Trong số đó, văn học triều Nguyễn đặc biệt là sự góp mặt của các tác giả hoàng tộc như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức là một trong những giá trị to lớn mà chúng ta đã bỏ qua trong một thời
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
CHÂN DUNG THIỆU TRỊ VỚI
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của Luận văn 10
7 Cấu trúc Luận văn 11
PHẦN NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 THIỆU TRỊ - THỜI ĐẠI VÀ CUỘC ĐỜI 12
1.1 Khái quát 12
1.2 Bối cảnh thời đại nhà Nguyễn 13
1.2.1 Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội 13
1.2.2 Tình hình văn học 18
1.2.2.1 Văn học hoàng đế trong lịch sử Việt Nam 18
1.2.2.2 Văn chương hoàng phái nhà Nguyễn 22
1.3 Vài nét về Thiệu Trị 26
1.3.1 Tuổi nhỏ mồ côi mẹ 26
1.3.2 Tuổi trưởng thành 27
1.3.3 Trị vì 28
1.3.4 Gia quyến 29
CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG TÁC PHẨM VÀ NỘI DUNG VĂN CHƯƠNG CỦA THIỆU TRỊ QUA ĐẠI NAM THỰC LỤC 31
2.1 Hệ thống văn chương Thiệu Trị 31
2.1.1 Theo Đại Nam thực lục 31
2.1.1.1 Thơ 32
Trang 32.1.1.2 Văn 36
2.1.1.3 Văn và thơ chung tuyển tập 37
2.1.1.4 Các thể loại khác 38
2.1.2 Theo Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu 40
2.1.2.1 Thơ 40
2.1.2.2 Văn 41
2.1.2.3 Thể loại khác 41
2.2 Nội dung chính trong văn chương của Thiệu Trị 42
2.2.1 Văn chương tỏ lòng 43
2.2.1.1 Nỗi lòng với nước với dân 43
2.2.1.2 Tình yêu thiên nhiên 45
2.2.1.3 Tình cảm đối với người thân và quần thần 49
2.2.2 Văn chương tải đạo 55
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH - THI PHÁP VĂN CHƯƠNG CỦA THIỆU TRỊ QUA ĐẠI NAM THỰC LỤC 58
3.1 Lý luận phê bình 58
3.1.1 “Sách nào cũng tin chi bằng không có sách” 58
3.1.2 Văn chương cổ “còn nhiều thiếu sót” 62
3.1.3 Văn chương phải có ý nghĩa và nghệ thuật 65
3.1.4 “Văn vật nước ta không kém gì Trung Quốc” 67
3.2 Nghiên cứu về thi pháp văn chương 70
3.2.1 Thể thơ 70
3.2.1.1 Thể thuyền liên 70
3.2.1.2 Thể đảo ngược 72
3.2.1.3 Thể cách của thơ 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ và 9 chữ 74 3.2.1.4 Thể cách của thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ 76
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nhiều năm trở lại đây, việc tìm lại, nhận thức lại những giá trị cổ trong văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung đã trở thành những băn khoăn trăn trở của nhiều nhà nghiên cứu Để nhận thức đúng những giá trị của văn học, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, nhiều học giả đã không ngần ngại
bỏ thời gian và công sức để tìm tòi và khảo cứu lại những giá trị đã bị bỏ qua Trong số đó, văn học triều Nguyễn đặc biệt là sự góp mặt của các tác giả hoàng tộc như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức là một trong những giá trị to lớn mà chúng ta đã bỏ qua trong một thời gian khá dài
Có lẽ khi nói đến triều Nguyễn, không ít người trong số chúng ta đã suy nghĩ rằng “triều đại nhà Nguyễn, đó là nhà nước chuyên chế nhất trong lịch sử” [22, tr 13] là một triều đại bù nhìn, là tay sai cho giặc… Nhưng cũng không nhiều trong số chúng ta thừa nhận rằng, triều Nguyễn với sự tồn tại gần
150 năm1, bắt đầu từ khi Nguyễn Ánh lật đổ Tây Sơn chính thức thành lập triều đại nhà Nguyễn (1802) cho đến khi Bảo Đại thoái vị (1945) lại là một triều đại có rất nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta hôm nay Bên cạnh những hạn chế, những sai lầm thì triều đại nhà Nguyễn cũng được nói đến với những dấu ấn riêng mang phong cách văn hóa đặc trưng riêng cho dân tộc Các ông vua nhà Nguyễn đặc biệt rất coi trọng sách vở cũng như quan tâm đến việc biên tập, in ấn và bảo tồn các giá trị văn hoá, lịch sử Năm
Minh Mệnh (1821), lần đầu tiên mở ra Sử quán, sai quan Sử thần làm bộ Thực lục về các chúa triều Nguyễn và Gia Long Thế tổ Cao hoàng đế Và từ đó các
vua nhà Nguyễn sau khi lên nối ngôi đều lần lượt theo truyền thống này, vua sau làm lịch sử về vua trước, chính cách làm đó đã giúp cho nhà Nguyễn để lại một khối lượng di sản văn hoá cho Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói
1 Ở đây chúng tôi không tính cả giai đoạn các chúa Nguyễn (từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Ánh)
Trang 5chung Nhà Nguyễn cũng để lại cho dân tộc Việt Nam nhiều tài liệu lịch sử
quý giá và có ý nghĩa như: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam thực lục, Lịch triều tạp kỷ, Lịch triều hiến chương loại chí… Không những chú trọng về bảo tồn các di tích văn hoá, ghi chép lại
các sự kiện lịch sử mà các ông vua nhà Nguyễn còn rất quan tâm đến văn học,
“thơ phú của các vua so ra chẳng kém với bất cứ một thi gia nào đương thời, nếu không nói là có phần lấn lướt”1 Theo Giáo sư Hà Như Chi trong cuốn
Việt Nam thi văn giảng luận có viết: “Các ông vua như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức đều có thi tập và bốn ông Siêu (Nguyễn Văn Siêu), Quát (Cao Bá Quát), Tùng (Tùng Thiện Vương), Tuy (Tuy Lý Vương) đã nổi tiếng là thi bá của thời ấy” Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Phê cho rằng, “Huế có cả một di
sản văn học có thể nói là đồ sộ của các ông vua và những thơ hoàng tộc trong
đó tiêu biểu là vua Minh Mạng, Thiệu Trị…2 Theo ông, gần đây đã có nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến văn chương nhà Nguyễn, nhưng đa phần tác phẩm của họ đều viết bằng chữ Hán, đòi hỏi nhiều công phu dịch thuật - độc giả rộng rãi đã mấy ai thấy, mấy ai “sờ” được những tác phẩm đó?
Như trên chúng tôi đã nói, triều Nguyễn rất coi trọng và luôn luôn cổ
vũ tinh thần sáng tạo văn học nên dưới thời nhà Nguyễn có một khối lượng tác giả nổi tiếng từ vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức… cho đến các hoàng
tử, công chúa như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, Vương Am, Mai Am Công chúa…và các vương tôn quan lại như Trương Đăng Quế, Nguyễn Đăng Tuân, Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản… Trong số đó, Thiệu Trị là một minh chứng tiêu biểu Thơ của ông được đánh giá cao trong giới học thuật,
“tuy số lượng không nhiều bằng vua cha nhưng lại cao cấp về mặt chữ nghĩa” (Theo Trần Ngọc Vương) Cùng quan điểm đó, dịch giả Lê Nguyễn Lưu cũng
Trang 6nghĩ rằng, thơ của vua Thiệu Trị còn hơn vua Minh Mệnh và Tự Đức về mặt
nghệ thuật Ví dụ, trong tập Ngự chế cổ cách thi pháp với 157 bài, nhà thơ đã
sử dụng nhiều hình thức chơi chữ khác nhau rất trí tuệ Hay chỉ với một bài thơ chữ Hán “Vũ trung sơn thuỷ” (Non nước trong mưa) mà theo tác giả, nếu dùng theo thể hồi văn liên hoàn, trắc bằng bốn vần, bài thơ có thể đọc thành
64 bài thất ngôn, ngũ ngôn Bài thơ đã gây sự tò mò chú ý không chỉ các nhà nghiên cứu trong nước mà còn ở nước ngoài, không chỉ về nghệ thuật mà còn
nhƣng số tuổi đó không thể tính hết đƣợc số tác phẩm mà nhà thơ để lại cho đời
Ngoài 4000 bài thơ được in trong rất nhiều tập khác nhau như Thiệu Trị ngự chế thi tập, Thiệu Trị thánh chế Bắc tuần thi tập, Ngự chế vũ công thi tập, Hoàng huấn cửu thiên… thì ông còn viết về văn, chế, biểu, bi, ký đặc biệt
hơn là ông đã biên tập, chỉnh sửa và rút ra các quy tắc về âm, vận, luật trong
nghệ thuật sáng tác với cuốn sách có nhan đề là Thiệu Trị văn quy tự vận hội tập… Bên cạnh đó ông còn dành thời gian để đọc và luận bàn về văn học
Đông Tây cổ kim một cách uyên bác khiến cho nhiều học giả đương thời phải
gật gù công nhận Những điều đó đủ chứng minh rằng Thiệu Trị là một tác
giả văn học, một học giả thực thụ mà chúng ta chưa có dịp tìm hiểu Phải thừa nhận rằng nếu không có một tâm hồn yêu văn chương, mẫn cảm nghệ thuật, một tầm hiểu biết cũng như vốn văn chương rộng rãi thì Thiệu Trị không thể
Trang 7làm được những điều đó Chính khả năng sáng tạo, sự nghiên cứu, tìm tòi đó của Thiệu Trị đã làm nên tư cách một tác giả văn học lớn ở ông
Với những nhận thức trên, chúng tôi thật sự khâm phục và ngạc
nhiên trước tài năng của vua Thiệu Trị Ông xứng đáng được thế hệ hôm
nay và mai sau biết đến không chỉ với tư cách là một vị vua mà còn với tư cách là một nhà thơ, nhà nghiên cứu Tuy nhiên vì những quan điểm lệch lạc trong quá khứ cũng như những khó khăn về mặt tư liệu mà ít học giả có cơ hội tìm hiểu về thi sĩ này, điều này sẽ là “bước cản” cho chúng tôi trong việc bước đầu tạo dựng nên chân dung của Thiệu Trị với tư cách là một tác giả văn học Nhưng nếu không nghiên cứu về Thiệu Trị có lẽ là một thiếu sót lớn trong việc hình dung về bức tranh văn học trung đại, vì vậy chúng tôi quyết định lấy Thiệu Trị làm đề tài cho luận văn của mình, với mong muốn bước đầu phác dựng chân dung một tác giả văn học lớn mà lịch sử nghiên cứu văn học đã “vô tình bỏ qua”, với hi vọng những giá trị thẩm mĩ đích thực sẽ được đưa về đúng vị trí của nó Từ đó chúng ta sẽ có được cái nhìn toàn diện hơn
về triều Nguyễn - một triều đại hỗn hợp giữa công và tội - một triều đại gây
sự tò mò khó lí giải cho các nhà nghiên cứu
Với những lí do trên, chúng tôi chọn Thiệu Trị làm đề tài cho luận văn
Thạc sĩ của mình với tiêu đề: Chân dung Thiệu Trị với tư cách là một tác
giả văn học qua Đại Nam thực lục
2 Lịch sử vấn đề
Ngay từ khi thi nhân còn sống, các tác phẩm của ông đã được các học giả đương thời, đánh giá và biên tập và xin khắc in
Tháng 10 năm 1842 quan Nội các đã tập hợp các bài thơ vua làm khi đi
tuần thú ra Bắc, biên tập thành tập Thánh chế Bắc tuần thi tập, các học giả đã
cho rằng: “đó là văn của đất Tiếng vàng, tiếng ngọc điều lí trước sau, đó là văn của thánh nhân Nước ta, bờ cõi muôn dặm, núi sông thắng tích chỗ nào
Trang 8cũng có Năm nay, ngự giá ra Bắc, thăm mùa màng, hỏi việc nông, xem dân tình, xét quan lại, làm phúc, ban ơn, dạy chính sự, sửa việc binh, phàm trải qua chỗ nào đều thơ để ghi việc, tính được gồm 173 bài”, “bút pháp của thánh thượng như tài khéo của thợ trời, thật nên tiêu biểu, khắc lời cao cả, ghi trên tấm đá để trấn một phương, và làm áng văn để lưu truyền muôn đời” [51, tr 416-417], “đùn đùn như mây Đường Nghiêu bay, sang sảng như đàn Ngu Thuấn gảy, tiếng như vàng ngọc, phát làm thơ văn” [51, tr 1061]
Tháng 9 năm 1847 vua Thiệu Trị mất, vua Tự Đức có làm bài văn bia
ca ngợi công nghiệp cai trị, ca ngợi văn chương của người “trong bảy năm
làm ra bốn tập thơ thánh chế, hai tập văn, cùng các tập Cổ kim thể cách, Tài thành phụ tướng đều giãi tỏ những nghĩa ẩn vi, phát triển những nghĩa huyền
diệu, không phải những người chương cú tầm thường dòm được một phần muôn” [51, tr 1077] Sau đó, nhà vua tiếp tục cho các quan khắc in những tập thơ mà khi còn sống đang làm dở Tự Đức cho rằng văn chương Thiệu Trị như “là đồ sông Hà, thư sông Lạc tỏ bày như ánh sáng Mặt Trời của ngôi sao,
mở tỏ sự huyền bí của sáu kinh, mở ra đường lối dìu dắt cho trăm đời sau này
Cổ võ hết lòng là một vận hội lớn, chính trị và giáo hoá đều tốt đẹp tươi sáng,
từ Đinh, Lý, Trần, Lê trở về trước, chưa có bao giờ” [52, tr 101] Đến tháng
12, vua Tự Đức bắt đầu cho quan tra cứu, biên tập và nhiều lần bổ khuyết bộ
Thực lục Chính biên Đệ tam kỷ 1 về Thiệu Trị Đến 1877, cuốn sách được các
Sử quán Tổng Tài là Trần Tiễn Thành, Phó Tổng tài là Lê Bá Thận, Toản tu Phạm Huy Bính biên tập xong và được Tự Đức cho khắc in trong năm đó Cuốn sách lần lượt ghi chép chi tiết nhiều sự kiện lịch sử của nước ta cũng như tư tưởng, suy nghĩ và hành động của Thiệu Trị trong thời gian trị vì
Ngoài ra, Thực lục Chính biên Đệ tam kỷ cũng giành nhiều trang ghi lại các
hoạt động văn chương, quá trình sáng tác, in ấn xuất bản và đặc biệt là cảm
1
Thực lục Chính biên đệ tam kỷ là một phần trong tuyển tập Đại Nam thực lục
Trang 9nhận của các học giả đương thời về nhà văn này Bộ sách là một tài liệu lịch
sử quý giá đồng thời cũng được xem như là một tuyển tập về văn chương
Thiệu Trị có tính chất trọn vẹn kể từ đó cho đến ngày nay Tuy nhiên, sự
nghiệp văn chương của ông ở trong bộ sách này chỉ ghi chép tản mạn và
không theo hệ thống và có phần giấu đi, vì vậy người đọc sẽ rất khó hình
dung được chân dung của ông với tư cách là một nhà văn
Kể từ sau tuyển tập Đại Nam thực lục, nghiên cứu ở phương diện lịch
sử về Thiệu Trị - với tư cách là một vị vua đã được nhiều công trình thực hiện, nhưng tư cách một nhà thơ, một học giả văn học của ông vẫn chưa có nhiều công trình Chân dung văn học của Thiệu Trị đã được đề cập đâu đó trong một số bài báo, tạp chí nhưng khá mờ nhạt, ít ỏi, chưa có những phân tích sâu sắc, cụ thể và tường tận về những khía cạnh cụ thể của đối tượng
Phải đến 150 năm sau ngày Thiệu Trị mất (1847), người ta mới biết
rằng ông là một nhà thơ đầy tài năng qua công trình Thần Kinh nhị thập cảnh
của nhóm tác giả Phan Thuận Hóa, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Thanh Hải
và Nguyễn Phước Hải Trung cùng phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố
đô Huế giới thiệu tới du khách - những người yêu mến Thiệu Trị nói riêng và
yêu mến phong cảnh Huế nói chung, về một tài năng còn chưa được để ý đến
Đây là công trình đầu tiên giới thiệu về Thiệu Trị như một tác giả văn học Cuốn sách gồm hai phần: phần một giới thiệu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp, phần thứ hai là dịch và chú giải, giới thiệu 20 bài thơ nổi tiếng tác giả viết về phong cảnh Huế Các nhà biên soạn đã “cố gắng nghiên cứu dịch thuật
Thần Kinh nhị thập cảnh, với những tư liệu gốc cùng những lời chú giải rõ
ràng kèm theo lời giới thiệu các thắng cảnh trên cùng nguồn gốc và diễn tiến lịch sử của thắng cảnh đó” [1, tr 8] Tuy nhiên tuyển tập chỉ phản ánh được một phần nhỏ trong tổng số sự nghiệp đồ sộ của Thiệu Trị Ở đây vì một vài lí
do riêng nên mục đích của các tác giả là mong giới thiệu phong cảnh Huế
Trang 10thông qua sáng tác của Thiệu Trị Cuốn sách là sự tìm tòi tỉ mỉ và công phu, đòi hỏi mất nhiều thời gian của nhóm tác giả đồng thời thể hiện niềm yêu mến, sự tự hào của nhóm tác giả đối với người con đất Huế đầy tài năng văn chương mà không mấy ai dễ dàng phát hiện này
Năm 1972, đánh dấu sự phân tích về thi pháp văn chương Thiệu Trị
bằng bài viết của một học giả phương Tây, Pierre Daudin, trên Tạp chí của
Hội nghiên cứu Đông Dương Bài viết đã giải ra 12 bài thơ thất ngôn bát cú từ
các cách đọc khác nhau của Vũ trung sơn thuỷ của Thiệu Trị Đến, năm 1994,
nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Tân Phong, tìm ra đúng 64 cách, đúng như Thiệu Trị đã từng nói khi sáng tác bài thơ này
Năm 1998, với cuốn sách Tìm hiểu kỹ xảo hồi văn liên hoàn trong bài
“Vũ trung sơn thuỷ” của Thiệu Trị của cố Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã khiến
người đọc bái phục trước đỉnh cao thi pháp của Thiệu Trị Trong cuốn sách,
nhà nghiên cứu đã dành hết 450 trang để diễn giải, chú thích, sau đó đưa ra
128 cách đọc khác nhau về một bài thơ Vũ Trung sơn thủy của vua Thiệu Trị
Đây là công trình nghiên cứu công phu, mang tính chỉ dẫn rất cao đối với người nghiên cứu sau này, nhưng chỉ tiếc rằng công trình chỉ giới hạn nghiên cứu về thi pháp trong một bài thơ, chứ chưa đi vào khai thác Thiệu Trị ở quy
mô rộng hơn, bao quát hơn
Trên đây là những công trình có giá trị, bước đầu khắc họa cho độc giả thấy được tài năng thơ của Thiệu Trị Tuy nhiên, kể từ năm 1998 đến nay việc nghiên cứu về Thiệu Trị lại bị chìm lắng, tên tuổi của ông được nhắc đến trong những bài tham luận tại các hội thảo khoa học và tại một số bài báo được đăng rải rác trên một số trang điện tử, tập chí, có thể kể: Tham luận của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Phê trong Hội thảo “Vai trò của văn học nghệ thuật Huế trong dòng chảy văn hóa Huế - nhìn lại và phát triển” Trong bài viết Giáo sư đã đề cập đến vai trò của các ông vua trong nền văn học Huế, trong
Trang 11đó có Thiệu Trị Giáo sư đánh giá khá cao vai trò của Thiệu Trị nói riêng và văn chương hoàng phái nói chung Nhưng bài viết của ông chỉ mới dừng lại ở ngưỡng giới thiệu khái quát Bài viết này của Giáo sư đã gợi cho chúng tôi nhiều ý tưởng
trong việc hoàn thiện luận văn của mình Tiếp đó, trên Tạp chí Hán Nôm, số 5 (84) - 2007 có bài viết “Vũ Trung sơn thủy” - Bài thơ độc đáo của Thiệu Trị, bài
viết nêu lên một số cách đọc khác nhau, từ những cách đọc ấy giúp chúng ta nhận
ra những nét độc đáo, kỳ bí của bài thơ, giúp người đọc hiểu thêm về thú chơi thơ trong dòng văn hóa Việt
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về Thiệu Trị đã dần trở về
dĩ vãng, mặc dù thỉnh thoảng chúng tôi cũng đọc được một vài bài báo đăng
tải việc vừa tìm thấy bài văn bia Tây lãng hoàng thành của Thiệu Trị hay việc
năm 2007, hai nhà nghiên cứu Hán Nôm Thái Huy Bích và Trần Đình Vân trong một chuyến điền dã đã phát hiện tấm văn bia gần hai trăm tuổi, trên đó
có khắc in bài “Thiết cảng” (Kênh Sắt) của Thiệu Trị…Giới trẻ ngày nay, ngay cả các bạn bè của chúng tôi phần lớn không ai biết Thiệu Trị trên phương diện văn học Có chăng đôi ba lần đến Huế nhìn thấy một vài bản khắc in trên các tấm bia ở cung điện, nhưng không mấy ai trong số họ có thể biết được đó là những bài thơ của Thiệu Trị
Như chúng tôi đã nói, ngoài một số công trình ít ỏi trên thì hầu như không có công trình nào chuyên khảo, hay nghiên cứu về tác giả này Còn các bài báo, nghiên cứu, tham luận chủ yếu tập trung vào một tác phẩm chính đó
là “Vũ Trung sơn thuỷ” hoặc “điểm danh” tên Thiệu Trị trong hệ thống văn chương hoàng phái mà thôi
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu luận văn
Xây dựng chân dung Thiệu Trị là một đề tài rộng và có nhiều cách thức khác nhau để tiếp cận Thiệu Trị vốn là một vị vua trong lịch sử dân tộc Việt Nam, sức ảnh hưởng của người không chỉ nằm trên phương diện của văn
Trang 12chương mà còn trên nhiều bình diện như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá và quan trọng hơn nữa là ảnh hưởng trong tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc Đối với nhiều nhà nghiên cứu, văn học chỉ là một bộ phận nhỏ trong tổng thể chân dung phức tạp của ông Trong phạm vi luận văn, chúng tôi hướng tới tìm hiểu ông với tư cách một nhà văn, cụ thể, chúng tôi hướng tới giới thiệu chân dung nhà văn Thiệu Trị và những đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà
Xác định đối tượng như vậy, luận văn của chúng tôi, ngoài việc rà soát toàn bộ sự nghiệp văn chương Thiệu Trị, chúng tôi cũng hướng đến phác thảo một bối cảnh thời đại để thấy sức chi phối của nó đối với ông, đồng thời, phác dựng một cách khái quát thơ văn triều Nguyễn để thấy vị trí của Thiệu Trị trong tổng thể mạch nguồn thơ văn hoàng phái từ Lý, Trần, Lê đến Nguyễn Xem xét những đóng góp của ông về mặt thi pháp đặc biệt là các thể thơ
Về mặt tư liệu, chúng tôi dựa chủ yếu vào bộ sử Đại Nam thực lục (10 tập, Quốc sử quán triều Nguyễn, Nxb Giáo dục, 2007)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi làm luận văn này với mục đích trước hết là giới thiệu tới bạn đọc nói chung và những người yêu thích tài năng của Thiệu Trị nói riêng những đóng góp to lớn của tác giả về lĩnh vực văn học Mục đích cao hơn nữa
mà chúng tôi đang cố gắng hướng tới đó là góp phần bổ khuyết cho phả hệ văn học được hoàn chỉnh, đầy đủ hơn Tác phẩm của Thiệu Trị chủ yếu được viết bằng chữ Hán, nên tôi hi vọng với những tập thơ mà chúng tôi đã hệ thống hóa được, sẽ có những nhà nghiên cứu, các tổ chức dịch và giới thiệu tác phẩm của ông tới cộng đồng, để nền văn hóa Huế nói chung và văn hóa Hoàng phái nói riêng tới tay bạn đọc Đồng thời từ đó, cũng có cái nhìn khách quan và đầy đủ hơn về các ông vua triều Nguyễn Có thể họ có những sai lầm
về chính trị nhưng chúng ta cũng không vì thế mà phủ nhận tài năng cũng như
Trang 13vai trò của họ trong lịch sử Việt Nam Hi vọng, với luận văn này chúng tôi sẽ góp phần nhỏ của mình vào công cuộc nhìn nhận và xem xét lại những gì đã qua để con người trong hiện đại đánh giá khách quan về quá khứ và hành động đúng hơn trong tương lai
Chính vì thế nhiệm vụ của chúng tôi trong luận văn này là bước đầu sưu tầm tài liệu, sau đó xem xét các vấn đề sau:
Thứ nhất, tìm hiểu nguyên nhân, động lực, hoàn cảnh để Thiệu Trị trở thành một tác giả, một học giả văn học
Thứ hai, đặt văn chương Thiệu Trị trong hệ thống văn chương Hoàng phái Việt Nam, để có cái nhìn khách quan theo chiều dài lịch sử
Thư ba, cố gắng dựng nên chân dung đầy đủ và trọn vẹn về một tác giả vốn chưa được mấy người biết đến
Thứ tư, hệ thống hoá về nội dung và quan niệm thi pháp văn chương của Thiệu Trị
Thứ năm, xem xét cách nhìn nhận của Thiệu Trị đối các tác giả cổ của Việt Nam và Trung Quốc
5 Phương pháp nghiên cứu
Do đặc trưng của đề tài, cũng như với mong muốn luận văn được trình bày một cách khoa học, logic và hoàn chỉnh phương pháp mà chúng tôi lựa chọn trước hết là tổng hợp, thống kê tài liệu dựa trên các tư liệu lịch sử để từ
đó phân loại đánh giá Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, cùng cách tiếp cận văn hóa học trong phân tích, đánh giá
6 Đóng góp của Luận văn
Với đề tài: Chân dung Thiệu Trị với tư cách là một tác giả văn học
qua “Đại Nam thực lục”, luận văn có những đóng góp chủ yếu sau:
- Nâng cao nhận thức của các bạn độc về văn chương Thiệu Trị nói riêng và văn chương hoàng phái nói chung
Trang 14- Bổ sung thêm một chỗ khuyết trong dòng lịch sử văn học Việt Nam
- Góp phần làm cho lịch sử nghiên cứu về thi pháp văn chương trung đại Việt Nam phong phú và toàn diện hơn
7 Cấu trúc Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và Tài liệu tham khảo ra, phần Nội
dung của Luận văn bao gồm ba chương chính như sau:
Chương 1 Thiệu Trị - Thời đại và cuộc đời
Chương 2 Hệ thống tác phẩm và nội dung văn chương của Thiệu Trị
qua Đại Nam thực lục
Chương 3 Quan điểm lý luận, phê bình - thi pháp văn chương của
Thiệu Trị qua Đại Nam thực lục
Trang 15Trở lại với tác giả Thiệu Trị, chúng ta thấy Thiệu Trị sinh ra trong một thời đại tương đối phức tạp về chính trị xã hội, thời đại của sự du nhập các luồng gió mới từ châu Âu đặc biệt là Pháp, Bồ Đào Nha Nhưng đây cũng là giai đoạn mà văn chương đạt được nhiều đỉnh cao, đặc biệt là góp mặt của nhiều tác giả, tác phẩm văn chương bằng chữ Nôm Thiệu Trị ham mê sáng tác văn chương, ham mê tìm tòi, nghiên cứu về các tác phẩm Đông Tây kim
cổ nhưng bản thân Thiệu Trị lại chủ yếu sáng tác văn chương bằng chữ Hán
và đạt đến “tuyệt đỉnh” (Theo Trần Ngọc Vương) trong thể loại này Theo chúng tôi, để làm nên một tác giả Thiệu Trị ngoài việc bị ảnh hưởng bối cảnh thời đại thì trong bản thân ông cũng có thiên bẩm nghệ thuật, tài năng sáng tạo cộng với những quan niệm, lý tưởng
Trang 161.2 Bối cảnh thời đại nhà Nguyễn
1.2.1 Tình hình kinh tế - chính trị - xã hội
Cuối thế kỷ 18 nửa đầu thế kỷ 19 là giai đoạn mà lịch sử Việt Nam trải qua nhiều biến động, việc tranh giành quyền lực của hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn kéo dài hàng trăm năm khiến cho lịch sử dân tộc rơi vào vực thẳm, đời sống nhân dân cực khổ Nhà Tây Sơn vừa lên đã ra tay giết hại rất nhiều người thuộc phe phái Trịnh - Nguyễn, gieo rắc sự thù hằn ngày càng gay gắt Chính quyền Tây Sơn dù đã đánh bại chúa Nguyễn, chúa Trịnh, thành lập chính quyền mới, nhưng chiến tranh giữa Tây Sơn và các dư đảng của nhà Nguyễn tiêu biểu là Nguyễn Ánh vẫn tiếp diễn không ngừng Nguyễn Ánh là cháu nội của vị chúa Nguyễn cuối cùng ở Đàng Trong, sau khi gia tộc
bị quân Tây Sơn bắt giết năm 1777, ông phải chạy trốn và tìm cách khôi phục lực lượng để trả thù Sau 25 năm với nhiều thất bại, phải cầu viện sự giúp đỡ Xiêm La và Pháp, ông lấy được Nam Hà, lật đổ triều Tây Sơn, lên ngôi hoàng
đế, thống nhất Việt Nam Nguyễn Ánh lên ngôi, định đô tại Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, đổi quốc hiệu là Việt Nam Thời đại này nước ta có cương thổ rộng lớn nhất, kéo dài từ biên giới Trung Quốc đến vịnh Thái Lan Sau khi lên ngôi, ông thay thế các cải cách có xu hướng tự do của Tây Sơn bằng nền giáo dục và điều hành xã hội theo xu hướng Nho giáo Đây là giai đoạn mà Nho gia phát triển mạnh mẽ, khẳng định được vị thế của nó trong nghệ thuật cai trị của Gia Long
Gia Long cũng là người mở đường cho các ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam qua việc nhờ họ xây dựng các thành trì lớn, huấn luyện quân đội Dưới triều đại của ông, Việt Nam trở thành một quốc gia có thế lực quân sự hùng mạnh ở Đông Dương, cùng với Xiêm La phân chia ảnh hưởng đối với Chân Lạp Gia Long có rất nhiều lỗi lầm trong quá khứ như lưu vong ở Xiêm, kêu
sự ủng hộ ngoại quốc, bắt tay với Pháp trong nội chiến, trả thù tàn bạo triều
Trang 17Tây Sơn nhưng nhờ chính sách “ngoại giao” với ngoại bang mà ông đã xây dựng một đất nước hùng mạnh về quân đội, ổn định chính trị - xã hội Trong thời gian trị vì ông thực hiện nhiều công cuộc khai hoang ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đào kênh thoát nước Thụy Hà và sông Vĩnh Tế tạo thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp phát triển Triều đại của ông đã xây dựng khối lượng
đê, kè, cống nhiều nhất so với trước
Sau nhiều năm chinh chiến trên chiến trường, Gia Long tập hợp được một đội ngũ quan võ hùng hậu, đến lúc lên ngôi ông nhận thấy triều đình rất ít quan văn vì vậy ông bắt đầu tuyển dụng quan văn, khuyến khích quần thần sáng tác thơ văn Ông bắt đầu mở trường Quốc Tử giám ở Kinh đô để dạy con
em triều đình, lập văn miếu ở các trấn, doanh để thờ đức Khổng Tử… Năm
1807, ông mở thêm 6 trường thi Hương, đặt chức Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo để coi việc giáo dục ở các trấn
Tuy trong lòng nhân dân lúc này vẫn hướng vọng về nhà Lê, nhưng tình hình chính trị trong những năm Gia Long về cơ bản là yên ổn Trong không khí yên bình đó Thiệu Trị được sinh ra, ông sinh năm 1807 khi triều Gia Long chính thức tồn tại được năm năm Đến năm Thiệu Trị 12 tuổi thì Gia Long mất
Sang thời Minh Mệnh tình hình chính trị chuyển biến theo một xu thế xấu Trong nước, có nhiều cuộc nổi dậy chống triều đình Cụ thể, trong thời Minh Mệnh có đến 250 cuộc nổi dậy như nổi dậy của Phan Bá Vành, Lê Trọng Liên, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân, Lê Văn Khôi… Tuy nhiên, những cuộc nổi loạn đó nhanh chóng bị Minh Mệnh dẹp tan
Minh Mệnh là ông vua năng động, quyết đoán, có nhiều cải cách trên nhiều mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao Ông cho tổ chức lại quân đội, cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc Kỳ và Nam Kỳ, lập nên hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải Năm 1832, ông còn cho mở ngành tơ tằm Đại
Trang 18Nam, bắt các quan lại ở các tỉnh phải xuất lúa giống ở trong kho cho nhân dân vay để làm mùa sau Ngoài ra, ông còn khuyến khích cải cách kỹ thuật công nghiệp Mặc dù có nhiều cố gắng cải cách về kinh tế, nhưng vì đất nước đã trải qua một thời gian hoang tàn khá dài, cộng thêm chiến tranh liên miên nên mọi cố gắng của Minh Mệnh cũng không giúp được nhiều cho đời sống nhân dân, vì thế đời sống nhân dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn như kỹ thuật canh tác lạc hậu, thiếu đất đai để trồng trọt lại thêm nạn lũ lụt, hạn hán, vỡ đê
Minh Mệnh là một người am hiểu Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, ông rất quan tâm đến việc học tập đặc biệt là việc dạy dỗ các hoàng tử trong
đó có Thiệu Trị Năm 1822, ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài Năm 1836, ông còn cho lập Tứ dịch quán để dạy ngoại ngữ Vì vậy, dưới thời Minh Mệnh chế độ Nho học, thi cử phát triển mạnh
mẽ Minh Mệnh cũng là một học giả văn chương, từng làm thơ, soạn sách, khuyến khích quần thần sáng tác và biên soạn sử sách, các sách dâng lên đều được ông khuyến khích ban thưởng Những khi có thời gian, ông có thói quen đàm đạo văn chương, làm thơ sai các quan hoạ vần Điều này đã ảnh hưởng đến tư duy, suy nghĩ của Trường Khánh Công (sau này là vua Thiệu Trị) cũng như nhiều hoàng tử khác, họ phần lớn là những nhà thơ nổi tiếng Một gia đình đế vương mà có nhiều tác giả nổi tiếng như thế này là một hiện tượng xưa nay chưa từng thấy
Về mặt ngoại giao, Minh Mệnh có chính sách hà khắc hơn Gia Long, ông khước từ tiếp xúc với phương Tây, đưa ra các chiếu chỉ cấm đạo, tàn sát hàng loạt các tín đồ Cơ Đốc giáo, ra sức củng cố chế độ lưu quan ở miền núi, chủ trương mở mang thế lực ra nước ngoài, kiểm soát Chân Lạp Kết quả là Việt Nam trở thành một quốc gia hùng mạnh và có lãnh thổ rộng nhất so với các đời trước Dù còn nhiều khó khăn, song về cơ bản tình hình kinh tế, chính trị, xã hội dưới thời Minh Mệnh đã đi vào nề nếp
Trang 19Thiệu Trị lên ngôi (1841) may mắn được thừa hưởng một cơ nghiệp về
cơ bản đã đi vào ổn định Sau khi lên ngôi, vua cho các quan kê cứu, khảo sát những việc, những lệ từ triều Gia Long (1802 - 1819), Minh Mệnh (1820 - 1840), biên chép lại làm thành tắc lệ, về sau cứ thế mà làm Mọi định chế về pháp luật, hành chính, học hiệu, điền địa và quân đội đều được Thiệu Trị kế thừa từ thời Gia Long, Minh Mệnh
Mặt khác, nhà vua chú trọng về văn hoá, giáo dục và thi cử Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) bắt đầu mở Sử cục để biên tập, hiệu đính và khắc in các
bộ sử Thời đại của ông đánh dấu sự ra đời của nhiều bộ sử có giá trị Ngoài
việc khắc in các tập thơ của Minh Mệnh, của bản thân, ông còn cho in “Tiền biên và Chính biên, bộ Thực lục, sửa Thực lục chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế” [51, tr 579] Năm 1844, cuốn Thực lục tiền biên về Liệt Thánh
làm xong (tức là phần Thực lục về các đời chúa Nguyễn: từ Gia Dụ đến Hiếu
Định) Ngoài ra, ông còn cho khắc in bộ Ngọc điệp, các bộ sách của các
hoàng đế Trung Hoa cũ Về giáo dục, cũng có nhiều thành tựu đáng kể Ví dụ như tháng 4 năm 1847, nhà vua bắt đầu cho đặt chức đốc học tỉnh Phú Yên và giáo thụ, huấn đạo các phủ huyện ở những tỉnh duyên biên như Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên Vua cho rằng: “Việc dạy học là chính sự trọng đại của triều đình”, “văn phong ngày một chấn khởi, nên mở rộng việc tác thành nhân tài” [51, tr 1000 - 1001] Vì thế, dưới thời Thiệu Trị việc đặt nơi dạy học đã phát triển rộng rãi trên hầu hết các tỉnh thành Năm 1847, ông cho đặt trường thi tại Gia Định Từ khi lên ngôi chấn hưng văn trị, mở rộng khoa thi, trong khoảng bảy năm mở luôn 11 khoa thi Hội, thi Hương, các đời ít thấy có Lâm Duy Thiếp một đại thần lúc bấy giờ nói rằng “từ đời cổ, đặt chế độ mở khoa thi lấy nhân tài, không đời nào thịnh bằng đời nay, cho nên đời nay, những người làm học trò đều muốn quyết thi cho đỗ, mà không muốn làm lại viên, sáu bộ và các nha phải cần đến người làm việc Có thể biết được văn phong đời nay là thịnh” [51, tr 1056]
Trang 20Ngoài ra, ông còn khuyến khích quần thần sáng tác, hoạ vần Mỗi khi coi chầu giải quyết công việc xong, bao giờ ông cũng tụ họp các quần thần để luận bàn văn chương thi pháp Ông thường nói với quần thần “Ta muôn việc
ở mình, dù lúc mặt trời đã xế bóng, hay ban đêm, chưa lúc nào được nhàn rỗi, còn ở những lúc chính sự thư thả, không lúc nào bỏ việc học, huống chi các ngươi? Người đời xưa học sách cổ rồi ra làm quan, nghiên cứu kinh điển đến cùng để sẽ dùng vào việc đời” [51, tr 1038]
Cũng như thời Minh Mệnh, xã hội thời Thiệu Trị cũng phức tạp, chỉ trong bảy năm mà có đến 50 cuộc nổi dậy nhưng may mắn được sự giúp đỡ của các đại quan giỏi như Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Công Trứ, hầu hết các cuộc nổi dậy được dẹp yên
Về ngoại giao, ông giữ chủ trương hoà hảo nhưng không khuất phục đối với nhà Thanh Đối với Chân Lạp, Xiêm La trong những năm đầu mối quan hệ có vẻ căng thẳng, nhưng sau khi Thiệu Trị cho rút quan lại và binh sĩ đóng ở Chân Lạp thì mối quan hệ trở nên tốt đẹp hơn Mặc dù Thiệu Trị giữ thái độ hoà hảo đối với các nước bên ngoài, “để cho quân nhân được nghỉ ngơi” [51, tr 968], nhưng trong những năm này nhà Nguyễn bắt đầu phải đối mặt các thế lực phương Tây, đặc biệt là Pháp Thời Minh Mệnh, vua có những chính sách hà khắc đối với việc truyền đạo như giết các giáo sĩ truyền đạo, giam cầm một số thương gia người Pháp… nên cuối đời Thiệu Trị, người Pháp bắt đầu thực hiện “đường lối ngoại giao pháo hạm” tại cửa biển Đà Nẵng, tìm cách can thiệp vào nội tình nước ta Đầu năm 1847 hai tàu chiến của nước Phật Lan Tây (Pháp) vào cửa Đà Nẵng, gây sự, bất chấp các quy định của quan chức nhà Nguyễn Chúng nổ súng vào các hạm thuyền của quan quân, 5 - 6 người đạo trưởng công nhiên đeo chữ “thập”, đi lại nơi cửa biển Không dừng lại ở đó Đầu mục Tây dương là Lạp Biệt Nhĩ còn đem vài
Trang 21mươi tên đồ đảng, đeo gươm, đeo súng, đến thẳng ngay công quán; quan quân ngăn lại không được
Đến tháng 3 năm 1847, tiếp tục “Có 5 chiếc thuyền bọc đồng ở Kinh phái đi Nam (Kim Ưng, Phấn Bằng, Linh Phượng, Thọ Hạc, Vân Bằng) chưa
ra biển còn đậu lại ở vụng Trà Sơn cùng đối diện với thuyền Tây dương, cũng
bị chúng sấn đến cướp lấy buồm thuyền và dây buộc thuyền” [51, tr 975], quan quân chống lại bị chúng nổ súng, bắn cả vào thuyền “Quan binh giở tay không kịp, năm chiếc thuyền đồng chốc lát đều bị đắm mà vỡ cả Lãnh binh Nguyễn Đức Chung, Hiệp quản Lý Điển đều chết ở trận, biền binh chết hơn
40 người, bị thương hơn 90 người, còn 104 người không biết trôi dạt đi đâu,
súng và khí giới chìm mất rất nhiều”[51, tr 984] Theo, 82 năm Việt sử tác
giả Nguyễn Phương viết rằng: “Năm 1847, Rigault de Genouilly đưa hai chiếc thuyền Gloire và Victorieuse cập bến Đà Nẵng để gây áp lực, bắt bỏ lệnh cấm đạo.Vua ra lệnh đối phó Khoảng 5000 quân tại chỗ dùng 13 chiến thuyền cùng nhiều ghe lớn ra bao vây tàu Pháp Sau hai giờ giao tranh quân triều đình thất bại, tàu Pháp bỏ đi” [43, tr 69] Trong bầu không khí đầy phẫn uất đó, vua Thiệu Trị băng hà
1.2.2 Tình hình văn học
1.2.2.1 Văn học hoàng đế trong lịch sử Việt Nam
Trong lịch sử văn học trung đại, hoàng đế làm thơ là một hiện tượng rất phổ biến, thậm chí “làm thơ là một khía cạnh nghệ thuật cai trị của các hoàng đế” (Theo Trần Nho Thìn) Ngay từ thế kỷ X, một số vua nhà Lý đã mở đầu cho trường phái văn chương hoàng phái như Lý Thái Tổ đã để lại cho đời sau một áng văn, đó là “Thiên đô chiếu”; Lý Thái Tông có hai bài thơ chép ở
“Thiền Uyển tập anh” và có một tác phẩm mang tính chất làm nền tảng cho
luật pháp nước nhà (bộ Hình thư) , nhưng hiện nay không còn; Lý Nhân Tông với bài Thơ viếng Vạn Hạnh Nhìn chung, thơ văn các vua nhà Lý còn mờ
Trang 22nhạt, số lượng để lại không nhiều, nội dung chủ yếu mang đậm chất Thiền và giáo lý Phật giáo
Đến đời Trần, đất nước đã ba lần đánh bại quân xâm lăng Nguyên Mông, một đế quốc hùng mạnh lúc bấy giờ Không chỉ là những anh hùng trên chiến trường mà các vua và vương hầu nhà Trần còn là những tao nhân mặc khách, luôn hướng về sáng tác ngâm vịnh, trăm họ âu ca Tiêu biểu là Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông
Trần Thái Tông nghiên cứu cả Nho và Phật, trở thành một tác gia quan trọng của dòng văn học Thiền Tông, có sách là “Khoá hư lục”, một tác phẩm
cổ nhất, quan trọng nhất về phương diện triết học Thiền của đời Trần, quan trọng hơn nó còn có có giá trị về văn học, bởi Trần Thái Tông mượn hình thức văn, luận, thể biền ngẫu và kệ, thể thơ thất ngôn, ngũ ngôn để biểu
đạt tư tưởng, cảm xúc của mình Trần Thái Tông còn có Thiền Tông chỉ nam ca, Lục thì sám hối khoa nghi, Trần Thái Tông ngự tập, được Phan
Huy Chú khen là “lời thơ thanh nhã, đáng đọc” nhưng hiện nay chỉ còn
hai bài chép ở Việt âm thi tập và Toàn Việt thi lục Ngoài ra, ông còn đề tựa kinh Kim Cương, viết một số bài bình luận về việc toạ thiền, việc
niệm Phật và một bài răn về tửu sắc
Tác giả thứ hai là Trần Thánh Tông, một người thích đàm đạo văn thơ, nghiên cứu kinh Phật Dưới thời trị vì của vua, văn học rất phát triển Tương
truyền tác phẩm của vua là các cuốn Cơ cừu lục, Di hậu tập, Hoàng Tông ngọc điệp, Thiền Tông liễu ngộ ca, Phóng ngưu, Chỉ giá Minh, một tập thơ lấy nhan đề Trần Thánh Tông thi tập chép trong “Toàn viện thi lục” Ngoài
ra, ông còn viết nhiều thư từ ngoại giao Nay chỉ còn lại sáu bài thơ được chép
trong Việt âm thi tập (5 bài) và Đại Việt sử ký toàn thư (1 bài)
Tác giả thứ ba là Trần Nhân Tông, một vị vua anh hùng, đã có công lớn trong việc lãnh đạo cuộc kháng chiến đánh thắng giặc Nguyên Mông lần hai
Trang 23và lần ba (1285 - 1288) Trần Nhân Tông còn là một nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc ở thế kỷ XII Ông sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm ở Việt Nam Tác
phẩm của ông có nhiều như: Trần Nhân Tông thi tập, Đại hương hải âm thi tập, Thiền tâm thiết chuỷ ngữ lục, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ ngữ, Trung hưng thực lục Hiện chỉ còn 31 bài thơ, một bài minh, một bài phát biểu của
ông với sứ giả Trương Lập Đạo do chính vị sử giả này ghi lại
Thứ tư là, Trần Anh Tông, theo Đại Việt sử kí toàn thư, Trần Anh Tông
có bài Thạch dược châm và tập Thuỷ văn tuỳ bút nhưng đều đã bị chính tác
giả thiêu huỷ trước khi mất Hiện còn 14 bài thơ Ông rất yêu nghệ thuật, thích vǎn chương Ông làm thơ nhiều, nhưng chỉ xem thơ ca như một lợi khí nuôi dưỡng tính tình, diễn đạt tâm hồn ở những thời gian nhất định, chứ không có dụng ý lưu lại công trình, nghĩ tới danh hiệu về sau
Thứ năm là, Trần Minh Tông Hầu hết tác phẩm của Minh Tông đã
mất, nay chỉ còn khoảng 25 bài thơ được chép rải rác ở các sách như Việt âm thi tập,Đại Việt sử kí toàn thư và Nam Ông mộng lục Thời này Nho học được
đề cao, Phật học giảm dần uy thế; Minh Tông cũng xuất gia như các vị tiên đế nhưng ông luôn dặn dò các Hoàng hậu đừng đi tu
Cuối cùng là, Trần Nghệ Tông, có Tông Bắc sứ ngưu lượng, Tỵ cư Gia Hưng trấn ký đệ cung Tuyên Vương, Đề Tư đồ Trần Nguyên Đán từ đường…Hiện chỉ còn 5 bài thơ chép trong Việt âm thi tập Nhìn chung, thơ
ông thể hiện sự bất lực trước thời cuộc, với cơ nghiệp tổ tiên để lại, phản ánh tình cảm đối với anh em bạn bè
Nhìn chung, các vua nhà Trần đã làm cho phả hệ văn chương hoàng phái được đậm nét hơn, tuy nhiên hiện nay tác phẩm còn sót lại không nhiều, chủ yếu là thơ, biểu, chiếu, không có sự xuất hiện các tác phẩm viết về thi pháp Các tác giả nhà Trần đã có công rất lớn trong việc sáng lập nên dòng văn hoá Thiền Tông, là những tác giả quan trọng trong phạm vi thơ Thiền
Trang 24Sang triều Lê, Lê Thánh Tông là hoàng đế duy nhất làm thơ ở triều Lê Ông được xem là một nhà văn hoá, một ông vua coi trọng hiền tài, trân trọng
lịch sử Chính ông đã giao cho Ngô Sĩ Liên làm bộ Đại Việt sử ký toàn thư và Thân Nhân Trung biên soạn bộ Thiên Nam dư hạ tập, là những bộ bách khoa
có giá trị trên nhiều phương diện đối với dân tộc Việt Nam Ngoài ra, ông còn
cho cho soạn bộ luật Hồng Đức rất nổi tiếng Lê Thánh Tông là tác giả của
chín tập thơ chữ Hán và hàng trǎm bài thơ Nôm khác Vừa là một vị hoàng đế ông vừa có phong cách của một nghệ sĩ giang hồ thưởng ngoạn thú non sông,
đi đến đâu ông cũng cho đề thơ làm kỷ niệm Về sau chính Minh Mệnh, Thiệu Trị cũng có phong cách này Ông thường đàm đạo với các nhà học giả trong triều đình, tự nhận mình là nhà thơ, và có phần nào đó vượt cả tài nǎng một số nhà thơ bên Trung Quốc Sau khi làm thơ ông đưa cho các triều thần họa lại
để phát triển ý mình, khơi dậy một không khí sáng tác rất sôi nổi lúc bấy giờ bằng sáng kiến thành lập hội Tao Đàn, là nơi chuyên sáng tác và bình phẩm thơ văn Ông tự xưng là Tao Đàn nguyên súy, tập trung xung quanh mình 28 học giả vào câu lạc bộ này, gọi một cách vǎn vẻ là Tao Đàn nhị thập bát tú
với tuyển tập thơ khá quy mô và đồ sộ là Hồng Đức quốc âm thi tập Thơ ông
vô cùng phong phú không chỉ phong phú về nội dung mà còn cả về chữ viết, tiêu biểu là sở trường thơ Nôm Tuy nhiên, so với thơ ca sau này đặc biệt là thế kỷ 18, 19 thơ ông không được đánh giá cao về mặt nghệ thuật
Nhà Nguyễn đánh dấu sự phát triển nhiều mặt trong dòng thơ văn hoàng phái với sự góp mặt của Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức
Minh Mệnh là vị hoàng đế thứ hai của triều Nguyễn, sinh năm 1791 -
1841 Số lượng tác phẩm mà ông để lại là tương đối nhiều, khoảng gần 3500
bài thơ, được Thiệu Trị cho in trong sáu tập Ngự chế thi Tuy Minh Mệnh là
người trọng văn chương, thích sáng tác nhưng có thể nói thơ của Minh Mệnh không đạt được đỉnh cao về mặt ngôn từ như thơ Thiệu Trị Ngay chính bản
Trang 25thân ông cũng đã từng nói: “Thơ trẫm làm không cần khéo léo, chỉ luôn miệng ngâm ra để nói chí mình thôi Những bài ban cho ấy đều nói về việc kính trời lo dân, mong tạnh cầu mưa… không phải vụ lời văn hoa mà đua hay với văn sĩ đâu”[50, tr 427] Chính vì những suy nghĩ đó mà thơ vua Minh Mệnh phần nhiều viết về tự nhiên, thể hiện mong ước cầu mưa, cầu nắng, cầu tạnh, thể hiện tấm lòng lo lắng cho nền sản xuất nông nghiệp nước nhà, bày tỏ cái ý chí của mình Do đó, Minh Mệnh tuy là ông vua chuộng văn học, đề cao những người học văn học nhưng ông lại cho rằng văn chương nếu đề cao quá mức, không gắn với thực tế thì sẽ trở nên sáo rỗng
Thiệu Trị được sinh ra trong dòng chảy đó, ông là một mắt xích - một mắt xích quan trọng vì vị hoàng đế này không chỉ đóng góp nhiều mặt trên các lĩnh vực văn hoá, giáo dục mà còn góp thêm một màu sắc cho văn chương hoàng tộc nói riêng và văn chương Việt Nam nói riêng Không chỉ tiếp nối truyền thống hăng say sáng tạo của các bậc đế vương mà Thiệu Trị còn phát huy truyền thống đó lên đến đỉnh cao
1.2.2.2 Văn chương hoàng phái nhà Nguyễn
Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng “không thời nào, văn hoá phát triển như thời Nguyễn, sách vở sáng tác gần bằng hoặc bằng, thậm chí còn nhiều hơn mấy trăm năm trước Những nhà tư tưởng của thời Nguyễn cao hơn những nhà tư tưởng trước, những nhà văn cao hơn những nhà văn trước, những nhà làm sử cũng giỏi hơn những người làm sử trước Có thể nói, sự phát triển dưới thời Nguyễn tương đương với sự thống nhất của quốc gia Sự thống nhất về chính trị thúc đẩy sự phát triển về văn hoá rất nhiều Đó là thành tích của triều Nguyễn” [16, tr 18] Giáo sư Nguyễn Lộc viết: “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ 18 đến hết thế kỷ 19 không những phát triển rực rỡ
mà còn là đỉnh cao của văn học dân tộc”, “Trước kia lịch sử chưa bao giờ chứng kiến một giai đoạn văn học nào lại phát triển một cách phong phú
Trang 26không những về số lượng mà còn cả về chất lượng như giai đoạn văn học này Điều đó có một loạt nguyên nhân về lực lượng sáng tác, về công chúng văn
học, cũng như về điều kiện in và xuất bản, v.v… lúc bấy giờ [26, tr 15] Qua
đó chúng ta thấy rằng văn chương dưới thời nhà Nguyễn phát triển lên đến đỉnh cao không chỉ về văn học chữ Nôm mà còn cả về chữ Hán với nhiều tác giả, nhiều tác phẩm tiêu biểu
Văn học nhà Nguyễn có thể chia làm các thời kỳ như sau: thời Nguyễn
sơ - thời kỳ nhà Nguyễn còn độc lập và thời kỳ nhà Nguyễn thuộc Pháp Thời Nguyễn sơ là thời kỳ của các nhà thơ thuộc hai nguồn gốc chính: Thứ nhất là các vua quan nhà Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh, Mai Am công chúa, Diệu Liên công chúa, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Trứ… Bộ phận thứ hai là các cựu thần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn tiêu biểu là Phạm Quý Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoà Đức, Lê Quang Định, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều Tuy nhiên trong lịch sử văn học cũng như nhiều sách vở chính thống từ xưa đến nay chủ yếu đề cập đến các tác giả thuộc bộ phận thứ hai Còn ở bộ phận thứ nhất, đề cập nhiều đến Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ nhưng chưa nói nhiều đến văn chương hoàng tộc (vua và các hoàng tử) Vì vậy trong luận văn này chúng tôi cố gắng giới thiệu tới độc giả một vài nét khái quát về một số tác giả thuộc bộ phận văn học hoàng tộc bởi ba lí do sau Lí do thứ nhất, bộ phận này chưa được đề cập nhiều trong lịch sử văn học từ xưa đến nay Thứ hai, đối tượng luận văn
mà chúng tôi hướng đến là Thiệu Trị - một thành viên của dòng văn học này Thứ ba, theo chúng tôi phong trào sáng tác văn chương của vua Minh Mệnh cũng như anh em hoàng thân quốc thích của triều Nguyễn ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy, cảm hứng của Thiệu Trị
Trang 27Ngoài Minh Mệnh và Thiệu Trị, văn học hoàng gia nhà Nguyễn còn phải kể đển Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm là con thứ mười của vua Minh Mệnh với Thục Tần Nội cung Nguyễn Khắc Thị Bửu Sinh thời ông thường tụ họp con
em trai gái cùng bạn bè thích văn chương đến chơi và xướng họa, lập ra Mặc Vân Thi Xã, xây dựng cơ sở khắc in và xuất bản Mặc Vân Sào Ngoài ra, ông còn lập đền thờ các nhà thơ như Khuất Nguyên, Tào Thực, để tỏ lòng kính trọng văn chương đối với văn học cổ Thơ văn của ông phần lớn được viết
bằng chữ Hán tiêu biểu là bộ Thương Sơn thi tập gồm 8 tập: Nhĩ hinh, Bắc hành, Ngộ ngôn, Hà thượng, Mô trường, Bạch bí, Minh Mạng cung từ và Mãi điền Sau khi Vương mất, 8 tập của bộ Thương sơn thi tập được các em trai,
em gái và các con sắp xếp lại rồi cho khắc in bằng bản gỗ vào năm Tự Đức thứ 25 (năm Nhâm Thân - 1872) gồm 54 quyển Tùng Thiện Vương được xem là vị tao nhân mặc khách nổi tiếng thi bá một thời:
Văn như Siêu 1
Quát 2 vô Tiền Hán Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường
(Văn như Siêu Quát mờ Tiền Hán Thơ đến Tùng Tuy vượt Thịnh Đường)
Đó là những câu thơ dành cho các vị thi nhân nổi tiếng là: Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát và anh em Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Tuy Lý Vương Miên Trinh
Hoàng tử thứ hai phải kể đến là Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh (1820 - 1897), con thứ 11 của vua Minh Mệnh, tự Khôn Chương và Quý Trọng, hiệu Tĩnh Phố, biệt hiệu Vĩ Dạ Cũng như Tùng Thiện Vương,
1
Siêu: Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872), Tự Tốn Ban, hiệu Phương Đình và Thọ Xương cư
sĩ, nguyên là người làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Hà Nội Tác phẩm của ông có: Phương
Đình thi văn tập, Phương Đình thi thoại, Phương Đình văn loại
2 Quát: Cao Bá Quát (1808 - 1855), hiệu là Chu Thần, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm,
Hà Nội Tác phẩm của ông có Chu Thần thi tập
Trang 28Tuy Lý Vương sớm có khiếu về thơ Dưới triều Tự Đức giữ chức Hữu Tôn nhơn Sau khi vua Tự Đức băng hà, vì mâu thuẫn với phe Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường ông bị bọn Tường, Thuyết bắt giam sau đó cho đày ở Quảng Ngãi (1883) Đến khi Đồng Khánh lên ngôi (1885) gia đình mới được
về Kinh Dưới triều vua Thành Thái ông giữ chức Phụ chánh than thần và
chức Phụ nghị cận thần cho đến lúc mất Tác phẩm của ông gồm có: Vĩ Dạ hợp tập, gồm cả thơ lẫn văn tất cả 11 cuốn bằng chữ Hán và một số bài thơ
xướng hoạ được lưu truyền bằng chữ Nôm
Vị hoàng tử thứ ba là Tương An Quận Vương (1820 – 1890): Tên Nguyễn Phúc Miên Bảo1, tự Duy Thiện, hiệu Khiêm Trai, con thứ 12 của vua Minh Mệnh, ham thích võ nghệ, cưỡi ngựa bắn cung Cũng như các anh là Nguyễn Phúc Miên Tông, Nguyễn Phúc Miên Thẩm và Nguyễn Phúc Miên
Trinh, ông nổi tiếng về thơ, nhất là thơ Nôm với hai khúc Hoài Cổ Âm và Trăm thương được nhiều người truyền tụng Về chữ Hán, ông có hai tập: Khiêm trai thi tập và Khiêm Trai văn tập
Ngoài ra còn phải kể đến một số em gái của Thiệu Trị như Mai Am
Công chúa với tập thơ chữ Hán Diệu Liên thi tập, gồm 370 bài, chia làm 3
quyển, 1 bổ di,1 phụ lục, hiện nay vẫn còn lưu giữ Bên cạnh Mai Am công
chúa là Nguyệt Đình Công chúa với tập Nguyệt đình thi thảo, nhưng tác phẩm hiện nay không còn Công chúa Huệ Phố cũng để lại tập Huệ Phố thi tập
Sáng tác này gồm bốn quyển với 216 bài thơ chữ Hán do bà viết từ năm 1845
cho đến ngày từ trần Theo các tác giả Nguyễn Phúc tộc thế phả thì hiện nay, Huệ Phố thi tập chưa được khắc in nhưng vẫn còn bản viết tay của bà
Trong lịch sử văn học Việt Nam quả là chưa có thời nào mà các hoàng
tử, công chúa lại say mê sáng tác và đặc biệt biên tập, in ấn cũng như bình phẩm văn chương của nhau nhiều đến vậy Thiệu Trị được sinh ra giữa nhiều
1
Có tài liệu chép là Bửu
Trang 29dòng chảy tốt đẹp đó, ít nhiều ảnh hưởng đến nhân cách của ông đặc biệt ông lại là người vốn không thích làm trái lời vua cha Minh Mệnh - người có tư tưởng giáo dục các con một cách quy cũ, bài bản
1.3 Vài nét về Thiệu Trị
1.3.1 Tuổi nhỏ mồ côi mẹ
Thiệu Trị sinh ngày 11 (Nhâm Tý), tháng Năm, năm Đinh Mão (1807) (tức ngày 16 tháng 6 năm 1807, năm Gia Long thứ 6) Ông là vị vua thứ ba của triều Nguyễn1, là con đầu trong số 78 hoàng tử và 63 công chúa của Thánh Tổ Nhân hoàng đế Minh Mệnh Mẹ là Thuận Đức Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa2 (1791 - 1801), con gái của ông Đô Thống Chưởng phủ sự Hồ Văn Bôi ở ấp Xuân Lộc, phía Đông kinh thành Năm 1844, nhà vua đã cho xây dựng chùa Diệu Đế ở đây để kỉ niệm nơi ông sinh ra
Ngay từ nhỏ, Thiệu Trị đã được vua cha hết mực yêu thương Một lần, nhân Minh Mệnh ẵm Thiệu Trị đến làm lễ cháu ra mắt ông, Thế tổ cao hoàng
đế mừng mới có cháu đích tôn, chuẩn cho lấy bộ “Nhật” đặt tên Hoàng tổ chính tay viết chữ Dung, trên là chữ “nhật”, dưới về bên tả là chữ “cách”, bên hữu là chữ “trùng” tức chữ “Dung”3
Về sau nhân bói số năm hưởng quốc và số đời truyền nối, để phân biệt
kẻ thân người sơ, chia ra thế hệ về dòng vua, dòng các thiên vương Minh
Mệnh đã làm bài Đế hệ thi 4 gồm 20 chữ, dùng làm chữ lót tên cho mỗi thế hệ
từ vua Minh Mạng trở về sau Do đó, Minh Mệnh có mệnh lệnh đặt lại tên
1 - Gia Long Nguyễn Thế Tổ Nguyễn Phúc Ánh (1802-1819)
- Minh Mệnh Nguyễn Thánh Tổ Nguyễn Phúc Đảm (1820-1840)
- Thiệu Trị Nguyễn Hiến Tổ Nguyễn Phúc Miên Tông (1841-1847)
2 Nhiều tài liệu ghi là: Tá Thiên Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa
3 Tham khảo thêm Đại Nam thực lục, trang 76, tập 6, Nxb Giáo dục, 2007
4
Đế hệ thi được sang tác năm 1823, bài thơ có nội dung như sau:
Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Định Long Trường
Hiền Năng Kham Kế Thuật
Thế Thuỵ Quốc Gia Xương.
Trang 30cho các hoàng tử công chúa, Thiệu Trị lúc bấy giờ có tên là Nguyễn Phúc Miên Tông (阮福綿) Đến lúc lên nối ngôi, Thiệu Trị lấy tên đặt lúc còn nhỏ làm tên tự và dựa theo bài thơ của vua cha, nhà vua lấy chữ Tuyền làm tên
Vua sinh ra được 13 ngày tuổi thì mẹ mất Ngày mẫu hậu mất, vua khóc thương mãi không thôi Thế tổ Cao hoàng đế đến thăm, mừng, nói: “Trẻ con mới sinh ra mà biết khóc thương, là tính trời sinh, ngày sau thế nào cũng giữ trọn được đạo hiếu” [47, tr 20] Về sau đúng như nhận xét của Gia Long, Thiệu Trị lên làm vua đã thể hiện được những phẩm chất, cũng như tư cách của một ông vua tốt, một thi sĩ tài năng
Ngay từ nhỏ, Thiệu Trị đã tỏ ra chăm chỉ, hoà nhã Trong khi các em bị cha nghiêm khắc, quở trách nhiều việc thì Thiệu Trị hầu như giữ được chữ tín đối với cha bằng cách sửa mình, siêng năng học hành và giúp đỡ vua cha chăm lo chính sự Năm 14 tuổi, trong khi Minh Mệnh ngự giá ra Bắc, Thiệu Trị đã phải giúp vua cai quản triều chính [47, tr 305]
1.3.2 Tuổi trưởng thành
Năm 23 tuổi, Miên Tông cùng với các em là Miên Nghị, Miên Ninh, Miên An, Miên Định, Miên Hoằng được xuất các ra phủ và phong tước công Thiệu Trị được sách phong là Trường Khánh Công, ở nhà Chỉ Thiện Đường
và đảm nhận nhiều trọng trách ở Tôn Nhân phủ (là cơ quan trong coi mọi việc trong hoàng tộc) Công việc của ông là định chương trình, giữ phả hệ, ban giáo lệnh, xếp đặt tước lộc, nêu ra những người liêm khiết tài năng Mọi việc ông đều hoàn thành rất tốt, được vua cha Minh Mệnh hài lòng, vì thế đức tốt ở Tôn Nhân phủ ngày một nổi tiếng
Ngoài ra, ông thường được Thánh tổ nhân Hoàng đế sai kiểm soạn những thơ ngày thường ngài đã làm để tiến lãm Hoặc thường cùng vua cha Minh Mệnh hoạ vần thơ văn Nhân tiết Trùng cửu năm 1838, ông cùng vua cha đi sửa dọn núi Ngự Bình, sắp bày xa giá, lên chơi núi ấy, đi theo kiệu, hầu
Trang 31bên cạnh Minh Mệnh sai bảo dâng giấy bút để làm thơ, rồi sau đó sai ông họa vần Trường Khánh công hoạ vần tốt được Minh Mệnh gia ơn, thân rót rượu ban cho Khi lên ngôi trị vì ông nhớ lại những kỷ niệm cùng với cha, thường làm thơ để giải bày tấm lòng của mình
1.3.3 Trị vì
Năm 34 tuổi, mùa xuân, tháng Giêng ngày 19, Minh Mệnh ốm nặng, cho gọi Trường Khánh Công vào hầu, ông đến trước giường ngự, Thánh tổ cầm lấy tay dặn dò, bảo ban việc nối ngôi Sau khi dặn dò xong, Thánh tổ yên tâm se mình Ngày 20 tháng 12 năm 1841, Thiệu Trị lên nối ngôi ở điện Thái Hòa, lấy niên hiệu là Thiệu Trị
Theo Ngoại truyện chép: Thánh tổ ốm, bàn lập con nối ngôi, chưa
quyết định Lúc ấy, Kiến An công đang điều hộ ở điện Quang Minh Hoàng thái hậu ý muốn lập Kiến An công, triệu văn võ đình thần hội bàn Trương Đăng Quế xin lập Trường Khánh Công, lập tức thảo chiếu Vua sai đình thần phụng chỉ bạch hoàng thái hậu Hoàng thái hậu không trái được, bèn triệu lập Trường Khánh Công [60, tr 357]
Từ tháng một đến tháng tư năm 1842 vua Thiệu Trị tuần thú ra Bắc nhận sắc phong Trong chuyến đi gần ba tháng này ông đã để lại cho đời
tập thơ Thánh chế Bắc tuần thi tập, với 173 bài thơ viết về cảm xúc của
nhà thơ trước mỗi phong cảnh, mỗi sự kiện mà nhà vua gặp ở những nơi
mà ông đi qua
Tháng năm 1847, vì buồn rầu chuyện quan quân bị thuyền Pháp đánh đắm và thiệt hại nhiều binh sĩ, trong lòng ông không vui sinh bệnh ngày một trầm trọng Ngày 17 tháng 9, tuyên triệu cố mệnh lương thần là Trương Đăng Quế, đại thần là bọn Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp vào hầu, ban thân tờ di chiếu châu phê, cho Nguyễn Phúc Hồng Nhậm được nối ngôi Ngày 27 tháng ấy năm Đinh Mùi, tức ngày 4 tháng 10 năm 1847 vua se
Trang 32mình, hưởng thọ 41 tuổi, miếu hiệu là Hiến Tổ (憲祖) Ngày Canh Thân để tử cung ở điện Long An Tháng 11, ngày Nhâm Dần, dâng tôn hiệu là Thiệu Thiên Long vận, Chí thiện Thuần hiếu, Hoan minh Tuệ đoán, Văn trị Vũ công, Thánh Triết Chương hoàng đế Bài vị nhà vua được thờ ở Thế Miếu Lăng của ông là Xương Lăng, toạ lạc tại làng Cư Chánh, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên
Sử sách không nói nhiều về Thiệu Trị, nhưng với tâm niệm “dân là gốc nước, ăn là việc sinh sống của dân, ta từ khi lên ngôi đến nay, đi xem phong tục, xét tình trạng hằng năm, hoặc cho giảm thuế, hoặc tha cho những chỗ thiếu, thường để tâm vào việc dân”, [47, tr 996] ông đã tạo được nhiều dấu ấn trong lịch sử dân tộc
1.3.4 Gia quyến
Thiệu Trị có một Hoàng hậu (là Nghi Thiên Chương hoàng hậu Phạm Thị Hằng, con ngài Lễ bộ Thượng thư Phạm Đăng Hưng) và rất nhiều phi tần, cung nữ Ông có 64 người con: 29 hoàng tử và 35 hoàng nữ
Vua phế bỏ con trưởng là Hồng Bảo lập con thứ là Hồng Nhậm (tức là vua Tự Đức)
Trang 33Mặt khác, giai đoạn này văn học Việt Nam đạt được đỉnh cao với nhiều tác giả không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn nổi tiếng ngoài nước Văn học phát triển ở nhiều tầng lớp, không chỉ trong giới văn nhân quan lại mà còn có cả con em hoàng thân quốc thích của triều Nguyễn, đứng đầu là Minh Mệnh Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến sự nghiệp thơ văn của Thiệu Trị Trong trào lưu đó, Thiệu Trị cũng muốn thể hiện bản lĩnh sáng tác trong thi ca, thể hiện nhân cách của người con trưởng vốn được Minh Mệnh tin tưởng, yêu quý
So với hai vị vua tiền nhiệm cũng như các vua kế sau, Thiệu Trị không phải là một ông vua nổi bật, gắn với những sự kiện quan trọng của dân tộc Ông chủ yếu quan tâm đến giáo dục thi cử tu, bổ các giá trị văn hoá Mặt khác, cuộc đời làm vua của Thiệu Trị ngắn ngủi chỉ trong bảy năm, ông lại là người ôn hòa, nhã nhặn và không thích thay đổi các định chế xã hội Vì vậy
ông lịch sử ít khi nhắc đến ông, thậm chí trong Đại Nam thực lục không có
nhiều ghi chép về cuộc sống của Thiệu Trị khi ông còn trẻ cũng như lúc
trưởng thành Cho đến khi Hiến Chương hoàng đế thực lục, Chính biên, Đệ nhị kỷ về Thiệu Trị, ra đời cuốn sách cũng chỉ dành dăm ba trang tóm tắt lại
cuộc sống khi chưa lên ngôi của Thiệu Trị Tuy nhiên điều đặc biệt thú vị là
Đệ nhị kỷ chủ yếu dành rất nhiều trang ghi lại các bài dụ, biểu và hoạt động
văn chương của vua Thiệu Trị với quần thần
Trang 34Chương 2 HỆ THỐNG TÁC PHẨM VÀ NỘI DUNG VĂN CHƯƠNG
CỦA THIỆU TRỊ QUA ĐẠI NAM THỰC LỤC
2.1 Hệ thống văn chương Thiệu Trị
Căn cứ chính vào Đại Nam thực lục cũng như tham khảo thêm Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện
Viễn Đông Bác Cổ, Nxb KHXH, Hà Nội, 1993 cùng một vài tư liệu lịch sử khác, chúng tôi thấy rằng: không chỉ viết thơ, văn, các bài chiếu, dụ, biểu, châm, ký, minh, tựa, bạt, bi, ký, câu đối mà Thiệu Trị còn là một học giả uyên thâm, ông phê bình văn chương trong nước, đánh giá ưu và nhược của văn học cổ Trung Quốc Đáng ngưỡng mộ hơn là ông đã nghiên cứu, tập hợp, bổ sung những chỗ còn thiếu sót trong các sách cổ, kê cứu và ghi chép lại làm tài liệu cho việc dạy và học ở các trường học Ngoài ra, ông còn giảng giải về thi pháp thơ cho các quần thần mỗi khi họ không hiểu Tuy nhiên, hầu hết tác phẩm và sách nghiên cứu của ông được viết bằng chữ Hán, chưa được dịch sang chữ Quốc ngữ mà người viết lại hạn chế về dịch nên việc tổng hợp hết sức khó khăn Hơn nữa, nhiều tác phẩm của ông hiện bị thất lạc, một số được
chép tản mạn, rải rác ở các tài liệu như việc “điểm danh” Đại Nam thực lục
giới thiệu rất nhiều về nguồn gốc, việc biên tập, khắc in của nhiều tuyển tập văn chương Tuy nhiên các tuyển tập này được chép với tư cách là các sự kiện lịch sử nên thường tóm tắt và không theo hệ thống Để hệ thống văn chương của Thiệu Trị được rõ ràng, hạn chế việc nhầm lẫn bởi nhiều tên gọi khác nhau chúng tôi xin giới thiệu tới bạn đọc các tuyển tập của Thiệu Trị theo từng thể loại ở các tài liệu như sau:
2.1.1 Đại Nam thực lục
Trong Đại Nam thực lục phần Dực Anh Tông hoàng đế thực lục, Chính
biên, Đệ tam kỷ viết vua Thiệu Trị “Ngự chế ra hai tập văn, 4 tập thơ, lại có những tập Ngự đề đồ hoạ, Sử luận, Hoàng huấn, Bắc tuần, Võ công, Cổ
Trang 35kim thể cách, Tài thành phụ tướng, Lịch đại đế vương, không đầy 6 - 7
năm, mà làm xong 14 bộ sách Lại tập “Chỉ thiện đường thi văn hội tập”,
làm ra khi còn ở tiềm để, có 16 quyển nữa” [52, tr 101] Như vậy theo Dực
Anh Tông hoàng đế thực lục, Chính biên, Đệ tam kỷ thì khi trị vì vua Thiệu Trị có 14 bộ sách và có 16 quyển khi đang ở tiềm để Sau khi xem xét ở Hiến Chương hoàng đế thực lục, Chính biên, Đệ nhị kỷ chúng tôi nhận thấy rằng vua Thiệu Trị còn có thêm một tập nữa đó là Minh Lương hỷ khởi tập Dựa vào hai phần trên của Đại Nam thực lục chúng tôi tổng hợp được như sau:
2.1.1.1 Thơ
1 - Thơ ngự chế, tập đầu: Tập thơ được khắc in vào tháng hai năm
1843, tập hợp những bài thơ ngự chế của ông về thể cổ, thể kim, gồm thơ 13 quyển, mục lục 3 quyển, cộng 16 quyển Đa phần các bài thơ này được sáng
tác từ năm Thiệu Trị thứ hai về trước
2 - Thơ ngự chế, tập hai: Trong Đại Nam thực lục có đoạn viết:
“Trước kia, ta đi tuần sang phía đông, nơi cương vực ngoài biển, đường đi qua sông Phổ Lợi, trông thấy dòng nước trong sáng, nhuần thấm các đồng ruộng màu mỡ, thực là lợi cho dân ta muôn nghìn đời, nhớ lại Hoàng khảo Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, mưu lược rộng lớn, lo tính sâu xa, phòng thủ ngoài biển, coi trọng nghề nông, không việc gì là không chu đáo… Ta rất cảm
mộ, có làm một bài thơ để ghi nhớ công việc ấy Chuẩn cho bộ công khắc vào
đá, dựng bia, để tỏ dấu cũ thần thánh ở chỗ không cùng và để lại cho đời sau
biết (xem tập Nhị, thơ Ngự chế)”[51, tr 508] Đến Thiệu Trị năm thứ 3, tháng
năm lại chép: “Nhân đưa ra: một bài thơ “Cười hoa cúc”, một bài thơ “Lễ
đông hưởng”, sáu bài thơ “Ở nơi yên tĩnh” (Xem trong hai tập thơ Ngự chế)
sai thị thần tuyên đọc” [51, tr 542] Căn cứ vào những ghi chép đó chúng tôi
tin cho rằng Thơ ngự chế, nhị tập được khắc in trước năm 1843
Trang 363 - Thơ ngự chế, tập 3
4 - Thơ ngự chế, tập 4
Cả hai tập ba, bốn đều được “khắc in xong” [52, tr 86] vào năm Tự Đức thứ nhất Ngoài ra, chúng tôi không tìm thấy thêm tài liệu nào nói về hai tập thơ này nữa
5 - Minh Lương hỷ khởi tập: [51, tr 529] Vào năm 1843, Thiệu Trị
nhân việc ngự điện Văn Minh, bàn về thơ văn của nhà Đường mà tiêu biểu là Đường Minh Hoàng, Đường Văn Hoàng, ông thấy thơ văn của họ phần lớn không có ý nghĩa bằng việc thơ văn của ông và các quan thường ngày hoạ vần với nhau Vì vậy, ông ra sắc lệnh cho các quan Nội Các tập hợp các bài thơ
ấy, lần lượt cho chép lại, lấy nhan đề sách là Minh Lương Hỷ khởi tập
6 - Ngự chế Bắc tuần thi pháp tập: Đôi khi còn gọi là Thánh chế Bắc
tuần thi tập hay Bắc tuần thi tập Tập thơ có 173 bài thơ, được viết từ đầu
năm 1842 đến tháng 4 năm ấy, nhân chuyến ngự giá ra Hà Nội để làm lễ thọ phong Tập thơ là cảm xúc của nhà thơ trước những danh lam thắng cảnh
cũng như cuộc sống của người dân ở những nơi mà ông đi qua Bắc tuần thi tập được khắc xong vào tháng 5 năm 1844
7- Ngự đề đồ hội thi tập: Tập thơ được biên tập xong vào tháng Tư,
năm 1844 và được hoàn thành vào tháng năm năm 1845 Lúc đầu có tên là
Tập thơ ngự chế có vẽ đồ hoạ sau khi khắc xong được tác giả đổi thành Ngự
đề đồ hội thi tập Đây là tập thơ được quan đứng đầu Nội các lúc bấy giờ là
đại thần Phạm Thế Hiển tuyển chọn trong “tập đầu, tập thứ hai, các bài thơ ngự chế” [51, tr 606], “những nơi danh thắng cổ tích, thời tiết nhân vật, chia
ra từng loại để biên soạn, đều vẽ đồ phụ vào; rồi lại chiếu bài vịnh trong các loại, tuỳ loại biên chép, tuân theo bút pháp ngự viết ra” [51, tr 606] Đến khi
sách làm xong tổng cộng 14 quyển và 2 quyển mục lục Theo Thiệu Trị “đồ là dọc, thư là ngang, một vật một ngang cùng xem nhau thành vẻ đẹp, đồ là
Trang 37động vật, thư là thực vật, một động một thực cùng nhau dựa thành bức tranh
Đồ rất giản ước, thư rất rộng rãi, tìm ở đồ thì dễ, tìm ở thư thì khó Đời cổ học
có cốt yếu, để đồ ở bên tả, để thư ở bên hữu Tìm tượng ở đồ, tìm lý ở thư Đồ thư dùng đã lâu đời rồi Vậy chuẩn y lời tâu xin là Ngự đề đồ hội thi tập” [51,
tr 607 - 608]
Theo các tác giả cuốn Thần Kinh nhị thập cảnh thì tập thơ này ít nhất
gồm ba phần:
Phần một là, từ quyển một đến quyển tám có tên là “Ngự đề danh thắng
đồ hội thi tập [1, tr 47], tập hợp những bài thơ miêu tả về phong cảnh trữ
tình, thơ mọng cũng như các thắng tích ở Huế
Phần hai là, “Ngự đề cổ tích đồ hội thi tập, từ quyền chín đến quyển
10” [1, tr 47], tuyển tập những bài thơ đề về các chuyện cổ tích thời các vua
cổ Trung Quốc như Nghiêu, Thuấn, Hạ, Vũ, Hán, Đường
Phần ba là, “Ngự đề nhân vật đồ hội thi tập, từ quyển 13 đến quyển 14,
gồm những bài thơ vịnh về tứ dân (ngư, tiều, canh, độc); các loài hoa cỏ, cây cối, các giống thú vật” [1, tr 47]
8 - Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập [51, tr 980], gồm hơn 157
bài với hơn 70 thể Đây là tập thơ được biên tập và hoàn thành trong năm cuối đời của nhà thơ Thiệu Trị Trong khi giảng giải về thi pháp thơ ca cho quần thần, Thiệu Trị đã yêu cầu các quan xét rõ ngay trong tập thơ ngự chế, những bài nào được sáng tác theo thể cách các đời xưa và nay, tập hợp lại theo thứ tự trước sau rồi khắc in Cuốn sách được làm ra nhằm mục đích giúp cho các sĩ phu, các quan lại yêu văn chương hiểu hơn được về các thể cách từ cổ đến kim Vì vậy, đây là cuốn sách không chỉ cho người đọc thấy được sự hiểu biết của Thiệu Trị đối với thi pháp mà còn thấy được tài năng của ông trong việc
vận dụng các thi pháp để sáng tác một cách linh hoạt, sáng tạo Ngự chế cổ
Trang 38kim thể cách thi pháp tập đôi khi còn được gọi là Ngự chế hay là Cổ kim thể cách thi pháp
9 - Tài thành phụ tướng tiên thiên hậu thiên [51, tr 1067]: Nhân việc
“có người làm các bài thơ để xem bói rút thẻ, thường ở trước chỗ thờ thần, xốc ống thẻ, thấy đầu thẻ thò lên thì rút ra Vua trông thấy, mĩm cười rằng:
“Bói toán có thần là vì không nghĩ ngợi gì, không làm gì Xốc ống thẻ mà thẻ vọt ra, là có sức người ở đó rồi Đã có sức người thì không thiêng liêng, làm sao cho thông suốt những cơ vi màu nhiệm được?” Bèn chế ra hai quả thiên cầu, chữ đỏ, chữ trắng đều một quả, trên quả cầu khắc 10 can và 5 thường (tức ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) và năm phương, cộng hai mươi chữ,
để yên trong cái hộp Nhân chuyện này mà ngoài giờ coi việc, đêm ngự điện Đông Các, ông cố gắng lần lượt làm các bài thơ về Kinh Dịch Sai quan ở Nội các là bọn Nguyễn Cửu Trường, Vũ Phạm Khải viết ra, được 200 bài thơ, chia
làm hai quyển, gọi là Tiên thiên, Hậu thiên, đều 100 chương, định làm phép
xem bói toán “có việc thì đặt hương án, bưng cái hộp để quả thiên cầu, mật đảo ba lần, rồi mở hộp ra xem, những chữ đỏ, chữ trắng ứng thế nào, thì lấy cái chỗ thuộc vào thiên nào chương nào mà xem; suy can chi làm quẻ biến đi, lại thành 400 quẻ để mà châm chước” [51, tr 1067] Vua bảo các quan Nội các rằng: “Ta làm các bài thơ này, xuất ư tự nhiên, chưa từng có tìm ý tứ, các ngươi đã thân thấy đó Nếu tất phải cầu kỳ một câu khéo, một chữ lạ, thì đều
do người làm ra, không gọi là thần được Người xem bói nếu có sẵn lòng thành để cầu, có thành thì có thần, muôn lần cầu thì muôn lần ứng, đừng cho
là thơ nói phiếm, chỉ sợ đoán không rõ mà thôi Sách chép thơ ấy làm xong,
nhan đề là: “Ngự chế Tài thành Phụ tướng, Tiên thiên, Hậu thiên thi tập” [51,
tr 1051] Đến tháng 9 năm 1847, sai thuộc viên Nội các, mang ngự chế tập
Vũ công, cùng tập Cổ kim thể cách thi pháp và tập thơ Tài thành phụ tướng tiên thiên và hậu thiên giao cho hai tỉnh Nam Định, Sơn Tây đem khắc bản in:
Trang 39ở Nam Định thì do Đặng Văn Thiêm đốc công việc, ở Sơn Tây thì do Nguyễn Đăng Giai đốc công việc” Nhưng chưa xong thì nhà vua mất, đến Tự Đức
năm thứ nhất thì khắc xong Tập thơ này có khi còn chép là Phụ tướng tài thành tiên thiên hậu thiên
10 - Hoàng huấn [51, tr 1066]: Vua thường nhân lúc rỗi việc, phỏng
theo cổ thể Kinh Thi, làm ra thơ đặt tên là Hoàng huấn cửu thiên Tuyển tập
có 9 thiên là Cao minh, Bác hậu, Sủng tuy, Trung lương, Từ ái, Hiếu đễ, Tạo đoan, Hữu vu, Chỉ tín, sai đường quan và thuộc viên Nội các là là bọn
Nguyễn Bá Nghi, Tôn Thất Hợp, Nguyễn Cửu Trường, Vũ Phạm Khải, Mai Anh Tuấn, Nguyễn Văn Siêu và Thân Văn Nhiếp chủ giải biên tập Ý nghĩa của tập thơ theo tác giả là “trời cao, đất dày, che chở mọi sinh vật; tam cương ngũ thường, giữ tính thường muốn đức Chín thiên này làm ra, ta sẽ ban cho các giảng đường để tu tiến thêm Các ngươi nên theo phép chú giảng kinh, lần lượt giảng giải từng chữ; từng câu, cốt để phát minh chỗ quy thú, mà không
mất bản chỉ, để hợp với ý ta” [51, tr 1066] Đến khi Hoàng huấn được làm
xong, nhà vua yêu cầu ban cho các giảng đường để cho các nho sĩ làm tài liệu
tu tiến thêm Đây là tập thơ mang tính giáo huấn, ảnh hưởng từ tư tưởng của Nho giáo
2.1.1.2 Văn
11 - Văn vua làm, tập đầu:
12 - Văn vua làm, tập 2:
Trong Đại Nam thực lục, phần Hiến Chương hoàng đế thực lục, Chính
biên, Đệ nhị kỷ, tháng 6 năm 1846 viết “Tập đầu văn vua làm đã khắc xong
Thưởng cho những người làm việc [khắc in sách] 500 quan tiền” [51, tr 864]
Trong khi đó ở phần Đệ tam kỷ về vua Tự Đức lại chép “các tập thi văn ngự
chế đã khắc xong (văn hai tập, thơ tập thứ 3, thứ 4, hai tập, Hoàng huấn 9 thiên, thơ Vũ công, thơ vịnh đế vương các đời, thể cách và phép làm thơ đời
Trang 40xưa đời nay, thơ tài thành phụ tướng) [52, tr 86] Ngoài ra, trong Đại Nam thực lục không có thêm bất cứ ghi chép nào nữa về hai tập văn này Hiện
chúng tôi chưa rõ thực hư thế nào, xin chép lại cả hai để người sau dễ tra cứu
2.1.1.3 Văn và thơ chung tuyển tập
13 - Chỉ thiện đường thi văn hội tập: Đôi khi còn được chép là Thi văn
hội tập, Chỉ thiện tập, Chỉ thiện đường Đây là tập thơ vua làm khi còn ở cung
riêng chưa lên ngôi Hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào nói về thời gian in ấn, xuất bản tới tập thơ này chỉ biết rằng sau khi lên ngôi nhà thơ đã cho kiểm tra và xem xét lại Đến tháng năm, năm 1845 Viện cơ mật, toà Nội các đã dâng tập thơ sau khi được kiểm tra cho vua xem Các sử quan triều Nguyễn cho rằng đây “là tập thơ nhà vua làm khi còn ở cung riêng chưa lên
ngôi” [51, tr 276], gồm “16 quyển” [52, tr 101] Theo nhóm tác giả Thần kinh nhị thập cảnh thì “trong tập này có cả văn xuôi của vua nữa cho nên mới đặt là Thi văn hội tập”[51, tr 37]
14 - Ngự chế vũ công thi tập [51, tr 1064] Đôi khi gọi là Vũ công
Tuyển tập được các quan ở viện Cơ mật và toà Nội các biên tập xong vào tháng tám năm 1847 Sau khi các quan biên tập xong, nhà vua bắt đầu cho khắc in vào tháng chín năm 1847 và khắc xong vào năm Tự Đức thứ nhất
Ngự chế vũ công thi tập là tập hợp các bài thơ ngự chế, từ năm 1841 đến giữa
năm 1847, gồm: 129 bài thơ, có nội dung liên quan đến phương lược bình định Xiêm La, Chân Lạp và 12 bài thơ nói về phương lược dẹp bình giặc núi, giặc biển và giặc thổ, được biên tập thành 1 quyển Ngoài ra tuyển tập còn có
12 chương về các bài minh, được biên ra thành 7 quyển Cộng với hai quyển
mục lục, tất cả tuyển tập có tổng cộng là 10 quyển, lấy nhan đề là Ngự chế vũ công thi tập