1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ

231 967 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đặt ra cho khoa nghiên cứu văn học dân gian không chỉ là xác định một cách tổng quát về bản chất thể loại, cơ chế hình thành và lưu truyền truyền thuyết mà còn là mô tả, phân tích

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ THANH LƯU

KHẢO SÁT VÀ NGHIÊN CỨU TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ NGHỆ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Hµ Néi - 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN



NGUYỄN THỊ THANH LƯU

KHẢO SÁT VÀ NGHIÊN CỨU TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ NGHỆ

Chuyên ngành : Văn học dân gian

Mã số : 62.22.36.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS LÊ CHÍ QUẾ

Hà Nội – 2012

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu: 2

2.1 Đối tượng nghiên cứu 2

2.2 Phạm vi nghiên cứu 4

2.3 Phạm vi tư liệu khảo sát 4

3 Lịch sử vấn đề 7

3.1 Vấn đề nghiên cứu bản chất thể loại của truyền thuyết 7

3.2 Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian vùng Nghệ Tĩnh 10

5 Đóng góp của luận án: 18

6 Cấu trúc của luận án: 18

NỘI DUNG 19

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ NGHỆ 19

1.1 Diện mạo chung của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ 19

1.1.1 Số lượng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ 19

1.1.2 Tương quan với số lượng các thể loại truyện kể dân gian khác 22

1.2 Các dạng truyền thuyết tiêu biểu 24

1.2.1 Lý thuyết phân loại 24

1.2.2 Phân loại theo hình thức tồn tại và lưu truyền 28

1.2.3 Phân loại theo nội dung 33

1.3 Các trung tâm truyền thuyết tiêu biểu 46

1.3.1 Truyền thuyết dạng chuỗi và các trung tâm truyền thuyết tiêu biểu 47

1.3.2 Nguyên tắc hình thành các trung tâm truyền thuyết 53

CHƯƠNG II: TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ NGHỆ NHÌN TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 56

2.1 Không gian trong truyền thuyết dân gian xứ Nghệ 56

2.1.1 Không gian cố định và di động 56

Trang 4

2.1.2 Không gian khởi nguyên và không gian thứ phát 76

2.2 Thời gian trong truyền thuyết dân gian xứ Nghệ 79

2.2.1 Thời gian cố định và thời gian diễn biến truyện đặc trưng 80

2.2.2 Thời gian chồng xếp qua quá trình truyền lưu 81

2.2.3 Tính linh hoạt của thời gian trong truyền thuyết 83

2.2.4 Thời gian chu kỳ qua mối liên kết với lễ hội 85

2.3 Cấu trúc truyền thuyết với các dạng motif tiêu biểu 86

2.3.1 Cấu trúc mở và kết cấu lỏng lẻo của truyền thuyết 86

2.3.2 Cấu trúc đơn nhất và tính dở dang của kết cấu 94

2.3.3 Các dạng thức motif tiêu biểu của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ 98

2.4 Nhân vật truyền thuyết 106

2.4.1 Gốc tích nhân vật 106

2.4.2 Hiện tượng nhân vật song hành 108

2.4.3 Xu hướng biến đổi của nhân vật 111

CHƯƠNG III: TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ NGHỆ TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA XỨ NGHỆ 119

3.1 Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong tương tác văn hóa vùng 119

3.1.1 Giới thuyết về vùng văn hóa xứ Nghệ 119

3.1.2 Văn hóa vùng quy định nét riêng của truyền thuyết 124

3.1.3 Văn hóa vùng với quá trình phát sinh, lưu truyền truyền thuyết 139

3.2 Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ với thần tích và lễ hội 151

3.2.1 Truyền thuyết dân gian: bản sưu tầm, bản kể truyền miệng và thần tích 151

3.2.2 Truyền thuyết dân gian và lễ hội 161

3.3 Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ với các di tích văn hóa vật thể 175

3.3.1 Các di tích văn hóa vật thể (đã được công nhận và chưa được công nhận) của xứ Nghệ gắn liền với truyền thuyết 176

3.3.2 Lịch sử và thực trạng tồn tại của các di tích văn hóa vật thể 178

KẾT LUẬN 184

TÀI LIỆU THAM KHẢO 190

PHẦN PHỤ LỤC 204

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1.Truyền thuyết dân gian là một thể loại quan trọng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Song để điều hiển nhiên ấy được ghi nhận trong lịch sử nghiên cứu văn học dân gian, truyền thuyết đã phải trải qua một chặng đường khó khăn, nhiều chướng ngại Sự công nhận muộn mằn của học giới so với các thể loại khác là một trong những lí do khiến truyền thuyết trở thành thể loại đáng được lưu tâm đặc biệt Vấn đề đặt ra cho khoa nghiên cứu văn học dân gian không chỉ là xác định một cách tổng quát về bản chất thể loại, cơ chế hình thành và lưu truyền truyền thuyết mà còn là

mô tả, phân tích tỉ mỉ những truyền thuyết cụ thể trong sự gắn bó với môi trường hoạt động của nó bởi truyền thuyết là thể loại đậm đặc tính vùng Chính đặc trưng gắn chặt với vùng văn hóa, với địa phương cụ thể của truyền thuyết đã tự chia nhỏ đối tượng này thành nhiều mảng miếng khác nhau, khiến cho các nhà nghiên cứu khó lòng giải quyết thấu đáo và toàn diện Ở trong nước, đã có một số bài viết, công trình, luận án tiến sĩ nghiên cứu về truyền thuyết dân gian nhưng bởi sự phức tạp của đối tượng này cho nên vẫn còn vô số mảng trống cần được bổ sung Nghiên cứu về truyền thuyết dân gian trong thời điểm hiện nay vẫn là một việc làm cần thiết

1.2 Nghiên cứu văn học dân gian theo vùng đang là một hướng nghiên cứu

có khả năng đem lại nhiều đóng góp mới mẻ không trùng lặp với các công trình đi trước Hướng nghiên cứu này một mặt đáp ứng được yêu cầu cụ thể hóa tối đa các mục tiêu nghiên cứu, mặt khác lại rất phù hợp với đối tượng nghiên cứu là truyền

thuyết dân gian - một đối tượng đáng được lưu ý hiện nay Chọn đề tài Khảo sát và

nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ chúng tôi hy vọng sẽ có được cái nhìn

hệ thống về truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong tương quan với kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung và góp thêm phần nào đó trong việc làm đầy đặn hơn, sáng rõ hơn diện mạo của truyền thuyết xứ Nghệ thông qua việc bổ sung thêm một số truyền thuyết dân gian mà chúng tôi sưu tầm được trong quá trình thực hiện luận án của mình

Trang 7

1.3 Xứ Nghệ là một tiểu vùng văn hóa đóng vai trò quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam với những cá tính văn hóa độc đáo hình thành nên từ khí chất đặc trưng của sông núi, con người xứ sở này “Mảnh đất lịch sử nằm trong dòng chảy suốt chặng đường lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc” [151, 186] từng mang tên Hàm Hoan, Hoan Châu, Nghệ An… đã chứng kiến, lưu dấu biết bao sự kiện trọng đại của dân tộc để xác lập một vị trí đặc biệt cho mình trong tiến trình lịch sử văn hóa chung Mọi thời đại lịch sử của dân tộc đều để lại dấu ấn trên mảnh đất một thuở là phên dậu phía Nam của nhiều triều đại, là nơi dự trữ binh lực cho các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm lâu dài, là chốn nghỉ chân trên các chặng đường chinh phạt phương Nam của triều đình phong kiến Chính vai trò và vị trí quan trọng ấy của xứ Nghệ đã tạo điều kiện cho văn học dân gian nói chung và thể loại truyền thuyết nói riêng phát triển rực rỡ trên mảnh đất ấy Bên cạnh đó, sự đa dạng của hình sông thế núi, sự hùng vĩ, hiểm trở của thiên nhiên xứ Nghệ cũng góp phần thúc đẩy, khơi gợi cảm hứng sáng tạo nên các huyền thoại, các truyền thuyết cho dân gian Đất Nghệ bởi vậy vẫn luôn là một đối tượng ẩn chứa nhiều điều thú vị, luôn thu hút sự quan tâm của các nhà folklore học Tuy đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau song xứ Nghệ với sự dày dặn của văn hóa dân gian vẫn tiếp tục tạo ra hấp lực đối với các nhà nghiên cứu bằng những nét khuyết hao, mờ nhạt chưa được tô vẽ lại của bức tranh văn hóa vùng đặc sắc Đó chính là lý do khiến chúng tôi chọn xứ Nghệ để nghiên cứu trong khuôn khổ thể loại truyền thuyết

2 Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu:

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu cơ bản của chúng tôi trong luận án này là truyền thuyết dân gian Nghệ An và Hà Tĩnh dưới các dạng: bản kể đã được sưu tầm và xuất bản nằm trong các thư tịch (văn học trung đại và thần tích, thần phả) cũng như trong các sách sưu tầm thời hiện đại, bản kể mới được sưu tầm qua quá trình điền dã

do chúng tôi tự thực hiện

2.1.2 Ngoài ra, do yêu cầu của quá trình phục dựng diễn biến lưu truyền của truyền thuyết xứ Nghệ, chúng tôi sẽ tìm hiểu một số yếu tố liên quan mật thiết đến

Trang 8

thể loại này trong hành trình truyền lưu của nó như: lễ hội, di tích vật thể trên đất Nghệ Các đối tượng này đều được nghiên cứu trong mối liên hệ không tách rời với truyền thuyết xứ Nghệ

2.1.3 Bởi tình trạng bất nhất khi xác định ranh giới thể loại truyền thuyết trong lịch sử nghiên cứu thể loại này, chúng tôi nhận thấy cần thiết phải đưa ra một quan niệm về truyền thuyết mang tính hướng đạo cho việc nghiên cứu cụ thể sẽ tiến hành tới đây Qua tham khảo, tiếp thu các nghiên cứu đi trước về thể loại truyền thuyết của các nhà folklore học trong và ngoài nước, chúng tôi cho rằng: truyền thuyết là thể loại thuộc loại hình tự sự dân gian, bao gồm những câu chuyện hoàn chỉnh (hoặc những mẩu chuyện) được sáng tạo nên bằng con đường kỳ ảo hóa, huyền thoại hóa một cốt lõi sự thật lịch sử nào đó trên cơ sở hai mạch nguồn cảm hứng “thiêng hóa thực tại và tôn vinh những giá trị của dân tộc - lịch sử” [3, 62] Yếu tố lịch sử trong truyền thuyết không hoàn toàn là lịch sử đích thực bởi “lịch sử hóa cái phi lịch sử và phi lịch sử hóa cái lịch sử là hai mặt thống nhất của thi pháp thể loại” [85, 202] Dù sao, nhờ yếu tố lịch sử ấy mà truyền thuyết mở ra thêm một kênh truyền lưu qua hình thức văn bản hóa trong các cuốn sử biên niên Môi trường diễn xướng của truyền thuyết chính là hội lễ với các nghi thức thờ cúng thần thánh thuộc tín ngưỡng dân gian địa phương, vậy nên các yếu tố phi văn bản như hội lễ, di tích vật thể (đình, đền, miếu mạo…) là những yếu tố liên quan, có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến đời sống và diễn biến lưu truyền của thể loại truyền thuyết Cũng chính môi trường diễn xướng đặc biệt ấy đã tạo cho truyền thuyết cơ hội đi vào các văn bản thần tích, với “tư cách là xương sống của lễ hội”, là nguồn gốc thiêng liêng về tín ngưỡng, về vị thần được dân gian thờ phụng Ngoài ra, cũng như các thể loại văn học dân gian khác, truyền thuyết còn được văn bản hóa trong các sách văn học trung đại

Với quan niệm và những hình dung cơ bản trên đây về truyền thuyết, chúng tôi đã mở rộng tối đa biên độ ngữ nghĩa của nội hàm khái niệm truyền thuyết với mong muốn có được một cái nhìn tổng quan về đời sống của thể loại này Với quan niệm về một đối tượng có đời sống linh hoạt và khá phức tạp như thế, chúng tôi sẽ

Trang 9

tiến hành nghiên cứu truyền thuyết trong nhiều dạng văn bản khác nhau (bản sưu tầm, bản truyền miệng, văn bản thần tích, văn xuôi trung đại) Có không ít các truyền thuyết dân gian xứ Nghệ được khảo sát trong luận án này được chúng tôi lựa chọn ra từ các thần tích của xứ Nghệ được nhà Nghệ học Ninh Viết Giao tập hợp trong

cuốn Tục thờ thần và thần tích Nghệ An Dĩ nhiên, không phải mọi thần tích đều được

chúng tôi coi là truyền thuyết mà các truyền thuyết được lọc ra từ kho thần tích đều được xem xét kỹ lưỡng dưới một số tiêu chí nhằm đánh giá chất truyền thuyết, chất dân gian trong đó Tiêu chí quan trọng nhất mà chúng tôi hướng đến trong khi tiến hành lựa chọn là: sự tồn tại của các motif truyền thuyết (motif sinh nở thần kỳ, motif chiến công phi thường, motif hóa thân, hiển linh) trong thần tích

Như vậy, đối tượng nghiên cứu mà chúng tôi đề cập đến trong luận án này không phải là một đối tượng “thuần chất” bởi các mối quan hệ văn hóa chồng chéo xung quanh nó và bởi sự xuất hiện đa dạng của nó trong nhiều hình thức tư liệu khác nhau Chúng tôi cho rằng, chỉ với sự mở rộng tối đa biên độ ý nghĩa của nội hàm khái niệm truyền thuyết để có được một đối tượng xuất hiện trong trạng thái bề bộn, không thuần nhất thì mới có thể đem lại cái nhìn tổng thể về đời sống sinh động, lưu chuyển không ngừng của thể loại truyền thuyết trên đất Nghệ

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án của chúng tôi tập trung nghiên cứu thể loại truyền thuyết trong giới hạn không gian văn hóa vùng Nghệ Tĩnh cho nên có thể coi giới hạn không gian văn hóa ấy là đường biên xác định phạm vi nghiên cứu Để nhận định chuẩn xác vị thế của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung, chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu bằng việc tìm hiểu sơ lược thêm một số vùng truyền thuyết khác song sự mở rộng này chỉ mang ý nghĩa tạo ra môi trường rộng lớn để nhìn rõ hơn diện mạo truyền thuyết xứ Nghệ

2.3 Phạm vi tư liệu khảo sát

Với mong muốn nhìn đối tượng ở trạng thái phức tạp, bộn bề như nó vốn có, chúng tôi mở rộng tối đa phạm vi tư liệu khảo sát Trước hết, chúng tôi tìm kiếm truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong các công trình tư liệu đã xuất bản Bộ phận tư

Trang 10

liệu này, ngoài các bộ sách biên soạn sưu tầm chung tầm cỡ như bộ Kho tàng truyện

cổ tích Việt Nam do Nguyễn Đổng Chi biên soạn, Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 4, 5 - phần truyền thuyết) do Kiều Thu Hoạch chủ biên còn có các sách vở

do địa phương xuất bản như: Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (tập 1) do PGS Ninh Viết Giao sưu tầm Nxb Nghệ An, 1995; Văn học dân tộc thiểu số Nghệ An (Phan Đăng Nhật chủ biên, Nxb Nghệ An, 2001), Từ Cổ Loa đến Đền Cuông (Nguyễn Nghĩa Nguyên, Nxb Nghệ An, 2006); Mai Hắc Đế - truyền thuyết và lịch

sử (Đinh Văn Hiến, Đinh Lê Yên, Nxb Nghệ An, 2003); Truyền thuyết núi Hai Vai

(Võ Văn Trực, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1990); An Tĩnh cổ lục (Hippolyte Le Breton,

Nxb Nghệ An, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2005)…

Thứ hai, để tiếp tục cập nhật và bổ sung đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các tư liệu tự sưu tầm được tại các địa phương khác nhau trên đất Nghệ An qua các chuyến điều tra điền dã thực hiện vào năm 2006, 2008, 2009 Năm 2006, chúng tôi thực hiện hai chuyến điền dã về những ngôi đền quan trọng bậc nhất của

xứ Nghệ Từ ngày 12 - 15/3/2006, chúng tôi làm việc với Ban quản lý Di tích danh thắng tỉnh Nghệ An và tham dự lễ hội đền Công Từ ngày 23 - 30/ 5/2006, chúng tôi

đi khảo sát các cụm di tích liên quan đến truyền thuyết Mai Hắc Đế ở huyện Nam Đàn và truyền thuyết Lý Nhật Quang ở huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Di tích liên quan đến truyền thuyết Mai Hắc Đế mà chúng tôi đã khảo sát gồm: đền vua Mai ở thị trấn Nam Đàn; khu lăng mộ ở xã Vân Diên; mộ thân mẫu Mai Hắc Đế ở xã Nam Thái Tại đền vua Mai, chúng tôi có tiếp xúc, phỏng vấn ông Nguyễn Quốc Ân (Nam Tân, Nam Đàn), 82 tuổi, là từ đền từ năm 1992 đến 2006 Di tích liên quan đến truyền thuyết Lý Nhật Quang mà chúng tôi đã khảo sát gồm: đền Quả (thờ Lý Nhật Quang) ở xã Bồi Sơn, chùa Bà Bụt ở xã Lam Sơn Tại các di tích này, chúng tôi đã tiếp xúc, trò chuyện với: cụ Nguyễn Cảnh Truật (xóm 5, Bồi Sơn), 74 tuổi, là

từ đền Quả; cụ Lê Văn Huân (xóm 7, Bồi Sơn), 78 tuổi; cụ Nguyễn Khắc Hưng (xóm 3, Bồi Sơn) Năm 2008, chúng tôi thực hiện chuyến điền dã từ thành phố Vinh lên huyện miền núi Quỳ Hợp Từ ngày 28 - 1/9, chúng tôi điền dã tại nhiều xã thuộc huyện Quỳ Hợp Tại đây, sau khi làm việc với Phòng văn hóa huyện, chúng tôi gặp

gỡ, phỏng vấn một số người nghiên cứu, thầy mo và dân địa phương:

Trang 11

- Ông Sầm Văn Bình (bản Yên Luốm, xã Châu Quang), sinh năm 1962

- Ông mo Hản Vi Lượng (xã Châu Quang), 85 tuổi

- Ông Trương Sông Hương (xã Thọ Hợp), 57 tuổi

- Ông Hà Ngọc Đào (bản Tạt, xã Yên Hợp), 52 tuổi

- Ông Vi Văn Tỉnh (bản Tạt, xã Yên Hợp), sinh năm 1947

- Ông Vi Văn Chính (bản Tạt, xã Yên Hợp), sinh năm 1959

- Ông Lô Văn Vương (bản Tạt, xã Yên Hợp), 67 tuổi

- Ông Hà Ngọc Đàn (bí thư xã Yên Hợp), 50 tuổi

- Ông Lương Viết Thoại (bản Còn, xã Châu Quang)

Ngày 2/9, chúng tôi tiếp xúc với nhà giáo Phạm Đức Thớc (80 tuổi) và nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao tại thành phố Vinh Năm 2009, chúng tôi tiếp tục điền

dã miền Tây Nghệ An vào 31/1/2009 - 6/2/2009 Từ ngày 31/1 đến ngày 4/2, chúng tôi đi điều tra tại một số bản thuộc vùng sâu vùng xa của huyện Quỳ Hợp và phỏng vấn những người dân địa phương sau đây: ông Lương Dương Nga (bản Hiêng, xã Bắc Sơn), 62 tuổi; ông Vi Văn Thắng (bản Vạn, xã Bắc Sơn), 40 tuổi; ông Vi Văn Thuyết (bản Tăng, xã Nam Sơn), 69 tuổi 5/2 - 6/2, chúng tôi đi khảo sát tại đền Chín Gian ở huyện Quế Phong Ngoài ra, chúng tôi cũng có những chuyến đi ngắn khảo sát một số đền chùa ở Hà Tĩnh như: đền Chợ Củi (thờ ông Hoàng Mười, công chúa Liễu Hạnh) thuộc huyện Nghị Xuân, chùa Hương Tích (xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc)… Cuối năm 2009, từ ngày 15/11 - 22/11, chúng tôi tiếp tục có chuyến điền dã tới huyện Con Cuông cùng với đoàn nghiên cứu của Viện Dân tộc học Trong chuyến đi này, chúng tôi chủ yếu tiếp xúc và phỏng vấn sâu với người Thái tại bản Thái Sơn, xã Môn Sơn (ông Vi Kim Sinh, 74 tuổi; ông Vi Xuân Bình, 87 tuổi; ông Hà Văn Phán, 79 tuổi; ông Lương Nghiệp, 52 tuổi…) Các chuyến khảo sát thực địa và tiếp xúc trực tiếp với các trí thức và nhân dân địa phương trên đây đã đem lại cho chúng tôi nhiều kiến thức quý báu về kho truyện kể dân gian còn lưu truyền cho đến tận ngày nay

Bộ phận tư liệu thứ ba mà chúng tôi khảo sát để tìm kiếm truyền thuyết dân

gian xứ Nghệ là các truyện ký thuộc thể loại văn xuôi trung đại như: Lan Trì kiến

Trang 12

văn lục (Vũ Trinh, Nxb Thuận Hóa, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2004);

Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ, Nxb Trẻ, Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP

Hồ Chí Minh, 1989)… Ngoài ra, các thần tích của xứ Nghệ đã được sưu tầm và xuất bản cũng là nguồn tài liệu nghiên cứu của chúng tôi Về bộ phận này, chúng tôi

chủ yếu khảo sát qua cuốn Tục thờ thần và thần tích Nghệ An (Ninh Viết Giao, Sở

văn hóa thông tin Nghệ An, Vinh, 2000)

Ngoài ra, để thực hiện các so sánh cần thiết trong luận án, chúng tôi cũng sử dụng thêm một số công trình tư liệu về truyền thuyết dân gian các vùng miền khác

như: Truyền thuyết Lam Sơn (Nguyễn Sơn Anh sưu tầm, biên soạn, Nxb Thanh Hóa, 2005); Văn học dân gian xứ Huế (Vũ Nhị Xuyên sưu tập, biên tập, chú thích,

1995)…

3 Lịch sử vấn đề

Chọn đề tài Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ, chúng

tôi định hướng mục tiêu nghiên cứu là tiếp tục giải quyết vấn đề bản chất thể loại truyền thuyết đã từng được nhiều nhà folklore học quan tâm nghiên cứu thông qua một vùng truyền thuyết cụ thể Nói cách khác, nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào một bộ phận truyền thuyết trong giới hạn không gian văn hóa vùng xứ Nghệ Như vậy, đề tài này đòi hỏi chúng tôi phải lưu tâm đến hai xu hướng nghiên cứu: xu hướng nghiên cứu bản chất thể loại truyền thuyết và xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian (bao gồm các thể loại văn học dân gian) theo vùng Đây là hai xu hướng nghiên cứu đã được nhiều nhà nghiên cứu theo đuổi và để lại khá nhiều công trình được coi là cơ sở ban đầu để chúng tôi tiếp tục tiến hành trong luận án này Sau đây, chúng tôi xin điểm lại những nét cơ bản của hai xu hướng, hai vấn đề nghiên cứu trên đây trong lịch sử nghiên cứu

3.1 Vấn đề nghiên cứu bản chất thể loại của truyền thuyết

Truyền thuyết dân gian có một số phận khá đặc biệt trong đời sống văn học

dân gian Việt Nam Kể từ khi thuật ngữ truyền thuyết được Đào Duy Anh nêu ra trong bài viết “Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta” đăng trên tạp chí Tri

Tân số 30 năm 1942, rồi được thực sự công nhận vào những năm 50 của thế kỷ XX

Trang 13

với các công trình nghiên cứu như: Lược khảo về thần thoại Việt Nam (1956, Nguyễn Đổng Chi), Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957, nhóm Lê Quý Đôn)

và Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957, Nguyễn Đổng Chi, Văn Tân, Hồng Phong), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (1958, Nguyễn Đổng Chi), truyền thuyết

vẫn chưa thể nào xác lập được một vị trí trong nền văn học dân gian Việt Nam bởi

sự bất đồng giữa các nhà nghiên cứu về mặt bản chất thể loại Dù chưa thực sự tách bạch được truyền thuyết ra khỏi cổ tích và thần thoại, các công trình trên đây vẫn có giá trị như là nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu truyền thuyết với tư cách là một thể loại văn học dân gian độc lập

Sự bất đồng ý kiến trong cách nhìn nhận truyền thuyết của các học giả thể hiện rõ vào những năm 60 của thế kỷ XX, khi hai cuốn giáo trình về Văn học dân gian của Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp công bố hai quan điểm hoàn toàn trái ngược về thể loại truyền thuyết Theo đó, giáo trình của Đại học Sư phạm công nhận sự tồn tại của thể loại truyền thuyết còn giáo trình của Đại học Tổng hợp do Đinh Gia Khánh chủ biên lại chỉ coi truyền thuyết là thuật ngữ của sử học chứ

không thuộc phạm trù văn học dân gian Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam tái

bản năm 2001, tác giả Đinh Gia Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm, cho rằng:

“…Khi mà các điều truyền thuyết được sắp xếp, liên hệ theo một mạch lạc nào đó thì có thể hình thành một truyện có đầu có đuôi Đó thường là truyện cổ tích lịch sử Nhưng bản thân những điều truyền thuyết thì chưa phải là tác phẩm văn học, nhất là

vì đại đa số các điều truyền thuyết thường lưu hành trong dân gian một cách tản mát vụn vặt (…) Các danh từ truyền thuyết và dã sử (…) là không bao hàm giới thuyết

về một thể loại văn học nhất định Những danh từ ấy nên coi như thuật ngữ sử học, không nên coi như thuật ngữ văn học dân gian” [97, 270-271] Luồng ý kiến của giáo trình Đại học Tổng hợp đã cho thấy sự đa chiều trong cách nhìn nhận truyền thuyết của giới nghiên cứu đương thời

Việc nghiên cứu truyền thuyết với tư cách là một thể loại được đặc biệt chú trọng và đã tạo ra những bước tiến mới trong những năm 70 của thế kỷ XX, với

công trình Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến của tác giả Kiều Thu

Trang 14

Hoạch, Nghiên cứu tiến trình của văn học dân gian Việt Nam của tác giả Đỗ Bình Trị Đến những năm 90, sự thay đổi hoàn toàn về mặt quan điểm của giáo trình Văn

học dân gian Việt Nam Đại học Tổng hợp do giáo sư Lê Chí Quế chủ biên đã đánh

dấu thêm một cột mốc quan trọng trong lịch sử nghiên cứu thể loại truyền thuyết khi thể loại này được thừa nhận tồn tại độc lập Năm 1996, dưới góc độ quan sát mối

quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội, cuốn sách Mối quan hệ giữa truyền thuyết

người Việt và hội lễ về các anh hùng của Lê Văn Kỳ đã góp thêm một tiếng nói

trong việc xác nhận ý nghĩa và vị trí của truyền thuyết trong đời sống văn học dân gian Việt Nam

Lịch sử nghiên cứu bản chất thể loại truyền thuyết tiếp tục thu được thành tựu vào năm 2000, khi tác giả Trần Thị An bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ mang tên

Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết Trong công trình nghiên cứu

của mình, bằng những phân tích, đối chiếu kỹ lưỡng, tác giả Trần Thị An đã đề xuất

bổ sung hai tiêu chí phân loại có khả năng hữu hiệu trong việc phân tách truyền thuyết ra khỏi các hình thức tự sự dân gian khác (thần thoại, cổ tích), đó là “loại hình nội dung dân tộc - lịch sử, thiêng hóa thực tại và tôn vinh những giá trị của dân tộc - lịch sử” [3, 62] Ngoài ra, tác giả Trần Thị An cũng đã đi sâu phân tích một số đặc điểm thi pháp của truyền thuyết dân gian Việt Nam, qua đó khẳng định mạnh

mẽ hơn sự tồn tại độc lập của thể loại này trong đời sống văn học dân gian nói chung Việc tiến hành nghiên cứu quá trình văn bản hóa truyền thuyết dân gian trong sử, thần tích và văn xuôi trung đại của tác giả Trần Thị An trong luận án này

đã góp phần làm sáng rõ diễn biến lưu truyền của thể loại truyền thuyết Đây là một

cơ sở quan trọng để chúng tôi thực hiện những nghiên cứu cụ thể về diễn biến lưu truyền truyền thuyết trên đất Nghệ

Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, các nghiên cứu về truyền thuyết xuất hiện rải rác dưới dạng các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành hoặc các luận văn, luận án với cách tiếp cận từ một cốt truyện, một chủ đề cụ thể hay một vùng truyền thuyết cụ thể Có thể kể đến luận án tiến sĩ của Phạm Tiết

Khánh bảo vệ năm 2007 tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội với đề tài: Khảo sát

Trang 15

truyện kể dân gian Khơme Nam Bộ (qua thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích)

Tuy chưa phải là một nghiên cứu chuyên biệt về thể loại truyền thuyết song luận án này đã đặt vấn đề truyền thuyết của người Khơme Nam Bộ như một phần quan trọng trong tổng thể kết cấu luận án, từ đó đưa ra những nhận định cụ thể và những

lý giải sâu sát về thể loại truyền thuyết của người Khơme Nam Bộ Luận án này đã góp thêm một cái nhìn mang tính địa phương, cụ thể cho thể loại truyền thuyết ở Việt Nam Năm 2008, tác giả Trần Thị An viết bài “Sự hình thành truyền thuyết dân gian - Tìm hiểu sự hình thành truyền thuyết Tứ vị thánh nương (qua các nguồn thư

tịch, truyền thuyết dân gian và tục thờ cúng)” in trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo quốc tế

Việt Nam học lần thứ ba Từ một truyền thuyết cụ thể, tác giả đã có những khái quát

có trọng lượng về con đường hình thành của truyền thuyết dân gian nói chung Năm

2010, luận án tiến sĩ Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp

ở Nam Bộ (1858 - 1918) của Võ Phúc Châu bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm

thành phố Hồ Chí Minh đã góp thêm một cái nhìn cụ thể và tường tận về thể loại truyền thuyết thông qua một nhóm truyền thuyết ở một vùng văn hóa

Ngoài ra, việc sưu tầm truyền thuyết dân gian cũng dần dần thu được nhiều thành tựu Trong các tuyển tập truyện dân gian ở các địa phương, một phần không thể thiếu là bộ phận truyền thuyết dân gian Các bộ tuyển tập văn học dân gian đã

sưu tập được nhiều truyền thuyết dân gian Gần đây nhất, hai tập Truyền thuyết dân

gian người Việt do GS Kiều Thu Hoạch, TS Trần Thị An và TS Mai Ngọc Hồng

biên soạn (thuộc bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt) đã sưu tập được một

khối lượng lớn các truyền thuyết dân gian ở địa phương cũng như các truyền thuyết dân gian được ghi chép vào kho tàng văn xuôi trung đại và kho thần tích

3.2 Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian vùng Nghệ Tĩnh

Hướng nghiên cứu văn học dân gian theo vùng văn hóa đang trở thành một hướng nghiên cứu mang lại nhiều kết quả và có ý nghĩa thực tiễn cao Hướng nghiên cứu này đã được không ít các nhà nghiên cứu theo đuổi Năm 1978, tác giả

Hoàng Tiến Tựu trong bài viết Về phân vùng văn học dân gian và ý nghĩa phương

pháp luận của nó đăng trên tạp chí Dân tộc học số 2 đã đề cập trực tiếp đến vấn đề

Trang 16

này Trong bài viết này, tác giả Hoàng Tiến Tựu đã nhấn mạnh những lợi ích có ý nghĩa phương pháp luận đối với khoa nghiên cứu văn học dân gian mà việc phân vùng có thể mang lại Ông cho rằng: “Việc phân vùng văn học dân gian nếu được giải quyết tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi để các nhà nghiên cứu đặt tác phẩm văn học dân gian vào địa bàn sinh thành, tồn tại và phát triển của nó Từ đó lần ra sự diễn biến của các tác phẩm, các thể loại văn học dân gian của từng vùng” [166, 2] Khi

đề ra tiêu chí phân vùng và các đơn vị phân vùng, tác giả đã đưa ra bốn đơn vị cơ

bản là làng, vùng văn học dân gian, khu vực văn học dân gian và miền văn học dân

gian Trong phần định nghĩa về vùng văn học dân gian, Hoàng Tiến Tựu lấy Nghệ

Tĩnh làm ví dụ: “vùng văn học dân gian là một đơn vị văn học dân gian tương đối hoàn chỉnh gồm những làng có phong cách chung (giống nhau hoặc gần nhau) về văn học dân gian, về ngôn ngữ, về phong tục, tín ngưỡng, về hoàn cảnh lịch sử, địa lý… Ví dụ hầu hết các làng xóm người Việt ở rải rác từ Khe Nước Lạnh đến đèo Ngang đều thuộc vùng văn học dân gian Nghệ Tĩnh” [166, 5] Tác giả cũng không quên lưu ý về sự khác biệt của việc phân vùng văn học dân gian và việc phân vùng từng thể loại văn học dân gian cụ thể Theo đó, đường biên giới của hai kiểu phân vùng trên đây có thể trùng khít hoặc lệch nhau tùy trường hợp cụ thể Trong phần

đề xuất phương án phân vùng văn học dân gian, tác giả Hoàng Tiến Tựu coi Nghệ Tĩnh là “khu vực sông Lam” - một vùng văn học dân gian bên cạnh khu vực sông Gianh - sông Hương của miền Trung Bài viết của tác giả Hoàng Tiến Tựu dù như lời tác giả - mới chỉ là “những suy nghĩ bước đầu (…), một lời đề nghị bước đầu và một sự trưng cầu ý kiến thiết tha đối với một số vấn đề cần được nhiều người quan tâm tham gia giải quyết” [166, 13] song đã nêu lên được những vấn đề cơ bản của hướng nghiên cứu vùng văn hóa/ văn học dân gian Nó có ý nghĩa mở đầu và có giá trị gợi mở cho các nhà nghiên cứu đi theo xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo vùng Không chỉ vậy, bài viết của tác giả Hoàng Tiến Tựu còn có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử nghiên cứu vùng văn học dân gian Nghệ Tĩnh khi ông lấy Nghệ Tĩnh làm ví dụ cho các đề xuất cụ thể của mình

Trang 17

Năm 1981, Hội nghị văn học dân gian miền Trung lần thứ nhất được tổ chức tại Đà Nẵng với sự tham gia của đông đảo các nhà nghiên cứu văn học dân gian từ các trường đại học, Hội văn nghệ dân gian Việt Nam… Các tham luận của hội nghị này chủ yếu xoay xung quanh các vấn đề vùng/miền văn học dân gian từ lí luận đến thực tiễn Trong bài “Tiêu chí phân vùng văn nghệ dân gian”, tác giả Vũ Ngọc Khánh đã xác định các tiêu chí phân vùng đồng thời đề ra phương án phân vùng văn nghệ dân gian cho cả nước gồm 7 miền, trong đó, Nghệ Tĩnh là một miền văn nghệ dân gian Tác giả Lê Văn Hảo trong bài “Bước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn vùng dân ca: Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ” cũng cho rằng: Nghệ Tĩnh là một trong bốn vùng văn hóa dân gian của miền Trung, đồng thời cũng là một vùng dân ca có sắc thái riêng độc đáo [76, 19] Những nhận định như vậy là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu truyền thuyết dân gian trong không gian xứ Nghệ - một không gian văn hóa dân gian đặc trưng

Năm 1984, Nguyễn Đổng Chi cùng với các nhà nghiên cứu khác (Ninh Viết

Giao, Vũ Ngọc Khánh) đã hoàn thành bản thảo cuốn Địa chí văn hóa dân gian

Nghệ Tĩnh [38] với dung lượng 925 trang song do ông đột ngột qua đời, cuốn sách

này mãi đến hơn chục năm sau (năm 1995) mới được chính thức xuất bản Dù vậy, theo đúng mốc thời gian bản thảo cuốn sách hoàn thành, chúng tôi cho rằng cuốn

Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh cũng là một trong những tác phẩm đánh dấu

bước đi tiên phong trong xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo vùng Cuốn sách này thông qua việc khảo sát, đánh giá tổng quan một vùng văn hóa - vùng Nghệ Tĩnh đã cụ thể hóa hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo vùng, đồng thời chứng minh được hiệu quả thiết thực của hướng nghiên cứu này trong ngành

folklore Đặc biệt, trong cuốn sách này, ở phần Truyện kể dân gian [38, 191-251] do

nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao viết, lần đầu tiên, truyền thuyết dân gian xứ Nghệ được sơ lược tìm hiểu Tuy nhiên, ngay cả khi đã có ý thức phân loại các thể loại văn học dân gian của xứ Nghệ (với các tiểu mục riêng cho từng thể loại như: thần thoại, tiên thoại, truyện cười, giai thoại, ngụ ngôn…), Ninh Viết Giao vẫn chỉ dành một tiểu mục chung cho hai thể loại cổ tích và truyền thuyết Điều này cho thấy tác

Trang 18

giả chưa thật sự phân định rõ hai thể loại này trong kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ Trong tiểu mục Cổ tích và truyền thuyết, khi đưa ra các ví dụ cụ thể cho từng nhận định, lẽ ra phải chỉ rõ truyện nào là cổ tích, truyện nào là truyền thuyết thì tác giả Ninh Viết Giao lại cố tình sử dụng thuật ngữ kép “cổ tích truyền thuyết” thay cho từng thuật ngữ đơn lẻ Như vậy, dù đã được xác nhận thân phận trong cuốn sách trên đây song truyền thuyết dân gian xứ Nghệ vẫn chưa được xác định được vị thế riêng trong kho tàng văn học dân gian Nghệ Tĩnh

Năm 1986, Viện Văn hóa tổ chức Hội thảo khoa học về phân vùng văn hóa -

một sinh hoạt học thuật đánh dấu quy mô rộng lớn của vấn đề phân vùng văn hóa trong đời sống khoa học Các bài viết được công bố trong hội thảo này là những minh chứng rõ ràng cho sự quan tâm của học giới đối với vấn đề văn hóa vùng

Năm 1993, nhà Nghệ học Ninh Viết Giao cho ra đời bộ sách Kho tàng truyện

kể dân gian xứ Nghệ gồm bốn tập - là bộ sách sưu tầm có quy mô và hệ thống đầu

tiên về truyện kể dân gian xứ Nghệ Đây là cơ sở tư liệu quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận án này Tuy được chia làm bốn tập (gồm: tập I: truyện kể dân gian của người Việt ở xứ Nghệ; tập II: Truyện kể dân gian của bà con các dân tộc ít người ở miền núi xứ Nghệ; tập III: Truyện cười dân gian xứ Nghệ; tập IV: Giai thoại văn học xứ Nghệ) song dường như đó chỉ là cách phân chia để hợp lý hóa dung lượng cho mỗi tập chứ không phải là sự phân chia mang tính khoa học theo thể loại cụ thể Bởi vì rõ ràng nhìn vào chủ đề của mỗi tập sách, chúng ta có thể thấy sự bất nhất trong tiêu chí Trong hai tập I và II, Ninh Viết Giao không đưa ra bất kỳ thể loại cụ thể nào mà gọi chung các mẩu truyện được ông sưu tầm là truyện

kể dân gian Với tình trạng như vậy, bộ Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ mới

làm nhiệm vụ tập hợp tư liệu truyện kể dân gian trong giới hạn vùng văn hóa xứ Nghệ chứ chưa phân loại tư liệu ấy thành các thể loại cụ thể khác nhau Do đó, hệ thống tư liệu mà bộ sách này đem lại vẫn còn ở dạng sơ khai Để sử dụng trong luận

án này, các truyện kể dân gian ấy còn cần phải trải qua quá trình lựa chọn của chúng tôi Tuy đây là một công trình tư liệu song tác giả cũng đã có ý thức nghiên cứu khi

viết phần Tổng luận về kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ Tuy nhiên, bài tổng

Trang 19

luận này lại được phát triển trên cơ sở phần viết về Truyện kể dân gian trong cuốn

Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh do chính Ninh Viết Giao chấp bút cho nên về

mặt nội dung, chúng hoàn toàn trùng khớp Vấn đề phân loại kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ không có bước tiến gì mới so với bài viết của chính tác giả trong cuốn sách địa chí do Nguyễn Đổng Chi chủ biên Vì tình trạng “dẫm chân tại chỗ” ấy về

phương diện nghiên cứu, Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ chỉ có ý nghĩa đơn

thuần về mặt tư liệu nghiên cứu đối với luận án của chúng tôi

Năm 1993, tác giả Ngô Đức Thịnh chủ biên cuốn Văn hóa vùng và phân

vùng văn hóa ở Việt Nam (năm 2004 sửa chữa và in lại thành Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam) Trong cuốn này, Ngô Đức Thịnh đưa ra một hệ thống lý

thuyết khái niệm căn bản và các hướng nghiên cứu về vấn đề này trên thế giới; từ

đó, ông đề xuất phương án phân vùng văn hóa ở Việt Nam với những mô tả, phân tích cụ thể từng vùng, tiểu vùng văn hóa Có thể nói cuốn sách này đã cung cấp những bản lề kiến thức về xu hướng nghiên cứu văn hóa theo vùng, là kim chỉ nam dẫn đường cho các nhà nghiên cứu muốn đi sâu tìm hiểu văn hóa các địa phương cụ thể Tác giả Ngô Đức Thịnh đã dành hẳn một chương (chương 8) để viết về xứ Nghệ như một tiểu vùng văn hóa - theo cách quan niệm về phân vùng văn hóa Việt Nam của ông Xứ Nghệ hiện lên trong cuốn sách này ở dạng khái quát nhất ở mọi đặc trưng về các phương diện lịch sử, địa lý, khảo cổ, văn học dân gian… Ở cuốn sách có tính chất của một giáo trình chuẩn mực như thế này, tính định hướng và khái quát được đặt lên hàng đầu nên chúng ta không thể đòi hỏi tác giả phân tích thật kỹ về từng vùng văn hóa/ văn học dân gian cụ thể Dẫu sao, những nét khái lược về văn học dân gian xứ Nghệ được tác giả đề cập đến trong cuốn sách cũng là những tài liệu quý báu đối với chúng tôi trong hành trình khám phá kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ

Năm 1994, hội thảo khoa học Văn hóa truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ

trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước do Hội Văn nghệ dân

1 Nay là Viện Nghiên cứu Văn hóa

Trang 20

gian Nghệ An phối hợp tổ chức đã quy tụ được khá nhiều bài viết về văn hóa dân gian xứ Nghệ Ngoài bài viết có tầm bao quát rộng về vùng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh của tác giả Đinh Gia Khánh: “Thử tìm hiểu cơ sở lịch sử xã hội của vùng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh”, các bài viết còn lại đều đi vào nghiên cứu những vấn đề

cụ thể của văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh Có thể kể đến các bài viết như: “Văn hóa dòng họ: từ những nét chung đến một trường hợp cụ thể, họ Cương quốc công Nguyễn Xí tại Nghi Lộc, Nghệ An” của tác giả Nguyễn Đình Chú; “Văn học dân gian trong các nghề thủ công truyền thống ở xứ Nghệ” của tác giả Hoàng Anh Tài;

“Vài suy nghĩ về các thần tích ở Nghệ An trong kho tư liệu Hán Nôm” của tác giả

Đỗ Thị Hảo; “Lễ hội dân gian ở Nghệ An: truyền thống và hiện đại” của tác giả Lê Hồng Lý… Các tham luận này đã đụng chạm đến nhiều mặt khác nhau của vùng văn hóa xứ Nghệ, góp phần làm sáng rõ diện mạo văn hóa xứ Nghệ trong không gian văn hóa Bắc Trung Bộ nói riêng và cả nước nói chung Với một số lượng lớn các bài tham luận có liên quan đến vùng văn hóa xứ Nghệ, hội thảo này đã đặt một dấu mốc khá quan trọng trong lịch sử nghiên cứu văn hóa xứ Nghệ

Năm 1998, giáo sư Trần Quốc Vượng xuất bản cuốn sách Việt Nam cái nhìn

địa - văn hóa [176] bao gồm những bài viết được in rải rác trong nhiều giai đoạn

khác nhau dưới cùng một kiểu tiêu đề - biểu hiện của một dòng tư tưởng, một lý thuyết về văn hóa vùng do giáo sư Trần Quốc Vượng thực hiện Trong đó, tác giả khám phá đặc điểm, cá tính văn hóa của các vùng đất khác nhau trên đất nước Việt Nam Đây chính là một cách thể hiện sự tham gia tích cực vào trào lưu nghiên cứu văn hóa theo vùng Trong cuốn sách này, hai bài viết “Một cái nhìn địa văn hóa về

xứ Nghệ trong bối cảnh miền Trung” [176, 281-289] và “Hà Tĩnh từ xa xưa… và nhìn từ Hà Nội” [176, 290-293] đã nêu lên những nét cơ bản đặc trưng của vùng văn hóa xứ Nghệ với một lối viết thiên về chất báo chí Dẫu sao, dưới ngòi bút tài hoa của nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng, xứ Nghệ đã được thêm một lần toát lên nét văn hóa riêng trong bối cảnh văn hóa chung

Năm 2004, nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao xuất bản cuốn Về văn học dân

gian xứ Nghệ, chủ yếu tập hợp, chỉnh lý lại các cuốn sách, bài viết ông đã viết trước

Trang 21

đây làm thành một cuốn Ở chương II mang tên Truyện kể, Ninh Viết Giao đã có

một cái nhìn đại cương về truyện kể dân gian xứ Nghệ Nội dung chủ yếu của phần

này hầu như trùng khớp với bài viết trong cuốn Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (1984) và Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (1993) Tuy nhiên, bài viết này đã

có một thay đổi đáng kể khi tác giả Ninh Viết Giao bước đầu phân biệt truyền thuyết và cổ tích bằng hai tiểu mục riêng Bàn về truyền thuyết xứ Nghệ trong phần này, Ninh Viết Giao chủ yếu liệt kê những truyền thuyết trên đất Nghệ qua quá trình lịch sử chứ chưa đi đến những nhận định chung hơn về tính chất, đặc điểm… của thể loại này trong không gian văn hóa xứ Nghệ Dù vậy, đây vẫn là một trong những tiền đề quan trọng để chúng tôi nghiên cứu đề tài này

Cùng với trào lưu viết địa chí của các địa phương, hướng nghiên cứu này tỏ ra càng ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Trong lĩnh vực văn học dân gian, xu hướng nghiên cứu theo vùng đã cho ra đời nhiều công trình có giá trị phục hồi vốn cổ ở các địa phương cụ thể Riêng văn hóa dân gian xứ Nghệ - một miền đất hứa

từng được đề cập một cách khái lược trong các cuốn sách địa chí xưa (như: Nghệ An ký,

An Tĩnh cổ lục,…) thì mới chỉ có những bài viết lẻ tẻ khai thác (như bài “Bước đầu tìm

hiểu truyền thống chống giặc phương Bắc trong truyện dân gian vùng Nghệ Tĩnh” của tác giả Hoàng Minh Đạo in trong kỷ yếu Hội nghị văn học dân gian miền Trung lần thứ nhất, 1985; bài viết “Về vốn múa nhảy trong các dân tộc ít người thuộc vùng miền núi

Nghệ Tĩnh” của tác giả Hoàng Thọ đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian số 3 năm 1987;

bài viết “Sự khác nhau giữa ca dao xứ Nghệ và xứ Bắc” của Nguyễn Phương Châm đăng

trên tạp chí Văn hóa dân gian số 3 năm 1997; bài viết “Về một loại văn học dân gian lưu truyền ở xứ Nghệ - sấm ngữ” của Hồ Hữu Phước đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian số

4 năm 1998 …) Các bài viết này đề cập đến những thể loại, hình thức khác nhau của đời sống văn hóa dân gian xứ Nghệ như: ca dao, múa, sấm ngữ… Riêng mảng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ chỉ có bài của tác giả Hoàng Minh Đạo đề cập đến một cách không trực tiếp Mảng thể loại truyền thuyết trong giới hạn văn hóa vùng xứ Nghệ thể hiện sự trống vắng trên cả hai phương diện: phương diện tư liệu lẫn phương diện nghiên cứu Đây là một khó khăn đối với chúng tôi Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các

Trang 22

nhà nghiên cứu đi trước về truyền thuyết dân gian nói chung và về vùng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh đã được chúng tôi liệt kê trên đây sẽ là những gợi ý bổ ích và quý báu cho chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này

4 Phương pháp nghiên cứu:

4.1 Phương pháp hệ thống, thống kê, phân loại: Chúng tôi sẽ tiến hành tập hợp đến mức tối đa các bản kể truyền thuyết dân gian ở Nghệ Tĩnh và có gắng sưu tầm thêm những truyền thuyết dân gian lưu truyền ở địa phương Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ tiến hành phân loại các thể loại truyền thuyết Nghệ Tĩnh thành các tiểu loại, dựa vào đặc trưng thể loại truyền thuyết và dựa vào đặc điểm của truyền thuyết dân gian địa phương này

mà chúng tôi tiến hành khi thực hiện đề tài Vì thời gian có hạn, chắc chắn chúng tôi không thể tiến hành điền dã ở bất cứ nơi nào lưu hành truyền thuyết dân gian ở Nghệ Tĩnh mà sẽ chỉ lựa chọn những địa điểm gắn với những truyền thuyết và lễ hội dân gian tiêu biểu trên đất Nghệ Tĩnh

4.3 Phương pháp liên ngành: Hơn bất cứ thể loại nào truyền thuyết là thể loại có mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, phong tục, lễ hội…Vì vậy, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp liên ngành trong luận án để xem xét truyền thuyết dân gian dưới nhiều góc độ để có được một cái nhìn tổng thể và toàn diện về bộ phận truyền thuyết dân gian ở Nghệ Tĩnh

4.4 Phương pháp phân tích: phương pháp này được chúng tôi sử dụng thường xuyên để phân tích các mẩu truyện, các motif theo đặc trưng thể loại nhằm chứng minh cho các luận điểm mà luận án nêu ra

4.5 Phương pháp so sánh: để thấy được vị thế và đặc trưng của kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ, ngoài việc tiến hành khảo sát, phân tích bản thân đối tượng, chúng tôi còn sử dụng phương pháp so sánh Sử dụng phương pháp này, chúng tôi đặt truyền thuyết dân gian xứ Nghệ bên cạnh truyền thuyết các vùng văn hóa khác để thấy rõ những điểm tương đồng và dị biệt về nội dung và hình thức thể loại giữa chúng, từ đó làm nổi bật nét đặc sắc của kho truyền thuyết xứ Nghệ

Trang 23

án của chúng tôi sẽ đem lại những đóng góp sau:

5.1 Lần đầu tiên trình bày một cái nhìn hệ thống về truyền thuyết dân gian

xứ Nghệ với các số liệu thống kê tương đối đầy đủ và sự phân loại rõ ràng về đối tượng này Qua đó, luận án của chúng tôi góp phần bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung

5.2 Luận án góp phần tái khẳng định, củng cố hệ thống thi pháp thể loại của truyền thuyết dân gian bằng các phân tích và dẫn chứng cụ thể từ kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ

5.3 Luận án của chúng tôi sẽ tái dựng diễn biến lưu truyền của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ thông qua việc tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội dân gian, truyền thuyết dân gian và các di tích vật thể, truyền thuyết đã được sưu tầm, văn bản hóa và truyền thuyết đang sống bằng hơi thở của dân gian

5.4 Luận án sẽ bước đầu phác thảo những nét đặc trưng của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ thông qua việc chỉ ra những tương đồng và dị biệt của chúng với truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung

6 Cấu trúc của luận án:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án sẽ gồm

3 chương sau:

- Chương I: Tổng quan về truyền thuyết dân gian xứ Nghệ

- Chương II: Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ nhìn từ đặc trưng thể loại

- Chương III: Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong không gian văn hóa

xứ Nghệ

Trang 24

NỘI DUNG

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ NGHỆ

1.1 Diện mạo chung của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ

Truyền thuyết dân gian luôn mang vẻ mặt của văn hóa xứ sở - nơi tạo sinh ra

nó Bằng khả năng mã hóa các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử và các địa danh lịch sử vào những cấu trúc hoang đường, truyền thuyết là thể loại hiếm hoi thu hút vào nó vẻ đa chiều của các sắc thái văn hóa địa phương, đồng thời đắp bồi liên tục những biến ảo không ngừng của văn hóa dân gian địa phương ấy trong không gian

và thời gian Dường như, truyền thuyết đã nắm bắt được cái mạch sống vĩnh viễn của truyện kể dân gian để trở nên một sinh thể đặc biệt tích tụ điệp trùng sự sống, vừa giấu diếm trong mình vẻ cổ xưa bí ẩn lại vừa phô diễn một vẻ tươi tắn tân thời Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ cũng được nhuộm màu văn hóa vùng miền đặc trưng, từ những chi tiết tỉ mỉ nhất cho đến cái nhìn toàn cảnh Nó như một khung cửa sổ mở ra bao la những tầng trời văn hóa của xứ sở gió Lào, cát trắng Nói một cách giản dị hơn, diện mạo của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ cũng là diện mạo văn hóa xứ Nghệ

1.1.1 Số lượng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ

Truyền thuyết cũng như hầu hết các thể loại văn học dân gian khác do đặc trưng về chủ thể sáng tạo và lưu truyền nên vẫn luôn là một sinh mạng vừa mong manh, vừa mạnh mẽ, dai dẳng Sinh mạng ấy mong manh bởi nó phụ thuộc vào trí nhớ và khả năng tri nhận, lưu giữ, truyền đạt, phát triển của tâm thức cộng đồng Sinh mạng ấy lại cũng căng tràn sinh lực bởi nó được tiếp nhận năng lượng từ mạch sáng tạo tinh thần không ngơi nghỉ của dân gian Tâm thức dân gian chứa đựng trong nó muôn vàn giá trị của nhân dân song không phải giá trị nào cũng được lưu chứa vĩnh viễn Ký ức dân gian sẽ lãng quên nhanh chóng những giá trị cũ kỹ và

Trang 25

không phù hợp với tư tưởng dân gian, mặt khác sẽ bồi tụ tập trung vào những giá trị tốt đẹp bằng một quá trình chọn lọc tự nhiên diễn ra không ngừng

Truyền thuyết không nằm ngoài quy trình tất yếu ấy, song thể loại này dường như được ưu ái hơn so với các thể loại khác khi sinh mệnh của nó không chỉ đơn thuần là giá trị phi vật thể như cốt truyện truyền miệng “lời nói gió bay” mà còn có một mối ràng buộc sinh - tử với những giá trị vật thể hiện hữu như đình, đền, miếu mạo, địa danh lịch sử, nhân vật lịch sử… Xứ Nghệ lại là một vùng văn hóa nhiều màu sắc, trải qua bao biến thiên lịch sử và ghi nhận vào tâm thức dân gian một khối lượng khổng lồ các sự kiện gợi ý sáng tạo Cộng hưởng vào đó là khả năng lưu truyền mạnh mẽ qua không gian và thời gian của thể loại truyền thuyết, tạo nên một bầu khí quyển đậm đặc chất truyền thuyết trên đất Nghệ Vậy nên, không có gì là quá khi cho rằng, trên mảnh đất xứ Nghệ “đá núi biết ghi nhận nói năng, cây cỏ biết cười tươi, sông nước biết gầm thét” [62, 28], “mỗi hòn núi, mỗi khúc sông, mỗi đoạn đường, mỗi cánh rừng, mỗi mái chợ, mỗi bìa làng, mỗi ngôi đền… ít nhất có một truyện” [62, 15] Nói như thế để thấy rằng, truyền thuyết dân gian xứ Nghệ cực

kỳ phong phú và chắc chắn vẫn còn những mẩu truyền thuyết rơi sót đâu đó trong dân gian chưa từng được bất kỳ nhà sưu tầm văn hóa dân gian nào biết đến Tuy nhiên, để tiện việc phân tích và nghiên cứu, chúng tôi buộc lòng phải giới hạn truyền thuyết dân gian xứ Nghệ bằng một con số cụ thể với độ chính xác nhất định thông qua một quá trình tập hợp, lọc lựa từ nhiều tuyển tập truyện kể dân gian khác nhau và sưu tầm từ các cuộc điền dã thực tế ở một số địa phương Dù đã được thống

kê một cách chính xác nhất có thể nhưng bất kỳ con số nào mà chúng tôi đưa ra trong phần tổng quan này cũng chỉ mang tính chất tương đối Để con số mang tính tương đối ấy có giá trị sử dụng theo đúng mục đích nghiên cứu, chúng tôi đã thực hiện thống kê dưới một số tiêu chí cụ thể

1.1.1.1 Tiêu chí thống kê

Trước hết, như phần Mở đầu đã đề cập, do đối tượng nghiên cứu - thể loại truyền thuyết tương đối phức tạp về mặt định nghĩa, dễ khiến người nghiên cứu lạc bước sang lãnh địa của thần thoại hay là cổ tích cho nên, tiêu chí được chúng tôi lưu

Trang 26

ý hàng đầu khi thống kê là lựa chọn những truyện kể thích hợp và đáp ứng đủ các yếu tố cần thiết để làm nên một truyền thuyết Tuy nhiên, để nhìn thấy được các xu hướng vận động và phát triển của thể loại này, chúng tôi không chỉ chọn những truyền thuyết thuần chất không lẫn vào đâu được mà còn chủ ý lựa những truyền thuyết mờ nhòe, đứng mấp mé, chênh vênh ở ranh giới của cổ tích hay thần thoại

Dù yêu cầu minh bạch của việc nghiên cứu khiến chúng tôi cố gắng giản ước tối đa đối tượng nghiên cứu để nắm bắt nó thật chắc chắn nhưng với đối tượng đa diện lấp lánh như truyền thuyết dân gian xứ Nghệ, chúng tôi không thể vì sự giản tiện của thao tác nghiên cứu mà bỏ qua những uốn khúc quanh co đầy hàm ý của đối tượng

Cũng chính vì lẽ đó, tiêu chí thứ hai của việc thống kê truyền thuyết dân gian

xứ Nghệ là song hành thống kê các bản kể đã được cố định ở dạng văn bản và các bản kể truyền miệng chưa được ghi chép còn vương sót lại đâu đó trong dân gian Nhờ vậy, chúng tôi có thể nhìn truyền thuyết dân gian như một sinh thể đang vận động trong chính môi sinh của nó

Do đặc điểm lưu truyền bằng miệng, truyền thuyết cũng như các thể loại văn học dân gian khác có tính dị bản Ngay cả những bản kể truyền thuyết đã được cố định hóa bằng văn bản thì vẫn có nhiều bản khác, chưa kể các bản kể vẫn chỉ tồn tại dưới dạng lưu truyền bằng miệng Để có một con số thống kê súc tích, tiêu chí thứ

ba mà chúng tôi đặt ra là quy các dị bản về một mối - coi như đó chỉ là một đơn vị thống kê chứ không để mỗi dị bản là một đơn vị riêng lẻ Như vậy, con số thống kê cuối cùng được đưa ra có thể giấu trong nó một số dôi đáng kể bởi các đơn vị

các chiều hướng khác nhau của một cốt truyện truyền thuyết đồng thời nắm bắt được khả năng biến hóa của một truyền thuyết bất kỳ dưới sức mạnh tinh thần của dân gian

1.1.1.2 Số lượng truyền thuyết

Với các tiêu chí được định rõ như trên, chúng tôi thống kê được 138 truyền thuyết dân gian xứ Nghệ qua các sách vở, thư tịch và sưu tầm được 9 truyền thuyết vẫn đang lưu truyền trong dân gian mà chưa từng được cố định hóa bằng văn bản

Trang 27

1.1.2 Tương quan với số lượng các thể loại truyện kể dân gian khác

Trong thế giới truyện kể dân gian, thần thoại, truyền thuyết và cổ tích là ba thể loại có những nếp gấp ranh giới chồng xếp lên nhau bởi khả năng giao thoa, biến hóa lẫn nhau Nếu thần thoại là thế giới của thần linh - được dân gian sáng tạo nên bằng thế giới quan ngây thơ và con mắt màu nhiệm hóa vũ trụ thì cổ tích lại là thế giới phức tạp của xã hội loài người - được sáng tạo nên từ những triết lý dân gian về các mối quan hệ xã hội Truyền thuyết - thế giới của người và thần được đúc tạc nên bằng cái nhìn lý tưởng hóa, thiêng hóa thực tại - có thể coi là thể loại mang tính gạch nối giữa thần thoại và cổ tích Ở vị thế đặc biệt ấy, truyền thuyết có khả năng được phát sinh từ sự tan rã của thần thoại hoặc từ quá trình hiện thực hóa, xác thực hóa các giấc mơ cổ tích Quá trình chuyển hóa lẫn nhau ấy tất yếu dẫn đến những thay đổi về mặt số lượng truyện kể ở mỗi thể loại Xem xét tương quan số lượng của các thể loại này sẽ mang đến nhiều thông tin thú vị, không chỉ về vị trí, vai trò và diện mạo của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ mà còn về khuynh hướng của cảm quan mỹ học và tư duy dân gian Đó cũng chính là lý do chúng tôi lựa chọn thần thoại và cổ tích làm đối trọng so sánh về số lượng với thể loại truyền thuyết trong phần này

Do nguồn tư liệu phong phú từ các thư tịch, sách vở và trong dân gian nên con số thống kê truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trên đây là kết quả của một quá trình tập hợp tương đối phức tạp Để có thể so sánh tương quan số lượng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ với các thể loại truyện kể dân gian khác, đòi hỏi chúng ta phải có một mẫu số chung - một hệ thống tư liệu đồng nhất Chúng tôi nhận thấy việc thống kê lại từng thể loại truyện kể dân gian xứ Nghệ chỉ để so sánh là không

quá cần thiết Do đó, chúng tôi chỉ dựa vào cuốn KTTKDGX.Nghệ (tập 1) - tập hợp

các thể loại truyện kể dân gian người Việt ở xứ Nghệ - coi đây là mẫu số chung để

so sánh số lượng truyền thuyết xứ Nghệ với các thể loại khác

Cuốn KTTKDGX.Nghệ (tập 1) có 98 truyện kể thì có 6 thần thoại (6.2%), 36

truyền thuyết (36.7 %) và 56 truyện cổ tích (57.1%) Những con số mang tính chất tượng trưng trên đây phần nào cho thấy trong khi thần thoại đã trở nên hiếm hoi còn

Trang 28

cổ tích chiếm ưu thế về mặt số lượng thì truyền thuyết vẫn giữ được một vị thế đáng

kể trong đời sống dân gian Tuy không ở thế thượng phong nhưng truyền thuyết vẫn giữ được nhịp độ lưu truyền tương đối vững và chiếm một địa vị không nhỏ trong tâm thức dân gian xứ Nghệ Tương quan số lượng của ba thể loại trên đây trong đời sống dân gian xứ Nghệ cũng chỉ ra rằng, thế giới của các vị thần ngày càng trở nên

xa xôi trong ký ức dân gian Thay vào đó, thế giới con người với vô vàn các vấn đề của các mối quan hệ xã hội chằng chịt đã chiếm lĩnh tâm thức dân gian như một điều tất yếu của khuynh hướng phát triển tư duy dân gian - từ chất phác, thô sơ đến sâu sắc, nhuần nhị triết lý cộng đồng Tuy vậy, hình tượng thần linh không bao giờ biến mất trong dân gian, nó chỉ chuyển hóa từ dạng thức này sang dạng thức khác,

từ những vị thần tạo tác thiên nhiên thô mộc đến những vị thần có ý thức phù trợ cho nhân dân; từ nhiên thần đến nhân thần Khi ý thức dân gian đã phát triển đến mức độ cao, họ biết cách lưu giữ lại niềm tin ở thần linh bằng cách kéo thế giới linh thiêng đến gần hơn với thế giới loài người Một trong các phương thức để đạt được điều ấy là phong thánh, biến chính những con người có thật trong đời sống thành thần Thể loại truyền thuyết nắm giữ bí quyết ấy để trở thành thể loại cứu cánh cho dân gian trong nỗ lực vin níu đến cùng và tái tạo một bầu không khí huyền hoặc và mầu nhiệm - một thế giới đậm đức tin thần thánh Trong thế giới truyền thuyết, ngoài các

vị nhiên thần được thừa hưởng từ gia tài thần thoại, chúng ta còn gặp không ít các vị nhân thần được sáng tạo nên bởi phương thức độc quyền của thể loại truyền thuyết Con số lưng chừng và vị thế ở giữa của truyền thuyết trong kho tàng truyện kể dân

gian xứ Nghệ một lần nữa minh chứng cho chức năng gạch nối của thể loại này trong tâm thức dân gian Và đó là một cái gạch nối tiềm tàng nhiều ý nghĩa

Những con số thống kê ban đầu trên đây đã phần nào phác họa một cách tổng quan diện mạo của thể loại truyền thuyết trong đời sống sinh hoạt văn hóa dân gian xứ Nghệ Ngay lập tức chúng tôi chưa đọc ra được nhiều ý nghĩa từ các thông

số văn hóa ấy song thiết nghĩ, việc xác định các con số này là việc làm có ý nghĩa

mở đường cho hướng nghiên cứu đang tiến hành

Trang 29

1.2 Các dạng truyền thuyết tiêu biểu

1.2.1 Lý thuyết phân loại

Vấn đề phân loại luôn là vấn đề phức tạp trong khoa học, bởi lẽ, mỗi nhà nghiên cứu đều tạo lập riêng cho mình một luồng sáng tư duy Tính độc lập trong nghiên cứu tất yếu dẫn đến tình trạng đa chiều hóa góc nhìn cho một vấn đề bất kỳ Trong lĩnh vực nghiên cứu truyền thuyết, các nhà truyền thuyết học đã mở ra vô số lối đi trong việc phân loại từ những hệ tiêu chí khác nhau, dưới những cách quy chiếu khái niệm khác nhau

Thực tế phức tạp của vấn đề phân loại truyền thuyết đã từng được nhà nghiên

cứu Kiều Thu Hoạch mô tả khá tỉ mỉ trong bài viết Xác định thể loại truyền thuyết [85, 125] Trong bài viết này, tác giả đã trình bày rõ thực trạng đan chéo nhiều

luồng ý kiến khác nhau của giới folklore quốc tế khi phân loại truyền thuyết bằng cách điểm lại các khuynh hướng phân loại của các nhà folklore Nhật Bản và Trung Quốc Ở Nhật Bản có ít nhất bốn phương án phân loại truyền thuyết được thực hiện dưới bốn hệ tiêu chí khác nhau Theo đó, khi lấy sự vật khách thể có liên quan đến nội dung truyền thuyết làm tiêu chí phân loại, truyền thuyết được phân chia làm 6 loại: Loại cây cối; Loại hang động, đá núi; Loại nước; Loại mồ mả; Loại sườn đèo, dốc núi; Loại nhà thờ Khi tiêu chí phân loại là hình thái tồn tại và chức năng của truyền thuyết thì thể loại này lại được chia thành 3 loại: truyền thuyết thuyết minh (giải thích nguồn gốc các sự vật); truyền thuyết lịch sử (về cá nhân vật và sự kiện lịch sử); truyền thuyết tín ngưỡng Căn cứ vào tính chất của nội dung truyền thuyết,

có nhà folklore Nhật Bản lại chia truyền thuyết làm 6 loại như sau: truyền thuyết thần tiên; truyền thuyết thị tộc; truyền thuyết nữ giới; truyền thuyết động thực vật; truyền thuyết địa lí, thiên văn; truyền thuyết tôn giáo Căn cứ vào quan điểm lịch sử cội nguồn, người ta lại chia truyền thuyết làm 3 loại: truyền thuyết thần thoại; truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết văn nghệ

Ở Trung Quốc, thực trạng phân loại truyền thuyết cũng không kém phần rối ren khi các tác giả Giáo trình Đại học Bắc Kinh chia truyền thuyết làm 6 loại (truyền thuyết nhân vật; truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết địa phương; truyền

Trang 30

thuyết sản vật; truyền thuyết phong tục; truyền thuyết thời sự) còn các tác giả cuốn

Từ điển truyện dân gian Quảng Tây lại chia truyền thuyết làm 3 loại (truyền thuyết

nhân vật; truyền thuyết sự kiện lịch sử; truyền thuyết phong vật địa phương) Đặc

biệt, trong công trình đồ sộ Trung Quốc truyền thuyết cố sự đại từ điển, các tác giả

đề xuất phân loại truyền thuyết theo chủ đề với 23 loại hình (như: loại hình gà gáy, loại hình phụ nữ hiến thân, loại hình tra hỏi tảng đá…) Lại có một khuynh hướng khác đề nghị phân loại theo cách mà Hội Nghiên cứu văn học tự sự dân gian quốc tế họp tại Budapest năm 1963 đã nhất trí (gồm 4 loại: truyền thuyết khởi nguyên; truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết thần thoại; truyền thuyết tôn giáo)

đặc trưng thể loại một thời gian dài trước đây, vấn đề phân loại truyền thuyết cũng

“ít được bàn đến” [136, 62] Vấn đề này chỉ được đặt ra chủ yếu trong các bộ giáo trình đại học - những cuốn sách khoa học căn bản nhất Trong cuốn giáo trình của Đại học Tổng hợp, giáo sư Lê Chí Quế đã chia truyền thuyết làm 3 loại: truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết anh hùng; truyền thuyết về các danh nhân văn hóa Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình Đại học sư phạm [168] lại chia truyền thuyết thành 4 nhóm căn cứ vào nội dung của thời kỳ lịch sử được truyền thuyết phản ánh, gồm: Truyền thuyết về Họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang; Truyền thuyết về thời

kỳ Âu Lạc và Bắc thuộc; Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ; Truyền thuyết

về thời kỳ Pháp thuộc Trong giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP

12 + 2, tác giả Đỗ Bình Trị lại đặt ra hai cách phân loại truyền thuyết Cách thứ nhất chia truyền thuyết làm 2 bộ phận, căn cứ theo lịch sử và căn cứ vào “phạm vi những

sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm”, gồm: Những truyền thuyết về thời các vua Hùng và Những truyền thuyết về sau thời các vua Hùng (trong bộ phận này lại gồm các nhóm nhỏ: truyền thuyết về “những cuộc khởi nghĩa và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm với nhân vật trung tâm là những anh hùng dân tộc”; Truyền thuyết về “những danh nhân văn hóa và những vị quan nổi tiếng công minh chính trực hoặc có tài kinh bang tế thế”; Truyền thuyết về “những cuộc nổi dậy chống ách áp bức của vua quan tham tàn, bạo ngược, với nhân vật trung tâm được

Trang 31

ngày nay gọi là anh hùng nông dân” Cách thứ hai được Đỗ Bình Trị đề xuất căn cứ vào đặc trưng chung của thể loại và căn cứ vào sự khác biệt của đối tượng được truyện kể đến, chia truyền thuyết thành ba tiểu loại: truyền thuyết địa danh (gồm

“những truyện kể dân gian về nguồn gốc lịch sử của những tên gọi địa lí khác nhau hoặc về nguồn gốc của bản thân những địa điểm, địa hình, sự vật địa lí ấy”); Truyền thuyết phổ hệ (gồm “những truyện kể dân gian về nguồn gốc của các thị tộc, bộ lạc gia tộc, các làng xã, thành thị, xưởng máy… và các thủy tổ, tổ sư cùng những đại biểu tài năng nhất của các nghề thủ công mỹ nghệ,…); Truyền thuyết về nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử [160, 184-195] Cũng trong bài viết tổng quan về thể loại truyền thuyết đã nêu trên, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch đã đưa ra phương án

phân loại của ông, chia truyền thuyết làm 3 loại lớn: Truyền thuyết nhân vật; Truyền

thuyết địa danh; Truyền thuyết phong - vật (phong tục, sản vật) Tác giả cũng định

hình rõ mỗi loại trên đây bằng cách cố gắng phân chia chúng ở những cấp độ nhỏ

hơn, thành những tiểu loại, ví dụ như: truyền thuyết nhân vật bao gồm truyền thuyết

về các anh hùng chống xâm lược; truyền thuyết về các anh hùng văn hóa; truyền

thuyết về các anh hùng nông dân [85, 144-145]

Theo nhận định của chúng tôi, mỗi cách phân loại truyền thuyết của các nhà folklore trong và ngoài nước nêu trên đều có lý lẽ riêng do căn cứ vào các hệ tiêu chí khá cụ thể Tuy nhiên, chưa có một phương án phân loại nào có thể gọi là phương án vạn năng để có thể sử dụng trong mọi tình huống nghiên cứu Có lẽ đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến hiện trạng tồn tại chồng chéo vô số cách phân loại khác nhau Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu thể loại ở nhiều phương diện khác nhau, hiện trạng phân loại phức tạp ấy là điều đương nhiên không thể khác Với mục đích nghiên cứu thể loại truyền thuyết gắn với một địa phương cụ thể, trong một môi trường diễn xướng cụ thể, chúng tôi nhận thấy về cơ bản, cách phân loại của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch phù hợp nhất cho tình huống nghiên cứu mà luận án này đặt ra Song, với thực tế tư liệu truyền thuyết đặc thù của địa phương đã được thống kê ở mục 1.1.1, chúng tôi có một chút thay đổi nhỏ trong cách phân chia các tiểu loại cho loại truyền thuyết nhân vật

Trang 32

Trong loại truyền thuyết nhân vật, chúng tôi chia làm 2 bộ phận căn cứ vào

đối tượng được kể, gồm: truyền thuyết về nhiên thần và truyền thuyết về nhân thần

Sở dĩ chúng tôi mở ra một khoảng không riêng để truyền thuyết về nhiên thần đứng độc lập là bởi thực tế tư liệu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ cho thấy truyền thuyết

về nhiên thần không quá lép vế so với các truyền thuyết về nhân thần Hơn thế nữa,

bộ phận truyền thuyết về nhiên thần là bộ phận cổ xưa bậc nhất và vô cùng quan trọng của kho tàng truyền thuyết dân gian bởi nó phản ánh tín ngưỡng thờ tự nhiên lâu đời của cư dân bản địa Đồng thời, chính bộ phận truyền thuyết về nhiên thần sẽ

hé lộ con đường bóc tách các lớp văn hóa chồng chất trong truyền thuyết qua thời

gian và sự biến đổi của tư duy con người Trong bộ phận truyền thuyết nhân thần, chúng tôi gộp mục truyền thuyết về người anh hùng chống xâm lược và truyền

thuyết về các anh hùng nông dân thành một tiểu loại chung, trong đó, anh hùng

nông dân không chỉ là “các nhân vật phất cờ khởi nghĩa, các lãnh tụ nghĩa quân chống lại triều đình phong kiến thối nát cùng bọn quan lại tham tàn gian ác” [85, 144] mà còn là những người dám làm việc phi thường để giúp dân (như chàng Hai

dũng cảm giết thuồng luồng trong Đại vương Hai hay là truyện giết thuồng luồng; Học Quý giết con giải trừ họa cho dân lành trong Đền Học Quý…) Bên cạnh tiểu loại truyền thuyết về người anh hùng chống xâm lược và anh hùng nông dân và tiểu loại truyền thuyết về người anh hùng văn hóa còn có thêm tiểu loại truyền thuyết về

các linh nhân hóa thần Đây là bộ phận truyền thuyết kể về những con người hết

sức bình thường nhưng vì những duyên do tình cờ đột nhiên thành thần thánh Đó

có thể là phúc thần (như Thần Liễu Nghị, thần Văn Vũ,….) cũng có thể là hung thần (Ngô Bát Ngạo, thần đền Trầm Một…) Trên mảnh đất lắm thần nhiều thánh xứ

Nghệ, truyền thuyết về các vị thần này vẫn còn được lưu truyền nơi nơi, do đó, cần thiết phải dành một không gian riêng cho bộ phận truyền thuyết mà chúng tôi tạm

gọi là truyền thuyết về các linh nhân hóa thần

Ngoài ra, vì hình thức tồn tại và lưu truyền của truyền thuyết là một trong những mối quan tâm của luận án này cho nên, chúng tôi sẽ lấy đó làm tiêu chí đề đưa thêm một cách phân loại vào nghiên cứu, góp phần làm phong phú thêm cách

Trang 33

nhận thức về kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ Theo tiêu chí này, chúng tôi

sẽ chia truyền thuyết làm hai dạng: truyền thuyết định hình trên văn bản và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian Thực tế lưu truyền của thể loại truyền thuyết cho thấy, hai dạng truyền thuyết trên đây sẽ có sự chuyển hóa lẫn nhau bởi chu kỳ mang

tính đặc thù trong quá trình lưu truyền của văn học dân gian như sau: truyền khẩu

trong dân gian - văn bản hóa, cố định hóa - quay về dân gian - phá vỡ cấu trúc văn bản cố định - tái sinh cấu trúc mới

1.2.2 Phân loại theo hình thức tồn tại và lưu truyền

1.2.2.1 Truyền thuyết định hình trên văn bản

Cũng như bất kỳ thể loại văn học dân gian nào khác, truyền thuyết tuy được sản sinh và lưu truyền trong đời sống bằng hình thức truyền miệng song qua thời gian, cùng với sự thẩm thấu sâu sắc lối tư duy dân gian, sự ảnh hưởng mạnh mẽ các giá trị dân gian trong quá trình kiến tạo nền văn hóa dân tộc, truyền thuyết được các trí thức đương thời cố định hóa bằng cách ghi chép lại Đặc biệt hơn các thể loại khác, truyền thuyết không hoàn toàn là những câu chuyện hư cấu bởi phần hoang đường mà dân gian sáng tạo nên chỉ là lớp vỏ bên ngoài, che đậy cái cốt lõi lịch sử

có thật tận sâu bên trong Chính bởi vậy mà truyền thuyết là thể loại được các trí thức đương thời quan tâm nhiều hơn và dĩ nhiên được cố định hóa bằng nhiều dạng văn bản hơn Các nhà văn trung đại coi truyền thuyết là nguồn tư liệu ngồn ngộn, hấp dẫn để chấp bút thành văn; các sử gia coi truyền thuyết là kho báu chứa đựng những chi tiết dã sử phong phú đủ để hồ kín vào những máng khuyết thiếu của chính sử Các nhà địa lí cũng không bỏ qua việc khám phá kho truyền thuyết như phần mào đầu hợp lý cho các cuộc thám hiểm một vùng non nước nào đó trong các sách địa chí Còn các ông từ coi sóc đền miếu thì lại coi truyền thuyết là bảo bối trong việc xây dựng nên các thần tích, thần phả - phần linh hồn của các quần thể kiến trúc văn hóa phục vụ tín ngưỡng dân gian Đặc trưng thể loại gắn liền với lịch

sử đã trở thành một phép lợi thế để truyền thuyết đường hoàng bước chân vào lãnh địa của các văn bản thành văn Nhờ vào phép lợi thế ấy, truyền thuyết được lưu giữ

ở vô số văn bản thời trung đại với sự đa dạng về thể loại: sách địa chí, sách sử,

Trang 34

truyện chí quái, thần tích, thần phả… Các truyền thuyết đã được định hình qua thời gian và lưu lại trong các thư tịch, sách vở ấy được chúng tôi liệt vào dạng truyền thuyết định hình trên văn bản

Truyền thuyết vốn là một cấu trúc mở, có khả năng thay đổi và biến hình qua không gian và thời gian, thế nên việc cố định hóa truyền thuyết bằng văn bản có thể

xem như một phép ngưng để lấy đi một quãng đoạn sống của thể loại này trong dòng lưu chuyển không ngừng của nó Phép ngưng ấy có hai tác dụng trái ngược,

một mặt, nó giúp chúng ta bóc tách và lưu lại những hình hài cụ thể nhất của thể loại truyền thuyết; mặt khác, nó làm khô héo đi một cá thể chỉ có thể sinh sôi trong

chuyển động Dẫu sao, phép ngưng ấy cũng tạo nên một điểm dừng đặc biệt cho

truyền thuyết trong đời sống bất định lâu dài của nó Xem xét dạng truyền thuyết định hình trên văn bản sẽ đem đến cho chúng ta một cái nhìn sâu hơn về vai trò, vị trí và giá trị của thể loại này trong tổng thể đời sống văn hóa địa phương nói riêng

và dân tộc nói chung

Những truyền thuyết được lấy làm đối tượng nghiên cứu trong luận án này chủ yếu ở dạng đã cố định trên văn bản Những mẩu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ ngày nay được các nhà sưu tầm dân gian tìm thấy trong hàng loạt sách vở từ

cổ chí kim Từ những cuốn sách sử chính thống như Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn) cho đến những cuốn địa chí của địa phương như: Hoan Châu ký (Nguyễn Cảnh thị), Nghệ An ký (Bùi Dương Lịch), An - Tĩnh cổ lục (H.Le Breton), Thiên Lộc huyện phong thổ chí (Lưu

chữ Hán được soạn thời phong kiến như Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên), Lĩnh Nam

chích quái (Vũ Quỳnh), Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh), Vũ trung tùy bút (Phạm

Đình Hổ)… cho đến các tác phẩm được viết bằng tiếng Việt hiện đại về sau này như:

Người anh hùng đất Hoan Châu, Truyền thuyết núi Hai Vai (Võ Văn Trực) đều có

sự hiện diện của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ như một phần tất yếu Sớm xuất hiện trong những tập truyện ký chữ Hán vào loại cổ nhất của Việt Nam, truyền thuyết dân gian xứ Nghệ đã khẳng định được bề dày lịch sử cũng như ý nghĩa xã

Trang 35

hội tiêu biểu của nó trong đời sống văn hóa dân tộc Truyền thuyết về Lý Nhật

Quang - Uy Minh dũng liệt hiển trung tá thánh phu hựu đại vương xuất hiện trong

Việt điện u linh (thế kỷ XIV) không chỉ thể hiện tiếng tăm lừng lẫy của vị thái tử họ

Lý trong dân gian xứ Nghệ mà còn bộc lộ rõ sức mạnh và khả năng xâm nhập mạnh

mẽ của thể loại truyền thuyết vào văn xuôi trung đại Ở thời đại mà văn chương chính thống chỉ chuộng điển tích, điển cố Trung Hoa, sự xâm nhập của một mẩu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ vào một tác phẩm văn chương chữ Hán tự thân nó

đã nói lên nhiều điều Kỳ thực, đó không đơn thuần là quá trình biến nhập của văn học dân gian vào lãnh địa của văn chương bác học mà hơn thế, đó là quá trình thẩm thấu và phát tán tư tưởng dân gian địa phương vào giới trí thức đương thời của dân

tộc Phép ngưng của việc văn bản hóa truyền thuyết trong trường hợp này đã cho

chúng ta một cơ hội được thấy, truyền thuyết dân gian xứ Nghệ đã tích tụ trong nó thứ năng lượng kỳ diệu của trí tuệ dân gian, tâm hồn dân gian và đã tỏa sáng từ thuở xưa xa cả ngàn năm trước

Công cuộc cố định hóa truyền thuyết dân gian xứ Nghệ bằng văn bản vẫn còn được tiếp tục hàng trăm năm sau như một minh chứng hùng hồn cho sức sống mãnh liệt và sự sinh sôi nảy nở không ngừng của truyền thuyết nhờ sức sáng tạo vô biên của trí tuệ dân gian Những mẩu truyền thuyết mà nhà văn Võ Văn Trực góp

nhặt ở quê hương ông để viết nên Truyền thuyết núi Hai Vai là một trong những

minh chứng ấy Những văn bản im lìm tưởng như giam hãm một thể loại vốn lấy phương thức truyền khẩu tự do làm sự sống hóa ra lại giúp ta nhìn sâu hơn vào trầm tích giá trị của truyền thuyết qua thời gian Những truyền thuyết bất động trong văn bản cũng tựa như những hóa thạch văn hóa - nói với chúng ta rất nhiều về những thời đại đã qua Chúng phác nên chân dung một xứ Nghệ đậm màu huyền thoại và dày dạn vết tích văn hóa

1.2.2.2 Truyền thuyết lưu truyền trong dân gian

Văn học dân gian sở dĩ vẫn song song tồn tại bên cạnh văn học viết chính là nhờ sức mạnh và quyền năng riêng của phương thức truyền miệng đặc trưng Vậy nên, cho dù ngày nay, các nhà folklore chủ yếu nghiên cứu truyền thuyết ở dạng văn

Trang 36

bản nhưng các nhà sưu tầm vẫn tiếp tục tìm thấy những truyền thuyết còn ở dạng lưu truyền nguyên thủy trong dân gian Nếu dạng truyền thuyết trên văn bản mang đến một cái nhìn sâu sắc về bề dày của lịch sử thể loại và lịch sử văn hóa địa phương thì dạng truyền thuyết lưu truyền nói với chúng ta về sức sống và khả năng bám rễ vào mạch chảy xã hội của thể loại này trong quá trình tái tạo không ngơi nghỉ của nó Dạng truyền thuyết này chúng tôi phải tự tìm hiểu bằng cách đi đến các địa phương cụ thể trong vùng Nghệ Tĩnh để điều tra, thu thập Độ phong phú của dạng truyền thuyết này vừa phụ thuộc vào khả năng tạo sinh khách quan của thể loại, vừa phụ thuộc vào quá trình tự khảo sát mang tính chủ quan của chúng tôi Những truyền thuyết còn tồn tại ở dạng này có thể là những truyện đã từng được

văn bản hóa song quay trở về dân gian bằng quá trình tái truyền miệng; cũng có thể

đó là những truyện chưa từng được cố định bằng văn bản, song nhờ sức mạnh dai dẳng của trí nhớ dân gian mà tồn tại đến ngày nay - dạng này chúng tôi tạm gọi là

truyện truyền khẩu nguyên thủy Chúng tôi chỉ lưu tâm thống kê các truyền thuyết

truyền khẩu nguyên thủy trong số các truyền thuyết tồn tại ở dạng lưu truyền trong

dân gian

Trong thời gian nghiên cứu có hạn, chúng tôi đã thực hiện được 4 chuyến điền dã về các địa phương như: huyện Nam Đàn, huyện Hưng Nguyên, huyện Quỳ Hợp, huyện Con Cuông (tỉnh Nghệ An) và đã sưu tầm được 9 truyền thuyết ở dạng còn lưu truyền trong dân gian Con số ít ỏi ấy là kết quả chủ quan của những chuyến điền dã ngắn ngủi của chúng tôi, đồng thời cũng phản ánh khách quan tồn tại của dạng truyền thuyết lưu truyền trong dân gian Trên thực tế, khi tiếp cận những người dân địa phương để phỏng vấn, hầu hết những truyền thuyết chúng tôi được

nghe từ họ thuộc về dạng tái truyền miệng Thế nên, rất hiếm gặp những mẩu truyện

truyền khẩu nguyên thủy, chưa từng trải qua quá trình: văn bản hóa, cố định hóa - quay về dân gian - phá vỡ cấu trúc văn bản cố định - tái sinh cấu trúc mới Đa số

những truyền thuyết được truyền khẩu nguyên thủy trong dân gian ngày nay chỉ là

những mẩu nhỏ, chưa có tính cách độc lập, chủ yếu xoay xung quanh những truyền thuyết lâu đời đã từng được văn bản hóa Ngoài ra, phải kể đến một nguyên do

Trang 37

khách quan khác dẫn đến tình trạng tồn tại ít ỏi của dạng truyền thuyết lưu truyền trong dân gian, đó là sự biến mất của vô số các di tích vật thể (đình, đền, miếu mạo…) tại các địa phương vùng Nghệ Tĩnh những năm 50 của thế kỷ XX, dưới phong trào “đào tận gốc, trốc tận rễ” những hủ tục phong kiến Hậu quả nặng nề mang tính thời đoạn lịch sử ấy đã tước đi một mắt xích quan trọng trong vòng đời của thể loại truyền thuyết - chính là các di tích vật thể - một nhân tố quan trọng cấu thành nên không gian diễn xướng của truyền thuyết Chính những mái đình, ngôi đền, tòa miếu được nhân dân hương khói quanh năm là nơi neo giữ và tích tụ năng lượng cho các truyền thuyết Truyền thuyết được tái sinh bằng nguồn năng lượng dồi dào được các quần thể kiến trúc tâm linh tiếp nạp định kỳ bằng các lễ hội thường niên Mỗi truyền thuyết - dù mang một cấu trúc mở song lại sống trong một không gian văn hóa khép kín với các mắt xích liên đới chặt chẽ: di tích vật thể - lễ hội Vòng đời khép kín ấy được nuôi dưỡng bởi nguồn năng lượng tái sinh vô biên

từ trí tuệ và tâm hồn dân gian Cũng chính vì đặc điểm khép kín ấy mà mỗi mắt xích trong vòng đời của truyền thuyết đều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Xứ Nghệ xa xưa từng là vùng đất linh thiêng của thần linh, và ở cái thời quá vãng ấy, mỗi tên đất tên làng đều gắn với ít nhất một tên đền, tên miếu Sự mất mát các di tích vật thể đã phá vỡ chu trình sống khép kín của truyền thuyết, gây ra tình trạng đoản mạch cho vòng đời truyền thuyết Mất đi ngôi đền, tòa miếu là nhân dân mất đi một nơi tụ tập mỗi dịp hội hè đình đám để truyền miệng những câu chuyện cũ, để sáng tạo nên những câu chuyện mới xung quanh sự hiển linh của thần thánh được thờ phụng Một khi cấu trúc môi trường diễn xướng bị phá vỡ, truyền thuyết sẽ trở nên yếu thế

và mai một Đó đích xác là tình trạng của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ ngày nay, khi hầu hết các di tích văn hóa vật thể cũng chỉ còn được gợi nhắc bằng ký ức

Tuy rằng con số ít ỏi của dạng truyền thuyết truyền khẩu nguyên thủy được chúng tôi tìm thấy chưa đủ sức khôi phục lại một mảng truyền thuyết địa phương đã thất truyền song tự thân sự hiếm hoi ấy cũng đã phác nên thực trạng tồn tại riêng của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ Có thể thực trạng ấy có nhiều nét tương đồng với truyền thuyết của các vùng văn hóa khác, song căn nguyên của nó lại mang tính

cá biệt, phụ thuộc vào tiến trình lịch sử phát triển văn hóa xứ Nghệ

Trang 38

1.2.3 Phân loại theo nội dung

Như đã xác định ở mục 1.2.1, chúng tôi lựa chọn cách phân loại của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch song có cải biến một số chi tiết để tiến hành phân loại các truyền thuyết dân gian xứ Nghệ đã thống kê, sưu tầm Để có thể trực quan đánh giá độ tập trung vào các mảng truyền thuyết khác nhau của hệ thống tư liệu, chúng

tôi thiết lập Bảng thống kê, phân loại truyền thuyết dân gian xứ Nghệ (xem bảng 1,

phần Phụ lục) Qua thống kê, phân loại, chúng tôi thu được kết quả định lượng như sau: truyền thuyết nhân vật có 122 truyện, truyền thuyết địa danh có 22 truyện và truyền thuyết phong - vật có 3 truyện Kết quả này cho thấy khuynh hướng phát triển tập trung vào loại truyền thuyết nhân vật của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ Mức tập trung đậm đặc với tỷ lệ 83 % ở loại truyền thuyết nhân vật phản ánh rõ nét thói quen sáng tạo, thị hiếu lưu truyền của nhân dân vùng văn hóa Nghệ Tĩnh với thể loại truyền thuyết Họ thích tạo dựng và truyền tụng những câu chuyện về sự tích huyền hoặc, lạ kỳ xoay xung quanh những vị thần linh do chính họ khai sinh Với thói quen sáng tác của dân gian xứ Nghệ, thế giới truyền thuyết dường như chỉ thu lại trong những câu chuyện về các nhân vật hóa thân thành thần thánh Thói quen ấy hẳn nhiên được hình thành từ cảm quan thẩm mỹ, quán tính tư duy của người dân xứ Nghệ Sống ở vùng đất mà thuở xa xưa là miền biên viễn hiểm trở, khắc nghiệt, con người xứ Nghệ phải nuôi niềm tin về các vị thần bảo hộ, phải vin níu vào những tín ngưỡng từ thuở sơ khai nhất để có thể tồn tại Việc nhen nhóm, nuôi dưỡng và đắp bồi cho niềm tin ấy trong tâm thức dân gian xứ Nghệ vô cùng quan trọng đối với sự sống của người dân nơi đây Truyền thuyết là một phương thức để dân gian xứ Nghệ tiếp lửa cho các tín ngưỡng dân gian, cho sức mạnh tinh thần người xứ Nghệ Bước vào thế giới vừa hư vừa thực của truyền thuyết, người ta không còn phải đối diện với những âu lo, sợ hãi đời thường bởi họ được cứu vớt bằng sức mạnh linh thiêng của một vị thần nào đó Với truyền thuyết, tác giả dân gian thỏa sức bay bổng trên cái nền chất liệu có thực của đời sống Nắm lấy thể loại truyền thuyết, tác giả dân gian như thể nắm trong tay chiếc đũa thần bởi họ có quyền năng biến hóa những con người bình thường, những nhân vật lịch sử và ngay

Trang 39

cả những cây cỏ, đá núi vô tri thành thần thánh Chính những màu nhiệm được sáng tạo nên trong truyền thuyết là nguồn năng lượng vô biên tiếp sức cho niềm tin dân gian Vậy nên, hiện tượng tập trung chủ yếu vào mảng truyền thuyết nhân vật của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ không đơn thuần bộc lộ một niềm hứng thú sáng tạo, một quán tính tư duy, một cảm quan thẩm mỹ mà hơn thế, đó là biểu hiện của cơn đói khát niềm tin trong dân gian và nhu cầu nương tựa tâm linh mạnh mẽ của nhân dân địa phương

Sự lép vế về mặt số lượng của loại truyền thuyết địa danh và truyền thuyết phong - vật trong tương quan với truyền thuyết nhân vật là điều dễ hiểu, khi mà tâm hồn dân gian chỉ hứng thú với một mảng truyền thuyết và trí tuệ dân gian chỉ chuyên chú vào một xu hướng sáng tạo Do đặc trưng thể loại lấy các nhân vật và sự kiện lịch sử làm trung tâm, truyền thuyết nhân vật đương nhiên trở thành loại chủ chốt, còn truyền thuyết địa danh và truyền thuyết phong - vật được đặt ở vị trí quây quần quanh tiểu loại trung tâm Ngoài lý do đó, sự gần gũi và nhiều khi xâm lấn ranh giới của truyền thuyết địa danh và truyện cổ tích địa danh cũng là khiến loại truyền thuyết này ít đất phát triển Truyền thuyết phong - vật dường như cũng chỉ là loại truyền thuyết phụ họa cho truyền thuyết nhân vật, bởi đó là những truyền thuyết

“kể về nguồn gốc các phong tục, kỵ hèm, hội hè, trò diễn, diễn xướng dân gian…

hoặc các sản vật có gắn với các nhân vật và sự kiện lịch sử” [85, 145]

1.2.3.1 Truyền thuyết nhân vật

Là tiểu loại bao chiếm hầu hết số lượng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ, truyền thuyết nhân vật thu vào lãnh địa của nó hầu hết các vấn đề đặc trưng cơ bản của thể loại Phép định lượng đã xác minh khả năng đại diện của tiểu loại này trong việc phân tích đặc trưng của truyền thuyết nơi vùng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh

Hai bộ phận truyền thuyết nhiên thần và truyền thuyết nhân thần của tiểu loại truyền

thuyết nhân vật được định hình từ chính thực tế sáng tạo và lưu truyền thể loại truyền thuyết của dân gian Nếu coi truyền thuyết là thể loại được tạo dựng từ niềm tin và để tiếp tục nuôi dưỡng và duy trì niềm tin cho nhân dân thì hai bộ phận ấy chính là hai xu hướng “đầu cơ” niềm tin của dân gian Truyền thuyết nhiên thần -

Trang 40

bộ phận truyền thuyết kể về sự tích và những ứng nghiệm linh thiêng của các vị thần tự nhiên (thần Đá, thần Núi, thần Nước, thần Sông, thần Cây, thần Rắn, thần Sấm Sét,…) trở thành nơi nương náu cho những tín ngưỡng cổ xưa bậc nhất của người Việt - tín ngưỡng thờ Vật tổ (Tôtem) và tín ngưỡng thờ tự nhiên (nảy sinh từ lối tư duy “vạn vật hữu linh” thời viễn cổ) Truyền thuyết nhân thần với những câu chuyện về các nhân kiệt, anh hùng và cả những linh nhân tình cờ nào đó lại là nơi

để vun đắp cho tín ngưỡng thờ tổ tiên và thờ phụng các vị có công lập ấp, lập làng, dạy dân nghề làm ăn sinh sống Chính “ẩn số” niềm tin dân gian, tín ngưỡng dân gian nằm phía sau mỗi bộ phận truyền thuyết sẽ gợi lên nhiều điều về đặc trưng tín ngưỡng và xu hướng phát triển của tín ngưỡng dân gian vùng Nghệ Tĩnh

*Truyền thuyết nhiên thần

Truyền thuyết nhiên thần trong kho truyền thuyết dân gian xứ Nghệ được định lượng bằng con số 23/147 (chiếm 15.6%) Con số khiêm tốn ấy phản ánh sự tồn tại ít ỏi của mảng truyền thuyết nhiên thần nhưng chưa hẳn đã phản ánh đúng mực về mức độ phát triển của tín ngưỡng dân gian trên mảnh đất xứ Nghệ Nếu chỉ dùng cái nhìn trực diện để suy luận một cách giản đơn thì đương nhiên chúng ta thấy rằng truyền thuyết nhiên thần không nhiều chứng tỏ tín ngưỡng thờ tự nhiên và tín ngưỡng thờ vật tổ chỉ chiếm một vị trí rất hạn chế trong đời sống tín ngưỡng dân gian xứ Nghệ Song, nếu nhìn bằng con mắt linh động hơn, chúng ta sẽ thấy, con số khiêm tốn trên đây chỉ là bề nổi Tồn tại như một phương thức bảo lưu và truyền đạt tín ngưỡng thờ vật tổ và tín ngưỡng thờ tự nhiên, bộ phận truyền thuyết nhiên thần gần như có nhịp sống đồng hành với các tín ngưỡng dân gian nguyên thủy Do vậy, đây cũng là bộ phận truyền thuyết lâu đời nhất trong kho tàng truyền thuyết nói chung Lịch sử lâu dài cộng hưởng với cách thức lưu truyền đặc thù của văn học dân gian - truyền miệng và đặc trưng cấu trúc mở, biến đổi qua không gian và thời gian của thể loại đã tạo ra khả năng khoác lên mình nhiều lớp áo khác nhau cho mảng truyền thuyết nhiên thần Thế nên, con số ít ỏi của bộ phận truyền thuyết nhiên thần mà chúng tôi thống kê được trên đây chỉ là con số bề mặt gồm những truyền thuyết nhiên thần còn ở dạng nguyên bản Trong chế độ phong kiến, dưới áp

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Nghệ An, Lễ hội đền Quả Sơn, Nguồn http://www.thanglongtours.com/dia-danh-du-lich/Le-hoi-den-Qua-Son-479.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội đền Quả Sơn
Tác giả: Sở Văn hóa, thể thao và du lịch Nghệ An
2. Trần Thị An (1992), “Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện kể về Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm”, Tạp chí Văn học (5), tr.44 - 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự vận động của truyền thuyết về Mẫu qua những truyện kể về Liễu Hạnh và truyền thuyết về nữ thần Chăm”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1992
3. Trần Thị An (2000), Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2000
4. Trần Thị An (2000), “Yếu tố thời gian trong truyền thuyết dân gian”, Tạp chí Văn học (5), tr.65 - 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yếu tố thời gian trong truyền thuyết dân gian
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2000
5. Trần Thị An (2001), “Văn bản hóa truyện dân gian Việt Nam - nhìn từ cuối thế kỷ XX”, Tạp chí Văn học (5), tr.56 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản hóa truyện dân gian Việt Nam - nhìn từ cuối thế kỷ XX”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2001
6. Trần Thị An (2001), “Truyền thuyết vùng Luy Lâu với tiến trình lịch sử dân tộc”, Văn hóa dân gian (6), tr.24 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết vùng Luy Lâu với tiến trình lịch sử dân tộc”, "Văn hóa dân gian
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2001
7. Trần Thị An (2001), “Những biểu tượng không gian thiêng trong truyền thuyết dân gian người Việt”, Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biểu tượng không gian thiêng trong truyền thuyết dân gian người Việt”, "Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
8. Trần Thị An (2003), “Quan niệm về Thần và việc văn bản hóa truyền thuyết trong truyện văn xuôi trung đại”, Tạp chí Văn học (3), tr.35 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về Thần và việc văn bản hóa truyền thuyết trong truyện văn xuôi trung đại
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2003
9. Trần Thị An (2003), “Ca trù qua một số truyền thuyết”, Ca trù nhìn từ nhiều phía (Nguyễn Đức Mậu giới thiệu và biên soạn), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca trù qua một số truyền thuyết”, "Ca trù nhìn từ nhiều phía
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
10. Trần Thị An (2005), “Tái định hướng thể loại folklore”, Nghiên cứu văn học (1), tr.113 - 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định hướng thể loại folklore
Tác giả: Trần Thị An
Nhà XB: Nghiên cứu văn học
Năm: 2005
11. Trần Thị An (2008), “Sự hình thành truyền thuyết dân gian - Tìm hiểu sự hình thành truyền thuyết Tứ vị thánh nương (qua các nguồn thư tịch, truyền thuyết dân gian và tục thờ cúng)”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ ba Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành truyền thuyết dân gian - Tìm hiểu sự hình thành truyền thuyết Tứ vị thánh nương (qua các nguồn thư tịch, truyền thuyết dân gian và tục thờ cúng)”
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2008
12. Vi Văn An (1996), “Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Thái ở miền núi Nghệ An”, Văn hóa dân gian (2), tr.61 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Thái ở miền núi Nghệ An
Tác giả: Vi Văn An
Nhà XB: Văn hóa dân gian
Năm: 1996
13. Chiêng Xom An (1992), “Bàn thêm về thể loại truyền thuyết”, Văn hóa dân gian (2), tr.32 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về thể loại truyền thuyết”, "Văn hóa dân gian
Tác giả: Chiêng Xom An
Năm: 1992
14. Đào Duy Anh (1942), “Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta”, Tạp chí Tri Tân (30), tr.2 - 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta”, "Tạp chí Tri Tân
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1942
15. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
16. Phan Điệp Anh (1986), “Truyền thuyết Hùng Vương”, Văn hóa dân gian (1), tr. 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết Hùng Vương”, "Văn hóa dân gian
Tác giả: Phan Điệp Anh
Năm: 1986
17. Sỹ Tiến, Hoài Anh (1961), “Mỵ Châu - Trọng Thuỷ, bài thơ trữ tình ca ngợi tình yêu và lòng nhân đạo”, Tập san Nghiên cứu văn học (2), tr 78 - 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỵ Châu - Trọng Thuỷ, bài thơ trữ tình ca ngợi tình yêu và lòng nhân đạo”, "Tập san Nghiên cứu văn học
Tác giả: Sỹ Tiến, Hoài Anh
Năm: 1961
18. Ngọc Anh, Đào Lâm Tùng (1961), “Nên khai thác đánh giá truyện Mỵ Châu - Trọng Thuỷ như thế nào”, Tập san Nghiên cứu văn học (2), tr.82 - 87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nên khai thác đánh giá truyện Mỵ Châu - Trọng Thuỷ như thế nào
Tác giả: Ngọc Anh, Đào Lâm Tùng
Nhà XB: Tập san Nghiên cứu văn học
Năm: 1961
19. Lê Phương Anh (1961), “Góp ý kiến nhận định về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy”, Nghiên cứu văn học (4), tr.74 - 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý kiến nhận định về truyền thuyết Mỵ Châu - Trọng Thủy”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Phương Anh
Năm: 1961
20. Phương Anh (1974), “Truyền thuyết cổ tích Lam Sơn”, Tạp chí Văn học (1), tr.144- 145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết cổ tích Lam Sơn
Tác giả: Phương Anh
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1974

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng thống kê, phân loại truyền thuyết dân gian xứ Nghệ - Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
Bảng 1 Bảng thống kê, phân loại truyền thuyết dân gian xứ Nghệ (Trang 209)
Bảng 2: Bảng phân loại truyền thuyết nhân vật - Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
Bảng 2 Bảng phân loại truyền thuyết nhân vật (Trang 221)
Bảng 3: Bảng thống kê các truyền thuyết biến dạng - Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
Bảng 3 Bảng thống kê các truyền thuyết biến dạng (Trang 224)
Bảng 4: Bảng khảo sát kết cấu truyền thuyết - Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
Bảng 4 Bảng khảo sát kết cấu truyền thuyết (Trang 225)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w