Xuất phát từ thực tế đó, ở luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu tiểu sử và hành trạng của Huyền Quang qua các nguồn thư tịch cổ, đặt trong sự vận động tư tưởng văn hoá, văn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐÌNH NGHĨA
HUYỀN QUANG TÔN GIẢ
TỪ CUỘC ĐỜI VÀO TÁC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ĐÌNH NGHĨA
HUYỀN QUANG TÔN GIẢ
TỪ CUỘC ĐỜI VÀO TÁC PHẨM
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Sơn
Hà Nội – 2009
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là một hiện tượng tư tưởng, văn hoá, văn học đặc biệt của thời đại nhà Trần, Huyền Quang đã đi vào sử sách từ rất sớm Đã có không ít công trình nghiên cứu về ông trên nhiều bình diện: tư tưởng triết học, văn hoá dân gian, văn học…
Tuy nhiên cho tới nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu về Huyền Quang một cách toàn diện, nhất quán Xuất phát từ thực tế đó, ở luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu vào nghiên cứu tiểu sử và hành trạng của Huyền Quang qua các nguồn thư tịch cổ, đặt trong sự vận động tư tưởng văn hoá, văn học thời Trần để dựng lên bức tranh khái quát, tương đối khách quan về nhân cách lịch sử đặc biệt này, từ đó tiến hành tìm hiểu, phân tích các trước tác của ông hiện còn được lưu lại đến nay, cũng như tìm hiểu, phân tích về ông ở góc độ là một nhân vật trong văn học Lựa chọn và triển khai đề tài này, chúng tôi cũng mong muốn tìm hiểu liệu có mối liên hệ xác thực, lôgíc nào đối với Huyền Quang - từ một nhân cách lịch sử vào trong tác phẩm (trong sáng tác của ông, và trong các sáng tác về ông với tư cách là một nhân vật văn học) hay không?
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu Huyền Quang ở cấp độ khái quát, nhất quán trên ba phương diện: Huyền Quang - nhân vật lịch sử; Huyền Quang - một thi nhân; Huyền Quang - nhân vật văn học Từ ba phương diện nghiên cứu về Huyền Quang, chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu, cắt nghĩa và lý giải quá Trình Huyền Quang từ một nhân cách lịch sử đã đi vào trong tác phẩm như thế nào Liệu nhân vật hiện thực ở ngoài đời khi được phản ánh vào trong tác phẩm có mối liên hệ lôgíc nội tại hay mâu thuẫn nào không Căn
cứ vào kết quả nghiên cứu về Huyền Quang ở ba phương diện trên để đưa ra nhận định tổng quát, nhất quán về hiện tượng tư tưởng, văn hóa văn học độc đáo này
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các thư tịch cổ ghi chép về tiểu sử và hành trạng của Huyền Quang có
thể kể đến như Tam tổ thực lục, Tam tổ hành trạng, Thánh đăng ngữ lục… Trước tác của ông cũng được đưa vào các bộ sưu tập: Việt âm thi tập, Toàn Việt
thi lục, Kiến văn tiểu lục, Hoàng Việt thi tuyển…gần đây, các trước tác còn lại
Trang 4của ông đã được sưu tập lại trong công trình nghiên cứu Thơ văn Lý - Trần của
nhóm tác giả thuộc Viện Văn học Số lượng các công trình nghiên cứu về Huyền Quang không phải là nhỏ Theo thống kê một cách tương đối của PGS
TS Nguyễn Hữu Sơn, từ đầu những năm 1970 cho tới nay, có hơn 70 đơn vị thư mục tư liệu liên quan đến cuộc đời, hành trạng, sự nghiệp, văn tài… của vị tổ thứ ba Thiền phái Trúc Lâm này Những người nghiên cứu về Huyền Quang nhiều nhất có thể kể đến như Thích Thanh Từ, Thích Phước Sơn, Thích Phước
An, Nguyễn Lang, Đào Duy Anh, Nguyễn Đổng Chi, Trần Quốc Vượng, Hoàng Xuân Hãn, Lê Mạnh Thát, Trần Thị Băng Thanh, Đoàn Thị Thu Vân, Nguyễn Phạm Hùng, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Kim Sơn… Phần lớn những đánh giá nghiên cứu này về Huyền Quang chỉ dừng lại ở mức độ của các bài viết Gần đây
mới xuất bản cuốn Huyền Quang- cuộc đời, thơ và đạo do Giáo sư Trần Thị
Băng Thanh chủ biên Tuy nhiên, công trình này cũng mới chỉ là sự tập hợp các bài viết về Huyền Quang theo từng phạm vi chủ đề, chứ chưa phải là một công trình nghiên cứu toàn diện, nhất quán về ông Các tác giả như Nguyễn Phạm Hùng, Nguyễn Hùng Hậu có nhắc tới Huyền Quang nhưng cũng chỉ đề cập gián tiếp khi nhắc đến văn học giai đoạn Lý - Trần
Các tác giả như Nguyễn Lang, Nguyễn Duy Hinh và những người trong giới xuất gia như Hoà thượng Thích Thanh Từ, Thượng toạ Thích Quảng Liên, nhóm tác giả ở Việt Triết học, Việt Phật giáo cũng nghiên cứu về Huyền Quang
với tư cách là đệ tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Cuốn Lược khảo tư tưởng
Thiền phái Trúc Lâm của tác giả Nguyễn Hùng Hậu, Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần của tác giả Trương Văn Chung, Triết học Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh lại quan tâm tới Huyền Quang ở khía cạnh
tư tưởng triết học của ông và của Thiền phái Trúc Lâm
Gần đây nhất là hội thảo về “Bảo tồn và phát huy di sản đệ tam Tổ Thiền phái Trúc Lâm Huyền Quang và lễ hội Côn Sơn” tại Côn Sơn vào ngày 15 tháng
2 năm 2009 với các bài tham luận của các nhà nghiên cứu Văn - Sử - Triết, các nhà văn, các nhà báo, các Hoà Thượng Những bài tham luận này tập trung đánh giá về phương diện tiểu sử hành trạng, trước tác của Huyền Quang, vai trò và đóng góp của Huyền Quang đối với Thiền phái Trúc Lâm, câu chuyện giữa ông với nàng Điểm Bích, các di sản văn hoá gắn với đệ tam Tổ này
Như vậy có thể thấy, Huyền Quang đã được nghiên cứu ở rất nhiều phương diện, cấp độ khác nhau Tuy nhiên nghiên cứu Huyền Quang ở phương
Trang 5diện từ nhân cách lịch sử đã được phản ánh như thế nào vào trong tác phẩm vẫn còn là một hướng nghiên cứu mở, hứa hẹn nhiều điều hấp dẫn và thú vị
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu ở đây là Huyền Quang - một hiện tượng tư tưởng văn hoá văn học đặc biệt của thời Trần Chúng tôi sẽ khảo sát hiện tượng Huyền Quang mà cụ thể là quá trình từ một nhân vật lịch sử đã được chuyển hóa và phản ánh như thế nào vào trong tác phẩm văn học Trong phạm vi của luận văn này, người viết thông qua các thư tịch cổ, tìm hiểu tiểu sử hành trạng của Huyền Quang, từ đó khái quát lên hình ảnh về ông, trên cơ sở con người lịch sử, chúng tôi đi sâu vào việc phân tích thơ văn của Huyền Quang, cũng như tìm hiểu hình ảnh của ông ở góc độ một nhân vật văn học Nghiên cứu về Huyền Quang trên
cơ tư liệu ghi chép về ông có nhiều điểm còn chưa được thống nhất, hơn nữa các trước tác còn lại của ông cho đến nay cũng không còn nhiều Vì vậy, chúng tôi một mặt dựa vào các nguồn thư tịch cổ ghi chép về tiểu sử hành trạng và các trước tác của ông, đồng thời cũng dựa trên sự vận động tư tưởng văn hoá và văn học thời Trần với mong muốn đưa ra những kiến giải tương đối khách quan, thống nhất về hiện tuợng đặc biệt này
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát văn bản
- Phương pháp thống kê - phân loại
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp,
- Phương pháp loại hình học, phương pháp nghiên cứu văn bản liên ngành
6 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung luận văn gồm có 3 chương:
+ Chương 1: Tiều sử và hành trạng Huyền Quang qua các nguồn thư tịch cổ
+ Chương 2: Nhà thơ Lý Đạo Tái và Tôn giả Huyền Quang
+ Chương 3: Huyền Quang tôn giả - nhân vật văn học và những kết tinh huyền thoại, giai thoại
Trang 6PHẦN NỘI DUNG Chương 1 TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG HUYỀN QUANG QUA CÁC
NGUỒN THƯ TỊCH CỔ
Là một hiện tượng tư tưởng văn hóa, văn học đặc biệt ở giai đoạn Lý -
Trần nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung, Huyền Quang tôn giả đã đi vào sử
sách từ rất sớm Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ông ở các góc độ khác
nhau: lịch sử tư tưởng, văn hóa dân gian, văn học… Hầu hết các công trình
nghiên cứu đều đánh giá cao Huyền Quang ở nhiều phương diện: một nhà tư
tưởng lớn, một thiền gia – thi nhân, một nhân vật văn học độc đáo
Trong chương đầu của luận văn, chúng tôi muốn dựng lên một bức chân
phác họa, khái quát về vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm dựa trên các ngồn
thư tịch cổ, đồng thời cũng đặt đối tượng nghiên cứu trong sự vận động tư tưởng
văn hóa, văn học của thời đại, để có được một cái nhìn tổng quát, khách quan
Qua các nguồn thư tịch cổ, chúng tôi nỗ lực dựng lại hình ảnh Huyền Quang ở
bốn phương diện theo tiến trình tiểu sử hành trạng của ông, đó là : Hình ảnh một
vị trí thức nho sĩ; Hình ảnh một nhà Phật học lỗi lạc – đệ tam Tổ của Thiền phái
Trúc Lâm; Hình ảnh một vị ẩn sĩ vả hình ảnh một thi nhân Chúng tôi hi vọng
thông qua việc dựng lên bức chân dung phác họa về Huyền Quang qua các
nguồn thư tịch cổ, có thể phẩn nào cung cấp cho độc giả một cái nhìn toàn diện,
khách quan và thống nhất về hiện tượng tư tưởng, văn hóa, văn học đặc biệt này
Tuy nhiên như đã đề cập ở phần đầu luận văn, hiện các nguồn thư tịch cổ
ghi chép về tiểu sử hành trạng và trước tác của Huyền Quang còn có nhiều điểm
chưa thống nhất Vì vậy, trước khi đi vào việc dựng lại hình ảnh khái quát của
Huyền Quang qua các nguồn thư tịch cổ, chúng tôi tập trung làm việc làm rõ
những vấn phức tạp trong việc nghiên cứu tiểu sử hành trạng và trước tác của
ông
1.1 Vấn đề tiểu sử và trước tác của Huyền Quang
1.1.1 Vấn đề tiểu sử Huyền Quang
Được nhìn nhận ở tư cách vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, một đơn
vị tác gia văn học, một danh nhân văn hóa - lịch sử, tên tuổi, tiểu sử hành trạng
Trang 7và trước tác của Lý Đạo Tái - Huyền Quang tôn giả đã được lưu lại từ rất sớm qua nhiều nguồn thư tịch khác nhau Những thư tịch cổ ghi chép về tiểu sử hành trạng và trước tác của Huyền Quang có thể kể đến như:
1 Tam tổ thực lục - Khuyết danh
2 Tam tổ hành trạng - Khuyết danh
3 Thiền tông bản hạnh - Khuyết danh
4 Việt Nam cao tăng lục - Khuyết danh
5 Thánh đăng ngữ lục - Khuyết danh
6 Đinh kế lịch triều đăng khoa lục - Khuyết danh
7 Lịch triều hiến chương loại chí - Phan Huy Chú
8 Kiến văn tiểu lục - Lê Quý Đôn
9 Hoàng Việt thi tuyển - Bùi Huy Bích
10 Toàn Việt thi lục - Lê Quý Đôn
11 Trích diễm thi tập - Hoàng Đức Lương
12 Việt âm thi tập - Phan Phu Tiên
13 Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh - Ngô Thì Nhậm
14 Tân đính Lĩnh Nam trích quái - Vũ Quỳnh
15 Vũ trung tuỳ bút - Phạm Đình Hổ
16 Sơn cư tạp thuật - Đan Sơn
Từ kết quả liệt kê như trên, có thể thấy các nguồn thư tịch cổ ghi chép về tiểu sử hành trạng và trước tác của Huyền Quang không phải là ít Tuy nhiên, những ghi chép về tiểu sử hành trạng và trước tác của ông trong các nguồn thư tịch cổ còn có nhiều điểm chưa được thống nhất Điều này đã gây không ít khó khăn cho các nhà nghiên cứu trong việc tìm hiểu, đưa ra những nhận xét, đánh giá mang tính khách quan, nhất quán về hiện tượng tư tưởng văn hóa, văn học đặc biệt này
Trong các nguồn thư tịch cổ mà chúng tôi đã liệt kê ở trên, thư tịch ghi
chép về Huyền Quang được xem là chính thống và đầy đủ hơn cả là bản Tổ gia
thực lục trong Tam tổ thực lục Tổ gia thực lục nói riêng và Tam tổ thực lục nói
chung đều không có tên tác giả và người hiệu khảo Theo lời dẫn in ở cuối bản
Tam tổ thực lục thì “Quyển Tổ gia thực lục này, vào khoảng niên hiệu Tuyên
Đức (1426 - 1435) đời nhà Minh, Thượng thư Hoàng Phúc thấy được, liền mang
Trang 8về nhà Minh (…) Đến khoảng năm Gia Tĩnh (1522 - 1558) nhà Minh, Tô Xuyên Hầu đi sứ sang nhà Minh, tới 19 năm sư giả mới trở về Cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa Tổ, làm quan chuyển vận (…) đã gửi cho Tô Xuyên Hầu đem về (…) Trình Tuyền Hầu (Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) nhân đến chúc mừng đoàn sứ giả về nước, bèn nhận sách đem về Sau đó Trình Tuyền Hầu
có làm văn chú thích sách này” [56, tr 90]
Như vậy, Tổ gia thực lục sau khi được tìm thấy đã được ghép với hai phần
trước chép về Điều Ngự Giác Hoàng – Trúc Lâm đệ nhất Tổ và Pháp Loa – đệ
nhị Tổ (khoảng thế kỷ thứ XIV) để thành ra sách Tam Tổ thực lục và được lưu hành vào khoảng giữa thế kỷ XVI Theo Tổ gia thực lục trong Tam tổ thực lục
thì Huyền Quang sinh năm Giáp dần (1254): “Tổ ở phía Đông Nam chùa Ngọc Hoàng, tại Lang Am, làng Vạn Tải, hạ lưu sông Bắc Giang (khoảng năm Hồng Đức (1470 - 1497) đổi thành huyện Gia Định, xã Vạn Tư (nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh); tổ tiên chín đời của Tổ là Lý Ôn Hoà làm quan Hành khiển dưới triều vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) Ôn Hoà sinh Lương, Lương sinh Nhượng, Nhượng sinh Minh Doãn, Minh Doãn sinh Khâm, Khâm sinh Quang Dụ (làm quan chuyển vận đời Trần), Quang Dụ sinh 4 người con trai: người trưởng tên là Tráng, người kế tên Tướng, người thứ ba tên Thành
và người út tên Tuệ Tổ Tuệ Tổ là Tổ phụ của Tổ sư Lúc còn làm học trò, nhân Chiêm Thành sang cướp phá, ông đánh giặc có công, nhưng không ra làm quan, chỉ vui thú điền viên, ưu du qua ngày tháng, lại thích xem sách hay và chuyện lạ
Mẹ Tổ là Lê Thị, vốn là người đàn bà hiền đức, chiều chuộng chồng con, kính
thờ cha mẹ chồng” [56, tr 77-78]
Theo Tổ gia thực lục thì Huyền Quang xuất thân từ một gia đình thi thư, có
khiếu văn chương từ nhỏ Năm 20 tuổi, ông đỗ thi Hương, năm 21 tuổi ông thi tiếp khoa thi Hội và đỗ Trạng nguyên Sau khi thi đỗ, ông được bổ làm việc trong viện Hàn lâm, phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc Năm 1305, nhân đi theo vua Anh Tông (1293 - 1314) đến chùa Vĩnh Nghiêm, thấy quốc sư Pháp Loa (1284 - 1330) đang hành đạo, lòng sinh ngưỡng mộ, nhớ lại duyên xưa, ông bùi ngùi cảm thán rằng: “Làm quan lên Bồng Đảo, đắc đạo đến Phổ Đà, trên cõi nhân gian là Tiên, cảnh giới Tây phương là Phật Phú quý vinh hoa nào khác lá vàng mùa thu,
mây trắng ngày hạ, há nên lưu luyến mãi” [56, tr 80] Nhân đó ông dâng biểu xin
Trang 9từ chức để xuất gia học đạo tu hành Cũng theo Tổ gia thực lục thì ông thọ giáo
với Thiền sư Pháp Loa và được pháp hiệu là Huyền Quang Sau đó Huyền Quang phụng mệnh đệ nhất tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đến trụ trì ở chùa Vân Yên (đến đời Hồng Đức (1470 - 1497) đổi tên thành chùa Hoa Yên) núi Yên
Tử Với học vấn sâu rộng lại tinh thông Phật pháp, Tăng, Ni theo học ông đông
đến hàng nghìn người Điều Ngự còn sai ông biên soạn Chư phẩm kinh, Công văn
tập và các sách khác…Ông được Điều Ngự hết sức yêu quý và đánh giá rất cao về
trình độ học vấn Sau khi Điều Ngự mất, ông đã phò tá Pháp Loa hơn hai mươi năm (1309 – 1330) và đóng góp không nhỏ cho sự hưng thịnh của Thiền phái Trúc Lâm Năm 1330, Pháp Loa mất, ông nối tiếp làm vị Tổ thứ ba của dòng Thiền Trúc Lâm Về cuối đời, Huyền Quang cư trú ở núi Thanh Mai sáu năm, rồi về trụ trì ở Côn Sơn Ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), Huyền Quang viên tịch tại chùa Côn Sơn, thọ 80 tuổi Đến ngày 24, tin tức mới về tới làng Vạn Tải, nên dân làng lấy ngày này làm ngày giỗ của ông
Mặc dù Tổ gia thực lục trong Tam tổ thực lục được xem là nguồn thư tịch
ghi chép tương đối đầy đủ và chính thống hơn cả về tiểu sử và hành trạng của Huyền Quang (Các nguồn thư tịch ghi chép về Huyền Quang vể sau cũng thường
dựa vào bản Tổ gia thực lục này), nhưng tính xác thực nó cũng chỉ dừng lại ở đôi ba
điểm mốc quan trọng trong tiểu sử hành trạng của Huyền Quang, bên cạnh những
sự kiện khác còn gây nhiều tranh cãi và nghi hoặc Qua Tổ gia thực lục, chúng ta
cũng mới chỉ xác định được quê quán, gia thế, năm sinh năm mất của Huyền Quang Ông được sinh ra trong một gia đình có truyền thống thi thư, từng kinh qua cửa Khổng sân Trình, nhưng sau đó ông xuất gia Với học thuật uyên thâm, ông trở thành vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm và có những đóng góp rất quan trọng cho sự hưng thịnh của Thiền phái này
Tổ gia thực lục nói riêng và Tam tổ thực lục nói chung, trong quá trình ghi
chép tiểu sử, với mục đích đề cao tài năng và phẩm hạnh của của các vị Tổ, đã thần thánh hóa họ bằng vô số những yếu tố kỳ ảo Điều này đã “vi phạm”, mục đích biên soạn “thực lục” - ghi chép đúng sự thực Các vị Tổ Trúc Lâm, đặc biệt
là Tam Tổ Huyền Quang đã được thần thánh hóa bằng những yếu tố kỳ ảo, những vầng hào quang huyền diệu xung quanh tiểu sử hành trạng một cách đậm
đặc Chính vì vậy mà Tổ gia thực lục nói riêng và Tam tổ thực lục nói chung đã
Trang 10chứa đựng những yếu tố vượt khỏi chức năng tôn giáo, ghi chép tiểu sử các vị thiền sư, tạo mầm mống cho việc hình thành những văn bản mang đậm chất văn
học đích thực về sau Các tác giả trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa
đầu thế kỷ XVIII do Đinh Gia Khánh chủ biên đã có nhận xét rất đúng: So với Thiền uyển tập anh, thì Tam tổ thực lục ít có giá trị sử học hơn Điều này cũng
được tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận - Nguyễn Lang khẳng định, đặc biệt là với bản Tổ gia thực lục Theo Nguyễn Lang thì: Tổ gia thực lục có ghi nhiều chi
tiết về những sự kiện liên hệ tới Huyền Quang, ví dụ như tên họ của tổ tiên ông
từ đời Lý Thần Tông, khiến ta có thể tin rằng sách đã viết trên những căn cứ xác thực Tuy nhiên vì tác giả dựa trên những điều thuật lại mà không căn cứ vào thư tịch có trước, cho nên sách cũng có một số chi tiết không phù hợp với sự thật So
với hai phần trước trong sách Tam tổ thực lục, giá trị lịch sử của phần này hẳn là
kém hơn một bực
Như Nguyễn Lang nhận xét, ở bản Tổ gia thực lục, bên cạnh những điểm
tương đối xác thực về tiểu sử hành trạng của Huyền Quang còn có không ít những điểm còn gây nhiều tranh cãi, ghi ngờ hoặc nhầm lẫn như: Huyền Quang
“dâng biểu đến ba lần xin từ chức để xuất gia học đạo tu hành Thuở ấy vua đang tôn sùng Phật giáo, nên người chấp nhận Khi được phép vua, Tổ liền thọ giáo với Thiền sư Pháp Loa, được pháp hiệu là Huyền Quang” [Tam tổ, tr.80] Thực
ra thì sau khi xuất gia, Huyền Quang thọ giáo với Bão Phác, là đệ tử của Bảo Phác ở chùa Vũ Ninh, điều này đã được ghi rất rõ trong bản tiểu sử của Pháp Loa
ở Tam tổ thực lục Việc ông đỗ khoa thi Hương năm 20 tuổi và thủ khoa kì thi
Hội năm sau đó rồi được bổ vào chức quan Hàn lâm… cũng rất khó xác định Hơn thế nữa, bủa vây xung quanh tiểu sử hành trạng của ông là hàng loạt những truyền thuyết, huyền thoại và giai thoại như các chi tiết: mẹ ông đến núi Chu Sơn hái thuốc, gặp lúc trời hè nắng gắt, ngồi nghỉ dưới bóng chùa Ma Cô tiên, mơ thấy một con khỉ lớn, đầu đội mũ triều thiên, mình mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng, bà giật mình tỉnh giấc, thấy lòng rung động và có thai… khi ông sinh ra có tia sáng mờ ảo, mùi hương thơm phức… rồi đến câu chuyện
hư hư thực thực giữa ông và nàng Bích, chi tiết ông dùng pháp thuật để giải toả mối nghi oan và chứng tỏ cho đạo hạnh của mình… tất cả những yếu tố kỳ ảo này đã hoàn toàn vượt khỏi phạm vi sử liệu và chức năng của một văn bản tôn
Trang 11giáo, đồng thời đem đến cho Tổ gia thực lục những yếu tố, dấu ấn văn học khá
đậm nét
Việc tiểu sử hành trạng của Huyền Quang được bao phủ bởi những truyền thuyết, huyền thoại và giai thoại một cách đậm đặc như vậy đã làm cho tính xác thực của những tư liệu ghi chép về ông có không ít điều cần phải bàn xét Đối chiếu các thư tịch chép về Huyền Quang, chúng ta thấy một số điểm không đồng nhất như:
Về tên gọi, theo Tam tổ thực lục (Thế kỷ XIV) tên ông là Lý Tải Đạo; theo
Tân đính Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh -1505), tên ông là Lý Kiên Cương; theo Toàn Việt thi lục (Lê Quý Đôn - 1786), tên ông lại là Trần Đạo Tái…
Theo Tam tổ thực lục, năm 20 tuổi ông đỗ khoa thi Hương, năm 21 tuổi
tham gia kì thi Hội và đỗ Trạng nguyên, sau khi đậu, ông được bổ vào chức quan Hàn lâm, phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc, làm quan đến năm 51 tuổi mới
xuất gia Theo sách Đỉnh kế lịch triều đăng khoa lục, sau khi thi đỗ, ông được cử
làm quan ở Viện Nội hàn, nhưng không lâu thì xin từ chức và đi tu Theo sách
Tam tổ hành trạng, ông có thi đỗ Trạng nguyên, song không chịu làm quan mà
xin vua Trần cho xuất gia vào núi tu hành Theo Hoàng Việt thi văn tuyển của
Bùi Huy Bích thì ông họ Trần, 9 tuổi đã biết làm văn thơ, 19 tuổi vào chùa tu
hành, được Trần Anh Tông đặt hiệu là vị tổ Trúc Lâm thứ ba… Theo “Huyền
Quang hành” trong Yên Tử sơn tự tăng (Sư chùa núi Yên Tử) của Đan Sơn thì
“Huyền Quang là người Vạn Tải, huyện Gia Định Năm Anh Tông thứ năm (1297), ông thi Hương đỗ Giải nguyên; năm thứ sáu (1298) thi Hội đỗ Tiến sĩ, Trạng nguyên cập đệ” [80, tr 185] Và cũng theo tác giả Đan Sơn thì “Xét quốc
sử và Đăng khoa lục thì không có kỳ thi Hội nào vào năm Anh Tông thứ sáu Câu chuyện do thế tục truyền tụng so với những điều ghi chép ở đây là hoàn toàn khác nhau” [80, tr 186]
Việc Huyền Quang - Lý Đạo Tái có đỗ Trạng hay không và nếu đỗ thì là vào năm nào? Hiện vẫn chưa có tài liệu nào ghi chép được rõ ràng Theo
PGS.TS Trần Thị Băng Thanh, căn cứ vào Đại Việt sử ký toàn thư thì “hai năm
Quý Dậu, Giáp Tuất (1273/1274), không có thi Hương, thi Hội Mãi đến năm Ất Hợi (1275) triều đình mới mở khoa thi tuyển người, lấy đỗ Trạng nguyên Đào Tiêu, Thám hoa Lang Quách Nhẫn và 27 Thái học sinh Như vậy nếu Huyền
Trang 12Quang đi thi thì tên ông chỉ có thể nằm trong danh sách 27 Thái học sinh đó chứ không đỗ Trạng” [80, tr 39] Cũng theo bà Băng Thanh thì nếu Lý Đạo Tái sau khi thi đỗ, được bổ sung vào chức quan Hàn lâm, phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc thì sao lại không có tên ông? Trong khi thời kỳ này cuộc đấu tranh ngoại giao giữa ta và nhà Nguyên rất gay gắt, làm nảy sinh mảng văn xuôi dưới dạng thư từ biểu tấu rất giàu chất nghị luận, Các bậc cầm bút có công như Đinh Củng Viên… đều được ghi trong sử sách? Có thể các nhà chép sử đã bỏ sót tên Huyền Quang nhưng cũng có thể “Huyền Quang không phải là một nhân vật nổi tiếng trong quan trường đương thời Ông không đỗ cao khoa, cũng không mặn
mà với đường khoa hoạn Ông đã là một bậc “đại ẩn” ngay từ khi giữ công việc
từ hàn” [80, tr 39]
Các nguồn thư tịch cổ ghi chép về Huyền Quang nhìn chung khá vắn tắt, bên cạnh đấy lại còn có không ít những điểm mờ khó xác định Hơn thế nữa, tiểu
sử hành trạng của Huyền Quang lại hầu như không được chép trong chính sử Cả
Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí đều không chép gì về
Huyền Quang
Với đặc điểm “văn - sử - triết bất phân” trong văn học trung đại phương Đông nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng, hiện tượng một nhân vật lịch sử như Huyền Quang với tiểu sử hành trạng có nhiều điểm chưa thật rõ ràng qua các nguồn thư tịch không phải là một trường hợp ngoại lệ cá biệt Ngay đến Lão Tử, một nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc sống ở thời nhà Chu, cho đến nay, việc xác định ông sinh năm nào, mất ở đâu, thọ bao nhiêu tuổi vẫn chỉ là ước lệ Ở Việt Nam, thiền sư Vạn Hạnh - người có công rất lớn trong việc kiến tạo nên vương triều nhà Lý, người ta mới chỉ xác định được năm ông mất (1018)
mà chưa rõ ông sinh là năm nào Hay như Chu Văn An, người được coi là bậc
“đại nho quán thế” trong lịch sử nước ta, sau khi mất, ông được rước vào thờ ở Văn Miếu, cũng chỉ mới xác định được năm mất (1370) mà chưa rõ năm sinh (Có tư liệu cho rằng ông sin năm 1292?)… Đây là một nét khá đặc thù trong văn hóa văn học phương Đông Trung đại do tình trạng lưu trữ, bảo quản yếu kém về
tư liệu, việc giữ gìn văn hiến văn hóa chưa được đặt ra một cách nghiêm mật Hiện tượng Huyền Quang cũng không nằm ngoài tình trạng trên
Trang 13Vấn đề tiểu sử hành trạng Huyền Quang được Huyền thoại hóa, giai thoại hóa cũng không nằm ngoài quy luật phổ biến đối với các nhân vật nổi tiếng xưa nay ở cả Đông lẫn Tây Tuy vậy, Huyền Quang là một trong số rất ít những tên tuổi mà tiểu sử và hành trạng lại được huyền thoại hóa và đặc biệt được giai thoại hóa ở mức cực cao và đậm đặc đến như vậy Điều này càng có ý nghĩa lớn khi đặt Huyền Quang trong bối cảnh của sự chuyển giao tư tưởng, văn hóa, văn học Trung đại ở thế kỷ XIV - XV Rõ ràng đến thời đại Huyền Quang, trong văn học đã ẩn chứa một sự vận động nào đó trong tâm lý sáng tạo và thưởng thức Những thư tịch ghi chép về Huyền Quang không còn chỉ dừng lại ở những văn bản mang chức năng tôn giáo, ghi chép tiểu sử các vị thiền sư, mà nó đã thể hiện nhiều hơn ở những yếu tố văn học, tiến gần hơn tới một văn bản mang chức năng văn học, hướng tới đáp ứng những yều cầu của sự sáng tạo, tiếp nhận và thưởng thức văn học Chính vị vậy, qua các nguồn thư tịch cổ, Huyền Quang không chỉ đơn thuần là nhân vật lịch sử, ở một phương diện nhất định nào đấy ông còn là hình ảnh của một nhân vật văn học thực thụ Chính sự giao thoa giữa nhân vật lịch sử và nhân vật văn học đã tạo nên những “bất khả giải” đối với các nhà nghiên cứu trên đường hướng kiếm tìm và khẳng định những yếu tố xác thực, tin cậy về Huyền Quang ở phương diện con người lịch sử
Ở Việt Nam từ thế kỷ thứ XIV – XV (thế kỷ của sự vận động và chuyển giao những yếu tố đặc trưng của dòng văn học Phật giáo sang dòng văn học Nho giáo) đã xuất hiện nhiều thể loại văn học với nhiều phương thức phản ánh khác với thời kỳ trước đó Nhân vật trung tâm mà văn học phản ánh không còn đơn thuần là những nhà sư nữa mà là cả quý tộc - võ tướng và đặc biệt là hình ảnh người trí thức nho sĩ – nhân vật đang tiến dần trên tiến trình trở thành nhân vật trung tâm, độc tôn của văn học trung đại Sự vận động và giao thoa trong các nhân cách trí thức trên tiến trình hướng tới một nhân cách trí thức đơn trị đã đưa đến những phương thức phản ánh mới so với giai đoạn trước Những hình thức ghi chép, phản ánh của văn học Phật giáo không còn phù hợp và dần bị phân hóa, thay thế bằng những hình thức ghi chép và phản ánh mang nhiều đặc trưng của một dòng văn học mới – dòng văn học Nho giáo với sự vận hành theo những yêu cầu tất yếu của thời đại lịch sử Bên cạnh những thể loại và phương thức phản ảnh mới, các phương thức phản ảnh truyền thống cũ đã bị thu hẹp và tản
Trang 14mát dần ra vùng biên trong quá trình độc tôn của văn chương Nho giáo Là một nhân cách văn hóa đa trị, một trí thức vừa tinh thông Nho học vừa uyên thâm về Phật học, nhân vật lịch sử - nhân vật văn học Huyền Quang đã được ghi chép, phản ánh theo cả phương thức của dòng văn học Phật giáo và phương thức của dòng văn học Nho giáo, lại ở thời điểm giao thoa giữa hai dòng văn học này, trong sự vận động từ dòng văn học Phật giáo sang dòng văn học Nho giáo Những cách ghi chép và phản ánh mang đặc trưng riêng của hai dòng văn học này đã dẫn đến những chi tiết và sự kiện không khớp nhau trong tiểu sử hành trạng của Huyền Quang ở các nguồn thư tịch cổ và gây “nhiễu” cho các nhà khoa học trong quá trình nghiên cứu về tiểu sử hành trạng của ông
1.1.2 Vấn đề trước tác của Huyền Quang
Theo các nguồn thư tịch cổ, trước tác của Huyền Quang gồm có: Chư
phẩm kinh, Công văn tập, Thích khoa giáo, Ngọc tiên tập, Vịnh Vân Yên tự phú
Trong đó, các tác phẩm như Chư phẩm khinh, Công văn tập, Thích khoa giáo
đều đã thất lạc Hiện trước tác của Huyền Quang chỉ còn hơn 20 bài thơ chữ Hán
trong tập Ngọc tiên và bài phú Nôm Vịnh Vân Yên tự phú Các tác phẩm này
cũng không còn văn bản gốc và chủ yếu được ghi chép lại trong các nguồn thư
tịch cổ như Việt âm thi tập, Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt thi tuyển Tất cả
những tác phẩm của Huyền Quang còn lại cho đến nay đều được tập hợp trong
bộ sách Thơ văn Lý - Trần và công trình Huyền Quang - cuộc đời, thơ và đạo do
Trần Thị Băng Thanh chủ biên Trước tác của Huyền Quang còn lại đến nay là
không nhiều Và theo như sự tập hợp trong bộ sách Thơ văn Lý – Trần thì các bài
thơ đều có rất nhiều dị bản (dù mỗi dị bản chỉ khác nhau một đôi chữ), thêm vào
đó lại có nhiều điều chưa rõ ràng và đang còn gây nhiều tranh cãi như trường
hợp về bản quyền của bài Xuân nhật tức sự… Bài thơ Xuân nhật tức sự đã được
Lê Mạnh Thát trong bài Về tác giả bài thơ “Xuân nhật tức sự” đăng trên Tạp chí
Văn học (số 1 - 1984) xác định là của thiền sư Ảo Đường Trung Nhân (? - 1203)
Theo Lê Mạnh Thát thì ông đã tìm thấy bài thơ này trong một số sách chép về Thiền sư Trung Hoa đời Tống Với bài thơ trên, hiện tại có hai thái cực: Một số nhà nghiên cứu về Huyền Quang, trong đó có Lê Mạnh Thát cho rằng nên trả lại bài thơ cho tác giả của nó; một số nhà nghiên cứu khác trong đó có Thích Thanh
Từ, Thích Phước An, Trần Thị Băng Thanh… lại cho rằng: mặc dù đã tìm thấy
Trang 15xuất xứ xưa nhất của bài thơ trong thơ Thiền đời Tống, nhưng khi đối chiếu văn bản vẫn có một số chữ sai dị so với bài thơ gốc Do đó cũng có thể nêu thêm một giả thuyết là biết đâu Huyền Quang chẳng đã mượn bài thơ gốc của Ảo Đường Trung Nhân rồi chỉnh lý lại chút ít để biểu đạt cảm hứng Thiền thâm thuý của mình? Như vậy thì bài thơ vẫn phản ánh một phần tâm tư của ông
Khảo lại vấn đề bản quyền trong văn học Trung đại Việt Nam, chúng ta
thấy không chỉ có vấn đề bản quyền đối với bài Xuân nhật tức sự được ghi trong tập Ngọc tiên của Huyền Quang, mà còn có khá nhiều bài thơ khác từng tồn tại
về vấn đề bản quyền Bài Nam quốc sơn hà trước đây vẫn được xem là của Lý Thường Kiệt, nhưng theo Bùi Duy Tân trong cuốn Theo dòng khảo luận văn học
trung đại thì: “Thực sự Lý Thường Kiệt có thể là người sử dụng một cách sáng
tạo bài thơ đã lưu truyền từ lâu, để cổ vũ tinh thần chiến đấu của binh sĩ, chứ
chắc chắn không phải là tác giả của bài thơ” [72, tr 154] Hay bài Ngư nhàn từng được gắn với tác giả là Thiền sư Dương Không Lộ (thực ra bài thơ này là
của Hàn Ô - một nhà thơ Trung Quốc) Trong cuốn Theo dòng khảo luận văn
học trung đại, PGS Bùi Duy Tân đã so sánh bài thơ Ngư nhàn của Dương Không Lộ với bài thơ Tuý trước trong Toàn Đường thi của Hàn Ô Và cũng theo Bùi Duy Tân thì bài Ngư nhàn nên trả lại cho Hàn Ô, với tên đích thực của bài thơ là Tuý trước Bên cạnh những tranh luận về bản quyền của bài Xuân nhật tức
sự, cũng có không ít những bàn cãi về bài Vịnh Vân Yên tự phú Một số nhà
nghiên cứu cho rằng ngôn ngữ văn học trong bài phú Nôm Vịnh Vân Yên tự khó
có thể xuất hiện ở đời Trần, tuy nhiên theo như một số ý kiến khác thì ở đời Trần, chữ Nôm và các tác phẩm thơ Nôm thời Trần đã đạt đến một trình độ nhất định, đủ sức để biểu đạt những phong phú của đời sống thời bấy giờ Điều đó có
thể chứng minh qua các tác phẩm Nôm nổi tiếng như Cư trần lạc đạo phú và
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông (1258 – 1380); Giáo tử phú của Mạc Đĩnh Chi (1284-1361)… hơn nữa hiện nay vẫn chưa có bằng chứng
xác thực nào chứng minh được Huyền Quang không phải là tác giả của bài phú
này Theo PGS.TS Nguyễn Duy Hinh đã dẫn trong cuốn Triết học Phật giáo Việt
Nam thì “bài Vịnh Hoa Yên tự theo Hoàng Xuân Hãn Tên chùa Hoa Yên được
đặt ra dưới thời Hồng Đức nhà Lê, vốn là Vân Yên Tự Đầu đề này chứng tỏ văn
Trang 16bản đã được biên tập lại vào thời nhà Lê, chứ không hoàn toàn nguyên tác” [41,
- Trần có đôi chỗ còn tồn tại vấn đề về văn bản gốc và bản quyền như Huyền Quang cũng là điều dễ hiểu
Trước vấn đề tiểu sử hành trạng và trước tác của Huyền Quang như đã trình bầy ở trên, để tránh đi vào bế tắc, không triệt để, chúng tôi một mặt tiến
hành khảo sát toàn bộ những tác phẩm của ông được ghi trong bộ sách Thơ văn
Lý - Trần và công trình Huyền Quang- cuộc đời thơ, và đạo do Trần Thị Băng
Thanh chủ biên, mặc khác cũng tiến hành khảo sát các tác phẩm thời Lý - Trần với mục đích đặt các trước tác của Huyền Quang trong sự vận động của văn học giai đoạn này nhằm cắt nghĩa và đánh giá một cách khách quan những giá trị đặc trưng trong các sáng tác của ông Bên cạnh đó, căn cứ vào các nguồn thư tịch ghi chép về Huyền Quang, chúng tôi cũng cố gắng phác hoạ hình ảnh khái quát về ông, đồng thời cũng dựa vào bối cảnh vận động chuyển giao của các hệ tư tưởng thời đại để lý giải và soi sáng hiện tượng tư tưởng, văn hóa, văn học đặc biệt này
1.2 Lý Đạo Tái - Huyền Quang tôn giả qua các nguồn thư tịch cổ
1.2.1.Huyền Quang - Lý Đạo Tái – một trí thức nho sĩ
Nếu như ở thời nhà Lý, thời đại mà Phật giáo được đặt lên vị trí quốc giáo với những trí thức chủ yếu của thời đại là các nhà sư, thì đến giai đoạn đầu thời nhà Trần, với sự vận động mạnh mẽ của các hệ tư tưởng, đặt biệt là hệ tư tưởng Nho giáo, xã hội Đại Việt đã chứng kiến sự lớn mạnh không ngừng của các tầng lớp, trí thức khác như nho sĩ và quý tộc Với những đặc thù của giai đoạn đầu thời đại nhà Trần, đã diễn ra sự đồng tồn tại của nhiều lực lượng, nhiều loại nhân cách trí thức với nhiều ý thức hệ khác nhau Trong đó, lực lượng nho sĩ với những ưu thế vượt trội so với các lực lượng khác trong việc quản lý và điều hành đất nước đã có cơ hội thuận lợi để phát triển cả về số lượng và chất lượng, vị trí
Trang 17của họ trong triều đình, và xã hội ngày càng được củng cố và trở nên quan trọng hơn
Đến đầu thời nhà Trần chế độ khoa cử đã được mở rộng Nhà Trần đã tiếp nối công việc xây dựng chế độ khoa cử còn đang ở dạng sơ khai của nhà Lý và dần từng bước đưa nó vào quy củ Mặc dù chế độ khoa cử ở thời Trần vẫn chưa phát triển tới mức độ trở thành một hệ thống quy củ, chặt chẽ nhưng nó đã đóng góp rất lớn vào việc thúc đẩy sự phát triển của Nho giáo cũng như lực lượng nho
sĩ ở Việt Nam Việc phổ biến cách thức chọn người tài cho nhà nước thông qua con đường thi của Nho giáo đương nhiên dẫn đến việc gia tăng ảnh hưởng của
nó trong xã hội Khoa cử vốn là một hệ thống phương thức lựa chọn người tài giúp việc cho quốc gia đã khá hoàn chỉnh ở Trung Quốc Ở nước ta, ngay sau thời kỳ độc lập, với yêu cầu cần những nhân tài cho sự phát triển của đất nước đã tiếp nhận và sử dụng chế độ khoa cử này Tuy nhiên các khoa thi cho đến cuối thời Trần vẫn chưa được tổ chức đều đặn, định kỳ như một phương thức chủ yếu
để lựa chọn người tài giúp việc cho quốc gia, mà vẫn chỉ mang tính tuỳ hứng ở mọi phương diện: mục đích, cách thức, nội dung, thời gian…
Sự phát triển của các trường học kể cả nhà nước và tư nhân, cùng với số lượng các kỳ thi ngày càng tăng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tầng lớp nho sĩ không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, ngày càng có cơ hội thuận lợi
đề khẳng định những ư thế vượt trội của mình Đến thời vua Trần Anh Tông, nho
sĩ đã được đứng trong hàng phẩm cao cấp của triều đình, giữ những chức vụ quan trọng, trở thành cận thần được vua tin dùng Đến thời vua Trần Minh Tông thì nho sĩ đã thực sự đủ trưởng thành để khẳng định tên tuổi của mình với sự xuất nhiện của hàng loạt các danh nho Đội ngũ nho sĩ trong triều đã khá hùng hậu: “Bấy giờ quan ở trong triều như bọn Trần Thì Kiến, Đoàn Nhữ Hài, Đỗ Thiên Hứa, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Dũ, Phạm Mại, Phạm Ngộ, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh (…), Trương Hán Siêu, Lê Cự Nhân, nối nhau làm quan, nhân tài đầy rẫy” [55 tr 125] Nếu như vào đầu thời Trần, vai trò của nho sĩ vẫn chỉ dừng lại ở vị trí những kẻ giúp việc cho tầng lớp quý tộc trong triều thì từ giữa giai đoạn nhà Trần trở về sau, đặc biệt là từ thời vua Trần Anh Tông trở đi, thân phận nho sĩ đã dần dần được đổi khác Họ ngày càng được vua tin dùng và giao những trọng trách lớn hơn trong chốn triều đình
Trang 18Lý Đạo Tái sinh ra và lớn lên trong không khí của thời kỳ Thịnh Trần, thời đại của hào khí Đông A và cũng là thời đại của không khí phóng khoáng, khoan hoà của giai đoạn “tam giáo tịnh hành” Ở giai đoạn này, Nho giáo cũng
đã phát triển đến những mức độ nhất định để có thể sản sinh ra những đại diện
ưu tú của mình Có thể kể tên một loạt các danh Nho thời kỳ này như Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Nguyễn Thế Trường, Mạc Đĩnh Chi, Đoàn Nhữ Hài…
Sinh ra và lớn lên trong thời kỳ mà các hệ tư tưởng đang có sự vận động chuẩn bị cho những bước chuyển giao mạnh mẽ với xu hướng từ Phật giáo sang Nho giáo, Lý Đạo Tái với những yếu tố khách quan, cùng tư chất thiên bẩm đã
xuất thân nhập thế theo phong cách nhà nho Theo Tam tổ thực lục thì Lý Đạo
Tái xuất thân từ một gia đình dòng dõi thi thư Vị tổ thứ bảy là Lý Ôn Hoà từng làm chức Hành khiển dưới triều vua Lý Thần Tông; ông nội làm Chuyển vận sứ đời Trần; cha từng tòng quân đánh giặc có công nhưng không ra làm quan mà trở
về quê vui thú điền viên Quê hương Lý Đạo Tái cũng từng là một trung tâm văn hóa lớn nhất của cả nước Nhắc đến xứ Kinh Bắc cũng là nhắc đến một vùng đất
“địa linh nhân kiệt”, là cái nôi của những nho sĩ tài năng, là vùng quê của “một giỏ sinh đồ, một bồ ông cống, một đống trạng nguyên, một thuyền bảng nhãn”
Và vùng đất này cũng chính là quê hương của Lê Văn Thịnh “trạng nguyên khai quốc của thời Đại Việt” (1075) Không chỉ được sinh ra ở vùng quê có nền văn hóa văn hiến lâu đời, ngay từ nhỏ, Lý Đạo Tái đã sớm bộ lộ khuynh hướng và tư
chất của một vị nho sĩ đầy tài năng Sách Tam tổ thực lục ghi: “Khi Tổ sinh ra, là
một đứa bé trai cứng cáp Đến tuổi đồng ấu, thể mạo Tổ dị thường, có chí của
bậc trác việt vĩ nhân, cha mẹ đều yêu thương, dạy cho học nghề” [56, tr 23]
Còn về tên gọi Đạo Tái, theo cách giải thích của dân gian thì “Tổ nghe một hiểu
mười, có tài như Nhan Hồi Á Thánh, nên được gọi là Tải Đạo” Tân đính Lĩnh
Nam chích quái cũng ghi “khi em lớn, dáng mạo rất lạ Em có chí lớn, cha mẹ
rất yêu quý và xa gần đồn đại Bởi tài năng đó, nên em mới được đổi tên là Đạo
Tải” [65, tr ] Theo Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn thì “ông lên 9 tuổi đã biết
làm thơ, học tập chuyên về cử nghiệp” [ 22, tr 393]
Theo Tam Tổ thực lục: “Năm 20 tuổi, Tổ dự khoa thi Hương và đỗ đạt Vì
triều đình chọn người đều dùng những bậc đại khoa, nên Tổ phải đợi đến khoa thi
lớn gọi là thị Hội năm sau Kết quả Tổ đậu được thủ khoa” [91, tr 23] Tân đính
Trang 19Lĩnh Nam chích quái thì ghi sự kiện Đạo Tái đỗ Trạng một cách cụ thể hơn: “Năm
hai mươi tuổi, Đạo Tải đi thi Hương đỗ giải Nguyên, năm sau đó thi khoa đại tỷ (tức thi Hội) đỗ đầu, đó là năm Đinh Dậu, niên hiệu Hưng Long thứ năm, đời Trần
Anh Tông” [65, tr 238] Việc Huyền Quang có đỗ Trạng hay không chưa có sách
sử nào minh chứng được xác thực Nhưng trong nhãn quan của dân gian ông là một vị học rộng tài cao, và đỗ đạt từ rất sớm - một vị quan Trạng Bằng chứng là trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu ca cảm thán về tình cảnh éo le của ông:
Khó khăn thì chẳng ai nhìn Đến khi đỗ Trạng chín nghìn nhân duyên
Theo truyền thuyết dân gian thì Lý Đạo Tái có đỗ Trạng nguyên, từng đi
sứ Trung Quốc, đồng thời đỗ Trạng nguyên ở cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc Hiện ở Chùa Tổ vẫn ghi bốn chữ lớn sơn son thiếp vàng: “Lưỡng quốc trạng nguyên” (Trạng nguyên hai nước)
Không chỉ là vị quan Trạng trong “ký ức của dân gian”, mà ngay trong mắt các trí thức sĩ phu Nho học hậu thế, Lý Đạo Tái cũng được nhìn nhận, đánh giá trước hết ở tư cách một nho sĩ hay chữ và đỗ đạt cao Rõ ràng từ thời Huyền Quang trở đi, hình ảnh nhân vật trí thức được đề cao trong xã hội không còn là những nhà sư nữa Hình ảnh những nho sĩ với sự nghiệp học hành thi cử và đỗ đạt cao (Trạng nguyên) đã trở thành hình ảnh trung tâm của thời đại, và cũng là hình ảnh tượng trưng cho tầng lớp trí thức cao nhất của thời đại Cũng rất có thể việc đỗ Trạng của Lý Đạo Tái (điểm gây ra tranh cãi, nghi hoặc cho giới nghiên cứu khoa học) lại chỉ là cách gọi “tôn lên” của dân gian và trí thức Nho sĩ đối với những nhân vật lớn từng kinh qua của Khổng sân Trình như trường hợp gọi Phùng Khắc Khoan là Trạng Bùng (trong khi ông này chỉ đỗ thứ hai Hoàng giáp)
Các thư tịch cổ chép về việc Huyền Quang đỗ Trạng có thể kể đến như:
Tam tổ thực lục; Đinh kế lịch triều đăng khoa lục; Tam tổ hành trạng… và hiện
văn bia ở đền Trạng nguyên thuộc thôn Phúc Lộc, Vạn Tư, Gia Bình (Thái Bảo, Bắc Ninh) do ông Nguyễn Phẩm Phó bảng soạn, dựng năm Tự Đức 18 (1865) còn ghi “Năm ông đỗ Trạng mới 21 tuổi”
Nếu theo đúng như Tổ gia thực lục ghi chép thì Lý Đạo Tái là một trí thức nho sĩ có trình độ văn hóa, vị trí và uy tín rất cao Tổ gia thực lục cho biết, sau
Trang 20khi ông thi đỗ “được bổ vào chức quan Hàn lâm, Tổ phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc, văn thư qua lại, trích dẫn kinh nghĩa, ứng đối lưu loát Văn chương
ngôn ngữ hơn cả Trung Quốc và các nước lân bang” [56, tr 80] Theo Đỉnh kế
lịch triều đăng khoa lục thì sau khi thi đỗ, Lý Đạo Tái được cử làm quan ở Viện
nội hàn Còn văn bia ở đền Trạng nguyên (Bắc Ninh) lại ghi sau khi ông đỗ Trạng, có “nhận chức Thị Nội văn hàn, từng đi sứ sang Trung Quốc” Bức Đại tự
ở Chùa Tổ cũng xác nhận ông có đi sứ Trung Quốc, đồng thời còn đỗ Trạng nguyên của cả hai nước
Qua các nguồn thư tịch và trong nhãn quan của dân gian, Lý Đạo Tái - Huyền Quang không chỉ là một vị quan Trạng - nấc thang cao nhất về sự đỗ đạt của trí thức nho sĩ trong con đường khoa cử, mà ở ông còn có những dấu ấn đậm
nét của lối hành xử theo kiểu nhà nho Tam tổ thực lục có ghi lại: “Buổi chiều,
Sư trở về Tăng phòng Thiền định, bỗng thấy một đôi chim khách trắng từ đâu bay đến, đậu trên cây trước sân, vừa lượn qua lượn lại vừa kêu, dường như có
điềm vui Sư liền ngâm một bài Tây giang nguyệt:
“Chim thước muốn báo điềm chi, Bay đến kêu vang đầu ngõ?
Con hiếu ngày xưa có Tăng Sâm Loài chim ba chân mi trội nhất”
Và nói riêng với học trò: “ (…) Cha mẹ, ông bà là Phật, ân nặng nhớ mãi trong lòng” Sư liền sắm sửa hành trang, dâng biểu xin phép về làng thăm viếng” [56, tr 82] Có thể thấy ở đây, bên cạnh tấm lòng từ bi của đạo Phật, còn có cả tấm lòng hiếu thảo theo đạo lý của Nho gia Khi nghe Thị Bích giải bầy hoàn cảnh éo le của mình và mong được giúp đỡ, Huyền Quang “ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Ngày xưa, Hán Văn Đế cảm thương lời tâu của nàng Đề Oanh mà bỏ nhục hình Đường Thái Tông trông bản đồ Minh đường mà dẹp cấm đài Hai vua
ấy đều theo đức hiếu sinh của thượng đế nên con cháu hưởng lộc lâu dài đến ba, bốn trăm năm Không có ân đức mà được như thế sao? Ta phải vì ngươi mà về triều tâu rõ việc ấy, ngõ hầu quảng bá đức hiếu sinh của Hoàng đế mà cũng là phương tiện cứu khổ tốt đẹp vậy” Ta cũng bắt gặp ở đây hình ảnh của một trung thần hết lời ca tụng công đức “vua sáng tôi hiền”, bày tỏ chí hướng của kẻ sĩ “chí quân trạch dân”
Trang 21Nếu căn cứ vào một số nguồn thư tịch như Tam tổ thực lục, Tân đính Lĩnh
Nam chích quái… Huyền Quang hiện lên trước hết ở hình ảnh của một trí thức
nho sĩ - một mẫu hình lý tưởng của nhà nho hành đạo ở các giai đoạn sau: tư chất bẩm sinh của kẻ sĩ, học hành thi cử, đỗ đạt làm quan Việc Lý Đạo Tái - Huyền Quang có đỗ Trạng và làm quan hay không, hiện vẫn chưa có nguồn tư liệu nào chứng minh được một cách xác thực Nhưng trong nhãn quan của dân gian và giới trí thức nho sĩ, ông vẫn là một vị Trạng nguyên Họ đã và vẫn dành cho ông một cách nhìn, cách đánh giá mang tính chất ngưỡng vọng, tôn vinh xứng tầm với một tri thức lớn vào loại nhất nhì của thời đại lúc bấy giờ Điều này không khó lý giải bởi sau Huyền Quang không lâu, khi Nho giáo đã chiếm được địa vị độc tôn trong xã hội, thì tầng lớp nho sĩ đã trở thành tầng lớp trí thức trung tâm
và mang tính độc tôn trong xã hội Thước đo đánh giá tài năng và địa vị của họ không ngoài phạm vi học hành, thi cử đỗ đạt và làm quan Chức vị Trạng nguyên chính là nấc thang lớn nhất của một đời theo đòi cử nghiệp của người sĩ tử, đánh dấu sự chuyển biến hết sự quan trọng trong cuộc đời họ
Dù Lý Đạo Tái có đỗ Trạng và làm quan hay không thì một điều chắc chắn
là ông đã từng kinh qua của Khổng sân Trình Hệ thống khoa cử ra đời nhằm mục đích đào tạo những nhân tài cho việc trị quốc, nhưng đồng thời cũng đào tạo nên một đội ngũ tác giả thành thạo chữ nghĩa với vốn văn hóa là rất lớn Có thể khẳng định, trước khi xuất gia trở thành đệ Tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm, Lý Đạo Tái
là một nho sĩ có học thức uyên thâm, tinh thông Nho học Văn chương thi phú của ông đã đạt đến đỉnh cao của văn chương ở giai đoạn nhà Trần Sau khi giao cho
Huyền Quang soạn Chư phẩm kinh và Công văn tập,… Trần Nhân Tông đã ngự bút phê vào Thích khoa giáo: “Phàm những sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn, thì không thể thêm hay bớt một chữ nào nữa…” [56, tr 81] Qua những thi
phẩm của Huyền Quang còn lại cho đến nay, chúng ta càng có cơ sở để khẳng định ông đã được rèn luyện trong khoa cử của Nho giáo một cách nghiêm túc Mặc dù Nho giáo không chủ đích đào tạo nho sĩ trở thành nghệ sĩ, nhưng nó đã cung cấp cho họ những cơ hội và phương tiện để đạt được điều đó Về mặt lý thuyết, mọi nhà nho đều có khả năng làm văn, viết thơ Huyền Quang đã đem tất
cả những tinh tế của văn chương Nho gia vào cửa chùa, tạo nên một sự giao thoa độc đáo giữa Nho - Phật - Lão Trang trong các sáng tác của mình Như nhận xét
Trang 22của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn: “con đường của thơ ngôn chí đã mở Ông đã dùng phương cách tư duy nghệ thuật của nhà Nho để thể hiện một thế giới tinh thần, một thế giới thẩm mỹ đa dạng” [69, tr 85]
Như vậy, qua các nguồn thư tịch cổ, Huyền Quang hiện lên trước hết với
tư cách một trí thức nho sĩ Tư tưởng Nho giáo trong ông đã rất đậm Ở ông nỗi bật phong cách nhập thế của một nhà nho hành đạo: học hành, thi cử, đỗ đạt, làm quan Điều đó cũng có nghĩa ông đã mở đầu cho một loạt những hình ảnh về các nhà nho hành đạo nở rộ ở các giai đoạn sau Tuy nhiên, Huyền Quang và ngay cả các nho sĩ ở giai đoạn cuối thời nhà Trần, vẫn chưa được xem là tầng lớp nho sĩ tiêu biểu cho những đặc tính của Nho gia Nho giáo vẫn chưa hội tụ được đầy đủ những điều kiện để bước lên địa vị độc tôn Bên cạnh nó vẫn tồn tại những ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo vào hào khí Đông A, lực lượng nho sĩ vẫn tồn tại bên cạnh những lực lượng trí thức khác như thiền sư và quý tộc, hơn thế nữa trong bối cảnh chung của nền văn hóa “tam giáo tịnh hành”, nho sĩ vẫn chịu những ảnh hưởng và chi phối của các luồng tư tưởng và lực lượng xã hội khác
mà chưa thực sự chịu sự ràng buộc và ước thúc chặt chẽ của Nho giáo Thời điểm mà Lý Đạo Tái xuất gia đi tu vẫn là thời điểm cực thịnh của Phật giáo Hơn nữa đó lại là thời kỳ ra đời của Thiền phái Trúc Lâm - một dòng Thiền mang đậm bản sắc dân tộc, mà vị Tổ sáng lập ra nó lại chính là một trong những vị vua nổi tiếng nhất của nhà Trần - Trần Nhân Tông Trong bối cảnh hỗn dung, giao thoa giữa các luồng tư tưởng và giữa các nhân cách trí thức, thì việc Huyền Quang dù đã học hành, thậm chí có thể đỗ đạt làm quan lại xuất gia đi tu và trở thành vị tổ thứ ba của một Thiền phái lớn - Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử - cũng
là một hành động tự nhiên chứ không hẳn là sự mâu thuẫn trong tư tưởng
1.2.2 Huyền Quang tôn giả - nhà Phật học lỗi lạc - đệ tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm
Tiếp nối sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý, Phật giáo ở giai đoạn đầu nhà Trần vẫn giữ vị trí chủ đạo Các vị vua và hoàng tộc nhà Trần đều sùng bái đạo Phật Hơn thế nữa, nhiều vị vua nhà Trần cuối đời sau khi nhường ngôi cho thái tử còn xuất gia tu hành Và chính những vị Phật tử này là những người có tri thức sâu rộng về đạo Phật, thực sự là những nhà Phật học uyên thâm Trong các
vị vua và quý tộc xuất gia tu hành ấy, đặc biệt xuất sắc phải kể đến Trần Nhân
Trang 23Tông với vai trò là vị khai Tổ của Thiền phái Trúc Lâm Như vậy, Phật giáo từ trong dân gian đến giai đoạn đầu thời đại nhà Trần, ở chốn triều đình đã trở thành một thứ Phật giáo cao cấp, phát triển theo chiều hướng triết học
Sau khi truyền lại ngôi cho Anh Tông, Trần Nhân Tông đã xuất gia tu hành và sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm không chỉ với mục đích thống nhất tôn giáo mà cao hơn là khát vọng thống nhất đất nước Mặc dù đến đời Lý, Phật giáo đã phát triển đến độ cực thịnh, tuy nhiên nó vẫn chưa có sự thống nhất, chưa có một tổ chức giáo hội chặt chẽ Hơn nữa Phật giáo thời Lý cũng mới chỉ
bó hẹp trong phạm vi hàng ngũ quý tộc, tôn thất, chứ chưa trở thành một tôn giáo đại chúng Thiền phái Trúc Lâm ra đời với mục đích phát huy vai trò chủ đạo của tư tưởng Phật giáo trong đời sống tinh thần, xã hội, đồng thời xây dựng một tổ chức giáo hội chặt chẽ, thống nhất để trở thành trung tâm liên kết toàn xã hội trên lĩnh vực tư tưởng… đã khắc phục được những hạn chế của Phật giáo thời Lý Nói đến Thiền phái Trúc Lâm cũng như vai trò của nó trong thời đại
“Thịnh - Vãn Trần” không thể không kể đến ba vị sư tổ: Đệ nhất Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông; Đệ nhị Tổ Pháp Loa và Đệ tam Tổ Huyền Quang tôn giả
Nếu như trước khi xuất gia, tiểu sử hành trạng của Huyền Quang còn có không ít điểm mờ chưa xác thực, thì sau khi xuất gia, với pháp hiệu Huyền Quang, ông đã trở nên nổi tiếng và hết sức quen thuộc trong lịch sử Phật giáo cũng như trong lịch sử văn chương Đối chiếu, so sánh các thư tịch cổ ghi chép
về thời gian ông xuất gia, chúng tôi thấy có những điểm không đồng nhất như:
theo Tam tổ thực lục thì Huyền Quang xuất gia khi ông đã 51 tuổi (1305), Đinh
khế lịch triều đăng khoa lục thì cho biết sau khi thi đỗ, ông được cử làm quan ở
Viện Nội hàn, nhưng sau đó không lâu thì xin từ chức và đi tu Theo sách Tam
Tổ hành trạng, ông thi đỗ Trạng nguyên, song không chịu ra làm quan mà xin
vua Trần cho xuất gia vào núi tu hành Theo Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy
Bích, thì ông vào núi tu hành năm 19 tuổi…
Dẫu các thư tịch ghi chép có khác nhau về thời gian Huyền Quang đi tu, nhưng cả dân gian và sử sách vẫn còn lưu truyền lại việc ông đến với Phật giáo như là một tiền duyên đã định trước Huyền Quang ứng sinh sau một loạt điềm lành kỳ lạ gắn liền với nhà Phật: “Mẹ Tổ là Lê Thị một người đàn bà hiền đức
Trang 24(…) Năm bà 30 tuổi mà chưa có con nối dõi, nên thường đến cầu nguyện chùa Ngọc Hoàng (…) Một hôm, Lê Thị đến núi Chu Sơn hái thuốc, vừa tới chùa Ma
Cô Tiên thì gặp lúc trời hè nắng gắt, bà liền đến nghỉ dưới bóng chùa (…) Chợp mắt mơ màng, bà bỗng thấy một con khỉ lớn, mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà Lê Thị kinh hãi thức giấc, thấy lòng rung động, trở về thuật lại với một vị Tôn thúc Vị này suy đoán: ném mặt trời hồng vào bụng là điềm Lê Thị sẽ có thai Năm sau thuộc năm Giáp Dần vào ngày đầu năm, Thầy trụ trì chủa Ngọc Hoàng là thiền sư Tuệ Nghĩa (…) mơ thấy (…) Đức Phật chỉ Tôn giả A nan bảo: “ngươi hãy tái sinh là pháp khí Đông độ, và phải nhớ lại duyên xưa” Bỗng tiểu đồng từ ngoài vào gõ cửa, Tuệ Nghĩa chợt tỉnh (…) Năm
ấy Tổ sinh ra Khi sinh có tia sáng mở ảo, mùi hương thơm phức Người ta gọi
đó là đứa hài đồng có mùi hương thanh tịnh” [56, tr 78] Cũng theo các nguồn
thư tịch cổ, Huyền Quang sinh ra và lớn lên đã gặp những hoàn cảnh éo le, ông
không có được cái hạnh phúc của người bình thường Sách Tam tổ thực lục có
ghi chép về đường tình duyên của ông như sau: “Lại nói về lúc thiếu thời của Tổ, tuy cha mẹ có bàn đến việc hôn nhân, nhưng chưa quyết định cưới, đến khi ấy vua định gả cô Liễu (tức công chúa Liễu Nữ), cháu của An Sinh Vương, Tổ từ khước không chấp thuận” [56, tr 79-80] Còn trong dân gian thì vẫn còn lưu truyền mẩu chuyện và câu ca cảm thán về hoản cành éo le của ông:
Khó khăn thì chẳng ai nhìn, Đến khi đỗ trạng chín nghìn nhân duyên
Theo truyền thuyết dân gian thì khi Huyền Quang còn là học trò ở làng,
do tướng mạo xấu xí, nhà nghèo khó, không có ai cứu giúp, không ai nhận là người trong họ, nên phải bỏ làng đi du học nơi khác Đến khi đậu Trạng nguyên,
ra làm quan, thì lại có nhiều người đến nhận là anh em, họ hàng,… nhiều người còn hứa gả con gái cho ông Tình duyên vốn đã trắc trở như vậy, nhưng thời gian
hoạn lộ lúc làm quan cũng không làm ông được toại nguyện Sách Tam tổ thực
lục ghi: “Lúc Tổ theo vua đến chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Phụng Nhã, thấy Quốc
sư Pháp Loa đang hành đạo, liền nhớ lại duyên xưa, bùi ngùi than rằng: “Làm quan lên Bồng đảo, đắc đạo đến Phổ Đà, trên cõi nhân gian là Tiên, cảnh giới Tây phương là Phật Phú quý vinh hoa nào khác lá vàng mùa thu, mây trắng ngày hạ, há nên lưu luyến mãi” Nhân đó, dâng biểu đến ba lần xin từ chức để
Trang 25xuất gia học đạo tu hành” [56, tr 80] Trong Tân đính Lĩnh Nam chích quái cũng
chép rằng: “Đạo Tải sau khi gặp Pháp Loa, thường tự nghĩ: “Người ta sinh ra ở đời như đó hoa hồng, như đám tuyết trắng Quan tuy cao, vị tất đã sướng, chi bằng đi tu, may ra đắc đạo, có phải sướng hơn không? Chuyện giàu sang chẳng qua như cành sương thu lá vàng, hay cảnh mây trắng mùa hạ, có gì đáng tiếc?”
Đạo Tái bèn dâng biểu từ quan, xin về đi tu” [65, tr 238]
Sau khi xuất gia, với học vấn uyên bác, Huyền Quang đã được Điều Ngự hết sức tin tưởng Điều Ngự từng sai ông làm Thị giả cho Pháp Loa, nhưng thực chất thì ông vẫn được Điều Ngự trực tiếp giao việc và nhiều lần “khai thị” Ông đã được theo hầu, vân du cùng Điều Ngự Ông còn được sai giảng kinh ở
toà Trầm Hương để truyền thụ lại cho đệ tử, được đặc giao soạn Chư phẩm kinh,
Công văn tập Những sách ông biên soạn đều được Điều Ngự phê bút: “Các sách
giảng dạy kinh Phật từng qua tay Huyền Quang thì một chữ cũng không thể
thêm, một chữ cũng không thể bớt” [56, tr 81] Điều Ngự đã cho in những tác
phẩm ấy để truyền lại cho đời sau Huyền Quang chỉ theo hầu Điều Ngự có ba năm (1306-1308), nhưng ông đã được Điều Ngự rất tín nhiệm về mặt học thuật Mặc dù có ý định chọn Pháp Loa làm người nối pháp, và đã nhiều lần sai Pháp Loa giảng kinh thuyết pháp, nhưng chưa một lần Điều Ngự giao cho Pháp Loa soạn sách giáo khoa hoặc chú giải một tác phẩm nào Khi Pháp Loa có điều sở đắc kiến giải đem trình, phải đến lần thứ năm Điều Ngự mới “ấn khả” Khác với Pháp Loa, Huyền Quang đến với Thiền môn sau khi đã kinh qua cửa Khổng sân Trình, do vậy ông có những ưu thế về học vấn và năng lực trước tác là điều rất
rõ Hơn thế nữa ông thực sự là một nhà Phật học uyên thâm, theo như cách đánh giá của Thích Phước An thì ông là “nhà Phật học lỗi lạc, có thể nói là lỗi lạc nhất trong các học giả của núi Yên Tử thời bấy giờ” Huyền Quang không tham dự, chủ trì những hội giảng lớn quan trọng như Điều Ngự và Pháp Loa, nhưng học trò của ông cũng rất đông, có đến hàng nghìn người Sau khi Điều Ngự mất, Huyền Quang đã tiếp tục phò tá Pháp Loa Cũng trong thời gian này ông trụ trì
ở chùa Vân Yên, Yên Tử, sau đó về chùa Thanh Mai rồi chùa Côn Sơn Giai đoạn ông phò tá Pháp Loa cũng là giai đoạn thể hiện rõ nhất vai trò quan trọng của ông, và cũng là giai đoạn mà ông có những đóng góp lớn nhất cho thiền phái Thời Pháp Loa kế vị sư Tổ cũng là thời mà Thiền phái Trúc Lâm phát triển
Trang 26đến giai đoạn cực thịnh Trong suốt thời gian ấy, Huyền Quang là người trợ thủ đắc lực với đóng góp hết sức quan trọng cho sự phát triển để đạt đến đỉnh cực thịnh của Thiền phái này: “Dưới hai triều vua Nhân Tông và Anh Tông, thiền
phái Trúc Lâm đã tổ chức khắc in trọn bộ Kinh Đại tạng gồm trên 5000 quyển
Các kinh sách riêng của Việt Nam (…) đều được chọn khắc in Việc in sách giáo khoa về kinh điển nhà Phật, việc chú thích chú giải kinh Phật cũng được làm đều đặn (…) Việc làm chùa xây tháp, đúc tượng và số lượng tăng ni cũng đạt đến
con số kỷ lục Tính đến năm 1329, trước khi Pháp Loa mất một năm, bộ Đại
tạng gần 6000 quyển đã in xong; riêng Pháp Loa đã xây năm cây bảo tháp; hoàn
chỉnh hai cơ sở trung tâm của Thiền phái là Thiền viện Quỳnh Lâm và Báo Ân Ngoài ra ông cũng xây dựng trên 200 tăng đường, đúc 1300 pho tượng Phật lớn nhỏ bằng đồng (…) Vào thời điểm này số lượng tăng ni đã rất nhiều, tính đến năm 1329 số tăng lữ dưới quyền lãnh đạo của Pháp Loa đã lên đến 15000 người
Ba trung tâm lớn của thiền phái, Yên Tử, Quỳnh Lâm, Báo Ân, không những là nơi hoạt động tôn giáo mạnh mẽ mà còn là những “sơn môn” giàu bất động sản”
[80, tr 34-35]
Sau khi Pháp Loa mất (1330), ông nối tiếp ngọn đèn Tổ, phụng mênh tới trụ trì tại chùa Vân Yên ở núi Yên Tử Sau về núi Thanh Mai tu luyện, rồi về trụ trì tại chùa Tư Phúc ở Côn Sơn và mất ở đây năm 1334, thọ 80 tuổi Các sách về
Phật học mà Huyền Quang biên soạn có thể kể đến như Chư phẩm kinh, Công
văn tập, Thích khoa giáo, tiếc rằng cho đến nay, các sách ấy đều đã thất lạc nên
chúng ta không có điều kiện để nghiên cứu và hiều được một cách đầy đủ về tư tưởng Thiền học của Huyền Quang Tuy nhiên, qua những trước trước tác của
ông còn lại đến nay, đặc biệt là bài Diên Hựu tự (Chùa Diên Hựu) và bài Kệ bằng chữ Nôm ở cuối bài Vịnh Vân Yên Tự phú, chúng ta cũng hình dung được
phần nào về sự liễu ngộ tư tưởng Thiền học của vị tổ thứ ba này:
Vạn duyên bất nhiễu thành già tục, Bán điểm vô ưu nhã phóng khoan
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan
(Muôn và nhân duyên không vương vấn là bức thành che niềm tục, Không lo lắng gì nên tầm mắt mở rộng
Trang 27Hiểu rõ phải và trái đều như nhau,
“cung ma”, “Phật quốc” được đề cập như hai thái cực đối lập
Chỉ Huyền Quang mới táo bạo phá chấp về sự đối lập cung ma với Phật quốc Dù rằng xét về tư tưởng thì không có gì mới nhưng diễn đạt như vậy là triệt để nhất Tư tưởng Bất nhị của Huyền Quang, theo đánh giá của Nguyễn Duy Hinh thì có phần triệt để hơn sư phụ Ông đã diễn đạt bản thể Không một cách triết học hơn là tôn giáo học Còn với Pháp Loa - vị đệ nhị sư tổ thì chính Huyền Quang đã thực sự giúp cho ông ta đạt đến sự giải thoát Theo Nguyễn
Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì dường như cho đến những ngày cuối
cùng đạo nghiệp của Pháp Loa còn “chưa thật sự chín muồi” và ông “chưa thực sẵn sàng để đón nhận giờ phút quan trọng” - cái chết
Song những câu hỏi gợi ý của Huyền Quang “Thức và ngủ đã là một chưa?”, “Bệnh với không bệnh đã là một chưa?” và lời thăm dò cuối cùng: “Các bậc đại ngộ xưa nay, khi giờ phút đến, muốn ở lại thì ở, muốn đi thì đi” đã thực
sự giúp Pháp Loa đạt đến sự giải thoát Mặc dù sau khi kế vị Pháp Loa trở thành
Trang 28vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, Huyền Quang đã không làm được gì nhiều
để cứu vãn sự đi xuống của Phật giáo Các nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiều nguyên nhân khác nhau, đặt ra nhiều câu hỏi về năng lực tổ chức, và trách nhiệm của vị tổ thứ ba này Tuy nhiên, không ai phủ nhận được công lao của ông với Thiền phái Các nguồn thư tịch cổ, và cả dân gian đều đánh giá cao sự uyên thâm
về Phật học của ông Ông thật sự là một nhà Phật học lỗi lạc lớn nhất của thời đại Chính vì thế, ông đã được vua Trần Minh Tông đặc phong lên hàng Tôn giả (từ dùng chỉ bậc tu hành đã đạt quả vị giải thoát A la hán, bậc Đại sư, bậc có đức hạnh và trí tuệ, đấng bề trên)
1.2.3 Huyền Quang tôn giả - hình ảnh một ẩn sĩ
Mặc dù là một nhà Phật học lỗi lạc, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm, nhưng những hoạt động tôn giáo của Huyền Quang được ghi chép trong các nguồn thư tịch cổ là không nhiều Qua các nguồn thư tịch cổ, chúng ta có thể điểm lại những mốc thời gian và những hoạt động quan trọng trong hành trình tu tập của vị Tổ thứ ba này Năm 1305, ông xuất gia, là học trò của Bão Phác, một người rất giỏi Kinh sách Năm 1306, ông gặp Điều Ngự, và trở thành đệ tử tin cậy của người, đồng thời cũng được giao những việc
hệ trọng: trụ trì ở chùa Vân Yên, núi Yên Tử; phụ tá Đệ nhị Tổ Pháp Loa; biên soạn kinh sách và giảng dạy Từ 1309, thực hiện lời dặn của Điều Ngự, Huyền Quang luôn có mặt ở bên cạnh Pháp Loa để thực hiện nhiệm vụ trợ thủ Nhưng đến năm 1313 ông lại trở về trụ trì chùa Vân Yên ở núi Yên Tử một thời gian Những năm cuối đời, ông về trụ trì ở chùa Thanh Mai trong sáu năm Năm 1330, khi Pháp Loa qua đời, ông nối tiếp làm vị Tổ thứ ba của Thiền phái, lúc này ông
đã 77 tuổi Mặc dù là Tổ thứ ba của một Thiền phái nổi tiếng, nhưng hầu như ông đều giao mọi việc cho đệ tử của ông là Quốc sư An Tâm, và trở về Côn Sơn chuyên chú tụng đọc kinh điển Năm 1334, ông mất ở Côn Sơn, thọ 80 tuổi
Khác với những hoạt động nhập thế tích cực như các vị tổ lớp trước, những hoạt động của Huyền Quang ở giai đoạn cuối đời lại cho thấy ông gần hơn với hình ảnh của một ẩn sĩ Mặc dù đã xuất gia tu hành, thậm chí ngày cả khi ở vị trí đệ tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm, ông vẫn không phải là một nhân cách thiền sư thuần thành với tư tưởng của Phật giáo Buổi đầu xuất gia tu hành, dường như ông vẫn chưa thực chuyên tâm phụng sự cho đạo Phật, đến nổi sư
Trang 29phụ Pháp Loa phải nhắc nhở Sách Tam tổ thực lục có ghi: “Ngày 14 tháng 7
năm Kỷ Dậu, niên hiệu Hưng Long thứ 17 (1309) nhân ngày cúng chay cho Nhân Tông (Điều Ngự) trong dịp đại lễ Vu Lan, Sư (Pháp Loa) phụng sắc chỉ đến dự, và lên toà thuyết pháp Cùng tháng ấy, Sư tiếp Huyền Quang và bảo:
“Người quên những lời di chúc của Điều Ngự rồi sao?” Từ ấy, Huyền Quang
theo sư tham học, không rời nửa bước” [56, tr 42] Nhưng sau một thời gian
theo phò tá Pháp Loa, năm 1313 ông lại trở về Yên Tử “Tháng 2 năm Đinh Tỵ, niên hiệu Đại Khánh thứ tư (1317), Sư (Pháp Loa) bệnh nặng, bèn đem y bát và tâm kệ do Điều Ngự truyền lại trao cho Huyền Quang (…) Khi sư lành bệnh,
Huyền Quang khước từ việc phú chúc ấy” [56, tr 46] Ngay cả sau khi được
Pháp Loa truyền y bát trở thành Tổ thứ ba của Thiền phái, ông vẫn bộc bạch tâm
sự của một ẩn sĩ:
Đức bạc thường tàm kế tổ đăng, Không giao Hàn Thập khởi oan tăng
Tranh như trục bạn quy sơn khứ, Điệp chướng trùng san vạn vạn tằng
(Nhân sự đề Cứu Lan tự)
(Thường thẹn mình đức mỏng mà được nối ngọn đèn tổ, Luống để cho Hàn Sơn, Thập Đắc sinh niềm oán giận
Chi bằng theo bạn về rừng núi, Giữa muôn vạn tầng núi non trùng điệp.)
(Nhân có việc đề ở chùa Cứu Lan)
[80, tr 93] Trên cương vị là một Tổ thứ ba của một Thiền phái nổi tiếng, nhưng hầu như ông lại giao toàn bộ mọi việc lại cho đệ tử An Tâm để trở về Côn Sơn sống như một ẩn sĩ Và cũng chính trong thời gian này, con người thi sĩ trong ông nở
rộ hơn bao giờ hết Tâm hồn thi ca và tâm hồn thiền hoà lẫn vào nhau, sự hoà trộn tư tưởng Nho - Phật - Đạo được thể hiện qua các sáng tác của ông đã đạt tới mức độ cao nhất, khó có thể phân biệt Hình tượng người ẩn sĩ cũng đã được thể hiện rất rõ nét qua các trước tác của Huyền Quang còn lại đến nay, đặc biệt là ở chùm thơ sáu bài hoa cúc của ông Các trước tác của Huyền Quang đã không ít lần nói đến cái “nhàn”, cái “ẩn”, cái” quên” Tuy nhiên , theo như nhận xét của
Trang 30Nguyễn Kim Sơn: “trong cái nhàn,cái ẩn, cái quên của Huyền Quang, chúng ta
“vẫn cảm nhận thấy một thế giới tinh thần thực tại, hiện hữu, trần thế, nó hướng vào thể hiện một thế giới nội tại nhiều tâm sự và thoáng chút buồn bã cô đơn Ông nói tới việc quên mình, quên đời điều đó chứng tỏ ông có nhiều cái cần quên Ông quên mình, quên đời, nhưng tâm chưa lạnh giá, tức cái ẩn theo lối của Đạo gia chưa hết mực Ở đó có cái thanh lặng của cõi Thiền, nhưng lại khác cái vui của cõi lạc đạo Tinh thần của một nhà Nho ẩn dật đã rất nổi bật trong thơ ông.” [69, tr 85]
Như vậy, thông qua những hoạt động ở giai đoạn cuối đời của Huyền Quang, đặc biệt là căn cứ vào những trước tác của ông còn lại đến nay, chúng ta
có thể thấy sự ảnh hưởng và chi phối của Phật giáo đến vị tổ này đã không còn được sâu đậm như đối với những vị thiền sư trước Ở Huyền Quang bên cạnh tư tưởng Phật giáo đã có sự ảnh hưởng ngày càng đậm nét của tư tưởng Nho giáo vào tư tưởng Lão - Trang Ba luồng tư tưởng này cùng tồn tại, giao hoà trong nhau và dường như không diễn ra sự nổi trội thật sự của một luồng tư tưởng nào Sang đến giai đoạn đầu nhà Trần, trước sự xuất hiện của các thế lực quý tộc – võ tướng và sự mạnh lên không ngừng của Nho giáo, Phật giáo đã không còn giữ được vị thế chủ đạo của mình trong xã hội nữa Giai đoạn này đã có sự phân chia
vị trí và phạm vi ảnh hưởng khá rõ ràng giữa Nho và Phật Như vua Trần Thái Tông đã nói: “Trẫm thầm nhủ: Phật không chia Nam Bắc, đều có thể tu mà tìm; tính người có trí ngu, cùng nhờ giác ngộ mà thành đạt Vì vậy, phương tiện dẫn
dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ sinh tử, ấy là đạo giáo của đức Phật Đặt mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai, ấy là trách nhiệm của tiên thánh” [55, tr 27 - 28] Với sự phân chia tương đối rõ ràng như vậy, ở thời nhà Trần gần như không còn hiện tượng giới tăng sư tham gia vào công việc chính trị của triều đình như những giai đoạn trước nữa, mặc dù họ vẫn được kính trọng, tôn sùng Ngay cả các vị vua, quý tộc triều Trần cũng chỉ đến với Phật giáo trong tư cách Phật tử, hoặc là thí chủ, đàn việt thiền gia và cao hơn nữa là cư sĩ, một số ít xuất gia bán thế Bóng áo cà sa cũng chỉ xuất hiện trong nội cung, ở những buổi lễ cầu cúng, giảng kinh thuyết pháp, viếng thăm… Tuy nhiên, cũng ở giai đoạn đầu nhà Trần, các vị vua và quý tộc xuất gia tu hành đã
có công không nhỏ trong việc tiếp tục đưa Phật giáo từ một tôn giáo chủ trương
Trang 31xuất thế thành một tôn giáo với tinh thần nhập thế tích cực Đó là Tuệ Trung Thượng sĩ với tư tưởng hoà quang đồng trần, tuỳ tục; Trần Thái Tông với phương châm mà quốc sư Phù Vân khuyên: “Dĩ thiên hạ chi dục vi dục, dĩ thiên
hạ chi tâm vi tâm” Còn Trần Nhân Tông - vị sư Tổ của Thiền phái Trúc Lâm dù say sưa với Thiền học, thâm đắc đến độ hiểu được cốt tuỷ của Thiền, nhưng cái Tâm giác ngộ vẫn là phụng sự quốc gia, dân tộc: “Ngựa pha sương tuyết quay đầu lại, Mắt ngắm giang sơn ngẩng mặt trông” Sau khi trở thành vị sư tổ của Thiền phái Trúc Lâm, với tinh thần nhập thế tích cực, Điều Ngự đã đi đến khắp các vùng thôn quê, khuyên nhân dân phá bỏ các dâm từ và truyền giảng thập thiện cho chúng sinh, lập chùa, cất tinh xá để tiếp độ chúng tăng, tín đồ phát triển chưa tửng thấy Nối tiếp tinh thần nhập thế ấy, đệ nhị sư Tổ Pháp Loa cũng đã tích cực dựng chùa, xây tháp, đúc tượng, mở rộng thêm quy mô các trung tâm Phật giáo Phải nói rằng thời Pháp Loa là thời kỳ phát triển nhất của Thiền phái Trúc Lâm: Phật giáo đã bắt đầu có tổ chức, tăng sư trong cả nước có số sách theo dõi, kinh kệ của nhà Phật bắt đầu được in ấn với số lượng lớn, số lượng tăng ni Phật tử theo học đông vô kể…
Nếu như tử thời vua Trần Nhân Tông trở về trước, các vị vua thường có
xu hướng theo Phật giáo từ rất sớm, thì từ thời Trần Anh Tông, Trần Minh Tông… các vị vua đã chịu ảnh hưởng của Nho giáo hơn là ảnh hưởng của Phật giáo Vua Anh Tông đã là mẫu hình của một vị hoàng đế theo những tiêu chí của Nho gia Phật giáo cũng không còn được các vị vua sùng kính và đối đãi như trước nữa Khi Anh Tông lâm bệnh sắp qua đời, sư Phổ Tuệ xin vào để nói chuyện sống chết, ông không cho vào và sai trả lời: “Nhà sư hãy ở đấy, khi ta chết rồi, quan gia có sai làm thế nào thì nhà sư tự làm, còn những việc sau thì nhà sư cũng chưa chết, biết đâu mà đem việc chết bày tỏ với ta!” [55, tr 123] Trần Anh Tông cũng là vị vua đầu tiên dùng nho sĩ vào chức Hành khiển - một chức quan đầu triều Đến thời vua Trần Minh Tông thì Nho giáo đã phát triển rất mạnh, Phật giáo đã mất hẳn ảnh hưởng đối với tầng lớp trí thức bên trên cũng như đối với triều đình, giới tăng sư cũng không còn tham gia công việc triều chính như trước nữa Ngay cả Pháp Loa và Huyền Quang - những vị thiền sư có tiếng nhất thời này cũng không được trọng dụng và giao phó trọng trách gì trong đời sống chính trị Tuy nhiên với hàng loạt các hoạt động Phật giáo mang tinh
Trang 32thần nhập thế tích cực của Nhân Tông và Pháp Loa, Phật giáo đã chuyển hóa vào trong dân gian trước khi nó chấm dứt hẳn vai trò ảnh hưởng tư tưởng ở thượng tầng kiến trúc, trong đời sống chính trị Đến Huyền Quang thì cơ hồ như công việc phổ cập Phật giáo vào trong quần chúng nhân dân đã hoàn tất Đồng thời ảnh hưởng của nó đến tầng lớp trên cũng không còn nữa Trước bối cảnh ấy, cũng là dễ hiểu khi Huyền Quang dù ở cương vị sư tổ nhưng lại ít quan tâm đến
sự phát triển của giáo hội Ông không chủ trương phát triển rộng rãi Phật giáo cũng bởi những công việc đó đã được hai vị sư tổ trước hoàn thành về cơ bản Huyền Quang và cả Pháp Loa (ở những giai đoạn cuối đời) đều chủ trương ở ẩn
“Quên mình, quên hết cuộc tang thương… Muôn duyên chẳng vướng xa trần tục”, hay “Buông niềm trần tục náu tới Vân Yên” Cả Pháp Loa và Huyền Quang đều ít quan tâm đến những vấn đề học thuật trừu tượng của Thiền học mà chủ yếu chỉ nêu lên những vấn đề thiết thực của việc thực hành tu đạo Việc lựa chọn con đường ẩn tu của Huyền Quang ở những giai đoạn cuối đời thể hiện một tư tưởng minh triết, hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế của Phật giáo lúc bấy giờ Có thể nói rằng nếu căn cứ vào những ghi chép ở các nguồn thư tịch cổ, Huyền Quang là người mở đầu cho nhình ảnh người ẩn sĩ mà chúng ta không ít lần còn gặp lại trong cách hành xử cũng như trong các sáng tác của một số nhà Nho ở các giai đoạn sau này như Chu Văn An, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Tuy nhiên cách thức hành xử ẩn dật của Huyền Quang là rất khác so với cách thức hành xử ẩn dật của nhà Nho gai đoạn sau này, đặc biệt
là khi Nho giáo đã chiếm được địa vị độc tôn và ràng buộc nho sĩ vào những giáo điều chặt chẽ của nó
Với Huyền Quang, xu hướng ẩn sĩ là một lựa chọn minh triết phù hợp với tình hình của Phật giáo lúc bấy giờ Nó không hề có sự mâu thuẫn, hay nghịch chiều với xu hướng nhập thế tích cực của Thiền phái Trúc Lâm Đến Huyền Quang, Thiền phái Trúc Lâm đã đạt đến sự nhập thế triệt để nhất của nó
1.2.4 Lý Đạo Tái - Huyền Quang tôn giả - một thi nhân
Huyền Quang không chỉ là một vị nho sĩ tinh thông Nho học, một nhà Phật học lỗi lạc - vị Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, một ẩn sĩ, mà ông còn
là một thi nhân có tiếng ở giai đoạn văn học thời nhà Trần Trước tác của Huyền Quang vừa góp phần tạo nên nét đặc trưng riêng của nền văn học thời kỳ này,
Trang 33đồng thời cũng thể hiện sâu sắc sự chuyển giao mạnh mẽ giữa nền văn học Phật giao sang nền văn học Nho giáo Ông cũng trở thành một điển hình cho sự giao thoa giữa loại hình tác giả nhà nho và loại hình tác giả Thiền sư
Mặc dù các sáng tác của Huyền Quang còn lưu lại đến nay chỉ còn 23 bài
thơ trong tập Ngọc tiên và bài phú Nôm Vịnh Vân Yên tự phú, nhưng so với số
lượng một vài bài của hầu hết các tác giả thời kỳ này, thì dung lượng sáng tác này không hề nhỏ Văn bản gốc các sáng tác của Huyền Quang đều đã bị thất lạc Các bài thơ của ông còn lại cho đến nay đều được tập hợp từ các thư tịch cổ
như Việt âm thi tập (1459) do Phan Phu Tiên và Chu Xa biên soạn vào đầu thời
Lê sơ và Trích diễm thi tập (1497) do Hoàng Đức Lương biên soạn vào cuối đời
Lê Thánh Tông, trong Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn và Hoàng Việt thi tuyển
của Bùi Huy Bích Các thư tịch ghi chép lại các sáng tác của Huyền Quang đều
đánh giá ông hay chữ và là thi sĩ có tiếng của đời Trần Trong sách Kiến văn tiểu
lục, học giả Lê Quý Đôn (1726 – 1784) có nhận xét về thơ ông như sau: “Sư
Huyền Quang, người thời nhà Trần, học rộng, thơ hay, trong Việt âm thi tập có
chép một bài thất ngôn tuyệt cú của Thiền sư, thì tựa hồ không phải khẩu khí kiểu nhà chùa, còn bài ngũ ngôn và thất ngôn thì lời thơ cũng bằng phẳng Trong
Trích diễm thi tập có chép một bài ngũ ngôn tuyệt cú và 21 bài thất ngôn tuyệt
cú, thì thơ văn tinh tế, rất có khi tượng cao siêu” [22, tr 393] Còn nhà sử học Phan Huy Chú (1782 -1840) trong tác phẩm Lịch triều hiến chương loại chí cũng nhận xét tác phẩm Ngọc tiên tập của Huyền Quang là “Văn thơ bay bướm phóng khoáng” [13, tr 73]
Ở thời Trần, thể phú Nôm còn lại đến nay là không nhiều, loại trừ một số bài còn chưa rõ nguồn gốc và tác giả ra, chỉ còn lại bốn bài đã xác định được tác
giả: Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông; Vịnh Vân Yên Tự phú của Huyền Quang; Giáo tử phú của Mạc Đĩnh
Chi… Bốn bài phú này đều mang nội dung Phật giáo Điều đó cũng thể hiện tinh thần nhập thế rất tích cực của Phật giáo thời kỳ này, nó đã chuyển hóa và phổ cập mạnh mẽ trong quảng đại quần chúng, thay cho những triết lý cao siêu, bí hiểm nhưng những giai đoạn trước Các bài phú Nôm ở thời Trần đã đạt đến một trình độ nhất định, đánh dấu một giai đoạn đã bắt đầu có sự trưởng thành trong việc sáng tạo văn học bằng thứ ngôn ngữ của dân tộc
Trang 34Nếu Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của đệ nhất
tổ Điều Ngự là một bản tuyên ngôn của con đường sống đạo, mà Phật giáo Việt Nam đã đề ra và đã chi phối cuộc sống của hàng triệu triệu người Phật tử Việt
Nam thời vua Trần Nhân Tông và những thế kỷ sau, thì bài Vịnh Vân Yên tự phú
của Huyền Quang lại không tập trung vào thiền lý, mà chủ yếu tập trung vào thiền thú, thiền cảnh Nổi bật ở bài phú này là tinh thần tiêu dao thoát tục, chất Phật và chất Đạo hoà vào nhau Tư tưởng mà tác giả thể hiện ở bài phú này là tư tưởng thuận theo quy luật tự nhiên được diễn đạt bằng cảnh tự nhiên sông núi, hoa lá chim muông thanh bình Tác giả cũng đề cập đến những chủ đề, biểu tượng của Phật giáo như Bụt, Phật quả, Hư vô, Thiền, Bát nhã nhưng lại diễn giải nó thông qua thiền cảnh chứ không thông qua thiền lý Ở đây, thiền lý thâm nhập nhuần nhuyễn trong thiền cảnh
Trong thơ ông, nhiều khi con người thi sĩ và con người thiền gia đã hoà làm một, hình ảnh người ẩn dật mang tinh thần tiêu dao của Lão - Trang cũng hoà quyện, giao thoa với tinh thần một ẩn sĩ Nho giáo Theo Nguyễn Kim Sơn thì: “Các sáng tác thơ của Huyền Quang phản ánh rất rõ hiện trạng của đời sống tinh thần tầng lớp trí thức, của các quan niệm thẩm mỹ, các thể tài văn học, giai đoạn giữa và cuối Trần Nó đánh dấu sự bắt đầu quá trình chuyển giao giữa hai thời đại Phật giáo sang thời đại Nho giáo, giữa văn chương Phật giáo và văn
chương Nho giáo thế tục” [69, tr 87]
1.3 Hành trạng Huyền Quang nhìn từ lát cắt hệ tư tưởng – một nhân cách văn hóa đa trị của thời đại nhà Trần
Mỗi hiện tượng tư tưởng, văn hóa, văn học ra đời đều là sự tổng hợp, tích hợp của nhiều yếu tố lịch sử - xã hội, tư tưởng – văn hóa, văn học Hiện tượng Huyền Quang cũng không nằm ngoài quy luật đó Đã có “một sự chuyển giao thực sự giữa Nho giáo và Phật giáo” (chữ dùng của Trần Đình Hượu) ở giai đoạn nhà Trần Hiện tượng Huyền Quang chính là kết quả điển hình của sự chuyển giao ấy
Ở đầu thời đại nhà Trần, sự dung hợp Phật - Nho - Lão đã đựoc thể hiện
khá rõ ở Trần Thái Tông Trong bài Phổ khuyến phát Bồ đề tâm, khi bàn về tầm
quan trọng của “đạo”, ông viết: “Cái quý nhất ở đời là vàng ngọc Nhưng xét cho
kĩ thì cái đáng trọng, đáng tiếc không gì bằng thân mệnh con người (…) Tuy
Trang 35nhiên, nói thân mệnh là đáng trọng nhưng cũng còn chưa trọng bằng cái Đạo tối cao Cho nên Khổng Tử nói: “Sớm nghe Đạo, chiều chết được rồi”, Lão Tử nói:
“Ta sở dĩ có điều lo lớn là vì ta có cái thân” Đức Thế Tôn cầu Đạo, quên mình cứu khổ Há chẳng phải ba bậc thánh nhân khinh thân mà trọng Đạo đó sao?” [10, tr.63]
Rõ ràng trong thời đại cùng tồn tại sự chi phối của nhiều hệ tư tưởng thì một nhân cách trí thức lớn khó có thể thuần thành hay chịu sự chi phối và lệ thuộc nhất định vào một hệ tư tưởng nào Huyền Quang cũng không nằm ngoài quy luật ấy Ở ông có sự hội tụ phức tạp của ba luồng tư tưởng Nho - Phật - Đạo Là vị Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, ông đã thực hiện dường như triệt
để nhất tinh thần nhập thế tích cực của Thiền phái Trúc Lâm Đến giai đoạn lãnh đạo của vị Tổ thứ ba - Huyền Quang tôn giả, thì sự chuyển hóa của Thiền phái Trúc Lâm từ thượng tầng văn hóa cung đình - văn hóa của những trí thức cao cấp xuống hạ tầng của tư duy dân gian, môi trường văn hóa dân gian, thì dường như
đã được hoàn thành về cơ bản Kết quả đó có được từ những hoạt động nhập thế tích cực của đệ nhất Tổ Trần Nhân Tông, và đặc biệt là những hoạt động rất thiết thực của đệ nhị Tổ Pháp Loa Huyền Quang chỉ đứng ở vị trí lãnh đạo Thiền phái trong vòng ba năm - một thời gian không phải là nhiều Với đặc tính “đổ khẩu vô ngôn”, “dĩ tâm truyền tâm”, với các luận thuyết siêu lí tính, siêu tư duy, vượt khỏi những nhận thức, lí luận thông thường, các dòng Thiền chỉ có thể tồn tại và phát triển ở môi trường văn hóa cao cấp, với những trí thức cao cấp Nên khi Phật giáo chuyển hóa vào trong dân gian thì các dòng thiền cơ hồ đã mất đi mạch sống của mình Môi trường văn hóa dân gian dễ tiếp nhận thứ Phật giáo mang màu sắc Mật tông, Tịnh độ tông hơn là các dòng Thiền… Đến Huyền Quang, tư tưởng nhập thế tích cực, dĩ Nho nhập Thích được khởi xướng từ đệ nhất Tổ Trần Nhân Tông đã được thực hiện một cách rốt ráo Phật giáo về cơ bản đã được phổ cập rộng rãi trong dân gian, bắt đầu một quá trình ăn sâu vào tâm thức dân gian Đây cũng là một trong những căn cứ quan trọng để cắt nghĩa tại sao sau Huyền Quang, Thiền phái Trúc Lâm không còn tiếp tục phát triển nữa
Trong tư tưởng của Huyền Quang hẳn là có những nét khác so với hai vị
sư Tổ của mình Nhân Tông và Pháp Loa đều có khuynh hướng đến với Phật giáo từ rất sớm Tư tưởng của Trần Nhân Tông cũng là tư tưởng tam giáo, trong
Trang 36tư tưởng của ông, mặc dù chất Đạo giáo và chất Nho giáo đã rất đậm, nhưng vẫn nghiêng về Phật giáo Còn Pháp Loa thì dường như là thuần thành hơn cả với tư tưởng Phật giáo Tư tưởng của ông cũng không có gì đặc sắc, hơn thầy – Trúc Lâm đệ nhất Tổ mà cũng không có gì hơn trò - Huyền Quang tôn giả đệ tam Tổ Huyền Quang lại là người tinh thông Nho học, ông đã đem tinh thần Nho gia vào trong cửa chùa Qua tiểu sử hành trạng Huyền Quang, chúng ta có thể thấy ở ông
cả hai hình ảnh của nhà Nho chính thống Trước khi xuất gia, ông mang hình ảnh của nhà Nho hành đạo: học hành, thi cử, đỗ đạt, làm quan Sau khi xuất gia, về cuối đời, những hoạt động cũng như những sáng tác của ông ở giai đoạn này lại mang bóng dáng, tinh thần của một nhà Nho ẩn dật Có thể nói Huyền Quang chính là điển hình cho sự giao thoa giữa nhân cách trí thức nho sĩ và trí thức thiền sư Ông cũng chính là người thực hiện tư tưởng dĩ Nho nhập Thích của Thiền phái Trúc Lâm một cách triệt để nhất Sau Huyền Quang, cùng với sự vận động, phân hóa, ảnh hưởng ngày càng quyết liệt của Nho giáo tới mọi mặt của đời sống xã hội, cũng như sự sa sút không thể cứu vãn của Phật giáo, không còn xuất hiện những đỉnh cao của nhân cách trí thức thiền sư của dòng văn hóa Phật giáo như trước nữa, điều đó cũng đồng nghĩa với việc không ai đủ tài năng và đức độ để nối tiếp ngọn đèn tổ Huyền Quang cũng chính là đỉnh cao cuối cùng của nhân cách trí thức thiền sư trong dòng văn hóa Phật giáo - vị tổ cuối cùng của Thiền phái Trúc Lâm
Tiểu kết
Ở chương 1, chúng tôi thông qua việc khảo sát các nguồn thư tịch cổ đã dựng lại bức chân dung khái quát về Huyền Quang tôn giả ở các phương diện: một trí thức nho sĩ, một nhà Phật học lỗi lạc - đệ tam tổ của Thiền phái Trúc Lâm, một ẩn sĩ và một thi nhân Đồng thời với việc dựng lại bức chân dung khái quát về Huyền Quang, chúng tôi cũng đặt nhân vật lịch sử này trong sự vận động của tư tưởng văn hóa, văn học của thời đại nhà Trần nhằm đưa ra những nhận định khách quan, nhất quán về ông Qua việc dựng lại tiểu sử hành trạng của Huyền Quang, chúng tôi đi đến kết luận: Huyền Quang là điển hình cao nhất cho
sự giao thoa của nhân cách nho sĩ và nhân cách thiền sư Ông cũng chính là người thực hiện quá trình dĩ Nho nhập Thích của Thiền phái Trúc Lâm một cách
Trang 37triệt để nhất Điều đó cũng cho thấy, Nho giáo đã có sự thâm nhập, phân hóa và ảnh hưởng quyết liệt đến những tầng lớp trí thức bên trên của xã hội, trong đó có
cả trí thức Phật giáo Huyền Quang cũng chính là đỉnh cao cuối cùng cùa nhân cách tri thức văn hóa Phật - một nhân cách đa trị - một hiện tượng tư tưởng văn hóa, văn học đặc biệt của thời đại nhà Trần
Trang 38Chương 2 NHÀ THƠ LÝ ĐẠO TÁI VÀ TÔN GIẢ HUYỀN QUANG
Từ một hiện tượng điển hình cho sự giao thoa giữa nhân cách trí thức nho
sĩ và thiền sư, Huyền quang bước vào thế giới văn học và cũng trở thành hiện tượng điển hình cho sự giao thoa giữa loại hình tác giả nhà nho và loại hình tác giả thiền sư Là một thiền sư - hơn thế nữa lại là vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm, nhưng những sáng tác của ông lại không hoàn toàn mang những đặc trưng thuần nhất của dòng văn học Phật giáo trước đó Nó đã dần mờ nhạt đi rất nhiều những đặc điểm dị biệt của thơ Thiền bên cạnh sự đậm dần lên của những yếu tố đặc trưng của văn chương nhà Nho Rất khó có thể xếp ông vào một loại hình tác giả cụ thể nào Ông không chỉ là một nhà thơ có tiếng của thời Trần mà đã thực
sự trở thành một hiện tượng thơ độc đáo của giai đoạn này
Mặc dù các trước tác của Huyền Quang còn lại đến này không nhiều, nhưng theo như đánh giá của Nguyễn Kim Sơn thì: “Sự nghiệp văn học của Huyền Quang có vai trò như một dấu chuyển quan trọng giữa hai thời đại văn học” [69, tr 89] Chính vì vậy, chúng tôi chủ trương đặt các trước tác của Huyền Quang trong sự vận động từ nền văn học Phật giáo sang nền văn học Nho giáo giai đoạn đương thời Từ định hướng ấy, chúng tôi tiến hành phân tích các tác phẩm của ông trên bình diện những tiêu chí đặc trưng của hai nền văn học này như quan niệm văn học; cảm hứng chủ đạo; hình tượng trung tâm; ngôn ngữ, thể loại Với mong muống lý giải và cắt nghĩa nguồn mạnh của hiện tượng thơ độc đáo này
2.1 Vài nét về đặc điểm các loại hình tác giả và nền văn học giai đoạn nhà Trần
Cùng với sự vận động từ Phật giáo sang Nho giáo, trong văn học thời nhà Trần cũng đã diễn ra sự chuyển giao giữa các loại hình tác giả theo xu hướng nhà Nho dần trở thành bộ phận tác giả chủ yếu thay thế cho thiền sư và quý tộc – võ tướng Đây cũng chính là hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam ỏ thời kỳ này
Theo thống kê của Th.S Đỗ Thu Hiền: “Từ thời Lý đến thời Trần là giai đoạn loại hình tác giả nhà sư biến đổi theo chiều hướng từ chiếm đa số (65%)
Trang 39đến chỉ còn là bộ phận rất nhỏ (6%, 4%) Trong khi “Loại hình tác giả nhà nho lại phát triển theo chiều hướng hoàn toàn ngược lại, từ chỗ chỉ là những các nhân riêng lẽ (11,7%) đến khi chiếm số lượng lớn (14%) và trở thành áp đảo (74%) vào thế kỷ thứ XIV.” [97, tr 384] Như vậy, những thay đổi, giao thoa về loại hình tác giả đã diễn ra khá mạnh mẽ ở giai đoạn nhà Trần Khi loại hình tác giả đã thay đổi về cơ bản thì diện mạo văn học hiển nhiên cũng thay đổi theo Đã có một
sự vận động chuyển giao giữa nền văn học Phật giáo sang nền văn học Nho giáo trong giai đoạn đầy biến động này
Theo Trần Ngọc Vương, “trạng thái cổ điển của mỗi giai đoạn văn học phải được xem như là phức hệ của một tập hợp các yếu tố đặc định, dị biệt cho
số phận của các khám phá nghệ thuật khác nhau; 1- Quan niệm văn học và lí tưởng thẩm mĩ; 2 - Hệ thống chủ đề, đề tài trung tâm; 3 - Hệ thống hình tượng nhân vật trung tâm; 4 - Hệ thống thể loại; 5 - Ngôn ngữ văn học” [97, tr 406] Mặc dù ở đầu thời Trần, số lượng tác giả thiền sư đã giảm đi đáng kể so với thời
Lý, nhưng số lượng tác phẩm của dòng văn học Phật giáo lại có sự tăng lên một cách đột biến Cảm hứng Thiền vẫn là cảm hứng chủ đạo chi phối sáng tác của các tác giả lớn như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông … Tuy nhiên đến các thiền gia thời Trần, cảm hứng Thiền đã mang tinh thần nhập thế tích cực hơn rất nhiều so với thời Lý Đã có sự thay đổi đáng kể trong thể loại văn học Phật giáo Các bài kệ chữ Hán chủ yếu làm bằng thơ ngũ ngôn ở thời Lý đã dần được thay bằng những thể loại có dung lượng và phạm vi phản
ánh dài hơi hơn như Khóa hư lục của Trần Thái Tông, Thượng sĩ ngữ lục của Tuệ Trung Thượng sĩ, Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông, Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang Cùng với những
thay đổi về thể loại, ngôn ngữ trong các tác phẩm thuộc dòng văn học Phật giáo đời Trần cũng không còn thiên về triết lý, siêu hình, bí hiểm như ở thời kỳ trước,
mà đã gần hơn với ngôn ngữ của quảng đại quần chúng, đặc biệt là có những tác
phẩm còn được sáng tác bằng thứ ngôn ngữ dân tộc như Cư trần lạc đạo phú và
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trần Nhân Tông, Vịnh Vân Yên tự phú của
Huyền Quang…
Đến giai đoạn Vãn Trần thì hầu như không còn thấy xuất hiện những tác giả, tác phẩm lớn của dòng văn học Phật giáo như trước nữa Trong khi đó, dòng
Trang 40văn học Nho giáo đã dần chiếm được vị trí độc tôn và bắt đầu sự chi phối của nó tới tất cả các hoạt động sáng tác Trong sáng tác của các danh Nho thời kỳ này như Sử Hi Nhan, Chu Văn An, Nguyễn Pháp, Đặng Dung, Nguyễn Phi Khanh,… đã hướng tới quan niệm về một cái đẹp tượng trưng ẩn chứa những nội dung đạo lý, những nguyên tắc hành xử thuộc khuôn khổ mĩ cảm Nho gia, hình tượng trung tâm trong các sáng tác đã là hình tượng của kẻ sĩ với khát vọng “trí quân trạch dân”, ca tụng công đức của “vua sáng tôi hiền”… Sự phát triển của dòng văn học Nho giáo cũng đã tạo cho sự ra đời của hàng loạt các thể loại sáng tác mới lớn hơn rất nhiều so với số lượng thể loại dường như là quá ít ỏi của dòng văn học Phật giáo Đặc biệt ở thời kỳ này, trước nhu cầu ngày càng lớn trong việc bộc lộ, ca ngợi khí tiết thanh cao cũng như khát vọng thực thi những giáo lý của Nho giáo của tầng lớp nho sĩ, đã tạo điều kiện đáng kể cho sự phát triển của các thể loại thơ “ngôn chí”, “thuật hoài”, “vịnh sử”, “vịnh vật”, cũng như các thể loại xướng hoạ, thù tạc… Có thể nói đến giai đoạn Vãn Trần, nền văn học Nho giáo gần như đã xây dựng và bộc lộ đầy đủ những đặc trưng của
nó
Như vậy, ở giai đoạn nhà Trần, đã có sự chuyển giao về cơ bản từ nền văn học Phật giáo sang nền văn học Nho giáo Tuy nhiên, trong không khí khoan hoà, hỗn dung của thời kỳ “tam giáo tịnh hành”, trong xu thế đồng hành và đấu tranh tranh lẫn nhau giữa các xu thế tư tưởng, các lực lượng trí thức, các loại hình tác giả, đã không cho phép tồn tại một loại hình tác giả cũng như một nền văn học thuần nhất Chúng ta có thể thấy trong sáng tác của các thiền sư thời đầu nhà Trần những yếu tố của văn học nhà Nho Ngược lại có không ít sáng tác của các nhà Nho giai đoạn Vãn Trần nếu đặt trong các sáng tác của dòng văn học Phật giáo trước đó lại cũng khó có thể phân biệt được Nền văn học Nho giáo thời kỳ này cũng chưa phải là nền văn học Nho giáo đạt đến sự mẫu mực, chính thống Loại hình tác giả nhà Nho ở thời kỳ này và những sáng tác của họ cũng rất khác so với loại hình tác giả nhà Nho và văn chương Nho giáo từ thời Lê Thánh Tông trở về sau
Sự vận động từ nền văn học Phật giáo sang nền văn học Nho giáo ở giai đoạn nhà Trần đã tạo nên hiện tượng giao thoa độc đáo giữa hai dòng văn học này Huyền Quang chính là một hiện tượng thơ điển hình, tiêu biểu nhất cho sự