,
Trang 13Hội nhà văn đã mở một cuộc thảo luận về cuốn tiểu thuyết này Chúng tôi có thể tóm tắt qua những ý kiến như sau:
2.2.1 Các công trình nghiên cứu tiếp cận Thần thánh và bươm bướm từ
phương diện nội dung:
- Nhà nghiên cứu Đặng Thân trong công trình “ Cảm tưởng mông lung khi đọc Thần thánh và bươm bướm” đã tiếp cận tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm từ 3 vấn đề: trước tiên là vấn đề bươm bướm và ông so sánh
điểm tương đồng giữa Nabokov – một tác giả người Nga với Đỗ Minh Tuấn,
ở phần thứ 2, ông lý giải về vấn đề tình dục trong Thần thánh và bươm bướm,
phần thứ 3 ông tiếp cận vấn đề thần thánh trong tiểu thuyết từ nhân vật sư cô,
và từ 3 phần ấy ông đưa đến 1 đánh giá ở phần thứ tư là “ Đỗ Minh Tuấn là nhà văn hoá trùng điệp” Đặc biệt, trong bài nghiên cứu này ông đi đến đánh giá về bức tranh hiện thực xã hội được Đỗ Minh Tuấn xây dựng trong tiểu thuyết: “Ngòi bút của Đỗ Minh Tuấn đủ cứng để xây dựng nên được một bức tranh xã hội xác đáng và sinh động; đó là một xã hội đau thương, tủi nhục đến tột cùng Tuy có phóng đại và có những khi rườm lời một cách nhiệt thành, nhưng mà ông đã thành công với khả năng khắc họa đời sống nông thôn Việt, với rất nhiều nhân vật đứng được trong lòng người đọc.”
- Trong bài viết “ Nông thôn trong Thần thánh và bươm bướm còn đảo lộn ghê gớm hơn cả thời cải cách”, tác giả Hữu Thỉnh đã khẳng định: “ Thần thánh và bươm bướm đã đề cập đến một vấn đề nhức nhối nhất, đó là vấn đề
đạo đức xã hội, thể hiện ở sự săn đuổi đồng tiền ghê gớm nhất, bất cứ cái gì cũng có thể biến thành tiền, biến một vật vô tri, vô giác thành thần thánh cũng chỉ vì đồng tiền, cuộc săn đuổi các bộ hài cốt không biết có hay không cũng chỉ vì tiền! Có thể nói chưa có bao giờ lại đảo lộn như vậy!”
2.2.2 Các công trình nghiên cứu tiếp cận Thần thánh và bươm bướm từ
phương diện nghệ thuật:
Trang 14- Nhà nghiên cứu Phương Lựu trong bài viết “ Đỗ Minh Tuấn mở đầu cho phong cách hiện thực kì ảo của Việt Nam”, tác giả tiếp cận tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm từ phương diện nghệ thuật Ông xâu chuỗi các sự
kiện của tác phẩm và đưa đến kết luận: “ Có thể coi tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn là một sự mở đầu cho phong cách hiện thực kỳ ảo của Việt Nam”.[53]
- Tác giả Trần Ninh Hồ trong bài viết “ Có gì đáng đọc ở Thần thánh
và bươm bướm” đã tiếp cận tác phẩm từ phương diện thời gian và không gian
nghệ thuật Từ đó, ông đi đến kết luận về giá trị của tác phẩm: “ Đây là một tác phẩm thật đặc sắc không chỉ trong phạm vi một quốc gia”.[32]
- Tác giả Lê Huy Quang trong bài viết “ Nhìn Thần thánh và bươm bướm từ góc độ nghệ thuật”, ông tiếp cận tác phẩm từ sự so sánh tương quan
với những thành công của tác giả Đỗ Minh Tuấn trên các phương diện khác
như điện ảnh, thơ…Ông khẳng định: tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm
“chính là sự tổng hợp cách nhìn, cách nghĩ, cách thể hiện của một nhà thơ, một họa sỹ, một người viết hài kịch và một đạo diễn điện ảnh.” [71] Và từ đó ông đi vào tiếp cận tiểu thuyết từ 4 phần: Một bài thơ về thân phận nông dân; Một bộ phim về những tính cách Việt; Một vở hài kịch về nông thôn thời đổi mới; Một bức tranh lộng lẫy, huyền ảo về nông thôn
- Tác giả Phạm Viết Đào trong bài viết “ Chất “ liêu trai quái dị” trong tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn”, ông khẳng định: “ chất “ liêu trai quái dị” trong tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm
của Đỗ Minh Tuấn là chất phát tiết từ các quan hệ cung cầu của thị trường thời mở cửa hội nhập, tạo nên một không gian nghệ thuật mang tính ẩn dụ nền tảng, để cảnh báo về nguy cơ tận diệt của tâm linh văn hóa dân tộc trong một thứ tư bản thị trường rừng rú, hỗn loạn, vô đạo, vô luật và vô văn hóa” [17]
- Tác giả Phạm Lưu Vũ trong bài viết “ Thần thánh và bươm bướm – vài cảm nhận sơ sài” tiếp cận tác phẩm từ lối viết của tác giả tiểu thuyết Ông
Trang 15đánh giá rất cao về lối viết này của Đỗ Minh Tuấn: “Đã đành thiên hạ cổ kim không thiếu gì những cao thủ coi văn chương như chuyện trong túi mình
Song đùa giỡn kiểu Thần thánh và bươm bướm thì không phải ai cũng có thể
giỡn chơi được Đó là một lối viết làm chủ chữ nghĩa nhưng hoàn toàn buông thả tư duy, và câu chuyện cứ thế trào ra, thẳng như tên bay, ào như nước chảy, lại biến hóa không biết đâu mà lường.”[103]
2.2.3 Các công trình tiếp cận Thần thánh và bươm bướm từ cả hai
phương diện nội dung và nghệ thuật:
- Trong bài viết “ Thần thánh và bươm bướm mấp mé một cái gì rất lớn”, tác giả Phong Lê đã đi vào lý giải nội dung, cách tiếp cận đề tài và
giọng điệu của tác phẩm Từ đó, tác giả đưa đến một nhận định: “ Tôi cứ nghĩ cuốn sách của Tuấn mấp mé một cái gì rất lớn Rất hay về chủ đề, rất hay về cách tiếp cận, rất hay về giọng điệu, rất hay về những cái mới mẻ trong biển
cả các cuốn sách viết rất giống nhau.”[45]
- Trong bài viết “ Thần thánh và bươm bướm – một tiểu thuyết về văn hoá Việt Nam của Đỗ Minh Tuấn”, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khẳng định
“Tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn có ba điểm đặc sắc Một là phản ánh hiện
thực văn hoá nông thôn thời kinh tế thị trường; hai là sự khác biệt của hai thế
hệ cha – con; ba là tính hài hước, giễu nhại, cười ra nước mắt xuyên suốt cuốn truyện, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối.” [75]
- Tác giả Đỗ Ngọc Yên trong bài nghiên cứu “ Thần thánh và bươm bướm một thể nghiệm đầy trăn trở” đã tiếp cận tác phẩm từ phương diện đề
tài và bút pháp, từ đó đưa ra đánh giá một cách rất khái quát về giá trị của
cuốn tiểu thuyết đối với hiện thực: “ Với cuốn tiểu thuyết Thần thánh và bướm bướm, Đỗ Minh Tuấn đã cho trình làng ở tầm vĩ mô một bức phác họa
về nông dân - nông thôn hiện nay ở chiều sâu tâm thức văn hóa đang được dịch chuyển từ quá khứ sang hiện tại Qua đấy người đọc có thể thấy được số
Trang 16phận lịch sử không phải của cái làng Bái Thượng, Bái Hạ cụ thể nào, mà là của cả một dân tộc trong quá trình lột xác, đắp đổi thịnh suy”.[104]
- Tác giả Phan Huy Dũng trong công trình nghiên cứu Món nộm văn hoá Việt hiện nay dưới con mắt Đỗ Minh Tuấn ( Đọc tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm của Đỗ Minh Tuấn ) đã tiếp cận tác phẩm từ phương diện văn
hoá Tác giả đi sâu vào nghiên cứu nội dung tác phẩm và đi đến khẳng định
Thần thánh và bươm bướm đã đưa ra một “ món nộm” một “ nồi lẩu” văn
hoá, trong đó chứa đựng tất cả những thứ tạp nham, hổ lốn do tác động của kinh tế thị trường tạo nên Bên cạnh đó, tác giả Phan Huy Dũng cũng đi vào nghiên cứu sơ lược về những đặc sắc nghệ thuật của Đỗ Minh Tuấn, từ đó đi
đến khẳng định: “Thần thánh và bươm bướm không thiếu những dấu hiệu
cách tân nghệ thuật tiểu thuyết, nhưng nó đã được tác giả viết ra bằng tâm thế của một nhà văn cổ điển vốn coi trọng, đề cao chức năng xã hội của văn học, vốn tin vào sứ mệnh dẫn đạo cho nhân quần của sáng tác Đây chính là điểm tạo nên vị thế riêng của Đỗ Minh Tuấn trong nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại – vị thế một kẻ có quan niệm “cổ điển” về văn học nhưng không còn tin vào cách viết “cổ điển”, rất chú trọng đổi mới hình thức nghệ thuật nhưng lại
ít mặn mà với khuynh hướng trò chơi trong văn học mà hiện nay nhiều tác giả, nhất là tác giả trẻ, đang hăm hở tham gia.”[13]
Ngoài ra còn có một số ý kiến rải rác in trong các bài viết, một số luận văn, luận án về đề tài nông thôn khác
Thần thánh và bươm bướm là một tiểu thuyết mới ra đời nhưng đã thu
hút được rất nhiều sự quan tâm, chú ý của giới lý luận, phê bình Từ những ý kiến, những bài viết về tác phẩm, chúng tôi đã cảm nhận được sự thành công của tác giả Đỗ Minh Tuấn và sự đóng góp của ông cả về phương diện nội dung và phương diện nghệ thuật, mở ra một hướng tiếp cận mới, một cách nhìn mới về hiện thực nông thôn thời kì hội nhập
Trang 17Tuy nhiên, cũng bởi vì đây là một tác phẩm mới nên chúng tôi cũng nhận thấy rằng những bài nghiên cứu và những ý kiến trên mới mang tính chất gợi
mở và chưa mang tính chuyên sâu, chuyên biệt về đề tài nông thôn thời kì đổi
mới trong tác phẩm Hơn nữa việc nghiên cứu tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm cần phải gắn với việc nghiên cứu hiện thực nông thôn và con
người nông dân đặt trong tương quan với các tiểu thuyết viết về nông thôn đương đại ở một mức độ chuyên sâu hơn Chúng tôi coi tất cả những bài viết
về Thần thánh và bươm bướm, và các tiểu thuyết viết về nông thôn là những
tư liệu rất quý báu Kế thừa thành tựu nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi sẽ cố gắng để có một cái nhìn sâu sắc và cụ thể hơn đối với cuốn tiểu thuyết này đồng thời cho thấy được sự tìm tòi của Đỗ Minh Tuấn cũng là sự đóng góp của ông về phương diện đề tài và thể loại
3 Mục đích nghiên cứu
- Là một nghệ sĩ đa tài, Đỗ Minh Tuấn khổng chỉ khẳng định tài năng của mình qua các bộ môn nghệ thuật như hội hoạ, điện ảnh, thơ…mà tài năng của ông còn được khẳng định ở lĩnh vực tiểu thuyết Tìm hiểu về tiểu thuyết
Thần thánh và bươm bướm, chúng tôi muốn tìm hiểu và góp phần khẳng định
những đóng góp của ông đối với nghệ thuật tiểu thuyết và tiến trình phát triển
của văn xuôi đương đại
Qua tác phẩm Thần thánh và bươm bướm và liên quan là những tiểu thuyết viết về nông thôn, độc giả thấy được vấn đề “ tam nông” được đặt ra
hết sức cấp bách hiện nay Sự khác biệt, mới mẻ trong lối viết, cách tiếp cận
hiện thực và giọng điệu của tác phẩm trong tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm cho thấy việc tiếp cận và xử lý hiện thực là nhu cầu thiết yếu đối với
người viết
Trang 184 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi trong đề tài này là những
vấn đề về nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Ngoài việc tập trung khảo sát Thần thánh và bươm bướm, chúng tôi sẽ đặt cuốn tiểu thuyết này trong tương quan
so sánh với một số tác phẩm viết về đề tài nông thôn thời kì đổi mới khác
như: Thời xa vắng – Lê Lựu, Ma Làng – Trịnh Thanh Phong, Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc Trường, Dòng sông mía – Đào Thắng, Bến không chồng – Dương Hướng, Thuỷ hoả đạo tặc – Hoàng Minh Tường
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như:
- Phương pháp khảo sát, thống kê
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp khái quát tổng hợp
6 Cấu trúc đề tài
Thực hiện đề tài này, ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, trong phần Nội dung, chúng tôi chia làm 3 chương:
Chương I: Tiểu thuyết viết về nông thôn trong văn xuôi thời kì đổi mới
Chương II: Nông thôn và người nông dân trong tiểu thuyết Thần thánh
và bươm bướm
Chương III: Nghệ thuật biểu hiện bức tranh nông thôn trong tiểu thuyết
Thần thánh và bươm bướm
Trang 191.1.1 Khái niệm và đặc trưng thể loại
1.1.1.1 Khái niệm và nguồn gốc:
Tiểu thuyết là một thể loại thuộc phương thức tự sự và được coi là thể loại giữ vị trí “thống soái” trong đời sống văn học Nó “ là sản phẩm tinh thần tiêu biểu nhất cho thời đại mới của lịch sử loài người, là thành quả rực rỡ, có giá trị như một bước nhảy vọt thực sự vĩ đại của hàng ngàn năm văn chương thế giới” [61] Với ưu thế “ biết tổng hợp vào bản thân mình những đối tượng
và biện pháp miêu tả của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau ”[ 20; tr.535], tiểu thuyết đã mang lại các giá trị tổng hợp và dấu ấn thời đại vào trong văn học mà không thể loại nào có thể thay thế được Tuy nhiên, tiểu thuyết cũng
là một thể loại văn chương duy nhất, là “ nhân vật chính” bên cạnh các thể loại chị em khác ( Thơ và Kịch), vẫn còn “đang biến chuyển”, “chưa định hình” và “ chưa hề rắn lại” Nó “ trẻ hơn chữ viết và sách, chỉ một mình nó thích ứng hữu cơ với cách thức tiếp thu im lặng tức là đọc” Nó “ là một sinh linh thuộc giống nòi khác Nó khó sống chung với các thể loại kia Nó đấu tranh giành lấy vị trí thống trị trong văn chương, và nơi nào nó ưu thắng ở đấy những thể loại khác, thể loại cũ, bị phân hoá” [61]
Tiểu thuyết luôn là thể loại “nóng” lôi cuốn sự quan tâm và kích thích cảm hứng “đối thoại” của cả giới sáng tác, lý luận, phê bình và công chúng
Có lẽ chính vì lý do ấy mà hiện nay tiểu thuyết đã trở thành tâm điểm của các
Trang 20nhà nghiên cứu nhưng vẫn chưa có được một khái niệm chung nhất về thể loại Mỗi nhà nghiên cứu đưa ra một khái niệm, một cách nhìn riêng về thể loại theo cách tiếp cận của mình Những khái niệm ấy sẽ góp phần làm nổi rõ những đặc điểm từ những đóng góp của tiểu thuyết đối với nền văn học nhân loại
Nhà nghiên cứu N.T Rymar trong bài viết “ Tư duy tiểu thuyết và văn hoá thế kỉ XX” do Song Mộc dịch, định nghĩa tiểu thuyết “ là một hình thức của tư duy sử thi muốn giải quyết theo cách của sử thi những vấn đề vừa mới đặt ra trước con người mà sự xuất hiện của chúng được chế định bởi quá trình tách biệt cá nhân qua hàng chục thế kỷ Vì thế tiểu thuyết cũng còn là một
“thể loại không có quy phạm”, nhiệm vụ của nó là thiết lập mối tiếp xúc với “ hiện thực chưa hoàn thành” Nhưng đấy mới chỉ là một mặt của vấn đề; còn phương diện khác của vấn đề nằm ở chỗ “tính chưa đoàn kết” đó của thể loại không có nghĩa cấu trúc thể loại của nó không hoàn toàn định dạng: tiểu thuyết không chỉ mang tính biến dị khác thường mà còn có tính bền vững đáng kinh ngạc” [63]
PGS.TS Lý Hoài Thu định nghĩa tiểu thuyết: “ Là một hình thức tự sự
cỡ lớn, tiểu thuyết có những khả năng riêng trong việc tái hiện với một quy
mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con người, của lịch sử, của đạo đức, của phong tục…Nghĩa là, tiểu thuyết có năng lực phản ánh hiện thực một cách bao quát và sinh động theo hướng tiếp cận trên cả bề rộng và chiều sâu của nó” [89; tr.184]
Như vậy, tiểu thuyết có nguồn gốc từ rất sớm, hình thành trong một quá trình lâu dài và phát triển mạnh mẽ trong những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá, văn minh thích hợp Về mặt khái niệm, nhìn một cách khái quát: Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh
Trang 21hiện thực đời sống một cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian, khả năng khám phá một cách sâu sắc những vấn đề thuộc về thân phận con người thông qua những tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mang tính tổng thể rộng lớn về đời sống xã hội
Tiểu thuyết là một khái niệm thể loại, một tên gọi chung nhằm phân biệt với các thể loại khác nhau như thơ, kịch…Tuy nhiên, đây là một thể loại lớn
có diện mạo đặc biệt phong phú nên sự phân loại trong tiểu thuyết thường dựa trên những cơ sở và tiêu chí khác nhau Nếu phân chia theo khuynh hướng, trào lưu sáng tác thì có tiểu thuyết cổ điển, tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết hiện thực…Nếu căn cứ vào đề tài thì có thể có tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết đời tư thế sự, tiểu thuyết chiến tranh, tiểu thuyết viết về nông thôn, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết trinh thám…Trước đây, học giả Phạm Quỳnh phân chia tiểu thuyết thành 3 loại: tiểu thuyết ngôn tình, tiểu thuyết tả thực và tiểu thuyết truyền kỳ Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã phân loại tiểu thuyết thành 10 loại: tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết luân lý, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết hoạt kê, tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết tình cảm và tiểu thuyết trinh thám…Có thể nói, mọi sự phân chia ở trên đều mang tính tương đối bởi quá trình tồn tại và phát triển của thể loại tiểu thuyết luôn diễn ra hiện tượng giao thoa và sự thâm nhập lẫn nhau giữa các yếu tố nội dung cũng như hình thức
1.1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết:
Trong tương quan với các thể loại khác, tiểu thuyết nổi bật lên ở khả
năng phản ánh một cách “ toàn vẹn và sinh động” bức tranh mang tính tổng thể của hiện thực đời sống Đây là một trong những đặc trưng cơ bản, là ưu thế lớn tạo nên tầm vóc, quy mô hiện thực cho tác phẩm tiểu thuyết Phẩm chất này của tiểu thuyết gắn chặt với nguồn gốc và sự ra đời của thể loại Từ những câu chuyện “ phiêu lưu mạo hiểm” trong văn học phương Tây đến
Trang 22những câu chuyện “ thần tiên ma quái” trong văn học phương Đông, tiểu thuyết đi đến sự định hình về thể loại ở tính chất tiếp cận đời sống một cách gần gũi, ở khả năng nhận thức và phản ánh hiện thực một cách sâu sắc Là một thể loại tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, luôn luôn
“ vượt qua những đường ranh về tri thức cũng như về phong thổ” Sự phá vỡ giới hạn này là một ưu thế đặc biệt tạo tiền đề để các nhà tiểu thuyết mở rộng đến tối đa tầm vóc hiện thực trong tác phẩm của mình Nếu nói rằng văn học
là tấm gương phản chiếu một cách chân thực và đầy đủ bức tranh đời sống muôn màu, nhà văn là người thư ký trung thành của thời đại thì điều đó có lẽ thích hợp nhất với tiểu thuyết Giá trị hiện thực to lớn của tiểu thuyết được tạo nên bởi một thế giới nghệ thuật “ siêu hiện thực” mà ở đó nhà văn không hề chịu một giới hạn nào về số lượng nhân vật, khối lượng các sự kiện, biến cố,
chi tiết về không gian, thời gian, môi trường, hoàn cảnh…
Tiểu thuyết có ưu thế đặc biệt ở khả năng thâu tóm, dồn ép nhân vật, sự kiện vào trong một khoảng không gian ngắn, thời gian hẹp…để tạo nên những bức tranh hiện thực có quy mô vừa và nhỏ Trên nền của những bức tranh đời sống đã bị thu hẹp đó, nhà văn thuận lợi hơn khi đi sâu vào những cảnh ngộ riêng của số ít nhân vật hoặc khai thác những quan hệ mang tính chất gia đình với điều kiện là sự lựa chọn đó phải đạt đến ý nghĩa điển hình, chẳng hạn như:
Ơgiơni Grăngđê ( Banzac), Mảnh đất lắm người nhiều ma ( Nguyễn Khắc Trường), Bến không chồng ( Dương Hướng)…
Bên cạnh khả năng tạo dựng bức tranh hiện thực với quy mô “ hoành tráng”, khả năng khắc hoạ chân dung nhân vật thông qua sự khám phá những vấn đề của số phận cá nhân và thân phận con người cũng là một đặc trưng quan trọng của tiểu thuyết Những niềm vui, nỗi buồn, sự sung sướng hay đau khổ, hạnh phúc hay bất hạnh…của đời sống con người từ lâu đã trở thành chất
Trang 23liệu không thể thiếu trong hành trang sáng tạo của các nhà tiểu thuyết Sức hấp dẫn của tác phẩm sẽ được tăng lên rất nhiều nếu nhà văn biết xoáy sâu vào những vấn đề của đời sống cá nhân Những nhà tiểu thuyết lớn xưa nay đều bộc lộ tài năng và phong cách của mình rõ rệt nhất trong lĩnh vực sáng tạo nhân vật: đó là Đônkihôtê của Xécvăngtéc, Pie, Natasa của L Tônxtôi, Tào Tháo, Trương Phi, Khổng Minh của La Quán Trung…Thông qua những nhân vật ấy, độc giả không chỉ nhìn thấy bộ mặt của xã hội đương thời, những biến chuyển của thời đại mà sâu xa hơn là còn đọc được những vấn đề muôn thuở về thân phận con người
Nét đặc biệt nữa làm cho tiểu thuyết khác với các thể loại khác như truyện thơ, trường ca, thơ trường thiên và anh hùng ca là việc tái hiện cuộc sống như một cái thực thể đang vận động Tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân
nó mọi yếu tố ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, cái bi và cái hài, cái lớn lẫn cái nhỏ Có thể diễn ra trong một không gian rộng ( hay hẹp) với một khối lượng nhân vật không hạn chế
Cuối cùng, tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng hợp Từ trong tiềm năng thể loại, tiểu thuyết có khả năng tổng hợp những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác như thơ, kịch, ký…và khả năng tổng hợp những thủ pháp nghệ thuật của các loại hình lân cận như điện ảnh, hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc… “Tiểu thuyết là một thể loại sinh sau đẻ muộn, vì vậy,
nó tiếp thu những cái tốt đẹp của các thể loại đã có ( anh hùng ca, thơ, kịch…), sáng tạo thêm những yếu tố mới…Như một “ đứa con lai”, nó đẹp,
nó khoẻ, nó đầy sức sống” [61] Trong nhiều trường đoạn khác nhau, người viết có thể vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo nhiều phương thức: tự sự, trữ tình, kịch Trong quỹ đạo vận động của thể loại, người viết có thể khai thác ưu thế của điện ảnh, điêu khắc, âm nhạc, hội hoạ trong việc lắp ghép các
Trang 24mảng không gian, đặc tả chi tiết, tạo hình nhân vật, phối âm, hoà sắc…Ngoài
ra, tiểu thuyết còn có khả năng dung nạp các hình thức của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có cả lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học ứng dụng, khoa học viễn tưởng
Là một thể loại lớn của văn học, tiểu thuyết luôn luôn lưu giữ trong mình những yếu tố “ cổ sơ bất tử”, đồng thời không ngừng được hồi sinh đổi mới Với những ưu thế đặc biệt của mình, tiểu thuyết càng ngày càng trở nên bổ ích đối với nhận thức nghệ thuật của con người Chừng nào nhân loại vẫn khát khao đi tìm câu trả lời cho sự tồn tại của kiếp nhân sinh, khát khao lương thiện, khát khao tìm kiếm những cá tính nghệ thuật độc đáo, chừng đó tiểu thuyết vẫn là một thể loại không thể thay thế
1.1.2 Vấn đề đổi mới về quan niệm hiện thực và con người trong tiểu thuyết sau 1975
Tiểu thuyết là một thể loại bám rễ sâu vào hiện thực đời sống và con người thời đại, từ đó hút lấy nguồn dinh dưỡng vô tận để phát triển và sáng tạo Chính vì vậy mà nó luôn song hành và không ngừng đổi mới tư duy sao cho phù hợp với hiện thực, con người và tư tưởng thời đại Nói đến sự luôn luôn đổi mới trong tư duy tiểu thuyết, nhà nghiên cứu N.T Rymar trong công
trình “ Tư duy tiểu thuyết và văn hoá thế kỉ XX” khẳng định: “ Nếu tiểu thuyết
có chết thì nó cũng chết từ từ, nghĩa là nó không chết với tư cách một thể loại
mà với tư cách một hình thức của thể loại này từng tồn tại trong lịch sử, nó chết để thể loại hồi sinh và có khả năng có một cuộc sống mới”.[63]
Cùng với bước chuyển mình của thời đại sang thời kì đổi mới, tiểu thuyết - một loại hình tự sự cỡ lớn - cũng đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới
tư duy nghệ thuật đặc biệt là cách tiếp cận hiện thực và con người, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại Văn học thời đổi mới là giai đoạn chuyển biến từ tư duy sử thi
Trang 25sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời
tư Tiểu thuyết đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực, con người trong giai đoạn mới một cách nhanh nhậy và sắc bén
Năm 1945 – 1975 là một giai đoạn đầy biến động của lịch sử nước nhà Chúng ta phải chiến đấu chống hai kẻ thù xâm lược là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Điều kiện lịch sử ấy đã đặt ra cho văn học mục tiêu cứu nước, nhà văn là chiến sĩ và “ văn hoá – nghệ thuật là một mặt trận” Giao cho văn học nhiệm vụ dùng ngòi bút để chiến đấu chống kẻ thù, khích lệ tinh thần đấu tranh của toàn dân tộc và tiểu thuyết cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung
đó Chính vì vậy, tiểu thuyết thời kì này mang tinh thần sử thi, diễn đạt kinh nghiệm cộng đồng Con người trong giai đoạn này là con người sống với cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng Con người quen sống giữa đám đông, hoà mình với tập thể ít có dịp đối diện với bản thân, sống với chính mình Tư duy ấy được thể hiện rất
rõ trong các cuốn tiểu thuyết: Đất nước đứng lên ( 1956) của Nguyên Ngọc, Hòn đất (1964) của Anh Đức, Bão biển ( 1969) của Chu Văn, Dấu chân người lính ( 1972) của Nguyễn Minh Châu và nhiều cuốn tiểu thuyết khác
Trong sự vận hành chung của thể loại, nhìn lại những năm tiền đổi mới (1975-1985) không thể không ghi nhận sự xuất hiện của một loạt tiểu thuyết gây tiếng vang một thời như những tín hiệu dự báo mở ra một thời kỳ mới
trong sáng tạo và tiếp nhận văn chương hiện đại như: Miền cháy (1977), Lửa
từ những ngôi nhà ( 1977) của Nguyễn Minh Châu, Cha và con và…( 1979) của Nguyễn Khải, Những khoảng cách còn lại ( 1984), Đứng trước biển ( 1984), Cù laoTràm ( 1985) của Nguyễn Mạnh Tuấn, Mưa mùa hạ ( 1982), Mùa lá rụng trong vườn ( 1985) của Ma Văn Kháng… Các tác phẩm thời kì
này đã có khuynh hướng vừa mở rộng đề tài,vừa cố cưỡng lại “ từ trường” của tiểu thuyết sử thi để gia tăng chất thế sự, đời tư Hiện thực được miêu tả
Trang 26tập trung xung quanh các vấn đề cách sống, cách quản lý sản xuất, vai trò của gia đình và bản lĩnh cá nhân Cùng với cảm hứng ngợi ca đã xuất hiện cảm hứng phê phán, góc độ quan sát, đánh giá con người dịch chuyển dần về nhiều phía Các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đặt ra vấn đề mất – còn trong chiến tranh, vấn đề đạo đức, nhân cách và thân phận con người Các tác phẩm của Nguyễn Khải được tổ chức như một cuộc đối thoại giữa những lối sống
và lối nghĩ khác nhau Ma Văn Kháng đặt con người trong quan hệ đời thường, Nguyễn Mạnh Tuấn đặt ra những vấn đề về quản lý kinh tế ở nông thôn và xí nghiệp …Đó là một số dấu hiệu cho thấy ý thức đổi mới về thể loại đang rõ dần
Vào thời điểm năm 1986 và những năm sau đó, cao trào đổi mới diễn ra dưới hai khẩu hiệu “ Lấy dân làm gốc” và “ Nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng
sự thật, nói rõ sự thật” đã mở ra những tiền đề quan trọng cho sự vận động của tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung Tư duy tiểu thuyết từng bước thay đổi: chất liệu sử thi được thay bằng chất liệu đời thường, con người cá nhân với đầy đủ tâm tư, suy nghĩ, bản tính “ người” nhất thay thế cho con người tập thể, con người cộng đồng
Hiện thực ở cả cấp vĩ mô và vi mô, cả ở phần sáng và phần tối, ở lịch sử lẫn thời khắc hiện tại, cả số phận dân tộc lẫn số phận cá nhân đều ùa vào trong từng trang tiểu thuyết Tiểu thuyết đặt ra vấn đề đời sống từ góc độ đạo đức –
sinh hoạt (Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng, Thời xa vắng -
Lê Lựu, Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai, Thiên sứ - Phạm Thị Hoài…) Đây là thời
kỳ đề tài lịch sử (hoặc có màu sắc lịch sử) được khai thác nhiều Một số tác giả mượn chất liệu lịch sử để tạo ra gương mặt lịch sử giả định với các cuốn
Hồ Quý Ly ( 1999) của Nguyễn Xuân Khánh, Giàn Thiêu ( 2003) của Võ Thị
Hảo…Đề tài chiến tranh tuy không còn ở vị trí thứ nhất như thời kỳ chiến tranh nhưng những năm cuối thế kỷ XX vẫn là một đề tài lớn Những mặt trái
Trang 27trong thời chiến và cả trong thời bình, những đau thương, mất mát khi chiến tranh qua đi để lại trong tâm hồn con người chằng chịt những vết sẹo khó lành
đã được các tiểu thuyết gia quan tâm và thể hiện dưới một cách nhìn khác:
Nỗi buồn chiến tranh ( 1987) của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng ( 1991), Bến không chồng ( 1990) của Dương Hướng Ba tác phẩm này đã nhận được giải
thưởng Hội nhà văn và được giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao… Một số
tác giả lại hướng về đề tài nông thôn, đào sâu vào số phận của một làng, một
dòng họ: Ma làng ( 2001) của Trịnh Thanh Phong, Mảnh đất lắm người nhiều
ma ( 1990) của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng (1990) của Dương Hướng Tác phẩm Dòng sông mía ( 2004) của Đào Thắng đã làm nổi bật lên
số phận bất hạnh, trớ trêu của con người, đặc biệt là những người phụ nữ, từ
đó “ càng làm thê thảm hơn bức tranh hiện thực của đất nước một thời ngoài gian khổ của chiến tranh còn là gian khổ của cơ chế ấu trĩ, của chính cái ác tiềm ẩn trong bản năng” [58; tr.291] Nối tiếp và phát triển đề tài nông thôn
trong thời kì đổi mới, Đỗ Minh Tuấn với tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm ( 2009) cũng góp một mảng màu, một cách nhìn mới về con người và
nông thôn Việt Nam trong thời kì mở cửa hội nhập kinh tế thị trường Như vậy, trên phương diện đề tài, tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã tiếp cận và khai thác sâu hơn vào cái hiện thực hàng ngày, cái đời thường của đời sống cá nhân Các nhà tiểu thuyết đã nhìn thẳng vào những “mảnh vỡ”, những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa vào trường nhìn mới, hướng tới những gấp khúc trong đường đời và thân phận con người, thấm đẫm cảm hứng nhân văn
Sự đổi mới trong tư duy tiểu thuyết không chỉ được thể hiện ở phương diện tiếp cận hiện thực mà còn được thể hiện ở sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn Nếu như con người trong tiểu
Trang 28thuyết giai đoạn 1945 – 1975 được miêu tả ở phương diện con người cộng đồng, con người anh hùng xả thân vì nghĩa lớn và ít có dịp đối diện với chính bản thân mình thì trong tiểu thuyết thời kì đổi mới con người được nhận thức như một thực thể riêng tư, “ được nhà văn đi vào thế giới nội tâm, đi vào số phận của họ, tìm đến những vấn đề cụ thể, đời thường mà vẫn mang ý nghĩa nhân loại” [39; tr.43]
Trên hành trình tìm kiếm và khẳng định những giá trị nhân bản, nhà văn
đã nhìn sâu vào con người, đặt họ trong “ tổng hoà của các mối quan hệ xã hội” để soi xét, tìm hiểu Con người được đặt trong mối quan hệ riêng – chung, gia đình – xã hội, được quan sát kỹ càng từ nhân phẩm, tính cách đến đời sống riêng tư Từ đó nhà văn có được các góc nhìn khác nhau và đưa đến cho độc giả một cái nhìn toàn diện về quy luật của cuộc sống và của thân
phận con người Nhân vật Giang Minh Sài trong Thời xa vắng của Lê Lựu
suốt nửa cuộc đời loay hoay giữa muôn vàn đau khổ do sức ép từ nhiều phía Thuở nhỏ, Sài phải dằn lòng sống theo ý muốn của gia đình, dòng họ Đến tuổi trưởng thành, Sài lại phải cố gồng mình lên để chịu đựng, phải “tự giết chết đi những xao xuyến thèm khát một hạnh phúc thực sự” Khi vào quân ngũ, Sài lại phải theo ý các thủ trưởng “yêu cái người khác yêu, ghét bỏ cái người khác ghét bỏ” Đặt nhân vật của mình vào trong các mối quan hệ gia đình – xã hội, Lê Lựu muốn hoàn tất việc lý giải chủ đề tác phẩm và thể hiện suy nghĩ của mình: Con người ta không nên “yêu cái người khác yêu”, cũng không nên “yêu cái mà mình không có” Người ta chỉ có thể hạnh phúc khi biết sống theo suy nghĩ và hành động của mình Nhà văn muốn hướng tới một cuộc sống bình thường, một xã hội nhân văn tôn trọng cá nhân, cá tính Và ở
đó, con người cũng phải có ý thức sâu sắc hơn nữa về vị trí của mình trong mối quan hệ hài hòa, thống nhất với gia đình, tập thể, cũng như dám chịu trách nhiệm về nhân cách của mình
Trang 29Các tác giả tiểu thuyết đã nhìn nhận con người như một cá thể bình thường trong những môi trường đời sống bình thường Nhân vật trong tiểu thuyết là những con người với trăm ngàn mảnh đời khác nhau “đầy những vết
dập xoá trên thân thể trong tâm hồn” như nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Khuê trong Dòng sông mía của Đào Thắng, Giang Minh Sài trong Thời xa vắng của Lê Lựu…
Con người trong cuộc mưu sinh của thời hậu chiến đặc biệt là khoảng đầu thập kỷ 90 đã được các nhà văn thể hiện một cách đặc sắc qua tác phẩm của mình Những chật vật, khó khăn của đời sống trong thời kì kinh tế thị trường đã đặt con người vào những thử thách mới không kém phần nghiệt ngã, đó cũng là một thứ thuốc thử để họ có thể bộc lộ hết những năng lực,
phẩm chất và tính cách của mình Với cuốn tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn Kháng đã nêu lên sự tác động đáng ngại của xã hội thời mở
cửa đối với những mối quan hệ gia đình Việc đề cao đồng tiền quá mức, việc sống buông thả theo dục vọng thấp hèn (mặt trái của nền kinh tế thị trường)
rất dễ làm xói mòn mọi giá trị truyền thống, làm đảo điên xã hội Mùa lá rụng trong vườn còn đề cập một thực trạng đáng báo động nữa của xã hội buổi giao
thời: không ít người có lối sống ích kỷ, chỉ biết chạy theo dục vọng cá nhân, chạy theo đồng tiền, thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi chuẩn mực đạo đức xã hội Tất cả những điều đó đang hàng ngày, hàng giờ làm băng hoại mọi mối quan hệ gia đình
Tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới không chỉ đi sâu vào thân phận con người mà còn đề cập tới khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa Các tác giả đã khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời thường, của cuộc sống riêng tư Khi con người trở về với cuộc sống
đời thường, trong hàng loạt tác phẩm như: Ăn mày dĩ vàng, Cuộc đời dài lắm của Chu Lai, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ma
Trang 30làng của Trịnh Thanh Phong, Bến không chồng của Dương Hướng đã thể
hiện được sự gắn bó giữa sự nghiệp chung với hạnh phúc riêng, giữa con người cá nhân và con người xã hội Các nhà văn không đặt vấn đề phải hy sinh hạnh phúc cá nhân cho sự nghiệp lớn lao nữa mà đặt vấn đề trong khi xây dựng sự nghiệp lớn lao kia, không được bỏ quên hạnh phúc cá nhân Cả trách nhiệm cá nhân đối với xã hội lẫn trách nhiệm của xã hội đối với số phận
và hạnh phúc cá nhân không nên xem nhẹ mặt nào “ Bản chất nhân đạo và dân chủ của văn học nằm ở chỗ đó, ở chỗ thừa nhận rằng cá nhân không phải
là nhiên liệu của lịch sử mà là trung tâm điểm, là lực đẩy của lịch sử”
[69;tr.16]
Đồng thời, tiểu thuyết cũng không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình yêu nhục thể - một lĩnh vực rất riêng tư của mỗi cá nhân Miêu tả những con người tự nhiên, khai thác yếu tố tích cực của con người tự nhiên cũng là một
khía cạnh nhân bản của văn học: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày
dĩ vãng của Chu Lai, Bến không chồng của Dương Hướng…
Trong nỗ lực giúp con người tự hoàn thiện về nhân cách, các nhà văn đã xây dựng những nhân vật tự mình phán xét hành động của mình, tự mình tra vấn, đối diện với lương tâm mình ngay cả khi không có áp lực của xã hội Đó
là những nhân vật tự phản tỉnh, tự nộp mình cho toà án lương tâm Con người
bị đặt vào sự giằng co, phức tạp trong chính tâm tưởng, tính cách của mình Đây chính là trạng thái lưỡng hoá trong tính cách của mỗi người Cảm hứng
tự nhận thức với những nhân vật lưỡng hoá được khơi dậy mạnh mẽ trong
nhiều cuốn tiểu thuyết như: nhân vật Sài (Thời xa vắng – Lê Lựu), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh), Lão Khổ (Lão Khổ – Tạ Duy Anh), Khuê (Dòng sông mía - Đào Thắng) là những mẫu người đứng trước sự thử thách
và lựa chọn trên các cực đối lập để nhận về mình thành công hay thất bại trong dòng chảy của cuộc đời
Trang 31Tiểu thuyết từ sau đổi mới đã quan niệm con người cá nhân như “một nhân cách, một nhân cách kiểu mới” Nhà văn đã nhận diện con người đích thực với nhiều kiểu dáng nhân vật, biểu hiện phong phú và đa dạng nhu cầu tự
ý thức, sự hoà hợp giữa con người tự nhiên và con người xã hội Bởi thế, con người được hình dung từ nhiều chiều, được tái hiện với đầy đủ các cung bậc cảm xúc, đan xen cái tốt – cái xấu, biết khao khát, biết yêu thương, biết căm thù, biết lừa lọc, biết sợ hãi và luôn luôn đấu tranh giằng xé giữa đúng – sai, thiện – ác, hạnh phúc – khổ đau Đó là nét nổi bật mang đậm ý nghĩa nhân văn khi nhìn nhận con người, tạo nên tiếng nói đa thanh đầy “hoà âm” và
“nghịch âm” trong tiểu thuyết
1.2 Tiểu thuyết viết về nông thôn trong văn xuôi đương đại
1.2.1 Tiểu thuyết viết về nông thôn đặt trong bối cảnh chung của tiểu thuyết đổi mới
1.2.1.1 Bối cảnh lịch sử:
Với chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975 đã đưa nước ta đi đến thống nhất hoàn toàn, khép lại một trang sử hào hùng oanh liệt của dân tộc Giờ đây cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội với muôn vàn khó khăn chồng chất Dẫu cho cuộc chiến đã lùi xa, tiếng súng đã chấm dứt nhưng hậu quả nặng nề của thời hậu chiến đã làm cho cuộc sống thời kỳ sau chiến tranh vốn đã khó khăn lại càng thêm khó khăn gấp bội Công cuộc cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa bắt đầu bộc lộ những khiếm khuyết cả trong nhận thức và trong thực tiến Có thể thấy, đó là thời kỳ mà nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng Cơ chế quản lý bao cấp tỏ ra bất lực Trong hoàn cảnh lịch
sử ấy, để giải quyết khó khăn trước mắt, nhằm xây dựng và phát triển đất nước thì đổi mới là một lựa chọn khẩn thiết, dứt khoát và tất yếu, là cái đảm bảo cho sự phát triển của đất nước, cũng là nỗi khát khao cháy bỏng của toàn
Trang 32dân tộc nhằm thoát khỏi những khó khăn, thử thách của một đất nước mà cuộc chiến tranh kéo dài vừa mới qua đi
Dưới ánh sánh của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm
1986) đã diễn ra với hai khẩu hiệu: “Lấy dân làm gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” Hai khẩu hiệu trên như một luồng
gió mới thổi vào đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống văn học nghệ thuật, mở
ra một thời kỳ mới cho văn học Việt Nam Phương châm của Đảng trong lĩnh vực văn hoá tinh thần lúc này là ra sức xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, khuyến khích các hoạt động văn hoá tinh thần cho người dân Trong định hướng chung đó thì văn học nghệ thuật chính là một
bộ phận quan trọng của văn hoá và là ưu tiên hàng đầu
Đặc biệt, một sự kiện có ý nghĩa quan trọng tác động sâu sắc đến quá trình đổi mới văn học nghệ thuật nước nhà là cuộc gặp gỡ giữa đồng chí Tổng
Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại biểu các văn nghệ sĩ và các nhà văn hoá diễn
ra tại Thủ đô Hà Nội trong hai ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987 Tổng Bí thư
đã nhắc nhở về trách nhiệm của người sáng tạo nghệ thuật: “ Cởi trói, nói ở đây tôi nghĩ rằng Đảng phải cởi trói Cởi trói trong lĩnh vực tổ chức, chính sách, trong các quy chế, chế độ Một mặt khác, tôi nghĩ, trong lĩnh vực các đồng chí, không có thể ai khác hơn là các đồng chí tự làm Nếu như trong lĩnh vực kinh tế hiện nay cần phải phát huy dân chủ cho người sản xuất thì ở lĩnh vực của các đồng chí, các đồng chí cũng phải làm chủ”
Hơn một tháng sau cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và văn nghệ sĩ, ngày 28 tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng ( Khoá VI) ra nghị quyết 05 về “ Đổi mới nâng cao trình độ quản
lý văn hoá văn học nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hoá lên một bước tiến mới” đã chỉ rõ “ Văn nghệ là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát
Trang 33triển chung của một đất nước, một thời đại, là lĩnh vực sản xuất tinh thần tạo
ra những giá trị văn hoá, những công trình nghệ thuật được lưu từ đời này qua đời khác, làm giàu đẹp thêm cuộc sống con người” Chính bởi vậy, để làm tốt chức năng dự báo của mình, văn học cũng phải từng bước chuyển mình, đổi mới và một điểm cốt yếu của cuộc đổi mới này chính là việc đổi mới tư duy, đổi mới cách làm, cách nghĩ cho đúng, làm cho đúng những quy luật khách quan vốn có của nó Nhà nghiên cứu Hà Xuân Trường trong lời kết thúc cuộc
toạ đàm Văn học đổi mới và phát triển đã có phần thoả đáng khi nhìn nhận
công cuộc đổi mới văn học: “Đổi mới trong văn học, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là cái nhìn và cái tâm của nhà văn Đề tài, nhân vật, phong cách cá tính không là cái gì nếu không có cái nhìn thời đại sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không có được một cái tâm trong sáng, nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn học đối với con người, đối với cuộc đời, với nhân dân mình Không có những cái đó thì không có đổi mới” [92;
tr 49] Như vậy, những chuyển động trong đời sống xã hội nhất là sau Đại hội Đảng lần thứ VI chính là sự đổi mới mang tính tất yếu của đời sống xã hội Việt Nam, từ đó đưa đến tiền đề đổi mới trong đời sống văn học nghệ thuật nói chung và trong đề tài viết về nông thôn nói riêng
1.2.1.2 Đề tài nông thôn là một đề tài truyền thống của lịch sử văn học dân tộc
Văn học viết về nông thôn ở nước ta có một quá trình dài, có thể nói là
một truyền thống khá vững chắc
Thời kì 1930 – 1945: Xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này đã
có sự biến đổi to lớn, từ chế độ thuần nhất phong kiến đã chuyển sang chế độ thực dân nửa phong kiến Nghĩa là có sự thay đổi trong cơ cấu xã hội, cơ cấu kinh tế và cơ cấu giai cấp, nhưng riêng ở nông thôn Việt Nam thì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quan hệ sản xuất phong kiến gắn liền với sự tồn tại của
Trang 34giai cấp địa chủ và nông dân về cơ bản vẫn là như trước Điều đáng nói là mâu thuẫn giai cấp giữa địa chủ và nông dân ngày một gay gắt hơn, căng thẳng hơn Mối mâu thuẫn này đã được phản ảnh sâu sắc qua nhiều tác phẩm
kí sự, truyện ngắn, đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của các tác giả thuộc trào lưu hiện thực phê phán như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao…
Đó là nông thôn của sưu cao thuế nặng, vô lý và bất công ( Tắt đèn -
Ngô Tất Tố); của những thủ đoạn bóc lột tàn nhẫn, trắng trợn nằm trong tay
của những kẻ chức sắc, nắm quyền hành như Nghị Lại (Bước Đường cùng – Nguyễn Công Hoan), Nghị Quế ( Tắt đèn – Ngô Tất Tố), Bá Kiến ( Chí Phèo
– Nam Cao) Đó là nông thôn của những hủ tục nhiêu khê chèn ép con người
và sự căng thẳng ngột ngạt do mâu thuẫn và chèn ép của các phe cánh tranh
nhau địa vị ăn trên ngồi trốc ( Việc làng – Ngô Tất Tố) Và đó cũng là nông
thôn của những con người cùng khổ chịu mọi sự áp bức bất công ( chị Dậu, anh Pha) bị dồn đẩy đến những bước đường cùng của cảnh lầm than cơ cực ( bán chó, bán con, mót khoai, nước lụt…), dần dần bị lưu manh hoá biến thành một kẻ xa lạ với xã hội ( Chí Phèo); của những kiếp sống quằn quại, đau
thương ( Lão Hạc – Nam Cao)… Có thể nói, đó là một toàn cảnh tiêu biểu,
bao quát được thực trạng của nông thôn Việt Nam xảy ra trước Cách mạnh tháng Tám 1945 Trong các tác phẩm này ngoài giá trị hiện thực, còn chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc Các cảnh đời, các số phận nhân vật là những đòi hỏi về quyền sống, quyền làm người, đồng thời thể hiện sự quan tâm, đồng cảm đến số phận của những kiếp người bé nhỏ, đầy bất hạnh
Thời kỳ 1945- 1954: Cách mạng tháng Tám thành công đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam Thành công của cuộc Cách mạng đã đem đến cho người nông dân cuộc sống mới, sinh mệnh mới Người nông dân đã trở thành người chủ của đất nước, có ruộng đất trong tay, đã thực
Trang 35thi các nghĩa vụ của mình: xây dựng và bảo vệ đất nước Họ đã trở thành nhân vật chính của văn học nói chung và văn xuôi kháng chiến nói riêng Nhân dân nói chung và nông dân nói riêng chở che, nuôi dấu chiến sĩ bồ đội; những người phụ nữ - người vợ vừa lo tăng gia sản xuất, vừa lo kháng chiến; những lớp trai trẻ bừng bừng khí thế ra trận Tất cả những điều đó đều được các nhà
văn tái hiện trong Truyện và ký (Trần Đăng); Nhật ký ở rừng (Nam Cao); Ký
sự Cao Lạng (Nguyễn Huy Tưởng); Tuỳ bút kháng chiến (Nguyễn Tuân); Thư nhà (Hồ Phương); Làng (Kim Lân); Con trâu (Nguyễn Văn Bổng)
Thời kỳ 1954- 1960: Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, Đảng ta đã chủ trương chuyển sang xây dựng chủ nghĩa xã hội Trước khi bắt đầu những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc phải bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế do bị chiến tranh tàn phá nặng nề Một số vấn đề lớn được đặt ra là làm sao đáp ứng được những nhu cầu của con người sau những năm tháng chiến tranh, đồng thời vẫn phải củng cố, giữ vững mục tiêu của Đảng của cách mạng
Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn này nổi bật lên hai sự kiện quan trọng: đó là Cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hoá nông nghiệp Hai sự kiện này thể hiện rất rõ trong văn học Văn xuôi viết về nông thôn trong cải
cách ruộng đất có các sáng tác: Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng); Nông dân với địa chủ (Nguyễn Công Hoan); Ông lão hàng xóm (Kim Lân) Đây là
những tác phẩm của các tác giả có quá trình và có thành tựu sáng tác từ trước cách mạng Văn xuôi viết về phong trào hợp tác hoá nông nghiệp cũng có
những sáng tác tiêu biểu của các tác giả như: Đào Vũ với Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm; Vũ Thị Thường với Cái hom giỏ và Gánh vác; Nguyễn Khải với Tầm nhìn xa, Mùa lạc, Hãy đi xa hơn nữa, Gia đình lớn; Nguyễn Kiên với Đồng tháng năm và Vụ mùa chưa gặt…
Trang 36Trong Cái sân gạch của Đào Vũ, không khí nông thôn trong những ngày
đầu xây dựng hợp tác xã nông nghiệp đã được tác giả miêu tả nổi bật Với nhân vật chính là lão Am, tác giả đã dựng lên được hình tượng một người nông dân tương đối sắc nét với những toan tính , nghĩ suy xung quanh sự kiện
vào hợp tác xã Các tác phẩm của Nguyễn Khải như Tầm nhìn xa, Gia đình lớn lại xoay quanh những mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và tập thể xã hội
Những nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm này là những mẫu người tiêu biểu, sẵn sàng hy sinh lợi ích riêng tư, bé nhỏ của mình để xây dựng tập thể
lớn, cống hiến cho công việc chung của toàn xã hội Qua Tầm nhìn xa,
Nguyễn Khải được đánh giá là đã phát hiện và thể hiện thành công sự biến tướng của bản chất tư hữu ở người nông dân ở những điều kiện và hoàn cảnh mới qua nhân vật Tuy Kiền
Thời kỳ 1964- 1975: Giai đoạn này cả nước bước vào cuộc kháng
chiến chống Mỹ Nông thôn vừa là hậu phương lớn chi viện cho miền Nam tiền tuyến vừa sẵn sàng chiến đấu giữ vững nền độc lập, bởi vậy văn xuôi viết
về nông thôn trong giai đoạn chống Mỹ ít nhiều mang âm điệu sử thi với cảm hứng anh hùng Đây là thời kỳ văn xuôi viết về nông thôn có được nhiều thành tựu cả về tác phẩm lẫn đội ngũ sáng tác, có thể kể đến: Nguyễn Thị
Ngọc Tú với Đất làng, Buổi sáng; Chu Văn với Bão Biển, Đất mặn; Nguyễn Khải với Chủ tịch huyện; Nguyễn Minh Châu với Cửa sông…Nhìn chung,
qua các tác phẩm trên đã phản ánh được hiện thực nông thôn sống động với nhiều sự kiện và chi tiết tiêu biểu, nêu được những tấm gương sáng về nhiệt tình cách mạng và khí thế chống Mỹ cứu nước của hậu phương Đặc biệt qua
các tác phẩm của Chu Văn (Bão biển), Nguyễn Khải (Chủ tịch huyện), Nguyễn Thế Phương ( Đi bước nữa, nắng) hay Nguyễn Địch Dũng ( Trai làng Quyền), nhà văn đã có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về người nông dân
và nông thôn
Trang 37Với cuốn tiểu thuyết Bão biển, tác giả đã lấy bối cảnh là nông thôn
trước thời chống Mỹ Khó khăn lúc này là làm sao động viên người nông dân mang nặng tư tưởng tư hữu đưa tài sản của mình vào hợp tác xã, việc thay đổi tập quán canh tác, áp dụng kỹ thuật mới của thuỷ lợi, của khẩn hoang…Tất cả những khó khăn ấy đều đổ lên vai người cán bộ cơ sở Họ vừa phải đưa ra chủ trương, phải làm tốt công tác tư tưởng, vừa phải hiện thực hoá những chủ trương ấy Đó là những thế hệ người trẻ tuổi có văn hoá, có tư tưởng tiến bộ xông xáo nhiệt tình như Tiệp, Thất Bên cạnh đó, trong hàng ngũ của cán bộ lãnh đạo lại có những người sa ngã, tha hoá bởi những đòi hỏi của lợi ích cá nhân như Hối (chủ nhiệm hợp tác xã Sa Bình); Thản (uỷ viên quản trị hợp tác
xã Giang Ninh) Chính điều này đã gây ra những dư luận không tốt trong nhân dân, làm cho lòng tin của quần chúng nhân dân với cán bộ đảng viên bị giảm sút
Với Chủ tịch huyện, tác giả đã đặt ra cách nhìn trực diện về người lãnh
đạo các cấp, cùng với đó là các vấn đề quan trọng không chỉ có ý nghĩa thời
sự lúc bấy giờ, mà ý nghĩa và tầm quan trọng của nó cho đến nay vẫn có tác dụng đối với con người và cuộc sống Đó là vấn đề cách nghĩ, cách sống của con người trong quan hệ sản xuất mới; vấn đề về sự trau dồi tu dưỡng phẩm chất đạo đức, năng lực của những cán bộ quản lý nông thôn; vấn đề đấu tranh bản thân, đấu tranh nội bộ; vấn đề xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với chính quyền; giữa cá nhân với tập thể Qua tiểu thuyết này, Nguyễn Khải đặt vấn đề về người cán bộ ở nông thôn trong việc đáp ứng những yêu cầu mới của hoàn cảnh Để có thể nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng sâu kín của quần chúng, để có tầm nhìn bao quát sâu rộng, và có phản ứng nhanh nhạy trước những biến chuyển không ngừng của đời sống…ngoài việc giữ gìn
và trau dồi những phẩm chất đạo đức cách mạng, người cán bộ lãnh đạo còn phải năng động, xông xáo, phải đi tìm hiểu cặn kẽ tình hình thực tế và không
Trang 38bao giờ được chủ quan chỉ nhìn nhận đánh giá con người và cuộc sống ở những biểu hiện bề ngoài
Thời kỳ 1975- 1985: Văn xuôi viết về nông thôn giai đoạn này đã bắt
đầu chuyển động với các tiểu thuyết Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên); Bí thư cấp huyện (Đào Vũ) Đây là hai tác giả có quá trình viết về nông thôn từ
rất sớm, nhưng những vấn đề được lựa chọn đưa vào thời điểm đó thực sự là những vấn đề xã hội bức thiết: đó là hiện tượng ô dù, tham ô được nhắc tới để
mọi người cùng nhận thức và tìm cách loại bỏ (Nhìn dưới mặt trời); đó còn là
nỗi khổ cực của người nông dân do cách thức làm ăn ở hợp tác cũ khi chưa có
khoán được đề cập khá quyết liệt (Bí thư cấp huyện ) Với cuốn tiểu thuyết
Cù lao tràm xuất hiện năm 1985 của Nguyễn Mạnh Tuấn có thể nhận thấy,
văn xuôi viết về nông thôn đã chuyển lên một bình diện mới Trong tác phẩm này, tác giả đã nhấn mạnh đến vấn đề phẩm chất và năng lực của người cán
bộ nông thôn và vấn đề xác định một đường lối, chính sách thích hợp trong
cải tạo, xây dựng nông thôn Nam Bộ Với Cù lao tràm Nguyễn Mạnh Tuấn đã
“bước đầu chạm đúng vào thời điểm nóng nhất của hiện thực, của mọi mối quan tâm” Nó “đã thở được hơi thở nóng hổi của nông thôn Nam Bộ” [29; tr 9]
1.2.1.3 Đề tài nông thôn là một trong hai đề tài lớn của tiểu thuyết thời kì đổi mới
Chiến tranh và nông thôn – đó là hai mảng đề tài lớn, được đầu tư nhiều công sức nhất của cả thế hệ viết thế kỷ XX Chiến tranh tuy đã kết thúc từ năm 1975 nhưng hậu quả và dư âm của nó có thể vẫn kéo dài đến cả trăm năm Bởi vậy, trong văn học thời kì đổi mới nói chung và tiểu thuyết nói riêng
đã nở rộ một loạt tác phẩm viết về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ như: Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai, Đất trắng – Nguyễn Trọng Oánh, Bến không chồng – Dương Hướng, Chân trời mùa hạ - Hữu Phương…Tiểu thuyết
Trang 39viết về chiến tranh thời kì này thường thể hiện con người và chiến tranh trên hai mặt: Tác động của chiến tranh đối với con người và ngược lại
Bên cạnh đề tài chiến tranh, tiểu thuyết đổi mới còn tập trung khai thác
đề tài về nông thôn ở nhiều chủ đề và đã cho ra đời hàng loạt các tác phẩm xuất sắc Điều mà các nhà văn viết về nông thôn sau 1986 quan tâm không nằm ngoài hai phương diện con người và xã hội Thời kì này dường như lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề về con người mà trước kia chưa có Đó là chủ đề
về số phận con người và hạnh phúc cá nhân Tiêu biểu như các tác phẩm:
Thời xa vắng – Lê Lựu, Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng – Dương Hướng…
Các chủ đề xã hội trong tiểu thuyết viết về nông thôn thường hướng tới các khuyết tật cần phải khắc phục của xã hội như: tham nhũng, trộm cắp, cường hào, những cảnh hành hạ, truy bức người…chủ đề về sự phân biệt giàu nghèo, và những phân biệt có tính chất đẳng cấp xã hội, những tranh chấp đất
cát, thói đố kị, kình địch giữa các dòng họ như Mảnh đất lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc Trường, Ma làng – Trịnh Thanh Phong, Bến không chồng –
Đào Thắng … Một số vấn đề lịch sử ở nông thôn đã được nhìn lại với cái
nhìn mới như Ba người khác - Tô Hoài, Thời của thánh thần - Hoàng Minh Tường, Dưới chín tầng trời - Dương Hướng…
Trang 40Hoà vào dòng chảy viết về nông thôn – về những vấn đề đang sôi động
trong đời sống xã hội, cuốn tiểu thuyết đầu tay Thần thánh và bươm bướm
của Đỗ Minh Tuấn có một cái nhìn mới về nông thôn Việt Nam trong thời kì hội nhập kinh tế thị trường Ông đã đề cập đến những vấn đề “ nóng” của nông thôn hiện nay trong trang viết của mình từ việc buôn thần bán thánh, mất đất mất làng, mua bán côn trùng…đến nguy cơ tận diệt của nền văn hoá dân tộc và việc đạo đức con người đang dần dần bị suy thoái trước những dục vọng cá nhân
Các nhà văn viết về nông thôn sau 1986 đã có nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn một cách kĩ càng ở nhiều phương diện Họ thấy những gì
ở tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn Họ thấu hiểu những cái tốt đẹp trong nông thôn truyền thống nhưng không vì thế mà làm mờ đi những vấn đề thực trạng của xã hội Từ đó góp một tiếng nói chung để xây dựng một nông thôn mới với những truyền thống tốt đẹp và sửa đổi những thực tại còn lại ở nông thôn
1.2.2 Một số tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn trong văn học đổi mới
Như đã nói ở trên, đề tài nông thôn là một trong hai mảng đề tài được đầu tư nhiều công sức nhất của thế hệ viết thế kỉ XX Các tiểu thuyết viết về
đề tài này trong thời kì đổi mới thường tiếp cận hiện thực nông thôn ở rất nhiều phương diện từ thời kì cải cách, hợp tác xã nông nghiệp, khoán 10 đến các mối bi kịch gia đình, dòng họ Qua đó làm nổi bật bức tranh hiện thực nông thôn mỗi thời kì, mỗi giai đoạn và đằng sau hình ảnh người nông dân với đủ các dáng hình, số phận, tính cách là những vấn đề về thân phận con người, về văn hoá làng xã – những điểm nóng đang đặt ra trong đời sống của nền kinh tế thị trường Nhìn lại những tác phẩm viết về nông thôn, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều có nói: “ Nông thôn chính là nơi thử thách khó khăn nhất, nơi giá trị văn hoá phải đương đầu với những dục vọng của đời sống thị