1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

113 1,6K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 827,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, muốn hiểu và đánh giá đúng về Ma Văn Kháng, chúng ta không thể không đi sâu tìm hiểu một cách nghiêm túc và khoa học về kiểu nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của ông.. 540], đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ QUẤT

NHÂN VẬT NGƯỜI TRÍ THỨC TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC

Hà Nội-2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG TRONG BỐI

CẢNH VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

12

1.1.2 Toàn cảnh văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới 13

1.2 Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới 15

1.2.2 Sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật về con người 27 CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG VÀ CHÂN DUNG TINH THẦN CỦA

NGƯỜI TRÍ THỨC TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG

31

2.1 Người trí thức và nỗi đau thân phận 37

2.2 Người trí thức và bản lĩnh vươn lên chống trả số phận,

khẳng định tài năng nhân cách

69

Trang 4

CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT NGƯỜI

3.1.2.2 Đối thoại với những kẻ giả danh trí thức 82

3.2.1 Biểu hiện nội tâm theo cách làm truyền thống 89 3.2.2 Biểu hiện đời sống nội tâm bằng các thủ pháp kỹ thuật

mới

90

3.2.2.1 Biểu hiện nội tâm bằng thủ pháp dòng ý thức 90 3.2.2.2 Biểu hiện nội tâm bằng thủ pháp gương soi 94

3.3 Thể hiện qua không gian và thời gian nghệ thuật 95

3.4 Thể hiện qua góc nhìn của các nhân vật khác 101

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

105

108

Trang 5

Đọc tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy, kiểu nhân vật được nhà văn quan tâm và thể hiện nhiều nhất là nhân vật người trí thức Kiểu nhân vật này xuất hiện trong tất cả các sáng tác của ông và gây nên một xúc cảm mạnh mẽ trong lòng độc giả Hình ảnh người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng khiến chúng tôi hình dung đến cuộc sống và diện mạo tinh thần của người trí thức Việt Nam thời kỳ đổi mới, đối tượng mà chúng tôi thực sự quan tâm vì trí thức là tinh hoa, là người khởi đầu của tiến bộ xã hội

Để đánh giá thành công của một tiểu thuyết nói riêng hay một nhà văn nói chung, chúng ta không thể không quan tâm đến nhân vật, nhất là kiểu nhân vật đặc biệt, xuất hiện với tần số cao và gây được ấn tượng mạnh mẽ với độc giả Nhân vật không chỉ là nơi thể hiện những chiêm nghiệm cuộc sống,

tư duy nghệ thuật mà còn là nơi ký thác, bày tỏ những ước mơ khát vọng của nhà văn về con người và xã hội Vì vậy, muốn hiểu và đánh giá đúng về Ma Văn Kháng, chúng ta không thể không đi sâu tìm hiểu một cách nghiêm túc

và khoa học về kiểu nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của ông

Tìm hiểu các công trình nghiên cứu về sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy nhân vật trí thức đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một vài khía cạnh nhỏ hoặc rất

sơ lược Hiện vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống

Trang 6

về nhân vật người trí thức tương xứng với vị trí của kiểu loại nhân vật này

trong sáng tác của ông Đây chính là lí do chúng tôi chọn đề tài Nhân vật

người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng làm đề tài nghiên cứu

cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử vấn đề:

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Ma Văn Kháng đã dần dần khẳng định được vị trí của mình ở thể loại tiểu thuyết Ngay từ khi cho ra đời những

tiểu thuyết đầu tiên Đồng bạc trắng hoa xòe và Vùng biên ải, Ma Văn Kháng

đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng phải từ Mưa mùa hạ trở đi, ông

mới thực sự trở thành một hiện tượng Mỗi tác phẩm của ông ra đời lại trở thành một đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu

Mưa mùa hạ (1982) là tác phẩm đầu tiên của nhà văn thể hiện được

tinh thần đổi mới được nhiều người quan tâm Trên tờ Văn nghệ số 15 ra ngày

19/4/1983, tác giả Trần Đăng Xuyền đã đưa ra nhận xét khái quát về tác phẩm

“Giá trị của Mưa mùa hạ không chỉ ở chỗ mạnh dạn lên án cái tiêu cực mà

chủ yếu là đã xây dựng được cách nhìn, thái độ đúng đắn trước những cái xấu, những cái ngáng trở bước đi lên chủ nghĩa xã hội” Tác giả Trần Cương trong

bài “Đọc Mưa mùa hạ” đăng trên Tạp chí Văn học số 5/1992 đã đưa ra nhận xét “Mưa mùa hạ đã ghi dấu ấn khó quên trong lòng độc giả về một giai đoạn

lịch sử nhất định Đó là thời kỳ hiện tại chúng ta đang sống, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những cuộc đấu tranh tuy không có súng gươm nhưng rõ ràng là căng thẳng và quyết liệt” Nhà văn Tô Hoài trong bài viết

“Đọc Mưa mùa hạ” trên báo Văn nghệ số 154 ra tháng 9 năm 1983 đã khẳng định: “Mưa mùa hạ là toàn cảnh xã hội hiện nay thu nhỏ lại mà vẫn đầy đủ màu sắc thật chính xác và phong phú… Ở Mưa mùa hạ, Ma Văn Kháng

chứng tỏ tài năng thể hiện được những chi tiết độc đáo trong miêu tả người, quang cảnh và nội tâm”… Tuy nhiên, cuốn sách cũng đề lại không ít băn khoăn đối với giới phê bình vì kết thúc tác phẩm, tác giả lại để hai nhân vật trí

Trang 7

thức, hai nhân vật tích cực là Nam và Trọng, một chết vì bệnh, một người chết trong công cuộc cứu đê

Sau Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (1985) là tác phẩm nhận

được sự quan tâm đặc biệt của độc giả, nó “là cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất

của Nhà xuất bản phụ nữ từ xưa đến nay” Trong những ý kiến nhận xét đánh giá về Mùa lá rụng trong vườn có một số ý kiến đáng lưu tâm Tác giả Trần Đăng Xuyền trong bài “Phải chăm lo cho tất cả mọi người” trên báo Văn nghệ

số 40 ra ngày 5/10/1985 nhấn mạnh “Viết Mùa lá rụng trong vườn, Ma Văn

Kháng đã rọi một luồng ánh sáng nhân đạo khi đánh giá con người trong thời

kỳ khó khăn phức tạp hiện nay” Trong bài viết “Bàn thêm về Mùa lá rụng

trong vườn” Nguyễn Văn Lưu trên báo Văn nghệ số 25 ra ngày 21/6/1986 đã

nhận xét: “Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn tìm câu trả lời trong sự khám

phá mối quan hệ gần gũi, thân thiết với tất cả mọi người, mối quan hệ cá nhân

- gia đình - xã hội Nhà văn tái hiện đời sống trong mỗi gia đình Việt Nam hiện nay, đặt ra những vấn đề bức thiết, mỗi con người, mỗi gia đình phải sống như thế nào và xã hội phải quan tâm trở lại như thế nào” Trần Bảo Hưng trên báo Phụ nữ Việt Nam số 17 ra ngày 24/4/1986 nhấn mạnh “Khả năng biện giải, triết lý, phân tích một cách khúc triết thông minh” của Ma Văn Kháng bộc lộ trong tác phẩm này Năm 1999, trong “Cuộc thảo luận tiểu

thuyết Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng”, Hồ Anh Thái đã có những nhận xét rất sắc sảo: “so với Mưa mùa hạ , cuốn tiểu thuyết này vượt

lên với cách nhìn đời, nhìn người lịch lãm, không duy lý mà hợp tình, phải lẽ, với nghệ thuật xây dựng nhân vật tinh túy, điêu luyện… Nó là tiểu thuyết đã gần đạt đến độ hoàn chỉnh”…

Sau Mùa lá rụng trong vườn, sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết Đám

cưới không có giấy giá thú (1989) thực sự gây nên một cơn sốt Một loạt các

bài viết bàn về tác phẩm này ra đời: “Nếu đời là một vại dưa muối hỏng”(Vũ Dương Quỹ), “Nếu đám cưới không có giấy giá thú” (Nguyễn Văn Lưu),

“Đám cưới không có giấy giá thú” (Mai Thục)… Ngày 11.1.1990 báo Văn

Trang 8

nghệ đã tổ chức “Cuộc thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá

thú” với sự tham gia của nhiều nhà văn nhà nghiên cứu phê bình văn học có

tiếng Trong cuộc thảo luận, những người tham gia đã bàn về cả những mặt thành công và hạn chế của tác phẩm cả trên phương diện nội dung và nghệ thuật Theo GS Phan Cự Đệ “tác phẩm có nhiều trang sinh động hấp dẫn trong đối thoại, tranh luận hoặc dựng người dựng cảnh, nhưng cũng có nhiều trang chìm sâu một cách nặng nề vào suy tư, những biện giải mang màu sắc duy lý của tiểu thuyết luận đề”

Bên cạnh những ý kiến đánh giá chung, ta có thể tìm thấy những ý kiến

đánh giá hướng vào nhân vật người trí thức trong tác phẩm Trên báo Nhân

dân số ra ngày 4/8/1990, tác giả Lê Thành Nghị trong bài “Về người trí thức

trong Đám cưới không có giấy giá thú” đã nói đến sự lung lay niềm tin của

một số trí thức khi phải đối diện với bất công, cảnh báo về sự tha hóa nhân cách của một bộ phận trong đội ngũ những người trí thức Tác giả Phong Thu

trong bài “Tâm sự với tác giả Đám cưới không có giấy giá thú” đăng trên báo

Hà nội chủ nhật số ra ngày 6/5/1990 cũng có những đánh giá cao về nhân vật

trí thức trong tác phẩm và chỉ ra những lực cản ngăn trở người trí thức cống

hiến tài năng cho xã hội Tác giả Đào Thanh Tùng trong bài “Đám cưới không

có giấy giá thú - một cách nhìn nhận về người thầy” đăng trên báo Giáo viên nhân dân, số 16 ra ngày 18/4/1990 lại bày tỏ cách nhìn lo ngại trước cái nhìn

méo mó về người trí thức trong tác phẩm…

Đến năm 1999, Ma Văn Kháng tiếp tục gây chú ý đối với dư luận bởi

cuốn tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ Hồ Anh Thái nhận xét “cảm hứng phê

phán mỗi ngày mạnh hơn cảm hứng trữ tình… Dường như tập hợp đầy đủ mọi thói tật nhỏ nhen đố kỵ, mọi mưu chước công chức hành chính ở đây” Nguyễn Ngọc Thiện khi bàn về tác phẩm này trong cuốn sách “Tài năng và bản lĩnh nghệ sĩ” (NXB Hội nhà văn Hà Nội, 2000) có ý kiến: “Tư tưởng của

Ma Văn Kháng ánh lên các sắc thái thẩm mĩ khác nhau: cái lý tưởng, cái cao

Trang 9

ngẫu hứng đan xen với cái hài hước thô kệch, dung tục, sắp đặt lộ liễu Giọng điệu và mạch văn cũng được biến hóa linh hoạt… Tác phẩm đạt đến trình độ điêu luyện trong ngôn ngữ kể và tả, đối thoại và độc thoại” Cuốn sách sau khi

ra đời đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Thụy Điển và đã nhận được những

ý kiến đánh giá ban đầu, đáng chú ý là ý kiến của Wayne Karlin – nhà văn

Mỹ Trong lời giới thiệu cho cuốn sách (Bản tiếng Anh, in tại nhà xuất bản Curbstone Pess, 2000), Wayne Karlin đã đánh giá thành công lớn nhất của

tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ là đặt ra một trong những vấn đề cơ bản mà

tiểu thuyết hiện đại phải đặt ra: Đâu là cách tốt nhất để sống giữa dòng nước xiết này khi mà tất cả chúng ta đều đang lênh đênh không tay lái?[24, tr

540], đồng thời đánh giá về thành công trong việc xây dựng chân dung nhân vật của Ma Văn Kháng: Trong khi xây dựng Khiêm như một con người động

cơ trong sáng, một con người nhất quán, thành công thực sự của Ma Văn Kháng ở Ngược dòng nước lũ được thể hiện trong việc sáng tạo ra nhân vật Hoan… Hoan đạt tới tầm phức tạp hiếm có trong số những nhân vật nữ mà văn học Việt Nam miêu tả [24, tr.542]…

Sau tác phẩm Gặp gỡ ở La Pan Tẩn xuất bản năm 2001 viết về công cuộc đem ánh sáng văn hóa đến vùng cao, cuốn tiểu thuyết Một mình một

ngựa xuất bản năm 2009 cũng bước đầu được dư luận chú ở tính chất tự

truyện và hình tượng con người vừa oai vũ vừa đơn côi trong tác phẩm Tuy nhiên đây là một tác phẩm mới nên chưa có nhiều ý kiến bàn luận về nó

Ngoài các ý kiến đánh giá riêng về từng tác phẩm, những vấn đề lớn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng cũng trở thành đề tài cho nhiều nhà

nghiên cứu Đỗ Hải Ninh trên tạp chí Sông Hương năm 2002 đã có những

nhận định khái quát về nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng:

“Đúng như bản chất giới của mình, nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết

của Ma Văn Kháng luôn ý thức sâu sắc về bản thân, nghề nghiệp…Ý thức đó gắn với nhu cầu khám phá nhận thức thế giới, khiến cho nhân vật trí thức trở thành nơi hội tụ, đúc kết tư tưởng và chân lý” Không chỉ các nhà nghiên cứu

Trang 10

mà nhiều học viên cao học cũng chọn vấn đề trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng làm đề tài nghiên cứu cho mình như: “Nhân vật trí thức với sự đổi mới tư duy nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết sau 1980” của Phạm Thị Kim, “Hình tượng nhân vật người phụ nữ trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng” của Ngô Quyền, “Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của

Ma Văn Kháng” của Đỗ Thị Thanh Quỳnh, “Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng” của Bùi Lan Hương, “Tiểu thuyết thế

sự đời tư của Ma Văn Kháng” của Nguyễn Thị Hoa, “Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới” của Lê Minh Chung …

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng chưa được nghiên cứu sâu nhưng đã được đề cập đến ít nhiều Trên cơ sở những gợi ý bước đầu của các nhà nghiên cứu, chúng tôi đi vào nghiên cứu một cách toàn diện về nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Hi vọng việc làm của mình sẽ góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu một kiểu loại nhân vật trong văn học hiện đại, góp phần vào việc khẳng định tài năng và những đóng góp của Ma Văn Kháng cho nền văn học hiện đại và đương đại Việt Nam

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Làm nổi bật chân dung tinh thần của người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong mối tương quan với các nhân vật trí thức trong giai đoạn văn học trước và cùng thời

- Khái quát được nhưng nét cơ bản về nghệ thuật thể hiện nhân vật người trí thức của Ma Văn Kháng

- Ý nghĩa của nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng: thể hiện cái nhìn phản tư về đời sống và những đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn

Trang 11

3.2 Đối tượng nghiên cứu :

Nhân vật người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

3.3 Phạm vi nghiên cứu:

Để tiến hành nghiên cứu về nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, chúng tôi chọn và khảo sát bốn tiểu thuyết:

- Mùa lá rụng trong vườn

- Đám cưới không có giấy giá thú

- Ngược dòng nước lũ

- Một mình một ngựa

Sở dĩ chúng tôi lựa chọn bốn tiểu thuyết trên vì đây là những tác phẩm tiêu biểu viết về người trí thức Qua các tác phẩm này, nhà văn thể hiện một cách tập trung nhất hình ảnh của người trí thức trong xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới, đồng thời thể hiện cái nhìn phản tư về đời sống và tài năng nghệ thuật của nhà văn

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn tiến hành khảo sát một số tác phẩm viết về người trí thức của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, nhà văn Nam Cao, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài để có những so sánh làm nổi bật những nét khác biệt của nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

4 Phương pháp nghiên cứu:

Để tiến hành một công trình nghiên cứu cho dù ở bất kỳ một lĩnh vực nào và một phạm vi nào thì việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu cũng hết sức quan trọng bởi lẽ phương pháp chính là con đường đưa người nghiên cứu

đi đến mục đích, là cách thức để người nghiên cứu định hướng tư duy Từ mỗi phương pháp, chúng ta lại có những góc nhìn để soi chiếu vào đối tượng và

đó là cơ sở để có thể tìm ra cái mới từ những đối tượng quen thuộc

Trang 12

Hoạt động nghiên cứu văn học hiện nay sử dụng rất nhiều các phương pháp bởi mỗi phương pháp lại có một khả năng, một ưu thế riêng trong việc phát hiện đối tượng Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, chúng ta đều nhận thấy mỗi phương pháp đều chỉ đạt được một giới hạn riêng Muốn nghiên cứu hiệu quả, người nghiên cứu phải biết lựa chọn và kết hợp các phương pháp phù hợp nhất với đối tượng nghiên cứu của mình Với đề tài này, chúng tôi sử dụng các lí thuyết về tự sự học, loại hình học, thi pháp học để soi chiếu nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trên phương diện lí thuyết Đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:

- Phương pháp loại hình:Áp dụng để nghiên cứu nhân vật trí thức trong

tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trên phương diện loại hình nhân vật trí thức

- Phương pháp xã hội học: Áp dụng để nghiên cứu về sự ra đời của

nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong bối cảnh xã hội

và văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

- Phương pháp nghiên cứu nhân vật văn học: Áp dụng để nghiên cứu

nhân vật ở góc độ nhận thức đời sống của nhà văn, trong chỉnh thể thống nhất

và trên quan điểm lịch sử phát sinh

- Phương pháp so sánh: Áp dụng trong việc làm nổi bật đặc điểm của

nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng với nhân vật trí thức đã từng xuất hiện trong văn học giai đoạn văn học trước cách mạng, văn học thời

kỳ kháng chiến và nhân vật trí thức trong sáng tác của các tác giả khác trong thời kỳ văn học đổi mới

- Phương pháp tiểu sử: Áp dụng vào việc nghiên cứu nhân vật trí thức

trong tiểu thuyết của Ma Văn kháng với chính cuộc đời và sự trải nghiệm của nhà văn

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Áp dụng khi nghiên cứu nhân vật

trí thức trên phương diện nghệ thuật thể hiện nhân vật

Trang 13

5 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng trong bối cảnh văn học thời kỳ đổi mới

- Chương 2: Đời sống và chân dung tinh thần của người trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

- Chương 3: Nghệ thuật thể hiện nhân vật người trí thức của Ma Văn Kháng

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG TRONG BỐI CẢNH

VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1.1 Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới:

1.1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội, văn hóa:

Mười năm sau giải phóng miền Nam, tuy đã có những nỗ lực đáng kể trong công cuộc khôi phục phát triển kinh tế, văn hóa nhưng về cơ bản đất nước ta vẫn là một nước nghèo nàn kém phát triển, đời sống nhân dân rất thấp, nhiều vấn đề phức tạp trong đời sống nảy sinh Làm thế nào để có một nền kinh tế phát triển, một nền văn hóa tiên tiến để có thể hội nhập với thế giới đang là một vấn đề cấp thiết đặt ra

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 diễn ra như một yêu cầu tất yếu của lịch sử Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nghiêm túc phê phán, đại hội đã chỉ rõ những nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển, trên cơ

sở đó, đồng chí tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã có những chủ trương đổi mới mang tính đột phá Ông kêu gọi “đổi mới tư duy” và thực hiện “những việc cần làm ngay” để đổi mới trên cả lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa

Trong quá trình từng bước đổi mới, chúng ta dần dần đạt được những mục tiêu lớn với một nền chính trị ổn định, kinh tế ngày một phát triển, đời sống người dân được nâng cao một cách rõ rệt, văn hóa ngày càng phát triển gần gũi với các nền văn hóa tiên tiến trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì trong thực tế phát triển đã nảy sinh không ít những vấn đề phải quan tâm Nếu như ở thời kỳ mười năm áp dụng chế độ quản lý tập trung bao cấp làm nảy sinh thói quan liêu trong giới lãnh đạo, bệnh thành tích, bệnh ăn cắp của công rút ruột công trình, cách nhìn lý lịch để đánh giá con người, lề lối làm việc máy móc thì đến thời kỳ cải cách mở đó là lối sống thực dụng, cơ hội, chạy theo những cái hào nhoáng bên ngoài, sự tiếp thu tràn lan những cái phản văn hóa… trở thành vấn đề đáng lo ngại

Trang 15

Hiện thực cuộc sống thời kỳ đổi mới với rất nhiều những vấn đề phức tạp bề bộn của nó đã và đang trở thành mảnh đất màu mỡ cho văn học khai thác và làm nên những thành tựu mới

1.1.2 Toàn cảnh văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới:

Văn học Việt Nam thời kỳ sau chiến tranh có thể tạm thời chia làm hai giai đoạn: 1975-1985, 1986 đến nay

Giai đoạn 1975- 1985 là giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ đổi

mới Gọi là giai đoạn khởi động vì nếu chỉ nhìn bề ngoài thì văn học dường như vẫn vận động theo quán tính của văn học thời chiến tranh Đề tài chiến tranh lúc này vẫn là đề tài cơ bản của văn học và được thể hiện chủ yếu theo khuynh hướng tổng kết, khái quát về chiến tranh thông qua sự trải nghiệm của mỗi nhà văn nhà thơ trong suốt những năm trực tiếp cầm súng

Thơ ca chưa có nhiều đổi mới nên không tạo được sự hấp dẫn lôi cuốn như thơ ca thời kỳ chống Mỹ Những tác phẩm được quan tâm không nhiều

Đáng chú ý hơn cả có: Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới

thành phố và Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, Trường ca sư đoàn của Nguyễn

Đức Mậu, Tự hát của Xuân Quỳnh, Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi, Ánh

trăng của Nguyễn Duy, Xúc sắc mùa thu của Hoàng Nhuận Cầm, Nhà thơ và hoa cỏ của Trần Nhuận Minh, Gọi nhau qua vách núi của Thi Hoàng… Có

một số cây bút xuất hiện sau năm 1975 đang từng bước khẳng định được vị

trí, tiêu biểu có Y Phương với tập Tiếng hát tháng giêng, Nguyễn Quang Thiều với Sự mất ngủ của lửa…

Văn xuôi có nhiều khởi sắc hơn thơ ca, các nhà văn đã thể hiện được

cái nhìn mới khi tiếp cận hiện thực Tiêu biểu có Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Hai người trở lại trung đoàn của Thái Bá Lợi, Đứng trước biển và Cù

lao tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Cha và con và… và Gặp gỡ cuối năm của

Nguyễn Khải, Mưa mùa hạ và Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng,

Trang 16

Thời xa vắng của Lê Lựu, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê

của Nguyễn Minh Châu…

Văn học dịch thời kỳ này rất phát triển Nó đã đem đến cho độc giả Việt Nam những tác phẩm đặc sắc nhất thuộc các trường phái nghệ thuật khác nhau của các tác gia châu Âu và châu Mỹ đương đại cùng một số công trình nghiên cứu lý luận mới của phương Tây Việc tiếp thu các thành tựu lý luận phương Tây đã đem đến cho cả người đọc, người sáng tác và người nghiên cứu những góc nhìn mới hơn về nghệ thuật Các nhà văn đã từng sáng tác ở giai đoạn trước nhận ra rằng nếu viết như cũ họ sẽ dần dần đánh mất độc giả

Vì vậy, đổi mới là nhu cầu cấp thiết lúc này

Giai đoạn từ 1986 đến nay là giai đoạn văn học chính thức bước vào

chặng đường đổi mới (nó diễn ra đồng thời với sự đổi mới trên các lĩnh vực nghệ thuật khác như hội họa, âm nhạc, sân khấu điện ảnh…) Văn học dịch vẫn phát triển nhưng hoạt động lý luận phê bình lại vượt lên phía trước giữ vai trò là nhân tố mở đường cho văn học phát triển Từ đó, hoạt động lý luận phê bình và hoạt động sáng tác của các nhà văn nhà thơ giữ vị trí quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới văn học Nghị quyết 05 về phê bình văn học của

Bộ Chính trị được giới văn nghệ sĩ đón nhận một cách vô cùng nồng nhiệt

Trên tờ Văn nghệ, cơ quan ngôn luận của Hội nhà văn việt Nam (số 49-50, ra ngày 05/12/1987), Nguyễn Minh Châu đã cho in bài phát biểu nổi tiếng Hãy

đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa Bài báo là tuyên ngôn

lý thuyết thể hiện tinh thần đổi mới văn học một cách hết sức triệt để của giới sáng tác Những vấn đề tưởng như đã cũ nay cũng được giới phê bình đem ra bàn bạc với tinh thần đổi mới

Do vấn đề đổi mới tư duy, phương châm nhìn thẳng vào sự thật được coi trọng, phóng sự có điều kiện phát triển mạnh mẽ và thu hút được sự chú ý của độc giả Các cây bút phóng sự được dư luận quan tâm lúc này là Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang, Hoàng Hữu Các, Trần Khắc, Hoàng Minh

Trang 17

Tường… Văn xuôi có nhiều khởi sắc với với những tác phẩm đạt giá trị nghệ

thuật cao như tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa và Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, tiểu thuyết Mảnh đất lắm

người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Bến không chồng của Dương

Hướng, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Thơ ca cũng có nhiều bước đột

phá mới với các tên tuổi như Thanh Thảo, Ý Nhi, Nguyễn Duy, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly… Thể ký cũng có những thành công nhất định với các tên tuổi như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tô Hoài… Kịch nói cũng rất phát triển Các tên tuổi được nhắc đến ở thời kỳ này có: Hồng Phi, Doãn Hoàng Giang, Võ Khắc Nghiêm, Nguyễn Quang Lập, Xuân Trình, Lưu Quang Vũ… Lý luận, nghiên cứu, phê bình cũng có những bước đổi mới do được tiếp cận với nền lý luận của phương Tây Ngoài những cây bút đã thành danh từ giai đoạn trước đã xuất hiện nhiều cây bút mới có nhiều triển vọng

Công cuộc đổi mới văn học cho đến nay vẫn đang tiếp tục vì thế chưa

có một công trình nghiên cứu một cách khoa học và tổng thể về giai đoạn này Tuy nhiên, nhận định một cách chung nhất, văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới

đã có nhiều bứt phá so với giai đoạn văn học kháng chiến và bước đầu đã có những thành tựu được ghi nhận, trong đó quan trọng nhất là đổi mới cái nhìn hiện thực và con người của nhà văn

Ma Văn Kháng là một trong những tên tuổi thành công nhất trong thời

kỳ văn học đổi mới Người đọc biết đến ông ở cả thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết

1.2 Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kỳ đổi mới:

1.2.1 Sự thay đổi đề tài sáng tác:

Theo dọc hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy thời kỳ đầu sáng tác nhà văn đặc biệt quan tâm đến đề tài miền núi Hai tác

phẩm nổi tiếng cho đề tài này là Đồng bạc trắng hoa xòe và Vùng biên ải

Trang 18

Tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe (viết năm 1972 nhưng mãi đến

1979 mới ra mắt độc giả) là tác phẩm viết về cuộc sống của đồng bào Mèo vùng đất Lao Kay (Lào Cai ngày nay) và công tác cách mạng ở vùng đất này thời kỳ những năm 1945- 1947 Tác phẩm tái hiện một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi nhưng rắc rối vào bậc nhất của cách mạng Việt Nam hiện đại, đặc biệt lại ở một “vùng núi phong kiến thế tập phiên thần nghèo nàn và lạc hậu” Pháp vào, Nhật chiếm, Nhật rút, Quốc dân đảng vào, Quốc dân đảng thua, chính quyền nhân dân thành lập Trong tác phẩm này, nhà văn không chỉ thành công với việc xây dựng hình tượng oai hùng của những người cách mạng đi tiên phong mà còn rất thành công trong việc tái hiện cuộc sống của nhân dân Mèo thời kỳ bị bao bọc trong bóng tối

Vùng biên ải (sáng tác trong khoảng thời gian từ 1975 đến năm 1980)

viết về cuộc cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp của người dân vùng đất Lao Kay Tuy mang một tên khác nhưng người đọc vẫn nhận ra nó chính là

tập 2 của Đồng bạc trắng hoa xòe Các nhân vật đã từng xuất hiện trong Đồng

bạc trắng hoa xòe lại tiếp tục xuất hiện ở đây, tiếp tục đời sống của họ và có

những lúc va chạm nhau nẩy lửa Tác phẩm tiếp nối các sự kiện xảy ra trong

Đồng bạc trắng hoa xòe Sau khi bọn Quốc dân Đảng bị đánh bại, chính

quyền nhân dân được thành lập thì cũng là lúc Pháp tăng cường đưa quân đến Thổ ty phản bội cách mạng đi theo Pháp Chúng lợi dụng sự nhẹ dạ và mê tín của nhân dân và những sai lầm do sự non nớt trong lãnh đạo của một số cán

bộ cách mạng để gây tâm lý thù địch và kích động nhân dân làm loạn chống lại cách mạng Thổ phỉ nổi lên ở khắp nơi nhiều lúc không kiểm soát được Những người cách mạng phải rút kinh nghiệm, thay đổi phương pháp làm việc, lấy lại niềm tin trong dân chúng Kết thúc tác phẩm, người Mèo đã hiểu

về người cách mạng, một số người trở thành thổ phỉ đã thức tỉnh quay về với cuộc sống đời thường, những kẻ ngoan cố bị tiêu diệt, cuộc sống bình yên trở lại với người Mèo vùng biên ải

Trang 19

Không chỉ nói về cách mạng, về công cuộc diệt trừ Quốc dân đảng và

tiễu phỉ, Đồng bạc trắng hoa xòe và Vùng biên ải còn có nhiều trang viết thú

vị về thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của người Mèo Đọc hai tiểu thuyết này, chúng tôi cũng có thêm những thông tin khá thú vị về phong tục tập quán của người Mèo như chuyện hôn nhân của các cô gái, chuyện làm đám ma khô, thói quen không ăn tim động vật, cách tổ chức dòng họ của người Mèo v.v Những nét độc đáo về thiên nhiên và văn hóa được nói đến trong tác phẩm cũng góp phần hoàn thiện bức tranh miền núi trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

Ở thời kỳ đầu sáng tác, Ma Văn Kháng dành mối quan tâm đặc biệt đến vùng đất Lào Cai trước và trong kháng chiến chống Pháp Ông tái hiện nó trong tâm thế như cảm thấy mắc nợ với mảnh đất này Nợ tình, nợ nghĩa với Lào Cai bởi hai mươi năm gắn bó Bằng tất cả vốn hiểu biết về lịch sử và văn hóa thu thập được trong thời gian công tác (dạy học, tham gia thu thuế, làm thư ký cho bí thư tỉnh ủy, làm báo Lao Cai) và tài năng hư cấu nghệ thuật,

Ma Văn Kháng đã làm sống dậy trong những trang viết cả một thời kỳ phức tạp gian khổ nhưng oanh liệt đáng nhớ của vùng đất Lào Cai

Gần như đông thời với thời gian sáng tác Vùng biên ải, tiểu thuyết Võ sĩ

lên đài ra đời Ma Văn Kháng viết Võ sĩ lên đài từ năm 1976 đến 1980 hoàn

thành và ra mắt công chúng Võ sĩ lên đài là tác phẩm viết về cuộc sống của

nhân dân Hà Nội thời kỳ Pháp tạm chiếm Tuy sống trong hoàn cảnh bị giặc chiếm đóng nhưng ngọn lửa yêu nước vẫn cháy trong huyết mạch của người

Hà Nội Trong thời gian này, các hoạt động cách mạng vẫn được thực hiện một cách bí mật Liên đoàn quyền Anh của Phạm Xuân Thân, lò võ của thầy Vĩnh Nguyên đều là những nơi đào luyện Việt Minh để chống lại người Pháp Nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết này là Phạm Xuân Nhân - một người được báo chí ca ngợi hết lời vì những trận thắng giòn giã trên võ đài khi so tài cùng người Pháp Chiến thắng của anh thể hiện tinh thần quật cường không chỉ của người Hà Nội mà của cả dân tộc trước kẻ thù Đồng trang lứa với anh

Trang 20

còn có những người như Tùng, không biết võ nhưng lý lẽ thì cứng cỏi lạ thường, hai người thân nhau không chỉ vì họ chơi với nhau từ nhỏ mà họ thực

sự là những người đồng chí hướng Và việc họ đến với cách mạng là một tất yếu Đan xen trong câu chuyện làm cách mạng, Ma Văn Kháng cũng miêu tả một cách khá chân thực quang cảnh của Hà Nội những ngày đầu của kháng chiến chống Pháp, lúc như thanh bình, lúc như sôi sục, vừa mang vẻ sầm uất, vừa nghèo nàn Có đoạn ông cũng dành nhiều tâm huyết để nói về món phở như là thanh khí của người Hà Nội

Đến những năm 1980- 1981, cùng với sự vận động chung của dòng văn học, nhà văn hướng tới một đề tài mới lạ hơn đó là đề tài phòng chống lũ lụt

xây dựng cuộc sống mới Tác phẩm tiêu biểu cho đề tài này là Mưa mùa hạ

Trong tiểu thuyết, nhà văn đi vào thể hiện những con người mới trong công cuộc phòng chống bão lũ Nhân vật chính của tiểu thuyết là kỹ sư Trọng, một con người có tài năng và có tâm huyết với nghề Anh đã làm việc rất hăng say, anh chỉ mong muốn bằng những nghiên cứu mới của mình, con đê đảm bảo an toàn hơn và cảnh lũ lụt thương tâm không xảy ra với những con người

vô tội Nhưng cuộc sống vốn không đơn giản, bên cạnh những con người tài năng tâm huyết vẫn tồn tại những con người mưu mô, cơ hội, tìm cách rút ruột công trình và trù dập những người có tài có đức Trọng bị Hưng dùng quyền lực để trù dập Tuy nhiên với bản lĩnh của người trí thức, Trọng đã vượt lên hoàn cảnh để cống hiến Việc anh hy sinh trong công cuộc cứu đê đã nêu cao một tấm gương dám hi sinh vì sự bình yên của cuộc sống Trong tác phẩm này, xen vào giữa bức tranh lao động người nông dân Nguyên Lộc phòng chống bão lũ, ta còn thấy hiển hiện lên trước mắt sự bề bộn phức tạp của cuộc sống thị thành Buôn gian lừa lọc một thời đã làm cho những con người làm ăn phi pháp như Thưởng trở nên giàu có Đồng tiền đã khuấy đảo

sự yên tĩnh của các ngõ nhỏ trong phố, làm nảy sinh thói hám lợi mà quên mất nghĩa tình như trường hợp mẹ con cô Loan khiến người đọc không khỏi

Trang 21

Đến năm 1985, Ma Văn Kháng đã làm chấn động dư luận bởi cuốn tiểu

thuyết Mùa lá rụng trong vườn – một cuốn tiểu thuyết viết về đề tài gia đình

Cuốn tiểu thuyết này được hoàn thành vào tháng 6 năm 1983 nhưng đến năm

1985 mới ra mắt công chúng Mùa lá rụng trong vườn viết về cuộc sống của

gia đình ông Bằng, một gia đình nổi tiếng là mẫu mực và nề nếp bỗng nhiên chao đảo và có nguy cơ rạn nứt các mối quan hệ dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường Gia đình ông Bằng vốn là một gia đình lý tưởng trong cuộc sống mới: ông là cán bộ nghỉ hưu, con trai cả là liệt sỹ chống Mỹ, con trai thứ hai làm đại tá, con trai thứ ba là nhà báo, con trai thứ tư là công nhân, con trai thứ năm hiện đang học ở nước ngoài Mấy cô con dâu cô nào cũng là người nhà nước, đẹp người đẹp nết Đáng lẽ một gia đình như thế phải rất đầm ấm hạnh phúc bỗng nhiên trở nên rối ren trước sự tác động của nền kinh tế mới, lối sống mới Trước hết đó là việc thằng Cừ, đứa con trai thứ tư của ông Bằng chạy theo lối sống hưởng thụ gấp gáp đã làm những việc bại hoại đến gia phong Tiếp theo nữa là sự rạn vỡ trong mối quan hệ tình cảm của các con cháu trong nhà do sự thay đổi của hoàn cảnh Một gia đình vốn vui vầy nay lúc nào cũng phải dè chừng nhau, nấu ăn chia làm hai bếp vì hoàn cảnh của mỗi bên một khác, bên thì để khỏi làm phiền, bên thì không muốn bị liên lụy Tiếp đó là sự hư hỏng của Lý, con dâu của ông Bằng khi bị tên trưởng phòng vật tư lôi kéo vào những cuộc ăn chơi Ông Bằng thực sự rơi vào trạng thái hụt hẫng và đau khổ

Ma Văn Kháng viết Mùa lá rụng trong vườn vào năm 1983, khi đó đất

nước ta đang trong thời kỳ bao cấp, nhưng những mầm mống của nền kinh tế thị trường đã xuất hiện Nó làm thay đổi nếp sống đạo đức của gia đình truyền thống Việt Nam Viết tác phẩm này, nhà văn thể hiện nỗi suy tư trăn trở về thực trạng và những nguy cơ, thách thức đối với các gia đình truyền thống Việt Nam trong thời kỳ mới Từ đó ông bày tỏ niềm tin của mình: tuy cuộc sống có nhiều biến động nhưng lòng vị tha, tinh thần trách nhiệm với người thân, lối sống thủy chung tình nghĩa là những nét đẹp mang tính truyền thống

Trang 22

sẽ không bao giờ bị mất đi trong gia đình Việt Nam Nhà văn thể hiện niềm tin đó qua nhân vật Luận, Phượng và chị Hoài

Sáu năm sau khi Mùa lá rụng trong vườn hoàn thành, Ma Văn Kháng tiếp tục cho ra đời cuốn tiểu thuyết mới: Côi cút giữa cảnh đời Côi cút giữa

cảnh đời là tiểu thuyết viết cho lứa tuổi thiếu niên nhưng vấn đề đặt ra trong

đó thì lại khiến người lớn phải suy nghĩ, đó là vấn đề thân phận con người nhỏ bé trong xã hội Nhân vật người kể chuyện là một cậu bé mười lăm tuổi tên là Lã Văn Duy Mẹ Duy là công nhân, bố Duy là bộ đội chiến đấu trên chiến trường Cam-pu-chia nhưng tự nhiên bị mất liên lạc Mẹ Duy phần vì không chịu nổi cảnh cô đơn, phần vì tin lời thầy bói (nói là bố Duy đã chết)

đã bỏ mẹ già và con nhỏ năm tuổi để đi theo gã lái xe giàu có Phúc bất trùng

lai, họa vô đơn chí, tai họa liên tiếp giáng xuống đầu hai bà cháu Đầu tiên là

việc trưởng phòng Hứng ở cơ quan nơi mẹ Duy làm việc đã mượn danh nghĩa

cơ quan đến chiếm nhà, chỉ để lại cho hai bà cháu chỗ đủ kê một chiếc giường, tiếp đó là cô Quỳnh mang đứa con gái đỏ hỏn về trao cho bà để đi làm lại cuộc đời sau một cuộc tình lầm lỡ Với bản lĩnh, nghị lực phi thường,

bà nội Duy đã vượt qua bao nhiêu bước đường khó khăn, bao sự xỉ nhục của những kẻ có tiền có quyền xung quanh để nuôi hai cháu khôn lớn Trong tác phẩm này, Ma Văn Kháng đã mạnh dạn nói tới một góc khuất trong xã hội hiện đại Chức quyền vốn không có lỗi, nhưng khi nó rơi vào tay những kẻ bất lương thì hậu quả của nó thật khó lường Đồng tiền cũng vậy, khi ở trong tay của những người tốt thì nó phát huy được hết sức mạnh của nó, nhưng khi nó được làm ra từ những việc làm phi pháp và rơi vào tay những kẻ coi đồng tiền

là trên hết thì sức phá hoại của nó cũng thật kinh khủng Tệ hại hơn nữa, đồng tiền và quyền lực còn có tác động tiêu cực đến nhận thức của trẻ nhỏ, việc thằng Kim Phú mượn chức vụ của bố để nạt nộ các bạn, bắt các bạn phải nộp tiền khi muốn thăng cấp bậc là ví dụ cụ thể

Với mạch cảm hứng dạt dào về thân phận con người và cuộc sống hiện

Trang 23

không có giấy giá thú, cuốn tiểu thuyết viết về đề tài người trí thức trong xã

hội mới Cuốn tiểu thuyết này ra đời gây nên một chấn động dư luận lớn và tác động sâu sắc đến tư tưởng tình cảm của nhiều người Nhân vật chính trong tiểu thuyết là thầy giáo Tự, một giáo viên dạy văn có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có lòng yêu nghề mến trẻ, có lương tâm nghề nghiệp,

có một tâm hồn tha thiết với văn chương Nhưng cũng chính vì là con người

có tài và có tâm, anh không thể chấp nhận uốn mình chịu sự sai khiến của những kẻ có quyền lực mà anh bị trù dập và trở thành người cô đơn trong tập thể đại đa số là những người a dua, cơ hội, mắc bệnh thành tích và bệnh sợ quyền lực Con đường sự nghiệp của anh bị trắc trở vì những kẻ lưu manh mang danh trí thức Trong gia đình, anh cũng không trở thành một người chồng lý tưởng như vợ anh mong muốn bởi anh không thể giẫm đạp lên mọi thứ để kiếm tiền thỏa mãn khát vọng mua sắm chi tiêu của vợ và cuối cùng anh đã bị vợ phản bội Thuật một người đồng nghiệp bất đắc chí của anh trong một cuộc nói chuyện phiếm ở văn phòng nhà trường đã rất chính xác khi nói rằng anh là người duy nhất được coi là chính nhân quân tử, nhưng lại

là một cuốn sách hay đặt lầm chỗ, cả cuộc đời anh là một đám cưới không thành Cuối tác phẩm, Tự đến nhìn lại ngôi trường lần cuối, chia tay với mái trường để đến một nơi khác tìm lại chính mình

Chó Bi đời lưu lạc ra đời năm 1992 là một tác phẩm viết cho thiếu nhi

Nhưng đồng hành với câu chuyện phiêu lưu của một con chó có tên là Bi lại

là một câu chuyện đau lòng về thân phận của người trí thức trong xã hội còn tồn tại nhiều kẻ cơ hội và gian manh Ông Thuần là giám đốc của xí nghiệp đóng tàu to nhất của tỉnh, có hai ngàn thợ và doanh thu hàng trăm tỉ đồng Trong con người ông có nhà kỹ thuật, nhà chính trị, nhà kinh tế và nhà cải cách Ông là con người chỉ biết hướng về cái đúng, phương châm sống của

ông là Đi trên con đường lớn thì không có một sức mạnh trần thế nào có thể

chống lại được [20 tr.216] Ông cũng tự tin mà tổng kết quy luật cuộc đời Cuộc sống cũng như kinh tế chính trị, tự nó mở đường đi [20, tr 215] Bạn bè

Trang 24

tâm giao với ông có phó tiến sĩ kinh tế, triết gia, nhà báo Họ thường gặp gỡ trao đổi với nhau về các vấn đề kinh tế chính trị xã hội trong nước và quốc tế Ông là con người đầy nhiệt huyết, rất thật tâm, một con người có tài trên nhiều phương diện nhưng lại bị một số kẻ xấu cấu kết hãm hại vu cho tội có vấn đề về tư tưởng chính trị và đẩy vào tù Tất nhiên sau bảy năm không đủ chứng cứ, ông được tại ngoại nhưng cuộc sống đã khác xưa rất nhiều Vợ ông phải chịu quá nhiều giày vò xỉ nhục đã phát bệnh, tương lai của các con ông thay đổi rẽ sang một hướng khác Điều đáng buồn là trong nhà tù, ông đã gặp một số con người tầm cỡ và có nỗi niềm tương tự như ông Thì ra, nhà tù

không chỉ là nơi giam giữ những kẻ đạo trích gian hùng hiện đại mà Thế giới

nhà tù, nhìn từ một phương diện nào đó, buồn thay, lại là nơi giam hãm không ít những danh tài đặc sắc Đó là những con người thuộc số ít hoặc là

họ không có kích thước phù hợp với đương đại, hoặc sự độc đáo của họ tới mức họ trở thành những hiện tượng bất hợp lý Cũng có khi là một rủi ro, một ngẫu sự và cái bất thường trong đời sống, chứ không phải là sự trừng phạt có tính quy luật mà họ bị cưỡng chế ở đây [20, tr.227] Ở đây có bác sĩ giỏi lỡ gây tử vong cho người Có anh lái xe chiến sĩ thi đua toàn quốc sơ ý bị kẻ gian cướp mất tài sản trị giá hàng trăm triệu Có kỹ sư giám đốc như ông Có nhà báo có tài Nhà giam tỉnh nhỏ chật hẹp như đầu óc thủ cựu của các nhà chức trách cấp tỉnh [20, tr.228]

Đến Trăng non và Gặp gỡ ở La Pan Tẩn sáng tác trong khoảng thời

gian từ năm 1992 đến năm 2000, đề tài miền núi lại trở lại trong sáng tác của

Ma Văn Kháng Trăng non tái hiện lại cuộc sống lao động xây dựng chủ

nghĩa xã hội ở vùng núi Lao Cai trong giai đoạn ở miền Nam cuộc kháng chiến chống Mỹ đang vào mùa thắng lợi Giai đoạn này ở Lao Cai về cơ bản hiện tượng thổ phỉ không còn, đại đa số nhân dân Mèo đã hiểu về cách mạng

và quyết tâm xây dựng cuộc sống mới Việc thành lập hợp tác xã đang được tiến hành, nhiều thanh niên Mèo đã được cử đi học kỹ thuật mới và từng bước

Trang 25

một số đã quay đầu trở về với cộng đồng Còn Gặp gỡ ở La Pan Tẩn lại giúp

ta hiểu về công cuộc đem ánh sáng văn hóa đến với đồng bào vùng cao La Pan Tẩn Nhân vật chính ở đây là thầy giáo Thiêm - một giáo viên mới ra trường tình nguyện lên vùng cao công tác Ở đây, bằng chính sự tâm huyết với nghề anh đã được bà con hết sức tin yêu và ủng hộ Trong chín năm công tác, anh đã mở được một trường cấp một đủ cả bốn lớp, đã đưa một số em học sinh học khá lên tỉnh học tiếp, đó là một thành tích đáng ghi nhận Thế nhưng, trên con đường đưa người dân vùng cao đến với ánh sáng văn hóa, anh đã gặp không ít những trở ngại, cả bị xỉ nhục bởi kẻ đê tiện mang danh phái viên chính trị: ông Quốc Thanh Quốc Thanh là sự hiện thân đầy đủ của sự cửa quyền, ngu dốt, tham lam, dâm loạn Chính hắn ta đã làm những người trí thức chân chính như Thiêm phải điêu đứng Tiếp nữa là sự việc quân phiến loạn nổi lên truy lùng Quốc Thanh, bắt Thiêm, anh quyết định về xuôi công tác Nhưng tiếng gọi của vùng cao vẫn luôn thôi thúc trong anh, hạnh phúc đang chờ đợi anh ở đó, Thiêm lại trở về với La Pan Tẩn

Cũng trong thời gian viết hai tác phẩm trên, Ma Văn kháng còn sáng

tác một tác phẩm viết về đề tài người trí thức: Ngược dòng nước lũ Nhân vật

chính trong cuốn tiểu thuyết này là Đinh Văn Khiêm một nhà văn đang công tác tại một cơ quan văn hóa của tổng cục kinh tế T Anh là một người có tài

và có bản lĩnh, nhưng trớ trêu thay lại gặp toàn những điều ngang trái ở đời

Kẻ phải chịu ơn anh những tưởng trở thành bạn bè thân thiết lại sẵn sàng bán đứng anh khi anh chuẩn bị nghỉ hưu Sản phẩm trí tuệ của anh bị vùi dập, hôn nhân đổ vỡ May thay, giữa dòng nước xiết của cuộc đời anh đã tìm được Hoan, một người tình trong sáng một người tri âm tri kỷ của anh Từ vấn đề của Khiêm, nhà văn dường như muốn đặt ra câu hỏi: Cần làm gì để có thể sống và khẳng định mình giữa thói đời ô trọc ?

Tiếp tục dòng cảm hứng về vẻ đẹp kiêu hùng của con người giữa cuộc

đời còn nhiều gian truân và ngang trái, đến năm 2009, cuốn tiểu thuyết Một

mình một ngựa ra đời Dường như ở đây, ta bắt gặp lại của Lê Chính trong

Trang 26

Đồng bạc trắng hoa xòe và Vùng biên ải, chủ tịch huyện Vàng A Chỉnh trong Trăng non nhưng trong một hoàn cảnh mới, hoàn cảnh xây dựng đất nước Ở

đây, nhà văn không chỉ đơn thuần thể hiện ở khía cạnh con người công dân, khía cạnh một cán bộ cách mạng mà thể hiện dưới góc độ con người cá nhân Ông Quyết Định, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết là người lừng danh một thuở với những chiến công có một không hai góp phần đáng kể vào thắng lợi của cách mạng Trong giai đoạn cách mạng đầy những khó khăn phức tạp,

ông đã Một mình một ngựa giữa vùng đất lạ Một mình một ngựa, một bước

chân đi là dấn thân vào cạm bẫy hiểm nguy của bọn lục lâm hảo khấu Một mình một ngựa mà uy vũ, oai hùng giữa rừng gươm giáo thù địch của đối phương Một mình một ngựa, từ Yên Bái ngược lên, vượt sông Chảy, đại diện cho Tổng bộ Việt Minh Thân cô thế cô mà ngang nhiên xuất hiện trước từng dương cơ triều chính thổ ty chúa đất, từ họ Hoàng đất Bản San, họ Nông vùng Mường Thông, giờ là họ La đất Pha Linh này, thuyết phục họ tuân theo mệnh lệnh của chính phủ trung ương, hội đủ ba nghìn dân binh hợp lực cùng

Vệ Quốc Quân đánh đuổi bọn phản động Quốc dân đảng đang trụ tại sào huyệt cuối cùng của thị xã Hoàng Liên” [26, tr.129] Trong công cuộc xây

dựng chủ nghĩa xã hội, hình ảnh của ông lại một lần nữa uy nghi nổi bật trong hội nghị ở Mường Thông Ông được mọi người nể trọng không chỉ vì tài năng

mà còn vì đức độ và nhiệt huyết trong công việc Tuy nhiên đây vẫn là một con người mang đầy mặc cảm cô đơn của một người trí thức chân chính Đó

là cái cô đơn của một con người cao thượng giữa một xã hội thế tục đầy rẫy những cái tầm thường, cái cô đơn của một người đàn ông bị phản bội

Năm 2011, Ma Văn Kháng lại tiếp tục cho ra đời hai cuốn tiểu thuyết

viết về ngành công an, đó là Bến bờ và Bóng đêm Trong hai cuốn tiểu thuyết

này, Ma Văn Kháng chủ yếu nói đến cuộc chiến đấu chống lại cái xấu cái ác trong xã hội Bằng những cố gắng nỗ lực của mình, những chiến sĩ công an đang từng bước đẩy lùi bóng tối trong xã hội Ông cũng không ngại ngần nói

Trang 27

đồng thời ca ngợi những con người dũng cảm và mưu trí dám hy sinh thân mình vì sự bình yên của cuộc sống

Theo dọc hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy, thời gian đầu sáng tác, nhà văn quan tâm đặc biệt đến đề tài miền núi Sở dĩ lúc đầu ông có thể quan tâm và viết rất hay về đề tài miền núi là vì ông có thời gian dài trực tiếp sống ở miền núi Lào Cai Trong thời gian hai mươi năm sống ở Lào Cai, ông đã tích lũy được một vốn khá lớn kiến thức về lịch sử và văn hóa của vùng đất này Những vốn kiến thức đó cộng với tấm lòng tha thiết với vùng cao đã tạo nên một cảm hứng mãnh liệt: cảm hứng trước thiên nhiên, văn hóa, cảm hứng trước những trang lịch sử phức tạp nhưng rất đỗi hào hùng của vùng đất Lào Cai đã khiến ông không thể không viết về vùng đất này

Sau thời gian sống ở Lào Cai, nhà văn chuyển về công tác tại Hà Nội Lịch sử Hà Nội lại trở thành một nguồn cảm hứng lớn trong ông Lịch sử Hà

Nội được khai thác dưới góc độ một câu chuyện mang tính võ thuật Võ sĩ lên

đài ra đời trong hoàn cảnh đó Võ sĩ lên đài tái hiện lại một thời kỳ buồn của

Hà Nội : bị thực dân Pháp tạm chiếm Nhưng điều đó không làm ngăn trở những tấm lòng Hà Nội yêu nước và nhiệt huyết cách mạng

Lịch sử sang trang, chiến tranh với những nỗi buồn và vinh quang của

nó đã lùi dần về quá khứ, vấn đề mới của cuộc sống lại đặt ra trước mắt tạo nên những cảm hứng mới ở nhà văn Đề tài xây dựng cuộc sống mới được quan tâm đặc biệt Ở đó, nhà văn ngợi ca những con người hăng say xây dựng cuộc sống mới đồng thời lên án những thói hư tật xấu nảy sinh trong hoàn cảnh này: bệnh lợi dụng chức quyền, bệnh ăn cắp của công Nhân vật chính được ông quan tâm lúc này là người trí thức có tài năng có nhiệt huyết nhưng lại gặp phải những điều trớ trêu do mặt trái của xã hội tạo nên

Trong vấn đề xây dựng cuộc sống mới, nhà văn không chỉ quan tâm đến công cuộc lao động xây dựng cuộc sống mà còn quan tâm đến vấn đề đạo

Trang 28

đức và mối quan hệ gia đình dưới sự tác động của nền kinh tế mới Mùa lá

rụng trong vườn mang nỗi đau của một cuộc chuyển mùa thay lá của mối

quan hệ gia đình trong cơn bão lốc của kinh tế thị trường, nhưng ở đó vẫn sáng ngời một niềm tin vào những tình cảm và cách ứng xử đáng quý mang truyền thống của dân tộc

Từ sau 1986, sáng Tác của Ma Văn Kháng có những chuyển biến khá quan trọng về mặt đề tài Từ những đề tài mang vấn đề lớn của lịch sử dân tộc, Ma Văn Kháng ngày càng đi sâu vào số phận con người, đặc biệt là

những con người bất hạnh Đám cưới không có giấy giá thú ra đời năm 1989

là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển biến đó Trong số những người được quan tâm phải kể đến những con người nghèo khổ thân cô thế cô

bị rơi vào thảm kịch như bà cháu em Lã Văn Duy trong Côi cút giữa cảnh

đời, đặc biệt là số phận của người trí thức chân chính giàu ước mơ giàu khát

vọng nhưng lại rơi vào bi kịch khi bị chi phối bởi quyền lực trong các tác

phẩm Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Chó Bi đời lưu

lạc, Một mình một ngựa, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn và cả những tác phẩm viết về

ngành công an như Bóng đêm và Bến bờ

Sự chuyển biến về đề tài sáng tác thể hiện rất rõ sự chuyển biến trong

tư tưởng của nhà văn Ban đầu, ông quan tâm đến những vấn đề lớn lao của lịch sử dân tộc, về sau ông chuyển hướng sang những vấn đề của đời thường Khi viết về cuộc sống đời thường, Ma Văn Kháng đặc biệt quan tâm đến vấn

đề thân phận con người, đặc biệt là người trí thức có tài có tâm nhưng cuộc đời gặp nhiều ngang trái Sự chuyển biến trong tư tưởng của nhà văn không đi ngoài quỹ đạo vận động của dòng văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, đó là hướng đến những vấn đề của cuộc sống thường nhật, nhà văn phải nhìn thẳng vào sự thực, không né tránh không tô hồng, không ngại ngần nói đến những góc khuất những mảng tối của cuộc sống mới

Trang 29

1.2.2 Sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật về con người :

Thể hiện con người là một công việc quan trọng của người sáng tác văn học Công việc này hội tụ năng lực cảm nhận và thể hiện cuộc sống, là minh chứng cho sự trưởng thành của nhà văn qua mỗi thời kỳ sáng tác Vì vậy, nghiên cứu về sự chuyển biến của một tác giả văn học hay một nền văn học,

sẽ là chưa đầy đủ nếu chưa tìm hiểu sự chuyển biến trong cái nhìn và cách thể hiện con người trong tác phẩm văn học Trong tác phẩm văn học, mỗi cách thể hiện nhân vật đều thể hiện rất rõ cái nhìn của nhà văn về con người và ngược lại mỗi cách nhìn về con người lại yêu cầu nhà văn phải có một cách thể hiện khác nhau Qua việc tìm hiểu nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng chúng tôi nhận thấy :

Trong bốn tiểu thuyết đầu tiên Đồng bạc trắng hoa xòe, Vùng biên ải,

Võ sĩ lên đài, Mưa mùa hạ, cách nhìn về con người của nhà văn có phần giản

đơn Trong Đồng bạc trắng hoa xòe và Vùng biên ải, những người cách mạng

bao giờ cũng hiên ngang bất khuất, có tâm hồn trong sáng, là nơi hội tụ của niềm tin được mọi người yêu mến (Lê Chính, Tâm ); những kẻ đại diện cho tầng lớp thống trị bao giờ cũng gian ác tham lam và ngoan cố (La Văn Đờ, Hoàng Văn Chao, Nông Vĩnh Yêng, Châu Quán Lồ, A Linh ); bọn quốc dân đảng thì tham lam xảo quyệt và háo sắc ( Lộc, Vũ Khanh ) còn nhân dân Mèo không chỉ có những con người thẳng thắn bộc trực tốt bụng (Pao) mà còn có những kẻ đầu óc mê muội đến mức trở nên độc ác và liều lĩnh (Lử) Nhân vật có sự chuyển biến về tính cách kiểu như nhân vật Nguyễn Khắc rất

ít gặp Võ sĩ lên đài kể câu chuyện về một gia đình võ sĩ yêu nước Các nhân

vật xuất hiện trong tác phẩm này đều gây được những ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc Ông Phạm Xuân Thân một thời là võ sỹ nổi tiếng nhưng rất khiêm nhường, con trai ông thứ hai của ông là Phạm Xuân Nhân là một người bộc trực, thẳng thắn, mạnh mẽ và đầy bản lĩnh, con trai thứ ba của ông là Phạm Xuân Cường thì thông minh hoạt bát và rất khôn ngoan, bạn Nhân là Tùng thì thông minh sắc sảo nhưng rất quyết liệt, ông giáo Tiết hách dịch và

Trang 30

ngu dốt còn Đờ Lanay thì khốn nạn đểu giả Các nhân vật ở đây đều là những người có tính cách thống nhất đã được định hình ngay từ đầu Đọc

Mưa mùa hạ, chúng tôi thấy cách miêu tả nhân vật cũng không có gì khác

biệt: Trọng và Nam là người chính trực, say mê khoa học, Hưng hách dịch cửa quyền, Thưởng thì vô học hợm hĩnh, ông giáo Cần hiền hòa và uyên bác

Sự đơn nhất trong tính cách nhân vật phần nào cho thấy cách nhìn con người của nhà văn còn có phần giản đơn sơ lược Hầu như các nhân vật được chú ý nhất của ông được nhìn ở khía cạnh con người của công việc của phận

sự chứ không được quan tâm ở khía cạnh con người cá nhân, con người đời

tư Nhân vật ở đây nhất định phải đứng về một thái cực, hoặc là ta hoặc là địch, hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực, hoặc là tốt hoặc là xấu, hoặc là thiện hoặc là ác theo cách đánh giá con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ 1945- 1975 Tìm hiểu tác phẩm, chúng tôi nhận thấy, mỗi nhân vật dường như

là một cách đánh giá, một minh họa cho một ý đồ nào đó của nhà văn, cũng chính vì thế mà nó không phức tạp như các nhân vật ở giai đoạn sau Khi miêu tả nhân vật trong các tiểu thuyết này, nhà văn chú ý khai thác hành động

để làm nổi bật tính cách chứ không đi sâu miêu tả nội tâm Đời sống nội tâm nếu được miêu tả cũng chỉ là khoảnh khắc suy nghĩ thoáng qua chứ không có chiều sâu suy lý

Từ Mùa lá rụng trong vườn trở đi, cái nhìn về con người của nhà văn

có sự thay đổi lớn Bên cạnh những nhân vật có tính cách đơn nhất và ổn định, tiểu thuyết của ông đã xuất hiện những nhân vật có tính cách phức tạp

và có đời sống nội tâm hết sức phong phú Có lẽ chính điều đó đã làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết Ma Văn Kháng giai đoạn sau này

Khi nói đến nhân vật có tính cách phức tạp trong các tiểu thuyết từ Mùa

lá rụng trong vườn trở đi phải kể đến nhân vật Lý trong Mùa lá rụng trong vườn, Thuật trong Đám cưới không có giấy giá thú, Hoan trong Ngược dòng

Trang 31

nước lũ Các nhân vật này là điểm hội tụ đan xen cả cái tốt và cái xấu cái nên

và không nên, cái đáng khen và đáng trách Nhân vật Lý là một tính cách đa dạng Trong gia đình, Lý vừa là một con người đảm đang biết hi sinh nhưng đồng thời cũng là một người rất vô trách nhiệm và ích kỷ Trong cơ quan, Lý thật sắc sảo thông minh và quyết đoán trong giải quyết công việc chung nhưng cũng thật ngờ nghệch và lúng túng trước sức cám dỗ của đồng tiền Thuật ban đầu là một con người có tư chất, có tâm hồn đẹp, là một con người đầy triển vọng Nhưng về sau Thuật dần dần đánh mất mình Với lãnh đạo, Thuật thường xuyên xỏ xiên, với đồng nghiệp, Thuật luôn châm chọc quậy phá, với học trò, Thuật không có trách nhiệm, tình thương Hoan là một phụ

nữ thông minh sắc sảo, hiểu biết và có một tâm hồn đẹp nhưng lại trở thành một gái giang hồ buôn bán thuốc phiện Khi nói về các nhân vật này, bao giờ nhà văn cũng chú ý tới sự tác động của môi trường hoàn cảnh xung quanh tới

sự vận động của tính cách

Các nhân vật có đời sống nội tâm phong phú trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng hầu hết là các nhân vật trí thức Ma Văn Kháng không viết về các triết gia, các trí thức lớn có những tư tưởng lớn làm đổi thay cả nhận thức thời đại mà chủ yếu viết về những người lao động trí óc như nhà văn, nhà giáo, nhà báo, một cán bộ nghỉ hưu Họ là những người vừa có tài vừa có tâm và rất giàu lòng tự trọng Họ luôn là người xuất sắc trong công việc và luôn mẫu mực trong đời sống hàng ngày Mang phẩm chất của người trí thức, họ hay suy tư về những vấn đề mang tính quy luật hay tính chân lý của đời sống Họ luôn khát khao hướng tới cái chân, thiện, mỹ trong đời Cũng vì có tài và có tâm, họ luôn giữ phong thái khoan hòa ngay thẳng, không chịu luồn cúi trước quyền lực, không chịu bán lương tâm vì đồng tiền, không chịu buông xuôi chấp nhận thói đời đen bạc và cũng vì thế nhiều khi họ rơi vào trạng thái cô

đơn Đó là nhân vật ông Bằng và Luận trong Mùa lá rụng trong vườn, là Kha

và Tự trong Đám cưới không có giấy giá thú, là Khiêm và Hoan trong Ngược

dòng nước lũ, ông Quyết Định và Toàn trong Một mình một ngựa

Trang 32

Để có những nhân vật có tính cách phức tạp và đời sống nội tâm phong phú như ở trên đã nói, Ma Văn Kháng đã khai thác nhân vật trên nhiều khía cạnh cả con người công dân cả con người đời tư, cả trên phương diện công việc lẫn phương diện đời sống Qua cách khai thác của nhà văn, chúng ta thấy cái nhìn con người của ông gần gũi hơn, toàn diện hơn, chân thực hơn

Sự chuyển biến trong cách nhìn về con người ở đây nằm trong sự chuyển biến chung của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới: các nhà văn ngày càng quan tâm đến những vấn đề phức tạp của đời thường, quan tâm đến những khía cạnh của cuộc sống mà trước đây văn học còn né tránh

Tiểu kết:

Trong hành trình khám phá cuộc sống mới, Ma Văn kháng đã phát hiện

ra rất nhiều phức tạp uẩn khúc trong đời sống và con người, đặc biệt là người

trí thức Tài cao phận thấp chí khí uất (Tản Đà) Cũng chính vì thế, tiểu thuyết

của ông thời kỳ đổi mới dành nhiều trang viết đầy tâm huyết cho đối tượng này Chính sự quan tâm đặc biệt đến đời sống của người trí thức đã tạo nên một sắc diện mới đầy ấn tượng cho tiểu thuyết Ma Văn Kháng trong dòng văn

học đương đại

Trang 33

CHƯƠNG 2: ĐỜI SỐNG VÀ CHÂN DUNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI

TRÍ THỨC TRONG TIỂU THUYẾT MA VĂN KHÁNG

Từ thời trung đại, người trí thức đã trở thành nhân vật trung tâm của đời sống Người trí thức là biểu tượng cho đỉnh cao của tư duy, đỉnh cao của

tri thức, là nhân vật không thể thiếu trong xã hội văn minh Trong Bài ký đề

danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Bảo Đại thứ ba, Thân Nhân Trung có

nhắc đến vai trò vị trí của người hiền tài cũng là vai trò vị trí của người trí

thức trong xã hội phong kiến: Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí

thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên [2, tr.31] Trong Chiếu cầu hiền do Ngô Thì Nhậm thay lời Quang Trung viết vào năm 1788-

1789 nhằm thuyết phục sĩ phu Bắc Hà (các trí thức của triều đại Lê- Trịnh) ra cộng tác với triều đại Tây Sơn cũng mở đầu bằng việc xác định vai trò quan

trọng của người trí thức: Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì

như ngôi sao sáng trên trời cao Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử Nếu như che mất ánh sáng giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy

[3, tr 68]

Từ đời sống đi vào văn học, nhân vật trí thức đã từng trở thành đối tượng phản ánh của văn học ngay từ những thời kỳ đầu tiên văn học viết ra đời Trong thời kỳ trung đại, bóng dáng của những nhân vật này chủ yếu xuất hiện trong các tác phẩm thơ ca Đó là hình ảnh của vị thiền sư thấu hiểu quy

luật cuộc đời mà an nhiên tự tại trước những biến đổi của cuộc đời trong Cáo

tật thị chúng của Không Lộ Thiền sư; đó là hình ảnh người quân tử thẳng

ngay chính trực trong ba bài thơ có chung nhan đề Tùng của Nguyễn Trãi; đó

là hình ảnh của một nhà nho ẩn dật chọn cách sống lánh đục về trong để di

dưỡng tinh thần trong bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm; đó là hình ảnh

của một người nghệ sĩ với sự đồng cảm sâu sắc với những con người tài hoa

Trang 34

bạc mệnh và khát vọng trở thành bất tử trong Độc tiểu Thanh ký của Nguyễn

Du Do đặc trưng của thể loại thơ, hình ảnh người trí thức không được thể hiện một cách đầy đủ toàn diện mà chỉ thể hiện qua tâm trạng, chí khí, khát vọng Nhân vật trí thức cũng từng xuất hiện trong văn xuôi trung đại, cụ thể là

trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Trích Truyền kỳ mạn lục- Nguyễn Dữ), trong Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác nhưng chủ yếu vẫn chỉ là

mượn thái độ của người trí thức để thể hiện thái độ đánh giá trước cuộc đời

Bước sang đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam được đổi mới một cách toàn diện sâu sắc Đến năm 1945 có thể khẳng định rằng chúng ta đã hoàn thành công cuộc hiện đại hóa văn học, văn học Việt Nam chuyển từ phạm trù của văn học trung đại sang văn học hiện đại Tiểu thuyết Việt Nam cũng được đổi mới toàn diện sâu sắc trên cả bình diện nội dung và nghệ thuật Nhân vật trí thức vẫn tiếp tục xuất hiện trong văn chương lãng mạn của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, trong trào lưu văn học hiện thực phê phán nhưng đã mang một sắc diện mới và khả năng thể hiện mới

Trong văn chương Tự Lực Văn Đoàn, các nhân vật trí thức đều mang

dáng dấp của những trí thức Tây học Đó là Loan và Dũng trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh, Lộc và Huy trong Nửa chừng xuân của Khái Hưng Họ là

những người không chịu gò mình vào khuôn phép của những ràng buộc nho giáo, họ có những tác động đến những người cùng trang lứa để tạo nên một trào lưu phá bỏ lễ giáo phong kiến đến với cuộc sống tự do, đặc biệt tự do trong tình yêu Các nhân vật này đã mang đến một luồng gió mới, tạo ra những con sóng mới khuấy động cả một vùng sống vốn tù đọng lâu ngày, hòng phá bỏ tư tưởng nô lệ cho lễ giáo vốn là thâm căn cố đế trong con người

Họ khích lệ cái tôi cá nhân trỗi dậy, khích lệ những con người vốn từ trước đến nay chỉ biết chấp nhận, biết chịu đựng phải biết đứng lên đòi hỏi quyền

sống cho mình Trong tiểu thuyết Nửa chừng xuân, Lộc mang tình yêu đến

với Mai với tư tưởng tự do như thế Vì yêu Mai say đắm, Lộc đã vượt ra khỏi

Trang 35

học hành theo lối giáo dục mới, cô có tư tưởng tự do và có một tình yêu đẹp với Dũng Nhưng vì mẹ, cô đã dằn lòng chấp nhận lấy Thân, một thanh niên

có đầu óc cổ hủ Cô đã cố gắng nhủ lòng để sống hòa hợp với Thân mong có được hạnh phúc Nhưng sự hòa hợp không thể có được khi hai con người ở hai hệ tư tưởng khác nhau Hơn nữa mẹ chồng cô lại là một người quá cổ hủ

và hà khắc Bà ta xét nét Loan, đối xử tệ với Loan, đổ lỗi cho Loan khi đứa con trai của cô chết, cưới vợ lẽ cho Thân khi biết Loan không có khả năng sinh con.Từ đó Loan không chỉ chịu áp chế từ phía mẹ chồng, chồng mà còn phải chịu áp chế cả từ phía vợ lẽ của chồng Trong một lần bị chồng đánh, Loan đã cầm lấy con dao với mục đích tự vệ và chẳng may cô vấp và ngã, Thân ngã theo Loan và ngã vào con dao Loan đang cầm trên tay mà chết Loan đã bỏ nhà chồng để đến với cuộc sống tự do sau khi tòa tuyên cho cô trắng án

Thế nhưng, đến phần kết thúc của các tác phẩm, cái mới hầu hết lại đầu hàng cái cũ Lộc ban đầu vượt qua lễ giáo để đến với tình yêu nhưng sau đó lại chấp nhận cuộc hôn nhân do mẹ sắp đặt để Mai phải chịu đau khổ Chỉ với cuộc đời Loan là có mong manh hy vọng có được cuộc sống hạnh phúc vì trong thư gửi vợ chồng người bạn, Dũng đã có ý xa xôi thể hiện ý muốn gắn

bó cuộc đời với Loan Dũng, người yêu của Loan trong Đoạn tuyệt cũng là

một con người có tư tưởng tự do, nhưng tự do đối với Dũng là đến với cuộc sống không bị một ràng buộc nào, cuộc sống mà ở đó Dũng hoàn toàn được sống vì lý tưởng của mình Trong thực tế, Dũng đã hy sinh mọi thứ vì lý tưởng nhưng xem ra lý tưởng đó có một cái gì đó rất mơ hồ

Nhân vật trí thức trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn là những con người mang tâm tư khát vọng của của lớp thanh niên Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Dưới sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, họ đang từng bước thay đổi cách nghĩ, ngày càng ý thức rõ hơn về cái tôi cá nhân, đang đấu tranh với sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến để đòi hỏi quyền sống cho mình Tuy nhiên, chất trí thức ở các nhân vật này chưa bộc lộ ra một cách rõ

Trang 36

nét, đời sống nội tâm còn khá đơn giản, thường là để minh họa cho tư tưởng của nhà văn

Trong văn học hiện thực phê phán, nhân vật trí thức xuất hiện với nhiều sắc diện khác nhau.Tìm hiểu về các nhân vật trí thức trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng ta thấy họ hầu hết là những người bị mất phương hướng Trong

Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Tú Anh là tiêu biểu cho lớp trí thức Tây học

căm ghét cái xấu nhưng không có cách nào chống lại cái xấu Trong Vỡ đê,

Phú có tư tưởng đem ánh sáng tri thức soi sáng cho những người dân u tối của

xứ mình, anh căm ghét bất công và đã từng cùng người dân biểu tình nổi dậy nhưng lại tin tưởng một cách mù quáng vào lòng tốt của giai cấp bóc lột Sự mất phương hướng của nhân vật trí thức trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng cho thấy sự bi quan của nhà văn trước cuộc sống Tìm hiểu về nhân vật trí thức trong sáng tác của Nam Cao, một đặc điểm chung nhất dễ nhận thấy là tất cả họ đều là những con người có tài có tâm, có lý tưởng sống cao đẹp

nhưng lại bị miếng cơm manh áo ghì sát đất Điền trong Trăng sáng, Hộ trong

Đời thừa, Thứ trong Sống mòn là những minh chứng cụ thể Khi khai thác

nhân vật trí thức, Nam Cao luôn chú ý đến mối quan hệ giữa lý tưởng và cuộc đời, giữa khát vọng và khả năng thực hiện Với nhãn quan của một nhà văn hiện thực, ông luôn nhìn thấy hoàn cảnh kinh tế khó khăn là một rào cản lớn trên hành trình thực hiện ước mơ của người trí thức Tuy nhiên không phải vì những rào cản đó mà con người ta mất đi khả năng ước mơ khát vọng hướng tới cái cao cả Trong khó khăn, họ vẫn không nguôi mơ ước những điều vượt lên trên sự ràng buộc của miếng cơm manh áo để thực hiện những dự định lớn lao Những đấu tranh tư tưởng, những giằng xé nội tâm của nhân vật trí thức phản ánh một thực tế của trí thức Việt Nam thời kỳ trước cách mạng: luôn trăn trở đi tìm cách ứng xử phù hợp và lẽ sống cho mình Với cách khai thác trên, Nam Cao đã đặt ra một vấn đề khiến mọi người phải suy nghĩ, đó là vấn đề thân phận của người trí thức trong công cuộc mưu sinh Có thể khẳng

Trang 37

định, đến Nam Cao, nhân vật trí thức mới được thể hiện một cách rõ nét và đậm chất trí thức

Sang giai đoạn văn học 1945-1975, công - nông - binh trở thành nhân vật trung tâm của văn học Tuy vậy, người trí thức vẫn tiếp tục được quan tâm, được thể hiện nhưng dưới một góc độ đặc biệt mang dấu ấn lịch sử, đó là vai trò trách nhiệm và cách ứng xử khi đất nước có giặc ngoại xâm Trong

truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao, một truyện ngắn mang tầm vóc của một

tiểu thuyết đã nói về quá trình phân hóa của giới trí thức Một bộ phận trí thức sẵn sàng xếp bút nghiên hăng hái tham gia cách mạng tiêu biểu là Độ, một bộ phận khác đứng ngoài cuộc chiến tiêu biểu là Hoàng Do hai cách ứng xử khác nhau, hai cách tiếp cận cuộc đời khác nhau mà hai bộ phận trí thức có cách nhìn đời nhìn người khác nhau và sinh ra hai tâm trạng khác nhau, một tin tưởng một bi quan, một tích cực một tiêu cực Sau Nam Cao, một số tác giả khác cũng có những tác phẩm hay viết về người trí thức trong kháng

chiến, tiêu biểu như Xung kích, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh

Châu Người trí thức trong các tác phẩm này được thể hiện chủ yếu theo các

xu hướng: quá trình vận động đi đến với cách mạng (Hội và Tư trong Vỡ bờ), mưu trí và chiến đấu dũng cảm quên mình vì tổ quốc (Kha và Lý trong Xung

kích, Tuấn trong Vùng mỏ, Thiêm trong Mẫn và tôi), người trí thức cách mạng

đậm chất lý tưởng có sức tỏa sáng thu hút lòng người (Khắc trong Vỡ bờ), người trí thức tha hóa (họa sĩ Tùng trong Vỡ bờ) Bên cạnh đó cũng có những

nhân vật trí thức trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng được quan

tâm thể hiện, tiêu biểu như nhân vật Hảo trong Vùng trời của Hữu Mai Đây

là nhân vật tiêu biểu cho giới trí thức trẻ được học tập rèn luyện dưới mái trường xã hội chủ nghĩa , bằng trí tuệ và lòng yêu nước của mình đã có những đóng góp khá quan trọng cho công cuộc xây dựng xã hội mới Có thể nói các nhân vật trí thức xuất hiện trong văn học 1945 -1975 bao giờ cũng được thể nhiện nhằm một mục đích ngợi ca hay phê phán xét trên tư cách một công dân

Trang 38

trong mối quan hệ với đất nước Chính vì vậy mà các nhân vật này thường chỉ được khai thác trên một bình diện, chất trí thức cũng không được dụng công khai thác Đây cũng là đặc điểm chung của kiểu nhân vật trí thức trong giai đoạn văn học này

Chiến tranh kết thúc, người Việt Nam bước vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới, đây là lúc chúng ta có điều kiện quan tâm đến cuộc sống cá nhân của mỗi con người Nhân vật văn học cũng không chỉ được khai thác ở khía cạnh công dân, trên phương diện của một anh hùng nữa mà bước ra khỏi ánh hào quang của chiến công để trở về làm một con người đời thường Nhân vật trí thức cũng không nằm ngoài quy luật đó Lúc này, các nhà văn không chỉ miêu tả họ trên phương diện lý tưởng, sự nghiệp nữa mà còn thể hiện họ trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè đồng nghiệp, những người xung quanh Họ cũng không được nhìn nhận như những con người lý tưởng như trước nữa mà được nhìn nhận như những con người đời thường với rất nhiều những biểu hiện phức tạp xen lẫn tốt - xấu, cao thượng - thấp hèn, vị tha - vị

kỷ, trung thực - giả dối, ý thức - vô thức tất cả đều nhằm mục đích thể hiện

sự phức tạp muôn màu của cuộc sống và con người mới

Nhân vật trí thức lúc này được các nhà văn lựa chọn rất nhiều vì đây là loại nhân vật có khả năng tư duy và biện luận, nhân vật có khả năng cao nhất trong việc thể hiện những suy tư trăn trở đồng thời bộc lộ cái tôi của nhà văn

rõ nhất Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp, Hữu Mai, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài đều có những tác phẩm đầy ấn tượng viết về nhân vật trí thức Tuy nhiên do mỗi người có một mục đích khác nhau cách thể hiện nhân vật trí thức cũng khác nhau mà các nhân vật trí thức hiện ra trong sáng tác của họ cũng khác nhau Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Xuân Khánh mượn việc khai thác cuộc đời các trí thức thời phong kiến để thể hiện thái độ đối với xã hội hiện tại Nguyễn Khải qua việc khai thác các nhân vật trí thức để nói về sự trăn trở tìm

Trang 39

khai thác nhân vật trí thức để thể hiện nỗi hoài nghi về nhận thức và cách ứng

xử của con người Ma Văn Kháng qua việc thể hiện các nhân vật để khái quát

về thân phận người trí thức trong xã hội hiện đại

Mỗi nhà văn có một cách thể hiện khác nhau nhưng quả thực chỉ ở Ma Văn Kháng vấn đề thân phận phận người trí thức mới được nói tới một cách ráo riết Trong hầu hết các tác phẩm của ông, nhân vật trí thức đều là những con người tài hoa nhưng cuộc đời lại gặp nhiều bi kịch Những bi kịch đó được tạo nên không phải bởi quy luật nghiệt ngã do hóa công như cách nói

của Nguyễn Du Chữ tài liền với chữ tai một vần mà có căn nguyên từ xã hội

và từ chính những đặc điểm riêng biệt của lớp người này Tuy vậy, tác phẩm cũng không khiến người đọc bi quan bởi hầu hết các nhân vật này không chết chìm trong sự dập vùi của số phận mà luôn có những hành động chống trả số phận khẳng định bản thân

2.1 Người trí thức và nỗi đau thân phận :

Trong số các thể loại văn học thì tiểu thuyết ra đời khá muộn Đây là thể loại sinh sau đẻ muộn nhưng lại chứa đựng trong nó sự phức tạp đa sắc màu Trong quá trình vận động phát triển nó đã thu nhận vào mình rất nhiều

sắc thái thẩm mỹ của các thể loại khác trong đó có bi kịch Cuốn Lý luận văn

học (xuất bản năm 2008 do GS Hà Minh Đức chủ biên) đã trình bày rất rõ về

phương diện này: Trong khi các thể loại khác thường chỉ tiếp nhận một sắc

thái thẩm mỹ nào đó để tạo âm hưởng chủ đạo cho tác phẩm: bi kịch là cái cao cả, hài kịch là cái thấp hèn, thơ là cái đẹp cái lý tưởng thì ở tiểu thuyết không diễn ra quá trình lựa chọn màu sắc thẩm mĩ khi tiếp nhận hiện thực Nội dung của các tác phẩm tiểu thuyết là sự pha trộn , chuyển hóa lẫn nhau giữa các sắc thái thẩm mỹ: cái cao cả lẫn cái thấp hèn, cái thiện lẫn cái ác, cái bi lẫn cái hài, cái đẹp lẫn cái xấu Đây là một phẩm chất thẩm mỹ đặc biệt mà trong văn học, ngoài tiểu thuyết thể loại khác khó có thể có được và

cũng chính vì vậy tiểu thuyết có khả năng phơi bày đến tận cùng sự phức tạp

Trang 40

muôn màu của cuộc sống (Lý Hoài Thu) [11, tr.249- 250] Tính chất bi kịch

của tiểu thuyết được tạo ra nhờ số phận của một hoặc một số nhân vật, trong

đó có nhân vật chính, khi trong tiểu thuyết có sự đấu tranh giữa cái cao cả và cái thấp hèn, cái thiện và cái ác mà kết thúc thất bại lại thuộc về cái cái cao

cả, cái tốt đẹp

Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn khác nhau thì sự đậm nhạt của các sắc thái thẩm mỹ ấy ở các tác phẩm và các tác giả cũng khác nhau Nếu như ở giai đoạn văn học 1945- 1975 sắc thái chủ yếu của tiểu thuyết là âm hưởng hùng

ca, tráng ca, âm hưởng của bi ca hầu như không có thì đến văn học giai đoạn sau chiến tranh âm hưởng bi ca lại xuất hiện nhiều trong tác phẩm của các tác giả khác nhau trong đó có Ma Văn Kháng Sở dĩ lúc này âm hưởng bi ca xuất hiện là do sự tác động của cả yếu tố khách quan và chủ quan Về phía khách quan, do chính sách cởi trói cho văn nghệ của Đảng, do yêu cầu phải nhìn và phản ánh một cách khách quan toàn diện sự muôn màu của cuộc sống của văn học, về phía chủ quan, do nhu cầu thể hiện cái tôi cá nhân, thể hiện cuộc sống một cách chân thực của nhà văn Mỗi nhà văn thể hiện cái nhìn bi quan ở một khía cạnh khác nhau của cuộc sống mà mình cảm nhận sâu sắc nhất Nếu như Nguyễn Huy Thiệp thể hiện nỗi buồn trước cách ứng xử của con người, Bảo Ninh thể hiện nỗi buồn khi nhìn lại chiến tranh thì Ma Văn Kháng thể hiện nỗi buồn trước thân phận người trí thức

Trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng, nhân vật trí thức thường là những nhà văn nhà báo nhà giáo, rất ít khi gặp những nhân vật này ở cương vị lãnh đạo Nhưng dù ở cương vị nào thì các nhân vật này vẫn chung nhau ở một đặc điểm: họ là những con người mang yếu tố bi kịch Bi kịch của nhân vật trí thức trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng được quy về ba dạng cơ bản:

bi kịch lạc thời vỡ mộng, bi kịch hôn nhân gia đình, bi kịch bị tha hóa nhân cách

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Hiền tài là nguyên khí quốc gia, Ngữ Văn 10 - tập 2, tr. 31-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 10 -
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Chiếu cầu hiền, Ngữ Văn 11- tập 1, tr. 68-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 11-
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
4. Bộ Giáo dục và Đào Tạo (2008), Khái quát văn học Việt Nam từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỷ XX, Ngữ Văn 12 - tập 1, tr. 3- 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 12 -
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào Tạo
Năm: 2008
5. Nam Cao (2010), Sống mòn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống mòn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2010
8. Trần Cương (1992), Đọc mưa mùa hạ, Tạp chí Văn học (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Văn học
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1992
9. Phan Cự Đệ (2006) Tuyển tập Phan Cự Đệ, NXB Giáo dục, Hà Nội 10. Hà Minh Đức (2008), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Phan Cự Đệ
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
12. Nguyễn Thị Hoa (2008), Tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết thế sự đời tư của Ma Văn Kháng
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2008
16. Trần Bảo Hưng (1986), Mùa lá rụng trong vườn và những vấn đề của đời sống hôm nay, Báo Phụ nữ (số 17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ
Tác giả: Trần Bảo Hưng
Năm: 1986
17. Ma Văn Kháng (1987), Mùa lá rụng trong vườn, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa lá rụng trong vườn
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1987
18. Ma Văn Kháng (1990), Đám cưới không có giấy giá thú, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đám cưới không có giấy giá thú
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1990
19. Ma Văn Kháng (1996), Đồng bạc trắng hoa xòe, NXB Công an nhân dân , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bạc trắng hoa xòe
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1996
20. Ma văn Kháng (1999), Chó Bi, đời lưu lạc , NXB Văn hóa- Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chó Bi, đời lưu lạc
Tác giả: Ma văn Kháng
Nhà XB: NXB Văn hóa- Thông tin
Năm: 1999
21. Ma văn Kháng (1999), Sống rồi mới viết – Hồi ức nhà văn Việt nam thế kỷ XX, tập 2, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống rồi mới viết" – "Hồi ức nhà văn Việt nam thế kỷ XX
Tác giả: Ma văn Kháng
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1999
22. Ma Văn Kháng (2001), Trăng non, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trăng non, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2001
23. Ma Văn Kháng (2001), Vùng Biên ải, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng Biên ải
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2001
24. Ma Văn Kháng (2003), Ngược dòng nước lũ, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngược dòng nước lũ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2003
25. Ma Văn Kháng (2003), Đôi điều thu nhận từ một bậc thầy văn xuôi, Báo Văn nghệ (số 13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn nghệ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Năm: 2003
30. Ma Văn Kháng (2012), Bến bờ, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bến bờ
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w