Tại luận văn thạc sỹ Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Thị Lập sau khi nêu lên những đóng góp của thơ Nguyễn Khoa Điềm trong phong trào thơ chống Mỹ đã đưa ra và phân tích những cảm
Trang 1NGUYỄN THỊ SAO
THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM DƯỚI GÓC NHÌN
VĂN HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC
Phần Mở đầu……… 3
1 Lý do chọn đề tài……….……… 3
2 Lịch sử vấn đề……… …….… …… 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.……… 6
4 Phương pháp nghiên cứu……….…….… 6
5 Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn……….……… 7
6 Cấu trúc luận văn……… 7
Chương 1: Thơ Nguyễn Khoa Điềm trong mạch nguồn văn hoá Huế… 8
1.1 Vài nét về văn hoá Huế……… …… 8
1.2 Mối quan hệ văn hoá – văn học… ……… 12
1.3 Hành trình thơ Nguyễn Khoa Điềm trong mạch nguồn văn hoá Huế … 17
Chương 2: Cảm thức văn hoá trong thơ Nguyễn Khoa Điềm…….…… 23
2.1 Sự gắn bó, tự hào về quê hương……….…23
2.1.1 Thiên nhiên miền sông Hương núi Ngự……….………….…24
2.1.2 Cuộc sống, con người xứ Huế……… ……….….34
2.2 Những tâm sự, triết lý, trải nghiệm qua cái nhìn văn hóa………… …… 43
2.2.1 Những tâm sự, triết lý mang đậm sắc thái văn hóa truyền thống dân tộc……… 43
2.2.2 Những tâm sự, triết lý trải nghiệm mang đậm sắc màu văn hóa Huế……… ……… 52
Chương 3: Các biểu trưng văn hoá và hình thức thể hiện……… 63
3.1 Các biểu trưng văn hóa… ……… 63
3.1.1 Dòng sông Hương……… 64
3.1.2 Khu vườn……… ….68
Trang 43.1.3 Con đường và ngọn lửa…… …….…… ……… …… 74
3.2 Hình thức thể hiện……… ……… …….… 78
3.2.1 Ngôn ngữ thơ: mang đậm chất văn hoá Huế…… …… ……….… 78
3.2.2 Thể thơ…… ……….……… … 85
3.2.3 Giọng điệu……….……….….88
Kết luận……… 95
Tài liệu tham khảo……… ………….… 97
Trang 5Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của thế
hệ thơ trẻ xuất hiện trong những năm chiến tranh chống Mỹ Sau hơn bốn mươi năm vừa đảm nhiệm những chức vụ quan trọng vừa cầm bút, Nguyễn Khoa Điềm
đã đóng góp cho nền thơ ca nước nhà một số thành tựu đáng kể Những tác phẩm:
Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng và Ngôi nhà có ngọn lửa ấm của ông đã nhận
được Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật Gần đây, tập thơ Cõi lặng
(xuất bản năm 2007) của Nguyễn Khoa Điềm đánh dấu hành trình trở về Huế - thành phố của tuổi thơ ông, “để làm một người trong mọi người” cũng được đánh giá cao Tự bạch trước những vấn đề của thời cuộc, nhân sinh để có cái nhìn rộng hơn, sâu sắc hơn, khái quát cao hơn hình như là ý tưởng đeo đuổi suốt đời thơ của Nguyễn Khoa Điềm trong quá khứ cũng như hiện tại
1.2 Hành trình thơ của Nguyễn Khoa Điềm gắn liền với mảnh đất Huế thơ Huế đã trở thành chiếc nôi sinh thành, mái nhà trú ngụ, lớn lên của nhiều thế hệ thi nhân Việt Nam Sương khói Huế, sông Huế, núi Huế, văn hóa Huế, cho đến điệu Nam Ai, Nam Bình đều trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho các thi nhân Huế là không gian cổ điển Phương Đông thuần khiết, là chốn của những mái cong đền cổ thấp thoáng dưới bóng vườn xanh Không gian cổ tích ấy là môi trường lý tưởng của những chiêm nghiệm, những cảm thức làm nền tảng triết lý cho thơ, trong đó có thơ Nguyễn Khoa Điềm
1.3 Sáng tạo văn học là một hoạt động văn hoá Vì vậy, khi nghiên cứu văn học từ góc độ quan hệ văn hoá - văn học sẽ thấy được vai trò sáng tạo văn hoá của văn học qua những hình tượng nghệ thuật, qua xây dựng những mô hình nhân cách văn hoá đẹp cho xã hội, cho dân tộc Đồng thời, nghiên cứu văn học nhìn từ góc độ quan hệ văn hoá - văn học sẽ góp phần khẳng định vai trò vừa lưu giữ, chuyển tải vừa thẩm định và lựa chọn văn hoá của văn học
Trang 6Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Thơ Nguyễn Khoa Điềm dưới góc
nhìn văn hoá với hi vọng sẽ đóng góp thêm một vài ý kiến để tiến tới có một cái
nhìn tổng thể, toàn diện về tác phẩm thơ Nguyễn Khoa Điềm
2 Lịch sử vấn đề
Về Nguyễn Khoa Điềm, các bài viết, công trình nghiên cứu về ông không nhiều nhưng đều có những đánh giá khá nhất quán về phong cách thơ ông Tôn
Phương Lan trong bài viết khá công phu Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều
triển vọng (1976) đã đề cập ngay đến phong cách riêng ấy, đó là “những liên tưởng
độc đáo, kết quả của một sự am hiểu cuộc sống và một cảm quan văn chương nhạy bén… Điều đó đã tạo nên những tứ thơ mênh mông, đậm đà mà bay bổng, thật thà
mà xao xuyến”[26, tr.326] Đồng thời, nhà nghiên cứu cũng khẳng định thành công
của Nguyễn Khoa Điềm ở thể loại trường ca: “Trường ca Mặt đường khát vọng là
một thể nghiệm mới trong vấn đề tìm tòi phương pháp thể hiện và một thành công mới của anh” Về cấu trúc trường ca này, Tôn Phương Lan nhận xét rất xác đáng:
“không coi việc kể chuyện là chính Lấy suy nghĩ, cảm xúc làm chỗ dựa cho kết cấu
để rồi từ đó triển khai cả bề rộng lẫn bề sâu”[26, tr.331]
Nguyễn Xuân Nam trong Thơ tìm hiểu và thưởng thức (1985) cũng nhấn mạnh
đến sức mạnh của trường liên tưởng và chiều sâu văn hóa quá khứ: “Thơ Nguyễn Khoa Điềm không đặc sắc về tạo hình, về màu sắc nhưng anh có sức liên tưởng mạnh Anh thường dẫn người đọc đi từ quá khứ đến tương lai, từ khổ đau đến hạnh phúc, từ sách vở đến đời sống”
Trong bài Gương mặt quê hương, gương mặt nhà thơ (1998), Võ Văn Trực
chú tâm đi tìm và phân tích chất văn hóa Huế trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và khẳng định, chính điều đó đã làm nên phong cách thơ ông, “tâm hồn Huế vẫn dịu dàng ở phía sau mỗi dòng thơ”
Trong Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường của Nguyễn Trọng Hoàn, Ngô
Thị Bích Hường, các tác giả khẳng định phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm chính
là “Chất suy tư, chính luận và sự dồn nén cảm xúc cũng như sự am hiểu hiện thực
Trang 7trong thơ Nguyễn Khoa Điềm cùng những cái nhìn giàu tính phát hiện sâu sắc, bất ngờ”[23, tr.115]
Tuy vậy, Nguyễn Trọng Hoàn trong bài viết Cảm nhận thơ Nguyễn Khoa Điềm
đánh giá hơi có phần phiến diện về giai đoạn sáng tác đầu của Nguyễn Khoa Điềm, chỉ nhận ra đó là chất thơ “mộc mạc hàm chứa một vẻ đẹp giản dị, trong trẻo Tiếng thơ như tiếng lòng người chiến sĩ bình tĩnh, tự tin”[23, tr.148]
Trong Tác giả nói về tác phẩm, Nguyễn Quang Thiều đánh giá “Thơ ca
Nguyễn Khoa Điềm chứa đựng nhiều chất hiện thực và văn hóa dân gian Câu thơ
dù ở thể thơ truyền thống hay thể tự do bao giờ cũng phảng phất phong vị của ca dao, tục ngữ Chất hiền minh của trí tuệ dân gian thấm đẫm trong từng từ” [47, tr.225]
Vũ Tuấn Anh trong Mặt đường khát vọng đến Ngôi nhà có ngọn lửa ấm chỉ ra
tiến trình vận động thơ Nguyễn Khoa Điềm từ thời chiến sang thời bình và kết luận:
“Ngôi nhà có ngọn lửa ấm vừa tiếp nối vừa chuyển đổi cảm xúc nên giọng thơ điềm
đạm và sâu lắng, tách các lớp vỏ của sự vật để đi vào cái cốt lõi bên trong, khơi gợi
từ đấy những triết lý đạo đức và nhân sinh”
Hoàng Thu Thủy trong Ngôi nhà tâm hồn của Nguyễn Khoa Điềm luôn có
ngọn lửa ấm cũng đi sâu phân tích tập thơ mới này của ông và đánh giá: “Sự vận
động từ gân guốc, mạnh khỏe một cách điềm tĩnh đến độ sâu sắc đến mức tĩnh tại, chạm vào phần sâu kín nhất của tâm hồn con người làm bật lên những hiệu ứng thẩm mỹ phong phú”
Tại luận văn thạc sỹ Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Thị Lập sau khi
nêu lên những đóng góp của thơ Nguyễn Khoa Điềm trong phong trào thơ chống
Mỹ đã đưa ra và phân tích những cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Khoa Điềm (về đất nước, con người trong và sau chiến tranh), tập trung phân tích những hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ và màu sắc văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Gần đây, sau khi từ giã quan trường, Nguyễn Khoa Điềm đã trở lại với thơ và
công bố nhiều bài thơ cùng tập Cõi lặng cho một giai đoạn sáng tác mới Đã có khá
Trang 8nhiều bài viết giới thiệu, đánh giá về thơ Nguyễn Khoa Điềm giai đoạn này, nhưng nhìn chung đa số đều còn ở dạng riêng lẻ, mang tính chất cảm nhận, bình luận một
số bài thơ tiêu biểu và tập trung vào chuyện trở về “vườn chuối” của ông, do đó, chưa có những kết luận đáng chú ý
Tựu trung, các công trình, bài viết trực tiếp hoặc gián tiếp đều thừa nhận tài năng của Nguyễn Khoa Điềm nhưng chưa thực sự có nhiều công trình khoa học khảo sát một cách có hệ thống và quy mô cả về chiều rộng và chiều sâu thơ Nguyễn Khoa Điềm Dù sao, đó cũng thực sự là những bước đi đầu tiên cho việc khám phá trọn vẹn, đầy đủ toàn bộ thế giới nghệ thuật thơ ca Nguyễn Khoa Điềm
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm văn hoá, các thành tố văn hoá và mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, luận văn đi sâu vào nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm từ góc nhìn văn hoá Từ vấn đề trung tâm, chúng tôi mở rộng các mặt biểu hiện cơ bản của thơ Nguyễn Khoa Điềm trong tính thống nhất giữa nội dung và hình thức
Do khuôn khổ của luận văn có hạn, chúng tôi chỉ tập trung tiến hành khảo sát
thơ Nguyễn Khoa Điềm qua các tập thơ chính: Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng
(trường ca), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Cõi lặng Lựa chọn những tập thơ này vì
chúng tôi cho rằng đây là các tập thơ hội tụ những bài thơ tiêu biểu, đặc sắc nhất cho phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm đồng thời nó bao quát được cả một hành trình dài thơ ca của ông từ những năm 70 cho đến tận hôm nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn cố gắng phác hoạ lại diện mạo thơ Nguyễn Khoa Điềm nhưng đặc biệt nhấn mạnh vào sự ảnh hưởng của văn hoá vùng đến sáng tác thơ của ông Cách thức tiến hành của chúng tôi không theo cách đi vào phân tích từng tác phẩm cụ thể
để nhận diện đặc điểm thơ Nguyễn Khoa Điềm Luận văn tiếp cận vấn đề bằng việc
sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh, thống kê;
Trang 9- Phương pháp liên ngành: dưới góc độ văn hoá, văn học soi chiếu tương tác
5 Mục đích, ý nghĩa, đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khảo sát về thơ Nguyễn Khoa Điềm từ góc nhìn văn hoá Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ đem lại một cái nhìn khái quát, đầy đủ hơn về thơ Nguyễn Khoa Điềm, từ đó thấy được những tìm tòi, đổi mới, vận động và phát triển của thơ Nguyễn Khoa Điềm mang đậm bản sắc văn hóa của một vùng quê
Chúng tôi không đặt nhiều tham vọng đưa ra những kiến giải mới khác với nhận định của các nhà nghiên cứu trước đó mà chỉ vận dụng những thành tựu đã có
để đưa ra những đánh giá có tính chất cụ thể bước đầu theo một hướng mới
Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một cách tiếp cận mới mẻ giúp
ta hiểu thêm về những giá trị nghệ thuật của tác phẩm Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần khẳng định một hướng nghiên cứu văn học mới nhiều triển vọng
đó là từ góc độ văn hoá - văn học, sự giao lưu, giao thoa và ảnh hưởng qua lại để nhìn cho thấu đáo từ nhiều chiều kích, phương diện
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, Luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Thơ Nguyễn Khoa Điềm trong mạch nguồn văn hoá Huế
Chương 2: Cảm thức văn hoá trong thơ Nguyễn Khoa Điềm
Chương 3: Hình thức thể hiện và các biểu trưng văn hoá
Trang 10Chương 1: THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM TRONG MẠCH NGUỒN
VĂN HOÁ HUẾ 1.1 Vài nét về văn hoá Huế
Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306) Trong khoảng thời gian khá dài, Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền thống văn hóa Huế Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù - bản địa của một vùng đất vừa không tách rời những đặc điểm chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam Suốt tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Đông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ II và sau thế kỷ XIII hỗn dung với thành phần văn hóa Sa Huỳnh tạo nên nền văn hóa Việt – Chăm cùng sự ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây
Là một vùng văn hóa mang đậm sắc thái truyền thống của Việt Nam, Huế ẩn chứa trong lòng mình những giá trị văn hóa độc đáo, thể hiện sinh động một thời phát triển của vùng đất kinh kỳ, nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của cả nước Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện trên nhiều lĩnh vực như: văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng xử, ăn - mặc - ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống
Ngôn ngữ là một sản phẩm và là một thành phần của văn hoá Trong văn hóa Huế, có một tiếng Huế rất dịu dàng, "dễ thương", cùng nằm trong miền phương ngữ Trung Bộ song không giống tiếng Quảng Bình - Quảng Trị, mà là một thứ tiếng Việt độc đáo, đối sánh với "tiếng Hà Nội", "tiếng Sài Gòn" Giữa hai vùng Nghệ Tĩnh và Quảng Nam - nơi có tiếng nói mạnh dạn, nhiều nam tính, nhiều âm đỉnh và
âm vực đối chọi nhau, tiếng Huế như tách ra bởi sự nhỏ nhẹ, bồng bềnh, ríu rít đầy
nữ tính
Trang 11Cũng trong phương diện ngôn ngữ, mỗi địa phương do truyền thống của nó tạo nên một ngôn ngữ đối thoại có màu sắc riêng GS Hoàng Thị Châu có sự so sánh:
“Khẩu ngữ Hà Nội lịch sự và tế nhị, văn hoa nhưng không khỏi kiểu cách Khẩu ngữ Huế ở ngôn ngữ hoàng phái mang sắc thái đài các, nhưng thiếu tính chân thực, còn ở khẩu ngữ nhân dân thì đậm đà, duyên dáng nhưng không khỏi mộc mạc Khẩu ngữ Nam Bộ thì bốp chát, nhưng chí tình, khỏe mạnh và mang một đặc điểm rất mới mà các khẩu ngữ khác không có, đó là ý thức về giá trị cá nhân”[9, tr.76]
Ca Huế là một hệ thống bài bản phong phú gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống
"hơi" diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng Điệu Bắc gồm những bài ca mang
âm điệu tươi tắn, trang trọng Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán Bài bản ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố "chuyên nghiệp" bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền Kỹ thuật đàn và hát ca Huế đặc biệt tinh tế nhưng ca Huế lại mang đậm sắc thái địa phương, phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của người Huế nên gần gũi với hò Huế, lý Huế; là chiếc cầu nối giữa nhạc cung đình và âm nhạc dân gian
Lễ nhạc cung đình Huế: Bắt nguồn từ 8 loại lễ nhạc cung đình thời Lê là giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, cửu nhật nguyệt giao trùng nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, đại yến cửu tấu nhạc, cung trung nhạc, đến triều Nguyễn lễ nhạc cung đình Việt Nam đã phát triển thành hai loại hình Đại nhạc và Nhã nhạc (tiểu nhạc) với một hệ thống các bài bản lớn Cùng với nhã nhạc, vũ khúc cung đình nổi bật với trên 15 vở múa lớn, từ múa tế lễ, múa chúc tụng, múa tiếp sứ, múa yến tiệc, múa trình diễn tích tuồng Nhiều vở múa có tính hoành tráng, quy mô diễn viên đông, phô diễn được vẻ đẹp rộn ràng, lấp lánh và kỹ thuật, kỹ xảo của múa hát cung
Trang 12đình Việt Nam, thể hiện được sự phát triển nâng cao múa hát cổ truyền của người Việt
Mỹ thuật, mỹ nghệ Huế: Với những kiểu thức trang trí bắt nguồn từ những mẫu mực của Trung Hoa, các nghệ nhân Việt Nam đã tạo nên một bản sắc nghệ thuật trang trí với những nét độc đáo mang cá tính Huế Nghệ thuật trang trí mỹ thuật Huế còn tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật Chăm, đặc biệt là tiếp thu nghệ thuật trang trí Tây phương Trang trí cung đình Huế còn tiếp nhận và nâng cao nghệ thuật dân gian Việt Nam Nhiều loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam như chạm khắc gỗ, cẩn xà cừ, cẩn tam khí ngũ khí, sơn son thếp vàng, chạm khắc xương và ngọc ngà, khảm sành sứ, làm vàng bạc, dệt, thêu, đan đã được các tượng cục triều Nguyễn nâng lên thành những nghệ thụât tinh xảo, sang trọng Về hội họa, nhiều họa sĩ Huế nổi tiếng về tranh thủy mặc sơn thủy, trúc lan, tranh gương, các ấn phẩm nhất thi nhất họa đặc sắc
Về điêu khắc, cố đô Huế đã đánh dấu một thời kỳ phát triển mới, thể hiện bằng các tác phẩm điêu khắc trên đá, trên đồng, trên gỗ Trong điêu khắc gỗ, phần khắc chạm gỗ trang trí với những bức chạm nổi, chạm lộng trên các chi tiết công trình kiến trúc đạt đến sự tinh xảo và có tính thẩm mỹ cao Về mỹ thuật ứng dụng, ngoài việc nâng cao các loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam, Huế còn một thời sản xuất đồ mỹ nghệ pháp lam cao cấp
Trong văn hóa Huế có hai loại lễ hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chú trọng về
"lễ" hơn "hội" Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, tiêu biểu như: lễ hội Huệ Nam ở điện Hòn Chén hay còn gọi là lễ rước sắc nữ thần Thiên y A na theo tín ngưỡng của người Chăm pa, lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghề truyền thống, lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh thành lập làng Trong những dịp tế
lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích như đua thuyền, kéo co, đấu vật được tổ chức
và thu hút đông đảo người xem
Trang 13Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là Quần thể di tích
Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế Đó là những di tích lịch sử - văn hóa do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế Kiến trúc đô thị Huế có truyền thống trên nền kiến trúc "tạo cảnh": Với phong cách riêng và cái nhìn phong thủy, quần thể kiến trúc kinh thành, đền đài, lăng tẩm, nhà cửa nơi đây đã hoà quyện cùng ngoại cảnh thiên nhiên thơ mộng của sông suối, núi rừng, bãi đồi xứ Huế, thể hiện
sự hoà hợp âm dương, tạo nên một không gian kiến trúc "tạo cảnh" mang nhiều triết
lý sâu xa, huyền bí
Cũng nằm trong không gian kiến trúc "tạo cảnh", nhà vườn Huế được coi là một nét văn hoá vật thể truyền thống đặc trưng Nhà vườn Huế thể hiện triết lý sâu
xa của con người xứ Huế: hướng nội, suy tư, hoà quyện vào thiên nhiên, gửi gắm lòng mình vào cỏ cây, hoa lá Loại kiến trúc này lấy ngôi nhà làm trung tâm, trong
đó người ta đặc biệt chú ý đến cả kết cấu kiến trúc (chạm khắc, tạo dáng tỷ mỉ, tinh
vi, khéo léo đến mức ngôi nhà trở thành tác phẩm của nghệ thuật điêu khắc gỗ), không gian kiến trúc (địa thế, phương vị, tiền án và vườn cây tạo cảnh xung quanh nhà), không gian xã hội (nhà nhất thiết phải gian lẻ, gian giữa là bàn thờ, hương án, hoành phi, câu đối; gian trên, chái trên dành cho đàn ông; gian dưới, chái dưới dành cho phụ nữ )
Đặc trưng tiếp theo của văn hoá vật thể là sự có mặt với mật độ dày đặc các chùa chiền, nhà thờ và các cơ sở thờ họ khác, như điện thờ, thánh thất, đền miếu Trước hết Huế là một trung tâm Phật giáo lớn của cả nước với sự có mặt của nhiều chùa chiền cổ cách ngày nay chừng vài ba thế kỷ Hiện nay, ở Huế có khoảng trên
100 chùa chiền lớn nhỏ, phần nhiều trong số đó nằm ở phía tây thành phố - nơi có những đồi thông ngút ngàn màu xanh Ngoài ra, ở Huế còn có 13 nhà thờ Thiên
Trang 14chúa giáo, 1 thánh thất Cao đài và hàng ngàn nhà thờ, đền miếu Đó là những giá trị văn hoá vật thể mang dấu ấn kiến trúc tôn giáo của con người xứ Huế
Nói đến văn hóa Huế, cũng không thể không nhắc đến ẩm thực Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, trong đó có cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn Bản thực đơn ngự thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ Bên cạnh đó, các món ăn dân dã rất phổ biến trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế biến khéo léo, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn, coi trọng phần chất hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế
1.2 Mối quan hệ văn hoá - văn học 1
Hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng thể những thành tựu, những giá trị vật chất và tinh thần do các cộng đồng dân tộc sáng tạo ra trong quá trình cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội, nhằm đảm bảo nhu cầu cuộc sống con người Dân tộc học chia văn hóa thành ba loại: văn hóa vật chất (bao gồm công cụ sản xuất, phương tiện đi lại, làng mạc, nhà cửa, quần áo, giày dép, đồ trang sức, các thức ăn, thức uống…); văn hóa xã hội (bao gồm các thiết chế xã hội, gia đình, dòng họ, làng bản và mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng); văn hóa tinh thần (bao gồm các tri thức khoa học, phong tục tập quán, tôn giáo, xã hội, văn học, nghệ thuật dân gian…) Phan Ngọc đã thống kê được gần 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn thông qua các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội” [45, 27] Theo Unesco:
“Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội, văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những
1 Tham khảo theo bài viết của Đỗ Lai Thúy Quan hệ văn hóa và văn học từ cái nhìn hệ thống, có chỉnh sửa, bổ
Trang 15quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sự vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự
ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [45, tr.24]
Chính từ đặc trưng văn hóa, các thuộc tính của văn hóa, văn học, có thể xem xét mối quan hệ giữa chúng ảnh hưởng và tác động qua lại với nhau như thế nào Văn học là một bộ phận của văn hóa, nằm trong văn hóa, vì thế chịu sự chi phối của văn hóa Những nhân tố như: ngôn ngữ, hoạt động kinh tế, lao động sản xuất, ăn, mặc, ở, đi lại, sự phát triển của khoa học kỹ thuật… đều là điều kiện quan trọng trong môi trường nảy sinh, hình thành những tác phẩm văn học
Thực ra, bất kỳ một công trình nghiên cứu văn học nào cũng đều ít nhiều, xa gần viện dẫn tri thức văn hóa hoặc đề cập đến những vấn đề văn hóa trong việc bình luận, giải thích tác phẩm Ở Việt Nam, nghiên cứu, phê bình văn học từ văn hóa, cũng xuất hiện đã lâu, thậm chí từ thời trung đại khi Phạm Quý Thích bình luận
Kiều là Nhất phiếu tài tình thiên cổ lụy, Tân thanh đáo để vị thùy thương Rồi sau
đó Truyện Kiều được Trần Trọng Kim nghiên cứu từ quan điểm Phật giáo, Thơ Mới được Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam phần Một thời đại thi ca khảo sát từ
luồng gió mới của văn hóa phương Tây Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu trên chỉ vận dụng một số kiến thức văn hóa mà họ cho là cần thiết để đọc văn học chứ chưa có ý thức xây dựng một hệ thống vấn đề mang tính chất lý thuyết cho việc đọc tác phẩm văn học bằng văn hóa
Gần đây, nhờ Unesco phát động những thập kỷ phát triển văn hóa, người ta bắt đầu nhận thức được văn hóa là động lực của phát triển, thì nghiên cứu, phê bình văn học từ văn hóa càng được chú ý nhiều hơn Đặc biệt, khi bộ môn văn hóa học và nhân học văn hóa xuất hiện ở Việt Nam thì văn hóa bắt đầu được coi như một nhân
Trang 16tố chi phối văn học Năm 1995, Trần Đình Hượu trong Nho giáo và văn học Việt
Nam trung cận đại nghiên cứu văn học Việt Nam từ Nho giáo và đã chỉ ra được đặc
điểm của giai đoạn văn học kể từ đầu Lê đến cuối Nguyễn Ông cũng nêu ra những hình mẫu nhà Nho (hành đạo, ẩn dật, tài tử) - tác giả của thứ văn học Nho giáo này,
như là một giả thuyết làm việc Điều này, về sau, được Trần Ngọc Vương trong Nhà
nho tài tử và văn học Việt Nam cụ thể hóa bằng một cái nhìn loại hình học Đỗ Lai
Thúy trong Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực đã lí giải những biểu tượng lấp lửng hai mặt trong thơ bà bằng tín ngưỡng phồn thực, còn Trần Nho Thìn trong Văn
học trung đại Việt Nam dưới cái nhìn văn hoá thì cho rằng nghiên cứu văn học
trung đại từ những phạm trù cơ bản của văn hóa trung đại để tránh hiện đại hóa văn học dân tộc Nhưng, có lẽ, Phan Ngọc là người có ý thức trong hướng nghiên cứu
này hơn cả Là một nhà văn hóa học, ông đã sớm lấy yếu tố văn hóa xã hội để Tìm
hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, rồi lại thử giải thích văn học bằng
ngôn ngữ Và khi một số công trình của M.Bakhtin, (Những vấn đề thi pháp
Đôxtoiephi (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb Giáo dục,
2003); Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu, Nxb Hội
Nhà văn, 2003)) được dịch và giới thiệu ở Việt Nam thì hướng đi này càng thuyết phục, được các nhà nghiên cứu quan tâm và sử dụng, đồng thời đối tượng nghiên cứu cũng phong phú thêm lên
Những thành tựu của văn hóa học ngày nay cho phép chúng ta có thể nhìn nhận văn hóa như một tổng thể, một hệ thống bao gồm những yếu tố như ngôn ngữ, phong tục tập quán, luật pháp, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn, văn học… Trong hệ thống văn hóa, nhất là văn hóa Việt Nam, yếu tố chủ đạo thường là văn học Yếu tố chủ đạo này không phải là bất biến mà nó thường xuyên thay đổi qua những thời đại văn hóa, tức một hệ thống văn hóa Là một yếu
tố mạnh, văn học luôn biết tiếp thu những gì ngoài hệ thống để phát triển Tiếp thu những cái ngoài hệ thống đến một mức độ nào đó, yếu tố văn học sẽ không còn phù hợp với hệ thống văn hóa nữa, nó chống lại hệ thống, làm cho hệ thống phải thay
Trang 17đổi cùng với nó Ví như, văn học trung đại, nhất là bộ phận văn học của các nhà nho tài tử, dưới sự ảnh hưởng của văn hóa đô thị và ý thức cá nhân tỉnh thức, đã làm rạn nứt hệ thống văn hóa trung đại, góp phần đưa nó chuyển đổi lên từ văn hóa trung đại sang văn hóa hiện đại Lịch sử văn hóa chính là lịch sử của những thay đổi các
hệ thống văn hóa, tức các thời đại văn hóa
Văn học với tư cách là một bộ phận của tổng thể văn hóa, một yếu tố của hệ thống văn hóa thì không thể và không có quyền qua mặt hệ thống để tiếp xúc thẳng hoặc tác động trực tiếp đến hệ thống xã hội, mà phải gián tiếp qua hệ thống văn hóa như là những hệ thống đồng đẳng với nhau Điều này đúng như M.Bakhtin nhận định: “Cần phải nghiên cứu văn học và tác phẩm văn học như những hệ thống chỉnh thể ở hai cấp liên đới Hệ thống chỉnh thể của tác phẩm gia nhập hệ thống chỉnh thể của văn học; hệ thống chỉnh thể của văn học, đến lượt nó, lại gia nhập hệ thống chỉnh thể của văn hóa; và chỉ có hệ thống văn hóa mới quan hệ trực tiếp với những lĩnh vực khác của đời sống xã hội Không thể tách rời văn học ra khỏi hệ thống văn hóa và “vượt mặt” văn hóa liên hệ trực tiếp với các nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội Những nhân tố ấy tác động trực tiếp đến văn hóa trong chỉnh thể của nó và chỉ thông qua nó mà ảnh hưởng đến văn học”
Từ đó, có thể thấy, nếu văn học có chức năng phản ánh hiện thực thì cũng không thể phản ánh trực tiếp được, mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng kính” văn hóa, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hóa Nhờ thế mà văn học tránh được
sự phản ánh “gương”, phản ánh một cách trần trụi Và, có lẽ, cũng nhờ thế mà văn học có một lối phản ánh đặc trưng, một phản ánh, như người ta thường nói, có nghệ thuật, có “nghiền ngẫm” (chữ dùng của Lê Ngọc Trà)
Như vậy, một khi văn học chỉ là một yếu tố của hệ thống văn hóa và chỉ “quan hệ” được với hệ thống xã hội thông qua văn hóa, thì khung nghiên cứu văn học cũng phải là khung văn hóa Trong một thời gian dài, nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam thường chỉ được vận hành trên một cái khung duy nhất là năm hình thái kinh tế - xã hội Chính sự đóng khung này mà nhiều hiện tượng văn học chưa được
Trang 18lý giải một cách thấu đáo Ví như: theo hệ quy chiếu này thì văn học ở hình thái cao hơn phải hay hơn, hoặc ít nhất cũng phát triển hơn, nhưng văn học Việt Nam sau
1945 có lẽ không hay hoặc phát triển bằng văn học 1932 - 1945; hoặc trong cùng một hình thái thì văn học ở giai đoạn xã hội thịnh trị phải phát triển hơn lúc xã hội suy tàn (nhưng văn học Việt Nam thời Hồng Đức dường như không sánh được với thời Nguyễn Du?)… Nhưng chúng ta có thể thử tiếp cận từ góc độ văn hóa để lý giải các hiện tượng trên Thực tế là, cùng ở vào một thời đại quân chủ nông nghiệp Nho giáo, nhưng thời Hồng Đức là văn hóa thuần nông nghiệp, còn thời Nguyễn Du thì đã chớm văn hóa đô thị, dẫu rằng đô thị phương Đông trung đại Văn học đô thị phát triển nhờ nhu cầu hưởng thụ thẩm mỹ của thị dân, nhờ ý thức cá nhân thức tỉnh
và, cuối cùng, nhờ sự xuất hiện của một lớp tác giả mới: nhà nho tài tử Còn giai đoạn 1932 - 1945 thì đã là văn hóa đô thị hiện đại Sản phẩm văn hóa không còn là quà tặng nữa mà đã là hàng hóa Ý thức cá nhân phát triển Chủ thể của văn hóa này
là những trí thức Tây học Văn học 1932 - 1945 là tiếng nói mới, tưng bừng của văn hóa đô thị hiện đại Sau 1945, do nhu cầu của hai cuộc kháng chiến nên phải đề cao dân tộc, đề cao truyền thống, đề cao nông thôn, nông dân (là quân chủ lực) Văn hóa đô thị, vì thế, chùng xuống hơn; văn hóa nông thôn phục hưng và phát triển Như vậy, đọc một tác phẩm văn học theo quan điểm văn hóa học là vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của tác phẩm Một cách tổng quát, phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mỹ, quan niệm về con người cũng như sự chi phối của các phương diện khác nhau trong đời sống sinh hoạt xã hội sống động hiện thực… từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, môtip, hình tượng, cảm xúc, ngôn ngữ… Phương pháp này tuy có tính chất tổng hợp, trung gian giữa những phương pháp đọc văn bản khác nhau nhưng vẫn có đặc trưng riêng Nó thiên về nhiệm vụ giải mã các hiện tượng nghệ thuật, tìm ra nền
Trang 19tảng văn hóa lịch sử của chúng, đồng thời cũng nhấn mạnh đến sự liên tục, đến tính chất mở của chúng trong không gian và thời gian
Điểm khác biệt của các tiếp cận văn hóa học so với thi pháp học là ở chỗ, tiếp cận văn hóa học không chủ trương miêu tả thế giới nghệ thuật của tác phẩm như một vũ trụ khép kín, có giá trị tự thân mà đặt ra nhiệm vụ đối chiếu, so sánh, truy nguyên các quan niệm văn hóa của thời đại nơi tác phẩm được sản sinh để tìm nguồn gốc các dạng thức quan niệm về con người - thời gian - không gian trong tác phẩm Tiếp cận văn hóa học thực chất là tiếp cận liên ngành
1.3 Hành trình thơ Nguyễn Khoa Điềm trong mạch nguồn văn hoá Huế
Như đã nói ở trên, mảnh đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế có bề dày truyền thống văn hóa Và văn học là một bình diện hiển minh của văn hóa đã để lại những trang đời, trang thơ lấp lánh lời giải đáp về những vấn đề nhân sinh, thế sự của chính con người và vùng đất này Trong dòng chảy văn hóa ấy, văn học - đặc biệt là thi ca - có vai trò quan trọng trong việc phản chiếu thời đại và con người một cách
cụ thể thông qua lăng kính chủ quan của tác giả, tạo ra một thế giới hiện thực - tinh thần cụ thể, độc đáo, có thể nối liền quá khứ với hiện tại và hiện tại với tương lai Thơ Huế chính là sự gặp gỡ, thăng hoa bao tiềm năng sáng tạo độc đáo do sự gặp gỡ các hằng số văn hoá - thi ca Thời phong kiến, Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế
đã hội tụ được nhiều nhân tài, trí thức của cả nước, tạo ra sự tích hợp văn hóa độc đáo mà văn thơ của họ đã trở thành sức mạnh tinh thần vô giá cho đến ngày nay, ví
như trường hợp của Trương Hán Siêu với Hoá Châu tác, Lê Thánh Tông với Tư
dung hải môn lữ thứ, Đào Duy Từ với Tư dung vãn, rồi sau này là Nguyễn Biểu,
Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Phạm Đình Hổ, Phạm Nguyên Du, Ngô Thời Nhậm, Phạm Phú Thứ, Phạm Quý Thích, Nguyễn Hàm Ninh, Lê Ngọc Hân, Trần Bích San, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Xuân
Ôn, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đặng Huy Trứ, Trần Cao Vân, Miên Trinh, Miên Thẩm, Đào Tấn, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thông, Ông Ích Khiêm, Tản Đà, Mai Am, Huệ Phố, Huỳnh Thúc Kháng
Trang 20Và nối tiếp từ năm 1930 với Phong trào Thơ mới cho đến ngày nay, nếu làm phép thống kê như trên thì phải lên đến con số vài ba trăm nhà thơ Trong đó, phải
kể đến các thi sĩ tài danh (thời 1930-1945): Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Tố Hữu, Nguyễn Xuân Sanh, Văn Cao, Vũ Đình Liên, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, Nam Trân, Phạm Hầu, Thái Can, Tế Hanh, Đinh Hùng, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Phan Văn Dật, Hoàng Diệp
Kế đến là các nhà thơ thời kháng chiến (1945-1975) như Hải Bằng, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Hải, Lương An, Trần Vàng Sao, Hoàng Phủ Ngọc Tường
Thời kỳ hoà bình lập lại từ 1975 đến nay, Huế là nơi trung chuyển, dừng chân trên đường lữ thứ Bắc - Nam của biết bao tao nhân mặc khách Các thi sĩ cả nước đã đến Huế, neo hồn mình cùng thiên nhiên, cảnh vật và đã có hàng nghìn bài thơ hay viết về Huế Đó là tài sản vô giá cho kho tàng thơ Huế Rồi đây, chúng sẽ biến thành những giá trị mới, bổ sung những phẩm chất văn hoá - thi ca cho Huế
Như bất kỳ các trung tâm văn hoá lớn của cả nước như Thăng Long - Hà Nội, Sài Gòn , Huế hiển minh một khả năng, một quy luật thi ca có tính độc đáo riêng
Đó là khả năng nội sinh, tạo sinh thi ca trong lòng văn hoá Huế và khả năng “ngoại nhập”, hội tụ các thành tố văn hoá - thi ca của các miền khác mang đến Huế thông qua các chủ thể văn hoá, chủ thể sáng tạo Ta có thể cảm nhận trong từng dòng thơ, bài thơ chất Huế sâu đậm mà các nhà thơ không thể cưỡng lại được trước sinh lực
và vẻ đẹp hữu tình của vùng đất Phú Xuân - Huế Thơ Huế vì vậy, đã trở thành tình cảm, tài sản của cả nước Cái hồn Huế, tâm thức Huế, thiên nhiên Huế góp phần làm đa dạng hoá, đặc sắc hoá thi ca cả nước Một dòng chảy thi ca Huế trong mạch nguồn thơ Việt luôn dào dạt đến ngày nay, không có sự đứt nối, gián đoạn Nó luôn hiện hữu với sự tiếp nối, kế thừa, bổ sung những nội hàm mới, phương thức thể hiện mới
Là một người con của xứ Huế, Nguyễn Khoa Điềm cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của bề dày và bề sâu lịch sử, văn hóa, tình cảm của một vùng đất cố đô để trở
Trang 21những năm chiến tranh chống Mỹ Đặc biệt là được sống trong không khí cách mạng sôi sục của đồng bào miền Nam và tinh thần chiến đấu chống Mỹ của nhân dân cả nước, được đào tạo ở miền Bắc, lại sớm tiếp xúc một cách có chọn lọc văn học đô thị miền Nam, thông qua các bạn văn: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao điều đó góp phần hình thành phong cách của Nguyễn Khoa Điềm ngay trong những sáng tác đầu tay.
Nguyễn Khoa Điềm xuất thân trong một gia đình trí thức cách mạng Ông thuộc dòng dõi quan Nội tán Nguyễn Khoa Đăng, cháu nữ sĩ Đạm Phương, con trai nhà văn Hải Triều (Nguyễn Khoa Văn) Nguyễn Khoa Điềm cất tiếng khóc chào đời
ở thôn Ưu Điềm (Phong Hòa, Phong Điền, Thừa Thiên -Huế) vào ngày 15 tháng 4
năm 1943 Cái tên Ưu Điềm không ngờ lại ứng với bản tính Nguyễn Khoa Điềm -
một người hay ưu tư, suy nghĩ, điềm đạm và trầm lặng Lên mười một tuổi, Nguyễn Khoa Điềm đã mồ côi cha Thời thơ ấu ông lại sống trong ''khu phố buồn đau'', hàng
ngày chứng kiến cái cảnh: Những người dân nghèo ''như vỏ hến chiều chiều tấp lên
các bến '', với những đôi chân đất đội áo nối vai / le te chợ Hôm, chợ Mai / đầu tắt mặt tối Hình ảnh người mẹ ngồi bán hàng ''nước mắt thương chồng lạnh như hạt mưa đọng qua cửa thùng gương” cứ ám ảnh Nguyễn Khoa Điềm Năm mười hai
tuổi, ông lại phải sống xa mẹ (khi được một người bà con đưa ra miền Bắc) Có lẽ
vì thế mà ông hay suy tư về cuộc sống của những người dân lao động nghèo khổ Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, cùng một lứa với Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Nguyễn Khoa Điềm được trở về quê hương, hoạt động ở chiến trường Thừa Thiên - Huế Trong một trận càn, ông bị địch bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ suốt mấy tháng trời Mãi đến chiến dịch Mậu Thân (1968), ông mới được giải thoát, tiếp tục trở lại hoạt động Chính thời điểm này, Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu làm thơ
Sau Giải phóng miền Nam (1975), Nguyễn Khoa Điềm tham gia công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản; rồi đảm nhận các chức vụ như: Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Phó bí thư thường trực tỉnh uỷ Thửa Thiên - Huế Năm 1994,
Trang 22Nguyễn Khoa Điềm ra Hà Nội, giữ chức Thứ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin Năm
1995, được bầu làm Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam khóa 5 Năm 1996, được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8 bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, Đại biểu Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá X), Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin Năm 2001, giữ chức Trưởng ban Văn hoá, tư tưởng Trung
ương Ông đã được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ Ngôi nhà có
ngọn lửa ấm, giải thưởng Nhà nước năm 2001 về văn học nghệ thuật
So với các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm đến với thơ hơi muộn nhưng đã sớm định hình một giọng điệu riêng Qua các
tập thơ Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (Trường ca, 1974), Ngôi nhà có
ngọn lửa ấm (1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (1990), Cõi lặng (2007), ta bắt gặp
những suy tư của ông đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm về đời sống
xã hội, nhân tình thế thái Nói đến Nguyễn Khoa Điềm, ai cũng dễ dàng hình dung
ra một phong cách thơ đậm chất triết luận xuất phát từ vốn tri thức uyên bác và bề sâu văn hóa trong mối liên tưởng vừa sâu sắc triết lý vừa huyền ảo thấp thoáng bóng dáng văn hóa cổ xưa của hồn dân tộc Nguyễn Khoa Điềm lại được sinh ra và lớn lên giữa lòng chiếc nôi văn hóa Huế Chính cái chất Huế thâm trầm, hoàng thành rêu phong ngả bóng làm nhuộm tím nước con sông Hương biếc xanh càng khiến thơ Nguyễn Khoa Điềm sâu kín và loáng thoáng chút bí ẩn mơ hồ Lý giải điều này, Nguyễn Khoa Điềm khẳng định: Mối quan hệ giữa văn hóa và thơ là mối quan hệ máu thịt, đặc biệt là đối với cái thời mà kẻ thù muốn hủy diệt chúng ta cả
về văn hóa: “trong cái không khí sặc mùi khói súng ấy, giữa cái giáp ranh giữa sự sống và cái chết, tôi muốn đưa vào bài thơ những hình ảnh đậm nét văn hóa nhất của quê hương, đất nước mình”[23, tr.124]
Gắn bó với cố đô, với dòng Hương giang như chiếc nôi đưa của văn hóa Huế, lại chứng kiến bao thăng trầm lịch sử trên mảnh đất thần kinh, Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận rất rõ về sự ảnh hưởng của văn hóa Huế trong thơ ca: “Tôi thường nhìn thấy Huế trong dáng vẻ u trầm Những rêu phong cổ kính ở đó đều mang nét u trầm
Trang 23và buồn… Huế cũng đã một lần “tiêu thổ kháng chiến” và Huế Mậu Thân bị bom đạn tàn phá ghê gớm Thân phận hoài nhớ vàng son của người Huế đã khiến cho xứ này trầm xuống Người ta luôn sống với chiều sâu tâm linh Có lẽ vì thế mà nhiều nhà thơ gặp Huế đã để lại những bài thơ hay, ảo diệu và sâu sắc… Huế đẹp và gian khổ luôn ám ảnh tôi”[11, tr.5]
Hầu hết đề tài trong thơ Nguyễn Khoa Điềm đều được rút ra từ mảnh đất Huế, ngoại ô Huế và “ngoại ô mở rộng” của chiến trường Trị Thiên Nguyễn Khoa Điềm
có ý thức về điều đó, và ngược lại, điều đó đến với ông một cách tự nhiên Nguyễn Khoa Điềm sinh ra ở đấy, lớn lên ở đấy, chiến đấu ở đấy và trở về sinh sống cũng tại đấy Lịch sử Huế, nền văn hóa Huế, hơi thở đời sống hàng ngày của cố đô thấm vào máu thịt ông và cảm xúc về Huế chan chứa trong thơ ca Chính điều này đã góp một phần quan trọng tạo nên bản lĩnh riêng cho thơ Nguyễn Khoa Điềm
Ngay từ tập thơ đầu tiên Đất ngoại ô, Nguyễn Khoa Điềm đã gây tượng ở một
giọng điệu thơ khá mới mẻ Các câu thơ được kéo dài một cách tự do phóng khoáng, không quá câu nệ vào vần điệu Lời thơ tự nhiên, gần với lời ăn tiếng nói
hàng ngày Những câu thơ, những đoạn thơ trong Đất ngoại ô chứa đầy suy tư Từ quá khứ, nhà thơ đối chiếu với hiện tại: Vườn thơ xưa không có gã áo trắng đi về /
Ngơ ngẩn đọc thơ buồn trong tiếng guốc cạo râu / Chỉ còn người phu xe cũ / Nghiêng cốc rượu chiều nhòe những mái tôn Nhà thơ nhìn thấy trong cái nắng
tháng năm "run rẩy những oan hồn", và tự hỏi: "Ôi mùa phượng hay lòng tôi cháy
đỏ?" Ngọn lửa căm thù của đồng bào miền Nam đã biến thành giông bão: Sức trăm năm rung chuyển xuống lòng đường / Cả ngoại ô làm chiến lũy sông Hương Đất ngoại ô chiếm một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp thi ca của Nguyễn Khoa Điềm Nó
mở cho ông một hướng đi riêng, một cách nói năng, một giọng điệu riêng trong dòng thơ chống Mỹ Tập thơ ngập tràn những suy tư của tác giả về cuộc sống lam lũ
của người dân lao động (Những đồng tiền ngoại ô); về tình cảnh đau thương của đất nước (Nơi Bác từng qua); về tình bạn bè, đồng đội (Bếp lửa rừng), về tình mẫu tử
và tình yêu nước (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)…
Trang 24Bước sang trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm vẫn tiếp tục
mạch suy tư về nhân dân, đất nước bằng lối thể hiện tự nhiên, bình dị, phóng khoáng, hiện đại vốn có của mình Bản trường ca này Nguyễn Khoa Điềm viết trong những tháng ngày địch bắn phá vùng chiến khu Trị Thiên vô cùng ác liệt Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân kể rằng bản thảo đầu tiên của trường ca này bị bom thả bay tung hết Nguyễn Khoa Điềm phải ngồi viết lại từng chương một, hoàn thành vào năm 1971 và mãi đến 1974 mới ra mắt bạn đọc Thanh niên trí thức yêu nước ở các
đô thị miền Nam lúc bấy giờ rất tâm đắc với bản trường ca này vì họ tìm được ở đó những tâm tư sâu kín của mình
Sau ngày nước nhà thống nhất, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lần lượt được giao nhiều trọng trách nên ít có thời gian làm thơ Tuy vậy, vào năm 1986, ông vẫn cho
ra đời tập Ngôi nhà có ngọn lửa ấm Chỉ một thời gian ngắn sau khi nghỉ hưu, Nguyễn Khoa Điềm đã hoàn thành tập thơ Cõi lặng (NXB Văn học - 2007) Trong
Ngôi nhà có ngọn lửa ấm và Cõi lặng, Nguyễn Khoa Điềm nghiêng về chiêm
nghiệm đời sống xã hội, nhân tình thế thái Bên cạnh những cái hay, cái đẹp, nhà thơ còn nhận thấy những cái chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống hiện tại Và để có được những giây phút bình thản, thoải mái, thanh tịnh, nhà thơ tìm cách hòa mình
và thiên nhiên: Nhưng chiều nay có còn bò gặm cỏ / Bên dòng sông như chưa biết
chiều tan / Tôi với nó lặng tim bè bạn / Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang
(Chiều Hương Giang) Những chiêm nghiệm này không chỉ cần thiết cho bản thân
tác giả mà còn là những bài học hết sức quý giá cho tất cả mọi người
Trang 25Chương 2: CẢM THỨC VĂN HÓA TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Làm cho “tư liệu văn hóa” trong thơ sáng bừng lên giá trị thẩm mỹ mang tính lay động cao không phải nhà thơ nào cũng thành công, chưa kể đến những vốn liếng văn hóa ấy phải được đan quyện vào và chung sống cùng hiện thực thời đại Trong thơ ca Việt Nam có không ít tác giả đã sử dụng vốn văn hóa làm nền tảng sáng tạo… Nhưng sử dụng vốn văn hóa truyền thống và văn hóa vùng miền đặt trong trường liên tưởng mạnh mẽ của hiện thực cuộc sống để tạo nên gương mặt thơ riêng, không phải ai cũng thành công như Nguyễn Khoa Điềm
Tình yêu Huế thành kính đã trở thành nguồn mạch chủ đạo trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Lấy văn hóa truyền thống và văn hóa Huế làm trục chính, Nguyễn Khoa Điềm đã tái hiện không gian cố đô Huế là sự kết hợp tinh tế, hài hoà giữa truyền thống và hiện đại Vẻ đẹp, sức sống Huế đậm đặc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm với những ấn tượng khó quên và một sức sống bền bỉ, mãnh liệt
2.1 Sự gắn bó, tự hào về quê hương
Mỗi nhà thơ đều mang trong mình một miền quê để nhớ, để nâng niu, tôn thờ Mảnh đất quê hương là cội nguồn, là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn thi nhân từ thuở
ấu thơ Làm thơ về quê hương, ấy là ước nguyện chung của bao thi sĩ nhưng để lưu danh nơi mình đã sinh ra cùng thơ ca không phải ai cũng thành công Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ đã thể hiện sâu sắc, cháy bỏng tình yêu quê hương trong thơ mình Nhớ đến Nguyễn Khoa Điềm sẽ nhớ đến một nhà thơ của mảnh đất cố đô Hơn thế nữa, bằng tình yêu chân thành, sâu nặng, Nguyễn Khoa Điềm đã khắc họa, miêu tả
vẻ đẹp, cuộc sống, bản sắc cố đô Huế qua thơ Người đọc biết đến thơ của Nguyễn Khoa Điềm khi thành phố Huế quê hương ông đang thu hút sự chú ý với những chiến công anh hùng và bất tử trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy năm 68 Là một trong số những nhà thơ trẻ trong cuộc tấn công ấy, Nguyễn Khoa Điềm sôi nổi ca ngợi quê hương chiến đấu với con sông Hương, sông Bồ, cầu Trường Tiền, thôn Vỹ Dạ…, với những con đường dài dằng dặc đỏ rực màu hoa phượng
Trang 26Đã từ lâu, Huế thơ kết tinh trong con người Huế từ điệu đi, dáng đứng, kết tinh trong núi Huế, cây Huế, vườn Huế, trong từng cơn chớp biển mưa nguồn đan chen trong không gian nội tâm tình cảm, trở thành tiếng gọi từ nơi sâu kín nhất của hồn người Hoàng Ngọc Hiến cho rằng chính cái nết đất nết người Huế như hòa đồng với phẩm chất của thơ Vùng văn hoá ấy đã tạo nên cảm hứng, tác động sâu sắc đến tâm hồn của bao thế hệ văn nghệ sĩ, trong đó có nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
Các tập thơ Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng (trường ca), Ngôi nhà có ngọn
lửa ấm, Cõi lặng của Nguyễn Khoa Điềm cũng đều là những tập thơ xuất phát từ
mối rung cảm, hoài niệm về một vùng quê, thấm đẫm chất trữ tình bay bổng của một vùng văn hoá phồn thịnh Qua những vần thơ quê hương của Nguyễn Khoa Điềm, ta nhận thấy không chỉ tình cảm yêu mến, gắn bó, tự hào mà còn có cả lòng biết ơn vô bờ bến của nhà thơ với mảnh đất nơi đã sinh thành ra mình, chứng kiến
và nuôi dưỡng bước đường trưởng thành trong hành trình cuộc đời nhà thơ, cũng là nơi luôn sẵn sàng mở rộng vòng tay chào đón đứa con đi xa trở về
Nguyễn Khoa Điềm đã phản ánh một thế giới Huế với đầy đủ, đặc sắc những nét văn hoá, truyền thống anh hùng, vẻ đẹp tình người, sức sống bền bỉ của từng người dân quê Ta có thể tìm thấy trong thi phẩm của ông những sông núi, chùa chiền, góc phố, tên đường xứ Huế, thấy không khí đấu tranh sôi nổi, hào hùng, thấy hình ảnh những người lao động lam lũ nhưng giàu tình yêu thương xứ Huế, cũng như thấy những suy tư của ông đối với nhân dân, đất nước; những chiêm nghiệm về đời sống xã hội, nhân tình thế thái…
2.1.1 Thiên nhiên miền sông Hương núi Ngự
Là một vùng văn hóa mang đậm sắc thái truyền thống của Việt Nam, Huế ẩn chứa trong lòng mình nhiều giá trị văn hóa độc đáo, là thể hiện sinh động của một thời phát triển của vùng đất kinh đô - nơi hội tụ tinh hoa văn hóa của cả nước Huế còn nổi tiếng là vùng đất của khung cảnh thiên nhiên thơ mộng trong dáng vẻ u trầm, là không gian cổ điển Phương Đông thuần khiết Tất cả đất trời như một bức tranh thủy mạc Huế là chốn của những mái cong đền cổ thấp thoáng dưới bóng
Trang 27vườn xanh, của những thành quách, cung điện, lăng tẩm, của dòng sông Hương như một làn hương thơm thả vào hồn phố
Theo cách lý giải của Hoàng Phủ Ngọc Tường, “có lẽ thiên nhiên đã giữ một vai trò nào đó, thực quan trọng, trong sự tổng hợp nên cái mà người ta có thể gọi là
“bản sắc Huế” Bởi vì thiên nhiên bao giờ cũng biểu hiện một cách nhất quán giữa cái hằng cửu và cái biến dịch, giữa cái biến động và cái tĩnh tại Hình như khi xây dựng nên đô thị của mình, người Huế không bộc lộ cái ham muốn chế ngự thiên nhiên theo cách người Hy Lạp và người La Mã, mà chỉ tìm cách tổ chức thiên nhiên trở thành một “kẻ có văn hóa” để có thể tham dự một cách hài hòa vào cuộc sống của con người, cả bên ngoài và bên trong Lớn lên ở Huế, không lúc nào tôi không cảm thấy thành phố nầy như một khu vườn thân mật của mình Ở đó, tôi có thể tư duy cùng với hoa sen, khát vọng với hoa phượng, mơ mộng với mùi hương sâu thẳm của hoa ngọc lan ban đêm, và khi thành phố lộng lẫy trong sắc mai vàng mùa Xuân, không hiểu sao lại thấy lòng thức dậy một niềm ngưỡng mộ bao la đối với cuộc sống”
Cảnh sắc thiên nhiên xứ sở này đã đi vào thơ văn của biết bao thi nhân, văn nhân trên mọi miền đất nước Là một con người của sông Hương núi Ngự, dường như Nguyễn Khoa Điềm cũng cảm nhận rõ: được sinh ra và lớn lên trên quê hương này là một vinh dự
- Cảm ơn mẹ sinh con trên thành phố Ngàn ngày nắng và mưa, mười lăm năm bỡ ngỡ
(Đất ngoại ô)
- Và Ưu Điềm nơi mẹ đẻ ra tôi Chao thương nhớ là tiếng bìm bịp nước Ngày ba bữa nghẹn khoai và rau luộc Hai mươi năm vẫn thắc thỏm một ngày về (Gửi anh Tường)
Trang 28Có thể nói, chính cái hồn của mảnh đất Huế, đặc trưng thiên nhiên xứ Huế, những cuộc đấu tranh ác liệt trên chiến trường Huế đã góp một phần không nhỏ đưa Nguyễn Khoa Điềm đến với thơ, như chính ông khẳng định: “Tôi thường nhìn thấy Huế trong dáng vẻ u trầm Những rêu phong cổ kính ở đó đều mang nét u trầm và buồn… Huế cũng đã một lần “tiêu thổ kháng chiến” và Huế Mậu Thân bị bom đạn tàn phá ghê gớm Thân phận hoài nhớ vàng son của người Huế đã khiến cho xứ này trầm xuống Người ta luôn sống với chiều sâu tâm linh Có lẽ vì thế mà nhiều nhà thơ gặp Huế đã để lại những bài thơ hay, ảo diệu và sâu sắc… Huế đẹp và gian khổ luôn ám ảnh tôi” Với lòng biết ơn vô hạn đó, nhà thơ đã dùng tài thơ của mình để
viết nên những dòng tâm huyết cho quê hương:
Mặt đất quê hương là tấm gương sáng rực Soi bóng chúng con trong sông núi tự hào (Thưa mẹ con đi)
Quê hương xứ Huế ấy - một vùng miền thơ mộng đã đi vào thi ca, hội họa, một
xứ sở được mệnh danh là “bài thơ đô thị”, quê xứ của “thanh sắc thi ca” đã được cả thế giới công nhận là di sản văn hóa thế giới bởi quần thể di tích gồm hệ thống kinh thành, lăng tẩm, miếu chùa, đền đài và cả một nền âm nhạc cung đình vừa được
ấn chứng là di sản văn hóa phi vật thể Huế - dù ở thời nào cũng có nhiều khoảng lặng trầm sâu khơi dậy những cảm hứng và ý tưởng sáng tạo cho các thi nhân, là
tấm gương, là niềm tự hào không khi nào phai nhạt của những người con đất cố đô
Với Nguyễn Khoa Điềm, Huế cũng đã trở thành một không gian tinh thần, không gian thơ riêng biệt, đặc sắc Huế được tái hiện qua nhiều chiều, nhiều góc nhìn: Huế của quá khứ, hiện tại, tương lai, Huế với cảnh sắc thiên nhiên, Huế của
những nét đẹp cả văn hoá vật thể và phi vật thể… Khảo sát trong trường ca Mặt
đường khát vọng và ba tập thơ Đất ngoại ô, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Cõi lặng,
chúng tôi nhận thấy cái tên Huế được trực tiếp nhắc đến 9 lần; các từ gián tiếp chỉ
Huế cũng xuất hiện nhiều như: quê hương (quê nhà, quê ta): 35 lần; thành phố: 52 lần, căn nhà, góc phố: 22 lần Bên cạnh đó, các địa danh cụ thể của Huế cũng liên
Trang 29tiếp được dùng như sông Hương: 58 lần; trường thành, đô thành, kinh đô, Đại nội:
15 lần Ngoài ra, các địa danh khác như: nhà thờ Cứu thế, Phu Văn Lâu, Mang Cá,
Phú Bài, Cửa Thuận An, A Đời, Phá Tam Giang, Chợ Gia Lạc, Ưu Điềm, Vỹ Dạ, Phú Vang, Khe Tràm Am, bến Hà Khê, Đông Ba, chùa Thiên Mụ… cũng được gọi
tên nhiều lần trong những bài thơ khác nhau Thực ra, không chỉ đơn thuần căn cứ vào những con số thống kê đơn giản để kết luận về tư tưởng tình cảm của một người nghệ sĩ Nhưng việc lượng hoá có ý nghĩa hỗ trợ nhiều cho việc khái quát một nhận định nào đó để có sức thuyết phục cao hơn Do đó, ở đây không chỉ còn là những con số định lượng khô khan, ngược lại nó có ý nghĩa phần nào nói lên được
sự hiện diện của mảnh đất quê hương, cái sắc màu Huế đậm đà trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Nhà thơ đã gọi ra được cái hồn quê ấy bằng tiếng thơ da diết, ngọt ngào:
Có thành phố cổ giàu mưa nắng
Bóng nón đi về thêm thiết tha
(Người con gái chằm nón bài thơ)
Nói đến Huế là nói đến dòng sông Hương bởi sông Hương mang nét đẹp đặc trưng của thiên nhiên Huế Từ Trường Sơn hùng vĩ, sông Hương nhẹ nhàng uốn lượn qua các miền thôn quê, dùng dằng trôi giữa lòng thành phố như một dải lụa rồi lại tiếp tục cuộc hành trình thẳng Ngã Ba Sình rồi đổ ra phá Tam Giang Cùng với biết bao áng thơ văn khác ca ngợi dòng Hương giang, Nguyễn Khoa Điềm một lần nữa làm nổi danh dòng sông ấy trong một buổi chiều:
Những buổi chiều, những buổi chiều quê hương Tôi đã sống và tôi chưa được sống…
Nhưng chiều nay, vô tình trong nắng muộn Mắt tôi nhìn trong suốt nước Hương Giang
(Chiều Hương giang)
Nguyễn Khoa Điềm đã đưa vào thơ của mình một dòng Hương dịu dàng trong ánh nắng buổi hoàng hôn với "cơn gió thổi những buổi chiều chưa tới” Giữa cái
Trang 30nhìn trong suốt nước Hương giang là khoảng thời gian quý báu để lắng đọng tâm
hồn mình, lánh xa bụi trần, tìm đến những gì bình yên và thanh thản nhất Đó là một chút cảnh xinh xinh, một chút tình phảng phất trong những vần thơ nhẹ nhàng và lặng lẽ như dòng Hương thủy trong veo Nét buồn của sông Hương, của Huế là nét buồn đẹp, buồn của tri âm, của nhớ thương, của thế thái nhân tình, của những khát khao và hy vọng Đó cũng là nỗi lòng sâu thẳm của một vùng đất nhiều biến động thăng trầm, nhiều trầm tích văn hóa mà ta chưa đi đến tận cùng Mà nỗi buồn thì bao giờ cũng gần với thơ hơn cả Nó như là biểu hiện của tâm hồn, của cách sống không nông cạn, nhạt nhẽo và hời hợt
Nói đến sông Hương mà không nói đến cầu Trường Tiền chắc hẳn sẽ là một thiếu sót Bởi cây cầu này cùng với dòng sông Hương đã trở thành một trong những biểu tượng của Huế, có mặt trong rất nhiều câu thơ, lời ca, bức họa về xứ sở này Đến lượt Nguyễn Khoa Điềm, vẫn là cây cầu, dòng sông ấy nhưng với những cung bậc cảm xúc khác nhau dường như lại được khoác một dáng vẻ mới trong cảm nhận tinh tế và trường liên tưởng, so sánh độc đáo Đây là cây cầu trong nỗi đau khôn khiết khi Huế bị tàn phá bởi chiến tranh:
Tay ta đau với trường thành vỡ rạn
Và cây cầu như tiếng nấc nằm ngang
(Con chim thời gian)
Và trong niềm vui phơi phới của ngày độc lập, thống nhất đất nước:
Tôi qua dòng sông yên tĩnh
Con cầu như tiếng ngân vui
(Ngày vui)
Cũng vẫn là cây cầu ấy trong trường liên tưởng rộng mở nối liền mọi khoảng
cách không gian và thời gian: Và cầu Trường Tiền - Như một dấu nối - Giữa đất đai
- đất đai - Giữa con người – con người - Giữa hôm nay - lịch sử - Giữa anh – em (Mặt đường khát vọng)
Trang 31Có lẽ không chỉ nhà thơ mà bất kỳ ai biết Huế, biết yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp hẳn cũng sẽ ngẩn ngơ trước những tuyệt tác hài hòa này Gắn với sông Hương phẳng lặng là một Huế cổ kính, trầm tư, nhiều u hoài Phải chăng Huế hay trầm tư,
u hoài vì dòng đời luôn chảy trong bóng lũy thành của những triều vua đã quá vãng nhưng dấu vết của thời vàng son đó vẫn còn hiện hiển giữa bạch nhật thanh thiên:
Bạn có biết Những chiếc lá bàng đỏ đã phủ dày trước cổng Người đàn bà đi xa
Và trước mặt, dòng sông tĩnh lặng ngược nước về dĩ vãng
….Dưới bóng thông Khiêm lăng Con ngựa đá già
Đập móng lúc nửa đêm Đòi trở lại kinh thành cũ
(Thành phố, sớm xuân)
Huế bao đời vẫn nổi tiếng vì nét đẹp thâm trầm, yên bình Đi trong lòng Huế, từng âm thanh nhỏ cũng đủ gợi lên những cảm xúc bồi hồi, đắm say trong tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm:
Thành phố dịu dàng lên những hợp âm Con sóng vỗ vào khe đá Thương bạc Tiếng guốc gỗ lối hoàng cung tím ngát Cuốn rì rào phố xá đi xa
Biết bao điều ta có trong ta Từng tiếng dẻ rơi, cái trở mình thành phố
Một vẻ đẹp rất riêng, rất Huế: nhẹ nhàng và sâu lắng, yên ắng và dịu hiền Hẳn Nguyễn Khoa Điềm đã trải rộng tâm hồn yêu cái đẹp, yêu thơ của mình ra để nắm bắt được cái hồn của thiên nhiên xứ Huế như thế này:
Những hàng phượng mang nắng từ trên vai thành phố Bạn nghe tiếng trở mình của thành phố thân yêu
Trang 32Mây trắng chất ngất và lòng ta đầy dự tưởng Những em bé nhặt lá khô bên lề đường
Những câu thơ nói về trạng thái động của sự vật, hiện tượng nhưng lại toát lên một sự tĩnh lặng của cảnh Huế, bởi tất cả những bông phượng, mây trắng, đám lá
khô và cái hành động nhặt kia đều rất nhẹ nhàng, rất dịu dàng Chừng ấy chuyển động để gợi lên toàn cảnh yên tĩnh rất nên thơ, để cảm nhận được rõ cả tiếng trở
mình của thành phố
Nơi xứ Huế, thấm đượm một cái buồn âm thầm, lặng lẽ, thấm thía vô cùng Cái buồn không nước mắt, cái buồn điệu Nam ai, Nam bình trên sông Hương:
Những mùa thu im lìm lá đổ Như vùi sâu cả bầu trời xứ sở Xuống lòng sông nức nở khúc Nam ai
(Nơi Bác từng qua)
Đó có thể là những lúc ngồi bên hiên phố nhìn lá vàng bay mà thấy lòng yên ắng lạ thường Phía sâu thẳm của dòng Hương văng vẳng điệu Nam Ai, Nam Bình sao mà thê thiết, bi ai, bùi ngùi Không gian Huế là không gian của hoài niệm, khung trời xưa sẽ hiện về khi đâu đó trong không gian ngân vọng một điệu hò Mỗi bước đi thời gian mang đến cho Huế một vẻ đẹp mới Nguyễn Khoa Điềm cũng cảm nhận rõ, ngoài những màu thông thường thì sắc màu của không gian Huế thay đổi theo bốn mùa Mùa Xuân, không gian Huế nở rộ những gam màu của các
loài hoa Mùa Hạ sáng trong về dưới nền trời lao xao bóng nắng Mùa Thu nhẹ nhàng đến với âm thanh tinh tế của tiếng hạt dẻ gai rơi giòn mặt cỏ và như được
phủ một màn mưa trắng đục lất phất buồn Mùa Đông, không gian xứ Huế tản mác đâu đó những điểm nhấn mang màu hoài cổ nơi những chiếc lá vàng cuối cùng còn
sót lại cũng lìa cành:
Những bước chân nghiêng đầu ngón Bước mùa hè xao lên bóng nắng Bước mùa đông len lỏi lá vàng quay
Trang 33Mùa thu này em sẽ không quên Những hạt dẻ gai rơi giòn mặt cỏ Mùa xuân theo em đó
Những cánh rừng hoa lau mênh mông…
(Mùa xuân ở A Đời)
Chất Huế trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là địa danh, thắng cảnh mà còn là cái bàng bạc sương khói mờ ảo, cái xanh biếc dịu dàng, chất mộng mơ, lãng đãng của xứ Huế:
Yêu em, yêu cả khoảng trời
Sương giăng buổi sớm, nắng dời chiều hôm
Tháng tư giông chuyển bồn chồn
Hạt mưa vây ấm, nỗi buồn cách xa…
(Khoảng trời yêu dấu)
Những câu thơ man mác thấm đượm một chút gì riêng của Huế, của Nguyễn Khoa Điềm Suốt cả đoạn thơ, ta không thấy ngổn ngang những tên đất, tên sông, không bộn bề những chi tiết về phong tục tập quán, lịch sử của Huế, nhưng tâm hồn Huế vẫn dịu dàng ở phía sau mỗi vần thơ
Nói đến thiên nhiên Huế mà chỉ nói đến vẻ đẹp, vẻ nên thơ có lẽ chưa đầy đủ Hình ảnh Huế những tháng ngày chiến tranh, bom đạn khốc liệt hiện lên trong thơ Nguyễn Khoa Điềm đầy đau thương nhưng cũng rất oai hùng Khi Huế bị giày xéo
bởi những lốt giày viễn chinh, khi thành phố đã đầy bóng giặc, cái vẻ nên thơ, bình
yên vốn có của Huế cũng mang đến một cảm giác khác, không khiến lòng người bình yên:
Dẫu thành phố hoàng hôn Chuông thu không hai mươi ngôi chùa thong thả Dẫu bầu trời ta ở
Nóc nhà thờ Cứu thế như một lời xin Lòng ta không bình yên
Trang 34(Mặt đường khát vọng)
Thơ Nguyễn Khoa Điềm trở thành bức tranh tô đậm những màu sắc đau thương về mảnh đất quê hương những tháng ngày chinh chiến Nỗi đau thương như một dòng cảm xúc uất nghẹn, đầy tiếc nuối và thảng thốt Những hình ảnh quen thuộc về một xứ Huế mộng mơ, yên bình đã thay thế bằng hình ảnh xa lạ, tang tóc
Huế cũng như sông Hương: sông Hương ngày thường của thơ nhạc, của
"Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng, Cô gái Kim Long yểu điệu chèo" (Nam Trân), sông Hương mùa lũ của mất mát, đau thương, đói khổ và trên mặt nước sông Hương cũng không thể nào phai nhạt những sự kiện lịch sử mà không nơi nào có được:
Khi tên lính Pháp cuối cùng đi đến trước dòng sông Vươn qua thành cầu soi mặt mình dưới nước
Nó bỗng nhổ nước bọt vào nơi nó vừa ngắm được Khuôn mặt chủ nghĩa thực dân cũ tan rồi trên sông nước quê ta
Nhưng dòng sông ấy không chỉ mang trong lòng nó những lời thở than nghẹn đắng mà trước hiện thực cuộc đấu tranh của dân tộc, của thành phố Huế, dòng sông
Trang 35Hương hiền hòa nổi sóng, trở thành một người chiến sĩ gan dạ, nối tiếp truyền thống anh hùng của cha ông:
Ta quay nhìn Sông đã hóa mênh mông
Từ trầm rư, sông vỗ sóng trùng trùng Nối lịch sử những bờ không giới hạn Những cam kết hôm nay với trăm đấng anh hùng
Cả đô thành Huế đã vùng lên ào ào như thác lũ trong tiếng kêu gọi, giục giã đấu tranh chống kẻ thù xâm lược Khắp nơi nơi vang vọng hào khí ngút trời, bừng bừng dữ dội:
Thành phố ơi, những mái ngói ngang trời Mang dáng con cá kình xuống biển
Sóng đã vỗ bừng bừng trên sáu huyện Dậy lên rồi! Thành phố dậy mà đi
Sự kỳ diệu của thiên nhiên đã góp phần tạo nên "bản sắc Huế" cũng như thể hiện những nét đặc trưng của bản sắc văn hóa Huế đó trong thi ca Đó là cái chất vừa sâu lắng mang tính siêu hình và vừa dữ dội mang tính cách mạng của đời thường Hai cái tính ấy xem như trái ngược nhau nhưng luôn luôn đi với nhau giống như một câu đối Không ai treo một vế đối nên không ai có thể nói Huế là thâm trầm sâu lắng hay Huế là dữ dội cách mạng Huế là một đôi: sâu lắng và dữ dội Với bầu nhiệt huyết sáng tạo của mình, Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ xứ Huế đã dành cho quê mẹ những bài thơ ngợi ca chân thành, tha thiết nhất Thiên nhiên Huế đã đi vào thơ Nguyễn Khoa Điềm đẹp như một huyền thoại và cũng chân thực đến từng đường nét Nhà thơ gửi nỗi niềm tha thiết mến yêu vào từng dòng sông, ngọn núi, những tên đất, tên làng và mở rộng mắt nhìn để thu lấy tất cả những hình ảnh đẹp trong thanh bình cũng như trong chiến đấu của quê hương
Trang 362.1.2 Cuộc sống, con người xứ Huế
Xứ Huế không chỉ mang vẻ đẹp ở một điểm nào đó mà xứ Huế là một vùng đất trọn vẹn, hài hoà giữa thiên nhiên và con người Sinh sống trên một vùng đất đã từng là lợi địa của một thế kỷ rưỡi vương triều, cuộc sống và con người xứ Huế đã được xây đắp những giá trị tập truyền, hình thành những nếp gấp trong suy nghĩ, đời sống, phong cách ăn và mặc, nói năng, ứng xử rất riêng biệt Là một người con xứ Huế, Nguyễn Khoa Điềm đã phản ánh một cách chân thực, sâu sắc hình ảnh
về cuộc sống, con người xứ Huế trong các tập thơ: Đất ngoại ô, Mặt đường khát
vọng (trường ca), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Cõi lặng
Sinh ra trên mảnh đất cố đô, thời thơ ấu Nguyễn Khoa Điềm sống trong ''khu phố buồn đau'', chứng kiến cuộc sống lam lũ, vất vả của người dân quê Trong tâm hồn nhà thơ, từ thuở bé đã thấm đẫm những âm hưởng, sắc màu của cuộc sống xứ Huế với biết bao thăng trầm, bao cảnh ngộ Nó đã ngấm sâu, tác động và ảnh hưởng rất nhiều vào cuộc đời, giọng điệu thơ Nguyễn Khoa Điềm như tác giả đã từng khẳng định: “Tôi nghiệm ra một điều, thời niên thiếu sinh sống thế nào thì nó in đậm vào hồn anh, thơ anh như thế” Bởi vậy, ngay trong những sáng tác đầu tay, Nguyễn Khoa Điềm dành trọn tâm huyết cho việc khắc hoạ cuộc sống, con người
nơi Đất ngoại ô:
Khu phố ngoại ô Tầm tã rụng bên dòng sông những người dân nghèo về đây như vỏ hến chiều chiều tấp lên các bến
Những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã tái hiện chân thật cuộc sống gần gũi, đời thường của xứ Huế những năm chiến tranh chống Mỹ Đó là cuộc sống
nghèo khó, đầu tắt mặt tối nơi khu phố ngoại ô Hình ảnh so sánh những người dân
nghèo về đây - như vỏ hến chiều chiều tấp lên các bến vừa mang nét đặc trưng quen
thuộc của xứ Huế (nơi nổi tiếng với những cồn hến), vừa đặc tả sự nhỏ bé, lam lũ
Trang 37của người dân quê Trong cuộc sống nghèo khổ ấy, hình ảnh những người lao động được miêu tả cụ thể:
…Chỉ còn người phu xe cũ
nghiêng cốc rượu chiều nhòe những mái tôn
Chỉ có nắng trời làm rát mặt những quán nghèo bám bờ đường nhựa
Chỉ còn mẹ tôi ngồi bán hàng suốt mùa mưa
Nước mắt thương chồng lạnh như hạt mưa đọng qua cửa thùng gương
Ôi những cuộc đời sụt lở dần theo con nước mỗi năm lùa vô Đập Đá
(Đất ngoại ô)
Đọc những câu thơ trên, có thể thấy, dường như chính cái buồn, cái phẳng lặng, cái sâu lắng đã tạo nên nét riêng cho con người và cảnh vật Huế Thơ Nguyễn Khoa Điềm bắt nhịp vào những cái đó của Huế nên đã tạo ra được những áng thơ hay khi viết về vùng đất này Nguyễn Khoa Điềm đã nói về Huế bằng một giọng trầm, giọng trung, từ tốn, thong thả mà lắng đọng, diết da, với một sức ám ảnh lớn, gây ấn tượng cho người đọc
Ngoài việc miêu tả cuộc sống nghèo nơi khu phố ngoại ô, Nguyễn Khoa Điềm cũng dành những trang viết về cuộc sống cơ cực, thiếu thốn của người dân miền núi
xứ Huế: Nhưng đồng bào còn đói - Người già còn đau - Rựa chưa lên rẫy -Trẻ chưa
học bài (Mùa xuân ở A Đời); Và sự vất vả, đối mặt với bao thử thách giữa biển khơi
của những ngư dân: Con nước săng sóng táp thuyền ràn rạt - Anh em ơi ta hiệp sức
cho đồng - Biển cồn cào phơi ngực giữa mênh mông - Sóng trở dạ phập phồng sinh
Thơ nổi tiếng của quê hương “Bàn tay xây lá, tay xuyên chỉ - Làm nên êm mát
Trang 38những trưa hanh - Bài thơ nho nhỏ in màu nắng - Dọi xuống hồn ai những khoảng xanh; là hình ảnh vạm vỡ, khỏe mạnh của người ngư dân vẫn còn đôi tay lực lưỡng – Chém qua sóng một mái chèo – Thách thức gian nan
Đặc biệt là, dù sống trong những hoàn cảnh thật khó khăn, những con người đó vẫn giữ gìn truyền thống của cha ông và phẩm chất đáng quý của lòng yêu nước, hiếu nghĩa:
…Sắc đẹp nghìn xưa thấm từng trang lịch sử Đời bà con nghèo đọng giữa đáy truyền đơn Nước mặn lên lúa héo ở bên cồn
Mẹ vẫn dặn "đổi nước ngọt" chứ đừng "bán nước"
Nắng tháng năm run rẩy những oan hồn Người còn sống nhớ "Ngày thất thủ"
(Đất ngoại ô)
Trước hoàn cảnh đất nước bị xâm lăng, quê hương bị giày xéo bởi kẻ thù, không ai khác, cũng chính những người lao động cần cù, lam lũ ấy đã hòa mình vào
cuộc đấu tranh chung, tạo nên một sức mạnh tổng hợp:
Thành phố hồi sinh trên khắp mặt đường Người xô cửa nhập với người, tiến bước Những người thợ một đời cần gang sắt Những mẹ nghèo buôn thúng bán lưng Những nông dân bị cướp ruộng, mất làng Những trí thức đau một thời chữ nghĩa
Em bé đánh giày, bậc tu hành cứu khổ Đều xuống đường chung một mạch tâm tư
(Mặt đường khát vọng)
Nếu không có sẵn những bằng chứng lịch sử cụ thể, hùng hồn thì ít ai ngờ rằng, cái đất Huế trầm mặc này lại có thể là sân khấu phát động, châm ngòi những biến cố lớn của đất nước từ trong lòng những học sinh sinh viên chăm học hoặc
Trang 39những chị tiểu thương hiền lành tần tảo Hóa ra đất Huế là đất nuôi trồng những thái cực, và con người xứ Huế cũng ẩn giấu trong tâm hồn mình những tính cách dường như đối lập: thật nhẹ nhàng, trầm lắng nhưng cũng vô cùng dữ dội, kiên quyết Trong nguồn cảm hứng viết về con người, cuộc sống xứ Huế, thơ Nguyễn Khoa Điềm nổi bật nhất là hình ảnh người thanh niên tri thức, học sinh - sinh viên Huế
Nhắc đến sinh viên Huế, không ai quên một thời “xuống đường” rực lửa đấu tranh đòi hoà bình, chống Mỹ, chống chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo, chống chính quyền Thiệu - Kỳ, chống văn hoá ngoại lai với những tên tuổi lừng danh cho đến hôm nay như Trần Quang Long, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Vàng Sao, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Ngọc San, Trần Hữu Lục, Bửu Chỉ, Thái Ngọc San, Lê Văn Ngăn, Trần Duy Phiên, Võ Quê, Phan Hữu Lượng, Trịnh Công Sơn, Nguỵ Ngữ, Đông Trình, Nguyễn Khoa Điềm, Bảo Cự, Trần Phá Nhạc, Bửu Chỉ Thế hệ sinh viên Huế ấy, có những người đã bị tù đày, hy sinh trong chiến tranh, còn những người còn sống, đa số họ hôm nay đã vào tuổi 65 - 73, trở thành những người trí thức văn nghệ sĩ tiếng tăm của đất nước Phải nói rằng, đó
là “thế hệ vàng” của Huế với chí khí và tài năng bừng sáng, là tấm gương sáng ngời cho các thế hệ sau noi theo
Là một người thanh niên trí thức trực tiếp hòa vào không khí hừng hực xuống đường đấu tranh ngày ấy nên trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, nổi bật nhất là hình ảnh người thanh niên tri thức, sinh viên Huế Viết về người thanh niên trí thức là Nguyễn Khoa Điềm viết về chính bản thân mình trong những năm chiến tranh chống Mỹ khốc liệt nhất Đứng từ đỉnh cao của lý tưởng, Nguyễn Khoa Điềm như muốn thay những học sinh - sinh viên vùng đô thị tạm chiếm miền Nam tổng kết quá trình từ những vật vã, băn khoăn suy nghĩ để tìm đến một nhận thức, một con đường đúng đắn: xuống đường đấu tranh
Trang 40Thế hệ thanh niên của Nguyễn Khoa Điềm lớn lên những năm tháng không
bình yên với bao nỗi buồn đã được gọi lên Trong tâm hồn họ chất chứa biết bao ưu
tư, băn khoăn và day dứt trước cảnh quê hương đã ngập bóng quân thù:
Ta lớn lên bối rối một sắc hồng Phượng cứ nở hoài hoà như đếm tuổi
Sự băn khoăn, day dứt ấy nhen nhóm và ngày càng tác động mạnh đến tâm hồn những học sinh – sinh viên Mỗi giờ học của họ là một giờ thức tỉnh, đi tìm căn
nguyên của nỗi đau:
Có gì đâu chúng con nhìn lên bản đồ Việt Nam
Sao Tổ quốc mà chỉ còn nửa nước Dẫu địa lý chúng con thường ít thuộc Nhưng nỗi đau này chúng con nhớ hơn (Mặt đường khát vọng)
Thành phố Huế sau cuộc tổng tấn công nổi dậy Tết Mậu Thân vô cùng ngột ngạt bị ghìm trong vòng vây của cảnh sát, an ninh, mật vụ Để tránh bị bắt bớ đi lính, hầu hết mọi người, nhất là những người thanh niên đều như giấu mình trong những lớp vỏ bọc
Chúng ta chưa qua một thời trai trẻ
Ra đường bị bắt lính ngay Nên phải ở những nơi gián ở Nên đeo gương cho cận thị suốt đời (…)Huỷ hoại hết những gì mẹ cha trao xương gửi thịt
Để vật vờ như cỏ lác đầu sông
(Mặt đường khát vọng)
Nhưng, càng trong lớp vỏ bọc ấy, tâm hồn những thanh niên - học sinh càng
không bình yên Họ nhận ra không chỉ “tội lỗi” với bản thân khi Huỷ hoại hết
những gì mẹ cha trao xương gửi thịt mà đã nhận ra con đường chân lý phải đi, đó là