1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu

90 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hai cuộc chiến thần thánh đã được khắc họa rõ nét trong những cuốn tiểu thuyết, những truyện ngắn đầy sức ám ảnh, những bài thơ phơi phới tinh thần lạc quan cách mạng… Với sự đa dạng, ph

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Dục Tú

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

1.2 Về hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của nhật ký chiến tranh 13

1.2.1 Về nhật ký chiến tranh và một số đặc điểm thể loại 13

1.2.2 Về hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của nhật ký chiến tranh 18

Chương 2: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA NHẬT KÝ

2.2.2 Suy nghĩ về đồng đội, về những người đã gặp khắp mọi miền

Trang 3

Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Chiến tranh đã qua hơn ba mươi năm nay, song dư âm của hai cuộc chiến “chấn động địa cầu” chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc dường như vẫn còn vang vọng trong tâm thức mỗi con người Việt Nam Hai cuộc chiến thần thánh đã được khắc họa rõ nét trong những cuốn tiểu thuyết, những truyện ngắn đầy sức ám ảnh, những bài thơ phơi phới tinh thần lạc quan cách mạng… Với sự đa dạng, phong phú về thể loại, dòng văn học viết về chiến tranh đã cho ta thấy được hiện thực khốc liệt của chiến tranh trên khắp dải đất hình chữ S cũng như tinh thần chiến đấu quật cường của quân và dân Việt Nam

Trong số những thể loại văn học đó, nhật ký viết về chiến tranh được coi là “lính mới”, vì từ sau năm 1986 khi được tập hợp và xuất bản với một

loạt những tác phẩm gây tiếng vang như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi, Nhật ký chiến tranh, Tài hoa ra trận… thì thể loại này mới thực

sự được dư luận cũng như giới nghiên cứu quan tâm Trước đó, những dòng

nhật ký cũng đã từng xuất hiện lẻ tẻ trong các hồi ký, ký sự như Ký sự miền đất lửa của Nguyễn Sinh – Vũ Kỳ Lân hay những dòng tâm sự của Nguyễn Thi về tình yêu, gia đình trong Nhật ký chiến tranh, những trang nhật ký Viết dưới chiến hào của Hoàng Thượng Lân cũng được đánh giá cao… song chưa

tạo được ấn tượng mạnh với các nhà nghiên cứu cũng như với dư luận xã hội

Sau sự thành công vang dội của Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Mãi mãi tuổi hai mươi, một loạt nhật ký thời chiến đã được xuất bản, tạo nên một “cơn sốt”

nhật ký chiến tranh và hiệu ứng xã hội rộng lớn Thực trạng này đòi hỏi cần phải có sự quan tâm, chú ý hơn nữa đến nhật ký cũng như nhật ký chiến tranh

ở phương diện thể loại

Trang 5

1.2 Với những đặc điểm riêng biệt của thể loại, nhật ký chiến tranh không chỉ góp phần làm phong phú diện mạo văn chương Việt Nam mà còn cung cấp nguồn tư liệu xác thực nhất về chiến tranh, về những năm tháng đấu tranh gian khổ của quân và dân khắp mọi miền đất nước Do được nhìn, được cảm nhận và ghi chép lại bằng con mắt của cá nhân nên những gì hiện lên qua nhật ký là vô cùng chân thật, đôi khi nhuốm màu sắc chủ quan đầy tâm trạng Tác giả của những cuốn nhật ký là những người đã trực tiếp chiến đấu hoặc có mặt tại chiến trường, luôn phải đối mặt giữa ranh giới của sự sống và cái chết nên những dòng ghi chép của họ cho chúng ta cảm nhận rõ nét nhất về sự ác liệt của chiến tranh; đồng thời cũng phản ánh đời sống tinh thần của một thế

hệ thanh niên Việt Nam thời đó, có tác động nhất định đến xã hội hiện nay Việc tìm hiểu về nhật ký chiến tranh vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn

Như vậy, với giá trị lớn về mặt tư liệu, những đóng góp về mặt thể loại… nhật ký chiến tranh là một thể loại đầy hứa hẹn, có đóng góp lớn trong văn đàn Việt Nam Tuy thế, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về nhật ký chiến tranh Đó chính là lý do thôi thúc chúng tôi chọn đề tài

Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác phẩm tiêu biểu với mong

muốn góp tiếng nói của mình vào việc khẳng định giá trị của thể loại này

Trang 6

sau thành công “mở đường” của hai cuốn nhật ký được đánh giá “đầy chất

lửa” là Mãi mãi tuổi hai mươi (Nhật ký của Nguyễn Văn Thạc) và Nhật ký Đặng Thùy Trâm thì đã có một loạt tác phẩm ra đời và cũng đã để lại ấn tượng nhất định với độc giả như: Đường về (Nhật ký của sỹ quan đặc công Phạm Thiết Kế), Nhật ký Chu Cẩm Phong, Nhật ký chiến tranh (Nhật ký của Trình Văn Vũ), Tài hoa ra trận (Nhật ký của Hoàng Thượng Lân), Nhật ký chiến trường (Nhật ký của Dương Thị Xuân Quý)…

Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn nhật ký của 6 chiến sỹ - liệt sỹ

mà theo chúng tôi đã hội tụ được những yếu tố được coi là tiêu biểu trong tương quan với các tác phẩm cùng đề tài:

+) Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm (Nhật ký của Đặng Thuỳ Trâm)

+) Mãi mãi tuổi hai mươi (Nhật ký của Nguyễn Văn Thạc)

+) Nhật ký chiến trường (Nhật ký của Dương Thị Xuân Quý)

+) Nhật ký chiến tranh (Nhật ký của Chu Cẩm Phong)

+) Tài hoa ra trận (Nhật ký của Hoàng Thượng Lân)

+) Đường về (Nhật ký của Phạm Thiết Kế)

Sáu cuốn nhật ký là những suy nghĩ, những cảm nhận rất thật của các chiến sỹ - liệt sỹ từ chiến trường khốc liệt; là những hồi tưởng về quê hương, gia đình; cảm nhận về con người và những địa phương đã hành quân qua; là những dòng tâm sự chất chứa đầy yêu thương dành cho người thân; là những suy nghĩ về sự nghiệp, về lý tưởng của thế hệ trẻ… Các tác phẩm cho chúng

ta cái nhìn toàn diện về thể loại trong đời sống văn học Việt Nam và ý nghĩa của dòng sách nhật ký chiến tranh nói chung

3 Mục đích, ý nghĩa đề tài

Cũng như các thể loại khác, nhật ký góp phần làm nên sự phong phú của văn học, phản ánh cuộc sống một cách đa diện hơn, mang đến cái nhìn

Trang 7

toàn diện hơn cho độc giả Trong số đó, nhật ký chiến tranh là một thể loại khá mới mẻ và những đóng góp của nó cho dòng văn học viết về chiến tranh nói riêng và nền văn chương Việt Nam nói chung dường như vẫn chưa được

đánh giá đúng mức Với đề tài Nhật ký chiến tranh Việt Nam qua một số tác

phẩm tiêu biểu, chúng tôi mong muốn luận văn này sẽ bước đầu mang đến

cái nhìn toàn diện về những đóng góp của thể loại nhật ký chiến tranh trong đời sống văn học Việt Nam

Bên cạnh đó, với những giá trị tinh thần sâu sắc mà nhật ký chiến tranh mang đến, luận văn mong muốn nhắc nhớ tới mọi thế hệ người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ về những ngày tháng hào hùng của dân tộc, về lý tưởng sống cao đẹp của cha anh để từ đó có thể sống xứng đáng hơn với những gì mà thế hệ cha anh đã không tiếc hy sinh xương máu gây dựng nên

4 Lịch sử nghiên cứu

4.1 Nhật ký là thể loại vốn dĩ hơi “kín tiếng” trong văn học Việt Nam Nhật ký chiến tranh cũng vậy, có thể nói trước những năm 1986 thì số lượng những cuốn nhật ký chiến tranh ít ỏi đến mức đếm trên đầu ngón tay và chưa thu hút được sự quan tâm của người đọc cũng như của giới nghiên cứu Trong các công trình nghiên cứu về thể loại, nhật ký được điểm mặt sơ lược với định nghĩa và một số đặc trưng cơ bản; chưa thấy xuất hiện nghiên cứu về thể loại nhật ký chiến tranh

4.2 Từ sau năm 1986, đặc biệt là từ những năm 2005 trở lại đây, sau

thành công vang dội của Mãi mãi tuổi hai mươi và Nhật ký Đặng Thùy Trâm

thì những cuốn nhật ký chiến tranh đã được tập hợp và phát hành rộng rãi, thu hút được sự quan tâm rất lớn của công chúng và các nhà nghiên cứu, tạo nên một “cơn sốt” trong văn học Những bài viết giới thiệu, nghiên cứu và phê bình về thể loại này xuất hiện ngày càng nhiều trên các báo giấy và báo điện

Trang 8

tử, đặc biệt dày đặc trong hai năm 2005 và 2006 Có thể thống kê được hàng chục bài báo về đề tài này Nội dung của loạt bài này có thể phân chia như sau:

- Những bài mang tính chất giới thiệu và tản mạn về hành trình xuất

hiện của cuốn sách như: Đọc nhật ký chiến tranh: Một tác phẩm văn học kỳ lạ [61], Thêm một cuốn “Nhật ký chiến tranh” xúc động [59], Có thêm một nhật

ký chiến tranh chân thật [58]… Loạt bài này chủ yếu giới thiệu về sự xuất

hiện của các cuốn nhật ký chiến tranh, hành trình của cuốn sách đến tay độc giả, thường rất ngắn gọn và mang tính báo chí chứ không mang tính chất

nghiên cứu Ví dụ như cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm đã có 35 năm được lưu

giữ bởi một người lính phía bên kia chiến tuyến, qua bao khó khăn mới tìm được gia đình của nữ bác sỹ và cho in thành sách…

- Những bài nói về hiệu ứng xã hội của các cuốn nhật ký như: Đọc nhật

ký chiến tranh để lấy tinh thần cho một cuộc chiến mới [35], Qua Mãi mãi tuổi hai mươi và Nhật ký Đặng Thùy Trâm nghĩ về văn hóa đọc [46], Những rung chuyển từ cách sống Thùy Trâm [54]… Loạt bài này hầu hết đều khẳng

định nhật ký chiến tranh có tác động rất lớn đối với xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ, giúp thanh niên ngày nay hiểu một cách thấu đáo nhất về sự ác liệt của chiến tranh và sự anh dũng, cao cả của thế hệ cha anh; đồng thời thu hút thanh niên quay trở lại với văn hóa đọc, ý thức sâu sắc hơn về cuộc sống hiện tại Những bài viết này đã đề cập một cách sơ lược đến đặc điểm của thể loại nhật

ký, đó là những ghi chép của cá nhân trước hiện thực khốc liệt của chiến tranh, ghi chép không nhằm quảng bá rộng rãi…

- Những bài nghiên cứu về nhật ký chiến tranh, cụ thể là nhật ký chiến

trường như Nguồn tư liệu đáng quý qua nhật ký chiến tranh [50] của tác giả Tôn Phương Lan, Dấu ấn chiến tranh qua Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý [52] của tác giả Nguyễn Thị Việt Nga… Những bài viết có tính

Trang 9

chất nghiên cứu chuyên sâu này rất ít Tác giả Tôn Phương Lan đã khảo sát một số nhật ký chiến tranh như nhật ký của Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi),

Tài hoa ra trận của Hoàng Thượng Lân, Nhật ký Hoàng Kim Giao, Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý… và chỉ ra các tác phẩm đã mang

đến cho người đọc cái nhìn chân thật nhất về chiến tranh, là nguồn tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu, có nhiều chi tiết sống động và chân thực đến trần trụi Tuy nhiên tác giả chỉ đề cập đến nội dung phản ánh của các cuốn nhật ký

mà chưa nói đến những đặc điểm riêng biệt về thể loại – cơ sở làm nên nguồn

tư liệu tin cậy đó Nguyễn Thị Việt Nga khảo sát Nhật ký chiến trường của

Dương Thị Xuân Quý cũng hầu như chỉ đề cập đến nội dung phản ánh những vất vả, gian lao của cuốn nhật ký này; khẳng định trong cuốn nhật ký có nhiều chi tiết phản ánh chiến tranh một cách chân thực nhất, sắc nét và ám ảnh nhất

so với các tác phẩm khác mà không đề cập rộng đến dòng sách nhật ký chiến tranh cũng như đặc điểm về nghệ thuật của cuốn nhật ký, của dòng sách này Như vậy, nghiên cứu về nhật ký chiến tranh có thể nói mới chỉ ở những bước chập chững đầu tiên, dừng ở việc giới thiệu sách và khai thác thông tin bên ngoài tác phẩm Nhật ký chiến tranh với đầy đủ nét đặc sắc về nội dung

và nghệ thuật chưa được đặt thành vấn đề nghiên cứu hợp lý, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu và quy mô nào Có thể nói luận văn của chúng tôi là một hướng đi khá mới mẻ trong việc nghiên cứu về đặc trưng cơ bản nhất của nhật ký chiến tranh cùng giá trị văn học, hiệu ứng xã hội, ý nghĩa tinh thần cũng như đóng góp về thể loại của dòng sách này Vì thế, luận văn không tránh khỏi thiếu sót, kính mong hội đồng và các thầy cô cho ý kiến đóng góp để luận văn hoàn thiện hơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, chứng minh và kết luận, so sánh đối chiếu

Trang 10

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Lý luận về thể loại nhật ký – nhật ký chiến tranh

Chương 2: Một số đặc điểm nội dung của nhật ký chiến tranh

Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu của nhật ký chiến

tranh

Chương 1 có nhiệm vụ trình bày tổng quan lý luận về thể loại nhật ký –

nhật ký chiến tranh và những đặc trưng thể loại trong đời sống văn học Đồng

thời, lý giải hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của nhật ký chiến tranh Chương 2, luận văn đi sâu vào tìm hiểu một số đặc điểm về nội dung phản

ánh của nhật ký chiến tranh trong phạm vi đề tài và tương quan với dòng sách này: giá trị phản ánh chân xác nhất về hiện thực chiến trường và nêu bật đời sống tinh thần phong phú, lý tưởng của thế hệ thanh niên thời chống Mỹ

Chương 3, luận văn nghiên cứu một số đặc điểm nghệ thuật tiêu biểu chỉ có ở

nhật ký chiến tranh như giọng điệu di chúc, ghi chép linh hoạt, ngôn ngữ quy ước; từ đó lý giải nguyên nhân làm nên sức hấp dẫn về thể loại trong đời sống văn học Việt Nam

ơ

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÝ - NHẬT KÝ

CHIẾN TRANH

“Văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống” dưới nhiều góc

độ khác nhau, khai thác triệt để mọi khía cạnh của cuộc sống cũng như các cung bậc cảm xúc của thế giới tâm hồn con người Để có thể hoàn thành tốt

sứ mạng của mình, làm nên những “bông hồng vàng” kết tinh những nét đặc sắc nhất của hiện thực đời sống, văn học nghệ thuật không chỉ mang đến cho người yêu văn chương một cách nhìn mà phản ánh cuộc sống đa dạng với nhiều thể loại văn học phong phú: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch… Mỗi thể loại lại có thế mạnh riêng, làm nên sức hấp dẫn của văn chương từ muôn đời nay Nếu như tiểu thuyết là thể loại “dài hơi” với dung lượng lớn về nhân vật, cốt truyện, phạm vi phản ánh… thì truyện ngắn lại là những “lát cắt” của cuộc sống, những khoảnh khắc chớp bắt những tinh tuý của hiện thực đời sống; thơ lại thiên về dòng tâm tình, thể hiện thế giới tâm hồn con người với nhạc điệu, vần, nhịp… Nhật ký cũng là một loại hình văn học có sức thu hút lớn đối với nhà văn cũng như độc giả

Là một biến thể của loại hình ký, nhật ký nói chung và nhật ký chiến tranh nói riêng đều mang những nét đặc điểm chung của thể loại, đồng thời lại

có nét riêng không thể trộn lẫn, góp phần làm nên sự phong phú của văn chương nghệ thuật

1.1 VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÝ

1.1.1 Định nghĩa nhật ký

Theo Từ điển thuật ngữ văn học [44] thì nhật ký “là một thể loại thuộc

loại hình ký”, là một dạng biến thể của ký hiện đại So với các thể loại khác

Trang 12

như tiểu thuyết, thơ… thì ký xuất hiện muộn hơn, tận đến thế kỷ XVIII khi có

sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm của con người, khi xuất hiện nhu cầu tự bộc bạch, tự quan sát thì thể loại này mới xuất hiện ở Châu Âu và phát triển cực thịnh vào thế kỷ XIX Ở Việt Nam chúng ta, thể ký cũng ra đời muộn, có

thể lấy điểm mốc cho sự xuất hiện của thể loại này là thời Lý - Trần với Vũ trung tuỳ bút và Thượng kinh ký sự Cũng giống như phương Tây, ở Việt Nam

ký cũng được coi là thể loại mở đường dẫn tới sự phát triển rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực trong văn học nghệ thuật Qua nhiều giai đoạn lịch sử, ký cũng có những biến thể cho phù hợp với xu thế phát triển của văn học Nhật

ký chính là một dạng biến thể của ký hiện đại bên cạnh hồi ký, tuỳ bút, tản

văn, phóng sự…

Từ điển văn học (bộ mới) [45] định nghĩa nhật ký là “Loại văn ghi chép

sinh hoạt thường ngày Trong văn học, nhật ký là hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất số ít, dưới dạng những ghi chép hàng ngày có đánh số ngày tháng (…) bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm; nó ít hồi cố; được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính

đến việc được công chúng tiếp nhận” [45, tr 1257] Từ điển thuật ngữ văn học

cũng coi nhật ký là “một thể loại thuộc loại hình ký” hay “là hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghi chép hàng ngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hay nhân vật chính là

người trực tiếp tham gia hay chứng kiến” [44, tr 204] Giáo trình Lý luận văn học, tập 2: Tác phẩm và thể loại văn học do Trần Đình Sử chủ biên [60] thì

định nghĩa như sau: “Nhật ký là thể loại ký ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc hàng ngày của chính người viết, là những tư liệu có giá trị về tiểu sử và thời đại của người viết” [60, tr 261] Như vậy, có thể nói rằng, nhật ký chính

là những ghi chép của cá nhân về những sự kiện, những cảm xúc, suy nghĩ trước những sự kiện xảy ra trong ngày hay trong thời điểm gần

Trang 13

Về phân loại, tuỳ vào tính chất, mục đích mà người ta phân loại theo những thể khác nhau của nhật ký, rõ ràng nhất là sự phân chia nhật ký văn học và nhật ký ngoài văn học Các loại nhật ký ngoài văn học như: nhật ký riêng tư, nhật ký khoa học, nhật ký công tác… không nhằm công bố rộng rãi, chỉ viết dành cho cá nhân mình; đơn thuần chỉ ghi chép lại những sự việc xảy

ra với cá nhân mình chứ không quan tâm đến những vấn đề, những sự kiện có

ý nghĩa xã hội rộng lớn, ý nghĩa nhân bản… Vì thế, nhật ký ngoài văn học thường không thu hút được sự quan tâm của đông đảo người tiếp nhận cũng như giới nghiên cứu văn học, không có tầm ảnh hưởng lớn Còn nhật ký văn học thường hướng tới các chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú ý đến thế giới nội tâm của tác giả hoặc nhân vật trước những sự kiện lớn có ý nghĩa không chỉ với cá nhân mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội; nhật ký văn học thường được viết ra nhằm hướng tới đông đảo công chúng Bên cạnh đó có những cuốn nhật ký riêng tư viết không nhằm làm văn, không hướng tới đông đảo công chúng và không chủ định xây dựng hình tượng văn học song khi nó

“thể hiện được một thế giới tâm hồn, khi qua những sự việc và tâm tình của

cá nhân, tác giả giúp người đọc nhìn thấy những vấn đề xã hội trọng đại” thì

nó đã mang trong mình phẩm chất văn học

1.1.2 Một vài đặc điểm của thể loại nhật ký

Là một biến thể của ký, nhật ký mang những nét đặc điểm chung nhất của ký, đồng thời lại có điểm riêng biệt, làm nên sức thu hút riêng của thể loại Với thể ký – thể loại được coi là “sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào đời sống xã hội” với đặc điểm nổi bật là việc ghi chép sự việc, thì tính xác thực của việc ghi chép được xem là đặc trưng quan trọng nhất của thể loại Nhật ký cũng vậy Cho dù là nhật ký văn học hay các loại nhật ký ngoài văn học thì đều coi trọng tính chân thực, đáng tin cậy của sự kiện được ghi chép

Trang 14

lại, vì một cuốn nhật ký trước hết chính là sự giao lưu của người viết với chính bản thân họ, bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, đã thể nghiệm qua Với các thể loại nhật ký ngoài văn học thì tính xác thực là yếu tố quan trọng hàng đầu, ví dụ như một cuốn nhật ký công tác hay nhật ký khoa học thì yếu tố chính xác luôn phải được đặt lên hàng đầu; hay với nhật ký riêng tư thì đó chính là sự bí mật, chỉ giao lưu với bản thân, không hướng tới một đối tượng nào khác nên những gì viết ra luôn chân thực Còn với nhật ký văn học, để có thể mang tính đại diện cho những vấn đề có ý nghĩa lớn thì bản thân việc ghi chép phải chân thực thì mới có sức thu hút độc

giả Như nhật ký Ở rừng của Nam Cao là sự ghi chép chân thực những ngày

tháng gian khổ mà đầy ý nghĩa trong ngày đầu hoạt động cách mạng của nhà văn, đó cũng là những vất vả gian khổ của tất cả văn nghệ sỹ trong ngày đầu

“nhận đường”… Nếu không chân thực và không mang tính bao quát được hoàn cảnh cũng như tư tưởng của những văn nghệ sỹ thời đó thì tác phẩm

chắc hẳn đã không được chào đón nồng nhiệt như vậy Hay tập Nhật ký trong

tù của Bác Hồ kính yêu cho chúng ta cái nhìn hết sức chân thực về những vất

vả, thiếu thốn, khổ sở trong tù; đồng thời lại toát lên tinh thần lạc quan, yêu đời phơi phới và giọng thơ pha chút châm biếm hóm hỉnh nên thu hút được người đọc Tính xác thực của nhật ký cũng có nét tương đồng với hồi ký, tuy nhiên nếu như hồi ký có thể có yếu tố hư cấu những khi thể hiện thái độ, những sự việc mà nhân vật đã trải qua nhằm làm nổi bật hơn chủ đề của tác phẩm thì với nhật ký, yêu cầu về tính xác thực khắt khe hơn, không được phép hư cấu thêm tình tiết

Nhật ký chính là sự thổ lộ của tác giả hay nhân vật lúc cô đơn, muốn tự mình nhìn lại mình, chiêm nghiệm lại những gì đã xảy ra, là những ghi chép thời hiện tại Vì thế, có thể nói, nhật ký chính là thể loại ký mang tính chất riêng tư, đời thường nhiều nhất “Với tư cách là những ghi chép của cá nhân,

Trang 15

trong nhật ký người viết có thể tự do trình bày những suy nghĩ riêng tư và cảm xúc trước sự thật” [37, tr 215] Riêng tư chính là lý do tồn tại của nhật

ký, là điểm hấp dẫn của thể loại này, vì nó liên quan đến những tâm tư tình cảm, bí mật của cá nhân, đặc biệt là những nhân vật được xã hội quan tâm Cô

bé Anne Frank ghi nhật ký là vì “mình không có người bạn thật sự nào (…) Mình không thể nói gì với bạn bè ngoài những chuyện bình thường” [5, tr 23

- 24] Hay trong Mãi mãi tuổi hai mươi, Nguyễn Văn Thạc đã quan niệm về

việc ghi nhật ký như sau: “Nếu như người viết nhật ký là viết cho mình, cho riêng mình thì đọc cuốn nhật ký đó sẽ chân thực nhất, sẽ bề bộn và sầm uất nhất Người ta sẽ mạnh dạn ghi cả vào đấy những suy nghĩ tồi tệ nhất mà thực

sự họ có Nhưng nếu nhật ký mà có thể có người xem nữa thì nó sẽ khác và khác nhiều – Họ không dám nói thật, nói đúng bản chất sự kiện xảy ra trong ngày, không dám nói hết và đúng những suy nghĩ đã nảy nở và thai nghén trong lòng họ Mà đó chính là điều tối kỵ khi viết nhật ký – Nó sẽ dạy cho người viết tự lừa dối ngòi bút của mình, tự lừa dối lương tâm của mình” [29,

tr 225] Phải chăng, vì độ chân thật của những cuộc hành quân, của tâm tư tình cảm chảy tràn trong từng con chữ của anh lính binh nhì mà cuốn nhật ký của anh đã hấp dẫn người đọc?

Nhật ký là thể loại độc thoại, tự mình nói với mình, vì thế chúng ta luôn thấy tác giả hay nhân vật của cuốn nhật ký ở ngôi thứ nhất Nếu như trong các thể loại như phóng sự, tùy bút, bút ký… trung tâm thông tin không phải là tác giả mà là các vấn đề xã hội thì ở nhật ký văn học người viết luôn là trung tâm So với các thể loại khác, “vai trò của cái tôi trần thuật trong nhật

ký văn học bao quát, quán xuyến toàn bộ tác phẩm Tác giả không ngại ngần xuất hiện trong từng chi tiết nhỏ nhất và chính sự có mặt của cái tôi ấy đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra niềm tin của công chúng vì họ tin rằng đang được nghe kể về những sự thật mà tác giả là người đã trực tiếp chứng kiến”

Trang 16

[37, tr 218] Tuy nhiên, có những khi lời độc thoại của tác giả hay nhân vật lại chính là một cuộc đối thoại ngầm với người khác về con người và cuộc đời nói chung, về bản thân mình nói riêng Hình tượng tác giả trong nhật ký văn học là hình tượng mang tầm khái quát tư tưởng thẩm mỹ lớn lao

Nhật ký ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc theo ngày tháng ở thì hiện tại, có thể liên tục nhưng cũng có thể ngắt quãng tuỳ vào người ghi Nếu như

ở hồi ký là sự ghi chép thời gian đã qua, thời gian quá khứ bằng cách hồi cố, hồi tưởng lại thì nhật ký ghi chép bằng thời gian hiện tại Có thể ngắt quãng, nhưng chắc chắn phải là thời gian của hiện tại, không thể ở thời điểm ghi nhật

ký mà ghi hộ cho thời điểm trước hay sau đó được

Đặc điểm lời văn của nhật ký là sự ngắn gọn, tự nhiên bởi nó là lời nói bên trong, là tiếng nói nội tâm về những sự việc riêng tư, những tâm sự thầm kín, ý nghĩa thành thực; vì thế lời văn thường kết hợp linh hoạt giữa tự sự và trữ tình, giữa đời thường và giọng văn trữ tình mượt mà

Thông thường nhất là loại nhật ký được viết bằng văn xuôi, thế nhưng

đôi lúc nhật ký lại là một truyện ngắn như Nhật ký người điên của Lỗ Tấn, hay có thể được thể hiện dưới hình thức một tập thơ như Nhật ký trong tù của

Hồ Chủ tịch

1.2 VỀ HIỆU ỨNG XÃ HỘI VÀ GIÁ TRỊ VĂN HỌC CỦA NHẬT KÝ CHIẾN TRANH

1.2.1 Về nhật ký chiến tranh và một số đặc điểm thể loại

Hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta đã được thể hiện trong rất nhiều thể loại văn học, ta có thể tìm thấy hiện thực khốc liệt của chiến tranh và những ám ảnh đầy day dứt qua những cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn của Bảo Ninh, Chu Lai, Nguyễn Minh Châu… hay bắt gặp tinh thần bất khuất

Trang 17

quật cường, sẵn sàng vượt qua mọi gian khổ, luôn lạc quan “Vượt dải Trường êSơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai” của người dân Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước qua những bài thơ chống Mỹ của Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mỹ Dạ… Nhật ký cũng góp phần đắc lực vào việc ghi lại những ngày tháng hào hùng của dân tộc Tuy nhiên, trước năm 1986, ta chỉ

thấy xuất hiện lẻ tẻ những dòng nhật ký trong một số tác phẩm ký như Ký sự miền đất lửa (Nguyễn Sinh – Vũ Kỳ Lân) hay trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tấn, những trang nhật ký Viết dưới chiến hào của Hoàng Thượng Lân cũng chỉ được trích đăng trên các báo như Quân đội nhân dân, Tiền Phong, Nhân dân vào đầu những năm bảy mươi… chứ chưa xuất hiện riêng biệt như

một tác phẩm độc lập và cũng chưa thu hút được sự quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu Phải đến những năm 2000, đặc biệt là từ năm 2005, khi

Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, và sau đó là Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn

Văn Thạc ra mắt độc giả thì thể loại này mới thực sự gây được tiếng vang và khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn

Sau sự thành công của Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm và Mãi mãi tuổi hai mươi, hàng loạt tác phẩm đã được xuất bản, làm nên một trào lưu mới về

dòng sách nhật ký chiến tranh Có thể kể đến một số cuốn nhật ký tạo được

tiếng vang sau hai cuốn tiên phong như Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý, Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong, Tài hoa ra trận của Hoàng Thượng Lân, Đường về của Phạm Thiết Kế, Nhật ký chiến tranh của Trình Văn Vũ, Trở về trong giấc mơ của Trần Minh Tiến… Trong luận văn

này, chúng tôi lựa chọn sáu cuốn nhật ký chiến tranh mà chúng tôi cho rằng

có những nét đặc điểm tiêu biểu, đại diện cho cả dòng sách này Đó là những tâm sự, những suy nghĩ, cảm nhận rất thật của các chiến sỹ - liệt sỹ, nhà văn – liệt sỹ trực tiếp từ chiến trường như Đặng Thuỳ Trâm, Hoàng Thượng Lân, Phạm Thiết Kế hoặc trong những ngày huấn luyện chuẩn bị chiến đấu như

Trang 18

Nguyễn Văn Thạc, là những ghi nhận về con người và các địa phương đã từng

đặt chân qua trong Nhật ký Chu Cẩm Phong hay trải nghiệm về những cuộc

hành quân vất vả của Dương Thị Xuân Quý… Cùng với các thể loại văn học khác viết về đề tài chiến tranh, những cuốn nhật ký chiến tranh này cho chúng

ta cái nhìn khái quát, chân thực nhất về những ngày kháng chiến chống Mỹ

Có thể coi những cuốn nhật ký là nguồn tư liệu đáng quý về chiến tranh, về lý tưởng của cả một thế hệ thanh niên thời đó Với đặc điểm riêng về thể loại, nhật ký đã tái hiện chiến tranh với những gì chân xác nhất, ám ảnh nhất và thật đến mức trần trụi nhất so với các thể loại văn học khác

Sáu cuốn nhật ký cũng như dòng sách nhật ký chiến tranh nói chung đều mang những nét đặc điểm chung nhất của thể loại nhật ký, đó là độ chân thực của các chi tiết, sự kiện đã xảy ra - chân thực đến nghiêm ngặt, mang đến cho chúng ta cảm nhận một cách thật nhất về sự khốc liệt của chiến trường, về

sự nghiệt ngã của chiến tranh với những số phận, những con người trên khắp mọi miền Tổ quốc Những chặng đường hành quân và quá trình huấn luyện

đầy gian khổ của một anh lính tân binh hiện lên rất sinh động qua Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc Thiếu thốn thường trực về vật chất,

bệnh tật quật ngã, những chuyến công tác nguy hiểm có thể nằm xuống bất cứ lúc nào, và trên hết là sự lo lắng để viết được những tác phẩm hay phục vụ

cho nền văn nghệ nước nhà… là những gì ta có thể thấy trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong và Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân

Quý Một bệnh xá dã chiến nằm tại một trong những chiến trường ác liệt nhất, một nữ bác sĩ anh hùng vừa lo chống giặc vừa đảm bảo công tác chuyên môn, những trận chạy càn vất vả với cái chết thường trực ngay bên cạnh tưởng như

được tái hiện sống động nhất trước mắt chúng ta trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm Và chính những lời kể chi tiết về các trận đánh sinh tử trong Tài hoa ra trận hay Đường về đã cho ta cái nhìn sâu sắc về sự gan dạ của những anh lính

Trang 19

đặc công Việt Nam – những người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, sẵn sàng hy sinh để giành lấy độc lập tự do cho Tổ quốc Qua các cuốn nhật ký, chúng ta cũng có cái nhìn chân thực nhất, rõ nét nhất về những thôn xóm anh hùng nơi các anh chị đã đi qua, về những người dân bình dị mà lại rất vĩ đại họ đều thề quyết tử cho Tổ quốc, không tiếc tính mạng, không màng hạnh phúc, danh lợi của bản thân

Bên cạnh sự chân thực là yếu tố then chốt của nhật ký, nhật ký chiến tranh còn có những đặc điểm chung của thể loại như: đều dùng lời tự sự từ ngôi thứ nhất của các tác giả, là lời độc thoại với chính bản thân mình; là sự thổ lộ của các chiến sỹ những lúc cô đơn nhớ gia đình, người thân và cảm nhận về đồng đội đồng chí… Giọng văn trong mỗi cuốn nhật ký mang dấu ấn

cá nhân của mỗi người Những đặc điểm này đều thể hiện khá rõ trong những tác phẩm viết về chiến tranh Ở Nguyễn Văn Thạc – chàng trai giỏi văn nhất miền Bắc thời ấy là giọng kể mượt mà, bay bổng và lãng mạn; Đặng Thùy Trâm với giọng kể chân thực, ngắn gọn; hai nhà văn – chiến sỹ Chu Cẩm Phong và Dương Thị Xuân Quý có giọng điệu khá linh hoạt, mềm mại và thu hút; Hoàng Thượng Lân và Phạm Thiết Kế lại có chút hài hước dí dỏm của anh chiến sỹ đặc công… Tuy mỗi cuốn nhật ký chiến tranh đều mang dấu ấn

cá nhân của tác giả, song tựu chung giọng điệu đều ngắn gọn, súc tích, tự nhiên như nét chung của các cuốn nhật ký; bởi đó đều là lời nói bên trong, là tiếng nói nội tâm, là sự thổ lộ riêng tư của mỗi cá nhân trong từng trang viết

Tuy thế, ở những cuốn nhật ký chiến tranh, đặc biệt là những cuốn nhật

ký viết từ chiến trường thì do hoàn cảnh chi phối nên có một số đặc điểm riêng biệt so với những cuốn nhật ký thông thường Một cuốn nhật ký trong điều kiện bình thường, tác giả có thể ghi chép liên tục theo ngày tháng nếu thấy có nhiều sự kiện, nhiều tâm trạng hoặc hứng thú, nhưng cũng có thể ngắt quãng nếu đang bận một việc gì đó, hoặc tâm trạng chưa muốn ghi chép lại

Trang 20

ngay Còn đối với nhật ký chiến tranh, đặc biệt là nhật ký chiến trường thì các

tác giả đôi khi không thể theo ý mình mà phải ghi chép ngắt quãng tùy theo

hoàn cảnh Những cuộc hành quân dài hay cuộc sống ở chiến trường trong điều kiện thiếu thốn đủ thứ vật chất thiết yếu nhất thì giấy, mực… đôi khi trở

thành “xa xỉ phẩm” Như trong Mãi mãi tuổi hai mươi, Nguyễn Văn Thạc

muốn viết nhật ký nhưng hành quân vội không kịp mang theo mực, hết mực, thiếu ánh sáng… đành phải ngắt quãng lại Những trận chạy càn bất ngờ, những khi bất chợt có thương binh… cũng làm ngắt quãng việc ghi nhật ký của bác sỹ Đặng Thùy Trâm Có khi, bị căn bệnh “mãn tính” ở chiến trường

là sốt rét hành hạ cũng khiến Chu Cẩm Phong hay Phạm Thiết Kế không gượng dậy nổi, làm gián đoạn việc ghi nhật ký của các anh Hay những lúc khẩu phần ăn quá ít cơm, chỉ có ngô lót dạ, cái đói hành hạ khiến Dương Thị Xuân Quý khó mà có thể tỉnh táo cầm cây bút sáng tác hay ghi nhật ký…

Không những thế, những cuốn nhật ký chiến tranh, mà nhất là nhật ký chiến trường đều được viết ở nơi nguy hiểm, luôn cận kề với cái chết, bom đạn, những trận càn với sức tàn phá ghê người Những người vào chiến trường đã mang sẵn tâm lý cho mình, xác định có thể không có ngày trở về

mà phải mãi mãi nằm xuống ở một địa phương nào đó, chính vì vậy, những

trang nhật ký chiến tranh, đặc biệt là nhật ký chiến trường đều có chung giọng điệu di chúc Những người đi muốn gửi gắm tâm sự, nỗi lòng của mình cho

những người ở lại, những lời nhắn nhủ cũng là tâm huyết, là máu và nước mắt của người đi Như Hoàng Thượng Lân, ngay trong những trang đầu cuốn nhật

ký của mình, anh đã ghi địa chỉ gia đình và nói nếu anh không còn trên cõi đời này, xin nhờ mọi người hãy chuyển cuốn sổ về cho cha anh ở Hà Nội Anh viết: “Ở đây, những ngày căng thẳng nhất, con đã viết nhật ký vào một tập pôluya gấp nhỏ Con muốn kể lại những gì con đã thấy, những cảm nghĩ

và lòng quyết tâm chiến đấu của con đến hơi thở cuối cùng Cũng là bản “di

Trang 21

chúc” dặn dò, nếu nhỡ con có hy sinh, người ta sẽ gửi ra cho ba mẹ” [15, tr 91] Đó cũng là điểm chung của những cuốn nhật ký chiến tranh khác, vì họ biết cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, những người thân yêu khó gặp được, điều kiện thư từ cũng khó khăn, chỉ có trang nhật ký là người bạn tâm tình, là lời nhắn nhủ, thay lời di chúc để lại!

1.2.2 Về hiệu ứng xã hội và giá trị văn học của nhật ký chiến tranh

Thành công vang dội của Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Mãi mãi tuổi hai muơi cùng dòng sách nhật ký chiến tranh đã làm nên một kỷ lục về số lượng

sách bán chạy nhất từ trước tới nay Năm 2005, sau khi xuất bản, hầu như nhà sách nào cũng bày bán hai cuốn nhật ký ở vị trí bắt mắt nhất, có số lượng tái bản kỷ lục và trở thành sách “gối đầu giường” của rất nhiều người ở các lứa tuổi, nghề nghiệp khác nhau Sự thành công của hai cuốn nhật ký khiến nhiều nhà nghiên cứu cũng như đông đảo công chúng tự hỏi về giá trị thật sự của dòng sách nhật ký chiến tranh Đây là những cuốn nhật ký riêng tư được viết chỉ để dành riêng cho mình mà không hề có ý định hướng tới đông đảo công chúng, vậy lý do nào mà nó lại được đón nhận nồng nhiệt như vậy? Những tác phẩm này thật sự có giá trị văn học hay chỉ đơn thuần là những cuốn sách best – seller do được quảng bá tạo nên hiệu ứng xã hội rộng lớn?

Theo tiêu chí phân loại của Từ điển thuật ngữ văn học về mục đích sử

dụng của nhật ký thì những cuốn nhật ký trên được viết chỉ để dành riêng cho bản thân mà không có ý định phổ biến rộng rãi, do đó đây đích thực là thể tài ngoài văn học, là loại nhật ký riêng tư Nhật ký riêng tư là loại nhật ký gần gũi với nhật ký văn học hơn cả Tuy nhiên, cũng theo sự phân chia của cuốn

từ điển trên thì “điểm khác nhau cơ bản là ở chỗ nhật ký văn học thường hướng về một chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú ý đến nội tâm của tác giả

Trang 22

hoặc nhân vật trước những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa xã hội nhân bản rộng lớn” [44, tr 204] Trong sáu cuốn nhật ký mà luận văn lựa chọn, các tác giả - chiến sỹ - liệt sỹ tuy viết về những sự kiện, những vấn đề, suy nghĩ của

cá nhân mình song đều liên quan đến một sự kiện có ý nghĩa xã hội vô cùng rộng lớn – đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta Đó như là một sợi dây xuyên suốt, một chủ đề lớn gắn kết các cuốn nhật ký Sáu cuốn nhật

ký đều là những tâm sự, suy nghĩ của các chiến sỹ đang trực tiếp cầm súng chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, hoặc của những nhà văn, nhà báo sẵn sàng xông pha nơi chiến trường đầy mưa bom bão đạn

Trong số những cuốn nhật ký kể trên thì Nhật ký chiến trường là những

suy nghĩ rất thật về cuộc sống, về nơi làm việc hay những người đồng chí

đồng đội của nhà văn – nhà báo Dương Thị Xuân Quý; Nhật ký chiến tranh là những trang viết dày dặn và sâu sắc của nhà văn Chu Cẩm Phong; Mãi mãi tuổi hai mươi là tâm sự của Nguyễn Văn Thạc – chàng trai từng đạt giải nhất

cuộc thi giỏi văn nhất miền Bắc Nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên trong

bài viết Trang sách cuộc đời anh đăng trên báo Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh, 21/5/2005 cũng đã nhận xét rất hay về Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn

Văn Thạc: “Anh ghi cho mình và chỉ cho mình thôi Cuốn sổ này anh gọi là

Chuyện đời Bây giờ bạn đọc nó sẽ thấy nó vừa là nhật ký, vừa như một cuốn

sổ tự tu dưỡng, lại vừa như những ghi chép sáng tác văn học.” Phong Điệp cũng đã coi những trang nhật ký anh viết trên đường hành quân “không đơn thuần là một cuốn nhật ký riêng tư mà nó có giá trị văn học đích thực” (nhận

xét của Phong Điệp trong bài viết Sức sống thần kỳ của một cuốn nhật ký trên Báo Văn nghệ trẻ, 15-5-2005) Hoàng Thượng Lân thì đã sớm nổi tiếng tài

hoa với tâm hồn giàu cảm xúc và những trang viết rất sắc sảo mà không kém phần hóm hỉnh trong việc phản ánh hiện thực đời sống hay chất trữ tình thấm đượm trong những trang viết về thiên nhiên, tình yêu… Phạm Thiết Kế với

Trang 23

Đường về cũng mang đến một giọng văn dí dỏm, cuốn hút người đọc hết gần

200 trang nhật ký Và nếu ai đã đọc Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm chắc hẳn đều

xúc động với những trang viết bi tráng và lãng mạn của nữ bác sĩ này Như vậy, chắc hẳn không ai còn băn khoăn về chất văn chương thấm đẫm từng trang nhật ký, về giá trị văn học của những cuốn nhật ký này

Không thể phủ nhận rằng những cuốn nhật ký đạt được thành công vang dội như vậy là có sự góp sức rất lớn của việc quảng bá, tuyên truyền trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng Sau khi hai cuốn nhật ký xuất bản đã có rất nhiều các bài viết trên các báo điện tử, báo giấy ngợi ca; mở đường cho việc xuất bản rất nhiều những cuốn sách cùng đề tài, thành lập tủ

sách mang tên Mãi mãi tuổi hai mươi; thậm chí có cả bệnh viện mang tên nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm; mới đây bộ phim Đừng đốt chuyển thể từ Nhật ký Đặng Thùy Trâm cũng tạo được ấn tượng tốt với dư luận Nhưng nếu những

cuốn sách này không thật sự có ý nghĩa, không có lửa từ bên trong thì cho dù

có quảng bá đến mấy cũng không thể tạo nên một “cơn sốt” như vậy được Người đọc yêu văn chương hiện nay, với trình độ cảm thụ tương đối cao và trước sự lan tràn, chiếm lĩnh của văn hoá nghe nhìn… tại sao lại yêu mến những trang nhật ký chiến tranh đến vậy nếu nó không có ý nghĩa và không

có giá trị văn chương? Hầu như mọi lứa tuổi thuộc những ngành nghề khác nhau đều quan tâm đến nhật ký chiến tranh; đó có phải là điều mà một cuốn sách văn chương “chính thống” mong muốn? Không phải ngẫu nhiên mà một người lính phía bên kia chiến tuyến như Fred lại lưu giữ, trân trọng cuốn nhật

ký của một người bên kia chiến tuyến trong suốt ba mươi năm và không quản bao khó khăn trở ngại để tìm kiếm người thân của bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm và trả lại cuốn nhật ký cho gia đình cô Vì hơn hết, anh nhận ra rằng những trang viết “có số phận kỳ lạ” này thấm đẫm tình yêu thương và lòng nhiệt thành,

Trang 24

rực cháy như lửa vậy, nó đại diện cho đời sống tinh thần và lý tưởng của cả thế hệ thanh niên Việt Nam thời đó

Trong công trình Lý luận văn học do Trần Đình Sử chủ biên, tập 2: tác phẩm và thể loại văn học, trang 349 có nêu rõ: “Một tập nhật ký có phẩm chất

văn học khi thể hiện được một thế giới tâm hồn, khi qua những sự việc và tâm tình của cá nhân, tác giả giúp người đọc nhìn thấy những vấn đề xã hội trọng đại”; đồng thời các tác giả cũng khẳng định “hình tượng tác giả trong nhật ký văn học là hình tượng mang tầm khái quát tư tưởng - thẩm mỹ lớn lao Nhật

ký Ở rừng của Nam Cao, nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi

của Nguyễn Văn Thạc là trường hợp tiêu biểu” [60, tr 349] Như vậy, theo sự phân chia này, rõ ràng những cuốn nhật ký chiến tranh mà chúng tôi lựa chọn trong luận văn đều có thể coi là nhật ký “có phẩm chất văn học”

Bên cạnh đó, không thể phủ nhận ảnh hưởng của những cuốn nhật ký này trong việc khám phá, thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu cũng như công chúng với thể loại nhật ký Trước khi dòng sách nhật ký chiến tranh được phổ biến rộng rãi, thể loại nhật ký trong văn học chưa được coi trọng Khi tạo được “cơn sốt” nhật ký chiến tranh, thể loại nhật ký mới thực sự được chú ý, góp phần làm phong phú, đa dạng cho đời sống văn học nghệ thuật Việt Nam

Như vậy, nhật ký chiến tranh không những có đóng góp lớn về mặt thể loại mà còn mang đến một “luồng gió mới” cho đời sống văn học Việt; là những tập nhật ký có giá trị văn học, có sức tác động lớn với xã hội Nhật ký chiến tranh có hiệu ứng xã hội rộng lớn, nhắc nhớ mọi thế hệ người Việt về những ngày tháng hào hùng của dân tộc, về lý tưởng sống cao đẹp của cha anh

Trang 25

Chương 2 : MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA NHẬT KÝ

thiếu thốn của anh lính lái xe trên đường Trường Sơn qua Tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật, sự hy sinh của những cô gái thanh niên xung phong qua Khoảng trời – hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ; hay bắt gặp tinh thần đấu tranh quật cường của nhân dân được miêu tả trong Hòn Đất của Anh Đức, những trận chiến sinh tử qua các tiểu thuyết của Chu Lai như Nắng đồng bằng, Ăn mày dĩ vãng… trong những truyện ngắn đầy sức ám ảnh của

Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh… Và hơn hết, trong những cuốn nhật ký viết

về chiến tranh, đặc biệt là những cuốn viết từ chiến trường ta có thể tìm thấy những chi tiết sống động nhất, chân thực nhất; có thể coi nhật ký chiến tranh

là nguồn tư liệu chân thực nhất và vô cùng đáng quý về chiến tranh, về những

tháng ngày hào hùng của dân tộc Mãi mãi tuổi hai mươi cho ta thấy những khó khăn gian khổ trong công tác huấn luyện chuẩn bị ra chiến trường, Nhật

ký Đặng Thùy Trâm lại kể về những tháng ngày chiến đấu kiên cường chống

lại bệnh tật, duy trì một bệnh xá dã chiến trong điều kiện hết sức khó khăn và

nguy hiểm, cận kề cái chết của nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý và Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong

Trang 26

kể về sự vất vả của những nhà văn - chiến sỹ chiến đấu trên mặt trận sáng tác văn nghệ khi phải vừa chống lại giặc đói, những thiếu thốn về nơi ở, vật dụng; vừa phải vượt qua những trận càn, những trận bom và rải chất độc hóa học; đồng thời trong điều kiện ngặt nghèo như thế lại phải cho ra đời những tác

phẩm hay, ý nghĩa phục vụ trên mặt trận văn nghệ Tài hoa ra trận của Hoàng Thượng Lân và Đường về của Phạm Thiết Kế lột tả chân thực sự nguy hiểm

của những trận chiến sinh tử nơi chiến trường, nơi mà cái chết có thể đến bất

cứ lúc nào… Bên cạnh đó, những cuốn nhật ký còn cho ta khối tư liệu phong phú về cuộc chiến tranh nhân dân trên khắp các địa phương của cả nước Đó

là cuộc đấu tranh ở tận cùng thôn xóm, ở nơi đối đầu trực tiếp giữa người dân thường bình dị nhất với kẻ địch được vũ trang đến tận răng, cuộc vật lộn dai dẳng mà tất cả những sống chết đói no, tiếng khóc – tiếng cười đã trở thành chuyện bình thường

Những cuốn nhật ký được ghi từ trong bão lửa, trong hoàn cảnh cầm được cây bút mà ghi thành chữ thôi đã là một nỗ lực ghê gớm, khi mà hiện thực chiến trường được nhìn và cảm nhận với đôi mắt của người trong cuộc, những người đang trực tiếp có mặt ở chiến trường; vì vậy, nó chân thực đến từng chi tiết Thêm nữa, những trang nhật ký này, các tác giả - chiến sỹ ghi lại không phải để cho người khác đọc, càng không phải để in ra thành sách Họ ghi cho chính họ, thổ lộ với bản thân những buồn vui, khó khăn, lý tưởng, tích cực và cả những lúc bi quan… vậy nên những trang nhật ký có tính chân thực, tin cậy Có ai lừa dối chính bản thân mình? Tất cả những gì ta đọc được qua những cuốn nhật ký này đều là sự thật, cái sự thật thô ráp và sống động Những con người thật, những sự việc thật, những tâm trạng thật!

Trang 27

2.1.1 Công tác huấn luyện gian khổ

Sau những hào hứng ban đầu của người được đứng trong hàng ngũ bộ đội theo đúng nguyện vọng, sau những bịn rịn tiễn đưa của người thân, sau những giờ phút ngồi ô tô đến điểm tập kết… cuộc đời bộ đội đã chính thức bắt đầu với những anh tân binh như Nguyễn Văn Thạc Anh bắt đầu công tác huấn luyện để chuẩn bị sức khỏe, tâm lý và kỹ năng cho cuộc đời bộ đội chiến trường đầy gian khổ Những chặng đường hành quân bất chợt giữa đêm, đi hàng chục cây số giữa trời nắng chang chang với ba lô nặng trĩu trên vai quả thật là một thử nghiệm mới mẻ Thạc đã kể về những lần hành quân của mình với nhật ký một cách thật tỉ mỉ, những khó khăn vất vả cũng hiện lên rất chi tiết qua từng con chữ Có lẽ vất vả nhất là khi phải hành quân dưới cái nắng chang chang như đổ lửa: “Hôm nay, đi bên sông dưới cái nắng chang chang, trên vai là ba lô con cóc của Trường Sơn Không thể nói là nhẹ được Quai đeo thít vào vai, ép lồng ngực lại Đau và bỏng rát, rất khó thở Đè lên hông,

ép vào lưng, ướt đầm đìa là mồ hôi ta đấy” [29, tr 34] Hay lần hành quân ngày 26.11.1971: “Tiến về phía đó, 600 con người gò lưng và bước 30

kg trên lưng, đường bụi… Phải, lần nào hành quân cũng vậy Không còn nghĩ ngợi được gì nữa Thiên nhiên thu hẹp bằng nắp vung dưới gót người đi trước Không gian như co, như dồn, như ép, ép mạnh vào khắp cơ thể, vào cổ, vào vai, vào lưng, vào chân Mệt lắm, nặng lắm Sự thật gồ ghề biết chừng nào” [29, tr 67] Hành quân dưới cái nắng chang chang thế này thì quả thật không còn sức lực: “Nắng rất gắt và choáng… Nắng Hà Tĩnh, nhất là khoảng 3,4 giờ chiều, nắng gắt kinh khủng, như thiêu như đốt, hoa cả mắt và đầu thì cứ ong ong” [29, tr 222] Vừa rời ghế giảng đường, vai sinh viên thơi thới gánh thơ, văn khó mà quen được với “sự thật gồ ghề” là những ba lô nặng trĩu trên lưng luôn muốn níu người xuống mỗi khi lên dốc, là những giọt mồ hôi thi nhau rơi trên những chặng đường nắng như đổ lửa… Anh đã thốt lên đầy thất vọng

Trang 28

và mệt mỏi: “Sao con đường dài thế, dài mãi Mất hết cảm giác về vai và chân bước hoàn toàn theo cảm tính”, cổ họng khát khô… “Rèn, chao ôi, cái chữ đáng ghét thế” [29, tr 80] Hình ảnh những con người gò lưng dưới cái nắng gay gắt thế này chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy trong các cuốn nhật ký khác

Đó là khi hành quân qua nước bạn Lào, Đặng Sĩ Ngọc cũng cảm nhận: “Nắng như thiêu đốt đã mấy ngày (…) những tia nắng vàng như hàng triệu mũi tên lửa mỏng manh lao xuống, bao trùm trên mặt đất Đến cả những con vật như lợn, gà… cũng phải há miệng ra mà thở” [20, tr 37]

Cũng giống như Nguyễn Văn Thạc, trong cuốn nhật ký Trở về trong

giấc mơ còn lưu giữ lại được của liệt sỹ Trần Minh Tiến, cảnh tập luyện vất

vả và gian khổ ở Tam Đảo với những dốc núi cao, dốc thẳng đứng càng khiến chúng ta thêm cảm phục về ý chí và quyết tâm của những người chiến sỹ chuẩn bị ra mặt trận Họ phải tập luyện trước, đeo ba lô nặng cho quen, tập đánh trận để sau leo Trường Sơn khỏi bỡ ngỡ: “Leo qua một con dốc lớn, mồm, mũi, tai tranh nhau thở (…) Đường dốc ghê quá, suốt từ 11 giờ đến 4 giờ chiều đôi chân vẫn cuốc đều trên những bậc đá cao chênh vênh Chỉ sảy chân là gieo người xuống hai bên sườn núi Trời ngày càng nhiều mây Những đám mây mù dày đặc nhìn ra khoảng trống bầu trời mù mịt Lên tới đỉnh đầu tiên của dãy núi cao trên ngàn mét, dừng chân làm lán” [31, tr 29] Luyện tập vất vả như vậy để tạo cho bộ đội ta tinh thần kiên quyết, sắt đá, vượt qua mọi khó khăn gian khổ khi vào chiến trường Vì khi ở chiến trường, không chỉ phải trải qua những vất vả khi hành quân mà còn phải chiến đấu, nên sức ép chắc chắn sẽ nặng nề hơn với các chiến sỹ Ta có thể tìm thấy những đoạn nhật ký miêu tả chặng đường vượt dốc, san rừng thật sự ở Trường Sơn vất vả

như thế nào qua cảm nhận của Hoàng Thượng Lân trong Tài hoa ra trận hay trong Đường về của Phạm Thiết Kế, khi phải vượt cơn sốt rét ác tính và miên

Trang 29

man với những con đường: “vừa dài lại vừa dốc, dốc mẹ dốc con dốc chi là dốc Lúc đầu còn đếm được cuối cùng thì thở cũng không kịp nữa” [12, tr 31]

Trong nhật ký của Nguyễn Ngọc Tấn, ta cũng bắt gặp những chặng đường hành quân đầy gian lao, vất vả của các chiến sỹ Tuy thế, các chiến sỹ vẫn luôn hoàn thành nhiệm vụ, quên bản thân mình để bảo vệ vũ khí: “Những anh lính không áo mưa, cởi trần, cởi truồng, gửi áo, gửi quần cho các lính có

áo mưa, người co lại, đi khúm núm Võ khí được bảo vệ triệt để, họ che nhứt định không cho ướt, nhứt định không để ảnh hưởng tới chiến đấu” [28, tr 28]

Đó là một hành động rất nhỏ, nhưng lại có sức chuyển tải lớn, thể hiện được nét đẹp vô cùng của anh bộ đội cụ Hồ Họ có thể nhận khó khăn về mình chứ không để ảnh hưởng đến chiến dịch, nhất định phải bảo vệ vũ khí để chiến đấu với giặc, nhất là khi vũ khí của chúng ta thiếu thốn đủ bề

Tuy chưa quen với những vất vả trên đường hành quân, tuy có lúc mệt mỏi mà than thở, nhưng vượt trên tất cả, anh sinh viên Nguyễn Văn Thạc vẫn luôn lạc quan, cười trên hoàn cảnh: “Ta đặt ba lô, và cười luôn được Ừ, cuộc đời ta là thế Phải cười và phải vui… Vai sinh viên, mặc dù tâm hồn luôn bay bổng, nhưng nên thơ hơn cả những vần thơ là cái nghiến điếng người trên vai,

là cái nóng bàng hoàng, dữ dội” [29, tr 34] Nguyễn Văn Thạc cũng giống như biết bao sinh viên thời đó, náo nức được đóng góp sức lực của mình cho cách mạng, hồ hởi vào chiến trường với tâm thế của người yêu nước, mang lý tưởng quên mình vì Tổ quốc Những khó khăn đầu tiên gặp phải tuy có làm

họ mệt mỏi, song không làm họ chùn bước, vì họ hiểu rằng đó chỉ là những gian lao rất nhỏ so với ở chiến trường Họ luôn cười vui, lạc quan, vượt qua mọi khó khăn

Thiếu thốn đồ ăn, nước uống… có lẽ là một trong những điều thường gặp nhất trên những chặng đường hành quân, vì cả dân tộc phải căng mình ra chiến đấu, địa phương nào cũng khó khăn, gia đình nào cũng vất vả, luôn phải

Trang 30

sơ tán, tăng gia sản xuất kết hợp với đào hầm và đánh địch… Thế nên cho dù hậu phương “tất cả cho tiền tuyến” và đã chuẩn bị thật chu đáo, song không thể tránh khỏi thiếu thốn Nguyễn Văn Thạc cũng gặp những khó khăn này trên đường hành quân Những ba lô nặng trĩu, những chặng đường dài lê thê dưới trời nắng gắt hay những đêm lạnh không làm anh thấy kinh sợ bằng việc phải dùng thứ nước bẩn: “Vậy là rửa mặt, rửa tay chân, tắm giặt, nước ăn, tất

cả đều ở trên một cái ao nhỏ xíu, cỏ đầy trên mặt nước Nước cứ mờ mờ xanh,

và chỉ khẽ khua lên là lầm đục Đứng trên bờ thấy lợm giọng vì một mùi tanh

Ôi chao, kinh sợ quá đi mất” [29, tr 156] Trong cuốn nhật ký Trời xanh không biên giới của Đặng Sĩ Ngọc – có lẽ cuốn nhật ký duy nhất được in là

của một người hiện vẫn đang còn sống, ông cũng đã kể về những thiếu thốn

mà mình và đơn vị đã gặp phải Thiếu thốn cái ăn, phải ăn lương khô liên tục đến nỗi miệng sưng lên Thiếu nước uống: “nước bẩn ơi là bẩn, chắt từng hạt nước đục như nước trầu mà rửa, mà nấu Vậy mà có đủ đâu, anh nuôi phải khoác AK, gánh thùng đi xa hàng mấy cây số rồi chờ nước cả buổi mới đầy” Khổ sở nhất có lẽ là cái cảnh không được tắm trong khí trời nóng nực như thiêu đốt: “Đã mười ngày rồi mình không tắm giặt, áo dính một lớp đất đen, dày cộp, người thì lấy tay chà một cái nhè nhẹ lên da là đất cứ lăn ra như những con nhộng đen sì Mặt mũi cảm thấy khô quắt queo, mồ hôi dầu nhễ nhại, hôi hắc lên Cũng may thỉnh thoảng có cơn gió thổi lộng mát vào lòng vào ruột Lấy gió mà rửa mà tắm cho bớt nóng trong người” [20, tr 51]

Nguyễn Văn Thạc đã ghi lại hết sức chân thực những khó khăn thiếu thốn mà một anh tân binh gặp phải Đó mới chỉ là những khó khăn ban đầu trong công tác huấn luyện, khi các anh chưa thật sự đi vào chiến trường ác liệt nhất Chính trên những chặng đường hành quân đầy vất vả và gian khổ, thiếu thốn như thế, tình đồng đội càng bền chặt hơn: các anh thương nhau, san sẻ cho nhau một chút nước trong bi đông, đeo hộ nhau một chút nặng nhọc,

Trang 31

nhường cho nhau một chỗ nghỉ tốt, một mảnh chăn, một tấm tăng lành, dành cho nhau một chiếc hầm đào dở… Phải chăng chính những gắn bó như thế, tình đồng đội keo sơn như thế, tình quân dân cá nước một lòng như thế đã làm nên động lực lớn đưa Việt Nam chúng ta vượt qua biết bao nhiêu khó khăn để vượt qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, tiến dần đến chiến thắng

2.1.2 Công tác ở chiến trường

Qua những trang nhật ký, Nguyễn Văn Thạc đã cho chúng ta cái nhìn chân thực nhất về những gian khổ, thiếu thốn của quá trình huấn luyện tân binh chuẩn bị ra chiến trường Đó chỉ là một phần rất nhỏ so với những khó khăn của người đang trực tiếp ở chiến trường như Đặng Thùy Trâm hay Dương Thị Xuân Quý, Hoàng Thượng Lân… Nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã chấp nhận xa Hà Nội, xa gia đình và sẵn sàng từ bỏ một công việc tốt để vào tuyến lửa phục vụ Tổ quốc Một mình chị phải phụ trách bệnh xá dã chiến ở Đức Phổ (Quảng Ngãi) - một trong những chiến trường ác liệt nhất thời kỳ

đó, thiếu thốn đủ mọi trang thiết bị, thiếu cán bộ… và nguy hiểm luôn cận kề, cái chết có thể đến bất cứ lúc nào Cuốn nhật ký đã trở thành người bạn tâm giao để chị tâm sự tất cả những suy nghĩ của mình, từ khó khăn thiếu thốn về vật chất, đến sự day dứt khi không cứu được một anh thương binh, hay những ngày bận rộn công tác dồn dập, người thì ít mà thương binh thì nhiều, bác sỹ Trâm phải làm việc từ sáng sớm đến đêm khuya: vừa phụ trách bệnh xá, vừa điều trị, vừa lo giảng dạy đào tạo y sĩ phục vụ… Qua những trang viết, chúng

ta cũng thấy chiến trường hiện lên rõ nét nhất đến từng chi tiết, với những cuộc chạy càn cấp tập, khi những người thương binh còn mang nặng bệnh tật

“mồ hôi lấm tấm trên gương mặt còn xanh mướt” phải gắng gượng di chuyển; với những lần ném bom tàn phá tất cả mọi thứ, hay những khi tưởng chừng cái chết đã đến tìm…

Trang 32

Đức Phổ, Quảng Ngãi được đánh giá là một trong những địa bàn bị đánh phá ác liệt nhất những năm 1968, 1969 Vì thế, bệnh xá của chị Trâm luôn luôn ở trong tình trạng quá tải, khi thương binh thì nhiều mà cán bộ bệnh

xá thì ít, điều kiện trang thiết bị còn đơn sơ Không những phải làm tốt nhiệm

vụ chuyên môn trong điều kiện đó, bệnh xá còn luôn phải đối diện với những trận bom, trận càn của địch Có những ngày bệnh xá ở trong tình trạng căng thẳng đến tột bậc, khi giặc tiến đến sát: “suốt đêm ngày không gian náo động

vì tiếng bom pháo, tiếng phản lực gào thét, tiếng tàu rọ, HU-1A quần lượn trên đầu Khu rừng đầy những vết bom đạn, những cây còn lại bị úa vàng vì chất độc Cả người cũng đã bị ảnh hưởng chất độc, toàn thể cán bộ đều mệt mỏi bơ phờ tay chân rũ rượi ăn uống không nổi” [32, tr 157] Có khi bệnh xá trở thành cái bia để giặc nã đạn: “Địch uy hiếp khu vực bệnh xá một cách nghiêm trọng Những chiếc HU-1A và rọ quần sát trên ngọn cây phóng lựu đạn, hỏa tiễn tầm ngắn và xổ từng tràng đại liên nghe đến điếc tai Pháo từ núi Chóp bắn vào nổ sát bên hầm, một mảnh pháo to chẻ nát một thân cây lát hầm ngay giữa phòng mổ” [32, tr 235] Bệnh xá luôn trong tình trạng căng thẳng, nguy hiểm, có thể bị bom bất cứ lúc nào, những cuộc chạy càn diễn ra thường xuyên Có những lần, thương binh thì đông, yếu, có người vừa trải qua phẫu thuật, không thể di chuyển được; bệnh xá chỉ còn vài cán bộ nữ sức yếu, chưa quen với việc khiêng thương: “Một cuộc di chuyển cực khổ vô cùng, chắc nó cũng như những lần mà bệnh xá bị oanh tạc hoặc tập kích khác, nhưng có khổ hơn vì không biết nhờ cậy vào ai, mấy đứa xưa nay không khiêng thương vì ốm yếu bây giờ cũng phải lãnh một ca thương, trèo đèo lội suối đi về địa điểm mới” [32, tr 147] Bác sỹ Trâm lo đến thắt lòng: làm sao

có thể đảm bảo tính mạng cho anh em thương binh, làm sao có thể giữ an toàn cho bệnh xá… Hay khi vừa qua một cuộc chạy càn, tạm ổn định bệnh xá thì lại bị bom rơi trúng phòng bệnh, giết chết năm người “Ôi cái cảnh điêu tàn

Trang 33

làm sao! Khu rừng trơ trọi cây đổ ngổn ngang, những mảnh quần áo bay tơi tả dính trên các cành cây, mấy nếp nhà xiêu vẹo” [32, tr 246] Có khi, anh chị

em cán bộ bệnh xá mười hai ngày chỉ được ăn một bữa cơm hơi no, bộ quần

áo cứ khô rồi lại ướt không thay được, mấy lần bị bom suýt chết… Trong điều kiện ác liệt và thiếu thốn như vậy, Đặng Thùy Trâm là một tấm gương sáng

về lòng nhiệt thành, quả cảm Nữ bác sỹ người Hà Nội chưa từng ra chiến trường vẫn vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm để duy trì được bệnh xá, làm tròn nhiệm vụ được giao, cứu chữa thương binh và cả chữa bệnh cho nhân dân địa phương

Qua những trang nhật ký của chị, chúng ta không chỉ thấy sự ác liệt của chiến tranh thể hiện qua những trận bom, những cuộc chạy càn mà đôi khi còn hiển hiện ở cả khung cảnh tĩnh lặng, sự tĩnh lặng mà tưởng chừng như bình yên lắm Thùy Trâm đã phải thốt lên rằng: Có lẽ không gì buồn hơn cái cảnh chạy càn để lại những ngôi nhà hoang vắng, đồ đạc đã dọn sạch trơn và vắng lạnh không một bóng người Có lẽ không ai tưởng tượng được “nơi làm việc và nghỉ ngơi của một nhóm người có trách nhiệm quan trọng bậc nhất trong huyện” lại là “một căn nhà dột nát bỏ hoang, căn nhà còn một hầm pháo nguyên vẹn Vì sợ lộ nên không dám quét dọn vẫn phải để nguyên rác rưởi” [32, tr 192] Trong nhật ký của chị, tội ác của chiến tranh không chỉ được lột

tả trong những trận chiến ác liệt, bằng những khó khăn thiếu thốn trên đường hành quân hay sự chết chóc luôn rình rập nơi bệnh xá hoặc trên chiến trường Đôi khi, chính những chi tiết nhỏ nhoi, bình lặng mà lại có sức lột tả và ám ảnh ghê gớm Hình ảnh nồi cơm sôi yếu lửa dần rồi tắt bếp vì nước mưa nhỏ vào nồi cơm và bếp lửa gầy vội trong căn nhà bị bom Mỹ đốt cháy “chỉ còn vẻn vẹn một tấm tôn che”; hay chi tiết mâm cơm cúng tổ tiên ngày Tết cổ truyền được dọn lên trên cánh cửa cháy kê giữa nền nhà trơ trụi chính là những điều ám ảnh người ta mãi Sự ác liệt nơi chiến trường hiển hiện trong

Trang 34

những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt nhất! Chi tiết Dương Thị Xuân Quý hành quân trong những ngày “thấy tháng” của phụ nữ cũng thật đến trần trụi:

“Em đang qua những ngày mệt mỏi ghê gớm của cuộc hành quân Em bị hành kinh từ sáng sớm hôm qua, mà hôm qua là một trong những ngày hành quân dài nhất 7hgsáng đi, 5g chiều mới tới trạm 5 Em phải leo một cái núi cao 820m và lão giao liên rất tệ đã bắt đi hai thôi liền mà không cho nghỉ giải lao” [26, tr 39] Những chặng đường hành quân vất vả, những thiếu thốn vật chất, đói khát và bệnh tật liên tục đã lấy đi của chị những gì nữ tính nhất của một người đàn bà, bầu ngực lép kẹp, mấy tháng liền không còn “thấy tháng” nữa… Đó là những chi tiết thật vô cùng mà chúng ta không thể tìm thấy ở một thể loại nào khác ngoài nhật ký, đặc biệt là những cuốn nhật ký được viết

từ chiến trường máu lửa

Cũng giống như Đặng Thùy Trâm, Dương Thị Xuân Quý và Chu Cẩm Phong không trực tiếp cầm súng chiến đấu, họ lăn lộn ở chiến trường để tìm vốn sống, cho ra đời những tác phẩm hay phục vụ nền văn nghệ nước nhà Họ

là những nhà văn – chiến sỹ Hai cuốn nhật ký của Chu Cẩm Phong và Dương Thị Xuân Quý cho ta cái nhìn bao quát và đầy đủ hơn về công tác ở chiến trường của những người làm văn nghệ: cũng đói khát, thiếu thốn và nguy hiểm, thường trực tiếng súng đạn và những trận càn, là thương vong và chết chóc Dương Thị Xuân Quý tâm sự với nhật ký: Ngày hôm nay mình đã qua một chặng đường nguy hiểm Vừa đi được 15 phút thì máy bay đến, chặng đường mình đi bị chúng thả bom bi Bom bi vào đúng trạm trú quân mình vừa

ra khỏi và bom bi đánh vào đội hình đoàn bộ đội đi trước mình Máu chảy đỏ lòm đường đi, những chiếc cáng đè lên vai anh em bộ đội Nhìn vào cáng, thấy anh em máu đẫm chân tay, kinh quá Một đồng chí đại đội phó hy sinh, cáng đi ngay rồi Một đồng chí trung đội phó bị thương nặng có thể hôm nay

hy sinh và 6 đồng chí khác bị thương Ôi, cái chết đến sao đột ngột và dễ dàng

Trang 35

thế” [26, tr 29] Nhưng thương vong và chết chóc, nguy hiểm thường xuyên đến mức quen và lì ra rồi, có đêm nghe bom chị không còn muốn xuống hầm tránh nữa: “Lì ra rồi Căng thẳng quá rồi, con người trơ ra và chẳng còn nghĩ đến cái chết” để đến sáng hôm sau mới thấy liều vì đã có “4 đợt với 12 lần B52 giã xuống trong một đêm Kinh khủng quá” [26, tr 60]

Cái đói là “kẻ thù” chung của hầu hết những người ở chiến trường Ban Văn nghệ của Dương Thị Xuân Quý và Chu Cẩm Phong cũng giống như bất

cứ đơn vị nào trên chiến trường, thường xuyên bị cái đói dày vò Có khi, ốm

mà cả tuần không được ăn gạo, phải nhai ngô và sắn; có lúc sắn cũng trở thành một món ngon để mà thèm thuồng… Trong những trang nhật ký, chúng

ta thường xuyên bắt gặp những mong muốn hết sức bình dị như được ăn một bữa rau muống luộc, một đĩa rau lang xào của Hà Nội, thậm chí chỉ thèm một bữa cơm ngon… Đói đến mức Dương Thị Xuân Quý có lúc phải kêu lên:

“Đói! Lúc nào cũng đói” [26, tr 45] hay “Ăn đói và thiếu thốn Trưa hôm qua mỗi người chỉ được một bát bắp hầm (…) ăn xong về nằm lịm đi trên võng Đói quá (…) Mình đứng lên người muốn chao đi, lảo đảo Đói quá” [26, tr 73] Chu Cẩm Phong cũng phải đấu tranh gay gắt với bản thân mình khi muốn

ăn thêm cơm: “Sáng, ăn 1/3 khẩu phần, thấy thòm thèm quá Muốn ăn thêm Này, hãy tự kiềm chế đi, ăn thêm 1 thìa thôi nhé Trưa, chiều lấy gì ăn nếu hết

từ sáng? Đến trưa lại phải đấu tranh dữ dội nữa Bụng đói cồn cào, đầu gối bủn rủn” [24, tr 83] Phạm Việt Long cũng kể về những ngày đói triền miên của đơn vị mình ở chiến trường: “Thật đã đói thì một cọng rau cũng quý Cái thứ môn dóc ấy nấu lên bay mùi hôi như cám lợn, song lúc nào cũng quý như rau muống vậy” [17, tr 72] Thật chua xót làm sao! Đói khát, bệnh tật với những cơn sốt rét rừng liên miên, những chặng đường hành quân dài miên man với nắng gắt, muỗi, vắt vô kể đã quật ngã không ít chiến sỹ

Trang 36

Có khi, những vất vả thiếu thốn về vật chất, những ác liệt ở chiến trường không làm người ta sợ hãi, không làm người ta đau đớn bằng chính nỗi đau tinh thần Có những nỗi đau không thể nói nên lời, Dương Thị Xuân Quý

đã lặng đi khi được nghe kể về hoàn cảnh của anh Văn Cận – một đồng nghiệp mà chồng chị rất quý mến: Anh đã tập kết được 14 năm, vợ chồng xa cách 14 năm nhưng vẫn luôn tình cảm, vậy mà khi vào gần đến quê hương, nhắn vợ lên gặp thì cũng là lúc hy sinh Ngần ấy năm trời xa nhau đằng đẵng, người vợ sắp được gặp mặt chồng thì hay tin chồng hy sinh, còn nỗi đau nào hơn thế? Hay khi vợ chồng Dương Thị Xuân Quý may mắn được gặp gỡ nơi chiến trường ác liệt, song thay bằng sự vui mừng, hạnh phúc của vợ chồng khi đoàn tụ thì đó lại là nỗi e ngại, vì “sống giữa một tập thể toàn những người độc thân và cô đơn thì sự đoàn tụ của những cặp vợ chồng lại trở nên cô độc” [26, tr 56] Chị cảm thấy “lòng nặng trĩu” khi “phải” nằm bên chồng, “thật là một hình phạt” Những cuộc hành quân vất vả, những bữa ăn luôn đói, sự nguy hiểm và cái chết luôn cận kề… Có lẽ những điều đó cũng không làm người ta mệt mỏi như khi được bên cạnh người thương yêu mà lại cảm thấy

“lạc điệu” Vì sao ư? Vì những người đồng đội xung quanh đều cô đơn hay đều đau khổ vì đã mất đi người thân: anh Phan Huỳnh Điểu xa vợ từ 3 năm nay, Trần Hữu Chất đã vào được nửa năm mà mong mãi không có thư vợ, Chu Cẩm Phong thì người yêu mới hy sinh, anh Thu thì vợ đã bị địch giết từ năm 1963 rồi… Cảnh đoàn tụ mà không hề vui vẻ, sự chia ly len lỏi vào cả những cuộc đoàn tụ tưởng chừng hạnh phúc nhất! Thế mới biết, chiến tranh

đã lấy đi của con người những thứ quý giá biết nhường nào!

2.1.3 Những trận chiến ác liệt

Không như Nguyễn Văn Thạc – anh lính binh nhì làm công tác thông tin vẫn chưa được chính thức tham gia vào các trận đánh nơi chiến trường,

Trang 37

bác sĩ Đặng Thùy Trâm chiến đấu bằng nhiệm vụ cứu người cao cả hay nhà văn – chiến sỹ Dương Thị Xuân Quý chiến đấu trên mặt trận văn nghệ, Hoàng Thượng Lân là bộ đội đặc công, hàng ngày giáp mặt với những trận chiến hết sức ác liệt ở chiến trường, khi mà cái chết đến bất ngờ nhất, có thể cảm nhận một cách rõ ràng nhất, thậm chí có thể sờ thấy, ngửi thấy tư vị của nó Anh là

bộ đội chủ lực nên “chốt” ở nơi ác liệt nhất của chiến trường, nơi mà “những chiếc máy bay trinh sát L19 bay lượn suốt ngày tìm kiếm, những chiếc trực thăng vũ trang (chú bác quen gọi nó là "Utiti"), hình thù như con nòng nọc, nhả đại liên rốc-két suốt ngày xuống mặt đất” [15, tr 98] Nếu như ở bệnh xá chiến trường của Đặng Thùy Trâm hay tiểu ban văn nghệ của Dương Thị Xuân Quý vẫn còn có những khoảng yên bình, thì Hoàng Thượng Lân và đơn

vị của anh cũng như các đơn vị bộ đội chủ lực hầu như không có thời gian mà nghỉ ngơi, có chăng chỉ là những phút hiếm hoi được thư thái trong hầm, hút chung điếu thuốc hay tán gẫu với đồng đội Những trận chiến đã ác liệt, đến khoảng lặng giữa các trận chiến cũng không yên bình “Dạo này, máy bay bay nhiều, mức độ đánh phá lớn Ngày cũng như đêm, bom nổ rền suốt không lúc nào ngớt Trời nắng ráo sáng sủa thì máy bay trinh sát đến, dò la rồi gọi bọn

bổ nhào đến cắt bom, bắn rốc-két, chỉnh cho pháo biển, pháo Dốc Miếu, Cồn Tiên bắn ra, bắn vào Trời mây mù, u ám thì từng đoàn, từng đoàn một, theo từng ô có sẵn trên bản đồ, bay tít trên cao thả bom xuống Còn máy bay B52 thì bất kể, sáng đánh, chiều đánh, nửa đêm đánh ” [15, tr 157]

Chàng trai tài hoa Hoàng Thượng Lân đã tái hiện trong nhật ký những trận đánh ác liệt ở chiến trường Vĩnh Linh một cách rất chi tiết, từ ngày đầu tiên nổ súng cho đến trận chiến ác liệt nhất Ngày nổ súng đầu tiên chưa có kinh nghiệm, anh quan sát để lộ mục tiêu, nhô cả người lên thành công sự:

“Bên kia, một thằng xạ thủ súng máy đã ngắm vào con và nổ một loạt May làm sao, đạn chỉ thi nhau cắm phầm phập vào ụ đất trước mặt, cát tung lên

Trang 38

từng cụm một Thụp đầu xuống mãi một lúc mà vẫn chưa hẳn hoàn hồn Lát sau, lại bị một viên bay qua, đạn đi căng quá, tai con ù lên, đinh đinh, choáng váng Con đổ vội người xuống và nghĩ: "Chết chưa? Chết à?" [15, tr 97-98] Từng trang nhật ký chi tiết và sống động đã mang đến cho chúng

ta cái nhìn chân xác nhất về sự ác liệt của chiến trường, ta như cũng cảm giác được nỗi bàng hoàng của anh lính trẻ Hoàng Thượng Lân khi thoát chết trong gang tấc, hay xót xa và đau đớn trước những mất mát trong trận chiến ác liệt nhất, kỷ niệm hằn sâu không thể nào quên của Hoàng Thượng Lân

Trận chiến đấu quyết tử của đơn vị anh vào ngày 5 tháng 3 năm 1968 tại xóm Đại Độ, xã Cam Giang, huyện Cam Lộ,Vĩnh Linh (bây giờ là Quảng Trị) cả đơn vị thương vong hết, chỉ còn lại mình Hoàng Thượng Lân Bản thân anh, bàn tay tài hoa cũng đã bị mất đi ngón cái Trận chiến hết sức căng thẳng, diễn ra suốt từ khoảng chừng 7 giờ sáng đến tận chiều muộn, đó là trận chiến không hề cân sức Bên phía ta, trung đội của Hoàng Thượng Lân chỉ được trang bị những vũ khí hạng nhẹ, thiếu thốn từ súng cho đến đạn dược để đối phó với các loại xe tăng, đại bác và máy bay hiện đại của kẻ thù Lực lượng hai bên cũng không cân sức: bên ta chỉ có trung đội 2 với 19 chiến sỹ, trong khi bên địch có lính bộ binh, lại được 4-5 xe tăng yểm hộ, chưa kể những chiếc máy bay rè rè trên đầu, chỉ nhằm phóng rocket, nhả đại liên không ngớt… Địa điểm diễn ra trận đánh cũng hết sức bất lợi cho ta: đằng sau lưng là sông, không có điểm tựa mà chiến đấu; đã bị địch bao vây Vậy là các chiến sỹ phải xé đường chạy trong tầm nhìn của giặc để vào trong xóm, nơi địa hình thuận tiện hơn cho việc tiến – lui và đánh địch Nhưng trong xóm cũng không có công sự chiến đấu, họ phải nép mình sau những rặng tre để chống địch Trận đánh giằng co suốt cả ngày, căng thẳng, ác liệt: “Pháo địch

từ các nơi bắn về Nổ chính xác vào đội hình của chúng con Anh em bị

Trang 39

thương, lui ra sau hết Hai trực thăng vũ trang phành phạch bay đến, nhè vào

chỗ chúng con ẩn nấp bắn không ngớt Đạn cắm chíu xuống quanh con, nghe

lạnh cả xương sống Hầm hố không có, nên ai cũng cố gắng thu người lại cho

thật nhỏ” [15, tr 104] Cuối cùng cả đơn vị đều chết và bị thương, chỉ còn trụ

lại Hoàng Thượng Lân và đồng chí tiểu đội trưởng, nhưng hai đồng chí vẫn

chiến đấu rất anh dũng Nhận thấy sức chống trả yếu đi, “địch đánh lại mạnh,

đạn xối vào chỗ chúng con như mưa, cả cái bao lúa đặt phía trước mặt con bị

găm thủng "bùm píu" mấy lỗ Đạn bay qua người con sát rạt, lạnh cả xương

sống” [15, tr 106] Cái chết hiện hữu ngay bên cạnh, thậm chí ngay khi Hoàng

Thượng Lân bị mất ngón tay cái cũng nhanh và bất ngờ đến mức anh chỉ kịp

cảm nhận “bàn tay bị hẫng, tê hẳn đi”, sau đó nhìn thấy “máu phun thành một

tia nhỏ, đốt xương bị lồi bật ra, trông thấy những sợi gân nhỏ chưa đứt” [15, tr

106] Không làm gì được, giặc bổ nhào bom vào trận địa, một xóm nhỏ như

vậy mà phải chịu hơn 30 quả bom, nhà cửa và cây cối tan nát Hoàng Thượng

Lân và anh tiểu đội trưởng lạc nhau ngay loạt bom đầu tiên Tỉnh dậy trong

một căn hầm trống, đói khát và mệt vì mất nhiều máu, Lân bàng hoàng khi

phát hiện ra chỉ còn một mình giữa trận địa, anh đi từng chiếc hầm, lần theo

từng vết máu khô mong tìm thấy đồng đội và lại thất vọng tột cùng khi không

còn ai Trận chiến không cân sức kết thúc, toàn bộ 19 chiến sỹ đều bị thương,

nhiều người đã mãi mãi nằm xuống Máu các anh đã đổ xuống để chặn đường

tiến của giặc vào trong xóm, tiêu diệt được 2 xe tăng và nhiều lính Mỹ - ngụy,

và quan trọng nhất là đã phá được tàu giặc, ngăn chặn đường lấy hàng tiếp tế

của chúng cho đồng bọn, cản được bộ binh địch từ Quáng Ngang xuống Tuy

đông quân, vũ khí hiện đại, lại bao vây được trung đội của Hoàng Thượng

Lân, song có thể nói trong trận chiến này, bên địch đã thua một cách thảm hại

Trong hoàn cảnh khó khăn, địch đánh phá dữ dội bên bờ Bến Hải để

cản đường không cho bộ đội ra ra Bắc, Hoàng Thượng Lân và động đội vẫn

Trang 40

đạt được những chiến công đáng tự hào: “Cách đây ba ngày, Bảo - một thằng mình chúa ghét về phong cách sinh hoạt hồi ở ngoài Bắc - đã bắn sập một lô cốt ở xóm 8 Yên - người dân tộc Thái, ở A3 B1 - trong một trường hợp ngẫu nhiên (đi lạc), qua ánh đèn pha, Yên trông thấy một xe M41 nằm lù lù ngay cạnh, và đã "oàng" cho một phát B40 rồi tháo chạy một mạch về đơn vị an toàn” [15, tr 150] Chính tinh thần chiến đấu anh dũng của các anh đã đánh thắng được những vũ khí hiện đại và đội ngũ đông đảo Mỹ, ngụy của giặc, vì vậy mà dù “chúng đi toàn bằng tăng và đã được pháo, B52 dọn đường kỹ càng” nhưng “vẫn phải phơi sương lại 9 xe tăng”

Ta cũng có thể bắt gặp những trận chiến dữ dội như thế trong Đường về

của Phạm Thiết Kế Cũng là chiến sỹ đặc công, Phạm Thiết Kế và đồng đội nhiều lần đi trinh sát, làm công tác điều nghiên để chuẩn bị cho trận đánh.Có những trận đánh thành công vang dội, thu được thành quả lớn, như trận đánh tại Đồng Dù (Củ Chi): ta diệt được 1270 tên, phá huỷ 179 xe quân sự có 39 xe tăng, 125 máy bay, 12 pháo, 82 dãy nhà lính gồm 200 căn, 16 lô cốt, 29 hầm ngầm, 4 kho có 1 kho đạn rocket, 1 kho đạn pháo, 1 kho xăng, diệt chỉ huy sở

sư, lữ Ta thu 1 AR-15 (ngày 25.2.1969) Nhưng để có được thành quả đó, không biết bao nhiêu máu xương đã đổ xuống, biết bao người đã không thể trở về với gia đình

Trong Tài hoa ra trận, Hoàng Thượng Lân đã ghi chép lại một cách

thật chân thực, giúp chúng ta hiểu sâu hơn về những vất vả, nguy hiểm của người chiến sỹ chiến đấu trên chiến trường Những trận chiến như thế vẫn hàng ngày, hàng giờ diễn ra trên khắp miền Nam máu lửa Biết bao con người

đã ngã xuống, biết bao gia đình mất người thân? Nhưng hơn hết, vượt qua tất

cả, mọi người luôn hướng về miền Nam ruột thịt, không quản ngại gian khó,

hy sinh để chiến đấu vì nền độc lập, thống nhất nước nhà Những chàng trai,

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
35. Đỗ Văn Ảnh, Đọc nhật ký chiến tranh để lấy tinh thần cho một cuộc chiến mới, Website Báo điện tử vietnamnet, ngày 9/9/2005, URL:http://vietnamnet.vn/bandocviet/2005/09/487557/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc nhật ký chiến tranh để lấy tinh thần cho một cuộc chiến mới
36. Lại Nguyên Ân (biên soạn, 1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
37. Đức Dũng (2003), Ký văn học và ký báo chí, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký văn học và ký báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
38. Hà Minh Đức (1980), Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1980
39. Hà Minh Đức (chủ biên, 2001), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
40. Ngô Văn Giá (1995), Những vấn đề về lý luận văn học giai đoạn 1930 – 1945, Luận án PTS Khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về lý luận văn học giai đoạn 1930 – 1945
Tác giả: Ngô Văn Giá
Năm: 1995
41. Lê Thành Giai (2007), Đặng Thùy Trâm và chiến trường Đức Phổ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Thùy Trâm và chiến trường Đức Phổ
Tác giả: Lê Thành Giai
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
42. Lưu Hà, Sức hút từ 2 cuốn Nhật ký chiến tranh, Báo điện tử Việt báo, URL: http://vietbao.vn/Van-hoa/Suc-hut-tu-hai-cuon-nhat-ky-thoi-chien/10927572/181/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức hút từ 2 cuốn Nhật ký chiến tranh
Tác giả: Lưu Hà
Nhà XB: Báo điện tử Việt báo
43. Hồng Hải, Nhật ký Trình Văn Vũ: Tình yêu và tranh đấu, Báo điện tử Quân đội nhân dân, URL:http://www.qdnd.vn/qdnd/baongay.chinhtri.tiepluatruyenthong.5974.qdnd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật ký Trình Văn Vũ: Tình yêu và tranh đấu
Tác giả: Hồng Hải
Nhà XB: Báo điện tử Quân đội nhân dân
44. Lê Bá Hán (chủ biên, 1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
45. Đỗ Đức Hiểu – Nguyễn Huệ Chi – Phùng Văn Tửu – Nguyễn Hữu Tá (đồng chủ biên, 2004), Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học
Nhà XB: Nxb Thế giới
46. Nguyễn Hoà, Qua Mãi mãi tuổi hai mươi và Nhật ký Đặng Thùy Trâm nghĩ về văn hóa đọc, Báo Thể thao Văn hóa 7/9/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qua Mãi mãi tuổi hai mươi và Nhật ký Đặng Thùy Trâm nghĩ về văn hóa đọc
Tác giả: Nguyễn Hoà
Nhà XB: Báo Thể thao Văn hóa
Năm: 2005
47. Lê Thị Bích Hồng (2005), Suy nghĩ từ hai cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm – Nguyễn Văn Thạc, Tư tưởng văn – hóa (số 9), tr 38-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ từ hai cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm – Nguyễn Văn Thạc
Tác giả: Lê Thị Bích Hồng
Năm: 2005
48. Mai Hồng (2005), Tài hoa ra trận – Thêm một cuốn nhật ký xúc động về chiến tranh, Toàn cảnh sự kiện – dư luận, (Số 184), tr 36-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài hoa ra trận – Thêm một cuốn nhật ký xúc động về chiến tranh
Tác giả: Mai Hồng
Năm: 2005
49. Đặng Ngọc Khoa, Đi tìm người cất giữ Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong, Báo điện tử Việt báo, URL:http://vietbao.vn/Van-hoa/Di-tim-nguoi-cat-giu-Nhat-ky-chien-tranh- cua-Chu-Cam-Phong/45168776/181/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm người cất giữ Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong
Tác giả: Đặng Ngọc Khoa
Nhà XB: Báo điện tử Việt báo
50. Tôn Phương Lan, Nguồn tư liệu đáng quý qua nhật ký chiến tranh, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 11), tháng 8/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn tư liệu đáng quý qua nhật ký chiến tranh
51. Phương Lựu (chủ biên, 2003), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
52. Nguyễn Thị Việt Nga, Dấu ấn chiến tranh qua Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý, Tạp chí Văn nghệ quân đội (số 687), tháng 6/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn chiến tranh qua Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý
53. Nguyên Ngọc, Ngọn lửa Thùy Trâm, Báo Tuổi trẻ, 26/7/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngọn lửa Thùy Trâm
54. Nguyên Ngọc, Những rung chuyển từ cách sống Thùy Trâm, Báo Sài gòn giải phóng, 8/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những rung chuyển từ cách sống Thùy Trâm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w