Lê Trường Phát, luận văn cao học của tác giả Lò Bình Ninh, Ngô Thị Thanh Quý, Lò Xuân Dừa, Nguyễn Ngọc Anh… Những đề tài nghiên cứu này đã góp phần khẳng định truyện thơ Thái có ý nghĩa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
LÊ THỊ HIỀN
KHẢO SÁT VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TRUYỆN THƠ
TIÊU BIỂU CỦA NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
LÊ THỊ HIỀN
KHẢO SÁT VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TRUYỆN THƠ
TIÊU BIỂU CỦA NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 62 22 36 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
TS Nguyễn Thị Nguyệt
Hà Nội – 2013
Trang 3BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
HTTVV.Nam : Hợp tuyển thơ văn Việt Nam
HTVH.Lào : Hợp tuyển văn học Lào
KHC.Thần : Kim hồ chi thần
Nxb : Nhà xuất bản
TĐVHĐN.Á : Từ điển văn học Đông Nam Á
TTDT.Thái : Truyện thơ dân tộc Thái
TTTOT.Bắc : Truyện thơ Thái ở Tây Bắc
TTTCDG.Thái : Truyện thơ trường ca dân gian Thái
TTVHCDTTSV.Nam : Tuyển tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam TTVHDGCDTTSV.Nam : Tuyển tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số
TTVHINOV.Nam : Tuyển tập văn học ít người ở Việt Nam
TTVHV.Nam : Tuyển tập văn học Việt Nam
TTVĐDTOMTN.An : Truyện thơ và đồng dao Thái ở miền Tây Nghệ An
tr : trang
VHDGT.Lan : Văn hóa dân gian Thái Lan
VHDTI.Người : Văn học dân tộc ít người
VHTN.An : Văn hóa Thái Nghệ An
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
2.1 Điểm lại việc sưu tầm, công bố truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam 3
2.2 Lịch sử nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và truyện thơ Thái ở Việt Nam nói riêng 8
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 19
3.1 Đối tượng nghiên cứu 19
3.2 Phạm vi nghiên cứu 19
3.3 Phạm vi tư liệu khảo sát 20
4 Phương pháp nghiên cứu 21
5 Những đóng góp mới của luận án 22
6 Cấu trúc luận án 23
NỘI DUNG 23
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI THÁI VÀ TRUYỆN THƠ THÁI Ở VIỆT NAM 24
1.1 Tổng quan về tộc người Thái ở Việt Nam 24
1.1.1 Địa bàn cư trú, dân cư, dân số 24
1.1.2 Lịch sử phát triển tộc người 26
1.1.3 Đặc trưng văn hóa tộc người 29
1.2 Một số vấn đề về truyện thơ các dân tộc thiểu số 35
1.2.1 Khái niệm truyện Nôm và truyện thơ các dân tộc thiểu số 35
1.2.2 Đặc điểm truyện thơ các dân tộc thiểu số 38
1.3 Truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam 44
1.3.1 Khảo sát số lượng truyện thơ Thái 44
1.3.2 Phân loại truyện thơ Thái 46
1.3.3 Nguồn khai thác đề tài cốt truyện của truyện thơ Thái 54
1.3.4 Dị bản và vấn đề địa phương hóa cốt truyện 64
CHƯƠNG 2: KẾT CẤU CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT VÀ NGÔN NGỮ TRUYỆN THƠ 72
2.1 Kết cấu cốt truyện truyện thơ Thái 72
2.1.1 Dạng kết cấu cốt truyện dựa trên nội dung của dân ca 73
2.1.2 Dạng kết cấu cốt truyện dựa trên cốt truyện của truyện cổ tích 76
Trang 52.1.3 Vấn đề sử dụng motif truyện cổ dân gian trong truyện thơ Thái 83
2.1.4 Mô hình kết cấu cốt truyện 90
2.2 Nhân vật truyện thơ Thái 100
2.2.1 Khảo sát loại hình nhân vật truyện thơ 100
2.2.2 Xu hướng biến đổi của nhân vật truyện thơ so với dân ca và truyện cổ 114
2.3 Ngôn ngữ truyện thơ Thái 118
2.3.1 Chất trữ tình trong ngôn ngữ truyện thơ Thái 118
2.3.2 Hiện tượng đan xen ngôn ngữ và việc sử dụng điển cố, điển tích 129
2.3.3 Công thức mở đầu – kết thúc và chuyển đoạn 134
CHƯƠNG 3: TRUYỆN THƠ THÁI Ở VIỆT NAM TRONG TƯƠNG QUAN SO SÁNH LOẠI HÌNH VỚI TRUYỆN THƠ THÁI Ở MỘT SỐ NƯỚC 143
3.1 Truyện thơ Thái ở Vân Nam (Trung Quốc) và một số nước Đông Nam Á 143
3.1.1 Truyện thơ Thái ở Vân Nam (Trung Quốc) 143
3.1.2 Truyện thơ Thái ở Thái Lan 151
3.1.3 Truyện thơ Thái ở Lào 161
3.2 Sự tương đồng và khác biệt giữa truyện thơ Thái ở Việt Nam với truyện thơ Thái ở Vân Nam (Trung Quốc) và một số nước Đông Nam Á 168
3.2.1 Nguồn đề tài cốt truyện 169
3.2.2 Kết cấu cốt truyện 175
3.2.3 Nhân vật 184
3.3 Lý giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt 188
3.3.1 Lý giải nguyên nhân của sự tương đồng 189
3.3.2 Lý giải nguyên nhân của sự khác biệt 196
KẾT LUẬN 204
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 208
TÀI LIỆU THAM KHẢO 209
PHỤ LỤC 226
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Truyện thơ là thể loại có vị trí quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam Truyện thơ ra đời đã đánh dấu bước phát triển mới của văn học các dân tộc (dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số) Từ trước đến nay, việc đi sâu nghiên cứu thể loại truyện thơ theo từng dân tộc luôn là một hướng đi mới mẻ và thu được nhiều thành tựu Tuy nhiên, việc nghiên cứu thể loại truyện thơ theo hướng này đang
còn dừng lại ở mức độ khiêm tốn với hai công trình nghiên cứu: Truyện Nôm,
của GS Kiều Thu Hoạch và Truyện thơ
Tày – nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại của PGS Vũ Anh
Tuấn Hiện nay, thể loại truyện thơ của nhiều dân tộc thiểu số khác như: dân tộc Thái, dân tộc Chăm, dân tộc Mường, dân tộc Mông… vẫn chưa được giới khoa học nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống
1.2 Ở Việt Nam, dân tộc Thái là một trong những dân tộc thiểu số có số dân đông (sau dân tộc Tày), đồng thời giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước Dân tộc Thái tập trung sinh sống chủ yếu ở các tỉnh: Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An Trong quá trình phát triển lâu dài, dân tộc Thái đã sáng tạo nên một nền văn học dân gian phong phú Văn học dân gian của dân tộc Thái phong phú và đa dạng với nhiều thể loại: sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ,
ca dao, tục ngữ, Tất cả được xem là vật thiêng của dân tộc, là hồn của bản, của mường Trong kho tàng văn học dân gian ấy, truyện thơ là thể loại chiếm số lượng lớn và có giá trị độc đáo
1.3 Truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam từ trước đến nay đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, giới nghiên cứu trong cả nước Truyện thơ của dân tộc Thái có vinh dự công bố đầu tiên với tác phẩm
vào năm 1957 Tiếp nối hành trình của Điêu Chính Ngâu, nhiều truyện thơ Thái sau đó lần lượt được sưu tầm, biên dịch bởi các nhà sưu tầm, các dịch giả giàu
1 Trước đây có tên là Truyện Nôm – nguồn gốc và bản chất thể loại (1992)
2 Tên tác phẩm là chữ dùng của dịch giả Điêu Chính Ngâu
Trang 7tâm huyết như: Mạc Phi, Lò Văn Cậy, Vương Trung, Quán Vi Miên (La Quán Miên), Tô Hợp, Đỗ Thị Tấc,… Đó là chưa kể đến những công trình nghiên cứu
có ý nghĩa quan trọng như: luận án Tiến sĩ Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân
tộc thiểu số của PGS Lê Trường Phát, luận văn cao học của tác giả Lò Bình
Ninh, Ngô Thị Thanh Quý, Lò Xuân Dừa, Nguyễn Ngọc Anh… Những đề tài nghiên cứu này đã góp phần khẳng định truyện thơ Thái có ý nghĩa quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam Tuy nhiên, việc nghiên cứu truyện thơ Thái từ trước đến nay đang còn khiêm tốn so với tầm vóc của nó trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Chúng tôi nhận thấy rằng truyện thơ của dân tộc Thái nhìn chung vẫn là một đối tượng có sức hấp dẫn mạnh mẽ để đi sâu nghiên cứu Bằng việc nghiên cứu truyện thơ Thái thông qua một số tác phẩm tiêu biểu, chúng tôi muốn góp phần nhỏ bé của mình trong hành trình đi chinh phục và tìm kiếm những giá trị đích thực của cuộc sống 1.4 Hiện nay, thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam được sưu tầm và công bố với một số lượng lớn tác phẩm Tuy nhiên, khoảng nửa số lượng tác phẩm ấy vẫn chưa được dịch sang tiếng phổ thông Do vậy, đề tài luận án chỉ giới hạn nghiên cứu qua một số tác phẩm tiêu biểu (cụ thể là những tác phẩm đã được dịch sang tiếng phổ thông) Việc nghiên cứu truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam qua một số tác phẩm cụ thể sẽ tập trung làm rõ được những đặc điểm riêng mang tính đặc thù của truyện thơ dân tộc Thái bên cạnh những đặc điểm chung mang tính phổ quát của thể loại truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận án
là Khảo sát và nghiên cứu một số truyện thơ tiêu biểu của người Thái ở Việt
Nam Với đề tài này, chúng tôi hy vọng sẽ có một cái nhìn hệ thống, tổng quát về
truyện thơ của dân tộc Thái trong tương quan với truyện Nôm của dân tộc Kinh
và truyện thơ các dân tộc thiểu số, đồng thời chúng tôi cũng góp thêm những tư liệu quý báu mà chúng tôi sưu tầm được để làm phong phú thêm diện mạo của thể loại truyện thơ ở Việt Nam
Trang 82 Lịch sử vấn đề
2.1 Điểm lại việc sưu tầm, công bố truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam
Trong Lời mở đầu của Tổng hợp văn học dân gian các dân tộc thiểu số (tập 21) [97, tr 15-43], GS Nguyễn Xuân Kính đã có một cái nhìn khá bao quát
và toàn diện về việc sưu tầm, công bố truyện thơ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam theo từng dân tộc, trong đó có dân tộc Thái Trong quá trình nghiên cứu, luận án
đã kế thừa những kết quả khảo sát trước đó của GS Nguyễn Xuân Kính, đồng thời bổ sung thêm những tư liệu mới (cụ thể là những tư liệu về truyện thơ được sưu tầm và công bố từ năm 2009 đến nay) để đưa ra một cách hệ thống và đầy đủ hơn về công tác sưu tầm, công bố truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam
Năm 1957, lần đầu tiên truyện thơ của dân tộc Thái được đến với bạn đọc
cả nước với tác phẩm Xống chụ xon xao Bản dịch truyện thơ do Điêu Chính
Ngâu thực hiện, sách được Nxb Hội Nhà văn Hà Nội xuất bản
Năm 1958, tác phẩm Xống chụ xon xao (Điêu Chính Ngâu, Hà Hem, Cầm
Biêu khảo đính) được Sở Văn hóa khu tự trị Thái Mèo xuất bản, bản tiếng Việt dài hơn bản đầu tiên (1957) là 30 câu (theo nhận xét của Mạc Phi)
Năm 1960, các tác giả Hà Hem, Lò Văn Cậy, Mạc Phi khảo đính và biên
soạn bản Xống chụ xon xao (tiếng Thái) Ở bản này những chỗ lầm lẫn trong tác
phẩm đã được chỉnh sửa lại, cho nên diễn biến và tình tiết truyện có sự nhất quán
từ đầu đến cuối tác phẩm Tiếp năm sau đó, dựa vào bản tiếng Thái in năm 1960 Nxb Văn hóa (Hà Nội) đã công bố bản dịch tiếng Việt, ở bản dịch này nhà văn Mạc Phi đã khảo dị và chú thích hết sức cẩn thận và kĩ lưỡng
Năm 1962, truyện thơ Thái thứ hai được trích dịch đó là Khun Lú nàng Ủa (Mạc Phi trích dịch) Bản truyện thơ này cùng với truyện Xống chụ xon xao được đưa vào phần Văn học thiểu số trong bộ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam do Nông
Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Mạc Phi, Hoàng Thao, Hà Văn Thư biên soạn Đến tháng 8/1962 Sở Văn hóa khu tự trị Thái Mèo đã cho công bố một văn bản
Khun Lú nàng Ủa in máy, nguyên văn tiếng Thái, dài 1912 câu Văn bản này
được sưu tầm ở huyện Mường La – Sơn La
Trang 9Năm 1964, bản dịch Chàng Lú nàng Ủa của Mạc Phi được xuất bản tại
Nxb Văn học, Hà Nội Ở cuốn sách này, Mạc Phi đã khảo dị, chú thích rất kĩ lưỡng, cẩn thận và đặc biệt là phần phụ lục tác giả đã đưa thêm truyện cổ cùng tên của dân tộc Xá để bạn đọc có điều kiện so sánh, đối chiếu
Năm 1973, truyện thơ Khăm Panh xuất bản lần đầu tiên bởi Ty Văn hóa
Thanh Hóa năm 1973, xuất bản lần tiếp theo bởi Nxb Văn hóa dân tộc năm 1977
Ở cuốn sách này có cả phần phiên âm tiếng Thái và bản dịch sang ngôn ngữ phổ thông, do Bùi Văn Tiên, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân đảm nhiệm, Vũ Ngọc Khánh viết lời giới thiệu
Năm 1973, truyện thơ Xống chụ xon xao (Mạc Phi dịch) được Nxb Văn
học tái bản, có sửa chữa cẩn thận Tuy nhiên, ở cuốn sách này chỉ có bản dịch sang ngôn ngữ phổ thông, không có phần phiên âm
Năm 1977, Nxb Văn hóa dân tộc tái bản Xống chụ xon xao (dùng bản dịch của Mạc Phi) và Khăm Panh (dùng bản dịch của Bùi Văn Tiên, Vương Anh,
Hoàng Anh Nhân đã xuất bản năm 1973)
Năm 1979, bốn truyện thơ Thái: Tiễn dặn người yêu (Mạc Phi dịch),
Chàng Lú nàng Ủa (Mạc Phi dịch), Khăm Panh (Bùi Văn Tiên, Vương Anh,
Hoàng Anh Nhân sưu tầm, dịch), Tóng Đón Ăm ca (Lò Văn Sỹ dịch) được đưa vào quyển 2 trong Tuyển tập văn học dân tộc ít người (do Nông Quốc Chấn chủ
biên, Hoàng Thao, Hà Văn Thư, Mạc Phi, Trần Văn Tấn biên soạn, chú giải)
Năm 1990, truyện thơ Ú Thêm (Hà Văn Ban, Hoàng Anh Nhân sưu tầm
và biên dịch tại Thanh Hóa) được Nxb Khoa học Xã hội công bố Ở cuốn sách này có 3 phần: phần thứ nhất nguyên bản chữ Thái, phần thứ hai là bản phiên âm tiếng Thái và phần thứ ba là bản dịch ra ngôn ngữ phổ thông, lời giới thiệu do
GS Đặng Nghiêm Vạn viết
Năm 1992, ba truyện thơ Thái từng được công bố: Xống chụ xon xao (bản dịch của Điêu Chính Ngâu), Ú Thêm (bản dịch của Hà Văn Ban, Hoàng Anh Nhân), Chàng Lú nàng Ủa (bản dịch của Mạc Phi in năm 1964) được đưa vào quyển thứ hai trong Tuyển tập Văn học ít người ở Việt Nam do Nxb Khoa học Xã
Trang 10hội ấn hành Cuốn sách này do GS Đặng Nghiêm Vạn chủ biên cùng với một số tác giả khác Tác phẩm đã kế thừa các thành tựu đã công bố trước đó
Năm 1993, truyện thơ Hiến Hom Cầm Đôi (Hiễn Hom Cẵm Đôi) được
Nxb Văn hóa dân tộc công bố Cuốn sách này do tác giả Lò Văn Cậy sưu tầm và biên soạn, Đinh Văn Ân dịch và tóm tắt cốt truyện Truyện được sưu tầm ở Sơn
La ngày 24/6/1990, bản phiên âm chữ Thái gồm 1520 câu thơ
Năm 1996, bốn truyện thơ: Trông Mường, Chim Phượng Hoàng, Tạo Hún
Lu nang Ùa Piểm, Nàng Căm chàng Ín (La Quán Miên sưu tầm và dịch) được
đưa vào cuốn sách Truyện thơ và đồng dao Thái ở miền Tây Nghệ An do Nxb
Nghệ An ấn hành Mỗi tác phẩm đều có phần phiên âm tiếng Thái và bản dịch sang ngôn ngữ phổ thông, cuối phần phiên âm tiếng Thái có ghi rõ họ tên, địa chỉ người cung cấp tư liệu tác phẩm Tuy nhiên, chúng tôi cũng đồng ý với ý kiến của
GS Nguyễn Xuân Kính trong Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số cho
rằng “hai tác phẩm đầu thuộc về dân ca, không phải truyện thơ” [97, tr 30]
Trong hai năm 1997-1998, Hội Văn học Nghệ thuật và Sở Văn hoá Thông
tin – Thể thao Sơn La công bố bộ sách Truyện thơ trường ca dân gian Thái gồm
ba tập bằng tiếng Thái cổ (không có bản phiên âm tiếng Thái và bản dịch sang
ngôn ngữ phổ thông), trong đó tập 1 giới thiệu mười truyện: Xống chụ xon xao,
Khun Lú nàng Ủa, Ý Đón Ý Đăm, Ý Nọi Náng Xưa, Náng Ý Tú, Náng Phôn Hom, Tạo Láng Hôm Náng Hai, Hiến Hom, Tóng Đón Ăm Ca, Xông Ca Xy Cáy; tập 2
giới thiệu mười một truyện thơ: Quắm Khun Tính, Quắm Ca Đông, Quắm Kén
Kẻo, Út Ỏ, Ngú Háo, U Thến, Thi Thốn, Pha Mệt, Pha Cáng, Thi Thặt, Náng Cống Cắm Đanh; tập 3 giới thiệu hai truyện: Trái Kắm, Tạo Sam Lướng và nàng Inh Lái
Năm 1999, truyện thơ Ý Nọi nàng Xưa (Lò Ngọc Duyên sưu tầm và dịch)
được công bố bởi Nxb Văn hóa dân tộc Cuốn sách gồm năm phần: Lời giới thiệu, tóm tắt nội dung, phần dịch sang ngôn ngữ phổ thông, phần tiếng Thái, phần chữ Thái cổ
Cũng năm 1999, Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam do Viện Văn học
chủ trì đã được công bố Công trình gồm năm tập (Nxb Giáo dục ấn hành), trong
Trang 11đó tập V dành cho sử thi và truyện thơ Phần truyện thơ Thái có bốn tác phẩm
được biên soạn và tuyển chọn, đó là: Khun Lú nàng Ủa, Tiễn dặn người yêu, Tạo
Hủn Lu nang Ùa Piểm (Tào Hủn Lu Náng Ông Yềm), Chim Yểng Các truyện thơ
này được biên soạn chỉ có phần dịch thơ sang ngôn ngữ phổ thông, không có phần phiên âm tiếng Thái và chữ Thái cổ
Năm 2000, Tổng tập Văn học Việt Nam do Nxb Khoa học Xã hội tái bản
gồm 42 tập, phần truyện thơ các dân tộc thiểu số gồm truyện thơ Thái, trong đó
có ba tác phẩm: Tiễn dặn người yêu, Khun Lú nàng Ủa, U Thềm (những truyện
này đã được công bố năm 1996)
Cũng năm 2000, cuốn sách Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) do
Nguyễn Khôi biên soạn được Nxb Văn hóa dân tộc ra mắt bạn đọc Cuốn sách gồm bản chữ Thái, bản dịch thơ, chú thích của Mạc Phi, bản phiên âm tiếng Thái, bản dịch thơ của Điêu Chính Ngâu, bản chuyển sang ngôn ngữ phổ thông của Nguyễn Khôi, bài viết của Vương Trung, bài viết của Nguyễn Khôi Sau khi cuốn sách được công bố đã có nhiều ý kiến trái chiều, tuy nhiên cũng phải công nhận tâm huyết và đóng góp của tác giả đối với nền văn học Thái
Năm 2002, Nxb Đà Nẵng công bố bộ sách Tổng tập Văn học các dân tộc
thiểu số Việt Nam do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên Bộ sách gồm bốn tập, tập IV
dành cho truyện thơ với việc giới thiệu bốn truyện: Tiễn dặn người yêu, Chàng
Lú nàng Ủa, U Thềm, Út Ỏ về Kinh Bốn truyện thơ này không có phần tiếng dân
tộc, chỉ có bản dịch sang ngôn ngữ phổ thông Tuy nhiên, trong bộ sách này,
truyện thơ Út Ỏ về Kinh chỉ được trích dịch một phần tác phẩm
Năm 2003, truyện thơ Thái Tình anh em (pi noọng lẩu khôm, pi noọng
đôn nâu) do Tô Hợp sưu tầm và biên dịch, được Nxb Văn hóa dân tộc ấn hành
Bản truyện thơ này có phần phiên âm tiếng Thái và phần dịch sang tiếng phổ thông
Năm 2009, truyện thơ Cẩu tô cốp (Vi Hoàng Sương sưu tầm và biên dịch)
được Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Lai Châu xuất bản Bản truyện thơ này đã có phần chữ Thái cổ, phần phiên âm tiếng Thái và phần dịch sang tiếng phổ thông
Năm 2010, Nxb Văn hóa dân tộc đã xuất bản bộ sách Truyện thơ dân tộc
Thái gồm ba tập (Đỗ Thị Tấc chủ biên, Điêu Văn Thuyên sưu tầm và biên dịch)
Tập 1 gồm hai tác phẩm: Chàng Đông Vinh và nàng Tiên Út, Tạo Hoàng Tíu và
Trang 12nàng Công chúa Tập 2 gồm một tác phẩm là Lang Chang Nguyên Tập 3 gồm
hai tác phẩm là Tạo An Đức và nàng Chiêu Công, Tạo Xam Lương và nàng Anh
Đài Các truyện thơ này bao gồm phần phiên âm ra tiếng Thái và dịch sang tiếng
phổ thông
Cũng năm 2010, truyện thơ Tạo Sông Ca nàng Si Cáy (Lương Thị Đại sưu
tầm và biên dịch) được Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản Truyện thơ có phần chữ Thái cổ, phiên âm tiếng Thái và bản dịch sang tiếng phổ thông
Năm 2011, truyện thơ Khủn Tinh (Quán Vi Miên sưu tầm và biên dịch) được in trong cuốn Văn hóa Thái Nghệ An do Nxb Lao động ấn hành Truyện thơ
này được Quán Vi Miên phiên âm ra tiếng Thái và dịch sang tiếng phổ thông
Cũng năm 2011, truyện thơ Kén Kẻo (Vương Trung biên dịch) được in trong cuốn sách Táy pú xấc – Kén Kẻo (Truyện thơ Thái ở Tây Bắc) do Nxb Lao động ấn hành Theo tác giả Vương Trung thì Táy pú xấc cũng là truyện thơ,
nhưng theo chúng tôi đây là tác phẩm thuộc thể loại sử thi nên chúng tôi không
đưa tác phẩm này vào đối tượng nghiên cứu Truyện thơ Kén Kẻo được Vương
Trung phiên âm tiếng Thái và dịch sang tiếng phổ thông
Như vậy, từ năm 1957 đến nay số lượng truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam được sưu tầm và công bố là khá phong phú, đa dạng Hiện nay, đã có
33 truyện thơ được công bố, trong đó 12 truyện thơ chỉ mới được công bố bằng bản chữ Thái cổ và 21 truyện thơ được phiên âm tiếng Thái và dịch sang tiếng phổ thông Những truyện thơ đã được phiên âm tiếng Thái và dịch sang tiếng phổ
thông đó là: Xống chụ xon xao, Khun Lú Nàng Ủa, Hiến Hom Cầm Đôi, Tạo
Sông Ca nàng Si Cáy, Ý Nọi nàng Xưa, Tình anh em, Tóng Đón Ăm Ca, Khăm Panh, Ú Thêm, Tạo Hủn Lu Nang Ùa Piểm, Nàng Căm Chàng Ín, Khủn Tinh, Kén Kẻo, Cẩu tô cốp, Chim Yểng, Chàng Đông Vinh và nàng Tiên Út, Tạo Hoàng Tíu và nàng Công chúa, Tạo An Đức và nàng Chiêu Công, Tạo Xam Lương và nàng Anh Đài, Lang Chang Nguyên, Út Ỏ về Kinh
Trang 132.2 Lịch sử nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và truyện thơ Thái ở Việt Nam nói riêng
2.2.1 Những công trình nghiên cứu về truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Truyện thơ các dân tộc thiểu số là thể loại độc đáo trong bộ phận văn học dân gian Việt Nam Thể loại truyện thơ từ khi ra đời đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và giới nghiên cứu trong cả nước Trong những năm 60, truyện thơ được nghiên cứu mới chỉ dừng lại là những bài giới thiệu mở đầu các cuốn sách sưu tầm, hợp tuyển, những bài tạp chí… Đến những năm 80 của thế kỷ
XX, truyện thơ được khẳng định là một thể loại riêng với các công trình nghiên
cứu như: Lịch sử văn học Việt Nam (tập 1, năm 1980) của nhà nghiên cứu Nông Quốc Chấn và GS TSKH Phan Đăng Nhật, Văn học các dân tộc thiểu số Việt
Nam (1981) của GS TSKH Phan Đăng Nhật, Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam (1983) của PGS Võ Quang Nhơn… Đặc biệt, đến những năm
90, truyện thơ được xác lập là thể loại độc đáo với công trình nghiên cứu đầy
công phu của PGS Lê Trường Phát Đặc điểm truyện thơ các dân tộc thiểu số
(năm 1997) Sau đây, chúng tôi điểm lại kết quả nghiên cứu đã đạt được của một
số công trình trên để thấy được những bước ngoặc quan trọng trong hành trình nghiên cứu thể loại truyện thơ các dân tộc thiểu số
Công trình nghiên cứu Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (trước cách
mạng tháng 8) của GS TSKH Phan Đăng Nhật xuất bản năm 1981 GS.TSKH
Phan Đăng Nhật đã dành hẳn chương IV để bàn về thể loại truyện thơ Truyện thơ được chia ba loại (căn cứ vào đề tài phản ánh): truyện thơ về đề tài tình yêu, truyện thơ về đề tài nghèo khổ và truyện thơ về đề tài chính nghĩa Bằng việc phân tích một số truyện thơ tiêu biểu của từng nhóm, tác giả kết luận: “truyện thơ bắt nguồn từ dân ca và truyện kể, đã phát huy những đặc điểm về nghệ thuật của các loại hình này, do đó nó có khả năng diễn tả mọi tình cảm tinh vi, phức tạp, lại vừa hấp dẫn người nghe bằng phương pháp kể chuyện lý thú Nhân dân đã tiếp thu được giá trị tự sự và giá trị trữ tình của các loại hình văn học dân gian kết hợp lại trong một loại hình mới là truyện thơ” [139, tr 207-208] Công trình nghiên cứu về thể loại truyện thơ các dân tộc thiểu số của GS TSKH Phan Đăng Nhật đã gợi mở cho chúng ta con đường để nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số, trong đó có truyện thơ Thái
Trang 14Năm 1983, PGS Võ Quang Nhơn trong Giáo trình của Đại học Tổng hợp
Hà Nội Văn học dân gian các dân tộc ít người đã bàn về truyện thơ các dân tộc
thiểu số một cách toàn diện, tổng thể Trong công trình này, căn cứ theo phương thức diễn xướng, lưu truyền và nguồn gốc kế thừa của truyện thơ các dân tộc, tác giả chia thể loại truyện thơ thành bốn nhóm lớn sau đây [150, tr 396-540]: nhóm truyện thơ gắn liền với sinh hoạt nghi lễ dân gian, nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian, nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca, nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức của truyện Nôm Kinh Sau khi phân tích một số tác phẩm cụ thể ở từng nhóm truyện và chỉ ra đặc điểm riêng của từng nhóm, tác giả đi đến kết luận “Truyện thơ một mặt kế thừa và phát triển truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian và thơ ca dân gian, một mặt tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa bác học và đặc biệt
là của văn học bác học Việt… Ở một số dân tộc ít người thể loại truyện thơ đánh dấu bước phát triển mới của văn học dân gian” [150, tr 450] Như vậy, với công trình nghiên cứu này truyện thơ đã được xem xét một cách toàn diện và tổng thể
về mặt nội dung và cả phương diện thi pháp
Việc nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số với tư cách là thể loại độc
đáo được đánh dấu bằng công trình nghiên cứu của PGS Lê Trường Phát Đặc
điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số (1997) Trong công trình nghiên
cứu của mình, sau khi xem xét truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam trong bối cảnh truyện thơ các nước Đông Nam Á, tác giả đi sâu tìm hiểu đặc điểm thi pháp của truyện thơ các dân tộc thiểu số qua việc khảo sát chủ yếu trên 6 truyện thơ Thái và 14 truyện thơ Tày Về mô hình cốt truyện của truyện thơ các dân tộc thiểu số, tác giả đã đưa ra nhận xét: mô hình kết cấu cốt truyện có “kết thúc bi kịch” là mô hình kết cấu phổ biến và tiêu biểu Mô hình kết cấu cốt truyện của
truyện thơ các dân tộc thiểu số gồm với ba chặng: Gặp gỡ và yêu nhau – Bị ngăn
trở, rẽ duyên – Một hoặc cả hai đều chết Ở tất cả các nhóm truyện, hầu như kết
cấu cốt truyện kiểu “kết thúc bi kịch” chiếm tỷ lệ lấn át kết cấu cốt truyện kiểu
“kết thúc có hậu”, riêng ở nhóm truyện thơ Tày – Nùng thì tình hình ngược lại
Về nhân vật truyện thơ, qua việc phân tích một số truyện thơ tiêu biểu, tác giả
Trang 15đưa ra kết luận “Truyện thơ đã chú ý khắc họa nội tâm nhân vật – trong việc này lời ca đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, nhân vật truyện thơ vẫn chưa đạt đến trình độ cá tính hóa cao độ, dân ca được truyện thơ sử dụng mới chỉ ở mức độ cụ thể hóa gắn vào một đường dây cốt truyện nhất định, được nhân vật chủ thể hóa thành lời của mình, khớp với cảnh ngộ cụ thể của mình” [152, tr 154] Khi xem xét phương diện ngôn ngữ, tác giả đã đưa ra một vài điểm cần lưu ý về phương pháp luận nghiên cứu ngôn ngữ truyện thơ các dân tộc thiểu số thông qua bản dịch, đó là: chú ý đến khoảng cách văn hóa giữa lời thơ dịch với lời thơ nguyên văn, chú ý sự thay đổi phong cách học từ bản dịch so với nguyên bản trong việc
sử dụng từ ngữ và kiểu câu, chú ý đến khoảng cách có tính thời đại giữa bản dịch với nguyên bản thể hiện ở giọng điệu lời thơ Luận án cũng đi sâu tìm hiểu một
số đặc điểm của ngôn ngữ truyện thơ các dân tộc thiểu số như: công thức mở đầu
- kết thúc và chuyển đoạn, hiện tượng đan xen ngôn ngữ trong một truyện thơ, truyện thơ và việc sử dụng dân ca
Mặc dù chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở số lượng là 20 tác phẩm (một
số lượng quá ít so với một khối lượng tác phẩm khá phong phú của thể loại), mặc
dù công trình chủ yếu nghiên cứu ở truyện thơ Thái và truyện thơ Tày, nhưng những đóng góp của PGS Lê Trường Phát trong luận án đã có vai trò quan trọng trong việc mở ra con đường nghiên cứu thi pháp văn học dân gian nói chung và thi pháp thể loại truyện thơ nói riêng
Ngoài những công trình nghiên cứu về truyện thơ các dân tộc thiểu số nói chung mà chúng tôi đã đề cập ở trên, trong lịch sử nghiên cứu còn xuất hiện một
số công trình nghiên cứu thể loại truyện thơ của một dân tộc thiểu số cụ thể Tiêu
biểu là công trình nghiên cứu Truyện thơ Tày – nguồn gốc, quá trình phát triển
và thi pháp thể loại của PGS Vũ Anh Tuấn (năm 2004) Chuyên luận không chỉ
nghiên cứu thể loại truyện thơ của dân tộc Tày ở phương diện thi pháp (kết cấu cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ) mà còn đi sâu nghiên cứu về nguồn gốc hình thành thể loại và những đặc điểm của quá trình phát triển truyện thơ Tày Những nghiên cứu của tác giả cũng đã vạch ra cho chúng tôi hướng đi để nghiên cứu truyện thơ của dân tộc Thái
Trang 162.2.2 Lịch sử nghiên cứu truyện thơ Thái ở Việt Nam
Nghiên cứu truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam cho đến nay chỉ mới dừng lại đa số ý kiến của những nhà sưu tầm, dịch và giới thiệu ở một số tác phẩm lẻ tẻ chứ chưa có một công trình nghiên cứu nào xem xét truyện thơ trong toàn cảnh của một thể loại văn học Tuy nhiên, những ý kiến đánh giá ở góc độ này hay góc độ khác của các nhà nghiên cứu lại là những ý kiến quý báu cho chúng tôi khi nghiên cứu thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam dưới góc độ thi pháp
Lịch sử nghiên cứu truyện thơ Thái ở Việt Nam được bắt đầu với bài giới
thiệu về truyện thơ Tiễn dặn người yêu của Điêu Chính Ngâu vào năm 1957 Bài viết đề cập đến truyện thơ Tiễn dặn người yêu ở nhiều khía cạnh khác nhau Về hoàn cảnh ra đời của truyện thơ, Tiễn dặn người yêu được “ức đoán” có thể được
sáng tác từ thời kỳ dân tộc Thái đã yên cư ở Tây Bắc Việt Nam và bắt đầu phồn thịnh, nghĩa là tác phẩm được hình thành trong không gian và thời gian bản địa Việt Nam Dù chỉ dừng lại ở việc “ức đoán” nhưng phần nào tác giả cũng đã khẳng định về tính dân tộc của tác phẩm Vấn đề thứ hai lời giới thiệu đề cập đến
là tình cảm yêu mến trân trọng của nhân dân đối với tác phẩm Lời giới thiệu cho biết rằng nhiều người đã thuộc lầu toàn bộ truyện thơ này và khi hát lên những lời thơ trong tác phẩm thì “chị hái rau quên bẵng hái rau, anh cày ruộng buông
tay cày”, rằng những ai chép hộ Tiễn dặn người yêu có thể được trả công “bằng
giá một con trâu” Vấn đề thứ ba là tác phẩm chủ yếu được lưu truyền bằng con đường truyền miệng, được hát lên trong sinh hoạt văn nghệ dân gian, được trích
ra từng đoạn để hát lên trong sinh hoạt văn nghệ dân gian Vấn đề thứ tư mà lời giới thiệu đã nêu lên là giá trị phản ánh xã hội của tác phẩm và giá trị về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của tác phẩm Đó là thứ ngôn ngữ giản dị mà trau chuốt, một thứ ngôn ngữ trong sáng nhất, dân tộc nhất, ít bị pha tạp [135] Chỉ với một bài giới thiệu nhưng tác giả Điêu Chính Ngâu đã khái quát được một số vấn đề
cơ bản về truyện thơ (nội dung, nghệ thuật, phương thức diễn xướng), đặc biệt tác giả đã khẳng định được sức sống của tác phẩm trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Thái
Trang 17Sau khi xuất hiện bài giới thiệu của tác giả Điêu Chính Ngâu, trong những năm tiếp theo đã có nhiều bài giới thiệu, đánh giá, bình luận khác nhau về truyện
thơ này Đặc biệt là bài giới thiệu của Mạc Phi (đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn
học, số 5, năm 1961) đã được sử dụng làm lời giới thiệu cho Tiễn dặn người yêu
trong những lần xuất bản sau của tác phẩm Ở bài viết này, Mạc Phi đã phân tích
về giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Về giá trị nội dung, tác giả cho rằng truyện thơ đã thể hiện một cách sâu sắc một mối tình thủy chung, trong trắng của hai nhân vật Anh yêu và Em yêu, đồng thời đó là một tiếng hát đấu tranh chống lại chế độ xã hội phong kiến Thái lúc bấy giờ Tác giả cũng nêu lên
sự hạn chế trong việc kết thúc truyện của tác phẩm bằng sự tình cờ ngẫu nhiên của số phận Cách kết thúc ấy khiến cho người đọc thấy thiếu thiếu một cái gì đấy ở phần cuối truyện Về đặc điểm nghệ thuật, tác giả cho rằng “trong truyện các sự kiện, hành động đều được xếp đặt cho nối tiếp nhau tương đối liên tục, hợp lý” và “truyện thơ đặc biệt chú ý đến sự phát triển của tâm lý nhân vật, các trạng thái tâm hồn phức tạp có khi mâu thuẫn của họ” [154, tr 48] Đặc điểm này của truyện thơ hoàn toàn khác với một số truyện cổ thường chú trọng vào sự việc diễn biến, cốt truyện diễn biến nhưng lại không chú ý đến việc miêu tả đời sống
nội tâm Nhận xét của tác giả không chỉ đúng với riêng truyện thơ Xống chụ xon
xao mà đúng với các tác phẩm khác thuộc thể loại truyện thơ Tuy mới dừng lại ở
nhận xét về đặc điểm của một truyện thơ cụ thể nhưng ý kiến đó của tác giả lại là một gợi ý quý báu cho chúng tôi khi tìm hiểu về đặc điểm thi pháp của truyện thơ Thái trong mối tương quan với truyện cổ dân gian Tác giả cũng nhấn mạnh ngôn ngữ truyện thơ được xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ vùng chín châu giữa, đó là thứ ngôn ngữ hàng ngày của nhân dân được nâng cao lên, trau chuốt thêm, ngôn ngữ giàu hình ảnh “những hình ảnh gần gũi, cụ thể, đậm đà màu sắc dân tộc” [154, tr 50] Như vậy, bài viết đã đi sâu phân tích một cách khá toàn diện và tổng thể về truyện thơ ở hai phương diện: giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật
Cũng tiếp tục nghiên cứu về truyện thơ Xống chụ xon xao, đáng chú ý là bài viết Đôi lời về Xống chụ xon xao của tác giả Nguyễn Khôi, sau khi cho ra mắt độc giả với cuốn sách Tiễn dặn người yêu bằng thể song thất lục bát Theo tác
Trang 18giả, nhan đề truyện thơ đúng ra phải gọi là “Tiễn dặn bạn tình”, còn dịch Xống
chụ xon xao thành Tiễn dặn người yêu cũng chưa lột tả hết ý nghĩa hàm ẩn Chữ
“chụ” của người Thái có nghĩa là “người tình” mà không phải là vợ hoặc chồng
Từ “xon” có nghĩa là “dặn” nhưng còn có nghĩa là “học, bài học”; nghĩa sau mới
là nghĩa chính Tuy nhiên, với cách mà tác giả diễn xuôi truyện Xống chụ xon
xao thành thể thơ song thất lục bát mặc dù giúp cho người đọc dễ nhớ, dễ nghe
nhưng đã vô tình làm mất đi những giá trị độc đáo cũng như những cái hay, cái đẹp của tác phẩm vốn là sản phẩm tinh thần quý báu nhất của dân tộc Thái
Năm 1964, truyện thơ Khun Lú nàng Ủa ra mắt bạn đọc cùng với lời giới
thiệu của Mạc Phi, viết ở Chiềng Cơi – Lai Châu tháng 5/1964 Trong lời giới
thiệu về vấn đề văn bản, tác giả khẳng định bản sách Khun Lú nàng Ủa trọn vẹn
từ trang đầu đến trang cuối “được lưu trữ ở Sở Văn hóa Thông tin Khu tự trị Tây Bắc có tới trên 20 bản” [156, tr 5] Tuy nhiên, những bản sách này có hai loại: một bản không có phần đầu, vào truyện bằng ngay sự việc xảy ra dưới trần thế; một loại bản gồm một đoạn lời nói trước của tác giả và thêm 21 câu đầu truyện trước khi vào phần truyện miêu tả mối tình Lú - Ủa dưới trần thế Bản thứ hai là bản mà Mạc Phi sử dụng để dịch sang ngôn ngữ phổ thông Lời giới thiệu cũng
đề cập đến nội dung tác phẩm, theo Mạc Phi “Chàng Lú nàng Ủa là truyện một
mối tình xảy ra giữa một đôi trai gái thuộc dòng dõi tạo nàng quyền quý Đôi trai gái này ngoài phần yêu dưới mặt đất còn phần yêu nhau trên trời nhưng phần yêu nhau dưới mặt đất của họ vẫn là chủ yếu” [156, tr 11] Về mặt hạn chế của tác phẩm, Mạc Phi cho rằng cái cách kết thúc câu chuyện thực ra không phù hợp chút nào với quy luật phát triển logic của tính cách nhân vật Lú - Ủa Với cách kết thúc này, Mạc Phi nhấn mạnh nó dễ dẫn người đọc đi tới những suy nghĩ lạc hướng, tiêu cực, có hại, làm cho hình tượng đẹp đẽ của Lú - Ủa không tránh khỏi
có phần giảm sút Về giá trị nghệ thuật của tác phẩm, Mạc Phi đã đưa ra một số đặc điểm liên quan đến thi pháp thể loại truyện thơ như: nhiều tác phẩm văn học
cổ truyền Thái “dùng hình thức văn vần để cố định lại truyện cổ vốn được lưu
truyền bằng miệng” còn Khun Lú nàng Ủa “đã sáng tạo cả một thế giới mới, một
thế giới có thực với đầy đủ mọi tình tiết, mọi uẩn khúc giống như cái thế giới
Trang 19hàng ngày tác giả đang sống Cốt truyện cổ Xá chỉ là một trong những phương tiện tác giả sử dụng nhằm dựng lên cái thế giới ấy” [156, tr 22] Ý kiến này đã cho phép nhận rõ đặc điểm thi pháp của thể loại, đó là tuy dựa vào cốt truyện của truyện cổ nhưng truyện thơ đã biết đi sâu miêu tả các diễn biến, tâm trạng nhân vật, không say mê chạy theo sự việc mà quên mất con người, cũng không mải mê buông theo tâm trạng nhân vật mà quên mất sự hợp lý của mỗi diễn biến trong sự
việc Về ngôn ngữ của tác phẩm, Mạc Phi đã cho rằng ngôn ngữ trong Khun Lú
nàng Ủa là một thứ ngôn ngữ quý phái, dùng nhiều từ tiếng Việt một cách không
cần thiết, hơi có vẻ làm ra khó khăn, “cao đạo” Đặc biệt, kiểu ngôn ngữ đó chỉ được dùng trong trường hợp miêu tả tính cách của những nhân vật tạo phìa quý phái? Bàn về xuất xứ và thời điểm ra đời của tác phẩm, Mạc Phi đưa ra một số
ý kiến như sau: Tác phẩm chỉ có thể ra đời ở vùng mường Muổi (Thuận Châu –
Sơn La) vì nhiều bản Khun Lú nàng Ủa chủ yếu được sưu tầm ở vùng này và
đây từng là trung tâm văn hóa – chính trị lớn của cả vùng Thời điểm ra đời của tác phẩm không thể trước thế kỷ XV hoặc muộn hơn vì đến thế kỷ XV thì giai cấp phìa tạo Thái mới dần dần ổn định lãnh địa bước vào thời kỳ xây dựng bản mường thanh bình, trù phú Về xuất xứ và thời thời điểm ra đời của truyện thơ
Khun Lú nàng Ủa cho đến nay vẫn chỉ dừng lại ở những ý kiến đó của Mạc Phi
Thiết nghĩ rằng ý kiến của Mạc Phi là hợp lý Tuy nhiên, người đọc mong muốn tác giả có những bằng chứng lập luận chặt chẽ và thuyết phục hơn để khẳng định luận điểm của mình trong tình hình hiện nay Lời giới thiệu của Mạc Phi
dù chỉ giới hạn trong một bài viết nhưng lại xem xét, phân tích khá toàn diện và tổng thể về nhiều mặt của truyện thơ Những ý kiến mà tác giả đưa ra trong bài viết là những ý kiến mà luận án có thể kế thừa khi nghiên cứu thể loại truyện thơ
Truyện thơ Khăm Panh được xuất bản lần đầu bởi Ty Văn hóa Thanh Hóa
vào năm 1973 kèm theo lời giới thiệu của PGS Vũ Ngọc Khánh Lời giới thiệu
có nhắc đến những dấu vết còn lại ngoài đời thực của tác phẩm (ở vùng Cổ Lũng,
Bá Thước, Thanh Hóa) Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng “có lẽ đây là một câu chuyện cổ bắt nguồn từ một sự thực lịch sử, xã hội nào chăng? Điều đáng chú ý
là câu chuyện không mang màu sắc cổ kính của những truyền thuyết hay thần
Trang 20thoại như nhiều truyện cổ hoang đường vẫn phổ biến Khăm Panh hoàn toàn là
một truyện cổ thế sự, trong đó yếu tố thần kỳ nhạt hẳn đi so với yếu tố đấu tranh
xã hội” [172, tr 7] Cũng theo PGS Vũ Ngọc Khánh thì “Khăm Panh là một
truyện thơ tự sự Xét theo nghiêm cách thì đây chưa phải là một tác phẩm toàn bích” bởi vì “mạch tự sự thường không đọng lại mà cứ lan tỏa ra chiều ngang, sẵn sàng sa vào nhiều chi tiết, ngổn ngang chen chúc như nhiều mảnh đời ráp lại” [172, tr 9]
Trong tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, năm 1984, tác giả Đỗ Hồng Kỳ có
bài “Truyện thơ Khăm Panh – Khúc ca bi tráng của đồng bào Thái chống chủ
nghĩa bành trướng Đại Hán” Tác giả cho rằng “Truyện thơ Khăm Panh đã tái
hiện khá sinh động cuộc chiến đấu bền bỉ và anh dũng của đồng bào Thái chống
sự xâm lược của bọn phong kiến Hán và tôi tớ của chúng, để bảo vệ cộng đồng dân tộc, bảo vệ cuộc sống yên vui hạnh phúc của mình” [99, tr 29] Rõ ràng, nếu chỉ dựa vào nội dung tác phẩm để đưa ra nhận xét như vậy thì tác giả đã có một
cái nhìn phi lịch sử Bởi vì truyện thơ Khăm Panh là truyện thơ được sáng tạo
dựa vào chính hiện thực lịch sử xã hội đương thời, đặc biệt hình tượng dòng họ Khun Ha trong truyện thơ đâu nhất thiết là đại diện cho bọn phong kiến Đại Hán? Theo tài liệu mà chúng tôi thu thập được trong quá trình khảo sát thực tế
ở Bá Thước – Thanh Hóa thì dòng họ Khun Ha trong truyện chính là Hà Nhân Chính và Hà Thọ Lộc – là những người có công với đất nước, dòng họ này hiện đang còn lưu lại ở Bá Thước – Thanh Hóa ngày nay (về vấn đề này chúng tôi sẽ
có dịp bàn kỹ hơn ở chương 1 của luận án) Vì vậy, dưới cái nhìn lịch sử thì không thể áp đặt dòng họ Khun Ha trong truyện thơ là đại diện cho bọn bành trướng Đại Hán
Trong cuốn sách Trường ca Ú Thêm (xuất bản năm 1990), nhà nghiên cứu
Đặng Nghiêm Vạn đã viết lời giới thiệu Tác giả khẳng định nguồn gốc của truyện là “xuất phát từ một truyện cổ Ấn Độ, được Khơme hóa, Lào hóa, Thái
hóa, thậm chí Việt hóa nữa qua sự bành trướng của Đạo Phật” [11, tr 7] Tác giả nhận xét rằng Ú Thêm là sự kết hợp của hai cốt truyện cổ tích: truyện U Thến và truyện Tạo Thi Thốn Tuy nhiên “tình tiết hai câu chuyện cùng chung một motif
Trang 21này rất khác nhau ở các địa phương, các tộc người” nhưng điều đáng lưu ý là “tác giả đã dựa vào cốt truyện chính, vay mượn hoặc tự tạo ra những tình tiết thích hợp với nội dung câu chuyện mình định tạo dựng, phù hợp với không gian xã hội
mà mình đương sống… đó là phần sáng tạo của tác giả” [11, tr 9] Nhà nghiên
cứu Đặng Nghiêm Vạn nhận thấy điểm mới của tác phẩm là “sự kết thúc bi thảm của hai nhân vật trung tâm của câu chuyện: Ú Thêm (Xi Thuần) và Khăm Ín (Pho
No Hoa)”, với cách kết thúc mang tính bi thảm đó, theo tác giả “phải chăng gợi
ra một sự mâu thuẫn cho dù lấp lửng còn hơn là thỏa mãn với một trật tự xã hội
không đẹp gì và bênh vực nó” [11, tr 15]
Trên tạp chí Văn hóa dân gian, số 4, năm 1991, Nguyễn Tấn Đắc có bài
viết “Thử tìm nguồn gốc của truyện U Thềm của người Thái ở Việt Nam” (truyện thơ Ú Thêm còn có tên khác là U Thềm) Bài viết đã đưa ra cách tiếp cận truyện
thơ trong mối quan hệ khu vực Ông phát hiện ra rằng truyện thơ là sự kết hợp hai type: type truyện chàng Rothixen (hay type quỷ móc mắt các bà hoàng hậu)
và type truyện người trần lấy vợ tiên (type con gái thượng giới xuống trần tắm bị người trần bắt giữ lại làm vợ, sau đó bỏ về trời và người vợ đi tìm trên thượng giới) Qua việc so sánh với các kiểu truyện cùng thể loại của năm nước Đông Nam Á, tác giả đưa ra nhận xét “tuy cùng tiếp nhận từ hai type truyện của Ấn
Độ, các bản của Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Miến Điện đã giữ gần nguyên vẹn
vũ trụ, văn hóa Ấn Độ và hệ thống type, tiết – motif của từng truyện; trong khi đó người Thái ở Việt Nam lại có xu hướng tước bỏ nhiều yếu tố đặc trưng của vũ trụ
và văn hóa Ấn Độ và mức thay đổi một số tiết, motif cũng lớn hơn” [50, tr 13]
Tác giả bài báo đã giải thích nguyên nhân của việc xử lý ấy là vì người Thái ở Việt Nam đã biến đổi các type đó cho phù hợp với quan niệm đạo đức, vũ trụ, văn hóa của mình; trong khi đó các nước khác lại tiếp nhận nó cùng với cả nền văn hóa, tôn giáo Ấn Độ
Bài giới thiệu của tác giả Vương Anh trong cuốn sách Tiếp cận văn hóa
bản Thái xứ Thanh đã đi sâu phân tích cốt truyện Ú Thêm để từ đó đưa ra kết
luận về mối giao lưu văn hóa Thái với văn hóa Đông Nam Á Ở đây, chúng ta thấy có sự đồng nhất trong quan điểm của tác giả với Đặng Nghiêm Vạn khi cho
Trang 22rằng truyện Ú Thêm dựa vào nội dung hai câu chuyện U Thến và Tạo Thi Thốn
Phân tích nhân vật Ú Thêm, Vương Anh nhận xét nhân vật đó mang dáng dấp
của người anh hùng Ramayana (Ấn Độ), Thi Thốn (Lào)… đó là những chàng
trai tuấn tú, tài hoa, ngay thẳng, dũng cảm, hiếu thảo, thủy chung [10]
Nhìn chung, trong mỗi lần công bố một tác phẩm truyện thơ thường có bài bình luận, giới thiệu về nội dung, nghệ thuật; đồng thời giới thiệu về thời điểm, xuất xứ, hạn chế của tác phẩm Đúng như ý kiến của PGS Lê Trường Phát đã đánh giá rằng: tuy chưa đặt vấn đề xem xét truyện thơ trong toàn cảnh của một thể loại văn học nhưng lại chứa đựng những nhận xét, những chỉ dẫn rất đáng quý đối với việc nghiên cứu truyện thơ như là một thể loại [152, tr 38]
Ngoài các bài giới thiệu, bình luận, đánh giá mà chúng tôi điểm qua ở trên còn rất nhiều các bài viết đánh giá truyện thơ Thái ở khía cạnh này hay khía cạnh
khác: ý kiến của tác giả Đỗ Bình Trị về truyện thơ Xống chụ xon xao trong cuốn
Văn học dân gian Việt Nam (tập 1), ý kiến của PGS Võ Quang Nhơn khi xếp
truyện thơ Tiễn dặn người yêu vào nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca dân gian các dân tộc được in trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam
(Đinh Gia Khánh chủ biên, năm 2001), ý kiến của PGS Vũ Anh Tuấn về truyện
thơ Xống chụ xon xao in trong cuốn sách Giảng văn Văn học Việt Nam, ý kiến của tác giả Cầm Cường về truyện Khun Lú nàng Ủa, Xống chụ xon xao trong cuốn sách Tìm hiểu văn học dân tộc Thái ở Việt Nam… Các bản luận văn Thạc sĩ
nghiên cứu về truyện thơ Thái như: bản luận văn của tác giả người Thái Lò Bình
Minh với đề tài Bi kịch tình yêu đôi lứa trong truyện thơ Khun Lú nàng Ủa bảo
vệ năm 1989; năm 2001, tác giả Ngô Thị Thanh Quý đã bảo vệ luận văn với đề
tài Nghiên cứu thi pháp truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) của
dân tộc Thái Luận văn của tác giả Lò Xuân Dừa bảo vệ năm 2002 với đề tài Bước đầu tìm hiểu một vài đặc điểm của truyện thơ Thái Chàng Lú Nàng Ủa (Khun Lú nàng Ủa) về phương diện thi pháp Tác giả Nguyễn Ngọc Anh với đề
tài Truyện thơ Ú Thêm nhìn từ góc độ thế giới nhân vật bảo vệ năm 2005 Cũng trong năm 2005, Nguyễn Ngọc Bảo bảo vệ luận văn với đề tài Góp phần tìm hiểu
thi pháp truyện thơ Tiễn dặn người yêu (Xống chụ xon xao) của dân tộc Thái
Trang 23Hoàng Thị Hương Loan với đề tài Số phận người phụ nữ Thái qua một số truyện
thơ tiêu biểu của người Thái Tây Bắc bảo vệ năm 2006 Năm 2009, tác giả Triệu
Thị Phượng đã bảo vệ luận văn Thạc sĩ với đề tài Sự tương đồng và khác biệt về
nội dung giữa truyện thơ Tày và truyện thơ Thái
Như vậy, chúng tôi vừa điểm lại toàn bộ lịch sử của công tác sưu tầm và nghiên cứu truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam từ trước đến nay ở tất cả các phương diện Chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Về công tác sưu tầm biên dịch: các nhà sưu tầm, các dịch giả giàu tâm huyết như: Điêu Chính Ngâu, Mạc Phi, Hà Văn Ban, Vương Anh, Lò Văn Cậy, Quán Vi Miên, chúng tôi đánh giá rất cao đóng góp lớn lao của họ Nếu không
có những người luôn nặng lòng với cội nguồn dân tộc, luôn có ý thức gìn giữ trân trọng nguồn văn hóa truyền thống dân tộc, không có ý chí quyết tâm và nghị lực
phi thường thì làm sao có những bản Xống chụ xon xao, Khun Lú nàng Ủa, Ú
Thêm… như ngày hôm nay Chính họ là những người đã đặt bàn chân đầu tiên đi
khám phá nền văn hóa độc đáo và giàu bản sắc dân tộc của người Thái, để đến hôm nay chúng tôi mới có điều kiện tiếp nối công việc đầy ý nghĩa và giá trị này
Về lịch sử nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung
và truyện thơ của dân tộc Thái nói riêng, nhìn chung đã đạt được những thành tựu bước đầu Từ những bài giới thiệu trong các cuốn sách, tuyển tập… đến những bài viết được công bố ở các tập san, tạp chí cho đến những luận án Tiến sĩ, Thạc sĩ đều tập trung xem xét và nghiên cứu truyện thơ Thái ở nhiều khía cạnh khác nhau Những công trình nghiên cứu này đã có ý nghĩa quan trọng mở ra cho chúng ta con đường để tiếp cận văn học dân gian nói chung Đáng ghi nhận là công lao của các nhà nghiên cứu như GS TSKH Phan Đăng Nhật, PGS Võ Quang Nhơn, PGS Lê Trường Phát, PGS Vũ Anh Tuấn… Họ là những người có các công trình nghiên cứu có chất lượng cao và có giá trị khoa học thực sự Tuy nhiên, so với số lượng công trình nghiên cứu về các thể loại khác như: truyện cổ tích, sử thi, dân ca thì số lượng công trình nghiên cứu về thể loại truyện thơ trong
đó có truyện thơ Thái còn khá khiêm tốn Mặt khác, đối với việc khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam thì
Trang 24chưa có một công trình nào, có chăng chỉ là việc khảo sát từng tác phẩm lẻ tẻ, trên một hoặc một vài phương diện
Ngoài ra, còn một vấn đề đã và đang đặt ra, đó là việc từ trước đến nay giới nghiên cứu chỉ mới nghiên cứu thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam trên cơ sở là bản dịch chứ chưa căn cứ và xem xét trên nguyên bản của nó PGS Lê Trường Phát đã có ý kiến rằng bản thân trong quá trình làm luận án đã vấp phải một trở ngại thực tế là chỉ có thể tiếp xúc với tác phẩm thông qua bản dịch sang tiếng phổ thông của những dịch giả thời hiện đại Thế mà, trong khi tiến hành dịch thuật, mặc dù đã cố gắng các dịch giả vẫn không sao tránh được
cái tình trạng như ngạn ngữ đã tổng kết dịch tức là phản3 Tác giả đặt ra một số khía cạnh có tính chất phương pháp luận khi phân tích ngôn ngữ của tác phẩm thông qua bản dịch, đó là: cần tính đến khoảng cách văn hóa giữa lời thơ dịch với lời thơ nguyên văn, sự thay đổi phong cách học từ bản dịch so với nguyên bản, cần lưu ý đến khoảng cách có tính thời đại giữa bản dịch với nguyên bản thể hiện
ở giọng điệu thơ [152] Những vấn đề phương pháp luận mà tác giả đặt ra đã có ý nghĩa thiết thực đối với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam Tuy nhiên, nếu nghiên cứu toàn bộ các tác phẩm truyện thơ Thái (kể
cả những tác phẩm chưa được biên dịch sang tiếng phổ thông) thì luận án sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu Do vậy, trong phạm vi luận án chúng tôi chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu chủ yếu là những truyện thơ đã được dịch sang tiếng phổ thông (bao gồm 21 truyện thơ)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án khảo sát toàn bộ thể loại truyện thơ của người Thái ở Việt Nam, đồng thời tập trung nghiên cứu đặc điểm thi pháp của thể loại (cụ thể là đi sâu nghiên cứu những đặc điểm thi pháp về kết cấu cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ) Luận án còn tiến hành so sánh truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam với
3 Chữ dùng của PGS Lê Trường Phát trong bài viết “Hiện tượng đan xen ngôn ngữ trong
truyện thơ các dân tộc thiểu số”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (số 1), 1998
Trang 25truyện thơ của dân tộc Thái ở Lào, Thái Lan và Vân Nam (Trung Quốc) về nguồn khai thác đề tài cốt truyện, kết cấu cốt truyện và nhân vật truyện thơ
3.3 Phạm vi tư liệu khảo sát
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau:
- Chúng tôi sử dụng tư liệu về truyện thơ Thái ở Việt Nam trong các công trình
sưu tầm, biên soạn đã xuất bản Bộ phận tư liệu này bao gồm các truyện thơ được
công bố trong các tuyển tập như: Truyện thơ, trường ca dân gian Thái (gồm ba
tập) do Hội Văn học Nghệ thuật và Sở Văn hóa Thông tin – Thể thao Sơn La
biên soạn; Tuyển tập văn học ít người ở Việt Nam do GS Đặng Nghiêm Vạn
(chủ biên) biên soạn cùng các cộng sự; Tuyển tập văn học dân tộc ít người do Nông Quốc Chấn (chủ biên) biên soạn cùng các cộng sự; Truyện thơ và đồng dao
Thái ở miền Tây Nghệ An do La Quán Miên sưu tầm và giới thiệu; Truyện thơ dân tộc Thái (gồm ba tập) do Đỗ Thị Tấc chủ biên, Điêu Văn Thuyên sưu tầm và
biên dịch… Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng tư liệu là các truyện thơ được công
bố một cách riêng lẻ như: truyện Khăm Panh do Bùi Văn Tiên, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân biên soạn (1977); Ú Thêm do Hà Văn Ban, Hoàng Anh Nhân biên soạn (1990), truyện thơ Ý Nọi nàng Xưa do Lò Ngọc Duyên sưu tầm và giới thiệu (1999), truyện Cẩu tô cốp do Vi Hoàng Sương sưu tầm và biên dịch (2009), truyện thơ Kén Kẻo do Vương Trung sưu tầm và biên dịch (2011),… Ngoài ra,
chúng tôi sử dụng các tư liệu đã điền dã, sưu tầm tại các địa phương ở vùng Tây Bắc và miền núi hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An Cụ thể là vào tháng 12 năm
2010, chúng tôi tiếp xúc với nhà Thái học Quán Vi Miên và sưu tầm được truyện
thơ Tạo Láng Xôm lưu truyền ở Nghệ An Vào tháng 6 năm 2011, tại thành phố
Sơn La chúng tôi có điều kiện được tiếp xúc với nhà sưu tầm văn hóa Thái Lò Văn Lả, Hoàng Trần Nghịch, Cà Văn Chung, nhà thơ Cầm Hùng và sưu tầm được một số tác phẩm bằng chữ Thái cổ còn lưu lại trong dân gian Đó là những tác phẩm được người Thái tiếp thu, sáng tạo trên cơ sở truyện Nôm của người
Kinh và từ nguồn cốt truyện của văn học Trung Quốc như: Lục Vân Tiên, Thư
Cẫu, Lư Xiễn, Linh Y, Càn Long, Phung Lau Pống Ón Tháng 7 năm 2011, chúng
tôi đã thực hiện một chuyến điền dã tại thị trấn Cành Nàng (Bá Thước – Thanh
Trang 26Hóa), được tiếp xúc với nhà giáo, nhà sưu tầm văn hóa dân gian Thái Hà Nam Ninh Tại đây, nhà giáo Hà Nam Ninh cho biết: “Những tác phẩm truyện thơ nổi tiếng của người Thái ở Tây Bắc cũng được lưu truyền ở vùng Thái Thanh Hóa nhưng chỉ là những mảnh đoạn mà thôi Người Thái Thanh Hóa có hai tác phẩm
nổi tiếng là Khăm Panh và Ú Thêm Một tác phẩm đã được sưu tầm ở xã Sơn Thủy - Quan Sơn – Thanh Hóa là tác phẩm Tư Mã Hai Đào nói về cuộc chiến
tranh Lào – Việt nhưng đang trong thời gian kiểm chứng và nghiên cứu” Vào tháng 12 năm 2011, chúng tôi lại tiến hành chuyến đi thực tế tại huyện Quan
Sơn, huyện Quan Hóa – Thanh Hóa và thu thập được hai dị bản của Xống chụ
xon xao
- Để so sánh truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam với truyện thơ của dân tộc
Thái ở Lào, Thái Lan, Vân Nam (Trung Quốc); chúng tôi sử dụng các tư liệu về
truyện thơ của dân tộc Thái ở Lào, Thái Lan trong các công trình nghiên cứu: Từ
điển Đông Nam Á, Văn học Đông Nam Á, Hợp tuyển Văn học Lào, Văn hóa dân gian Thái Lan…; và truyện thơ của dân tộc Thái ở Vân Nam – Trung Quốc được
in riêng như Nga Bính Tang Lạc hay một số truyện thơ được in chung trong tuyển tập Kim hồ chi thần
- Để thực hiện các so sánh cần thiết trong luận án, chúng tôi còn sử dụng tư liệu
về thể loại truyện thơ của các dân tộc khác như: truyện Nôm của dân tộc Kinh, truyện thơ Tày, truyện thơ Mường…
4 Phương pháp nghiên cứu
Thể loại truyện thơ nói riêng và các thể loại văn học dân gian nói chung là một hiện tượng mang tính nguyên hợp, luôn là đối tượng nghiên cứu được khai thác từ nhiều góc độ khác nhau: sử học, dân tộc học, ngôn ngữ học… đặc biệt là
từ góc độ nghiên cứu của folklore Vì thế, chúng tôi áp dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
4.1 Phương pháp hệ thống
Bản thân việc nghiên cứu thể loại truyện thơ vượt khỏi cấp độ từng tác phẩm riêng lẻ để đạt đến những khái quát ở cấp độ cao hơn đã đòi hỏi bao hàm phương pháp hệ thống Theo hướng đó, mỗi thành phần tạo nên tác phẩm như đề
Trang 27tài, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ đều đặt trong tương quan hệ thống giữa tác phẩm này với tác phẩm kia
4.3 Phương pháp điều tra thực địa
Đây là một trong những phương pháp quan trọng mà chúng tôi tiến hành khi thực hiện đề tài Những tài liệu thu được trong quá trình điều tra thực địa sẽ
có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện đề tài luận án
4.4 Phương pháp liên ngành
Trong quá trình làm luận án, chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành
để xem xét truyện thơ dưới nhiều góc độ để tạo nên cái nhìn tổng thể và toàn diện
về thể loại truyện thơ của người Thái ở Việt Nam
Bên cạnh những phương pháp cơ bản trên, trong quá trình làm luận án chúng tôi còn sử dụng các thao tác: đọc và tập hợp ý kiến của những người đi trước về vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu, lập bảng thống kê, khảo sát, phân tích tác phẩm…
5 Những đóng góp mới của luận án
Quá trình khảo sát, nghiên cứu một cách toàn diện thể loại truyện thơ Thái dưới nhiều góc độ khác nhau, luận án của chúng tôi cố gắng đạt được những đóng góp sau:
5.1 Luận án trình bày một cái nhìn khá toàn diện và hệ thống toàn bộ truyện thơ
Thái đã được sưu tầm và công bố, góp phần bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu
và giảng dạy thể loại truyện thơ Thái nói riêng và truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung
Trang 285.2 Luận án làm rõ những đặc điểm thi pháp của thể loại về kết cấu cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ bằng các phân tích và dẫn chứng cụ thể từ kho tàng truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam
5.3 Luận án bước đầu so sánh truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam với truyện thơ của dân tộc Thái ở một số nước trong khu vực và trên thế giới (cụ thể
là truyện thơ của dân tộc Thái ở Lào, Thái Lan và Vân Nam – Trung Quốc) để tìm ra nét tương đồng và khác biệt của truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam
về phương diện nguồn gốc đề tài, kết cấu cốt truyện và nhân vật
Trang 29NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI THÁI VÀ TRUYỆN THƠ THÁI
Ở VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về tộc người Thái ở Việt Nam
1.1.1 Địa bàn cư trú, dân cư, dân số
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, bao gồm 54 dân tộc anh em Dân tộc Thái là một trong những dân tộc có số dân đông (sau dân tộc Kinh và dân tộc Tày) Theo số liệu điều tra năm 1999, dân số của dân tộc Thái là 1.328.725 người, số liệu điều tra năm 2009 là 1.550.908 người [223] Trong đó, dân tộc Thái tập trung chủ yếu ở Sơn La với 482.985 người, Nghệ An với 269.469 người, Thanh Hóa với 210.908 người, Lai Châu với 206.001 người, Lào Cai với 52.146 người, Yên Bái với 45.307 người, Hòa Bình có 29.438 người [148, tr 22] Các nhà nghiên cứu từ trước đến nay đã thống nhất cho rằng trong quá trình lịch sử
lâu dài, dân tộc Thái đã sớm sinh tụ ở miền Tây Bắc tổ quốc với tên tự gọi là Táy (hoặc Tay) Táy (Tay) là tộc danh đồng thời cũng có nghĩa là người “người với ý
nghĩa hoàn chỉnh, đầy đủ, tức là một con người văn minh”, hơn thế nữa đó là
“một con người tự do, không bị lệ thuộc, không phải là nô lệ, là một thành viên
chính thức của xã hội, của bản mường” [144, tr 44] Tên tự gọi là Táy (Tay) của
người Thái Việt Nam còn có một ý nghĩa sâu xa, nó nói lên niềm tự hào dân tộc của người Thái Vì vậy, người Thái Việt Nam mới có thành ngữ “Táy bản, Táy mương”
Dân tộc Thái ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở miền Tây Bắc và miền Tây Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An) Đây là một địa bàn khá rộng, trải suốt từ sông Thao, qua sông Đà, sông Mã đến tận sông Lam với “địa hình núi non trùng trùng điệp điệp chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam với những đỉnh núi cao nổi tiếng như Phan Xi Păng 3142m, Pu Luông 2982m xen lẫn với những vùng cao nguyên rộng lớn như Mộc Châu, Sơn La, Phong Thổ… và những khe vực, những bình nguyên lọt trong các thung lũng lòng chảo chỉ ở độ cao trên, dưới 100m so với mặt biển” [202, tr 49] Với một địa bàn cư trú rộng lớn, trong
Trang 30những điều kiện tự nhiên – xã hội nhất định, người Thái đã xây dựng thành ba
vùng văn hóa khá rõ nét Một là, vùng văn hóa Tây Bắc (bao gồm Sơn La, Lai
Châu, Điện Biên, Yên Bái, Lào Cai) được hình thành trong sự bảo lưu truyền
thống của mô thức tổ chức kinh tế - xã hội bản mường còn gần như nguyên dạng cho đến ngày 7.5.1954 Hai là, vùng văn hóa Thanh Nghệ (bao gồm Thanh Hóa
và Nghệ An) với nét nổi bật là từ lâu đã chuyển nhập vào hệ thống tổ chức kinh
tế - xã hội chung của đất nước Ba là, vùng văn hóa đệm mang tính chất trung
gian (giữa vùng văn hóa Tây Bắc và vùng văn hóa Thanh Nghệ) gồm một dải đất
từ Mường Tấc – Phù Yên qua Mường Sang – Mộc Châu (Sơn La), Mường Chiềng Ký – Đà Bắc đến Mường Mùn – Mai Châu (Hòa Bình) [18, tr 19]
Theo truyền thống, người Thái ở Việt Nam có sự phân chia thành hai ngành: Thái Đen (Tay Đăm) và Thái Trắng (Tay Khao, Tay Đón) và mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm
Ngành Thái Đen (Tay Đăm) được phân thành ba nhóm như sau: nhóm thứ nhất có nguồn gốc Mường Lò hiện cư trú ở Mường Lò (Văn Chấn), thị xã Nghĩa
Lộ, Trạm Tấu, Mù Cang Chải (Yên Bái), Mường Than (Than Uyên – Lai Châu), Mường Chăn (Văn Bàn – Lào Cai), Mường La (thị xã Sơn La cũ và huyện Mường La), Mường Mụa (Mai Sơn), Mường Muổi (Thuận Châu), Nặm Na (sông Mã), một nửa Mường Chiên (Quỳnh Nhai – Sơn La), Mường Quài (Tuần Giáo), Mường Thanh (Điện Biên), Điện Biên Đông, Sìn Hồ, Mường Xo (Phong Thổ), Tam Đường (Lai Châu); nhóm thứ hai cư trú ở Mường Vạt (Yên Châu – Sơn La) gọi theo địa vực cư trú là Tay Vạt; nhóm thứ ba cư trú ở các huyện miền núi Thanh Hóa và Nghệ An, do một bộ phận Thái Đen ở Mường Muổi – Thuận Châu được triều đình Hậu Lê cho phép di cư tới cư trú ở huyện Tương Dương – Nghệ
An cho đến nay
Ngành Thái Trắng chia thành ba nhóm: nhóm thứ nhất cư trú chủ yếu ở một số huyện thuộc tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Tây Nam tỉnh Lào Cai và Tây Bắc tỉnh Yên Bái (sống rải rác và đan cài với nhóm người Thái Đen ở Mường Lò); nhóm thứ hai cư trú ở Mường Tấc (huyện Phù Yên), Mường Sang (huyện Mộc Châu) của tỉnh Sơn La, Mường Mùn (Mai Châu), Mường Chiềng
Trang 31(huyện Đà Bắc) của tỉnh Hòa Bình; nhóm thứ ba cư trú xen cài với nhóm Thái Đen ở miền Tây Thanh Hóa – Nghệ An, có tên gọi là Tay Dọ, Tay Mương, Hàng Tổng
Sự phân hóa thành hai ngành Thái Đen và Thái Trắng với nhiều nhóm khác nhau là kết quả của quá trình lịch sử lâu dài và phức tạp Hiện nay, sự phân hóa này chỉ mang tính chất tương đối, chủ yếu dựa vào sắc thái văn hóa được biểu hiện ở trang phục của người Thái từng vùng Mỗi ngành Thái và mỗi nhóm Thái trong từng ngành đều có những đặc điểm riêng biệt về lịch sử hình thành và phát triển, phong tục tập quán, đời sống văn hóa… nhưng lại gặp nhau ở một điểm thống nhất là đều nằm trong cộng đồng chung của tộc người Thái ở Việt Nam, chịu sự chi phối bởi ý thức văn hóa và không gian văn hóa chung của tộc người
1.1.2 Lịch sử phát triển tộc người
Qua các công trình nghiên cứu về dân tộc Thái: Nguồn gốc và những nét
tương đồng, khác biệt về văn hóa giữa người Thái ở Lào và người Thái ở Việt Nam [18], Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam
[108], Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam [199], Mấy vấn đề cơ bản về lịch sử -
kinh tế - xã hội cổ đại của người Thái Tây Bắc Việt Nam [200], Văn hóa Thái Việt Nam [202], Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam [206], Tư liệu về lịch
sử và xã hội dân tộc Thái [213],… chúng tôi phác họa lịch sử phát triển tộc người
Thái ở Việt Nam như sau:
Vào khoảng thế kỷ XI – XII, một bộ phận tổ tiên ngành Thái Đen do anh
em dòng họ Tạo là Tạo Xuông và Tạo Ngần thuộc dòng dõi quý tộc Mường Tung Hoàng, Mường Ôm - Mường Ai (thuộc miền Tây Nam tỉnh Vân Nam Trung Quốc) dẫn đầu đội quân chinh chiến và dẫn dắt người Thái Đen xuôi theo dòng “Nậm Tao” (sông Hồng), đến hạ lưu thì tạt sang bên phải chiếm đất Mường
Lò (Mường Lò khi đó chỉ là vùng lòng chảo mênh mông hoang vắng), lấy cánh đồng Mường Lò (Nghĩa Lộ ngày nay) làm trung tâm Sau khi ổn định nơi cư trú, Tạo Ngần trở lại Mường Ôm – Mường Ai, rồi chuyển sang Mường Bó Té để Mường Lò lại cho anh là Tạo Xuông chỉ huy người Thái Đen khai phá Người Thái Đen lập ra bản mường trong vùng lòng chảo và đưa Mường Lò phát triển thành mường trung tâm, quy tụ dân Thái cùng các tộc người khác Thái ở mọi nơi
Trang 32[18, tr 63] Từ trung tâm Mường Lò lại diễn ra nhiều cuộc thiên di của người Thái Đen về nhiều hướng khác nhau Một hướng thiên di đi ngược trở lại đầu sông Thao, một hướng tiếp tục xuôi theo sông Hồng lập ra Mường Hồng – Mường Hằng (huyện Trấn Yên – Yên Bái), một hướng đi vào cánh đồng Mường Tấc để cộng cư và hòa nhập với người Thái Trắng (Tay Khao) vốn có mặt từ trước Sau đó, một thời gian hậu duệ của dòng họ Tạo, thủ lĩnh Lạng Chượng cầm binh thu phục dần các bộ tộc Nam Á từ Nghĩa Lộ, qua Sơn La và tới Điện Biên Nếu như điểm dừng chân đầu tiên của họ là Mường Lò (Nghĩa Lộ) thì những điểm chinh phục tiếp theo của họ là các triền sông và thung lũng khắp miền Tây Bắc và xuống miền núi Thanh Nghệ Quá trình này diễn ra suốt mấy thế kỷ, từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV Quá trình di cư của người Thái Đen vào Tây Bắc diễn ra lúc êm ả, lúc xung đột, chủ yếu giữa những người Môn - Khơme bản địa và những người Thái mới di cư tới Sự hiện diện của người Thái, nhất là đợt thiên di cuối cùng này của người Thái Đen vào Tây Bắc đã tạo nên sự thay đổi khá cơ bản về phân bố dân cư và thành phần tộc người trong vùng Người Thái Đen giờ đây đã chiếm ưu thế về dân số và họ đã chiếm cứ các đồng bằng thung lũng lớn, đẩy các nhóm tộc người Môn – Khơme bản địa khỏi các thung lũng lên sườn núi cao, điều kiện ít thuận lợi hơn và vì thế trong nhiều trường hợp các tộc người này bị thái hóa, lạc hậu Con cháu của Lạng Chượng đã nối nghiệp nhau
22 đời thống trị mảnh đất này, về sau anh em bất hòa nên đã chuyền dần trung tâm về Mường Muổi Mường Muổi dưới thời chúa Lò Lẹt phát triển mạnh mẽ và trở thành trung tâm vững mạnh của người Thái Đen
Một bộ phận người Thái ở thượng lưu Tây Giang (cùng thời gian với cuộc
di cư của người Thái Đen) cũng đã men theo triền sông Đà và sông Mê Kông đi
về phía Nam vào vùng Bắc nước Lào và Tây Bắc Việt Nam đưa đến sự hình thành một số điểm tụ cư của người Thái Trắng ở dọc sông Đà như Mường Lay, Mường La, Mường Tè Sau một thời gian dài tranh chấp với các cư dân bản địa, đến thế kỷ XIII, thế lực của trung tâm Mường Lay trở nên cường thịnh, phát triển
Cùng thời điểm đó, một bộ phận Thái Trắng khác từ Mường Đeng (Mường Đỏ) của Lào do thủ lĩnh Nhọt Cằm cầm đầu thiên di vào vùng Mường
Trang 33Sang, Pa Háng và nhanh chóng tỏa đi khắp Mộc Châu Trong quá trình thiên di,
để ổn định địa bàn cư trú, chiếm cứ đất đai, bộ phận Thái Trắng đã phải tranh chấp quyết liệt với cư dân Nam Á (bao gồm Kháng, Xinh Mun, La Ha) và làm chủ toàn bộ vùng Mộc Châu rộng lớn, phía Bắc đến tận Mường Vạt (Yên Châu), phía Đông là Mường Tấc (Phù Yên), phía Tây và Tây Nam là Mường Ét, Chiềng
Cọ (thuộc Sầm Nưa của Lào), phía Nam là Đà Bắc, Mai Châu (nay thuộc Hòa Bình) Từ đó Mường Sang trở thành trung tâm của người Thái Trắng Mộc Châu
Đến khoảng cuối thế kỷ XIII, tộc người Thái đã phát triển hùng mạnh, các trung tâm dân cư của người Thái ngày càng được mở rộng và xây dựng hệ thống
xã hội vững chắc Ở Tây Bắc đã hình thành ba trung tâm của người Thái: Mường Lay nằm ở phía Bắc và Tây Bắc (trung tâm của người Thái Trắng), Mường Sang nằm ở phía Nam và Tây Nam (trung tâm của người Thái Trắng) và Mường Muổi nằm ở giữa (trung tâm của người Thái Đen) Trong quá trình phát triển, ba trung tâm Thái kể trên thường xuyên xung đột và xâm chiếm lẫn nhau Đến khoảng thế
kỷ cuối thế kỷ XIV, thế lực của Tà Ngần ở Mường Muổi (Thuận Châu) phát triển, trở nên cường thịnh đã thu phục hai trung tâm người Thái ở Mường Sang, Mường Lay và các tộc người khác ở Tây Bắc, thống nhất Tây Bắc Đến thế kỷ XV- XVI, toàn vùng Tây Bắc có 16 Châu Mường nên được mang tên là khu vực Mười sáu Châu Thái (Xíp hốc Châu Tay)
Ngoài quá trình hình thành trung tâm lớn nhất của người Thái ở Tây Bắc, trong khoảng thời gian dài bắt đầu từ thế kỷ XIII còn liên tiếp diễn ra các cuộc di
cư của người Thái vào Hòa Bình, Thanh Hóa và Nghệ An Căn cứ vào gia phả viết bằng chữ Thái của dòng họ Hà Công thì tổ tiên của người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình) hiện nay có nguồn gốc từ Mường Pước Khà, Bắc Hà (tỉnh Lào Cai)
di cư đến vào khoảng thế kỷ XIII – XIV Sự di cư của bộ phận Tay Mươi vào Thanh Hóa, Nghệ An được ghi chép lại như sau “Khi Lê Lợi đánh Đèo Cát Hãn
ở Mường Lay, Lai Châu 1431 (sử Thái chép là Cướt Căm), chúa Mường Muổi theo họ Đèo chống lại triều đình Để trừng phạt hành động đó, Lê Lợi đã cho một
bộ phận dân Mường Muổi vào Thanh Hóa, Nghệ An” [212, tr 29]
Trang 34Như vậy, dân tộc Thái đã có một quá trình phát triển lịch sử lâu dài, phức tạp với nhiều cuộc thiên di diễn ra trong nhiều thời gian khác nhau trải dài từ Tây Bắc cho đến miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An Trong quá trình lịch sử ấy, dân tộc Thái đã hình thành nên những nét đặc trưng riêng về đời sống kinh tế, đời sống xã hội cũng như đời sống văn hóa tinh thần, góp phần định hình nên một nền văn hóa riêng của tộc người Thái trong bức tranh đa màu sắc của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam
1.1.3 Đặc trưng văn hóa tộc người
Trong công trình nghiên cứu Văn hóa Thái Việt Nam, nhà nghiên cứu
Cầm Trọng và Phan Hữu Dật đã khẳng định “Trải qua hàng ngàn năm lịch sử đến nay, văn hóa Thái vẫn có bản sắc riêng Bản sắc ấy là sự kết hợp hài hòa giữa tư chất của nó với các yếu tố tiếp thu chọn lọc những nét văn hóa của nhiều cộng đồng tộc người khác Và khi hai mặt đó quện thành bản sắc thì văn hóa của dân tộc này biến đổi trong lòng lịch sử phát triển của dân tộc mình và đất nước Mặt khác trong quá trình đó, văn hóa Thái luôn phát tiết và xâm nhập trở vào thành các bản sắc của nhiều dân tộc” [202, tr 16-17] Rõ ràng, văn hóa Thái chính là văn hóa ban đầu của tộc người đã được làm giàu thêm bởi sự kết hợp, tiếp xúc với các tộc người khác
1.1.3.1 Văn hóa vật chất và văn hóa xã hội
Về văn hóa vật chất, nền kinh tế chủ yếu của người Thái là nền kinh tế
nông nghiệp Người Thái đã sớm biết tận dụng yếu tố nước và đất để khai khẩn đất đai làm ruộng, mở rộng diện tích canh tác trên các cánh đồng lớn nhỏ ở các thung lũng, lòng chảo hoặc ở ven các con sông, con suối Qua nhiều thế hệ kiến tạo, người Thái đã có kinh nghiệm thâm canh lúa nước Họ cũng xác định được
bốn yếu tố của nghề trồng lúa, đó là nước - phân - cần - giống Họ biết xây dựng
hệ thống tưới tiêu độc đáo, bao gồm bốn yếu tố mương – phai – lái - lin thích
hợp với địa thế của ruộng nước Ngoài kinh tế lúa nước, người Thái còn biết làm nương rẫy, trồng rau, trồng củ, quả dùng làm thức ăn và cung cấp những nhu yếu phẩm cần thiết như: quần áo, chăn màn, đệm,… để đáp ứng nhu cầu cuộc sống
Họ cũng làm thêm những nghề phụ khác như: nghề dệt vải, đan lát,… Cuộc sống
Trang 35của những cư dân Thái chủ yếu là tự cấp, tự túc Con người sống dựa vào rừng, sông, suối bởi đó là nơi cung cấp nhiều nguồn lương thực, thực phẩm bổ sung cho bữa ăn, làm phong phú thêm đời sống vật chất
Theo truyền thống, người Thái ở nhà sàn “nhà có gác sàn có cột” (hươn
mi hạn quản mi xau) Nhà sàn của người Thái được xây dựng bởi vật liệu là các
cây thân gỗ và cây có gióng (tre, vầu, nứa, ), lợp bằng cỏ tranh Trước đây, nhìn vào cấu trúc mái, người ta có thể phân biệt được kiểu nhà của từng địa phương
“nhà sàn của người Thái Đen ở Sơn La thì có mái “vòm khum mai rùa” và thường đặt ở hai đầu đốc một trang trí bằng gỗ được quét vôi trắng tựa như hai
đôi sừng gọi là khau cút” [169, tr 57] Nhà sàn của người Thái Trắng “có bốn
mái thẳng và gấp góc” [169, tr 57] Nhà sàn không những là đơn vị không gian
chứa đựng tế bào của xã hội “chua hươn” mà còn là không gian chứa đựng văn
hóa tâm linh của người Thái Hiện nay, tuy người Thái đã cải tiến và thay đổi khá nhiều về kiến trúc nhà ở của mình nhưng họ vẫn lưu giữ được những nét độc đáo riêng của dân tộc mình về văn hóa nhà sàn
Cơ cấu bữa ăn của người Thái chủ yếu là cơm – rau – cá “cơm là cơm nếp
đồ, cá là cá nướng” [114, tr 247] Ngoài cơm nếp và cá đồ, người Thái còn thường xuyên sử dụng các loại thức ăn từ thiên nhiên khác như: rau, đậu, thịt trâu, thịt nhái, ếch,… Ngày nay, người Thái đã có thói quen ăn gạo tẻ nhưng họ luôn xem gạo nếp và cá là thứ lương thực cội nguồn và xem đó là văn hóa đặc trưng của tộc người
Trang phục của người Thái cũng thể hiện những bản sắc văn hóa độc đáo
“trang phục của họ phân biệt theo giới tính; phân biệt y trang thường ngày với lễ phục; trang phục mặc khi chết và lúc để tang, trang phục mặc lúc đi làm ngoài đồng, nương, rừng với khi ở nhà; trang phục mặc mùa nóng bức với tháng đông giá lạnh trong năm Và phân biệt hai độ tuổi: chưa thành niên với khi đã trưởng thành” [169, tr 72] Trang phục của nam giới thường mặc quần may theo kiểu
“chân què”, không dùng dải rút mà khâu cạp để thắt dây lưng, áo có hai kiểu để mặc thường ngày và lễ phục Nữ giới thường mặc váy khâu liền, khi mặc có hai cách gấp đầu váy: một là, theo cách gập đôi bên, hai là mặc theo kiểu “thắt cộm”
Trang 36Áo của phụ nữ đa dạng về màu sắc và hình vẽ Trong sinh hoạt thường ngày, phụ
nữ Thái thường mặc áo tên là cỏm (áo cỏm) có sự phân biệt giữa hai nhóm Thái
Đen và Thái Trắng Áo của nhóm Thái Đen thì dải viền hai vạt (ở cửa áo) để cài cúc không liền với cổ áo, trong khi áo của nhóm Thái Trắng thì cổ và đường viền
đó liền một dải” [169, tr 74]
Về văn hóa xã hội, xã hội Thái trước cách mạng tháng Tám là xã hội thuộc
thời kỳ đầu của chế độ phong kiến còn nhiều tàn dư của chế độ trước đó Bộ máy cai trị gồm: Chẩu Mường, Phìa, Tạo và những người cầm đầu các lãnh chúa phong kiến Đứng đầu mường là Chẩu Mường, đứng đầu bản là Tạo Bản Mường
là lãnh địa cát cứ của Chẩu Mường, có bộ máy cai trị hoàn chỉnh về nội chính, quân sự và ngoại giao Dưới Chẩu Mường, các lãnh chúa phong kiến cai trị ở mỗi vùng theo luật chung cổ truyền Xã hội Thái có hai tầng lớp chính: quý tộc quan lại và dân “gánh vác” hay “cuông, nhuốc, pua pai” Quan hệ giữa hai tầng lớp trên theo hệ thống khép kín từ trên xuống dưới Bọn quý tộc quan lại thống trị luôn tìm mọi cách biện minh cho hành động của mình là dựa vào “luật đới xơ” (luật đời xưa) nào đó, tự mệnh danh là thay mặt “then” để trị dân Trong xã hội Thái còn tồn tại hệ thống Mo Chang từ mường xuống bản – đó là hệ thống cai trị phần hồn của người Thái Cao nhất là Mo Mường (Mo lớn), dưới Mo Mường là các Mo nhỏ, Mo bản Những Mo này là cầu nối giữa tầng lớp quý tộc quan lại với dân, gắn bó với đời sống nhân dân, thuộc lòng và lưu giữ nhiều vốn văn hóa dân gian cổ truyền Quan hệ gia đình và hôn nhân của người Thái có nhiều nét độc đáo, khác lạ mang đặc trưng riêng của tộc người Ở vùng Thái trước đây tồn tại chế độ đại gia đình: ông, bà, cha mẹ, con cháu sống; chung trong một nhà sàn rộng lớn Người đứng đầu gia đình có nhiệm vụ điều khiển mọi công việc về mặt kinh tế, đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng, ma chay, cưới xin và thay mặt gia đình trước bản mường Các thành viên thường sống hòa thuận, con cái, cháu chắt được chăm sóc chung Quan hệ họ hàng giữa các gia đình người Thái cũng rất độc đáo và phức tạp Theo tập tục của người Thái, các mối quan hệ đó tự nó phân
thành quan hệ ba họ: ải noọng, nhinh xao, lung ta Tính chất phức tạp của xã hội
còn thể hiện ở tục lệ cưới xin và nghi lễ ma chay, cúng tế khá nặng nề Việc dựng
Trang 37vợ gả chồng, ma chay, cúng tế được quy định bằng những luật lệ chặt chẽ và phức tạp Có những luật bất thành văn nhưng ai cũng phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt, nếu sai sẽ bị xã hội lên án hoặc không chấp nhận
1.1.3.2 Văn hóa tinh thần
Cùng với văn hóa vật chất và văn hóa xã hội, tộc người Thái trong quá trình phát triển còn định hình nên những đặc trưng riêng về đời sống văn hóa tinh thần Đời sống văn hóa tinh thần được biểu hiện ở các lĩnh vực: tôn giáo tín ngưỡng, chữ viết, văn học và văn hóa dân gian
Về tôn giáo tín ngưỡng, người Thái quan niệm “đất này vốn phân chia
thành hai mường, tương đương với quan niệm về hai thế giới Đó là “thế giới của
sự sống” tiếng Thái là mường côn (mường người) và “thế giới của hư vô” là
mường fi (mường phi)” [169, tr 134] Thế giới hư vô là lực lượng điều khiển và
quyết định sự tồn tại của cuộc sống thực trên trái đất Các “phi” sống ở cõi hư vô bao gồm nhiều loại: phi khuôn (linh hồn), phi hươn (ma nhà), phi bản (ma bản), phi mường (ma mường), phi pa (ma rừng), phi ngua (sự cụ thể hóa hình tượng thuồng luồng biết biến hóa) Tộc người Thái có quan niệm về vũ trụ khá độc đáo:
vũ trụ có năm tầng Tầng trên cùng, nơi hỗn mang là thế giới của những người
“ăn sương ăn gió”, đeo dao cứa cổ, sống lang thang đây đó Tầng tiếp theo là thế giới của các vị thần và tổ tiên các dòng họ Thái trên trời, do Then Luông cai quản Tầng thứ ba, thế giới trên mây, trong vòm trời, nơi có các vì trăng – sao, là thế giới của những người khổng lồ được Then cử xuống xây dựng trần gian từ buổi sơ khai Tầng thứ tư là ở mặt đất, là thế giới của loài người và muôn vật (thế giới thực tại), ma quỷ (thế giới hư ảo) và thế giới của thuồng luồng dưới nước Tầng cuối cùng là thế giới dưới mặt đất, ở đó có loài người tí hon chỉ chuyên ăn đất Quan niệm về vũ trụ năm tầng về sau có phần chịu ảnh hưởng tư tưởng phong kiến, dùng để bảo vệ giai cấp phong kiến Tuy nhiên, quan niệm này đã phản ánh một cách chân thực cách nhìn nhận của con người về tự nhiên, xã hội lúc bấy giờ
Về chữ viết, người Thái là một trong những tộc người có chữ viết sớm, do
vậy những tác phẩm văn học dân gian lưu hành bằng cách truyền miệng của quần
Trang 38chúng đã nhanh chóng được ghi chép lại Theo sử sách cũ để lại, cụ thể là bản
Quắm tố mương thì chữ Thái đã xuất hiện trước thế kỷ XI – XII [199] Bản Quắm tố mương đã ghi lại rằng từ khi Tạo Xuông, Tạo Ngần làm chủ đất mường
Ôm, mường Ai ở miền thượng sông Hồng thì người Thái đã có chữ viết để ghi chép các tập tục, nghi lễ tôn giáo Trước thế kỷ XI – XII, lúc ngành Thái Đen chưa thiên di đến vùng Tây Bắc thì chữ này đã dùng trong các cư dân cổ của họ Đến thế kỷ XIV – XV, đời Lò Lẹt làm chủ đất Mường Muổi (Thuận Châu) thì chữ Thái đã được phổ biến rộng rãi hơn trong các bản mường Khi Lò Lẹt lớn lên làm Phìa Mường Muổi lấy hiệu là Ngu Háu thì việc dạy học chữ Thái được mở mang rộng khắp trong dân Chữ Thái được dùng phổ biến trong công việc hành chính và sáng tác thơ ca Do vậy, chữ Thái đã có điều kiện để phát triển Chữ Thái ra đời và phát triển đã giúp cho dân tộc Thái sớm có phương tiện để phát triển tư duy, kinh tế, xã hội và đặc biệt là văn hóa Nhờ có chữ viết mà người Thái ghi chép lại được những tác phẩm lưu truyền trong dân gian và cũng từ đó văn học thành văn có điều kiện để phát triển
Là một trong những tộc người có ngôn ngữ, văn tự riêng nên người Thái
đã xây dựng một nền văn học dân gian phong phú và đa dạng Có thể nói, văn
học dân gian Thái được xem như một bức tranh lịch sử xã hội sinh động, phản ánh một cách khá sâu sắc và toàn diện về xã hội Thái lúc bấy giờ Trong kho tàng văn học dân gian Thái, thần thoại là một trong những thể loại chiếm vị trí quan trọng Đó là những câu chuyện về sự hình thành trời đất, loài người, muôn vật, về nạn hồng thủy… Đó là truyện về quả bầu mẹ, truyện người đàn bà góa cắt dây nối trời với đất, truyện con rùa cứu người, truyện tại sao người là chúa tể của muôn loài… Tất cả những truyện thần thoại ấy đều nhằm giải thích thế giới tự nhiên, thể hiện những quan niệm sơ khai, nguyên thủy của người Thái Thần thoại Thái mang dấu ấn của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong buổi bình minh của lịch sử dân tộc Thái Bên cạnh thần thoại là những truyền thuyết
kể về các nhân vật lịch sử ở dạng vừa thực vừa hư, nhuốm màu sắc huyền thoại Ngoài những truyện có liên quan đến Lò Lẹt, Lạng Chượng, Tà Ngần… là những nhân vật lịch sử có thật, tồn tại phổ biến trong những truyện kể về các cuộc di cư
Trang 39của các nhóm Thái đến các miền đất khác nhau, còn có truyện về người anh hùng nông dân từ miền xuôi lên cùng với các tù trưởng người Thái lãnh đạo nhân dân chống lại triều đình phong kiến như truyền thuyết về Hoàng Công Chất, Hà Công Ứng, Cầm Bá Thước… Dân tộc Thái có một kho tàng truyện cổ tích khá phong phú Truyện cổ tích chủ yếu xoay quanh những vấn đề mang ý nghĩa xã hội như
ca ngợi tình yêu chung thủy, bênh vực kẻ nghèo khó, đề cao lẽ phải, đấu tranh
phê phán cái ác, cái xấu: Ý Ưởi Ý Nọng, Nàng Khao nàng Đăm, Chàng Voi con,
Thể loại sử thi mặc dù có số lượng không đáng kể nhưng cũng chiếm một vị trí quan trọng trong nền văn học dân gian Thái Đó là những truyện thơ dài mang
tính anh hùng ca rõ rệt như sử thi Chương Han, sử thi Ẳm ệt luông,… Truyện thơ
Thái ra đời muộn nhưng lại là thể loại chiếm vị trí quan trọng nhất trong nền văn học dân gian Thái Đa số các truyện thơ Thái được xây dựng dựa trên nguồn cốt truyện là truyện cổ dân gian và ca dao – dân ca Tuy nhiên, truyện thơ không sử dụng “nguyên xi” cốt truyện ấy mà đã sáng tạo cho phù hợp với một thể loại mới,
một quan niệm mới Tiêu biểu là những tác phẩm như: Xống chụ xon xao, Khun
Lú nàng Ủa, Hiến Hom Cầm Đôi, Bên cạnh văn học dân gian, trong quá trình
hỗn dung và tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc, tộc người Thái còn xây dựng một
bộ phận văn hóa dân gian độc đáo Đó là sinh hoạt múa xòe, phong trào vui chơi
hạn khuống, đó là các làn điệu khắp, đó là các lễ hội như xên bản, xên mường, xên đông, kin chiêng boóc mạy,…
Như vậy, cùng với quá trình phát triển lịch sử lâu dài, dân tộc Thái đã hình thành nên những bản sắc riêng về văn hóa tộc người Bản sắc văn hóa sẽ là yếu tố quyết định sức sống lâu bền của cộng đồng một tộc người, đúng như nhận xét của nhà nghiên cứu Cầm Trọng – Phan Hữu Dật “Một dân tộc có bản lĩnh vững vàng thì sẽ phát huy được bản sắc của mình Một dân tộc luôn phát huy được bản sắc của mình cũng chứng tỏ dân tộc đó có bản lĩnh Cho đến nay, tuy chỉ là một trong 53 dân tộc thiểu số, nhưng đã chứng tỏ Thái là một trong những tộc người
có bản lĩnh và bản sắc – một cộng đồng tộc người có nền văn hóa” [202, tr 24]
Với cái nhìn toàn cảnh về văn hóa Thái, có thể nói rằng “văn hóa Thái là văn
hóa lúa nước điển hình” [114, tr 251] của một nền văn hóa lớn và quan trọng
Trang 40không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả lục địa Đông Nam Á Nền văn hóa đó đã và đang góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nền văn hóa Việt Nam
1.2 Một số vấn đề về truyện thơ các dân tộc thiểu số
1.2.1 Khái niệm truyện Nôm và truyện thơ các dân tộc thiểu số
Truyện thơ là một thể loại có vị trí quan trọng trong bộ phận văn học dân gian Việt Nam Tuy nhiên, từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu chưa đưa ra một
khái niệm thống nhất về truyện thơ Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả
Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, La Khắc Hòa, Trần Đức Ngôn,…
chỉ đề cập đến trong khái niệm về trường ca “Ở Việt Nam các truyện thơ dài như
Truyện Kiều, Tiễn dặn người yêu… được gọi là truyện thơ, các tác phẩm trữ tình
dài được gọi là ngâm khúc” [63, tr 257-258] Truyện thơ ở Việt Nam gồm hai
mảng thể loại: truyện Nôm của dân tộc Kinh và truyện thơ của các dân tộc thiểu
số [152, tr 68]
Truyện Nôm là “thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ
điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm” [63, tr 253] GS Kiều
Thu Hoạch trong công trình nghiên cứu Truyện Nôm, lịch sử hình thành và bản
chất thể loại đã xác định truyện Nôm xét về bản chất thể loại cũng chính là
truyện thơ Tác giả khẳng định “truyện Nôm là một thể loại văn học được hình thành từ thơ ca dân gian và truyện kể dân gian Nhìn từ quan điểm folklore thì truyện Nôm cũng chính là một loại truyện dân gian được kể bằng thơ ca dân gian Do vậy, nói khác đi thì truyện Nôm cũng còn có thể được gọi/ gọi được là
truyện thơ Gọi là truyện Nôm chẳng qua là một cách gọi theo tập truyền, và là
gọi theo hình thức ghi chép đặc thù của thể loại – đó là ghi chép bằng chữ Nôm Còn gọi là truyện thơ là gọi theo bản chất thể loại – một loại hình văn vần, để phân biệt với một loại hình tự sự khác, đó là loại hình tự sự văn xuôi” [76, tr 301] Truyện Nôm được chia thành hai loại: truyện Nôm bình dân và truyện Nôm bác học Truyện Nôm bình dân được sáng tác dựa trên cơ sở là nguồn cốt truyện
của truyện kể dân gian như: Phạm Tải Ngọc Hoa, Tống Trân Cúc Hoa, Thạch
Sanh,… Truyện Nôm bác học được sáng tác trên cơ sở cốt truyện của văn học