Vấn đề Nghệ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của Vương Mông vừa có ý nghĩa khoa học phục vụ thiết thực cho công việc giảng dạy bộ môn văn học Trung Quốc ngày càng được chú trọng t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ HƯƠNG
NGHỆ THUẬT “ DÒNG Ý THỨC” TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VƯƠNG MÔNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ HƯƠNG
NGHỆ THUẬT “ DÒNG Ý THỨC” TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VƯƠNG MÔNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 30
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Huy Tiêu
Hà Nội - 2013
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Phạm vi tư liệu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Bố cục Luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: “DÒNG Ý THỨC” VỚI TIỂU THUYẾT HIỆN ĐẠI 9
1.1 Nền tảng ra đời nghệ thuật “dòng ý thức” trong văn học 9
1.1.1 Khái niệm “ý thức”, “dòng ý thức” 9
1.1.2 Chủ nghĩa trực giác Henri Bergson 11
1.1.3 Tâm lý học cơ năng William James và Phân tâm học Sigmund Freud 12 1.1.4 “Dòng ý thức”- sự phát triển của “độc thoại nội tâm” 15
1.2 “Dòng ý thức” với tiểu thuyết hiện đại 18
1.2.1 Vấn đề “đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết” 18
1.2.2 Nghệ thuật “dòng ý thức”- một sáng tạo của tiểu thuyết phương Tây thế kỷ XX 20
1.2.3 Đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết “dòng ý thức” 24
Tiểu kết 28
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM “DÒNG Ý THỨC” TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VƯƠNG MÔNG 29
2.1 Những tiền đề mới về văn hoá xã hội, về quan niệm con người hiện đại 29
2.1.1 Về văn hoá xã hội 29
2.1.2 Quan niệm về con người hiện đại 31
Trang 42.2 “ Dòng ý thức” trong tiểu thuyết Vương Mông 35
2.2.1 “Dòng ý thức” với kết cấu 36
2.2.2 “Dòng ý thức” với nhân vật 40
2.2.3 Dòng ý thức với người kể chuyện 58
Tiểu kết 66
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN “DÒNG Ý THỨC” TRONG TIỂU THUYẾT VƯƠNG MÔNG 67
3.1 “Dòng ý thức” với yếu tố không- thời gian 67
3.2 “Dòng ý thức” với bút pháp tượng trưng 77
3.3 “Dòng ý thức” với ngôn ngữ, giọng điệu 80
3.3.1 Dòng ý thức với ngôn ngữ 80
3.3.2 Dòng ý thức với giọng điệu 84
3.3.2.1 Giọng điệu u- mua 85
3.3.2.2 Giọng điệu trữ tình 94
Tiểu kết 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Hiện nay, so với văn học Nga, Pháp, Mỹ, Nhật Bản thì văn học Trung Quốc đã được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam Trung Hoa là nước có nền văn học lớn, văn học cổ điển với những áng Đường thi cô đọng hàm súc,
uyên thâm đến những tiểu thuyết bất hủ như Tam Quốc diễn nghĩa (三国演 义), Thủy Hử (水浒传), Hồng lâu mộng (红楼梦 Tây du kí (西游记) Kim bình mai (金瓶梅)… Trong mỗi chúng ta, ai mà chẳng biết đến và yêu thích
một vài nhân vật trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc Với niềm yêu thích đó chúng tôi tiếp xúc với nền văn học đương đại của Trung Quốc
Tiếp nối truyền thống văn học lâu đời của dân tộc mình, các thế hệ nhà văn Trung Quốc không ngừng tìm tòi sáng tạo để cho ra đời hàng loạt các tiểu thuyết ưu tú (bao gồm: truyện ngắn, truyện vừa và truyện dài) Những tác phẩm này chẳng những được bạn đọc trong nước đón nhận mà còn được nhiều nước trên thế giới dịch ra ngôn ngữ của mình, trong đó có Việt Nam
Trong các nhà văn đương đại, Vương Mông nổi lên như là nhà văn đi đầu trong việc đổi mới tiểu thuyết Sự đổi mới ở Vương Mông thể hiện ở việc ông biết kết hợp giữa thủ pháp của chủ nghĩa hiện đại phương Tây với kinh nghiệm của văn học phương Đông, ông cũng biết cách tân sao cho phù hợp với việc thể hiện cuộc sống đương đại và tâm tình của con người hiện đại Trung Quốc Ông đã đi tiên phong, thực hiện bước đột phá chủ nghĩa hiện thực truyền thống Trung Quốc trong việc phá vỡ phương thức kết cấu, mạnh dạn mô phỏng theo hình thức biểu hiện “dòng ý thức” của phương Tây Vì thế
Trang 6mà nghệ thuật “dòng ý thức” được ông sử dụng hầu hết trong các tác phẩm của mình
2 Việc đi sâu tìm hiểu tác phẩm của tác giả nổi tiếng trong thời kỳ cải cách mở cửa như Vương Mông là cần thiết để có một cách nhìn toàn diện và sâu rộng hơn về một đất nước có nền văn học lâu đời và có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới như Trung Quốc, khẳng định vai trò và giá trị của nhà văn
trong tiến trình văn học thời kỳ đổi mới Trung Quốc Vấn đề Nghệ thuật
“dòng ý thức” trong tiểu thuyết của Vương Mông vừa có ý nghĩa khoa học
phục vụ thiết thực cho công việc giảng dạy bộ môn văn học Trung Quốc ngày càng được chú trọng trong các trường Đại học ở Việt Nam Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra sôi nổi như hiện nay, khi mối quan hệ của hai nước ngày càng được mở rộng, bởi Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia “núi liền núi, sông liền sông”, thủy bộ liên thông, văn hoá tương đồng thì việc đẩy mạnh nghiên cứu văn hóa, văn học Trung Quốc ngày càng góp phần tăng cường, thúc đẩy tình hữu nghị hợp tác phát triển giữa hai dân tộc Việt- Trung
Trong nền văn học đương đại Trung Quốc, Vương Mông cùng với Mạc Ngôn, Giả Bình Ao, Trương Hiền Lượng, Phùng Kí Tài, Lục Văn Phu, Tưởng
Tử Long, Cao Hiểu Thanh, Hàn Thiếu Công đã trở thành nhà văn có tên tuổi, được bạn đọc trong và ngoài nước biết đến Đặc biệt từ khi Mạc Ngôn được giải Nobel Văn học khiến thế giới không coi văn học đương đại Trung Quốc là bãi rác nữa
3 Vương Mông sinh ngày 15 tháng 10 năm 1934 tại Bắc Kinh Sau đó gia đình trở về quê tổ ở thôn Long Đường huyện Nam Bì tỉnh Hà Bắc Năm bốn tuổi lại trở về Bắc Kinh, năm tuổi đi học tiểu học, năm mười tuổi nhảy cấp vào trung học, mười một hoạt động trong cơ sở bí mật của Đảng Tháng
10 năm 1948 ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Trung Quốc
Trang 7Năm 1949, được điều về Thị ủy Bắc Kinh làm công tác đoàn thanh niên Tân dân chủ Năm 1952 là Phó bí thư Đoàn khu Đông Bắc
Năm 1953, ông viết truyện Tuổi thanh xuân muôn năm (青春万岁 ,
phản ánh bộ mặt mới mẻ của tầng lớp thanh niên học sinh sau ngày giải phóng, gây được ấn tượng tốt trong giới sáng tác Năm 1954 tham dự hội nghị
tác giả trẻ toàn quốc lần thứ nhất Mùa thu năm 1956 đăng truyện vừa Chàng trai trẻ đến phòng tổ chức (组织部新来的青年人 phê phán tệ nạn quan
liêu đang hoành hành trong nội bộ cơ quan nhà nước Chính vì tác phẩm này,
mà năm 1957, ông bị quy là phần tử “phái hữu” phải đi lao động cải tạo ở Tân Cương suốt 20 năm ròng Sau khi “bọn bốn tên” bị lật đổ, ông được phục hồi,
trở lại văn đàn Ông từng làm Tổng biên tập tạp chí Văn học Nhân dân, Bộ
trưởng Bộ văn hóa và Phó chủ tịch hội nhà văn Trung Quốc
Năm 1957 đến 1977 do cuộc đấu tranh chống “phái hữu” và “Đại cách mạng văn hóa”, ông tạm ngừng sáng tác Sự dồn nén 20 năm đã được Vương Mông thả sức tuôn trào từ sau khi văn đàn Trung Quốc mở ra thời kỳ mới Ông thành công ở nhiều mặt: Tiểu thuyết, bình luận, tản văn, thơ mới và thơ
cổ thể, tạp văn, được dịch ra hơn hai mươi thứ tiếng là Anh, Pháp, Nga, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ý, Tây Ban Nha, Hunggari, Bungari, Arập, Việt Nam, Kadắctan Các tác phẩm của ông nhiều lần đoạt giải thưởng trong nước và nước ngoài Ý trao “Giải văn học Mondello” Học hội Soka Gakkai Nhật Bản trao “Giải Hòa bình và văn hóa” Điểm đặc sắc nhất trong sáng tác của ông là tinh thần mạnh dạn tìm tòi, sáng tạo không mệt mỏi Con đường sáng tác của Vương Mông vô cùng gian khổ, gập ghềnh, nhưng trước sau ông vẫn yêu quý cuộc sống và say sưa với lý tưởng cách mạng Ông vừa coi trọng trực giác nghệ thuật lại vừa đề cao hoạt động lý tính
Trong các gương mặt của tiểu thuyết Trung Quốc đương đại, Vương Mông là một cây bút đã đi sâu khám phá vùng bí ẩn, có khi lạc vào tầng sâu
Trang 8nhất ở mỗi con người Tác phẩm của ông mang đến cho văn đàn một làn gió mới, nó ảnh hưởng sâu rộng đối với các sáng tác tiểu thuyết trong thời kỳ mới nên người ta gọi ông là “hiện tượng Vương Mông”
Vì những lý do trên, chúng tôi tìm đến đề tài: Nghệ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của Vương Mông
2 Lịch sử vấn đề
Vương Mông là một trong những nhà văn đương đại Trung Quốc với phong cách sáng tác thiên về “dòng ý thức” Tác phẩm của Vương Mông đã được dịch nhiều ở Việt Nam nhưng những bài viết phê bình nghiên cứu về nhà văn cũng như các tác phẩm lại chưa nhiều
Ở Trung Quốc, Vương Mông là nhà văn được nói đến rất nhiều Trong
cuốn Luận bàn về Vương Mông của Tăng Trấn Nam, Nxb Khoa học Xã hội
Trung Quốc, năm 2005 (曾镇南 《王蒙论 》, 中国社会科学出版社,2005 年) đưa ra một số nhận xét của các nhà nghiên cứu về Vương Mông Như nhà văn Thiết Ngưng (Phó chủ tịch hội Văn học nghệ thuật Trung Quốc) nhận xét: Tiểu thuyết Vương Mông vừa phong phú, vừa đa dạng, có ảnh hưởng mang tính tổng hợp đối với văn học đương đại Trung Quốc, không chỉ ở phương diện tiểu thuyết, mà còn cả phương diện về thi ca, văn học so sánh, văn học
cổ điển Là một người nghiên cứu lâu năm, tôi cảm thấy điểm nổi bật nhất ở ông là sự học tập Trải qua bao khó khăn mà không nản, có sức sống, có tình cảm, trí tuệ… những từ này dùng để hình dung về ông không hề là quá đáng, những thứ đó đều khiến con người ta cảm thấy phục Hay tác giả Trương Vĩ (Chủ tịch hội Văn học nghệ thuật Sơn Đông) nói: Nếu dùng từ nào để hình dung về con đường sáng tác của Vương Mông thì đó là “phong vũ kiêm trình” Ông là nhà văn sáng tác linh hoạt nhất thời kì đầu Nội dung trong sáng tác của ông thường thể hiện tình cảm một cách tự nhiên, cũng thể hiện sự suy tư
về con đường sáng tác văn học Nghiên cứu các tác phẩm của ông, mỗi tác
Trang 9phẩm tôi đều có thể tìm thấy những nét đặc sắc riêng Trương Vũ (nhà văn Hà Nam), bàn về Vương Mông là một điều rất thú vị Ông là người rất phức tạp, chỉ nhìn vào các tác phẩm của ông ấy thôi cũng đủ thấy nó hàm chứa rất nhiều ý nghĩa Ông là một nhà văn lại từng làm quan, thậm chí từng là đội trưởng đội sản xuất
Bài viết Tìm hiểu nghệ thuật Vương Mông của Trịnh Bát Quang trong cuốn Nghiên cứu Văn học hiện đại, đương đại Trung Quốc, Nxb Đại học Bắc
Kinh, năm 2000 (郑 拨 光,《王 蒙 艺 术 追 求 初 探》中 国 现 代 当 代 文
学 研 究,北 京 大 学 出 版 社, 2000 年) Tác giả đã nhận thấy một số đặc điểm nổi bật của Vương Mông: không - thời gian đan xen, đồng hiện, miêu tả tâm lí nhân vật, sử dụng hình ảnh tượng trưng… Ông cho rằng: Thứ hấp dẫn nhất trong tiểu thuyết của Vương Mông là ta có thể cảm nhận được ngôn ngữ
và nội hàm văn học Nội hàm văn học ấy có thể là sự giải thích về mặt nỗi khổ của con người trong thời đại ông mà ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ông đều rất
có uy lực, cảm giác như đó là một khối thuốc nổ có thể nổ bất cứ lúc nào
Ngoài ra, ta còn thấy một số sách nói về Vương Mông như: Cuốn Văn học sử đương đại Trung Quốc của Kim Bỉnh Hoạt, Nxb Đại học Diên Biên, năm 2001 (金 秉 活, 中 国 当 代 文 学 史, 延 边 大 学 出 版 社, 2001
年) Tạp chí Văn học Trung Quốc và dòng ý thức của Ân Quốc Minh, Nxb
Đại học Học báo Gia Ưng, năm 2007 (殷 国 明, 中 国 文 学 与“意 识 流”,
嘉 应 大 学 学 报,2007 年) Các cuốn này nói qua về nhà văn Vương Mông và một số đặc điểm trong nghệ thuật tiểu thuyết của ông
Ở Việt Nam, Phạm Tú Châu viết bài “Vương Mông và con đường sáng
tác hơn 40 năm” đăng trong Tạp chí văn học Nước ngoài số 4, 1999 Bài viết
của Lê Huy Tiêu: “Vương Mông- nhà văn đi tiên phong trong việc đổi mới
Trang 10tiểu thuyết đương đại Trung Quốc” in trong cuốn Tiểu thuyết Trung Quốc thời
kỳ cải cách mở cửa của Nxb Giáo dục Việt Nam, 2011 Những bài viết này
nói được khá đầy đủ những đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết của Vương Mông, tuy nhiên mới chỉ dừng ở mức độ khái quát mà chưa bàn kĩ về vấn đề “dòng ý thức” của ông
Nghiên cứu “Nghệ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết của Vương Mông”, chúng tôi hi vọng đóng góp một chút lí luận để giúp bạn đọc hiểu biết
hơn về nhà văn có ảnh hưởng lớn đến độc giả Việt Nam như hiện nay, đồng thời đưa ra phương pháp nghiên cứu theo hướng thi pháp học để khám phá đặc điểm nổi bật trong sáng tạo nghệ thuật của ông
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn Nghệ thuật “dòng ý thức” trong tiểu thuyết của Vương Mông, sẽ làm rõ hơn vấn đề “dòng ý thức”(意识流)trong một số tác
的眼), Chiếc lá phong(枫叶), Dải cánh diều(风筝飘带) Qua đó,
giúp người đọc thấy được cái hay, cái đẹp cái độc đáo trong tiểu thuyết của ông
4 Phạm vi tư liệu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng văn bản chính là Bản dịch Hồ
điệp của dịch giả Phạm Tú Châu, Nxb Công an nhân dân, H, 2006 Bản dịch Cao lương đỏ và những truyện khác do PGS TS Lê Huy Tiêu dịch, Nxb Văn
học, H, 2004
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11Trong việc giải quyết đề tài, chúng tôi vận dụng các phương pháp sau: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp khảo sát thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp liên ngành, phương pháp tiếp cận văn hóa, xã hội, lịch sử dưới góc độ thi pháp học
6 Bố cục Luận văn
Luận văn gồm: phần Mở đầu, nội dung 3 chương, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung cụ thể của các chương như sau:
Trang 12Chương 1 “DÒNG Ý THỨC” VỚI TIỂU THUYẾT HIỆN ĐẠI
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM “DÒNG Ý THỨC” TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VƯƠNG MÔNG
Chương 3 NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN “DÒNG Ý THỨC” TRONG TIỂU THUYẾT CỦA VƯƠNG MÔNG
Trang 13PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
“DÒNG Ý THỨC” VỚI TIỂU THUYẾT HIỆN ĐẠI
1.1 Nền tảng ra đời nghệ thuật “dòng ý thức” trong văn học
Từ khi loài người hình thành, tiến hóa, lao động kiếm sống, ý thức đã phát triển song song với khả năng giao tiếp, ngôn ngữ Vậy “ý thức”(意识)là gì? Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về “ý thức”, tựu chung lại
“ý thức” là phần “hồn” của con người, đó là khả năng nhận biết các sự kiện
tâm linh cũng như giác quan có khả năng nhận biết các sự kiện vật lý Ý thức bao gồm nhiều yếu tố: tri thức, ý chí, cảm giác, trong đó tri thức là căn bản Chủ nghĩa Duy Tâm(唯 心 主 义)cho rằng: ý thức có trước vật chất có sau
và ý thức sản sinh ra vật chất Ngược lại, Chủ nghĩa Duy Vật(唯 物 主 义)cho rằng: vật chất có trước và sản sinh ra ý thức
Tâm lí học hiện đại(现 代 心 理 学)cho rằng: “ý thức” của con người là các phản ứng của cảm giác và tinh thần với những mức độ khác nhau, bao gồm tư duy hợp lí từ mức độ thấp nhất với cảm giác mơ hồ trước khi hình thành ngôn ngữ đến mức độ cao nhất có được sự biểu đạt rõ ràng Trong thời khắc nhất định, ý thức của một con người là dòng liên tục không dứt, được tạo thành từ cảm giác, tư duy, hồi ức, ảo giác, liên tưởng ở mức độ khác nhau Cho đến nay, ý thức vẫn tiếp tục là đề tài được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều khám phá mới mẻ, có đóng góp rất quan trọng trong sáng tác văn học nghệ thuật
Trang 14“Dòng ý thức” là một kĩ thuật tự sự của văn xuôi hiện đại Nó được
khơi nguồn từ công trình Nguyên lí tâm lí học (1890) của nhà tâm lí học, nhà
triết học thực dụng William James (1842- 1910) Ông cho rằng “ý thức” là một dòng chảy, dòng sông, trong đó các ý nghĩ, cảm giác, các liên tưởng thường xuyên đan xen, hòa quyện vào nhau một cách lạ lùng, “phi lôgic”
Trong cuốn Dẫn luận phê bình văn học, các tác giả Mỹ phát biểu về khái niệm “dòng ý thức”: “Một biến thái hiện đại của điểm nhìn ở ngôi thứ nhất,
đó là một phương tiện được gọi là dòng ý thức ( ) Phương tiện này được sử dụng bởi James Joyce trong Ulysses, bởi Virginia Wolf và đôi khi bởi Faulkner, thường không giống nhau và không nên đồng nhất nó với lời giải thích thêm của người kể chuyện về suy nghĩ của nhân vật.” [27, 69]
Nhà phê bình văn học Molibva lại đồng nhất “dòng ý thức”(意 识
流)với “độc thoại nội tâm”(内 心 独 白): “Nó xuất hiện như diễn từ
không biểu đạt nên lời của các nhân vật hoặc như diễn từ của tác giả, nhân danh mình mà nói, nhưng có thể coi như đã mượn từ vựng và giọng điệu của nhân vật; hoặc như đối thoại bên trong ở đó giọng nói của nhân vật; bị
sẻ làm đôi thành hai giọng phân biệt và đối nghịch; nó xuất hiện dưới hình thức một chuỗi kết luận có tổ chức cũng như qua những ý kiến mơ hồ và hỗn loạn” [27, 70]
Theo tiến sĩ Arvind Nawale (Ấn Độ), trong một bối cảnh văn học, thuật ngữ “dòng ý thức” được dùng để chỉ một phương pháp tự sự mà theo đó các nhà viết tiểu thuyết mô tả những suy nghĩ và tình cảm không nói ra của nhân vật, không sử dụng đến cách mô tả khách quan, hoặc những suy nghĩ và tình cảm phong phú của nhân vật mà không quan tâm đến lập luận lôgic Bằng kĩ thuật dòng ý thức, nhà văn muốn phản ánh mọi lực lượng bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến tâm lí của nhân vật tại một thời điểm
Trang 15Tiểu thuyết “dòng ý thức” ra đời có đóng góp quan trọng từ Chủ nghĩa trực giác của Henri Bergson và các học thuyết Tâm lý học, Phân Tâm học của
W James và S Freud
Nhận thức trực giác là giai đoạn tiếp theo của hoạt động tiếp xúc với hiện thực, tác động đến thế giới và khởi đầu cho một sự cảm thụ hoàn hảo dựa trên việc khám phá chiều sâu bản thể của đối tượng Vậy nên, nhiều nhà triết học, mỹ học và nghệ sĩ đã chủ trương sử dụng trực giác để chiếm lĩnh thế giới một cách trọn vẹn có chiều sâu và đầy cá tính
Cảm xúc thông thường đối với đối tượng chưa thể nảy sinh rung động mãnh liệt dẫn đến nhu cầu sáng tạo Trực giác lại giúp con người chìm ngập nhanh chóng vào dòng ý thức và thực tại sâu thẳm Nó không kết thúc ở đánh giá phân tích đơn thuần như cách cảm nhận lý tính thông thường, những nhận xét lôgic của lý trí đối với cái đẹp và nghệ thuật đôi khi không tiếp cận được dòng chảy bí ẩn bên trong Tính chất trực tiếp của trực giác, mối liên hệ của trực giác với tưởng tượng và tình cảm con người đã cho phép coi trực giác là yếu tố hết sức quan trọng của thụ cảm thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật
Nhà triết học của Chủ nghĩa Duy ý chí (唯 意 志 主义) Friedrich Wilhelm Nietzche chủ trương nhận thức hiện thực bằng trực giác “Trực giác thủy chung là một sức mạnh sáng tạo tích cực” Trực giác là một thấu thị gắn với nhu cầu của bản năng và ý chí của sinh mệnh chủ thể Nhà triết học Italia Benedetto Croce với Chủ nghĩa biểu hiện (表 现 主 义) cũng xây dựng quan niệm nghệ thuật với điểm xuất phát từ nguồn gốc của trực giác Trực giác không cần sự hỗ trợ của lý trí và không bị ràng buộc bởi định kiến nào Trong trực giác đã bao hàm quá trình sáng tạo và thưởng thức mang đầy tính biểu hiện
Trang 16Trong thuyết Chủ nghĩa trực giác (直 觉 主 义) của Henri Bergson, thì trực giác được đề cao, bởi trực giác phá vỡ được bức tường ngăn cách nhận thức của con người với vạn vật Những quan sát bên ngoài chỉ được chuyển hóa thành quan sát bên trong qua con đường trực giác Bergon cho rằng trực giác khác với trí tuệ, nó cho ta bắt gặp được tức thời cái tuyệt đối, cái huyền niệm- nó không do lý trí, không do trí tuệ nhưng nó cho ta khả năng trực tiếp
đi vào trí tuệ, vào cái biết cao sâu, tinh tế nhất mà không qua suy tư, lý luận
Giống như những nhà mỹ học, triết học trước đó, Henri Bergson cũng chủ trương dùng trực giác để đi sâu nhận thức và khám phá những phương diện của cuộc sống và con người Nhận thức thông thường mang tính chất lý tính không thể đi vào bản thể của đối tượng, vì còn phải dựa vào các giác quan và ngôn ngữ là những thứ có tác dụng ngăn cách Chỉ có trực giác mới nhận thức bản thể một cách trọn vẹn và trực tiếp
Từ nền tảng kiến thức của Chủ nghĩa trực giác của Bergson, văn học phương Tây hiện đại đã xuất hiện hiện tượng gọi là “dòng ý thức” Khái niệm
“thời biến” của ông đã có ảnh hưởng rất nhiều đến cấu trúc, thời gian- không gian của dòng tiểu thuyết “dòng ý thức”
Freud
Tâm lý học cơ năng của James nhắc rất nhiều đến thuật ngữ “dòng ý
thức” Trong chương IX cuốn Nguyên lý tâm lý học của ông, “dòng ý thức”
được nhắc đến ít nhất tới năm lần và nó còn thường xuyên được thay thế bằng cách nói “dòng tư tưởng”(思 想 流) Đó là một cách nói tương đối sinh động, biểu hiện một cách dễ hiểu con đường của những tâm tư, suy nghĩ, những bối rối ở bên rìa vô thức của con người “Dòng ý thức” không phải biểu hiện một cách lẻ loi, vụn vặt, một điểm, một giọt Thí dụ những từ dạng
“một chuỗi liền” hoặc “một loạt” v.v đều không thích hợp như cách nói
Trang 17trước đó Ý thức không phải là sự gắn nối của mảnh đoạn, mà là trôi chảy Dùng hình ảnh một “dòng sông” hoặc một luồng “nước chảy” để biểu đạt nó
là rất hình tượng Từ đó trở đi, người ta bắt đầu nhắc đến “dòng tư tưởng”,
“dòng ý thức” hoặc là “dòng của đời sống chủ quan”
Khái niệm này đã có một ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới nền văn học nghệ thuật hiện đại thời bấy giờ, hình thành nên bút pháp “dòng ý thức” Bút pháp “dòng ý thức” có nghĩa là người thuật chuyện thể hiện lại “dòng ý thức” của nhân vật bao gồm những ý nghĩ, liên tưởng, cảm xúc liên tục đan xen vào nhau và chuyển động liên miên tiếp nối như một dòng nước chảy
Tuy nhiên, Tâm lý học cơ năng của William James mới chỉ dừng lại ở
việc miêu tả và giải thích trạng thái động của ý thức Phải đến Phân tâm học
của Sigmund Freud cùng với việc phát hiện “bộ máy tâm thần”, tâm lý con người mới được mổ xẻ, phân tích toàn diện, đa chiều hơn Freud cho rằng:
“Quá trình tâm lý chủ yếu là thuộc về tiềm thức còn như quá trình tâm lý của
ý thức chẳng qua chỉ là một động tác bộ phận được phân tách ra từ toàn bộ tâm linh Chúng ta cần nhớ rằng trước nay người ta thường cho tâm lý là ý thức, là đặc trưng của đời sống tâm lý, và tâm lý học được xem là khoa học nghiên cứu nội dung của ý thức Cách nhìn này quá rõ ràng đến nỗi bất kỳ một sự phản đối nào cũng bị xem là gây rối Nhưng trái lại, Phân tâm học cho rằng tâm linh có bao hàm tác dụng của tình cảm, tư tưởng, dục vọng
mà tư tưởng và dục vọng đều có thể là tiềm thức” [11, 265],
Sigmund Freud đã nêu ra kết cấu ba tầng của hoạt động tâm lý con người như sau:
- “Hệ thống vô thức: Đây là kho tàng của dục vọng và bản năng sinh
vật Nhưng bản năng và dục vọng này chất chứa những năng lượng tâm lý mạnh mẽ, phục tùng theo nguyên tắc khoái lạc, và ra sức xâm tràn vào cõi ý thức để được thoả mãn
Trang 18- Hệ thống tiềm thức (tiền ý thức, hạ ý thức): Nó được cấu thành bởi những kinh nghiệm được hồi tưởng, làm thành bộ phận trung gian mang tính chất cảnh giới giữa hệ thống ý thức và vô thức, trong đó cất giấu lương tâm
và lý tưởng cá nhân được cấu thành bởi những chuẩn tắc, quy phạm và quan niệm về giá trị, về xã hội, luân lý và tôn giáo Đó là hạt nhân, đóng vai
“người kiểm tra” trong hệ thống tiềm thức, có nhiệm vụ ngăn cản không cho những bản năng mạnh mẽ xâm nhập vào ý thức
- Hệ thống ý thức, đối diện với thế giới bên ngoài hoàn thiện tác dụng của những khí quan, phục tùng nguyên tắc hiện thực Nó có nhiệm vụ bài trừ những bản năng và dục vọng thú tính có tính chất tiên thiên ra khỏi ý thức Giữa hệ thống ý thức và vô thức luôn có trạng thái xung đột gay gắt” [11,
268, 269]
Trong sự nghiệp sáng tác của Freud, Giải mộng là tác phẩm có giá trị
soi sáng những ngóc ngách trong tâm hồn của con người, làm sáng tỏ những
bí mật của nó Trước đó, hiện tượng giấc mơ đã được nhiều nhà nghiên cứu hướng đến, nhưng Freud là người đầu tiên bàn về nó và vai trò cụ thể của nó trong nghệ thuật một cách mạnh bạo, tường tận và có hệ thống hơn cả
Freud cho rằng ban ngày hàng loạt ước muốn tiềm ẩn bị khống chế bởi
“tự ngã” và “siêu ngã” không thể bộc lộ Đến đêm ngủ sự khống chế và giám sát ấy lơi lỏng, những ước muốn kia mới có khả năng bộc lộ ra Nhưng sự giám sát và khống chế không phải là mất hết trong giấc ngủ, cho nên hàng loạt ước muốn tiềm ẩn kia phải thay đổi hình dạng, ngụy trang để đi vào giấc
mơ với nhiều hình ảnh thiên biến vạn hóa Giấc mơ không phải là tiềm thức
mà là kết quả của tiềm thức đã được cải tạo bởi ý thức Ngoài Giải mộng ra
những nghiên cứu của ông về “ẩn ức tình dục trong vô thức”, về “mặc cảm Êdíp” hay “tình dục ấu thơ” đã tạo nên ảnh hưởng sâu sắc cho văn học nghệ
Trang 19thuật trong việc khám phá, thể hiện “tảng băng chìm” bên trong tâm hồn con
người Với Freud, “tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ, giấc mơ
cũng có một ngữ pháp, nhờ đó mà sắp xếp lại được những hình ảnh- kí hiệu lộn xộn, ngẫu nhiên theo một cách nào đó để tìm ra ý nghĩa.” [69, 12]
Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 Thuật ngữ Văn học cho rằng: “Độc
thoại là phát ngôn dài dòng, rườm rà, không dự tính có một lời đáp nào xuất hiện tức khắc hoặc hoàn toàn không nhằm nói với ai cả” Còn “Độc thoại nội tâm là phát ngôn của nhân vật nói với bản thân mình, trực tiếp phản ánh quá trình tâm lý bên trong, kiểu độc thoại thầm, (hoặc “lẩm bẩm”) mô phỏng hoạt động suy nghĩ- xúc cảm của người trong dòng chảy trực tiếp của nó” [12, 197] Trước kia “độc thoại nội tâm” (内 心 独 白)
chỉ là một biện pháp nghệ thuật mà nhà tiểu thuyết sử dụng để miêu tả đời sống nội tâm bên trong của nhân vật, làm phong phú thêm hình ảnh nhân vật bên cạnh việc miêu tả ngoại hình và hành động bên ngoài Với tiểu thuyết hiện đại, “độc thoại nội tâm” không chỉ là một kỹ thuật tự sự mà còn
là nội dung, nghĩa là bên cạnh vai trò là một phương tiện nó còn là mục
đích, đối tượng miêu tả Và đỉnh cao của tiểu thuyết “độc thoại nội tâm” người ta thấy xuất hiện thuật ngữ “dòng ý thức”
Một số nhà phê bình sử dụng thuật ngữ “dòng ý thức” và “độc thoại nội
tâm” tương đương qua lại với nhau Tuy nhiên, “dòng ý thức” có thể xem là
một thuật ngữ tổng quát, nghĩa là tất cả những phương tiện đa dạng được nhà văn sử dụng để truyền tải trạng thái, quá trình tâm lý tổng hợp của nhân vật
“Độc thoại nội tâm” vì thế mà được coi là một loại của “dòng tâm tư”, có tác
dụng giới thiệu với bạn đọc tiến trình và nhịp điệu của dòng tâm tư một cách
tỉ mỉ, chính xác như là nó diễn ra trong tâm trí nhân vật Trong “độc thoại nội
Trang 20tâm”, nhà văn không được quyền can thiệp dù chỉ là rất ít dưới bất kỳ hình
thức nào, như người diễn tả, người hướng dẫn, người nhận xét và không được sắp xếp lại những quá trình tâm lý lộn xộn vào trong những câu văn ngữ pháp hay thứ tự lôgic và mạch lạc “Độc thoại nội tâm” trong ý nghĩa đầy đủ của
nó, đôi khi là sự miêu tả chính xác quá trình tâm lý của nhân vật, nhưng vì những cảm xúc, hình ảnh trong tâm trí, cảm giác và những dạng khác nhau của suy nghĩ bản thân nó không tự nói thành lời, nên rõ ràng nhà văn chỉ có thể biểu đạt chúng bằng cách biến đổi chúng vào một số dạng lời nói tương đương Phần lớn sự chuyển đổi này là vấn đề của quy tắc trong tự sự hơn là sự tái hiện lộn xộn
“Dòng ý thức” có phần tương tự với “độc thoại nội tâm” và người ta thường hay nhầm lẫn với thủ pháp này, nhưng thực chất “độc thoại nội tâm”
có một điểm hoàn toàn khác biệt là khả năng cho phép người độc thoại trực tiếp nói với chính mình (thường ở thì hiện tại) Còn ở “dòng ý thức”, người thuật chuyện thường đứng ở vị trí kẻ quan sát thứ ba, cấu trúc cú pháp và trình tự thời gian bị đẩy tới một mức độ hoàn toàn hỗn loạn Nói cách khác,
“dòng ý thức” là mức tới hạn, là dạng cực đoan của “độc thoại nội tâm” Như vậy “độc thoại nội tâm” và “dòng tâm tư” có tính hướng nội hơn so với độc thoại, nó cho phép nhà văn nắm bắt được những ý nghĩ đang hình thành Ranh giới giữa “độc thoại nội tâm” và “dòng tâm tư” (dòng ý thức) rất khó phân định cho thật tường minh Sự khác biệt, như đã đặt vấn đề ngay từ đầu, nằm ở
mức độ liều lượng “Nếu độc thoại nội tâm chỉ xuất hiện trong một số tình
huống đối thoại nhất định, thì truyện kể tâm tư là dòng chảy triền miên của ý thức làm nên cốt truyện và vì vậy nó là giọng chủ đạo của lời kể.” [32, 27]
Trang 21Các nhà văn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã đi tìm các khả năng mới của “độc thoại nội tâm” Đầu thế kỷ XX, hình thức “độc thoại nội tâm” được đẩy lên cao thành “dòng ý thức”
“Dòng ý thức” trong tiểu thuyết trở thành một xu hướng sáng tạo văn học ở thế kỷ XX, tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, những xúc cảm, những liên tưởng ở con người
Trang 221.2 “Dòng ý thức” với tiểu thuyết hiện đại
Bản thân văn chương là hoạt động sáng tạo nghệ thuật Đó là hành trình khám phá những điều chưa biết về đối tượng mà nó hướng đến Sự đổi mới trong văn chương cũng phải chập chững những bước đầu tiên từ sự khám phá, được thôi thúc bởi thái độ nhiệt tình và lòng say mê Ở luận văn này, chúng tôi chủ yếu trình bày quan niệm đổi mới trên phương diện nghệ thuật tiểu thuyết
Lịch sử sang trang, bước sang thế kỉ XX, đời sống biến động dữ dội đến mức người ta có cảm giác không thể nắm bắt được nó Điều này trở thành
một thách thức lớn cho nhà tiểu thuyết bởi lẽ “ngày nay thế giới thay đổi
nhanh chóng đến nỗi không có một xã hội nào bền vững, ổn định để nhà tiểu thuyết có thể miêu tả Ý đồ của nhà tiểu thuyết là tìm những đường viền và hình thức kể chuyện đã thất bại vì hình thức không ổn định của cuộc sống ngày nay.” [11, 101] Đứng trước vấn đề này, độc giả, giới phê bình, ngay cả
những nhà văn đặt ra câu hỏi như: Liệu tiểu thuyết có khủng hoảng? Tiểu thuyết đi về đâu? Số phận của tiểu thuyết như thế nào? Việc trả lời câu hỏi này đưa lại những ý kiến khác nhau Ở đây chúng tôi không có ý định đề cập đến các quan điểm về tương lai tiểu thuyết mà qua cách đặt vấn đề như trên chúng tôi muốn khẳng định đổi mới tiểu thuyết là tất yếu, khách quan
Sự đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết diễn ra trên nhiều phương diện từ việc miêu tả tâm lý, tính cách nhân vật, cốt truyện, người kể chuyện, điểm nhìn, đảo lộn thời gian, chuyển đổi không gian, vận dụng ảo giác, theo đuổi tượng trưng, độc thoại nội tâm, dòng ý thức Cần lưu ý rằng, đổi mới không nên hiểu một chiều là sự phủ nhận, đối lập với truyền thống Nói như vậy có nghĩa là giữa chúng không phải chỉ có sự đối lập và khác biệt Không thể nào phủ nhận sự tồn tại song song của những yếu tố truyền thống bên cạnh sự đổi
Trang 23mới Một nhà văn dù muốn đi tìm cái mới đến đâu, cũng không thể cắt đứt hoàn toàn với truyền thống Nó có sẵn trong anh ta, huống chi viết văn bao giờ cũng là hành động đối thoại
Đi tìm những hiện tượng chung của nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại không cản trở việc nói đến những cá tính sáng tạo Sự đa dạng của những phong cách không mâu thuẫn với những yếu tố có tính chất hệ thống trong
mọi nền nghệ thuật D.Markov trong khi đề cập tới Những vấn đề của thi
pháp đã xác nhận: “sự tồn tại khách quan của những phương tiện khái quát nghệ thuật” ( ) “Chúng không chỉ liên quan tới một nhóm nhà văn đại diện cho một trào lưu này hoặc trào lưu nọ.” [27, 9] Những phong cách riêng
không hề hạn chế việc ta nhìn thấy bức tranh toàn cảnh về tiểu thuyết hiện đại, mà điều lí thú là những cá tính sáng tạo rất đa dạng này đều bị gắn chặt với một cái nền chung, để rồi tác động ngược trở lại, tạo nên những mảng đậm nhạt sáng tối trên đó Một nhà văn như Kafka không thuộc một trường phái, một trào lưu nào Song cái thiên tài độc đáo không thể lặp lại ấy vẫn để lại dấu ấn không phai mờ ở nhiều tài năng khác, đến nỗi họ ghép Kafka vào những “chủ nghĩa” của họ
Những hiện tượng đổi mới của nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây vừa
là sản phẩm của những truyền thống, vừa chịu chi phối của những đổi mới trong đời sống vật chất tinh thần của con người hiện đại Một trong những phương diện đổi mới quan trọng là khám phá đời sống nội tâm phức tạp của con người hiện đại Nghệ thuật “độc thoại nội tâm” không phải lần đầu tiên xuất hiện ở thế kỉ XX Song liều lượng khác thường của nó ở một số tác phẩm, những chất lượng mới đã khiến nó xuất hiện như một sự đổi mới của tiểu thuyết thế kỉ XX
Tiểu thuyết hiện đại thế kỷ XX gắn liền với tên tuổi các nhà văn như F Kafka, J.Joyce, M Proust, Louis Aragon, Tuy các tác phẩm của họ đến nay
Trang 24vẫn còn gây tranh luận nhưng nỗ lực đưa tiểu thuyết ra khỏi khuôn khổ cũ và tiến một bước dài trong lịch sử thể loại là điều khó phủ nhận Việc đổi mới nghệ thuật đem lại cho tiểu thuyết sức hấp dẫn mới và gieo vào bạn đọc một niềm tin tưởng vào tương lai tiểu thuyết
Ở Trung Quốc khi nói về đổi mới tiểu thuyết, một số người cho rằng: Đổi mới chính trị là tất yếu và đương nhiên, tất yếu sẽ đưa sự đổi mới về văn học, hay nói một cách chính xác hơn như Lương Khải Siêu đã viết: Muốn đổi mới một đất nước không thể không đổi mới tiểu thuyết nước ấy Muốn đổi mới đạo đức phải đổi mới tiểu thuyết, muốn đổi mới tôn giáo phải đổi mới tiểu thuyết, muốn đổi mới chính trị phải đổi mới tiểu thuyết, muốn đổi mới phong tục phải đổi mới tiểu thuyết, muốn đổi mới học thuật phải đổi mới tiểu cho đến muốn đổi mới lòng người, nhân cách cũng phải đổi mới thuyết Quan niệm trên chứng tỏ rằng, tiểu thuyết đã thực sự đóng vai trò là hạt nhân trong văn học Trung Quốc đương đại Đó cũng chính là một động lực để tiểu thuyết đương đại Trung Quốc phát triển rực rỡ và ngày càng đạt nhiều thành tựu mới
Trên thế giới ngày nay, sự đổi mới của nghệ thuật tiểu thuyết không chỉ được các nhà nghiên cứu phê bình quan tâm, mà ngay cả các nhà văn, nhà viết tiểu thuyết cũng bàn về nó
1.2.2 Nghệ thuật “dòng ý thức”- một sáng tạo của tiểu thuyết phương Tây thế kỷ XX
Có ý kiến cho rằng, ở phương Tây mầm mống tiểu thuyết có từ thời cổ
đại, với cuốn tiểu thuyết Satyricon của nhà văn La Mã Petronius Arbiter (thế
kỷ I sau CN) và một số cuốn tiểu thuyết khác cũng của các nhà văn La Mã
như tiểu thuyết Biến dạng hay Con lừa vàng của Apuleius (thế kỷ II sau CN)
Tác phẩm của hai nhà văn này lần đầu tiên kể về cuộc sống của những người bình dân, đối lập với thể loại có tính quý tộc là thơ ca và trường ca sử thi Và
Trang 25trên thực tế, ở thời cổ đại người ta chỉ chú trọng thơ ca, kịch thơ và trường ca
sử thi (hay anh hùng ca) Ngay trong suốt thời trung đại, thì trường ca sử thi anh hùng vẫn là thể loại chính Vì thế mà tác phẩm của Petronius Arbiter và Apuleius đã không gây được sự ảnh hưởng Phải đến thời Phục Hưng thì tiểu thuyết mới thực sự hình thành, nhưng với mầm mống thể hiện trực tiếp của nó không phải là ở thời cổ đại, mà là ở truyện ngắn cuối trung đại với tập truyện
ngắn nổi tiếng Truyện mười ngày viết bằng ngôn ngữ bình dân của Giovanni Boccacio (1313- 1375) Đến lúc này hai tác phẩm Pantagruel (1532) và Gargantua (1534) của Francois Rabelais mới thực sự đánh dấu mốc cho sự ra
đời của tiếu thuyết Tiểu thuyết tồn tại với tư cách là một thể loại độc lập, có thi pháp riêng bên cạnh các thể loại văn học đã từng tồn tại và phát triển hàng nghìn năm trước đó như thơ trữ tình, sử thi… Trong khi đó ở phương Đông,
tiểu thuyết đã xuất hiện từ thế kỉ thứ X, với tiểu thuyết Truyện Genji của nhà
văn Nhật Bản- Murasaki Shikibu Tác phẩm được viết trong triều đại Thiên
hoàng Ichijo (986 - 1011) Như vậy, nếu xem Truyện Genji là sự khởi đầu
của thể loại tiểu thuyết thì đến nay tiểu thuyết đã tồn tại hơn 10 thế kỉ, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, được xem là thể loại có tính dân chủ nhất Và tiểu thuyết đã không ngừng phát triển cho đến ngày nay Ở mỗi giai đoạn, tiểu thuyết lại được các nhà văn sáng tạo ra kỹ thuật mới để hoàn thiện và làm giàu cho nghệ thuật tiểu thuyết Ở giai đoạn đầu, khi tiểu thuyết mới được định hình như là một thể loại lớn của văn học tự sự, thì nó luôn muốn khẳng định tầm vóc bao quát của nó với vai trò điều phối của người kể chuyện Với dấu ấn vẫn còn sâu đậm của thể sử thi anh hùng ca, tiểu thuyết vẫn tôn cao vai trò của người kể chuyện khách quan “biết tuốt” Cốt truyện được triển khai theo cấu trúc tuyến tính dưới con mắt khách quan của người kể chuyện Người ta gọi đó là cấu trúc hướng ngoại; thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật gần như trùng khớp với thời gian và không gian tự nhiên
Trang 26Đến chủ nghĩa lãng mạn, cái nhìn xã hội của nhà văn đã có sự thay đổi, dẫn đến sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật, và từ đó quy định lại cấu trúc của tiểu thuyết Nhà văn lãng mạn không tố cáo xã hội đương thời bằng con đường trực diện như các nhà văn hiện thực phê phán Họ nhìn xã hội bằng con mắt bi quan và hoài nghi Từ đó họ quay lưng lại với xã hội, đi tìm cái đẹp nghệ thuật trong quá khứ, đi tìm cái đẹp trong nội tâm con người, trong cái tôi
cá nhân của nhà văn, hay từ bỏ xã hội tư sản phương Tây để đến với thế giới ngoại lai, thế giới kỳ ảo Cái tôi chủ quan của nhà văn thay thế cho cái hiện thực khách quan của đời sống xã hội Từ đó xuất hiện mô hình “cấu trúc hướng nội” của tiểu thuyết
Có thể nói, cùng với chủ nghĩa lãng mạn xu hướng thăm dò nội tâm sâu
xa của cái tôi cá nhân đã mở ra một miền đất mới với tiềm năng vô hạn cho
cấu trúc tiểu thuyết Trong Những người khốn khổ nhà văn Victor Hugo đã
từng nói: Có một điều khác thường là anh phải nhìn vào nội tâm để thấy được cái bên ngoài Tấm gương sâu xa và tăm tối nằm ở trong sâu thẳm của con người Cái được phản chiếu trong tâm hồn con người có khả năng gây choáng ngợp hơn so với cảnh tượng nhìn thấy trực tiếp ở bên ngoài Biển đã rộng nhưng trời còn mênh mông hơn, trời đã mênh mông nhưng thấm gì so với lòng người vô biên vô tận! Nhìn vào đâu mà thấy nhiều ánh sáng hoặc nhiều bóng tối bằng nhìn vào lòng người!
Cấu trúc hướng nội của tiểu thuyết ra đời không phải là để thay thế cho cấu trúc hướng ngoại, mà nó chỉ bổ sung thêm một mảng hiện thực mới và vô cùng quan trọng của đời sống con người mà trước đó ít được quan tâm: đời sống nội tâm và đời sống tâm linh Tuy nhiên, tiểu thuyết thế kỉ XX vẫn được coi là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống, có dung lượng phản ánh phong phú và nhà tiểu thuyết chính là người “thư kí trung thành của thời đại” (Balzac) Cho dù “hướng nội” hay “hướng ngoại”, tiểu thuyết vẫn bị bó buộc trong mô hình đại tự sự
Trang 27Văn học của chủ nghĩa hiện đại muốn vượt ra khỏi sự trói buộc của dòng văn học hiện thực bằng cách đưa ra những khái niệm như “dòng thời gian đứt đoạn” Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa hiện đại là lối “siêu” kể chuyện mang tính bứt phá Có thể nói chủ nghĩa này là một phong trào muốn thoát li khỏi ảnh hưởng về ngữ nghĩa, văn phong và hình thức của chủ nghĩa lãng mạn Nó khai thác những chủ đề trần tục và có một thái độ bi quan nặng
nề, từ bỏ thái độ lạc quan của văn học thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX Sự khủng
hoảng ấy đã gây nên “căn bệnh mới của thế kỉ” (M Raimond): “đó là sự cô
đơn vô phương cứu chữa của con người, sự bất lực của con người, không thể nào giao tiếp nổi với kẻ khác.” [27, 78] Các tác gia tiểu thuyết hiện đại luôn
vượt qua những giới hạn của tiểu thuyết hiện thực do họ quan tâm tới nhân tố lớn hơn như một sự đổi thay về xã hội lịch sử Điều đó thể hiện rõ nét trong lối viết “dòng ý thức”
Nghệ thuật “dòng ý thức” đã bắt đầu được sử dụng từ trước thế kỷ XX Dẫu vậy phải bước sang thế kỷ XX, nghệ thuật này mới được sử dụng phong phú dưới nhiều cấp độ khác nhau Đỉnh cao của nghệ thuật “dòng ý thức” được hiện thực hóa trong các tác phẩm của M.Proust, Virginia Woolf,
J.Joyce Nổi tiếng nhất phải kể đến tác phẩm Ulysses của nhà văn Anh gốc
Ailen- James Joyce, câu chuyện chỉ diễn ra trong một ngày nhưng được kể
trên 700 trang Ulysses “đã đi đến cùng những khả năng nghệ thuật của xu
hướng này, sự nghiên cứu đời sống nội tâm con người được kết hợp với sự xói mòn ranh giới tính cách, sự phân tích tâm lý đôi khi trở thành mục đích tự thân.” [17, 123] Với tác phẩm này thì James Joyce đã cố gắng tìm ra cho
mình một phong cách và kĩ thuật viết để khiến cho những chuyện vặt vãnh thường ngày mang tầm ý nghĩa sâu rộng hơn Nghệ thuật “dòng ý thức” đã trở thành một nỗ lực cao độ để chiếm lĩnh và tái hiện cuộc sống trong một ngày bình thường ở vịnh Dublin, ngày 16- 6- 1904 Ông đã tái hiện thành công bức
Trang 28tranh ngoại cảnh, những kỉ niệm quá khứ và những suy tư của con người thông qua dòng hồi tưởng và cảm xúc Các nhân vật hầu hết đều sống trong những hồi ức của chính mình Đó là suy nghĩ của Marion Twwedy Bloom về người tình, về bí ẩn trong cơ thể con người những gã đàn ông mà ả đã từng chung chạ Leopold Bloom nhớ về cậu con trai duy nhất khi chết mới 11 ngày tuổi, nhớ về người cha đã tự sát Giáo viên y khoa Stephen Dedalus chợt bắt gặp thời thơ ấu của mình khi tiếp xúc với một học trò, anh lạc vào dòng suy nghĩ miên man về văn học, về những ngày còn là sinh viên, những ngày bất hạnh trong đời khi đi dạo một mình trên bờ biển
Sau này trong văn học Âu - Mỹ một số nhà văn vẫn tiếp tục theo đuổi nghệ thuật “dòng ý thức” ở những mức độ khác nhau “Dòng ý thức” đã cho thấy hiệu quả của nó trong việc đi sâu bộc lộ đời sống nội tâm, những tầng sâu tiềm thức, vô thức, mối liên hệ tới tính cách con người
1.2.3 Đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết “dòng ý thức”
Tiểu thuyết “dòng ý thức” hình thành vào những năm 20 của thế kỉ XX, lấy nước Anh làm trung tâm Đây là trường phái văn học lấy Gustave Flaubert, Fyodor Dostoevsky làm tiên phong, lấy Henri Jame là người đặt nền móng Tiểu thuyết “dòng ý thức” đi sâu vào cái tâm lý bí ẩn bên trong tâm lý con người, phân tích một cách tinh tế những tâm trạng và cả cái vô thức sâu kín trong con người nhằm đạt tới mức tối đa sự thể hiện những biến động quanh co, rối bời và rất khó nắm bắt của cõi lòng sâu thẳm Sử dụng thủ pháp đồng hiện kiểu điện ảnh, phá vỡ các lớp thời gian vật lý, làm đứt đoạn dòng chảy ngôn từ và mạch truyện, tính chất không liền mảnh của nhân vật, lối viết độc thoại nội tâm và phân tích tâm lý là những nghệ thuật tiêu biểu của tiểu thuyết “dòng ý thức” Nhà văn đã sử dụng phương pháp nội quan, lấy cảm xúc cá nhân và trực giác nhạy bén làm cách thức khám phá và phản ánh thực tại khách quan vào trong tác phẩm nghệ thuật
Trang 29Nhà nghiên cứu Ân Quốc Minh trong tạp chí Văn học Trung Quốc và
dòng ý thức, Nxb Đại học Học báo Gia Ưng, năm 2007 (殷 国 明, 中 国 文
学 与“意 识 流”, 嘉 应 大 学 学 报,2007 年), nêu ra tiểu thuyết “dòng ý thức” có những mô hình đối lập với tiểu thuyết truyền thống, hình thành nên những đặc điểm rõ nét sau:
- Tiểu thuyết “dòng ý thức”, xác lập nên “trung tâm ý thức” (意 识 中心)ra sức khám phá chiều sâu tâm lí Nhà tiểu thuyết tâm lí cho rằng, tiểu thuyết chủ nghĩa hiện thực truyền thống chú trọng hiện thực bên ngoài, miêu
tả hành vi câu chuyện và nhân vật, sắp xếp tình tiết câu chuyện, nhưng lại miêu tả sơ lược cảm nhận và đời sống nội tâm của nhân vật, điều này không phải là sự miêu tả chân thực, chân thực cao nhất là tâm hồn của con người, sáng tác tiểu thuyết nên bỏ những nhân tố bên ngoài, lấy chủ quan thay cho khách quan, cảm nhận chân thành từ cổ chí kim tâm hồn của con người Tiểu thuyết “dòng ý thức” chia hiện thực thành hai loại: một loại hiện thực giản đơn, bên ngoài, đồng nhất, khách quan; một loại hiện thực khác là riêng biệt, phức tạp, bên trong, chủ quan Vì thế, đối tượng miêu tả trung tâm của tiểu thuyết “dòng ý thức” là ý thức của con người, chú trọng biểu hiện quá trình ý thức, hoạt động tâm lí, bao gồm trạng thái tâm lí thông thường và trạng thái tâm lí khác thường, từ đó mà làm hiện lên tiềm thức của nhân vật Tiểu thuyết
“dòng ý thức” viết về tâm lí và ý thức nhân vật không giống như tiểu thuyết truyền thống xuất phát từ phương diện tác giả mà để nhân vật tự bộc lộ thông qua độc thoại nội tâm, tự do liên tưởng, phân tích tâm lí, tác giả lui vào hậu trường
- Tiểu thuyết “dòng ý thức” phá vỡ kết cấu trần thuật tuân theo không gian, thời gian tự nhiên, tạo nên kết cấu trần thuật theo “không gian, thời gian
Trang 30tâm lí” Tiểu thuyết truyền thống khi sắp xếp tình tiết thường tuân theo không gian, thời gian tự nhiên, phù hợp lôgic, quá khứ, hiện tại vừa có sự phân biệt, lại vừa có sự kế tiếp nhau, là mô hình kết cấu trần thuật tuyến tính Tiểu thuyết “dòng ý thức” lấy dòng ý thức và hoạt động tâm lí của nhân vật làm sợi dây kết cấu xuyên suốt tác phẩm, đảo lộn trật tự không gian, thời gian tự nhiên, quá khứ, hiện tại, hoặc là đồng hiện hoặc giao nhau, hoặc đảo nhau, có khi lấy dòng ý thức và hoạt động tâm lí nhân vật là một sợi dây từ một điểm tỏa đi nhiều hướng để kết cấu tác phẩm Những điều này đều làm cho tính hoàn chỉnh của câu chuyện bị chia tách, tính liên quan của tình tiết bị thủ tiêu, tâm lí nhân vật không phù hợp lôgic, chỉnh thể trần thuật thể hiện tính tùy ý, nhảy vọt
- Thủ pháp biểu hiện nghệ thuật của tiểu thuyết “dòng ý thức” phần lớn
là vận dụng “độc thoại nội tâm”(内 心 独 白), và “liên tưởng tự do”(自
由 联 想) Độc thoại nội tâm là thủ pháp sáng tác biểu hiện nội tâm, tình cảm thể nghiệm của nhân vật tiềm tàng trong những tầng thứ mà ngôn ngữ nhiều khi bất lực, có thể là một tầng, có thể là nhiều tầng phức tạp Liên tưởng
tự do là thủ pháp biểu hiện nghệ thuật tư tưởng, trong đó một từ hoặc một tư tưởng làm vật dẫn tạo ra một hệ thống quan hệ có thể có lôgic hoặc không có lôgic Tiểu thuyết “dòng ý thức” dùng để biểu hiện quá trình ý thức và hoạt động tâm lí của nhân vật, đặc biệt là để biểu hiện tiềm thức nhân vật, phần lớn dùng thủ pháp biểu hiện nghệ thuật là “độc thoại nội tâm” và liên tưởng tự do biểu hiện ra tình cảm nội tâm, thể nghiệm, liên tưởng của nhân vật
- Tiểu thuyết “dòng ý thức” cũng có nét đặc sắc trong việc vận dụng ngôn ngữ Thông thường, ngôn ngữ tiểu thuyết truyền thống đại đa số phù hợp với qui tắc ngữ pháp và lôgic lí tính, thông qua sự chỉnh lí, tổ chức hành
vi con người, nhưng tiểu thuyết “dòng ý thức” hướng tới biểu hiện chiều sâu ý
Trang 31thức nhân vật, biểu hiện tinh thần cảm xúc một cách sinh động, chân thực ý thức, đặc biệt đặc điểm của tiềm thức, nên khi vận dụng ngôn ngữ cũng thường là không phù hợp với qui phạm ngữ pháp, thiếu lôgic lí tính, thậm chí hỗn loạn, đảo lộn Tiểu thuyết “dòng ý thức” thuần túy ở phương Tây chạy theo “ngôn ngữ dòng ý thức” hoặc văn vần không có tiêu điểm, hoặc chữ đầu mỗi câu không viết hoa, phần lớn sử dụng từ vựng ngoại lai, thậm chí dùng mấy loại tổ hợp tự do ngôn ngữ, nhiều thể loại trong cùng một tác phẩm
Trong cuốn Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, nhà phê
bình Phương Lựu đã chỉ ra 5 đặc điểm của tiểu thuyết “dòng ý thức” xét về phương diện biểu hiện nghệ thuật như sau:
- Thời gian đảo lộn và dung hợp: Theo sự biến hóa của tâm lý và sự chuyển động của ý thức, thường xen kẽ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, làm cho thị giác, hồi ức và mong ước của nhân vật dung hợp lẫn nhau tạo ra kết cấu mới lạ cho truyện
- Những tình tiết liên tưởng tự do đan xen và nhảy cóc: Xoay quanh
“dòng ý thức” hồi tưởng của nhân vật trong một khoảng thời gian tuyến tính
bị phá vỡ, những tình tiết suy tư sẽ nhảy cóc, đan xen, trùng điệp
- Độc thoại nội tâm: Không cần sự giới thiệu của tác giả (hoặc nhân vật trần thuật), nhân vật tự dùng độc thoại để bộc lộ ý thức, vô thức của mình một cách hỗn độn và phi lôgic
- Sử dụng nhiều thủ pháp tượng trưng: Các nhà văn lẫn các nhà lý luận đều cho rằng cảm xúc, tình cảm cũng như tư duy của con người, và từ đó mối quan hệ giữa người và người hoặc giữa người với sự vật có nhiều điều huyền
bí không thể biểu hiện bằng ngôn ngữ mà phải dùng những sự vật để tượng trưng Do vậy, trong văn học “dòng ý thức” xuất hiện rất nhiều hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng
- Sự kỳ thị của ngôn ngữ và thể loại: Các nhà văn của trào lưu “dòng ý thức” chủ trương dùng “ngôn ngữ ảo mộng để biểu hiện ảo mộng” Họ vi
Trang 32phạm ngữ pháp và chính tả, không chấm phẩy, không viết hoa, loạn dùng từ nước ngoài cũng như phương ngôn thổ ngữ Thể loại thì được dùng hỗn hợp một cách rối rắm
Tiểu kết
Tiểu thuyết là thể loại quan trọng bậc nhất trong văn xuôi nghệ thuật hiện đại Tiểu thuyết có khả năng khám phá cuộc sống nhiều chiều và hướng đến vấn đề có tính đời tư Một phần bởi tiểu thuyết thuộc thể loại “sinh sau đẻ muộn”, có điều kiện gần gũi với con người hiện đại Người ta còn nhận thấy điều đó qua chất liệu và hình thức phát ngôn của nó
Nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến sự tự do và tính chất hiện đại của tiểu thuyết dựa trên xuất phát điểm của thể loại này là thời gian hiện tại, là cái
đương đại Balzac viết: “Tôi miêu tả một hiện tại đang bước đi” Như vậy,
yếu tố thời gian- cái hiện tại đã chi phối phần lớn tính chất tự do của tiểu
thuyết, cũng chính là yếu tố ám ảnh trong tiểu thuyết hiện đại “Tiểu thuyết
hiện đại nay lại càng phát huy nhiều thủ pháp nhấn mạnh cảm giác về hiện tại: Kĩ thuật dòng tâm tư, thời gian đồng hiện ” [27, 17] Từ đó có thể thấy
“dòng tâm tư” đã trở thành một trong những thủ pháp độc đáo, đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới tiểu thuyết
Tiểu thuyết hiện đại ngày càng có tham vọng chiếm lĩnh đời sống nội tâm phức tạp của con người Từ nghệ thuật độc thoại nội tâm, các cây bút tiêu biểu nhất thế kỉ XX như J.Joyce, M.Proust, Virginia Woolf, Faulkner gia tăng thêm nồng độ để phát triển thành nghệ thuật “dòng ý thức”
Trang 33CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM “DÒNG Ý THỨC” TRONG TIỂU THUYẾT CỦA
VƯƠNG MÔNG
2.1 Những tiền đề mới về văn hoá xã hội, về quan niệm con người hiện đại
2.1.1 Về văn hoá xã hội
Những bước ngoặt của lịch sử luôn luôn là cơ hội cho văn học phát triển Sau khi “Đại Cách mạng văn hoá” kết thúc (1976), đất nước Trung Quốc bước sang một trang sử mới
Văn học đương đại từ 1976 đến nay có ba lần thay đổi Lần thứ nhất vào năm 1979- 1980, từ văn học hiện thực chủ nghĩa truyền thống tách thành văn học phi hiện thực chủ nghĩa như tiểu thuyết “dòng ý thức” và thơ “mông lung” Lần thứ hai vào cuối 1984- 1985, văn học thay đổi không ngừng về hình thức, kỹ xảo, mà về quan niệm cũng khác với tiểu thuyết, thơ ca, văn học báo cáo, thậm chí cả với lí luận phê bình trước kia Thực sự là một cảnh tượng văn học đa nguyên hóa, xuất hiện nhiều phẩm loại tân kỳ Có biết bao loại tiểu thuyết khác nhau, nào là tiểu thuyết “tâm thái”, tiểu thuyết “kỷ thực”, tiểu thuyết “thể nghiệm”, tiểu thuyết “hoang tưởng”, tiểu thuyết “tìm cội”, tiểu thuyết “tả thực”, tiểu thuyết “tiên phong” Với đặc điểm “nhạt hóa” chủ đề,
“nhạt hóa” ý thức thời đại, “nhạt hóa” tính cách tích cực… Người ta gọi tiểu thuyết thời kì này là tiểu thuyết “tân tả thực”… Lần thứ ba 1989- 1990, người
ta thấy văn học đương đại ngả theo khuynh hướng chủ nghĩa hiện đại của phương Tây Văn học thời kì này gọi là “hậu tân thời kì” Nếu như văn học
“tân thời kì” (chỉ giai đoạn 1976- 1986) là gào thét, hứng khởi thì văn học
Trang 34Từ khi Trung Quốc bước vào Thời kỳ mới “Cải cách mở cửa”, cũng như nhiều lĩnh vực khác trong đời sống xã hội, văn học Trung Quốc đã có những thay đổi hết sức lớn lao Các phương diện từ quan niệm văn học, lý luận phê bình, chủ đề, đề tài, đến phương pháp sáng tác, thủ pháp biểu hiện đều có sự đột phá, cách tân, tìm tòi, thử nghiệm Các trào lưu sáng tác nối tiếp nhau ra đời tạo nên cảnh tượng phồn vinh chưa từng có
Cuộc sống xã hội thay đổi, tư tưởng giải phóng, tình cảm đa dạng, phức tạp đòi hỏi một hình thức văn học mới thể hiện Các nhà văn già và trung niên
ra khỏi “nhà bò” với tâm trạng u uất, họ đua nhau viết về vết thương lòng của mình và vết thương không thể hàn gắn được của dân tộc Các nhà văn trẻ được tự do sáng tác, tha hồ tung hoành ngòi bút viết về cái “bản ngã” Ngày nay Trung Quốc chuyển sang nền kinh tế hàng hóa, mở cửa với phương Tây, văn hóa Đông Tây được giao lưu, một số nhà văn đã tìm đến với văn học hiện đại chủ nghĩa phương Tây Vương Mông đã tiếp thu từ tiểu thuyết phương Tây những thủ pháp như coi trọng tâm lí, tăng cường ý thức chủ quan, “dòng
ý thức”, xáo trộn không- thời gian, đa thanh đa nghĩa, “nhạt hóa” chủ đề, tình tiết và nhân vật… Hay nhà văn Mạc Ngôn từng nói rằng: ông chịu ảnh hưởng của G.G Marquez và W Faulkner Trong sáng tác của mình, ông có tiếp thu những thủ pháp nghệ thuật, kĩ xảo biểu hiện của chủ nghĩa hiện đại, ông biết lược bỏ những hoạt động phi lôgic của tiểu thuyết phương Tây để cho gần gũi với tập quán của người Trung Quốc Bởi vậy ông thường dùng các thủ pháp nghệ thuật như: Thủ pháp tượng trưng, huyền ảo, thủ pháp “dòng ý thức” để biểu hiện tiềm thức của con người Thông qua sự liên tưởng của nhân vật, hạn chế của không gian bị phá vỡ, dòng ý thức của nhân vật đồng hướng về quá khứ, hiện tại, thành thị và nông thôn Sự liên tưởng của nhân vật biến hóa vô lường nhưng lại tập trung vào một điểm- đó là tâm linh của nhân vật La Tiểu
Thông (Trong 41 chuyện tầm phào)
Trang 35Có người vẫn đứng trên mảnh đất dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những thủ pháp biểu hiện của chủ nghĩa hiện đại phương Tây, nhưng cũng có những người bị chủ nghĩa hiện đại phương Tây mê hoặc Phủ nhận truyền thống, tạo
ra loại tiểu thuyết hoàn toàn mới mẻ, đặng hòa đồng với thế giới Xuất phát từ
quan niệm: "Cách tân nghệ thuật đầu tiên là đấu tranh với tập quán nghệ
thuật truyền thống" (Từ Kính Á) nên họ chủ trương tiểu thuyết không cần tả
chính diện cuộc sống xã hội, mà chỉ cần tả “dòng ý thức” là đủ
2.1.2 Quan niệm về con người hiện đại
M.Gorki nói “Văn học là nhân học”, con người chính là đối tượng hàng
đầu của văn chương, là trung tâm chú ý của các nhà văn Khi hướng tới đối tượng trung tâm của mình, tác phẩm văn chương không chỉ thể hiện đời sống
và phẩm chất của con người, không chỉ đặt ra và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa con người và con người, giữa con người và giới tự nhiên, mà quan trọng hơn là tìm hiểu, khám phá và phát hiện ra những bí ẩn nằm trong chiều sâu, những chiều kích khác nhau của con người
Nền văn hóa Trung Quốc nói chung, nền văn học Trung Quốc nói riêng
từ lâu chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Tam giáo (Nho, Phật, Đạo), đặc biệt là Nho giáo Nho giáo chú ý đến con người nhưng nhấn mạnh tới con người chức năng xã hội, xóa mờ con người cá nhân, con người bản năng với những khao khát tự nhiên
Nhà nghiên cứu Lưu Tái Phục cho rằng: “Dưới chế độ xã hội phong
kiến chuyên chế kéo dài ở Trung Quốc, giá trị của con người bị miệt thị, bị chà đạp, do đó quan niệm về con người chưa từng được hình thành Trong văn học Trung Quốc, việc nghiên cứu về con người đặc biệt mỏng Con người chỉ trong phạm vi luân lý phong kiến mới được thừa nhận, nhưng loại
“người” này là loại người được xếp vào quy phạm luân lý chính trị phong kiến, là loại người được “Luân thường” phong kiến cho phép tồn tại”.[55,
Trang 3616] Trong mắt một số nhà đạo đức thời cổ đại Trung Quốc, con người là vật
phụ thuộc vào ý niệm tuyệt đối của “Lễ” Trong suốt mười năm “Cách mạng văn hoá” (1966- 1976) do chịu sự chỉ đạo của những tư tưởng quan điểm ấu
trĩ, cực đoan, “con người bị chà đạp, tha hóa đến mức “không thành con
người” [55, 15] Nói như Tiền Trung Văn, “khắp nơi trong cuộc sống hiện thực đều là “Thành lũy” và “Phán quyết” kiểu Kafka”, [55, 15] Nhà văn Ba
Kim phải phẫn nộ thét lên: “Chúng ta phải xây dựng nhà bảo tàng “Cách
mạng văn hóa” Vì theo ông, “xây dựng nhà bảo tàng “Cách mạng văn hóa không phải việc của cá nhân ai Chúng ta phải có trách nhiệm làm cho con cháu muôn đời của chúng ta ghi nhớ bài học thảm khốc của mười năm ấy Không để cho lịch sử tái diễn” [55, 15] Nói như nhà văn Vương Mông, văn
học Trung Quốc sau khi trải qua giai đoạn bộc lộ, gào thét, sẽ đi vào giai đoạn khái quát, hồi cố suy ngẫm lại Dần dà, người ta cảm thấy vấn đề con người bị chà đạp không phải chỉ có ở “Cách mạng văn hóa”, đó chỉ là giai đoạn “nước tràn ly”, mà truy ngược lên trước nữa, trước nữa, tóm lại phải tìm nguyên nhân từ trong truyền thống văn hóa xa xưa của người Trung Quốc
Thế là vấn đề con người không chỉ được nêu ra trong các sáng tác, mà
đã lan sang các lĩnh vực khác như Lí luận văn học, Triết học, Luân lí học, Tâm lí học, Nhân loại xã hội học tạo thành một cuộc tranh luận khắp toàn quốc
Đến thời kỳ cải cách mở cửa (1976), cùng với sự đổi mới tư tưởng, quan điểm, học thuật quan niệm về con người cũng có nhiều cởi mở Con người giờ đây được nhìn nhận hoàn thiện hơn với sự hiện hữu của đời sống riêng tư như nó vốn có Nhịp điệu phong phú của cuộc sống đã mang lại cho con người một diện mạo mới Mỗi cá nhân là một thế giới phức tạp và bí ẩn
Con người được nhìn nhận ở nhiều kiểu dạng: con người ý thức, vô thức, con người cá nhân với những đặc điểm tâm, sinh lý, tính cách phong
Trang 37phú Chính sức hút của sự bí ẩn và những vùng tối sâu thẳm đã cuốn các nhà văn vào hành trình nỗ lực khám phá để nhận ra những điều kỳ diệu muôn mặt của con người Văn học hướng đến khai thác “tiểu tự sự” trong cuộc sống, buộc người viết cũng phải thực sự “phiêu lưu” và “trôi dạt” vào một thế giới chơi vơi của cảm xúc
Bên cạnh đó, thì sự cởi mở giao lưu với văn hóa phương Tây- nền văn hóa từ lâu đã nêu ra vấn đề con người tự nhiên, bản thể, cũng góp phần làm thay đổi cách nhìn và quan điểm về con người Tiểu thuyết hiện thực đương đại Trung Quốc xuất hiện hàng loạt các nhân vật, thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi, địa vị khác nhau Điểm nổi bật hết sức lý thú của tiểu thuyết thời kỳ này là các nhân vật đều được soi sáng dưới nhiều góc độ, trở nên lung linh hơn, sinh động hơn
Ngày nay để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ mới của công chúng, văn chương cần trở về với đặc trưng vốn có của mình, vì văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng Thông qua văn học nhà văn thể hiện nhận thức của chủ thể sáng tạo nghệ thuật đối với hiện thực khách quan Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống lịch sử nhất định nào đó
Con người hiện đại có cá tính mạnh mẽ, độc lập thường biểu hiện ra ở tính dũng cảm, dám mạo hiểm, dám cạnh tranh và dám chịu thua thiệt Nhà
văn Vương Mông từng nói: “Ở Trung Quốc do chịu ảnh hưởng lâu dài của
nền kinh tế tiểu nông phong kiến, tâm lí của người tiểu sản xuất là thâm căn
cố đế, luôn nói khiêm nhường, trung dung, làm cho tính cách thiếu dũng cảm,
tự tin, từ nhỏ đã tạo thành tâm lí nô lệ quen cẩn thận giữ gìn, vâng vâng dạ
dạ, rút lui né tránh Không những không dám nghĩ, không dám làm mà còn không dám bộc lộ tình cảm hỉ lộ ai lạc của mình Việc gì cũng không dám xông lên, hễ một mình xông lên thì rất nhiều người xung quanh chê bai dị nghị Mặc một bộ quần áo cũng phải ngó trái, ngó phải Đó là tâm lí dân tộc
Trang 38vô cùng đáng thương và đáng buồn.” [62, 118] Tự mình đổi mới, tự mình
vươn lên, có tinh thần tiến thủ là đặc điểm của con người hiện đại trong tiểu thuyết đương đại
Nhãn quan hiện thực và con người thay đổi mang đến cho văn chương nhiều bình diện, từ lịch sử, sự kiện chuyển sang đời sống cá nhân thường nhật Văn học thể hiện tính chất bất toàn, phức tạp của cuộc đời, con người Con người không chỉ là tổng hòa mối quan hệ xã hội mà còn là sản phẩm tự nhiên Hiện thực không chỉ là đối tượng phản ánh mà còn là phương tiện phản ánh của văn học
Nhà văn Cao Hành Kiện, trong lời đề từ cho một cuốn truyện ngắn của mình đã viết: Điều mong mỏi đối với các nhà văn là sự nhận biết bản thân con người Con người hiện đại mới thoát ra khỏi tình trạng mông muội chưa được bao lâu, để có được sự tường tỏ ở chính bản thân mình sợ rằng con người còn phải cố gắng nhiều hơn nữa, còn tôi hy vọng có thể tìm ra một ngôn ngữ chân thật hơn để nhận thức bản thân con người
Tiểu thuyết Trung Quốc đương đại từ không tự giác đến tự giác sáng tạo ra hình tượng con người hiện đại Ngày càng có nhiều nhà văn từ bỏ thuyết “không anh hùng” ở thời đại mới , mà nhiệt tình lao vào công cuộc cải cách để tìm hình tượng những con người mới- con người hiện đại Đó là xu hướng tất yếu của văn học đương đại Trung Quốc nói chung, của tiểu thuyết nói riêng
Quan niệm nghệ thuật về con người ở Vương Mông được thể hiện độc đáo Ông chú trọng đời sống nội tâm của con người Bởi trọng tâm của lịch sử chính là cá nhân và đánh dấu sự tồn tại của mỗi cá nhân lại là đời sống nội tâm, những “ý nghĩ” của họ Vương Mông luôn đào sâu vào thế giới tâm hồn của con người, nơi ít có mối quan hệ giao tiếp với bên ngoài nhưng ở đó con người phần lớn lại sống thành thật nhất Điều này đòi hỏi cái nhìn tinh tế và
Trang 39thái độ chấp nhận dấn thân của nhà văn Vương Mông còn tiếp cận con người
ở phương diện bản năng với sức sống tiềm ẩn nhưng đầy mạnh mẽ cùng với dòng chảy ý thức và sự chồng chéo của suy tư
2.2 “ Dòng ý thức” trong tiểu thuyết Vương Mông
Nghệ thuật “dòng ý thức” “phát tích” từ văn học phương Tây đầu thế
kỷ XX, được các nhà văn ở những nước có nền văn học đang phát triển sử dụng nhằm khám phá thế giới nội tâm của con người Đặc biệt điều đó tạo nên phong cách trần thuật độc đáo cho tiểu thuyết Tuy nhiên, mỗi tác giả lại
lựa chọn cho mình kiểu thể hiện riêng Linh Sơn của Cao Hành Kiện là cả
hành trình khám phá “Núi hồn” của chính con người bằng cuộc viễn du đến những vùng núi xa xôi của nhân vật Tác phẩm lấy bối cảnh không gian, thời gian Trung Hoa những năm Cách mạng văn hóa nhưng đôi lúc bị đẩy lùi về thời phong kiến, những năm kháng Nhật với những địa danh như Bắc Kinh, Thượng Hải, Tây Tạng qua dòng hồi ức của nhân vật, tức là được kết cấu
theo dòng chảy tâm lí “Dòng ý thức” trong Linh Sơn chỉ còn lại là một dòng
thác lũ của mộng mị, suy tưởng, giải thoát khỏi thời gian Nó đồng hiện với trạng thái tâm lí căng thẳng, cô đơn, cần một người giãi bày đôi lúc tưởng như nhân vật đang phân thân để trò truyện với chính mình
Nhà văn viết theo “dòng ý thức” của nhân vật Dựa vào liên tưởng, người viết có thể xáo trộn không gian và thời gian, nó giúp cho tiểu thuyết có được dung lượng lớn Ý thức của con người có thể tự do bay lượn, vượt qua núi cao biển cả, trở về quá khứ, hướng tới tương lai, thu tóm toàn “thế giới” vào trong tầm nhìn của tác giả Ở đây liên tưởng, tưởng tượng, ảo tưởng, mộng tưởng đều có khoảng trời rộng lớn, kết quả là làm cho tác phẩm được
mở rộng nhiều chiều Tiểu thuyết của Vương Mông là tiêu biểu cho loại tiểu thuyết này
Trang 40Với việc vận dụng nhuần nhuyễn thủ pháp “dòng ý thức” của lý luận chủ nghĩa hiện đại phương Tây, trong quãng thời gian từ hơn một năm (1979 đến 1980), Vương Mông cho ra đời 6 tiểu thuyết, gây chấn động văn đàn lúc đó Ông cho rằng những cuốn tiểu thuyết của ông không tuân theo kết cấu của bản thân cuộc sống, mà là tuân theo hình ảnh phản chiếu của cuộc sống trong tâm linh mọi người, trải qua sự nhấm nháp nghiền ngẫm nhiều lần nơi tâm linh con người, trải qua những ký ức, lắng đọng, hoài niệm, quên lãng rồi lại hồi ức lại, ông còn nói cách làm của ông là dùng truyền thống đột phá truyền thống
Vương Mông đã tái hiện khúc quanh co của lịch sử, cam go của cuộc sống một cách nghệ thuật, nêu lên những vấn đề khiến mọi người phải suy ngẫm, nhưng điều cốt yếu mà tác giả muốn gửi gắm ở trong các tác phẩm là khơi dậy dòng chảy tươi mát sinh động của cuộc sống
2.2.1 “Dòng ý thức” với kết cấu
Kết cấu là một yếu tố của hình thức tiểu thuyết, ra đời cùng với ý đồ nghệ thuật của tác phẩm văn học Để hình thành nên một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, nhà văn trong quá trình sáng tạo cần có một cách thức tổ chức nhất định Từ cùng một chất liệu đời sống nhưng mỗi người nghệ sĩ lại sử dụng một cách tổ chức kết cấu riêng, và cũng như ngôn ngữ, kết cấu là điều kiện tất yếu và phương diện cơ bản của sáng tác nghệ thuật Kết cấu khiến tác phẩm trở nên mạch lạc, có “vẻ duyên dáng của trật tự” (Horatius)
Nói đến nghệ thuật tiểu thuyết chúng ta không thể bỏ qua vai trò của kết cấu Các hình thức kết cấu của tiểu thuyết cũng phong phú như mọi hình thức tổ chức và kết cấu của đời sống hiện thực Kết cấu của tiểu thuyết không phải là cái khuôn định sẵn để chứa đựng nội dung, mà là một hình thức sinh động để biểu hiện nội dung Kết cấu tiểu thuyết thường mang tính xác định rõ rệt trong một thời gian và không gian của mối quan hệ xã hội Một điều dễ