1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những đóng góp của Thế Lữ vào giai đoạn văn học (1930-1945

102 867 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 26,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, luận văn sẽ chỉ ra nhũng cách tân trong sáng tác của Thế Lữ về thi pháp thơ và văn xuôi trên các mặt: kết cấu, xây clựng hình tượng nhân vật, đổi mới ngôn ngữ giọng điệu, sự kế

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: T.s Lý Hoài Thu

ĐA! HOC G-UỎC GIA HÀ NỌITRUNGTẢMĨHÓNGĨỈN.THƯ VIỆN

ỷ ỹ - U M / i

Hà nôi: 2000

Trang 2

ỉ.Chương l Vai trò của Thê Lũ đôi với quá trình hiện đại hoá văn học 5

1.1 H i ệ n đại h o á - m ộ t x u h ư ớ n g tất y ế u c ủ a văn h ọ c giai đ o ạ n 6

1 9 3 0 - 1945

1.2 Vai trò của Thế Lữ đối với quá trình hiện đại hoá vãn học 10

2.1 Thơ Thế Lữ - một sự đổi mới về mặt cảm hứng sáng tạo 22 2.2 Thơ Thế Lữ - một bước tổng hợp mới giữa văn học Đồng, 52 Tây và truyền thống văn học dân tộc

3.Chưong 3 Thế Lũ - một cày bút văn xuôi có nhiều tìm tòi 68

3.1 Những đóng góp của Thế Lữ về hệ thống cốt truyện, nhân vật 71 cho vãn xuôi Việt Nam 1930 - 1945

M Ụ C L Ụ C

Trang 3

1 LÝ DO CHỌN Đ Ề TÀI - GIỚI IIẠN NGHIÊN cúu.

Vào những năm 30 của thê kỷ này, thơ mới xuất hiện đã đánh dấu một bước ngoại

quan trọng trong lịch si? thơ ca Việt Nam Thơ mới đã đáp ứng được những đòi hỏi

cấp thiết của đời sống xã hội mà từ lâu, lối thơ cũ đã trở nên già cỗi, thiếu sức sống

ơ buổi sơ khởi của phong trào thơ mới, sự ngưỡng m ộ của độc giả chắc hẳn

là còn rất ít bởi một lẽ dễ hiểu là từ bao năm qua, những vần diệu, ý thơ của nén thi

ca cổ xưa đã thâm nhiễm , khắc sâu trong tâm tưởng m ọi người Bởi vậy, cái khó của

người đi tiên phong của phong trào là ở chỗ phải làm thế nào gây một ấn tưựĩìg tốt

đẹp cho thơ mới để nó có thể đứng vững và tồn tại được.

Nếu như Phan Khôi và Lưu Trọng Lư chỉ làm cho người ta chú ý đến thơ mới thì Thê Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai của tlìư mới.

T h ế L ữ c h ín h là người đ ã đ ặ t c h o t h ơ m ới m ộ t nền m ó n g v ữ n g c h a i , là ngư ờ i đ à g â y

được niềm tin mãnh liệt trong lòng khách yêu ihơ T hế Lữ cũng chính là người đã làm cho những thi nhân di sau ồng mạnh dạn bước liếp bước dường họ đã chọn: Đi

theo thơ mới

Công lao của người "khai SƠIÌ phá thạch " như T hế Lữ đối với llìơ mới, vơi giai đoạn văn học 1930 - 1945 nói liêng và với toàn bộ nền văn học V iệl Nam nói

c h u n g là rất lớn M ặ c dù vạy, n g o à i c ô n g trình n g h ic n cứu c ủ a g i á o s ư Lê D in h Kỵ

và một s ố bài viết của các nhà biên khảo lịch sử vãn học như Hoài Thanh, Hoài Chân, Vũ N gọc Phan, N guyễn Tấn Long , Phạm T hế Ngũ dành cho T h ế Lữ thì chưa

có m ột công trình n g h iê n cứu nào của ngiên cứu sinh và học viên cao học nghiên

c ứ u m ộ t c á c h to àn d iệ n s á n g tác c ủ a T h ế Lữ đ ể chí ra n h ữ n g áèngCỊỔp c ủ a người đi

tiên phong trong phong trào thơ mới này.

A P H Ẩ N M Ỏ Đ Ẩ U

Trang 4

Để góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp nghiên cứu chung nhằm nêu nên những giá trị nhân văn, giá trị nghệ thuật và làm sáng tỏ công lao của Thế Lữ, khắng định vị trí xứng đáng của ông trong nền văn học dân tộc, cluing tôi chọn đề tài:

"Những đóng góp của Thế Lữ vào giai đoạn văn học 1930-1945".

Sự nghiệp sáng tác của Thế Lữ bao gồm nhiều thể loại: Thơ, Văn xuôi, Kịch

và cả truyện dịch Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ giới hạn nhiệm vụ nghiên cứu của mình ở những sáng tác thơ và văn xuôi của ông.

2 M ỤC ĐÍCH NGIÊN cúu -Ý NGHĨA THựC TIẺN C ÚA LUẬN V Á N .

Thực hiện đề tài trên, luận văn sẽ nghiên cứu để nêu nên một cách cụ thể những đóng góp của Thế Lữ cho sự phát triển văn học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945 cả

về nội dung và nghệ thuật Đặc biệt, luận văn sẽ chỉ ra nhũng cách tân trong sáng tác của Thế Lữ về thi pháp thơ và văn xuôi trên các mặt: kết cấu, xây clựng hình tượng nhân vật, đổi mới ngôn ngữ giọng điệu, sự kết hợp hài hoà giữa văn học Đông- Tây trên cái nền văn học dân tộc

Đạt được những mục đích nghiên cứu đó, luận văn phục vụ trực tiếp công việc tìm hiểu và giảng dạy văn học Việt Nam ớ các bậc Đại học, Cao đẳng và phó thông trung học với tư cátìh là một tài liệu tham khảo.

3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CÚU- NHŨNG N G U ồ N TƯ LIỆU.

Kể từ khi ra dời đến nay, văn học lãng mạn dã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học Là sứ giả tiên phong của trào lưu lãng mạn, sáng tác của Thế

Lữ đã được các nhà biên khảo lịch sự, các nhà nghiên cứu văn học hết sức quan tâm tiến hành khảo sát, nghiên cứu Tuy vạy, mức độ đánh giá về văn nghiệp Thế Lữ ở mỗi giai đoạn lịch sử có khác nhau.

Trước cánh mạng Tháng Tám năm 1945, ngoài ý kiến đánh giá (với ý nghĩa bênh vực, cổ vũ cho thơ mới trong giai đoạn phôi thai) của các bạn đổng nghiệp như Vũ Đình Liên, Lưu Trọng Lư dành cho tác phẩm của Thế Lữ, chúng ta đã thấy xuất hiện công trình nghiên cứu "Việt Nam vãn học sử yếu" của Dương Quang Hàm Trong

Trang 5

công trình nghiên cứu này, tác giả đã viết về các nhà thơ mới trong đó có Thế Lữ với

âm hưởng chung là khen ngợi.

Sau cách mạng Tháng Tám, giai đoạn từ năm 1945 đến 1954, các nhà vãn lãng mạn nói chung dường như đều bị rơi vào quên lãng Nhung từ sau năm 1954 đến

nay, văn học lãng mạn nói chung và tác phẩm của T hế Lữ nói riêng lại trở thành tiêu

điểm chú ý của giới nghiên cứu và phê bình văn học.

ơ miền Nam, giai đoạn từ sau 1954 đến trước 1975, chúng ta có ihể thấy

những ý kiến đánh giá về văn nghiệp T hế Lữ trong các công trình nghiên cứu của

Phạm Thế Ngũ ("Việt Nam vãn học sử giản ước tân biên", nhà xuất bản Quốc học Tùng thư, 1960), Nguyễn Tấn Long- Nguyễn Hữu Trọng (" Việt Nam thi nhân tiền chiến" nhà xuất bản Sống Mới, 1968) Nguyễn Thế Phong (" Nhà văn liền chiến 1930-1945", nhà xuất bản Vàng Son- Sài Gòn, 1974), Thanh Lãng( "Báng lược đồ văn học Việt Nam,Văn học thế hệ 32^ Sài Gòn, 1972) Nhìn chung, phương pháp nghiên cứu cũng như quan điểm đánh giá của các nhà nghiên cứu này về Thế Lữ cùng các tác giả lãng mạn 1930-1945 chưa có gì khác so với trước cách mạng.

ơ miền Bắc, giai đoạn từ sau 1954 đến tiuức 1975 có các công trình văn học

sử của nhóm Lê Quý Đôn (Lược kháo lịch sử văn học Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến 1945, nhà xuất bản Xây dựng Hà Nội ,1957), Hoài Thanh - Hoài Chân ("Thi nhân Việt Nam, nhà xuất bản văn học , 1961 ), Bạch Năng Thi - Phan Cự Độ (" Văn học Việt Nam 1930 - 1945,; nhà xuất bản Giáo dục, 1961) và các bài nghiên cứu của Nguyễn Đức Đàn, Vũ Đức Phúc Hầu liêì các công trình nghiên cứu và những bài viết này đều phê phán thơ mới nói chung trong đó có sáng tác của Thế

Lữ một cách gay gắt, khen ít chê nhiều Ngay như Hoài Thanh - Một nhà nghiên

cứu phê bình đã dành hết tâm huyết của mình để bênh vực, cổ vũ cho thơ mới ờ giai

đoạn mới manh nha mà rồi cũng lớn tiếng phê phán: " Nhưng hình như có hồi Thế

Lữ đã đi lầm đường Bởi người ta nói quá nhiều nên thi nhân tưởng quê mình là tiên giới và quên rằng đặc sắc của người chính là ở chỗ tả những vẻ đẹp thực của trần gian „ [30, 62].

Từ thời kỳ đổi mới đến nay, văn học lãng mạn nói chung trong đó có Thế Lữ

đã được thẩm định lại.

Trang 6

Nhiều bài nghiên cứu, chuyên luận của các tác giả như Trương Chính, Hà

Minh Đức, Nguyễn Hoành Khung, Trần Đình Hựơu, Phan Cự Đệ, Vũ Ngọc Phan

đã đánh giá lại trào lưu lãng mạn nói chung dưới ánh sáng của tư duy mới Đ áng chú

ý hơn cả là công trình nghiên cứu " Thơ mới - những bước thăng trầm n của Lê Đình Kỵ Tác giả đã cung cấp cho độc giả một cái nhìn tương đối toàn diên về những đóng góp cũng như một số hạn ch ế của thi nhân lãng mạn trong đó có T hế Lữ

Trên cơ sở tiếp thu và hệ thống hoá những ý kiến của những người đi trước,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện, đặc biệt là mặt nghệ thuật để

khẳng định công lao của Thế Lữ đối với sự phát triển của văn học V iệt Nam giai đoạn 1 9 3 0 - 1945.

T hế Lữ so với thế hệ các nhà vãn cùng thời Nói cách khác, chúng tôi tiến liànli nghiên cứu những sáng tác của T hế Lữ trong m ối tương quan giữa dồng đại và lịch đại để thấy được những đóng góp có tính chất tiên phong của ồng.

Trang 7

B - PHẨN NỘI DUNG

C H Ư Ơ N G I: VAI T R Ò CUA T H Ế L Ữ ĐỐI VỚI Q U Á T R ÌN H H IỆ N BAI

H O Á VĂN H Ọ C GIAI ĐOẠN 1930 - 1945.

Trang 8

1.1 HIỆN ĐẠI HOÁM ỘT x u HƯỚNG TAT Y Ế ư c ủ a v ă n h ọ c v i ệ t n a m g i a i đ o ạ n

1930- 1945.

Hiện thực đời sống xã hội không chỉ là đối lượng phản ánh một nền văn học

nhất định mà còn là nhân tố làm nảy sinh chính nền văn học ấy Theo m ối quan hệ

biện chứng này thì vào đầu thế kỷ 20, xã hội nưỚG ta đã xuất hiện đầy đủ tiền để cho một nền văn học hiện đại ra đời.

Cho đến đẩu thập kỷ 30 của thế kỷ này, thực dân Pháp đã thực hiện ở Việt Nam hai cuộc khai thác thuộc địa 1ỚI1 nhằm bù đắp những thiệt hại kinh tế ở chính quốc do cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất gây ra Xã hội Việt Nam do đó cũng

biến đổi theo Giai cấp Tư sản Việt Nam đuợc hình thành từ sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, đến giữa thập kỷ 30 này, đã phát triển khá mạnh Một số đơn

vị kinh doanh nổi tiếng đã xuất hiện ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam Các đô thị cũng

mọc lên rất nhanh theo đà phát triển của kinh tế Tư Bán Chủ nghĩa Việc buôn bán cũng bắt đầu sồi động ở các thành phố lớn Bộ máy viên chức của thực dân và phong kiến đã có một qui mô hoàn chỉnh Một tầng lớp tiểu tư sản được hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất đén đầu lliạp ký 30 đã phát triển đông đảo và chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong dân số các đô thị Tầng lóp tiểu tư sản này bao gồm những tiểu thương, tiểu chủ, viên chức, giáo viên, học sinh, sinh viên, những người làm nghề tự do (như bác sĩ, luật sư, nhà văn, nhà báo )

Trong đó, theo thống kê niên giám của Đông Dương, năm 1932 - 1933, số 111

thức tân học bao gồm học sinh, sinh viên và viên chức đã lên tới 35 vạn người.

Hầu hết các tầng lớp và giai cấp trên đây đều sống ở các đô thị Một lối sống

tư sản hoá được gọi là" Vãn minh thành thị" lan tràn trong giai cấp tư sản và tiểu tư sản lớp trên Những người này có một cuộc sống tân tiến: ở nhà lầu, đi xe hơi, dùng đèn điện, quạt điện, đi nghe hoà nhạc Tây hoặc đi xem chớp bóng

Các thành phố lớn đua nhau tổ chức hội chợ, thi sắc đẹp.Trên các đường phố

đã xuất hiện các mỹ viện trang điểm cho phụ nữ Lối sống đô thị hoá cũng được thể

hiện trong cách ăn mặc của thanh niên nam nữ Cô gái Bắc Kỳ trước kia đội nón

thúng quai thao, bỏ tóc đuôi gà, dép cong, quần áo thâm lượt thượt, bộ xà tích bạc lúc nào cũng bên hông với rất nhiều chìa khoá

Trang 9

Giờ đây, các cô gái bỏ dép, bò nón để dùng giày, đi ô đen

Cuối thập kỷ 30, người ta dã thấy xuất hiện nhiều thiếu nữ Hà Thành mặt

đánh phấn, môi đỏ chót, áo màu, giày cao gól, những cô gái tân tiến I l l i c i t còn di xe lếch, chơi ping pông, tennis Nam thanh niên thành thị giàu sang cũng đua nhau ăn mặc không kém thiếu nữ

Có thể nói, những đổi mới trong sinh hoạt của các táng lớp trên đây sẽ dẫn đến sự

thay đổi suy nghĩ, cảm xúc trong bán thân chính những COI1 người này Góp phần

vào sự thay đổi đó còn do sự tiếp xúc với V Ĩ 1 1 1 hoá phương Tây mà đặc biệt là với văn học lãng mạn Pháp.

Năm 1915, thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt bụôc phải bãi bỏ thi Hương ở Bắc Kỳ Năm 1919, khoa thi Hội cuối cùng ở Huế dã kết thúc một c h ế độ khoa thi cử từ lâu đã trở thành vô nghĩa, thối nát Từ đây, trong các trường học, học sinh bắt đầu say sưa với văn hoá Phấp mà đặc biệt là văn học lãng mạn Pháp Người

ta bắt đầu ca ngợi thơ lãng mạn của Hugo, Lamartine, M usset, V igu y N h iều người rất thích bài thơ"Le Lac" (Cái hồ) của Larmartinne, mê nhân vật Atala trong tác phẩm cùng tên của Chateaubriand

Sự tiếp xúc vãn hoá trên đây đã đem đến cho tầng lớp thanh niên tiểu tư sản thành thị những năm 30 của thế kỷ này những tình cảm mới, những rung động mới

Họ yêu đương m ơ m ộng, vui buồn không giống các cụ ngày xưa nữa Đ iều này đỉf được Lưu Trọng Lư nêu lên công khai trong buổi diễn thuyết ở nhà Học Hội Quy Nhơn hồi tháng 6 năm 1934:

" Các cụ ta ưa những màu đỏ clioét, ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà lúc đung Ngọ Nhìn m ột cô gái xinh xắn, ngay they, cấc cụ coi như làm một điều tội lỗi, la Ihì cho

là mát m ẻ như đứng tnrớc lĩiột cánh đổng xanh Cái ái tình của các cụ thì chí là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu "[5,21]

Sự tiếp xúc với văn hoá phương Tây và lối sống đô thị hoá cũng làm cho ý thức cá nhân nảy nở và phát triển rất nhanh lấn át ý thức cộng đồng xưa cũ Những

Trang 10

con người trong xã hội ngày càng muốn khẳng định cái tôi cá nhân của mình trong gia đình và cả ngoài xã hội, điều này đã được biểu hiện rất rõ trong văn học Vâỵ

là, một quan niệm mới về văn chương cũng đổng thời xuất hiện.

Trong xã hội phong kiến, đẳng cấp càng cao thì càng lắm nghi ỉễ phức tạp cuộc sống lắm nghi lễ thì văn chương càng nhiều luật lệ, phép tắc Các trí giả thời ấy quan niệm rằng tác phẩm nào tuân thủ nghiêm ngặt các luật lệ phép tắc đó mới xứng là tuyệt tác Nhưng thị hiếu thẩm m ỹ bao giừ cũng mang tính lịch sử, thời đại Thời ấy người ta trọng cổ mà bạc kim, cái chung được trọng hơn cái riêng, cái thời

mà N ghiêu, Thuấn được xem là khuôn vàng thước ngọc trong đối nhân xử thế ; vãn chương thì coi Đường, Tống là điển phạm không thời nào vượt nổi Sáng tác văn chương thời ấy nhất thiết là phải dừng văn liệu cũ, điển tích xưa Nhà thơ có tuân thủ thi pháp, thi luật đã định sẵn của cổ nhân mới được gọi là bậc "tao nhân mặc khách,,.

Xã hội phong kiến là xã hội trong đó quý, tiện, sang hèn được phân biệt rạch ròi Trong văn chương cũng thế: Vãn kinh sử đạo lý được trọng hơn văn nghệ thuật; trong văn nghệ thuật thì vãn Hán được trọng hơn văn N ôm , thơ được chú ý hơn văn xuôi, văn trào phúng bị coi là thấp kém, thể loại tiểu thuyết bị khinh rẻ và thậm chí không được coi là văn chương chân chính.

T hế nhưng dù ở thời nào, các tác phẩm vãn chương có giá trị thực sự bao giờ cũng là công trình sáng tạo mang đạm dấu ấn cá nhân, ơ thời kỳ phong kiến vẫn có những tác phẩm chống dập khuôn, chống phi ngã hoá, giàu tính nhân văn Tuy vậy,

những tác phẩm này vẫn không thể vượt qua ra khỏi hệ thống quy phạm chung VỐI1

bắt nguồn từ ý thức thẩm m ỹ của thời đại.

Đến thế kỷ 19, với sự xuất hiện của Hồ Xuân Hương, N guyễn Công Trứ , Tú Xương , hệ thống thi pháp cổ tướng chừng sắp lung lay, sụp đổ Tuy nhiên cơ sở

xã hội, m ôi trường văn hoá tư tưởng hồi bấy giờ không cho phép những COI1 người tài hoa đó được phát triển đầy đủ bản sắc cá nhân của mình để có thể thả sức lung hoành ngòi but một cách tự do, thoải mái.

Trang 11

Phải đến thế kỷ 20, với sự xuất hiện của tầng lớp thị dân đông đảo và lối sống

đô thị hoá, với ảnh hưởng của vãn hoá phương Tây ý thức cá nhân mới nảy sinh

và phát triển mạnh mẽ trong tầng lớp thị dân mà trước hết là ở bộ phận trí thức tân học Họ có quan điểm hoàn toàn khác với thế hệ trước về cái đẹp, về đạo đức, nhân sinh và đặc biệt là về văn học nghệ thuật Họ cho rằng những quy phạm chặt chẽ của thi pháp cổ đã trờ thành vật cản trên chặng dường tự do dân chủ hoá nền văn học nước nhà Họ lên tiếng chống lại sự trói buộc trái tự nhiên của thi phấp cổ mang tính phi ngã đã một thời là mẫu mực cho các sáng tác văn chương nghệ thuật Họ đòi hỏi một sự cách tân để thoả mãn nhu cầu thẩm m ỹ mới và để kích thích cá tính sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật văn chương.

Có thể nói, lối sống đô thị hoá và sự tiếp xííc với văn hoá phương Tây của một số tầng lớp dân chúng Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ này là tiền đề quan trọng cho xu hướng hiện đaị hoá đời sống xã hội, trong đó có vãn học Ngoài

ra, góp phần khổng nhỏ vào sự đổi mới cùa xã hội nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng còn phải kể đến vai trò của báo chí.

Năm 1865, tờ Gia Định báo là tờ báo đầu tiên xuất hiện ở V iệt Nam do chính phủ Sài Gòn lập ra nhằm mục đích đãng các cồng lệnh của nhà nước Tù đó về sau, báo trí đua nhau ra đời nhưng hầu hết đều là công cụ của chính quyền để đăng công vãn và tin tức vắn tắt nên giá trị tư tưởng không có gì đáng nói.

Từ năm 1913, báo ch í bắt đầu đổi mới và cỏ khuynh hướng, chương trình lõ rệt hơn,' hình thức báo ch í cũng được cải tiến Báo ch í thời này tlurờng được xuất bản bằng các thứ tiếng Tàu, Pháp, Quốc Ngữ và đôi khi cả chữ Nôm nữa.

Về sau, những trí thức tân học của ta đã cổ dộng cho chữ quốc ngữ và dùng nó làm phương tiện đấu tranh phổ biến Vãn hoá, khoa học tiến bộ góp phần thúc đẩy bánh

xe lịch sử tiến lên Chính báo chí đa hoại động sôi nổi khiến chính quyển thực dân

và chính phủ Nam triều phải bãi bỏ ch ế độ thi cử lỗi thời làm cho nền Hán học ở Việt Nam sụp đổ hoàn toàn Và từ dây, chữ quốc ngữ trở thành thứ chữ thống nhất trong toàn quốc.

Báo ch í còn là nơi để các cây bút trẻ và các văn gia thi sĩ đăng các tác phẩm của mình trước khi được xuất bản thành sách.

Trang 12

Báo chí cũng là diễn đàn dể cấc nhà nghiên cứu, phê bình văn học trao dổi ý kiến đánh gía tác phẩm, để phổ biến lý luận kinh nghiệm sáng tác

Tóm lại, báo ch í tiến bộ là những cơ quan ngôn luận đã tác động sâu xa, mạnh mẽ vào tư tưởng tình cảm và hành động của nhân dân ta Đặc biệt, báo chí còn góp phần đấu tranh cho sự thắng lợi của văn hoá tiến bộ, cho sự toàn thắng của chữ quốc ngữ, tạo điều kiện rất thuận lợi cho sự đổi mới văn học.

Tham gia vào công cuộc đổi mới có một số trí thức Hán học chịu ảnh hưởng của sinh hoạt đô thị tư sản hoá và của văn hoá phương Tay thông qua Tân thư Trung Quốc như Tản Đà, Nguyễn Bá Học, Hoàng N gọc Phách, Phan Khôi nhưng chủ yếu vẫn là tầng lớp trí thức tân học Những cíiy bút mới này đã tạo nên trên văn dàn công khai ở Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ hai trào lưu văn học ỉà văn học hiện thực và văn học lãng mạn chủ nghĩa.

Cả hai trào lưu này đều đấu tranh để thoát khỏi hệ thống thi pháp cổ, trung đại và đã thực sự đóng góp có hiệu quả vào tiến trình hiện đại hoá nền vă học Việt Nam.

Và T hế Lữ, một trong những thi nhân lãng mạn đầu tiên đã rất thành công với vai trò" người m ở đường" cho thơ mới nói riêng và cho cả giai đoạn văn học 1930 -

1945 nói chung.

1.2 VAI TRÒ CỦA THẾ LỮĐỒI VỚI QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ VÁN HỌC.

T hế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, bút hiệu Lê Ta T hế Lữ sinh vào tháng 10 năm Đinh mùi 1907 tại Thái Hà ấp, Hà Nội I 30, 49) Ông học ban Thành - Chung được ba năm thì bỏ dở Sau đó, ông sang học trường Mỹ thuật nhưng lại thôi học liền sau đó và bắt đầu bước vào làng văn T hế Lữ gia nhập nhóm Tự lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo, Xuân Diệu và Tíí Mỡ.

Sinh thời, ông đã từng cộng tác với cấc báo: Phong hoá, N gày nay và Tinh hoa.

V ề thơ, T hế Lữ chỉ có thi phẩm độc nhất" Mấy vần thơ" xuất bán năm 1935 rồi do nhà xuất bản Đời nay tái bản dưới tên" Mấy vần thơ tạp mới" vào năm 1941 tại Hà

N ội.

Trang 13

Và đến năm 1962, thi phẩm này lại dược tái bản lần thứ hai tại Sài Gòn.

Ngoài thơ, T hế Lữ còn nhà văn chuyên viết liểu thuyết dường rừng, trinh thám, quái đản, gồm những tác phẩm: " Vàng và m áu"(1934), "Bên đường thiên

lô iM ( 1936 )," Mai hương và Lê Phong" (1937), "Lê Phong Phóng viên" (1937) " Gói thuốc lá" (1 9 4 0 ), "Gió trăng ngàn" (1941), "Trại Bổ Tùng Linh" (1 9 4 1 ), " Ba hồi kinh dị", " Con quỷ truyền kiếp", " Đòn hẹn" Viết về T hế Lữ , nhà nghiên cứu Vũ

Ngọc Phan viết: " về thơ, người ta thấy rõ cái thi cốt, cái chân tài của Thế Lữ về

tiểu thuyết, tuy loại trinh thám ông chưa thành công, nhưng về truyện ghê sợ ông đã

tỏ ra một tiểu thuyết gia có biệt tài" I 26, 1953].

Và không riêng gì nhà nghiên cứu văn học Vũ N gọc Phan mà rất nhiều nhà biên khảo lịch sử văn học như Dương Quảng Hàm, Phạm T hế Ngũ, Thanh Lãng, Tấn Long, Hoài Thanh, các nhà nghiên cứu, lý luận văn học như Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức Trương Chính, Nguyễn Hoành Khung, Trần ĐÌ111 Hượu, Phan Cự Đệ cũng đã ca ngợi sự nghiệp sáng tác của T hế Lữ một cách nhiệt thành Có ngược trở lại thời gian những năm 30 của thế kỷ này, chúng ta inới thấu hiểu hết được công lao to lớn của T hế Lữ trong cồng cuộc đổi mới nền văn học theo hướng hiện đại hoá và mới hiểu hết được nguyên nhân khiên các đổng nghiệp kính trọng T hế Lữ, coi ông là" Ông hoàng của chú nghĩa lãng mạn"

Bước sang đầu thế kỷ 20, trên thi đàn Việt Nam thời Pháp thuộc, thơ ca mất dần sức sống Thơ ca lúc này dường như đã mất hẳn điểm tựa về tinh thần và vơi cạn sinh lực bên trong.

Tản Đà, người dại biểu XIIAÌ sắc cuối cùng của liền lliơ cũ, lííc bấy g iờ (in không còn làm thơ nữa Thơ Tản Đà khép lại một thời kỳ và cũng dự báo cho một thời kỳ đang tới Còn lại trên thi đàn chỉ là những bài thơ thù tạc nặng tính ước lệ và khuôn sáo như lời một nhà nghiên cứu đã nhận xét:

" Bản sắc cá nhân, cái tôi trữ tình riêng của nhà thơ bị xoá hẩh không còn dấu vết riêng trong sáng tạo Nội dung (hơ nghèo nàn, hình thức cũng nghèo nàn, chỉ còn lại cái khuôn hình thức thể loại, khác nào một cơ thể đa thịt bị hao mòn dần để

lộ lên cái khung xương côV' [ 1 1,7|.

Trang 14

Cái khung hình thức, cái khuôn gò bó ấy chính là các thể thơ Đường luật Các thể thơ cũ này được xem như là nguyên nhân trực tiếp gây nên sự cản trở cho những sáng tác trong thơ.

Thực ra thì vấn đề không phải chỉ là ở các thể thơ cũ và mới mà là ở một nếp

tư duy và những thị hiếu thẩm mỹ đã lỗi thời không còn phù hợp với tầng lóp cồng

chúng thành thị khá dông đảo Đã đến lúc phải mở ra một thời kỳ mới trong thơ ca với những sáng tạo mới cả về nội dung lẫn hình thức phù hợp Cuộc tranh luận về

thơ mới và thơ cũ cũng bắt đầu từ đấy và kéo dài đến vài năm.

Bài thơ " Tinh già" (1932) của Phan Khôi mặc dù chưa nêu được một chuẩn mực cụ thể nào cho thơ mới nhưng ít nhiều đã thoát khỏi những khuôn sáo gò bó của thơ ca cổ điển.

Từ đây, phong trào thơ mới đã thực sự thu hút được sự quan tâm của giới yêu thơ qua các bài viết, các buổi diễn thuyết, tranh luận.

Mặc dù vậy, cũng như bài " Tinh già", của Phan Khôi, các bài thơ xuất hiện

ngay sau đó như" Canh tàn", " Trên con đường cũ" của N guyễn Thị Kiêm và một số

bài thơ của Lưu Trọng Lư ở giai cĩoạii đầu vần chưa biểu hiện dược những tiêu chí cụ thể cả về nội dung và hình thức cho thơ mới.

Sự thắng thế của phong trào thơ mới chủ yếu là do sức thuyết phục ở những sáng tác có giá trị của những nhà thơ có công đầu trong phong trào thơ mới Thơ Thế Lữ đằm thắm mà mãnh liệt, thơ Lưu Trọng Lư đắm đuối trong tình và mộng Huy Thông trữ tình và bi tráng, Nguyền Nhược Pháp duyên dáng trong những tình ý thơ Vũ Đình Liên, Thái Can, Lan Soil gợi nhiều cilia sẻ yêu thương với những cảnh đời ngang trái, lụi tàn

Các nhà thơ trên, đặc biệt là Thế Lữ- người dược mệnh danh là " Ỏng hoàng của chủ nghĩa lãng mạn,, đã thực sự đem lại sự thắng thế cho phong trào thơ mới; dã thực hiện được những điều mà báo chí, dư luận đòi hỏi: "thơ ta phải mới văn thể, mới ý tưởng (Theo tài liệu báo Phong Hoá).

Nói đến vai trò của Thế Lữ trong công cuộc hiện đại hoá văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, trước hết, chúng ta cần phải khẳng định sức mạnh của những bài viết của ông trên báo chí nhằm cổ vũ cho phong trào thơ mới.

Trang 15

Thời điểm văn học lãng mạn Việt Nam ra đời cũng là thời điểm của những cuộc tranh luận càng ngày càng quyết liệt của hai trường phái Thơ cũ và Thơ mới trên báo chí Những người phán dối thơ mới cũng đông không kém những người ủng

hộ Các nhà (hơ mới ở giai đoạn đầu lừ Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Kiêm đến T hế Lữ đều không ngại ngần đăng đàn diễn thuyết, tranh luận lên án thơ

cũ và hết lời ca ngợi thơ mới.

Năm 1935, nhân phê bình tập thơ "Những bông hoa cuối mùa" T hế Lữ đã lên tiếng bài xích thơ cũ :"Các ông khen âm điệu lliơ cũ thánh thót âm thầm như tiêng đàn năm cung Không ai cãi lại hai ông, nhưng tiếc rằng khi nghĩ đến tiếng đàn,các ông lại nghĩ đến tính tình của người khác, xúc dộng bằng tâm hồn của người khác vì trong lòng các ông không có một XÍIC cảm riêng nào Cái tài của các ông là cái tài xào nấu lại những món ăn cũ Các ông lấy lời văn, ý tưởng, tình cảm của người khác làm của mình Trong thơ các ông đầy dẫy các cánh tuyết, mai, thông, cúc, chỉ quanh quẩn ở những điển tích mà đã mấy nghìn lần người ta nhắc đến, nghe quen tai quá".(17, 11)

Và để trả lời những người buộc tội thơ mới bất chấp mọi luật lệ, T hế Lữ dã viết: " Các ông không biết rằng thơ bao giờ cũng phải có luật Không phải cái luật hẹp hòi hạn câu chọn chữ là một lối rất tiện cho những ngưới khúm núm thi thố cái tiểu xảo của mình Nhưng thơ phái có thứ luật cao siêu hơn, thiêng liêng hơn: mình biểu lộ cảm tường, tâm trạng mình một cách êm ái, tha thiết hay hùng Iráng du dương cái bản lĩnh của riêng mình , không bao giờ chịu theo tư tưởng tình cảm của người khác" ( Phong Hoá số 148, tháng 5 năm 1935) I 17, 16].

Cuộc tranh cãi giữa thơ cũ và thơ mới kéo dài đến 4 bốn năm sau đó mới kết thúc Những lời lẽ của T hế Lữ nhằm cổ vũ cho phong trào ihơ mới lất có giá trị về mặt lý luận Ông đã góp phần không nhỏ cho sự thắng lợi của văn học lãng mạn trên bình diện lý thuyết.

Có hồi tưởng lại những nãiĩi 1934 - 1935 ấy, cluing ta mới biết ảnh hưởng của thơ T hế Lữ mạnh đến dường nào kill 111 à trên thi đàn Việt Nam lúc đó, thơ cũ mặc

dù đã tàn lụi không còn sức sống nhưng vẫn c ố Iigíìn dài những liếng não nùng bi ai

Trang 16

của nó, còn thơ mới thì chỉ vừa nhen mầm sống và đang bước những bước chập chững đầu tiên.

ơ buổi sơ khởi của phong trào, chắc chắn không ai có thể dám chắc sự thành công của thơ mới bởi nền tlìư ca mòn sáo cố xưa dã thâm nhiễm, đã khắc sâu trong tâm tưởng m ọi người, nay đột nhiên xuất hiện những vần thơ mới lạ cả về nội dung và hình thức, xuất hiện một lối thơ phá thể gần như liều lĩnh đến vậy thì ngay

cả việc chấp nhận nó thôi (chứ chưa nói đến yêu thích nó) cũng khiến người ta không khỏi e ngại Cái khó khăn của người đi tiên phong trong phong trào thơ mới

là ở chỗ đó Người sáng tác tiên phong phải là người có đủ trí tài để gây một ấn tượng tốt đẹp cho thơ mới, làm CỈ10 thơ mới có thể dứng vững và tồn tại dược.

Không phô trương diễn thuyết suông, thực hiện lời nói đi đôi với việc làm,

T hế Lữ đã dành cả tâm huyết của mình cho n h ữ n g sáng tác trực tiếp Hơn ai hết, ông

hiểu r ằ n g sự thuyết trình chí làm người ta till khi I1Ó được chứng minh bằng việc

làm cụ thể.

Thi phẩm" Mấy vần thơ" vừa mới được xuất bản(1935) đã gây được một tiếng vang sâu rộng Bằng cả tài năng và nhiệt huyết của mình, T hế Lữ đã gây được niềm tin mãnh liệt trong giới yêu thơ ô n g chính là người đặt cho thơ mới một nền

m óng vững chãi, sẵn sàng cho một sự phát triển đến cực thịnh của phong trào T hế

Lữ là người giáng một đòn quyết định cuối cùng làm cho hàng ngũ thơ xưa phải tan

vỡ hoàn toàn, phải rút lui khỏi thi đàn Đ ổng thời, ông cũng là người làm cho những hổn thơ CÒ11 đang m ò mẫm tìm đường bắt được mục tiêu tiến bước: Đi theo thơ mới.

Thi phẩm " Mấy vần thơ" là một áng thơ thật xuất sắc Nó không chỉ mới ở lời mà còn mới cả ở ý nữa Những ý mới ấy đã được T hế Lữ phô diễn với tất cả sụ nồng nàn, làm cho người ta phải thổn thức say sưa.

"Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn"(Tố Hữu).Thơ là những rung động và cảm xúc của con người trước cuộc sống dược bộc lộ một cách chân tình và

tự nhiên Nhưng cái quan niệm" văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí" của Nho gia trong thơ cổ đã lấn át hoàn toàn bản ngã tlìi gia ấy." N gông " cái ngông của nhà nho tài tử đến như Tản Đà cũng chỉ dừng lại ở mức đưa ra một quan niệm rằng văn chương có hai loại là " văn có ích" và " văn chơi" Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, N guyễn Thị

Trang 17

Manh Manh - những tác giả cho ra đời những bài thơ phá thể đầu tiên thì cũng chí

là để cố gắng phá bỏ cái niêm luật khắt khe gò bó từ ngàn đời ấy thôi mà chưa đưa

ra được một tiêu chí cụ thể nào cho thơ mới Còn T hế Lữ , ông chính là nhà thơ mới

đầu tiên dám khẳng định bán ngã thi gia ấy một cách quyết liệt.

Bài thơ "Cây đàn muôn điệu", vì thế, được coi như một tuyên ngôn nghệ thuật của

thi nhân.

Có thể nói, thành công đẩu tiên mà tác giả" Mấy ván thơ " đã làm được chính

là sự đổi mới cảm hứng thơ về thiên nhiên, tình yêu và cảm quail lịch sử xã hội

Trong thơ cổ, để tạo nên phẩm chất" thi trung hữu hoạ" các nhà thơ đã đưa vào những hình ảnh tĩnh tại với " Phong, vân, tuyết, nguyệt" Đây là những hình ánh rất đẹp trong thế giới thiên tạo nhưng chúng dần dần trở nên đơn điệu, nhàm chán bới các thi nhân cổ đã quá lạm dụng Ngược lại, thiên nhiên trong thơ mới là thiên nhiên muôn màu của trần gian, của vũ trụ bao la và chúng luôn vận động chuyển biến khôn lường theo mạch cảm xúc chủ đề sáng taọ Những bài thơ của Thế Lữ như

"Tiếng sáo thiên thai', " Tiếng trúc luyệt vời", "Vẻ đẹp thoáng qua" được coi là

những "chuẩn mực" về thơ thiên nhiên trong thư mới Thế Lữ là người dã tạo ra được những bức tranh thiên nhiên dẹp nhuốm đầy màu sắc tâm trạng và được cá thể lioấ rõ nét Đặc biệt, bức tranh thiên nhiên trong IhơThế Lữ càng trỏ' nen sống dộng hơn bao giờ hết với hình ảnh cô sơn nữ yêu kiều và cũng rất mực đa tình." Cô em" miền sơn cước trong thơ Thế Lữ là sự gợi 1T1Ở cho hình ảnh cô thiếu nữ trong thơ

Xuân D iệu, cô thôn nữ trong thơ Hàn Mạc Tử, cô hàng xóm trong thơ Nguyễn

Bính

Có thể nói, Thế Lữ đã dua vào thi ca Việt Nam những bức tranh thiên nhiên vừa đẹp lại vừa sống động, thoát ra khỏi sự tĩnh tại đến trống vắng cô liêu trong thơ

ca cổ điển."Chủ nghĩa lãng mạn ra dời là mội sự đoạn tuyệt với những nguyên lý

sáng tác của Chủ nghĩa cổ điển Từ day mọi làng buộc có tính chất qui phạm Iihrít

nhất phảin tuân theo từ nội dung cám hứng đến hình thức nghệ thuật đều bị phá vỡ Văn học lãng mạn đã phủ nhận một cách c Ị u y ê ì liệt vai trò của lý trí sáng tạo và nghệ thuật mà phương pháp cổ điển đã đề cao Chủ nghĩa lãng mạn ra đời tưới mát tâm hổn con người bằng thứ vãn chương duy cảm,! 32, 5ƠỊ.

Trang 18

Một khi chúng ta đã thừa nhận thơ ca lãng mạn là sự bùng nổ của cảm xíic sáng 1*10

thì một lẽ tất yếu là tình yêu phải được xếp vào vị lĩ í hàng đầu của trào lưu.

Bài thơ phá thể đầu tiên mang tên " Tinh già "của Phan Khôi cũng là bài thơ

về câu chuyện tình của đồi trai gái đã trót yêu nhau nhưng tình không trọn vẹn vì tôn giáo và khuôn phép gia đình Cuộc dời họ tưởng đâu dừng lại ờ hai tiếng chia ly vĩnh viễn Thời gian thấm thoắt qua nhanh cả hai người đều đã già Rổi tình cờ họ lại gặp lại nhau‘mối tình xa xưa ấy bỗng sống lại, bỗng trỗi dậy mãnh liệt So với thời điểm mà Phan Khôi đang sống thì chỉ nói được từng ấy thôi cũng đã thật mới và thật táo bạo Nhưng mặc dù vậy, Phan Khôi cũng như hầu hết các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn cũng chi biết ngậm ngùi , xót xa hoặc cố gắng làm một cuộc

"cách mạng" cá nhân nho nhỏ chống lại lễ giáo phong kiến hà khắc - nguyên nhân gây chia rẽ những đôi uyên ương đang yêu nhau nồng thắm kia.

Còn T hế Lữ - thi nhân tiên phong của phong trào thơ mới chính là người đã

bước đầu đi sâu khám phá mọi ngõ ngách phức tạp của những tâm hồn người.

Ông là thi sĩ đầu tiên ca ngợi tình yêu một cách nồng nàn trước hết Ông cũng là thi

sĩ đầu tiên dám nói lên sự tác động mạnh mẽ của thế giới đồng tiền vào tâm hổn tình

cảm con người Con người yêu nhau rồi xa Iìhau không phải do một thế lực bên

ngoài nào can thiệp mà do chính những quan niệm rất thực dụng của bản thân những con người ấy quyết định Tình yêu tưởng lượng,có lẽ vì thế mà xuất hiện nhiều trong thơ Thế Lữ Nguyên nhân sâu xa của việc miêu tả những tình yêu như vậy chính là do những thất vọng của thi nhân trong tình trường.Thi nhân muốn được bay lên thiên cung làm bạn với tiên Thi nhân say sưa với người tiên, với cái đẹp tưởng tượng Chỉ buồn là cái đẹp ấy tuy thanh cao nhưng lại dễ dàng tan đi như mây, như khói.

Tình yêu trong thơ Thế Lữ thường bay bổng, nhởn nhơ như thế Thế Lữ dường như chỉ muốn thưởng thức, muốn yêu cái đẹp nói chung chứ không phai mội tình yêu cụ thể nào Thi nhân không gọi người đẹp là "Em" mà là "Cô em" nghe

"thân mật mà vẫn xa cách,tình tứ mà thiếu mặn nồng "|44, 12].

Trang 19

Dường như tâm hổn nghệ sĩ trong Thế Lữ cỉành cho giai nhân và cho nghệ thuật niềm say đắm ngang nhau nên trong thơ ông thường xuất hiện hình ảnh Nàng thơ vừa hư vừa thực.

Dù tình yêu trong thơ Thế Lữ có triền miên trong côi mộng, trong cảnh tiên thì ý thơ của ông vẫn rất thực Người đọc thơ Thê Lữ vẫn dễ dàng nhạn thấy sự gần gũi của những tình yêu "tiên" ấy giữa cuộc đời này.

Nổi bật lên trong những bài thơ về tình yêu của Thế Lữ là hình ảnh khách chinh phu Ớ đây, người chinh phu luôn đứng giữa hai tiếng gọi: Tiếng gọi của tình yêu và tiếng gọi của non sông đất nước Cả hai tiếng gọi ấy đều nồng nàn thắm thiết như nhau, đều buộc khách chinh phu phải lựa chọn dứt khoát Nhưng cuối cùng,

tiếng gọi êm ái thiết tha của tình yêu vẫn không I1ÍU kéo được bước chân chinh phu

bởi chàng đã quyết ra đi vì nghĩa lớn.

Trong thi phẩm "Mấy vần thơ ", hình ảnh con mãnh thú bị giam cầm và hình ảnh khách chinh phu "dấn bước chuân chuyên khắp hải hổ" được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Đọc bài "Lời con hổ trong vườn bách thú", người ta dễ liên hệ đến những thân phận bị sống trong xiềng xích, bị cướp mất tự do, bị trói buộc hành hạ

đủ đường của những nhà yêu nước thời Pháp thuộc Cái quá khứ oai hùng của con

hổ trước lúc bị giam cầm cũng rất dễ làm cho người ta liên tưởng đến cái quá khứ oai hùng của cha ông.

Nhưng cả hai hình ảnh trên liệu đã đủ chứng minh rằng Thế Lữ là người thấu hiểu thời cuộc? Rằng khách chinh phu trong thơ ông đang quyết lâm ra đi làm cách mạng? Không ai có thể khẳng định rõ điều đó Chí có điều chắc chắn là trong hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ, những bài thơ trên đây vẫn là sự khơi nguồn đáng quí cho những tâm tư đang ở ngã ba đường Sau này, người ta thấy hình ảnh khách chinh phu còn đi mãi từ thơ Thế Lữ sang các trang thơ của Hàn McỴc Tử, Tham Tam, Trần Huyền Trân

Cùng với những đổi mới về cảm hứng trong thơ, thi phẩm" Mấy vần thơ" của Thế Lữ cũng có những đóng góp lất quan trọng cho phong trào thơ mới về mặt hình thức biểu hiện.

Trang 20

Là thi nhân tiên phong của phong trào, lẽ dĩ nhiên là Thế Lữ luôn cố gắng hết mình, luôn có ý thức sáng tạo theo qui luật mới Và cái mới ấy đã thực sự được biểu hiện khá rõ trong hình thức nghệ thuật Thế Lữ từ việc sử dụng ngôn lừ, hệ thống hình ánh, thể loại thơ cho đến nhạc điệu trong thơ

" Nghệ thuật làm thơ, suy cho cùng chính là nghệ thuật sử dụng ngồn từ" 13 2 ,1 2 4 1

Thế Lữ đã tạo la trong thơ ông một hệ thống ngôn ngữ đầy cá tính sáng tạo về hình ảnh, nhịp điệu, về hình tluíc tổ chức câu thơ cùng những lời lẽ mà đa phần là trước

đó người ta chưa hề thấy xuất hiện trong thơ ca truyền thống Nói đến ngôn ngữ thơ Thế Lữ là nói đến hai đặc trưng cơ bản nhất trong thơ ông là hình ảnh và nhạc điệu.

Trong thơ Thế Lữ, chúng ta có thể dẻ dàng nhận thấy những hình ảnh bay bổng tuyệt vời vừa hư vừa thực Nhờ năng lực liên tưởng, tưởng tượng phong phú, Thế Lữ đã tạo ra rất nhiều hình ảnh vừa độc đáo bất ngờ, vừa sống động Đi vào thế giới hình ảnh thơ Thế Lữ, người ta dường như bị choáng ngợp bởi những cung tiên, cung nguyệt, cảnh Bồng lai tiên nữ múa lượn, có tiếng sáo dặt dìu vi vút Nhưng rồi chỉ bằng một hồ ngữ" ô kìa!" đột ngột xuất hiện trong câu thơ, Thế Lữ đã làm người

ta giật mình, trở về với sự sống.

Tài thơ của Thế Lữ là ở chỗ đó Thế Lữ là người rất thích cái du dươngcủa nhạc điệu thơ Nhạc điệu trong thơ ông" lơi lơi mà thánh thót"| 44, 580] vừa ngân nga vang vọng lại vừa biểu cảm Các nhà thơ sau này, đặc biệt là nhà thơ Tố Hữu đã nhấn mạnh: " Tôi thích nhạc điệu và lời thơ Thế Lữ.Trong tâm hồn anh lúc đó, tỏi tìm thấy nhưng nỗi băn khoăn, đau buồn của những người cùng thế hệ".| 44,8]

^ Về thể thơ, Thế Lữ chủ yếu sử dụng dòng thơ 7, 8 âm tiết hoặc thể lục bát

6/8,ổxíây chúng ta có thể thấy một sự kết hợp hài hoà giữa các thể thơ ca dân tộc với nhũng hình ảnh, ngôn ngữ" tân kỳ" của thơ ca phương Tây Thế Lữ đã có một sự cách tân bạo dạn về hình thức thơ từ cách ngắt câu, chấm câu cho đến việc để cho câu thơ trên quàng xuống câu thơ dưới

Thế Lữ không chỉ là một thi sĩ có biệt tài mà ông còn là một tấc gia vãn xuôi đầy ấn tượng, v ề tiểu thuyết, Thế Lữ thường lập trung viết ờ hai thể loại: truyện trinh thám và truyện ghê sợ rùng rợn.

Trang 21

Trong khi các tiểu thuyết gia vãn học hiện thực phê phán như Ngồ Tất Tố, Vũ

Trọng Phụng, Nam Cao đang trực tiếp dùng ngòi bút của mình để phơi bày sự xấu

xa, thối nát của xã hội thực dân nửa phong kiến đang đè nặng lên tâm hồn và thế xác

những người dân lương thiện, trong khi các tấc giả văn xuôi Tự lực văn đoàn đang

tập trung miêu tả nhũng câu chuyện tình ngang trái do nề thói phong kiến cổ hủ gây

ra thì Thế Lữ đã cho ra đời một loạt sáng tác khác hẳn: ông viết truyện trinh thám

và các"truyện lạ" theo kiểu Etga Pô.

Hàng loạt sáng tác của Thế Lữ như "Vằng và máu"(1934), " Bên đường thiên lôi' (1936), "Lê Phong Phóng viên" (1937) "Mai Hương và Lê Phong:M (1937) " Đòn hẹn"(1939), "Gói thuốc lá"(1940), " Gió trăng ngàn"(1941), " Trại Bồ Tùng Linh" (1941) đã gây được một tiêng vang lớn Những sáng tác này cho ch ú n g ta thấy Thế Lữ là một nhà văn có tài quan sát, có óc phân tích sắc bén, có trí tưởng tượng dổi dào.

Mới nghe những cái tên mà Thế Lữ đặt cho câu chuyện "Vàng vàmáu", "Bên

đường thiên lôi", " Cái đầu lâu " người ta tưởng rằng đây chỉ là những chuyện hoang đường, ma quái Đúng là tác giả đã cố tình gây nên trong truyện một không

khí rờn rợn, ly kỳ, huyền bí, chủ tâm dưa người dọc vào một thế giới đầy bất ngờ, bí

ẩn Nhưng cuối cùng, người dọc sẽ chang thấy có thần linh ma quỷ nào cả* chẳng

qua đó chỉ là n h ữ n g mưu mô xảo quyệt của người dời hay do trí tưởng tượng bệnh

hoạn hoặc bị ám ảnh của người đời tạo nên mà thôi Tất cả nhũng chuyện ly kỳ, giật gân kia đều có nguồn gốc xã hội, nguồn gốc tâm sinh lý.

So với những tác phẩm văn xuôi truyền thống và những tiểu thuyết cùng thời, tiểu thuyết của T hế Lữ đã gây được một ấn tượng đặc biệt trong lòng người đọc Vói

tiểu thuyết Thế Lữ , nghệ thuật vãn xuôi dường như bước sang một trang mới từ cách xây dựng hình tượng, đổi mới hệ thống cốt truyện đến sự đổi mới về hình thức

văn xuôi.

Về mạt nghệ thuật, thơ và tiểu thuyết của T hế Lữ có những đặc điểm giống nhau Thơ ông khi tả người, bao giờ ông cũng đặt người vào cảnh rồi mới lả đến tính tình, đến tâm sự của người Trong tiểu thuyết rùng rợn của ông cũng vậy, những

Trang 22

đoạn làm cho người đọc phải dựng lóc gáy là nhũng đoạn mà tác giá đã dàn CỈÍI mọi

cảnh kỳ quái xung quanh, rồi sau dó nhân vật mới xuất h iệ n ,

Về mặt nghệ thuật là như vậy nhung về mặt nội dung thì thơ và tiểu thuyết của Thế Lữ thật khác xa nhau Trong thơ, ông ca tụng cái đẹp tuyệt vời với nhũng

cảnh tiên giới, thiên thai Trong tiểu tliuyế^Thế Lữ lại nghiêng về m iêu tả những cái

khủng khiếp, ghê sợ Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan nhận xét:" Trong thi ca, Thế

Lữ có những tình yêu nghiêng về lý tương, ông muốn tìm lên thiên đường để làm bạn với tiên; còn trong tiểu thuyết, Thế Lữ muốn xuống âm phủ để gần với quỷ" [26,155J Tâm hồn của Thế Lữ thật phức tạp Nhưng có một diều chắc chắn rằng ông có một trí tưởng tượng rất phong phú, rằng ông đã đành tất cả tài năng của mình

cho sự đổi mới một nền vãn học theo hướng hiện đại Thê Lữ xúng đáng với công của người" khai sơn phá thạch" trên thi đàn

Bắt đầu từ T hế Lữ , thơ ca Việt Nam thực sự bước hẳn sang một giai đoạn

mới Trên thi đàn vãn học Việt Nam xuất hiện hàng loạt ngôi sao mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, Bích Khê

Thế Lữ chính là người có công đầu, là người có ảnh hường trực tiếp đến cả

một lớp thi nhân ấy Ong đã thực sự mở ra con đường đi cho các nhà thơ mới, đã

khiến họ mạnh dạn bước tiếp quãng đường của thơ mới để làm phong phú thêm cho nền thơ dân tộc

Trang 23

C H Ư Ơ N G II: T H Ế L ữ - M Ộ T NH À TIIƠ M Ớ I TIÊN P H O N G

Trang 24

2.1 THƠ THÊ L ữ - MỘT SỤ Đ ổ I MỚI VỂ MẶ I CẢM HỨNG SÁNG TẠO.

" Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng Đường trần gian xuôi ngược dể vui chơi;

Tim cảm giác hay trong tiếng khóc, câu cười;

Trong lúc gian lao, trong giờ sung sướng Khi phấn đấu cũng như hổi I11Ơ tưởng.

Tôi yêu đời cùng với cảnh lầm than, Cảnh thương tâm, ghê gớm, hay dịu dàng, Cảnh rực rỡ, ái ân hay dữ dội.

Anh dù bảo: Tính tình tôi hay đổi, Không chuyên tâm,không chủ nghĩa, nhưng cần chi, ?

Tôi chỉ là một khách tình si Ham cái đẹp có muôn hình, m iiôn'tề£- Mượn lây bút nàng Ly Tao, tôi vẽ

Và mượn cây đàn ngàn phím, tôi ca.

Vẻ đẹp u trầm, đắm đuối, hay ngay thơ Cũng như vẻ dẹp cao siêu, hùng tráng Của non nước, của thi vãn, tư tưởng".

( Cây đàn muôn điệu ).

Những câu thơ trên được coi như một "tuyên ngôn" của T hế Lữ cho thơ mới " Thơ

là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hổn" ( Tố Hữu) Thơ ca muôn đừi vẫn là sự bộc

lộ cảm xúc của chu thể sáng lạo trước con người và lạo vật: " Mây g ió cỏ hoa sinh tươi và kỳ diệu đến đâu hết tháy cũng đều tự trong lòng mình nảy ra" ( N gô Thì Nhậm) Là thi sĩ, T hế Lữ chí muốn là "Cây đàn muôn điệu" để ca lên nhưng cảm xúc của lòng mình T hế Lữ không phái nén lòng để gò mình vào những sáng tác theo cái "khuôn" có sẵn " Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí" của N ho gia.

Trang 25

Chủ nghĩa lãng mạn ra đời là sự đoạn tuyệt với những nguyên lý sáng tác của Chủ nghĩa cổ điển Thi nhân lãng mạn là những người mang lại một tiếng nói mới trên thi đàn, là những người thổi bùng lên khát vọng sống nơi m ỗi trái tim con người bấy lâu bị vùi dập bởi những khuôn tíỉước, luân lý xưa.

2

ơ buối sơ khởi của phong trào thơ ìnới, trách nhiệm của người đi tiên phong thật nặng nề Thi sĩ lãng mạn đầu tiên, trước hết phái là những người có sáng tạo vượt bậc để thoát khỏi những ràng buộc «K* '.''-ý*: cỏ tính chất quy phạm của Chủ nghĩa cổ điển từ hình thức đến nội đung và để người ta có thể đặt niềm till vào tương lai thơ mới Bằng cả tài năng và tam huyết của mình, T hế Lữ đã làm được điều đó Ông đã m ở ra một hướng đi mới cho llìư ca cá vê nội đung và hình thức biểu hiện Thơ T hế Lữ đi vào lòng người đọc, khao khát và say mê.

Nhận xét về những buổi đầu của phong trào thơ mới, nhà nghiên cứu Trương Chính viết:

" Khi phong trào thơ mới nổi lên, T hế Lữ như vầng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả bầu trời thơ Việl Nam thì phía bên kia, vầng sao Tản Đà m ờ dầĩì rồi lặn hẳn ”[48,454]

Có thể nói, chính Thế Lữ là người dã mang lại sự thắng thế hoàn toàn cho ihơ mới, đã làm cho những đại biểu cuối cùng của thơ cũ chấm dứt tiếng ca sầu bi, nil lui vào bóng tối.

Nói về công lao của Thế Lữ với (Ỉ1Ư mới, trước hết chúng ta cần phải khẳng định rằng thơ T hế Lữ đã có những dóng góp rất lớn cho thi đàn ở giai đoạn này về inặt cảm hứng sáng tạo được biểu hiện trên tất cả cấc mặt cảm xúc thi nhân từ chủ

đề thiên nhiên, tình yêu đến cảm quail lịch sử xã hội.

Thiên nhiên là hình ánh gần gũi nhất của con người và cũng là đề tài muôn thủa của thơ ca Trời, mây, sông nước, cỏ, cây, hoa lá luôn là đối tượng để thi nhan

ký thác tâm tư, là nguồn cảm hứng vồ tận của muôn đời thi sĩ.

Nhưng để phục vụ cho ý tưởng " Văn dĩ lai dạo, thi dĩ ngôn chí" thì trong thơ

cổ, thiên nhiên không phải bao giờ cũng là đối tượng của lung cảm nghệ thuật Thiên nhiên ấy có khi chỉ là phương tiện để qua đó, nhà thơ trình bày thuyết giang

về đạo đức hoặc để nói lên cấi chí của người quân tử Những bài Ihơ cũ ước lệ nhiều

Trang 26

quá, cách điệu hoá nhiều quá trở nên khô cứng; lời thơ gò gẫm quá, văn hoa nhiều quá nhiều khi trở nên hời hợt và giả tạo Đã vậy, thiên nhiên trong thư cổ lại thường

bị gò bó bởi những hình ảnh tĩnh tại khuôn thước " Phong vân, tuyết, nguyệt",

" Tùng, cúc, trúc , mai" chỉ cốt để tạo nên phẩm chất " Thi trung hữu hoạ" nên bức tranh thiên nhiên nhiều khi tĩnh mịch đến dửng dưng.

Vượt qua lối " thác ngụ cổ điển " trong thơ cổ với " Vọng", " Đăng", " Hoài",

" Cảm" ,khắc phục lối " ngụ lình hời hợt" trong một số tác phẩm văn xuôi Tự lực

vãn đoàn, Thế Lữ đã miêu tả thiên Iilìiên sống động như nó vốn có và truyền thêm

cho nó luồng sinh khí dào dại bằng cách cảm nhạn riêng của một tâm hồn đa cảm Thế Lũ’ là người đã biểu hiện môt cách miêu tả, cách nhìn, cách cảm mới về thiên nhiên trong thi phẩm của ông Bắt đầu lừ Thê Lữ, thiên nhiên trong thơ mới dã thực

sự chuyển mình, thực sự sống động.

Tản Đà ỉà thi nhân báo hiệu và cũng là người mở đầu Chủ nghĩa lãng mạn về nội dung tâm tình Mặc dù thơ ồng vẫn chưa thoát ra khỏi ngôn từ của thơ truyền thống nhưng ồng vẫn được các nhà nghiên cứu đánh giá cao, coi ông là "Kluíc dạo đầu của bản nhạc tân kỳ sắp sửa ", là " Thi nhân nối liền hai thế hệ lân và cựu " Ị 20, 35].

Tản Đà là người có bản lĩnh mạnh khi dám đặt vấn đề " Cái sầu " bên trang thơ thửa

ấy Hồn thơ Tản Đà mang một tâm lình sầu man mác - điều mà văn học châu Au thế

kỷ 19 gọi là cái "mù mờ của những đam mê khát vọng" [44, 569] Và Thế Lữ là nhà thơ, sau Tản Đà, còn tiếp nối cái sầu man mác ấy.

Hổn thơ bâng khâng với cái sầu man mác rất Thế Lữ đã chi phối trực tiếp đến cái nhìn , cách cảm thiên thiên trong thơ ông Thiên nhiên trong thơ Thế Lữ dù được miêu tả ở bất kỳ trạng thái nào cũng đều mang một nỗi sầu man mác.

Khi viết về thiên nhiên, các nhà thơ từ xưa đến nay vẫn thường đành cho bốn mùa trong năm một vị trí đặc biệt trong sáng tác của mình, trong đó mùa xuân được nói đến nhiều nhất Có lẽ, thi nhân muôn clời đều lìm thấy trong cảnh sắc đất trời mùa xuân những niềm băn khoăn rạo rực bởi đây là thời điểm giao hoà của đất trời khi tết đến xuân sang, khi cỏ cây đua nhau đâm chồi nảy lộc.

Trang 27

Trong thơ ca truyền thông, chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều áng thơ hay viêt

về mùa xuân Và dây là một hình ảnh xuân trong " Truyện Kiều" của Nguyễn Du:

"Cỏ IÌOI1 xanh rợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa".

Vượt ra khỏi cái tĩnh tại của thiên nhiên trong thơ cổ, thiên nhiên trong thơ

T hế Lữ thật sống động:

"Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi "

(Tiếng sáo thiên thai)

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân"

Mùa xuân trong thơ Tail Đà cũng có cái I1Ô nức vui hội xuân của thiên hạ

Nhưng là thi nhân đa tình, đa cảm, mùa xuân trong thơ Tán Đà cũng chứa nặng nỗi sầu của chính thi nhân:

" Bính lý sang mà ấl - hợi qua

Đ ổi thay cũ mới khắp gần xa Vui xuân thiên hạ bao nhiêu kẻ

N gồi nhớ xuân xưa hoạ có la" ( Ngày xuân nhớ xuân)

Trang 28

Cái khác của Tản Đà với các nhà N ho mạo nghiêm chỉnh là ớ chỗ đó Trong thơ ca,Tản Đà là người dám công khai bộc lộ cái cảm xúc cá nhân của mình Mùa xuân là mùa duy nhất có thể mang lại cảm giác yêu đời hơn cho COI1 người Vạy

mà Tản Đà vẫn buồn chán ngồi " nhớ xuân xưa."

Là thi nhân tiếp nối cái sầu man mác trong thơ Tản Đà, thơ T hế Lữ cũng mang nỗi sầu nhân thế khi mùa xuân đến:

" Anh xuân lướt cỏ xuân tươi Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng Tiếng đưa hiu hắt bên lòng Buồn ơi! xa vắng mênh m ông là buồn "

( Tiếng sáo thiên thai)

Và một hình ảnh xuân thật rộn làng cũng không thể làm cho thi nhân vui lên được:

" Ánh hổng tía lấc ngọc châu trên lá Trời trong xanh, chân trời đỏ hây hây, Tiếng chim xuân nhí nhảnh ở trtong cây.

Cảnh vui thế sao tôi CÒ11 buồn nữa?"

(Lựa tiếng đàn)

Có thể nói, cái gặp gỡ của Thế Lữ và thơ ca cổ điển trong việc miêu tả những bức

tranh thiên nhiên là nỗi sầu man mác thi nhân giữa cảnh sắc đất trời Nhung cái mà

Thế Lữ đã vượt xa các nhà thơ cổ điển chính là việc ông miêu tả một thiên nhiên

"động," một thiên nhiên đang lay chuyển theo nhịp sống thiên tạo Và đặc biệt là trong bức tranh thiên nhiên của Thế Lữ xuất hiện bóng dáng cô sơn nữ yêu kiều

cùng với nỗi sầu man mác bâng khuâng của cô trước cảnh sắc xuân:

" Chân gió nhẹ lướt qua làn sóng Nắng chiều xuân rung dộng trên cành Mấy hàng cau yếu nghiêng mình

Cô em bỏng ngẩn ngơ tình vì đâu"

(Hồ xuân và thiếu nữ)

Và thi nhân đã miêu tả tâm tình người đẹp bằng những nét tinh tế, dịu dàng tràn đầy

âu yếm:

Trang 29

" Trên vầng trán ngay thơ trong sáng

Vẩn vư qua một áng lurơng buồn Giây lâu cô vãn như còn

Lâng lâng trông gửi tâm hồn lên cao"

( Hồ xuân và thiếu nữ) Thê Lữ chính là người đã phát hiện ra" áng hương buồn" của " cô em" trong cảnh sắc xuân dịu dàng êm ái và tràn trề nhựa sống kia Nếu như cô thiếu nữ trong thơ cổ điển chỉ" nô nức" rủ nhau đi chơi xuân thì cô sơn nữ trong thơ Thế Lữ lại thơ thẩn

"đứng bên hồ" để"trông mây" để " gửi tâm hồn lên cao" và " nhìn ''chiếc én bay lưng

trời" rồi buồn vơ vẩn Thế Lữ đã có những câu thơ thật hay về hình ảnh người thiếu nữ và tâm trạng của nàng:

"Đôi mắt cô em như say, nhu' đắm Như buồn in hình ảnh giấc mơ xa"

(Nhan sắc)

Người đời có thể bắt gặp nhiều" đôi mắt" thiêú nữ như thế giữa cuộc đời nhưng không dễ gì miêu tả được đúng và hoàn hảo như Thế Lữ Nỗi buồn thiếu nữ là nỗi buồn man mác bâng khuâng mà nhiều khi chính những cô thiếu nữ ấy cũng không lý giải nổi Câu hỏi mà thi nhân dành cho " cô em" - cô sơn nữ đang thư thẩn buồn ấy dường nhu’ cũng chỉ để mà hỏi thôi chứ không hề có cái ý ngóng đợi "cô em" ấy trả lời:

"Ây đăm đăm mơ màng chi đó?

Hỡi cô em má đỏ hây hây?

Hỡi cô thiếu nữ trông mây Thẩn thơ nhìn chiếc én bay lưng trời?

(Hồ xuân và thiếu nữ).

Cô gái trả lời sao được khi mà chính cô cũng không hiểu tại sao cô vẫn thơ thẩn buồn khi cô đang bước giữa một buổi sáng mùa xuân thật trong trẻo dịu dàng:

Trang 30

"Nhẹ nhàng em hái doá hổng iươi Dưới vé xuân chào buổi sớm mai Trong lúc chim xuân mừng nắng mứi Nhuốm đào sắc trắng khóm hoa mai.

Em thấy lòng chan cluía cam hoài Lẳng lơ gió lá như bên tai

Vườn xuân đằm thắm tình âu yếm Thơ thẩn vì dâu, xuân nữ ơi

(Hái hoa) Hình ảnh "cô gái xuân" ( chữ của nhà thơ Đ ông Hổ) trong thơ T hế Lữ đã tôn thêm vẻ đẹp cho những bức tranh thiên nhiên trong (hơ ông, làm cho bức tranh toàn cảnh ấy nhuốm đầy màu sắc tâm trạng Và cô sơn nữ - " cồ em" ấy trong ihơ T hế Lữ

là một hình ảnh gợi m ở cho sự xuất hiện của các cỏ thiếu nữ trong thơ Cíì lãng n i í i n ớ giai đoạn này Đ ó là hình ảnh cỏ thôn nữ trong thơ Hàn Mặc Tử, cô hàng xóm trong thơ N guyễn Bính, cô thiếu nữ trong thơ Xuân Diệu

Mùa xuân tươi đẹp, đắm say là thế ,mà thơ Thế Lữ còn phảng phất buồn huống hồ khi hè đến, thu sang.

Xuyên suốt chiều dài tho* lãng mạn, cluing ta có Ihể thấy các nhà thơ mới thường nặng nỗi buồn và nhẹ niềm vui nên dù có say sưa với men rượu nồng, với cảnh sắc xuân thì cuối cùng, họ vẫn trở về với mùa thu buồn man mác để ký thác tâm hồn mình Có thể, thi nhân lãng mạn chịu ảnh hưởng nhiều của lliơ ca phương Tây, nhưng cũng có thể thi nhân lãng mạn đã tìm được những nét đổng cám với các nhà thơ truyền thống như Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tán Đà khi mùa thu đi qua Chỉ biết rằng, mùa thu trong những trang thơ mới Ihật buồn nhưng cũng Ihậl gợi cảm với những M Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư, "Thu rừng" của Iluy cận, " Thu" của Chế Lan V iên, "Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu và đặc biệt là những bài thơ viết

về mùa thu m ở đầu cho phong trào thơ mới của T hế Lữ.

Khi viết về mùa thu với những cảnh lá vàng rơi rụng, trời se lạnh và gió heo

m ay , thơ ca từ cổ đến kim đều buồn Trong số các nhà lliơ cổ điển, Nguyễn

Trang 31

Khuyên được coi là người làm thơ về mùa thu thật lài tình Mùa thu trong tỉiư Nguyễn Khuyên thật đẹp nhung lại " điềm dạm đến dửng dưng" [ 32, 4 2 1:

" Nước biếc trong như táng khói phủ

Song thưa dể mặc bóng trăng vào Mây chùm Inrớc giậu hoa năm ngoái

Một tiếng trên không ngỗng nước nào?"

" Đêm thu buồn nắm chị Hằng ơi

Trần giới nay em chán nửa rồi"

Nối tiếp cái sầu man Iĩiác của thi nhân xua trước cảnh sắc thu, mùa thu trong thơ Thế Lữ cũng ihật đẹp và llựil buồn:

"ánh chiều thu Lưới mặt hồ 111u, Sương hổng lam nhẹ lan trên sóng biếc Rặng lau già xao xác tiếng reo khô Như khua dộng nỗi nhớ nhung thương tiếc Trong lòng lìguời dứng bên hồ"

Và trong bức tranh thu sầu man mác ấy, "cô em " lại hiên ra với nỗi tâm sầu buâng khuâng da diết:

" Cô em đứng bcn hồ

N ghiêng tựa mình cây, dáng thẩn thơ, Chừng cô tương đến ngày vui sẽ mất,

Và sắc đẹp rỡ ràng rồi sẽ tắt Như bóng chiều dần khuất

Trang 32

(Tiếng trúc tuyệt vời) Tâm tình người thiếu nữ dường như đang ở giai đoạn khởi đầu cho nên cô nghe

"tiếng trúc tuyệt vời" trong buổi chiều (liu và:

" Thổn thức với lòng cô thổn thức Man mác với lòng cô man mác

Cô để tâm hồn lê tái bluing khuâng"

(Tiếng trúc tuyệt vời) Cảnh sắc thiên nhiên và COI1 người trong Ihư Thế Lữ thường đirợc miêu tả rất êm ái, nhẹ nhàng: "cô em" thơ than buồn; giỏ mây vấn vơ Irôi, con thuyền Iiliẹ nhàng lưới trên mặt nước., cả bức tranh thiên nhiên không hề có sự xáo động nhưng cũng không,,tĩnh" chút nào.

Thiên nhiên trong thơ T hế Lữ là thiên nhiên của tâm sự con người:

" Trời xanh dịu, sợi mây hồng vơ vân Trên bờ sông, cô em dang thơ thẩn Đứng lặng nhìn mặt nước chiếc thuyền trôi vỏ'i ánh ihu bần tím chân trời

Cô buồn, mà vì đâu, cô chẳng biết"

( Tinh bâng khuâng)

Có thể nói, những bài tho' về muà xuân, màu thu cúa T hế Lữ không nhiều nhưng 11(3

đã để lại một ấn tượng lliật dặc biệl trong lòng người đọc Thi Iiliiìn đã rat thành công khi gắn nỗi sầu bâng khuâng man mác và hình ảnh "Cô em" - cô sơn nữ yêu kiều " Cô em " của Thế Lữ thật dễ thương." Cô em" ấy thường được Thê Lữ miêu

tả sóng đôi với hình tượng "Cái hồ" Có lẽ, hai hình ảnh trên được nhà thơ tâm đắc

nhất bới nó đã truyền tải dược cảm xúc tám trạng thi nhân.

Không tình tại đến dửng dung như thiên nhiên trong ihơ cổ, không cổ kính man mác như Tản đà và cĩing không lliiên về những xào xạc nội lâm như Lưu Trọng Lư, thiên nhiên trong thơ T hế Lữ là thứ thiên nhiên trong trẻo" Nước non trong sạch cách chững phồn hoa" gắn với nỗi sầu mail mác bang khuâng của cồ sơn nữ Nếu Tản Đà Lưu Trọng Lư chỉ là những thi nhân báo hiệu về nội dung tâm tình trong

Dưới c h â n trời."

Trang 33

thơ miêu tả thiên nhiên thì Thế Lữ dã rất thành cơng trong việc miêu tả một thiên nhiên mang chứa đầy lâm trạng Bắl CỈÁ từ Thế Lữ, thứ văn chương " duy lý" của Chú nghĩa cổ diên phải nil lui vào bĩng tối nhường chỗ cho thứ văn chương " duy cảm" của Chủ nghĩa lãng mạn với những tơn luối của Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Hồ Dzếnh, Lei ba

Đọc thơ Thê Lữ, người dọc thường bị chốn ngợp bởi những hình ảnh thiên nhiên đầy mộng mơ muơn sắc muơn màu của chốn bổng lai liên cảnh, nơi cỏ" Cung

tiên"" Cung nguyệt" với " Tiên nga"" N gọc nữ" muá lượn cĩ " Cung Quỳnh" lung

linh cĩ " Hạc trắng" cĩ khĩi hương " u huyền"

Trong "Thi nhân Việt nam," Hồi Thanh đã từng phê phán thơ Thế Lữ là thốt ly hiện thực để chốn vào "Tiên giới" Phê phán nhu' vạy liệu cĩ quá khắt khe với Thế Lữ khơng? Bởi những cảnh liên giới, bồng lai ấy đâu phải là một nơi cĩ thực

mà chỉ do ĩc tướng tượng của thi nhân mới phong phú đến vậy.

Chúng ta cĩ thể coi" Vé đẹp thống qua" là bài thơ Tiên hay nhất cúa Thế

Lữ Mở đầu bài lliơ tác gia viết:

" Hơm qua đi hái mấy vần thơ

ở mãi vườn tiên gần Lạc hổ"

Đọc xong hai câu thơ trên, người đọc khơng khỏi băn khoăn: Nhà thơ nĩi đi chơi cảnh tiên mà lại rất cụ thế là " Hơm qua"; nĩi chính xác như vạy thì cĩ lẽ thi nhân đến một nơi nào đĩ ngay giữa chốn trần gian này mà thơi.

" Cảnh tiên" trong thơ Thế Lữ dường như chí là phép cộng giữa cảnh sắc cuộc đời thực với trí tưởng tượng của thi nhân mà thơi Thi nhân muốn say sua với cảnh tiên trong tưởng tượng, muốn thế gian này im tiếng để ơng tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên nhưng:

" Say sưa người khách lạ Bổng lai Giận lũ chim kia khúc khích hồi Van khẽ giĩ đừng vi vút nữa Nhung mà chim giĩ cĩ nghe ai"

Vậy đây là hình ánh cuối cùng của nơi "Tiên giới"

Trang 34

" Hoa lá cuồng bay, bướm loạn hoa Người tiên biến mất

Khách trông ra Mặl hồ nước phẳng nghiêm Iilur giận Một áng hương tan khói toa mờ"

Thế Lữ là thi nhân giàu tưởng tượng, ồng luôn lưu luyến với cánh tiên, muốn nghe

tiếng sáo tiên, mải mê nhìn ngắm những nàng tiên trong trí tưởng Muốn gợi nhớ trí

tưởng cảnh tiên, thi nhân chỉ cần tìm đến những cảnh sắc thiên nhiên rất bình dị của cuộc sống như những cảnh hoa lá lắt lay trước gió, mặt hồ trong xanh gợn sóng hoặc thậm chí chỉ một cành đào, cành mai ngày tết mà thôi Đang đi trên đường phố nhộn nhịp, bất chọt thi nhân bắt gặp những cành đào thắm tươi ngày tết, người liên tưởng ngay đến:

" Bổng lai muôn thủa vườn xuân thắm

Xán lạn, II huyền trong khói hương"

Hoặc khi thi nhân uống rượu cùng bầu bạn, hơi men ngà say đưa người đến với cảnh:

" Lung linh vàng dội cung Quỳnh

Nhịp nhàng biến hiện những mình Tiên nga"

Có thể nói rằng cái chốn Bổng lai, tiên cảnh trong thơ Thế Lữ đều bắt nguồn từ cuộc đời thực và do trí tương tượng phong phú của thi nhân sáng tạo ra mà thôi Và nói cho đúng" Thi nhân có lên tiên cũng chí để nói chuyện ở dưới trần Những ao đào thiên nhiên người nhìn thấy trong khi say thường phất phới trên bờ hồ Hoàn Kiếm Tôi muốn nói Thế Lữ vẫn nặng lòng trần Người say Iheo cảnh vật của trần gian muôn hình muôn vẻ, từ:

" Cảnh vĩ đại sóng nghiêng tròi thác ngàn đố"

cho đến" Nét mong manh thấp thoáng cánh hoa bay"|30, 5 1 1

Khi đọc thơ Thế Lữ, chúng ta thấy lâm hồn thi nhân thường bắt gặp COI1 mắt hoạ sĩ hoặc con mắt nhà điêu khắc Chính sự gặp gỡ ấy dã làm cho bức tranh thiên nhiên của ông mang tính biểu tượng cao Đương thời, hoạ sĩ Trần Bình Lộc đã mô lả một

số bức tranh trong thơ Thế Lữ bằng vài nét vẽ phác họa nhưng thật có hồn.

Trang 35

Có lẽ , nél gặp gỡ giữa Thế Lữ và các nhà thư cổ điển ở dây là phẩm chất

" Thi trung hữu hoạ" Chỉ có điều bức hoạ trong thư Thế Lữ clnía chan tình cảm chứ không tĩnh mịch dửng dưng như trong thơ cổ:

"ánh xuân lướt cỏ xuân tươi

Bên rừng thổi sáo một hai Kim đổng

Tiếng đưa hưu hắt bên lòng

Buồn ơi ! xa vắng, mênh mông là buồn Tiên nga xoã lóc bên nguồn

Hàng tùng rủ rỉ bên cồn đi ù hiu Mây hồng ngừng lại sau đèo Mình cây nắng nhụộm bóng chiều không đi"

( Tiếng sáo thiên thai)

"Bóng chiều không đi", thời gian không chạy; không có thời gian nữa, câu thơ chi

có toàn không gian thôi Thiên nhiên ở đay là thiên nhiên tâm trạng, mang nỗi lòng

thi nhân nên mới có câu "Buồn ơi ! xa vắng, mênh mông là buồn".

Thế Lữ cũng có cái nhìn của nhà điêu khắc cao thấp, xa gần, nối những hình khối với nhau và ông đã biểu hiện điều đó vào thơ Thiên nhiên trong thơ Thế Lữ

vì thế mà vừa mang đường nét, hình khối lại vừa gợi lình nữa:

" Nước mát hơi tilII thắm sắc trời Trời xanh xanh ngắt đượm hồng phai

ái ân bờ cò ôm chân trúc Sau trúc, ô kìa! xiêm áo ai ?"

( Vẻ cỉẹp thoáng qua)

Hoặc cảnh một dòng suối nước đang chảy xiết cũng mang cái nhìn điêu khắc hội hoạ rất rõ rệt của thi nhân:

Trang 36

" Dưới bóng râm tàn lá Một dòng suối cháy mau Bọl nước quanh mình đá Phun bông trắng phau phau"

(Mộng ảnh)

Ngoài những bức tranh thiên nhiên tiên giới giàu màu sắc suy tưởng và một số cảnh

sắc mang đậm dấu ấn của hội lioạ điêu khắc trong thơ, Thế Lữ CÒ11 có một số bài thơ

lất hay về nồng thôn Việt nam:

"Sáng hôm nay, sương biếc toả mờ mờ Như hương khói đượm đầu cau, mái rạ"

( Lựa tiếng đàn)

Và đây là cảnh những khóm cây say tỉnh, chiếc thuyền bên cạnh những bụi lau già đang lắt lay trước gió Tất cả như một bức tranh thủy mạc mang màu sắc rất Việt nam:

" Trời lặng mây mù Mấy khóm cây Đứng kia, không biết tỉnh hay say

Đỗ bờ sông trắng con thuyền bé,

Cạnh lớp lau già, gió lắt lay"

(Bên sông đưa khách)

Có thể nói, những bức tranh thiên nhiên trong thơ Thế Lữ đã vượt ra khỏi cái tĩnh mịch đến dửng dưng của thiên nhiên trong thơ cổ Hơn thế, thiên nhiên trong thơ Thế Lữ là thứ thiên nhiên tâm trạng, gợi cảm, l ất gợi tình và mang màu sắc cá thể hoá rõ nét Dù những cảnh sắc ấy trong thơ Thế Lữ có "muôn hình muôn vẻ" có là thế giới của những Tiên nga, Ngọc I 1 Ữ, Hạc trắng chốn Bồng lai tiên cảnh thì tất

cả cũng đều có một khởi nguồn duy nhất là nơi trần thế này mà thôi Những gì mà thi nhân đã miêu tả trong hàng loạt những bức tranh thiên nhiên hữu tình, đa sắc ấy chính là kết quả của những chiêm nghiêm, tìm tòi, sáng tạo và đặc biệt là trí tưởng tượng phong phú Bắt đẩu từ Thế Lữ, các nhà thơ mới đã đi sâu hơn để khám phá những cái thiên nhiên kỳ diệu ấy, để ký thác tâm hồn mình trong đó, để tạo ra những

bức tranh thiên nhiên giàu màu sắc tâm trạng với những ngõ ngách của tâm hổn thi

Trang 37

sĩ và tâm hồn con người Đó là thiên nhiên của cõi mộng mơ trong lliơ Lưu Trọng

Lư, Hàn Mặc Tử; là thứ thiên nhiên đầy vũ trụ trăng sao trong lliư Huy Cận; là thứ thiên nhiên gợi dầy cảm giác ái All trong lliơ Xuân Diệu

Ngoài sự đổi mới về những lììặl cảm liứng sáng lạo Irong thơ micu la thicn nhiên, những bài thơ về tình yêu của Thế Lữ cũng đã mang đến một liếng nói mới trên thi đàn so với thơ ca cổ tỉicn.

" Một trong những phản ứng quyết liệt nhất của văn học lãng mạn với phương pháp

cổ điển là sự phủ nhạn vai trò cùa lý h í trong sáng lạo nghệ thuạt Nếu người nghệ sĩ

cổ điển luôn cố gắng tìm mọi cấcli để kháng dịng sự sáng SUỐI vô song của lý trí thì

ngược lại, người nghệ sĩ lãng mạn đã phủ nhạn I1Ó bằng cách đề cao sức mạnh của

tình cảm và coi đó là sự cứu vãn nghệ thuật trong cơn hấp hối của clìủ nghĩa có điển

Sự thắng thế ấy biểu hiện Inrớc hết ở sức mạnh chinh phục của cảm hứng sáng tạo

và tư duy nghệ thuật I 32, 501

Chúng ta đều biết rằng văn học lãng mạn là sự bùng nổ của cám xúc, thư ca lãng mạn là sự khẳng định và đề cao " Cái tôi" cá nhân Hơn bao giờ hếl, " Cái lôi" ngạo nghễ hiện ra giữa các trang thơ lãng mạn đòi hỏi mọi quyền lợi cá nhân trong dó có quyển lự do yâu dương Vì vậy thật dễ hiểu 11CII cấc thi sĩ lãng mạn dành vị Irí ưu tiên cho chủ đề tình yêu trong các sáng lấc của mình.

Những cảm xúc yêu dương vốn là lình cảm tự nhiên của con người nhưng lại luôn bị những quan niệm nghiệt ngã của đạo đức phong kiến phương Đông vùi dập.

Trong văn học cổ điển chúng la có thể lliấy những mối tình thật đẹp như mối

tình Thu ý Kiều - Kim Trọng, Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga

Những mối lình IỈ1Ư mộng, đắm say này đều tan hợp theo cái đạo làm người: Thuý Kiều - Kim Trọng cách biệt nhau đến mưừi lãm năm cũng bởi " Chữ hiếu nặng

hơn chữ tình" còn Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga sánh dôi lại có nguồn gốc lừ

chuyện đền ơn đáp nghĩa

Với thơ mới, tình yêu là mội chuyện còn dạo nghĩa lại là một chuyện khác

Tư tưởng chống đối của tình yêu trong Ihơ mới dược ấp ủ nuôi nấng ngay trong bài thơ mới đầu tiên: bài " Tinh già" của Phan khôi Với giọng điệu " dở thơ dở phú" của

Trang 38

bài Tinh già" đã báo hiệu một sự thách thức, sự " nổi loạn" của thơ mới, nó khác

xa vói thứ ái tình của nhà nho đạo mạo xưa kia:

Thương được chùng nào hay chừng ấy, chảng qua ông trời bắt đôi ta phảivậy.

Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chổng mà tính chuyện thuỷ chung."

trong cuộc đời thi nhân hay trong trí tưởng tượng của ồng đều mang theo một chút

hương ân ái Đ ối với họ, thi nhân không dùng tiếng "Em" trong xưng hô mà dùng tiếng " Cồ em" nghe thật lẳng lư xa vời "Cô em" ấy không CỈ1Í là đối tượng của tình yêu mà còn là đối tượng để người ta mơ ước đựoc yêu thì đúng hơn bởi mỗi khi tiếng "Cô em" được thay bằng tiếng " Em" thì cuộc tình đã ờ giai đoạn cay dắng, đau buồn:

" E m 11CI11 cho lòng la (.lỏn lấy

Bông hoa phong kín ý yêu đương

Hay dâu hoa dấu mầm gai sắc

Sướt cạnh lòng ta mấy vết thương"

( Y ê u )

Là thi sĩ của liền tail học và chịu ảnh hưởng của liiếl lý sống từ phương lây đưa lại, T h ế Lữ đã sớm nhận ta sự ngắn ngủi của một kiếp người Có lẽ, ồng là llii nhan đầu tiên trong làng thơ V iệl Iiani khuyên người la hãy "yêu đi" lìãy lạn hưởng

Trang 39

mùa xuân của cuộc đời mà " vui mãi" chứ dừng dể thừi gian khắc nghiệt cướp mất

luổi trẻ, dung nhan:

" Một ngày kia, em ngắm lại dung nhan

Em sẽ cùng ta buồn trách thời gian Tiêc cánh vui qua, tiếc màu rực rỡ Của xuân đời ngàn năm không về nữa Vậy thì yêu đi, vui mãi, bạn lòng ơi"!

( Nhan sắc)

Và sự tiên cảm về cái hữu hạn của tuổi trẻ của đời người dược thi nhân dặt vào tâm trạng" Sỗu bâng khuâng man mác" nơi người con gái - " Cô em" đang đứng hoài xuân tiếc xuân:

" Nhưng ta thríy ai kia dang tựa cửa Tiếc bỏng chiều, dôi mắt dõi chân mây

Ta cảm nỗi hoài xuân cùng thiếu nữ Cùng cô em đôi má đò hây hây"

( Khúc ca hoài xuân)

Thơ Thê Lữ gieo vào lòng người dọc thòi đó, đặc biệt là thế hệ trẻ một triết lý

s ố n g m ới: Đ ờ i người th ật n g ắ n ngủi vì t h ế COI1 người h ă y g ắ n g tận h ư ở n g n h ữ n g sắc

màu chói lói, rực rỡ của mùa xuân, trước khi thời gian làm nó phai tàn Nếu khát vọng hưởng thụ tình yêu, tuổi trẻ trong thơ Thế Lữ mới là sự khơi nguồn, là bước

dạo đầu nên vẫn còn lìliẹ nhàng e ấp lliì đến thơ Xuân Diệu khát vọng yêu dương dó

bùng dậy mạnh mẽ, giục giã mãnh liệt đến nhức nhối:

"Mau với chứ, vội vàng lên với chứ

Em, em ơi, tình non đã già rồi, Coil chim hồng, trái tim nhỏ của tôi Mau vơi chứ thời gian không đứng đợi"

(Giục giã) Thời kỳ mà Chủ nghĩa lãng mạn ra dời cũng là giai đoạn giao thời của xã hội Việt Nam khi mà nền cựu học dù dã mất hết vị trí chính (hống của mình nhưng vẫn cố gắng kéo dài tiếng ca sầu bi trong cơn hấp hối, còn phái tân học thì đang lao tâm

Trang 40

khô tư cố tìm chỗ đứng vững chấc cho mình Xã hội Việt Nam đầu những năm 30 đã chuyên biên rõ rệt Lối sống và mọi chuẩn mực dạo đức cũ dần bị phá vỡ bởi sức mạnh của kim liền Điều này được biểu hiện hết sức rõ nét trong sáng tác của Tản

Đà - thi nhân tiền lãng mạn số m ội của văn học Việt Nam Thơ Tản Đà dừng lại ỏ' Iiỗi chán chường nhân thế Nhưng khấc với các nhà nho dạo mạo thời xưa thường

hay rút lui về sống ẩn dại, an hưởng cánh nhàn khi chán ngán một thực tế đắng cay Tản Đà sống khác hơn, ông đã Ihá hồn mình vào những" giấc mộng lớn", "giấc mộng con" trước cảnh đời đen bạc đầy lật lọng và dối trá Tan vỡ mộng tình cùng nàng Đỗ - thị do ông thi trượt kỳ thi Hậu bổ và thi Hương, những vần thơ về tình yêu của Tản Đà nhẹ nhàng nhưng không kém phần đau đớn, chua xót:

"Duyên hồ thắm bỗng dưng phai lạt, Mối tư vương đứt nát lan tành

Tấm riêng , riêng những thẹn mình

Giữa đường buông đứt gánh tình nhu’ không!

ái ân thôi có ngần này, Thề nguyền non nước đợi ngày tái sinh "

" Tinh yêu xin mãi mãi là hoa, dừng bao giò' kết trái"

Đó là triết lý chưng về tình yêu của Chủ nghía lãng mạn Đa số các nhà thơ mới đều cho rằng một tình yêu suôn sẻ lừ lúc gặp gỡ, trao duyên, thành vợ thành chổng đến bạc đầu thuỷ chung chẳng có gì đấng nói: " Tình chỉ đẹp klìi còn dang dở - Đời mất vui khi đã vẹn câu thề"(Hổ Dzếnh) Đành rằng tình yêu trong thơ mới là thứ tình

dở dang trắc trở nhưng hầu như các nhà thơ trước Thế Lữ đều chỉ biết kêu đau khi

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Xuân D iệu. Các nhà thơ cổ điển V iệt Nam. Tập 1. N X B Văn học 1981 3. Xuân D iệu. Các nhà thơ cổ điển V iệt Nam. Tập 2. N X B Văn học 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển V iệt Nam
Tác giả: Xuân D iệu
Nhà XB: N X B Văn học
Năm: 1981
15. Đ ỗ Đức Hiểu. Thi pháp học (thi pháp ihơ). Báo văn nghệ số 17 (ngày 5 /4 /1 9 9 2 0 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học (thi pháp ihơ)
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Báo văn nghệ
Năm: 1992
21. T h ế Lữ. Tựa tập "Thơ thơ". N X B Đời nay, 1938.22 . M. A . R Nauđôp. Tâm lý học sáng tạo. N X B Văn học, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ thơ
25. Phạm T h ế N gũ. V iệt Nam văn học sử - Giản ước tân biên. Q uốc học tùng thư xuất bản, 1961.26 . V ũ N g ọ c Phan. N hà vãn hiện đại. 2 tập. N X B Văn học 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V iệt Nam văn học sử - Giản ước tân biên
Tác giả: Phạm T h ế N gũ
Nhà XB: Q uốc học tùng thư xuất bản
Năm: 1961
1. Arixtốt. N ghệ thuật thơ ca. N X B Văn hoá nghệ thuật 1964 Khác
6. Phan Cự Đệ. Vãn học Việt Nam 1930 - 1945. Tập 1. NXB Đại học và G D C N 1992 Khác
7. Phan Cự Đ ệ. Văn học V iệt Nam 1930 - 1945. Tập 2 N X B Đ ại học và G D C N 1992 Khác
8. Phan Cự Đ ệ. Tự lực văn đoàn - Con người và văn chương. N X B Văn học1990 Khác
9. Hà M inh Đ ức. Thơ ca V iệt Nam: Hình thức và thể loại. N X B K HXH 1986 Khác
10. Hà M inh Đức. Thơ và m ấy vấn đề trong thơ V iệt Nam hiện đại. N X B K H X H 1974 Khác
11. Hà M inh Đức. M ột thời đại trong thi ca. N X B K HXH 1977 Khác
12. Hà M inh Đ ức - H uy Cận. Nhìn lại m ột cuộc cách m ạng trong thơ ca. N X B G D 1933 Khác
13. Hà M inh Đức. C.M ac, Ả ngghen, V. Lênin và một s ố vấn đề lý luận văn nghệ. N X B Sự Thật, 1983 Khác
14. Dương Quảng Hàm. V iệt Nam văn học sử yếu. Bộ giáo dục quốc gia xuất bản, 1950 Khác
16. Trần Đình Hượu. Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1980 - 1930. N X B Đ ại học và G DCN 1998 Khác
17. Lê Đình Kỵ. Thơ mới - những bước thăng trầm (tái bản). NXB TP. HCM, 1993 Khác
18. Thanh Lãng. Bản lược dồ Văn học Việt Nam. NXB Trình bày, 1967 Khác
19. M ã G iang Lân. Sức bền của thơ. N X B Hội nhà văn, 1993 Khác
20. Nguyễn Tấn Long. Việt Nam thi nhân tiến chiến. NXB Sống Mới, 1968 Khác
23. M .B. Khraptrenkô. Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển Văn học. N X B T á c phẩm m ới, 1978 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  khách  chinh  phu"  Than  đã  hiến  cho đời  gió  bụi.  Đâu  còn  lưu  luyến  chút  cỉuyên  lơ"  trong  Ihơ Thế Lữ  di  dần  qua  những  trang  thơ của  những  tác  giả  sau  này để rồi  trở thành  một  hình  mẫu  trong  thi  ca - Những đóng góp của Thế Lữ vào giai đoạn văn học (1930-1945
nh ảnh khách chinh phu" Than đã hiến cho đời gió bụi. Đâu còn lưu luyến chút cỉuyên lơ" trong Ihơ Thế Lữ di dần qua những trang thơ của những tác giả sau này để rồi trở thành một hình mẫu trong thi ca (Trang 52)
Hình  ảnh"  Ta  say  mồi  đứng  uống  ánh  trăng  tan"  là  một  hình  ảnh  thật  mới,  thật  tân  kỳ  mà  vẫn  rấl  quen  than  với  độc  giá  bởi  ỉc  thi  hào  Nguyễn  Trãi  (  Thế  ký - Những đóng góp của Thế Lữ vào giai đoạn văn học (1930-1945
nh ảnh" Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan" là một hình ảnh thật mới, thật tân kỳ mà vẫn rấl quen than với độc giá bởi ỉc thi hào Nguyễn Trãi ( Thế ký (Trang 66)
Hình  nhân  vật  thứ  ba  khá  đặc  biệt:  Đ ó   là  hình  ảnh  "nhà  trinh  thám",  hình  tượng  nhân  vật  Thổ  M án  và  nhũng  nhân  vật  nửa  hư  nửa  thực  trong  các  truyện  trinh  thám,  truyện  đường  rừng. - Những đóng góp của Thế Lữ vào giai đoạn văn học (1930-1945
nh nhân vật thứ ba khá đặc biệt: Đ ó là hình ảnh "nhà trinh thám", hình tượng nhân vật Thổ M án và nhũng nhân vật nửa hư nửa thực trong các truyện trinh thám, truyện đường rừng (Trang 78)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w