1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giả trinh thám trong Tên tôi là Đỏ của Orhan Pamuk

101 308 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về truyện trinh thám và giả trinh thám Khái niệm truyện trinh thám được dùng để chỉ thể loại văn xuôi hư cấu được khai sinh bởi Edgar Allan Poe 1809 – 1849 với bộ ba tác phẩm Vụ án đườ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

DƯ THỊ NGỌC

GIẢ TRINH THÁM TRONG

TÊN TÔI LÀ ĐỎ CỦA ORHAN PAMUK

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành : VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

DƯ THỊ NGỌC

GIẢ TRINH THÁM TRONG

TÊN TÔI LÀ ĐỎ CỦA ORHAN PAMUK

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn của

mình với đề tài Giả trinh thám trong Tên tôi là Đỏ của Orhan Pamuk Tôi

xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của tôi Những nhận định, kết luận trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Dư Thị Ngọc

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện đề tài Giả trinh thám

trong “Tên tôi là Đỏ” của Orhan Pamuk, tôi đã nhận được sự hướng dẫn,

giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của thầy cô trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội

Lời cảm ơn đặc biệt, tôi xin gửi tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Thủy, người

đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong khoa Văn học, phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cùng gia đình, bạn bè,… đã tạo điều kiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khóa học

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả luận văn

Dư Thị Ngọc

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thổ Nhĩ Kỳ được coi là ngã tư của các nền văn minh, nơi gặp nhau của phương Đông và phương Tây Sự giàu có của nền văn hóa nói chung và văn học nói riêng của miền đất này chưa được nhiều bạn đọc Việt Nam biết đến Luận văn mong phần nào đưa nền văn học Thổ Nhĩ Kỳ đến gần hơn với độc giả Việt

Từng được New York Times ca ngợi là “một ngôi sao mới mọc ở phương Đông”, Orhan Pamuk là một hiện tượng trong văn học Thổ Nhĩ Kỳ cũng như văn học thế giới Ông giành được nhiều giải thưởng văn học trong

và ngoài nước Ông được các nhà nghiên cứu văn học đánh giá cao về những đóng góp nghệ thuật kể chuyện cũng như thái độ thẳng thắn đề cập tới các căng thẳng sâu xa giữa phương Đông và phương Tây, giữa tập quán và thế tục, khiến người đọc bị ám ảnh

1.2 Đời sống văn học Thổ Nhĩ Kỳ được đánh thức trong lòng người đọc

Việt Nam bởi tiểu thuyết Tên tôi là Đỏ của Orhan Pamuk Tác phẩm có sức

lôi cuốn kỳ diệu với sự kết hợp sắc bén giữa truyện trinh thám gay cấn với câu chuyện tình yêu lãng mạn, mâu thuẫn và hòa hợp giữa các nền văn hóa Tác phẩm không những là sáng tác tiêu biểu của Orhan Pamuk mà còn thể hiện những bước đổi mới của nền văn học hậu hiện đại

Tên tôi là Đỏ ra mắt năm 2000 và được trao giải thưởng IMPAC năm

2003 và giải Nobel Văn học năm 2006 Cuốn sách được dịch ra 24 ngôn ngữ Tác phẩm được đánh giá là một kiệt tác với nội hàm dữ dội của một cây bút bậc thầy Thông qua bản dịch tiếng Việt của dịch giả Phạm Viêm Phương, Huỳnh Kim Oanh, Nhà xuất bản Văn học và Nhã Nam, độc giả sẽ ngỡ ngàng

Trang 6

phát hiện về một Thổ Nhĩ Kỳ cổ kính và rực rỡ, truyền thống và hiện đại, phàm tục và linh thánh ẩn dưới vẻ ngoài của một câu chuyện trinh thám

Tiểu thuyết Tên tôi là Đỏ là một tác phẩm có cách thể hiện độc đáo

Trên nền các vụ án mạng gay cấn đến nghẹt thở, chuyện tình lãng mạn đến cảm phục, tác phẩm đề cập đến sự va chạm văn hóa giữa phương Đông và phương Tây một cách lý thú Cuốn tiểu thuyết được đông đảo bạn đọc đón

nhận Tên tôi là Đỏ không chỉ là nét đột phá về hình thức nghệ thuật, mà còn

là một khám phá mới mẻ của tác giả Orhan Pamuk trong việc thể hiện những vấn đề lớn của văn hóa Đô thành Istanbul cuối thế kỷ XVI chứa đựng bề dày văn hóa mà tiêu biểu là cuốn sách của các nhà tiểu họa Hồi giáo Tác phẩm là một thách thức với độc giả, không chỉ ở vụ án ly kỳ, bí ẩn đến phút chót, mà người đọc sẽ cảm nhận và ngấm dần một nền văn hóa trong thời buổi va chạm

Đông – Tây Với những độc đáo về hình thức và sâu sắc về nội dung, Tên tôi

là Đỏ không chỉ gây tò mò đối với độc giả mà còn là mảnh đất màu mỡ để

khám phá cho những ai đam mê văn chương

1.3 Truyện trinh thám lôi cuốn độc giả bởi những điều bí ẩn đến từ vụ

án và hành trình giải mã thông minh của thám tử Edgar Allan Poe là người khai sinh “trò chơi trí tuệ” này Barry Lewis cho rằng thể loại trinh thám là một trong những ứng cử viên cho tư cách bạn đồng hành đúng nghĩa của hậu hiện đại bởi việc truy tìm những manh mối, cám dỗ đứng song song, gần gũi với việc độc giả săn tìm ý nghĩa của văn bản T.Todorov đưa ra những quy tắc của thể loại này và chúng trở thành mẫu mực cho các nhà văn khai thác mảng

trinh thám Nếu chiếu theo những điều này, Tên tôi là Đỏ đã vi phạm quy tắc

của tiểu thuyết trinh thám cổ điển Orhan Pamuk đã mượn cái khung của tiểu thuyết trinh thám để nêu lên những câu chuyện về tình yêu, về văn hóa, nghệ thuật Ông đã vượt qua những quy tắc của thể loại để hướng đến những vấn

đề mang tính khái quát, tạo nên một dạng trinh thám riêng mang màu sắc cá

Trang 7

nhân Tên tôi là Đỏ là một “biến tấu lạ lùng” của thể loại trinh thám Đó chính

là giả trinh thám của văn học hậu hiện đại

Với những lý do kể trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Giả trinh

thám trong Tên tôi là Đỏ của Orhan Pamuk Hy vọng từ góc độ này, chúng

tôi có thể góp thêm một cách nhìn vào việc giải mã tác phẩm văn học của Orhan Pamuk

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về truyện trinh thám và giả trinh thám

Khái niệm truyện trinh thám được dùng để chỉ thể loại văn xuôi hư cấu

được khai sinh bởi Edgar Allan Poe (1809 – 1849) với bộ ba tác phẩm Vụ án

đường Morgue, Lá thư bị mất và Bí mật của Marie Roger, sau đó được tiếp

nối với Wikie Collins, Arthur Conan Doyle, John Dicson Carr, Agatha Christie, Stanley Gardner… Adgar Poe quan niệm truyện trinh thám là một thể loại văn học duy lý, một trò chơi trí tuệ mà “người chiến thắng là người bước vào đầu óc địch thủ, đồng nhất với hắn” [12, 637] Ông xem truyện trinh thám là một bài toán hóc búa, phức tạp, trong đó các chi tiết được gài đặt tạo nên tình thế gay cấn, bí ẩn có vẻ không giải được, nhưng cuối cùng thám tử

đã sáng tỏ tất cả nhờ suy luận, phán đoán theo phương pháp diễn dịch Connan Doyle cũng nhấn mạnh vào phép lý luận, nhưng với ông là “phép suy luận ngược chiều” Người ta nói cho anh cái kết cục và tự anh phải tìm ra tất

cả những sự việc đã dẫn đến cái kết cục ấy

Bắt đầu từ Edgar Allan Poe, truyện trinh thám đã được nâng lên tầm văn học, để từ đó đến nay, nó làm nên lịch sử thể loại cũng như tên tuổi của nhiều thế hệ nhà văn Hành trình phát triển của truyện trinh thám là một quá trình biến đổi Truyện trinh thám cổ điển cuốn hút bạn đọc bởi những bí ẩn của vụ

án, kích thích họ khát khao khám phá khi nhà văn sử dụng kĩ thuật hé mở dần dần rồi tiết lộ ở đoạn kết

Trang 8

Các vấn đề lý thuyết về loại hình truyện trinh thám đã được các nhà

nghiên cứu phương Tây đề cập đến từ khá sớm trong Loại hình của tiểu

thuyết trinh thám (Todorov, Đặng Anh Đào dịch), Về truyện trinh thám

(Borges, Ngô Tự Lập dịch) Ở Việt Nam, loại hình này cũng được giới nghiên

cứu chú ý, có thể kể đến Đặng Anh Đào với Nữ tác gia và truyện trinh thám, Nguyễn Duy Bình với Bàn về tiểu thuyết trinh thám, Nguyễn Vi Khanh với

Cái chết trong văn chương: từ siêu hình, lãng mạn đến kinh dị và trinh thám…

Nhìn sự phát triển và biến đổi của truyện trinh thám, Todorov chỉ ra sự tiếp nối của ba hình thái tiểu thuyết ẩn ngữ, tiểu thuyết đen và tiểu thuyết phân vân hồi hộp Tiểu thuyết ẩn ngữ hay còn gọi là tiểu thuyết trinh thám cổ điển phát triển giữa hai cuộc đại chiến Dấu hiệu nổi bật của tiểu thuyết ẩn ngữ thể hiện trong kết cấu hầu như không thay đổi: một cốt truyện trinh thám được cấu thành trên hai câu chuyện – truyện về tội ác và truyện về cuộc điều tra, trong đó truyện về tội ác kết thúc thì mới bắt đầu truyện về cuộc điều tra Câu chuyện thứ hai mới thực sự là câu chuyện chính, kể về những biến ảo khôn lường của trí tuệ đặc biệt thấu suốt mọi tội ác để cuối cùng đưa nó ra công lý Vụ giết người ở phần mở đầu là một câu đố, toàn bộ diễn tiến còn lại của câu chuyện là tiến trình giải đố Đây cũng chính là lý do vì sao tiểu thuyết trinh thám cổ điển được gọi là “tiểu thuyết câu đố” hay “tiểu thuyết ẩn ngữ” Tiểu thuyết ẩn ngữ dựa trên khuôn mẫu của Edgar Poe đã phát huy những tìm tòi của ông, đó là yếu tố về bí mật căn phòng đóng kín, những động cơ, nhóm người – nhân chứng và bị tình nghi được tập hợp từ đầu, những dấu hiệu lừa phỉnh thoạt nhìn Tiểu thuyết đen khởi nguồn từ nước Mỹ trước đại chiến thứ hai và nở rộ ở Pháp Sự tìm tòi khảo sát thay thế cho sự hồi cố ở tiểu thuyết ẩn ngữ Niềm quan tâm thích thú của độc giả chuyển từ sự hiếu kì trên hành trình

đi từ kết quả đến nguyên nhân chuyển sang sự phân vân hồi hộp trên hành

Trang 9

trình từ nguyên nhân đến kết quả Theo Todorov, sự thay đổi này là do “các nhân vật chính của tiểu thuyết ẩn ngữ (thám tử, bạn anh ta, người kể chuyện) theo định nghĩa, là bất khả xâm phạm: chẳng điều gì có thể xảy ra với họ Tình thế đảo ngược trong tiểu thuyết đen: mọi sự đều có thể xảy ra và thám tử nếu không liều mạng thì cũng liều sức khỏe” [46, 15] Tiểu thuyết phân vân hồi hộp giữ lại những đặc điểm của cả hai tiểu thuyết trên Đó là câu chuyện

về tội ác và cuộc điều tra, sự bí ẩn, mở rộng câu chuyện thứ hai ra ngoài phạm

vi truy đuổi tội phạm đơn thuần Ở đây, câu chuyện thứ hai được đặt vào vị trí trung tâm, nhân vật trung tâm không ngừng rơi vào trạng thái lâm nguy, các tình huống lắt léo, bí ẩn được tăng cường

Trong Edgar Poe và truyện trinh thám, Jorge Luis Borges đã từng khẳng

định “Văn học của chúng ta đang hướng về sự hỗn loạn… Trong thời đại cực

kì hỗn loạn ấy, có một thứ vẫn còn giữ, giữ một cách khiêm tốn, những giá trị truyền thống: đó là truyện trinh thám” [12, 707] Bởi J.L.Borges cho rằng “ta không thể hình dung một truyện trinh thám không có phần mở đầu thắt nút và cởi nút”, tức là không có nhân vật thám tử và hành trình điều tra vụ án của anh ta Nói một cách khác, sự thật và hành trình kiếm tìm sự thật chính là hạt

nhân truyền thống của văn chương trinh thám Trong Về truyện trinh thám,

ông cũng nhắc đến những nguyên tắc truyền thống của truyện: bí ẩn phải được khám phá bằng trí tuệ, bằng cách thức của tư duy Nghiên cứu các sáng tác của Edgar Allan Poe, ông hướng truyện trinh thám vào địa hạt của văn học

kì ảo, những điều kì ảo đó có nguồn gốc trí tuệ chứ không phải là tưởng tượng Truyện trinh thám vẫn giữ được những giá trị truyền thống với kết cấu

mở đầu, thắt nút, và mở nút bằng vô số tình tiết hỗn loạn

Velardi Patrich trong Plot, charater and setting: a study of mystery and

detective fiction nghiên cứu kết cấu của truyện trinh thám Ông xây dựng mẫu

số chung cho thể loại này để từ đó mỗi nhà văn tự tạo cho mình một câu

Trang 10

chuyện trinh thám riêng Người kể chuyện giới thiệu vài bằng chứng và mối nghi ngờ Cao trào của câu chuyện là lúc thám tử công bố tên tội phạm trong

sự ngỡ ngàng của các nhân vật khác và chính người đọc Truyện trinh thám là loại truyện xoay quanh một bí ẩn cần được giải đáp, trong đó nhất định phải

có tên tội phạm và hành trình điều tra phá án Bằng sự thông minh và dũng cảm, thám tử sẽ lý giải bằng cách nào mà bí ẩn được giải quyết

Theo Cao Vũ Trân trong bài viết Georges Simenon và tiểu thuyết trinh

thám Pháp thế kỉ XX thì “Hiểu một cách chung nhất, tiểu thuyết trinh thám là

một loại nghệ thuật xác định tội phạm chủ yếu dựa vào phương pháp suy luận – một trình độ động não ở đẳng cấp cao – trong quá trình nghiên cứu và phát hiện tội phạm Đây là một thể loại văn học duy lý và kì ảo” [43, 72] Trong những phân tích của mình, Cao Vũ Trân cũng đề cập đến hình thức trinh thám – điều tra truyền thống

Tiếp tục triển khai mối quan tâm về tiểu thuyết trinh thám, Nguyễn Duy

Bình trong Bàn về tiểu thuyết trinh thám nêu đặc thù về mặt hình thức Ông

đưa ra những tiêu chí bắt buộc đối với một cuốn tiểu thuyết trinh thám Về nhân vật, truyện trinh thám cần có bộ ba nạn nhân – tội phạm – thám tử Thủ phạm không được là thủ phạm chuyên nghiệp, không được là thám tử, phải giết người vì lí do riêng của cá nhân Về cốt truyện, truyện tồn tại một điều bí

ẩn và mọi sự phải được giải thích một cách duy lý Về điểm nhìn trần thuật, truyện trinh thám mở đầu bằng cái nhìn bên ngoài, sự kiện bày ra như một mê cung Trên hành trình giải đáp bí ẩn, điểm nhìn dần dịch chuyển vào bên trong nhân vật thám tử

Sang thế kỉ XX, một số nhà văn hiện đại đã phát triển kĩ thuật kể chuyện, phá vỡ những luật lệ của truyện trinh thám cổ điển, hình thành lối văn phong mới, tạo nên niềm hứng thú mới Hành trình truy tìm manh mối song song với việc độc giả đi tìm ý nghĩa của văn bản, nhân vật đi tìm bản ngã, nhà văn giải

Trang 11

mã văn hóa… “Các nguyên tắc của truyện trinh thám được ưa thích sử dụng bởi nó đặt tác phẩm vào một hành trình Các nhà hậu hiện đại giữ nguyên mục đích truy tìm vốn là bản chất của truyện trinh thám, nhưng lại thay đổi mục đích truy tìm bằng cách đan cài vào đó nhiều chủ đề, nhiều tuyến cốt truyện” [7, 39] Sự hỗn độn của cuộc sống được thể hiện bằng chính sự mù mịt của cái mê cung mà thám tử tham gia vào cuộc truy tìm Sự phỏng nhại hình thức

và nguyên tắc của truyện trinh thám truyền thống đã sáng tạo nên loại truyện giả trinh thám Truyện trinh thám trở thành một phần không thể thiếu của văn học hậu hiện đại

William Spanos là người đầu tiên đề xuất thuật ngữ “giả trinh thám”

(anti-detective) Năm 1972, trong bài viết Thám tử và giới hạn: vài lưu ý về

hư cấu văn chương hậu hiện đại, Spanos nêu ra nguyên tắc giải quyết các

nghi vấn và cho rằng “câu chuyện giả trinh thám là một dạng mẫu gốc của hư cấu văn chương hậu hiện đại” [8, 351] Từ đó đến nay, nhiều bài viết và công trình tiếp tục sử dụng thuật ngữ giả trinh thám để bàn về một xu hướng phát triển của truyện trinh thám hậu hiện đại Truyện trinh thám hậu hiện đại không đặt trọng tâm vào việc tìm ra thủ phạm, không nhất nhất phải tuân thủ những định khung đã được các nhà nghiên cứu truyện trinh thám đề ra từ trước đến nay Đặt giả trinh thám trong sự đối sánh với tiểu thuyết trinh thám

cổ điển, Laurence Devillairs đã chỉ ra những nét đặc trưng và sức lôi cuốn

riêng của mỗi thể loại (Tiểu thuyết trinh thám – một niềm may mắn của văn

học, Đào Duy Hiệp dịch)

Dáng dấp mơ hồ trong những trang viết bí ẩn của truyện trinh thám luôn

là động lực thôi thúc niềm đam mê của các nhà nghiên cứu Ở Việt Nam,

PGS.TS Đặng Anh Đào, trong Nữ tác gia và truyện trinh thám, đã chỉ ra sự

đổi mới của truyện trinh thám trong đời sống văn học hiện đại, đặc biệt là bùng nổ yếu tố miêu tả và phân tích tâm lý: “Truyện trinh thám hiện đại càng

Trang 12

phải khai thác những vấn đề bất ổn của nhân cách, bản năng” [21, 123]

Chúng tôi chú ý đến bài viết Giả trinh thám trong tự sự hậu hiện đại (Tạp chí

Khoa học, số 2/2011) Ở đây, PGS.TS Lê Huy Bắc đã đề cập đến cấu trúc này

trong văn chương hậu hiện đại thông qua ba tác phẩm Tên của đóa hồng (Umberto Eco), Tên tôi là Đỏ (Orhan Pamuk) và Thành phố thủy tinh (Paul

Auster) Ông chỉ ra rằng, các tác giả sử dụng hình thức truyện trinh thám đầy

lôi cuốn để đan cài vào đó các vấn đề lịch sử, tôn giáo ở thời Trung cổ (Tên

của đóa hồng), câu chuyện tình yêu lãng mạn và lịch sử về nền tiểu họa Thổ

Nhĩ Kì (Tên tôi là Đỏ) hay khám phá chính bản thân mình (Thành phố thủy

tinh) Với ba tác phẩm tiêu biểu này, ông đã chỉ ra cách tân lối viết của các tác

giả theo hướng hậu hiện đại và khẳng định rằng sự sáng tạo của con người là không giới hạn, khi nhà văn vượt qua những giới hạn của thể loại trinh thám truyền thống để làm mới cho tác phẩm của mình Ở một công trình quy mô

hơn – Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Lê Huy Bắc đã tập hợp những

bài viết đặc thù nhất về nghiên cứu lý thuyết và phê bình văn học hậu hiện đại

ở Việt Nam trong khoảng mười năm trở lại đây, trong đó dành sự chú ý không

nhỏ đến tiểu thuyết giả trinh thám Bộ ba New York của Paul Auster và Bốn

bề bờ bụi của Akutagawa Ryunosuke được nghiên cứu dưới góc độ tác phẩm

giả trinh thám – một vấn đề của chủ nghĩa hậu hiện đại Cả hai bài nghiên cứu

đi vào vấn đề người kể chuyện, người nghe chuyện, cốt truyện, kết cấu và nhân vật để khẳng định mục đích của các câu chuyện trinh thám không đặt ở việc tìm kiếm hung thủ và chân lý sự việc, mà nhấn mạnh quá trình kể

chuyện, vào sự đánh mất bản thể và đi tìm bản thể ra sao Ở luận văn Tự sự

phản trinh thám trong Thành phố thủy tinh của Paul Auster, tác giả Đặng Thị

Bích Hồng phân tích thấu đáo đặc điểm giả trinh thám trong tác phẩm thông qua ba vấn đề lớn: cốt truyện, nhân vật và người kể chuyện

Trang 13

Như vậy, tiểu thuyết giả trinh thám là sản phẩm của văn học hậu hiện đại, hay nói cách khác, nó góp phần làm nên bộ mặt của tự sự hậu hiện đại Trên cơ sở những đặc trưng của thể loại trinh thám, tiểu thuyết giả trinh thám

là sự phá vỡ tất cả những vấn đề thuộc về nền tảng thể loại Kiểu con người suy lý vốn được tôn sùng, giờ không những bị phủ nhận mà còn bị đem ra giễu nhại Thám tử trong tiểu thuyết trinh thám và tiểu thuyết giả trinh thám

đi tìm những câu trả lời khác nhau xuất phát từ những quan điểm nhận thức khác nhau của thời đại đã sản sinh ra họ Hành trình của thám tử trong tự sự hậu hiện đại không đặt mục đích tìm hung thủ là trọng tâm, anh ta không bất khả chiến bại trong việc giải mã bí ẩn Cùng với hành trình truy tìm tội phạm

là quá trình tự trinh thám Đôi khi, cuối cuộc hành trình, anh ta chỉ còn một

mã biểu đạt Độc giả ít quan tâm đến việc thám tử sẽ thành công hay thất bại

mà dõi theo quá trình ấy để tìm ra những cái được biểu đạt khác nhau

2.2 Về Orhan Pamuk và Tên tôi là Đỏ

Orhan Pamuk là cái tên được nhắc đến khá nhiều trên các tờ báo nước ngoài Sức ảnh hưởng của ông không dừng lại ở những cống hiến cho văn học, mà còn ở sự lột tả chân thực tâm hồn u buồn của thành phố Hồi giáo Istanbul, đề cập đến những vấn đề thuộc về tôn giáo, chính trị Chính vì thế, ông gặp phải không ít rắc rối với một loạt tác phẩm đề cập đến sự tương tác phức tạp giữa các giá trị truyền thống của đạo Hồi và nền văn minh phương Tây Tuy nhiên, trên tất cả, giá trị văn chương của ông được công nhận với các giải thưởng Hòa bình, giải thưởng Medicis và cao nhất là giải Nobel Văn học 2006 Diễn văn công bố của Viện Hàn lâm đã ghi nhận: “Trong quá trình

đi sâu tìm hiều tâm hồn u uẩn, sầu muộn của thành phố quê hương, Orhan Pamuk đã phát hiện ra những biểu tượng của sự va chạm, trộn lẫn giữa nhiều nền văn hóa” [33] Trên các tờ báo như Spectator, Observer, New Yorker,

Guardian, tiểu thuyết Tên tôi là Đỏ được đánh giá cô đọng bởi các tính từ

Trang 14

Tuyệt diệu, Kỳ vĩ, Lộng lẫy, Bất hủ… Tờ New Yorker nhận định: “Pamuk đã

chứng tỏ sự kiên nhẫn và khả năng xây dựng của những người kể chuyện thế

kỷ XIX và các truyền nhân của họ, Proust và Mann… và năng lực tưởng tượng của ông được gắn kèm với một cảm quan sâu xa về bí ẩn và song

nghĩa” [38] Trong cuốn tiểu luận Những màu khác, Orhan Pamuk dành ba chương kể lại quá trình sáng tác Tên tôi là Đỏ và bộc bạch những suy nghĩ

của mình về cuốn tiểu thuyết tâm đắc này

Orhanpamuk.net, nytimes.com là những website dành nhiều bài viết cho

Tên tôi là Đỏ Trong bài viết My name is Red, Eric J.Iannelli đặc biệt chú ý

đến sự đa tầng người kể chuyện, mê cung đầy bí ẩn của vụ án, và hơn thế là các cuộc tranh biện văn hóa không hồi kết Cùng hướng nghiên cứu đó, Dick

Davis, trong Murder and joy, cho rằng Tên tôi là Đỏ đã vượt qua những quy

tắc của thể loại để đem đến cho độc giả nhiều hơn một vụ án

Ở Việt Nam, tên tuổi và tác phẩm của Orhan Pamuk chưa được biết đến nhiều Orhan Pamuk được Đoàn Tử Huyến, Nguyễn Văn Thắng giới thiệu sơ

lược trong cuốn 103 nhà văn đoạt giải Nobel (1901-2006) Trong mục giới

thiệu sách, dịch giả Phạm Viêm Phương bày tỏ cảm xúc trong quá trình dịch tác phẩm này, đồng thời đưa ra một số nhận định mang tính khái quát về tác phẩm

Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Tên tôi là Đỏ chiếm số

lượng ít ỏi với đề tài luận văn Thạc sĩ Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2009:

Nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết Tên tôi là Đỏ của Orhan Pamuk của

Hà Hoàng Hà Đây được coi là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn vẹn nhất về tác phẩm Công trình đi vào tiếp cận và giải quyết những vấn đề nổi bật về nghệ thuật kể chuyện của tác phẩm như cốt truyện, giọng điệu và người kể chuyện

Trang 15

Trên các website, phần nhiều các bài viết đều nêu khái quát một số nét đặc trưng, tiêu biểu về bút pháp hay mang tính chất giới thiệu về tác phẩm xuất sắc, một số bài viết dừng lại ở việc giới thiệu sách, chưa đi sâu nghiên cứu cặn kẽ Trong khoảng thời gian hai năm 2007- 2008, chúng tôi nhận thấy

mối quan tâm của báo mạng đến Orhan Pamuk và Tên tôi là Đỏ rất lớn Nhân

sự kiện Orhan Pamuk đạt giải Nobel và tác phẩm Tên tôi là Đỏ được xuất bản

ở Việt Nam, các trang nhanam.vn, phongdiep.net, vietbao.vn… giới thiệu cuộc đời và vài nét cơ bản về nội dung cuốn tiểu thuyết Trên eVan, bài viết

Orhan Pamuk: Nghệ thuật không có trung tâm của Nhật Chiêu nhận định

tổng quan về lối viết của tác giả Tại Hội thảo Orhan Pamuk – giữa Đông và

Tây tổ chức ngày 11 tháng 3 năm 2008, Mai Sơn giới thiệu về tiểu thuyết Tên tôi là Đỏ và nhìn nhận ở khía cạnh nội dung của tác phẩm Tên tôi là Đỏ: Bản đại luận về nghệ thuật Cùng hướng nghiên cứu đó, Hoài Nam có bài viết Sự

va chạm giữa hai nền nghệ thuật hội họa trên trang cand.com.vn

Trong Giải mã hiện tượng văn học Orhan Pamuk, Thăng Xuyên tiếp cận

Pamuk ở khía cạnh nhà văn trong mối quan hệ với dân tộc mình và toàn nhân loại Ông bám chắc vào gốc rễ dân tộc mình để sáng tạo nhưng không quên đi những yếu tố mang tầm thời đại Tác giả bài viết cũng có nhận xét ưu ái cho

tác phẩm Tên tôi là Đỏ: “Sáng tác của ông, nhất là những cuốn như “Tên tôi

là Đỏ” và “Tuyết”, cho thấy ông là nhà văn Thổ Nhĩ Kì từ trong máu Phải là một nhà văn gắn bó cật ruột với Tổ quốc sinh ra mình cùng với toàn bộ bề dày lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ… của nó thì mới có thể viết sách như vậy”

[47] Phạm Nhật Chiêu, trong bài viết Orhan Pamuk – nghệ thuật không có

trung tâm trên khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, cho rằng nhà văn đã thâu tóm

toàn bộ thế giới, ông thuộc về cả Đông và Tây Thanh điệu độc đáo trong văn phong của ông luôn dễ nhận ra trong thế giới đa thanh, bởi màu đỏ biết nói kia không nói cho độc giả biết về chân lý nhưng lại đem đến sức ảm ảnh lạ kì

Trang 16

Tóm lại, trừ một vài tài liệu có đề cập chút ít đến kĩ thuật viết hậu hiện đại trong tiểu thuyết trinh thám của Orhan Pamuk, chúng tôi chưa thấy có

công trình nào đi sâu nghiên cứu giả trinh thám trong Tên tôi là Đỏ Vì vậy,

việc chúng tôi nghiên cứu Giả trinh thám trong Tên tôi là Đỏ của Orhan

Pamuk là một việc làm cần thiết nhằm đến một cái nhìn sâu sắc và toàn diện

hơn nữa về một tác phẩm từng chiếm được niềm mến mộ của độc giả toàn thế giới

3 Phạm vi, đối tượng và mục đích nghiên cứu

Tên tôi là Đỏ (2000) là cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên của Orhan

Oamuk Chúng tôi khảo sát tác phẩm dựa trên bản dịch Tiếng Việt của Phạm Viêm Phương và Huỳnh Kim Oanh, Nhà xuất bản Văn học phối hợp với Nhà sách Nhã Nam, Hà Nội, xuất bản tại Việt Nam năm 2008

Luận văn của chúng tôi đặt trọng tâm nghiên cứu vấn đề giả trinh thám

trong Tên tôi là Đỏ, qua đó làm nổi rõ sự đi ngược những nguyên tắc của tiểu

thuyết trinh thám, cũng là quá trình làm mới thể loại này theo hướng hậu hiện đại Từ việc tiếp cận vấn đề trên, chúng tôi chỉ ra phong cách nghệ thuật độc đáo, hiện đại và những đóng góp của Orhan Pamuk đối với nền văn học Thổ Nhĩ Kỳ nói riêng và văn học thế giới nói chung

4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ vấn đề liên quan đến đề tài, chúng tôi chủ yếu thực hiện phương pháp tiếp cận tác phẩm trên bình diện trần thuật học kết hợp với phương pháp liên ngành Nhằm khai thác tác phẩm ở khía cạnh giả trinh thám, chúng tôi đặt cuốn tiểu thuyết trong mối liên hệ với các vấn đề lịch sử,

xã hội, văn hóa Liên hệ tác phẩm với lịch sử, xã hội, đặc biệt là nghệ thuật hội họa Thổ Nhĩ Kì trong giai đoạn va chạm Đông – Tây để hướng tới lý giải một cách chính xác nhất các vấn đề nằm ngoài trinh thám mà tác phẩm đề

cập

Trang 17

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sẽ phối hợp chặt chẽ các thao tác khảo sát, thống kê, phân tích hệ thống; khái quát, tổng hợp tác phẩm theo đặc trưng thể loại, lý thuyết hệ thống, thi pháp học… để các kết luận trong luận văn tăng thêm độ tin cậy và sức thuyết phục

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được kết cấu theo ba chương: Chương 1: Kiến tạo mê cung tội lỗi

Chương 2: Lúng túng trong mê cung

Chương 3: Thoát khỏi mê cung tội lỗi

6 Đóng góp của luận văn

Ứng dụng lý thuyết hậu hiện đại để tìm hiểu Tên tôi là Đỏ, chúng tôi

muốn làm sáng tỏ những đổi mới trong nghệ thuật biểu hiện, đồng thời từ đó soi chiếu vào nội dung, thấy được sự xung đột, cọ xát văn hóa Đông – Tây thể hiện trong quan niệm về nghệ thuật hội họa Ngoài ra, chúng tôi hy vọng công trình sẽ có đóng góp phần nào vào việc nhận diện dấu ấn của một tác giả văn học đương đại có tầm vóc quốc tế nhưng còn xa lạ với độc giả Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1

KIẾN TẠO MÊ CUNG TỘI LỖI

Nói tới mê cung, chắc hẳn chúng ta sẽ liên tưởng tới cung điện vô cùng phức tạp ở đảo Crete trong thần thoại Hy Lạp, nơi nhốt vị thần nửa người nửa

bò Minotaur Mê cung huyền thoại đó do các thợ thủ công lành nghề và nghệ

sĩ tài năng thuộc dòng dõi Daedalus xây dựng Mê cung không chỉ nhốt Minotaur mà còn là nơi chính Daedalus bị giam cầm

Mê cung không chỉ là kiến trúc phức tạp, mà nó còn được dùng để chỉ những vấn đề mơ hồ, rắc rối, khó tìm ra lời giải đáp Chúng tôi xem tác phẩm

Tên tôi là Đỏ cũng giống như một mê cung Hành trình lạc lối trong mê cung

của nhân vật cũng chính là hành trình mà độc giả trải nghiệm tác phẩm Chúng tôi tiếp cận tác phẩm ở phương diện giả trinh thám theo cách mà nhân vật, người kể chuyện tạo ra mê cung, vùng vẫy trong đó và thoát ra khỏi đó như thế nào Nếu coi các vụ án mạng là những bí ẩn thì hẳn tác phẩm chưa thể được gọi là mê cung Từ một điểm mở đầu là cái chết thảm thương như thách

đố con người bước vào cuộc điều tra, câu chuyện đã mở ra nhiều nhánh rẽ khác nhau Các nhánh rẽ này khiến không chỉ độc giả mà chính nhân vật – những người trong cuộc cũng trở nên hoang mang Câu chuyện không chỉ đi một chiều theo hướng tìm ra kẻ thủ ác mà còn trổ nhánh sang cuộc tìm kiếm tình yêu, tìm kiếm chân lý, tìm kiếm sự tồn tại của con người, nghệ thuật và tôn giáo Theo chúng tôi, giả trinh thám chính là sự đánh lạc hướng, tạo ra hàng loạt các câu chuyện chồng chéo, các cuộc truy tìm rối rắm phục vụ những mục đích khác nhau Vì thế, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn “mê cung” như một cách khám phá tác phẩm có phương thức sáng tác “giả trinh thám”

Ở chương này, chúng tôi tập trung vào vấn đề giả trinh thám ở khía cạnh nhân vật và người kể chuyện Nhân vật đóng vai trò là người kể chuyện, lối

Trang 19

kể “trổ nhánh” đã khiến người đọc bị lạc bước, đôi khi giật mình tự hỏi không biết liệu người kể chuyện có muốn kể về vụ án trong một câu chuyện trinh thám hay không Nhân vật – người kể chuyện kiến tạo mê cung để rồi chính mình trở thành nạn nhân hoang mang trong đó Mỗi nhân vật, ở vị trí của mình, tạo ra một cung đường hướng đến lời giải của vụ án Nhưng thực tế, câu chuyện không đi theo cách của các nhà trinh thám thường làm Cách người kể chuyện nhập vào nhân vật khiến tác phẩm tựa như cái mạng nhện sẵn sàng giăng bẫy Tác phẩm là bản hợp xướng của nhiều tiếng nói Cách kể như đối thoại với người đọc đã khéo léo kéo độc giả lạc bước vào mê cung

Vụ án là cái cớ cho tất cả nhân vật tỏa đi các hướng khác nhau, vừa che giấu tội ác vừa khám phá bí ẩn, để tạo ra một cõi mơ hồ kích thích sự kiếm tìm

1.1 Người kể chuyện không đáng tin

Người kể chuyện (narrator) là một thuật ngữ công cụ của tự sự học, được xem là khái niệm trung tâm nhất trong phân tích trần thuật Theo Todorov,

“người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng… không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện” Ý kiến của Todorov khẳng định vai trò của người kể chuyện Tuy nhiên, xung quanh khái niệm này còn có nhiều quan điểm khác nhau Có thể phân chia các dạng thức người

kể chuyện trên tiêu chí điểm nhìn hay dựa vào quyền năng của người kể chuyện… Do đó người kể chuyện khoác lên mình nhiều chức năng trong mỗi câu chuyện Về mối quan hệ của người kể chuyện và tác giả, theo W.Kayser, người kể chuyện là “một vai trò được tác giả nghĩ ra và ước định” Hay nói như R Barthes, “tác giả thực tế của văn bản không có điểm gì chung với người kể chuyện” Thực ra, người kể chuyện là trung gian giữa tác giả và thực tại được miêu tả Giữa người kể chuyện và tác giả có thể có những điểm tương đồng, song không hoàn toàn trùng khít Người kể chuyện có thể trực

Trang 20

tiếp can thiệp vào văn bản với vai trò của người tổ chức cấu trúc truyện kể, có thể chỉ xuất hiện một cách hàm ẩn Với xu hướng nghiên cứu lớp ngôn từ của người trần thuật, G.Genette cho rằng có hai hình thức cơ bản của người kể chuyện: người kể chuyện ngoại sự tức là người kể chuyện với tư cách là nhân vật vắng bóng trong câu chuyện mà anh ta kể, hoặc anh ta là ngưởi kể chuyện nội sự khi hiện diện với tư cách là một nhân vật trong câu chuyện Theo cấp

độ giao tiếp, W.Booth phân chia người kể chuyện thành người kể chuyện ẩn tàng (implied narrator) và người kể chuyện tường minh (real narrator) Cùng với sự phát triển của các thể loại tự sự, vấn đề người kể chuyện cũng ngày càng trở nên linh hoạt Lối kể chuyện trải qua một quá trình dài đổi mới trong

kĩ thuật tiểu thuyết, từ người kể chuyện ở ngôi thứ ba với con mắt của người

“biết tuốt” bao quát mọi diễn biến của câu chuyện, đến ngưởi kể chuyện ở ngôi thứ hai, khi anh ta tự đặt mình vào vị trí độc giả, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng “tôi” mang lại cảm giác trung thực, tin cậy Xuất hiện trong tác phẩm, người kể chuyện có thể vô hình hay được “nhân vật hóa”, thì “nhân vật ấy” vẫn có thể “đáng tin cậy” hoặc “không đáng tin cậy” Người kể chuyện đáng tin cậy sẽ chỉ dẫn độc giả, phán xét các giá trị, đưa ra kết luận cuối cùng cho mọi ẩn số của tác phẩm Nhưng người kể chuyện “không đáng tin cậy”

im lặng khiến độc giả phát huy tính năng động để lý giải tác phẩm Như vậy, người kể chuyện xưng “tôi”, ở chừng mực nào đó, vẫn khiến người đọc không khỏi hoài nghi về tính khách quan của câu chuyện

Ở truyện trinh thám, mục đích của sự kể nhằm đến sự khẳng định tính

chân lý của sự việc Trong Tên tôi là Đỏ, người kể chuyện dường như làm

theo quy tắc của tiểu thuyết trinh thám trước đây lẫn lý thuyết chung về người

kể chuyện, nhưng lại không hòan toàn là như vậy Năm mươi chín chương đều được báo trước người kể chuyện, xác định tâm thế người đọc sẽ “đối

thoại” với ai: Tôi là một tử thi, Tôi được gọi là Siyah, Tôi, Shekure, Tôi là Đỏ,

Trang 21

Đó là tôi, sư phụ Osman, Ta, Satan… Tên chương thông báo điểm nhìn và

người kể chuyện Với vô số người kể chuyện, trường nhìn của tác phẩm rất rộng Điều này không đồng nghĩa với việc câu chuyện trinh thám sẽ có nhiều

dữ kiện để điều tra, sự việc sẽ nhanh chóng được sáng tỏ Ngược lại, mỗi người kể chuyện mở ra một cánh cửa, một lối đi, tạo ra những ngã bảy ngã ba chằng chịt càng làm người ta thêm rối

Ngay những dòng đầu tiên, tác phẩm đã kéo người đọc lạc vào một mê cung Đó là mê cung bí ẩn của vụ án được tạo ra bởi hàng loạt người kể chuyện Mê cung này cũng mở ra hành trình truy tìm không chỉ của Siyah – nhân vật đóng vai trò thám tử, mà của hầu hết các nhân vật Nhân vật đồng thời chính là người kể chuyện tự tạo sự rối rắm của mê cung, rồi cũng chính

họ lúng túng tìm kiếm lối ra Vai trò của nhà văn bị xóa nhòa trên trang sách,

để người đọc lần bước vào mê cung do chính các nhân vật của ông tạo ra Bảng thống kê điểm nhìn người kể chuyện qua các chương:

1 Tôi là một tử thi 1 1 Tử thi Zarif

2 Tôi được gọi là Siyah

5 Tôi là dượng yêu quý

của cháu 5, 17, 21, 29, 37 5 Enishte Kính mến

Trang 22

6 Tôi là Orhan 6 1 Orhan

7 Tôi là Esther 8, 15, 25, 39, 53 5 Bà mối Esther

8 Tôi, Shekure 9, 16, 26, 30, 32,

9 Tôi là một cái cây 10 1 Cái cây

10 Tôi được gọi là Kelebek 12, 44, 55 3 Kelebek

11 Tôi được gọi là Leylek 13, 45, 56 3 Leylek

12 Tôi được gọi là Zeytin 14, 57 2 Zeytin (Tiểu họa)

13 Tôi là một đồng tiền

14 Tôi là Thần chết 24 1 Thần chết

16 Tôi là một con ngựa 35 1 Con ngựa

17 Đó là tôi, sư phụ Osman 38, 41, 51 3 Sư phụ Osman

Trang 23

Kelebek, Leylek, Zarif Họ là những người có hình hài, tên gọi cụ thể, có tính cách và sở thích, có lời nói và hành động của chính mình mà không cần phải thông qua đối tượng trung gian Trong số mười người kể chuyện hữu danh này, chúng tôi lưu ý đến Zarif, Enishte bởi tính huyền bí, đến Zeytin bởi sự đánh tráo giọng điệu và điểm nhìn Zarif và Enishte đều có thể cất lên tiếng nói, kể lại chân thực những gì đã xảy ra với mình và cảm giác của mình sau khi đã chết Sự phi thực này khiến chúng tôi liên tưởng đến người kể chuyện

– nhân vật người chồng đã chết trong Bốn bề bờ bụi của nhà văn Nhật Bản

Akutagawa Kyunosuke Người chồng đã chết cũng cất tiếng nói nhưng thông qua một bà đồng, chứ không trực tiếp như Zarif và Enishte Có điều, các “xác chết biết nói”, người kể chuyện “phi thực” này đều khiến độc giả càng trở nên rối bời hơn vì những lời kể của họ Là nạn nhân, khi được cất tiếng nói, lời đầu tiên của họ không phải là vạch trần tên sát nhân để kết thúc vụ điều tra Ngược lại, mỗi lời kể của họ vừa như manh mối, lại vừa như ngõ cụt, vừa như mở ra một hướng điều tra, lại vừa như đảo lộn tất cả Người chồng trong

Bốn bề bờ bụi nhận mình tự sát (trong khi có tới hai người – người vợ và tên

cướp cũng tự nhận mình là kẻ giết người) Zarif và Enishte không hề nói cho người đọc biết chút gì về kẻ đã giết mình, mà chỉ quẩn quanh với cảm giác đau đớn và tiếc nuối của một tử thi, với những câu hỏi chưa được giải đáp của mình lúc bị giết và với cảm giác bình yên khi linh hồn đã lên thiên đàng Tuyệt nhiên hai người kể chuyện này không trả lời cho chúng ta câu hỏi quan trọng nhất của vụ án “Ai là kẻ giết người?”

Đối với người kể chuyện mang tên Zeytin, phải đến cuối truyện, người đọc mới ngỡ ngàng nhận ra tên sát nhân chính là nhà tiểu họa Zeytin Người

kể chuyện đã thay đổi điểm nhìn và giọng điệu để giấu đi tội ác của mình Ở người kể chuyện Zeytin, điểm nhìn và giọng điệu có sự phức tạp, chuyển đổi đan xen: khi là kẻ thủ ác, lúc là nghệ sĩ tài hoa Chính người kể chuyện này tự

Trang 24

nhận mình đã phân thân thành hai người kể chuyện với giọng điệu khác nhau

để che đậy tội ác: “Tôi đã sử dụng giọng thứ hai, giọng thích hợp với một kẻ sát nhân, để tôi vẫn có thể sinh hoạt như thể cuộc sống cũ của tôi vẫn tiếp diễn Hiện giờ tôi đang nói bằng giọng thứ hai chế giễu và xảo quyệt, cái giọng tôi giữ nằm ngoài cuộc sống thường lệ của tôi Thỉnh thoảng, dĩ nhiên, các vị sẽ nghe giọng nói thường lệ, quen thuộc của tôi, giọng nói đó vẫn sẽ là giọng duy nhất của tôi nếu tôi không trở thành kẻ sát nhân Nhưng khi tôi nói với nghệ danh của mình, tôi sẽ không bao giờ nhận mình là “kẻ sát nhân” Đừng ai kết hợp hai giọng này lại với nhau, tôi không có phong cách riêng hay những khuyết điểm trong nghệ thuật để làm lộ thân phận giấu kín của mình đâu” [38, 141] Ngay cả khi người kể chuyện là một người như Zeytin, nhưng điểm nhìn của kẻ sát nhân và nhà tiểu họa cũng không có sự trộn lẫn Người kể chuyện đứng ở điểm nhìn độc lập và riêng biệt của mình để tự thuật, không bị ảnh hưởng bởi điểm nhìn và quan điểm của người khác

Người kể chuyện đã lựa chọn cho mình một lối dẫn chuyện độc đáo Mỗi người kể chuyện trực tiếp đối thoại với độc giả Người kể tỏ ra thông minh và

có tài dẫn dắt khi không chỉ kể mà còn khơi gợi và lắng nghe Tính đối thoại này khiến khoảng cách giữa nhân vật và độc giả rút ngắn lại, thậm chí độc giả được tham gia vào câu chuyện Lời của Satan ở chương 47 vừa như lời khuyên, vừa như thách thức độc giả: “Dĩ nhiên, vì ta là người đang nói, nên các ngươi sẵn sáng tin vào những gì ngược với điều ta nói Nhưng các ngươi

đủ thông minh để ý thức rằng những gì ngược với điều ta nói không phải lúc nào cũng đúng sự thật, và dù các ngươi có thể nghi ngờ ta, nhưng các ngươi

đủ tinh ranh để chú ý đến những gì ta nói.” [38, 38] Người kể chuyện cho độc giả được quyền tin hay không tin vào những lời kể của họ Độc giả được bình đẳng với người kể chuyện, không chỉ có quyền tin hay không, mà còn có thể tranh biện “Tôi có thể đã nghe những lời phản đối của các vị: “Người kể

Trang 25

chuyện thân mến của tôi, các vị có thể bắt chước bất cứ ai hoặc bất cứ cái gì, nhưng không bao giờ bắt chước được một phụ nữ” [38, 485] Trao cho độc giả quyền này, đồng nghĩa với việc lời của người kể chuyện không còn là duy nhất đúng

Tên tôi là Đỏ sử dụng phương thức tự sự theo ngôi thứ nhất đa tuyến,

khiến điểm nhìn không bị bó buộc trong giới hạn của một người kể chuyện

Vô số người kể chuyện xưng “tôi” là những cá thể độc lập, có hành động, lời nói và quan điểm riêng Cùng với người kể chuyện hữu danh, người kể chuyện vô danh góp phần tạo ra mê cung rối rắm của hàng loạt lời đối thoại với độc giả Người kể chuyện vô danh trong tác phẩm là một người kể không tên hàng đêm tại một quán cà phê trong thành phố Istanbul Hình ảnh của người kể chuyện này khá mờ nhạt: “Trong góc tối nơi người kể chuyện treo các bức tranh của ông ta mỗi đêm, Siyah đang tìm đồ nghề của ông ta, khăn thắt lưng, khăn tay và gậy của nhà ảo thuật […] Chúng tôi chẳng tìm được gì ngoài cái mũ chỏm Ba Tư mà người chết đã trùm lên cái đầu trọc lóc của ông ta” [38, 492] Người kể chuyện này cũng là một nhân vật mờ ảo, không tên tuổi, không nguồn gốc và đặc điểm nhận dạng Điều đáng lưu ý là người kể chuyện vô danh này đã làm sống động lời kể của mình bằng các nhập vai vào các nhân vật trong các bức họa, thổi cho chúng một sự sống Vì thế, người kể chuyện vô danh kể về chín câu chuyện khác nhau của con chó (chương 3), cái cây (chương 10), đồng tiền vàng (chương 19), thần Chết (chương 24), màu đỏ (chương 31), con ngựa (chương 35), Satan (chương 47), hai nhà khổ tu (chương 50), một người phụ nữ (chương 54) Ông thầy kể chuyện này đã mượn lời của những sự vật khác nhau để thể hiện tư tưởng và quan niệm của mình về nghệ thuật và tôn giáo Khi người kể chuyện tại quán cà phê bị giết, những câu chuyện của các nhân vật trong tranh cũng không còn Dù sự xuất hiện và biến mất của ông ta không phải là biến cố thay đổi cốt truyện, nhưng

Trang 26

những câu chuyện của ông ta lại vô cùng phong phú và ý nghĩa Là một nhân vật mờ nhạt, nhưng khi hóa thân vào người kể chuyện, ông lại đem đến sự dí dỏm, thông minh và mới mẻ trong vai chín người kể chuyện khác nhau, không ai giống ai

Từ điểm nhìn của người kể chuyện vô danh, một thế giới sinh động của con vật, đồ vật, sắc màu… đã đánh thức ý niệm của độc giả về cuộc sống Con chó láu lỉnh kể về niềm tự hào dòng giống của mình Lời lẽ cao ngạo và thông minh của nó khiến độc giả nhận ra, đây không phải là một giống loài tầm thường, mà có cái nhìn từ trên cao ngắm xuống thế giới loài người nhỏ

bé Khác với giọng châm biếm của con chó, cội cây lại u sầu kể về cuộc đời

cô độc của mình Cuộc sống của cội cây cũng chính là lịch sử hội họa của cả một dân tộc trước những biến động lớn lao Câu chuyện của một đồng tiền vàng Ottoman Sultani hai mươi hai carat gây hứng thú khi người kể chuyện

vẽ lên thế giới giao thương nhiều mánh khóe lắt léo Một thế giới rộng lớn được nhìn qua một đồng xu bé xíu Những triết lý mà đồng tiền đưa ra được kết tinh trong suốt hành trình dài từ xưởng đúc đến khi lọt vào ví của một tiểu họa Lời của đồng tiền có sức nặng y như giá trị mà nó mang lại cho người sở hữu “Tôi tự hào vì được giới họa sĩ coi là thước đo tài năng và vì chấm dứt được những cuộc tranh cãi không cần thiết” [38, 147] Đi theo hành trình của đồng bạc giả, chúng ta nhận ra rằng, những thứ tưởng chân thật lại là thứ giả dối, điều tưởng chừng thiêng liêng, cao quý lại là điều tầm thường, bẩn thỉu Đồng tiền đã hạ bệ những ngộ nhận của con người Câu chuyện của sắc đỏ, Thần chết, Satan, hay con ngựa, chung quy lại là sự kể về hội họa theo cách này hay cách khác

Người kể chuyện vô danh không đem lại cho ta những manh mối về vụ

án, mà làm cho thế giới vạn vật cất lên tiếng nói của riêng nó Tự nhận mình

là “chuyên gia kể chuyện với chiếc lưỡi ngọt ngào” [38, 403], ông ta luôn làm

Trang 27

độc giả không thể không bị cuốn theo, vừa hoài nghi lại vừa tin tưởng vào những gì được kể Với cái nhìn sắc sảo và phong cách kể chuyện hóm hỉnh, ông đã khéo léo che đậy bản thân, để các nhân vật trong tranh lên tiếng một cách khách quan, mỗi chuyện mang một âm hưởng riêng Nhà văn đã trao điểm nhìn cho các nhân vật khác nhau trong tác phẩm, tạo nên tính đa dạng của phương thức tự sự Sự đa dạng người kể chuyện kéo theo sự đa thanh giọng điệu Có bao nhiêu người kể chuyện là có chừng ấy giọng điệu, tạo nên một bản hợp xướng đa âm sắc Từ người kể chuyện hữu danh đến người kể chuyện vô danh, từ người kể chuyện có thật đến người kể chuyện tồn tại trong cõi tưởng tượng đều có giọng điệu riêng không thể trộn lẫn Sự đa thanh trong giọng điệu tạo nên nét hấp dẫn đặc biệt cho tác phẩm Giọng điệu dằn vặt, tự biện của kẻ sát nhân, lời thì thầm đau đớn của tử thi, nồng nàn cảm xúc của Shekure, giọng điệu đầy đam mê trong tình yêu và hội họa của Siyah Bên cạnh đó, người kể chuyện vô danh cũng tạo giọng điệu riêng trong lời kể của mình Câu chuyện của con chó mang tiếng cười giễu nhại, cái cây phảng phất nỗi ưu phiền, cô độc của một kiếp vong bản Câu chuyện của đồng xu được

kể với giọng điệu nhẹ nhàng nhưng đủ sức hạ bệ tất cả những điều vốn được coi là thiêng liêng, cao cả Con ngựa kể về mình với giọng điệu trang nghiêm như luận bàn phong cách hội họa Lời của màu đỏ đầy tự hào về quyền uy của mình trong thế giới sắc màu hội họa Người kể chuyện không có thật như Satan, Thần Chết lại khiến người đọc tin có thực với những lời hăm dọa vọng

về từ một cõi huyền bí xa xăm

Song hành cùng giọng điệu hồi hộp của kiểu truyện trinh thám là giọng điệu trang nghiêm khi người kể chuyện luận bàn về nghệ thuật Cùng với đó, không thiếu giọng điệu hài hước, châm biếm, bất kính của các nhân vật trong tranh minh họa Sự đa dạng, di chuyển điểm nhìn tạo nên cái nhìn nhiều chiều, sinh động Điểm nhìn của mỗi người kể chuyện độc lập nhất định với

Trang 28

nhau, nhưng có điểm chung là đều hòa nhập với nhân vật và đối thoại với độc giả ẩn tàng Ở mỗi điểm nhìn khác nhau, người kể chuyện tự thuật lại câu chuyện với giọng điệu riêng biệt

Như vậy, nếu người kể chuyện trong tiểu thuyết trinh thám cổ điển thường nhằm đến sự khẳng định chân lý, thì người kể chuyện ở đây dường như lại “đánh đố” độc giả Có tới chín người kể chuyện vô danh tạo ra chín câu chuyện không liên quan đến vụ án Trong số mười một người kể chuyện hữu danh còn lại, ít nhiều liên quan đến vụ án, nhưng không phải ai và lúc nào cũng kể cho chúng ta những câu chuyện làm manh mối Người kể chuyện không làm việc dẫn dắt độc giả đi tìm sự thật, mà dẫn ta đi theo nhiều đường khác nhau, như chính họ cũng bị lạc vào mê cung Không thể phủ nhận, cách

kể chuyện theo lối tự thuật của nhiều nhân vật cho phép nhà văn đi vào sâu thẳm trái tim con người như con dao của nhà phẫu thuâ ̣t, vạch trần những phức tạp u tối và xoắn mắc lạ kỳ của nó

1.2 Nhân vật giả trinh thám

Có ý kiến cho rằng, tiểu thuyết sống bằng nhân vật Nói rộng ra, văn học không thể thiếu nhân vật, vì đó chính là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực bằng hình tượng Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức

của mình về hiện thực đời sống Bàn về nhân vật, 150 thuật ngữ văn học đưa

ra khái niệm: “Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ” [5, 249] Với vai trò là những “tấm gương của đời sống”, nhân vật được xem là cốt tử đối với văn học, đặc biệt là tiểu thuyết Ở thế kỉ XX, nhà văn không có tham vọng giải thích nhân vật mà xây dựng nó từ những mảnh ghép hoặc đơn thuần là phương tiện trung gian chuyển tải một cách nhìn, một quan điểm Như vậy, dù có quan điểm xây dựng nhân vật phi tâm lý, phi tính

Trang 29

cách, nhân vật phi trung tâm, thì nhân vật vẫn không thể bị thủ tiêu trong truyện kể

Ở truyện trinh thám, nhân vật thường tồn tại ở kiểu cặp đôi: tội phạm – nạn nhân, tội phạm – thám tử, thám tử - nạn nhân, thám tử - người đồng hành, trong đó cặp đôi thám tử - tội phạm là cơ bản Mô hình này hình thành từ những sáng tác của Edgar Allan Poe Diễn biến của truyện trinh thám trở thành hành trình truy đuổi của nhân vật thám tử đối với kẻ phạm tội để tìm ra

điều bí ẩn Các cặp nhân vật trên, trong Tên tôi là Đỏ, đều được xuất hiện

Tuy nhiên, ngoài cặp đôi cơ bản của truyện trinh thám, tác phẩm có những nhân vật ngoài luồng, không tham gia vào cốt truyện vụ án Chín nhân vật xuất hiện trong các bức tranh, thông qua lời của ông thầy kể chuyện tại quán

cà phê, dường như làm loãng cuộc điều tra Mỗi nhân vật kể về hành trình của mình, về việc tồn tại và thay đổi ra sao trong các bức tranh, tuyệt nhiên không thể làm nhân chứng cho vụ án Nhân vật kiểu này chiếm dung lượng chín chương, nhưng lời kể của họ không khiến cho vụ án nhanh tới đích, mà làm người đọc bị mất tập trung vào cuộc điều tra

Trong những nguyên tắc của truyện trinh thám đặt ra đối với nhân vật, duy nhất một thám tử thông minh đưa ra được kết luận của mình thông qua sự phân tích manh mối Hơn nữa, người ta có thể đưa ra những tiêu chí để xếp loại đẳng cấp thám tử Thám tử phải nắm bắt thông tin giỏi, biết nghi ngờ trong quá trình tiếp nhận thông tin, kỹ năng quan sát và tìm kiếm hiện trường,

kỹ năng phân tích suy luận và khả năng gây đột biến bất ngờ Những tiêu chí trên áp dụng với nhà thám tử trong tiểu thuyết cổ điển Trong tiểu thuyết phân vân hồi hộp, thám tử không phải lúc nào cũng có đủ sức mạnh để vượt qua được mọi trở ngại, ngược lại, anh ta luôn có nguy cơ bị rơi vào thất bại Sang thời kì hậu hiện đại, việc thám tử thành công hay thất bại không còn quan trọng Hành trình điều tra của anh ta không còn là trọng tâm của câu chuyện

Trang 30

Vì thế, theo hệ quy chiếu của nhân vật thám tử trong truyện trinh thám cổ điển, nhân vật Siyah không đáp ứng yêu cầu của một thám tử Ngay từ đầu, Siyah xuất hiện không phải làm thám tử điều tra, mà phụ giúp dượng Enishte Kính mến hoàn thiện cuốn sách được Đức vua giao Khi có nạn nhân đầu tiên

- nhà tiểu họa Zarif, các nhân vật hoang mang, nghi ngờ lẫn nhau, nhưng không ai tiến hành điều tra Tất cả sự phán đoán chỉ diễn ra trong ý nghĩ của

họ Siyah chỉ thực sự đảm nhận vai trò thám tử sau cái chết của Enishte Kính mến, cha của Shekure, người phụ nữ mà chàng đã yêu say đắm suốt mười hai năm qua Động lực đầu tiên và trực tiếp nhất để chàng dấn thân vào cuộc điều tra chính là trái tim yêu thương mãnh liệt với nàng Shekure Vì tình yêu ấy, chàng đã dám đương đầu với cả sự sống và cái chết để tìm ra thủ phạm và giành lấy hạnh phúc trọn vẹn cho mình Siyah không phải là nhà tiểu họa tài

ba nhất, cũng không phải là chiến binh dũng cảm nhất, nhưng ở chàng có nét giản dị và chân thành, minh mẫn và nhiệt huyết đủ để đảm đương vai trò của một thám tử Chàng không cuồng si những trang vẽ minh họa, nhưng chàng hiểu vẻ đẹp ngàn đời của nghệ thuật tiểu họa Chàng không tham gia chinh chiến, nhưng những bước đi của chàng trong mười hai năm lưu lạc chính là những trải nghiệm quý báu Ở bảy chương đầu từ khi xuất hiện trong tác phẩm (chương 2 đến chương 33), Siyah gây ấn tượng với độc giả bởi những trang viết về tình yêu với giọng trữ tình thiết tha Thông qua lời tự bạch khắc khoải, người đọc nhận thấy một Siyah nặng lòng với quê hương và nghệ thuật, ấp ủ một tình yêu trong sáng và ngọt ngào Chỉ trong năm chương sau (chương 36 đến chương 52), khi xuất hiện thêm một nạn nhân, cuộc điều tra mới thực sự bắt đầu Như vậy, hơn một nửa chặng hành trình của Siyah trong tác phẩm không phải là phá án Những câu chuyện của anh ta nằm ngoài trọng tâm công việc của thám tử Sau này, anh ta tham gia vào cuộc điều tra cũng là bất đắc dĩ Vai trò thám tử của Siyah cho ta thấy mê cung đang mở ra nhiều

Trang 31

lối, chính bản thân nhân vật quan trọng nhất của cuộc điều tra, ngay từ đầu đã không xác định được vị trí của mình

Khác với nhân vật thám tử, kẻ phạm tội luôn chủ động che giấu giọng điệu của mình Nhân vật đeo mặt nạ suốt gần hết tác phẩm, ngoài giây phút tự dằn vặt mình vì hành vi tội lỗi, thì hắn luôn tự tin vào tài năng đánh lạc hướng của mình Nếu ở truyện trinh thám khác, tội phạm sẽ chỉ xuất hiện ở phút chót khi tấm màn bí ẩn được kéo lên, thì ở đây, ngay từ đầu, người đọc được đối thoại với chính kẻ giết người Đây là một nhân vật đặc biệt với những chiều kích tâm lý phức tạp và nhiều mâu thuẫn Lời kể của anh ta đã tự kết án bản thân, lại như tự biện minh cho hành vi của mình Anh ta che giấu thân phận nhưng lại thách thức độc giả tìm ra mình Vừa lẩn tránh, anh ta lại vừa muốn được người khác thấu hiểu Anh ta cũng không ngần ngại đối thoại với độc giả, bộc lộ những giằng xé trong thế giới nội tâm Thủ phạm đối thoại với độc giả bằng hai giọng trong một con người Ở cả hai gương mặt kẻ sát nhân và nghệ sĩ tài hoa, độc giả nhận thấy tình yêu nghệ thuật đến mức tôn thờ của anh ta Vì niềm tin ấy, anh ta có thể sống và cống hiến trọn vẹn cho nghệ thuật Nhưng khi mất phương hướng, niềm tin của anh ta trở nên mù quáng Đây chính là động cơ khiến anh ta giết Zarif và Enishte để bảo vệ lý tưởng nghệ thuật mà mình theo đuổi Xung đột giữa anh ta và nạn nhân xuất hiện khi hố sâu ngăn cách phong cách nghệ thuật Đông – Tây được cố gắng lấp đầy Sự mê muội đã biến nhân cách của anh ta trượt dài thành tên sát nhân Một hung thủ thật thà kể chính xác quá trình phạm tội của mình, nhưng điều này không giúp gì cho quá trình điều tra của độc giả Kẻ sát nhân khôn ngoan che đậy bản chất của mình trong vai trò là một nhà tiểu họa tài hoa, thậm chí còn thách thức những người đi tìm sự thật Người đọc càng cảm thấy bất ngờ

và rợn ngợp trong mê cung mà cặp đôi tội phạm – thám tử tạo ra

Trang 32

Ngoài ra, ngay khi mở trang đầu tiên của tác phẩm, độc giả đã phải rùng mình trước lời kể của một tử thi mang đầy nỗi niềm Thợ cả Zarif kể lại câu chuyện của mình ở vị trí của một tử thi đứng ở thế giới bên kia hé lộ thân phận nạn nhân và thủ phạm của vụ án sát hại lẫn nhau trong giới tiểu họa Nhân vật Zarif là nút thắt quan trọng và cũng đầy bất ngờ Tác phẩm đặt ngay

ra cho độc giả một giả định hoàn toàn hoang đường: người đã chết, trong khoảng thời gian ngắn ngủi trượt dần từ mép bờ của sự sống xuống vực sâu của cái chết, anh ta đã tự chia đôi mình thành hai cái “tôi” - một cái “tôi” bình tĩnh quan sát cảnh trạng ghê rợn của cái “tôi” còn lại (bị hòn đá đập vỡ sọ, những chiếc răng rụng như hạt cây vào cái miệng đầy máu, bị chặt đứt đầu, hai bàn chân giãy giụa như chân một con ngựa đang giãy chết ) và lắng nghe trọn vẹn những cảm giác, những suy nghĩ cuối cùng của nó Đến đây, chúng

tôi nhớ tới một tác phẩm Ngày cuối cùng của người bị kết án của Victor

Hugo Cũng là tự sự ở đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, cũng đặt ra giả định hoang đường về một sự chia đôi người kể chuyện thành hai cái “tôi” - một cái

“tôi” đang sống trong ngày cuối cùng của đời mình, trước giờ lên đoạn đầu đài, và một cái “tôi” im lặng quan sát để “ghi biên bản tường thuật” Thế nhưng, tự thuật của người tử tù trong truyện của V Hugo đã dừng lại ở lúc anh ta chuẩn bị đút đầu vào máy chém, anh ta không bao giờ được tự chứng kiến cảnh lưỡi dao cắt lìa đầu mình như thế nào So với V.Hugo, sự hoang đường trong tưởng tượng văn chương của Pamuk đã được đẩy đến mức tột cùng Ngoài nỗi đau đớn và tiếc nuối trước cái chết bất ngờ, nhân vật còn khá hài hước khi kể về nỗi tò mò của mình về kiếp sau Cũng như thế, tử thi thứ hai, Enishte Kính mến, sau nỗi đau đớn về thể xác, “linh hồn tôi hết sức bình yên, khi đã trở lại với cõi vinh quang trước đây của nó sau nhiều năm chịu đựng khổ đau nơi trần thế” [38, 317] Nhân vật dành khá nhiều lời kể về cảm giác mới mẻ trong “chuyến hành trình thăng thiên tuyệt vời” Ông vốn đã biết

Trang 33

điều này qua những trang sách của Gazzali, El Jevziyye về cái chết, nhưng vẫn không khỏi ngỡ ngàng và háo hức được bước vào thế giới mới Lời kể của hai nạn nhân, cũng là hai nhân chứng duy nhất của vụ án, không hé lộ cho người đọc về thông tin của kẻ giết người, ngoại trừ việc “hắn ở trong số chúng ta” Cuộc đối thoại với độc giả của hai nạn nhân – nhân chứng này đưa chúng ta theo một hướng khác – hành trình hiểu biết về cõi chết Khi đã chết, nhân vật bằng lòng chấp nhận giới hạn của cuộc đời, “xin đừng nghĩ rằng tôi

vô cùng tức giận tên giết người của tôi hoặc cho rằng tôi nghĩ đến việc trả thù, hay thậm chí linh hồn tôi bất an vì tôi đã bị giết một cách tàn bạo và phản trắc” [38, 317]

Các nhân vật (thám tử - tội phạm – nạn nhân) không tập trung vào việc cốt yếu mà ở vị trí của họ cần phải làm Cùng với bộ ba nhân vật này, hàng loạt các nhân vật khác, hữu danh và vô danh, mỗi người kể cho ta nghe một câu chuyện riêng của họ Nàng Shekure xinh đẹp với nỗi đau khổ về cuộc hôn nhân vô vọng và khát khao hạnh phúc luôn rực cháy, thằng bé Orhan lém lỉnh nhìn thế giới bằng ánh mắt trong sáng trẻ thơ, bà mối Esther toan tính, sư phụ Osman uyên bác, Enishte khôn khéo, ba nhà tiểu họa tài năng nhưng đang lúng túng “nhận đường”… Mượn tiếng nói con người, các nhân vật trong bức tranh kể chuyện đời mình Con chó láu lỉnh kể thân phận kiếp chó, đồng tiền vàng giả và hành trình đi khắp đó đây, cội cây và con ngựa với đời sống trong tranh, Thần chết và sự ra đời của y trong tranh, Satan và những câu chuyện của Kinh Koran, hai nhà khổ tu và thân phận không được thừa nhận, người phụ nữ Ottoman và khát khao về quyền được sống và được yêu… Cái tạo nên sức hấp dẫn của lối viết nhân hóa – tự thuật ở chỗ tác giả cho mỗi chương là một lời tự thuật của một nhân vật, với thái độ riêng biệt của chúng trước cuộc đời đầy bất công phi lý này Giọng văn lúc khoan thai từ tốn như tác giả đang nhàn tản ngắm cảnh, lúc cay độc khinh thị trước lòng tham lam độc ác, ích kỷ

Trang 34

của con người Tác giả để nhân vật từ từ hé lộ mình, để phần lại cho người đọc ngẫm nghĩ, suy đóan, theo dõi, phân tích, tổng hợp tâm lý của từng nhân vật qua lời kể của họ, tạo tâm lý căng thẳng hồi hộp, tò mò cho người đọc Theo nguyên tắc, một cuốn tiểu thuyết trinh thám không cần thiết phải

có nhiều nhân vật không liên quan để tạo “bầu khí quyển” cho câu chuyện Nhưng ở đây, Pamuk đã cho hai mươi nhân vật lần lượt xuất hiện như một cách “gây nhiễu” Có những nhân vật xuất hiện một lần, có những nhân vật trở đi trở lại nhưng không ở các chương liên tiếp nhau Trong số đó, có tới chín nhân vật không liên quan tới vụ án Các nhân vật của ông đối thoại với người nghe ẩn tàng, hay chính là độc thoại triền miên về những bí mật của nghệ thuật trang trí sách và những chú giải kinh Koran Như vậy, các nhân vật cần có trong một vụ án đều xuất hiện trong tác phẩm Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là họ không phải lúc nào cũng chăm chú làm tròn nhiệm vụ của mình Cùng với nhân vật “cốt tử” của truyện trinh thám, các nhân vật “ngoài luồng” phân tán câu chuyện, cắt nhỏ hành trình điều tra phá án, khiến cái khung trinh thám “trổ nhánh” ra nhiều hướng Các nhân vật như hợp nhau lại để bày bố

mê lộ dẫn dụ độc giả qua các kể đầy mê hoặc của mình Những cái “tôi” đầy tính tự trị và đầy sự tự tin khi nói về mình và nói về thế giới, điều đó làm người đọc hoang mang giữa vòng vây của các chân lí đang lên tiếng

Cách dẫn truyện này khiến độc giả lúng túng nhưng sau đó, nó đã tạo được hứng thú hiếm có bởi sự mới lạ Đồng thời, nó giúp độc giả thâm nhập vào đáy sâu nội tâm của từng nhân vật để từ đó tự rút ra những cảm nhận, đánh giá riêng của mình, thậm chí nảy sinh tình cảm với mỗi nhân vật Cũng nhờ cách kể chuyện ấy, Orhan Pamuk đã duy trì được sự tò mò, căng thẳng và hồi hộp của người đọc đến tận trang sách cuối cùng, thúc đẩy ý muốn cùng tham gia điều tra phá án ở bên trong họ Nhờ đó, sức hấp dẫn của tác phẩm được nâng lên một tầm cao mới

Trang 35

1.3 Lối kể “trổ nhánh”

Phản ánh cuộc sống chính là một nhu cầu tự thân của nhà văn, cũng là một đặc trưng của nghệ thuật, bởi “bất kì nền văn nghệ nào cũng hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định, … bất kì tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ

từ những vấn đề trong cuộc sống” [1, 63] Thông qua người kể chuyện và nhân vật, hiện thực cuộc sống hiện lên với những mảng màu riêng biệt Bức

tranh hiện thực phong phú trong Tên tôi là Đỏ không phải ngay lập tức được

hình thành từ lời kể của một vài người kể chuyện hay nhân vật Hiện thực trong tác phẩm được đan dệt từ vô số mảnh nhỏ, mảnh này kết dính với mảnh kia, mảnh này kéo mảnh kia xuất hiện Chúng tôi coi mỗi nhân vật nắm giữ một mảnh ghép hiện thực trong một bức tranh lớn Hai mươi nhân vật, cũng là chừng ấy người kể chuyện, như đang cùng chơi một trò chơi có tên ghép hình

Đi qua từng chương truyện, độc giả nhận thấy bức tranh dường như cứ lớn mãi lên Nhân vật sau kể tiếp câu chuyện của nhân vật trước, nhưng nới rộng trường nhìn, thêm vào đó những câu chuyện khác, và lại như nhân vật trước,

bỏ ngỏ tại nơi mà nhân vật tiếp sau sẽ kể Cứ như thế, nhân vật này móc xích với nhân vật kia trong sự kể, khiến người đọc như choáng ngợp giữa một không gian hiện thực rộng lớn mà không tìm được trung tâm Lối kể trổ nhánh này đã mở rộng hơn nữa cái mê cung vốn đã rối rắm với vô số nhân vật

và người kể chuyện xưng “tôi”

Những lời của mỗi người kể chuyện trong từng chương được ghép nối vào nhau, xâu chuỗi với nhau tạo nên mảng hiện thực phong phú và sinh động Hiện thực đó được nhìn ở nhiều góc cạnh với những người kể chuyện khác nhau, tạo nên sự đa dạng, toàn vẹn, nhiều chiều Vì thế, hiện thực càng trở nên rộng lớn hơn Trong ba chương truyện từ chương 12 đến chương 14 là

sự tiếp nối thời gian trên cuộc hành trình tìm câu trả lời cho quan niệm hội họa Herat của Siyah, nhưng được kể bởi ba người kể chuyện khác nhau Dù

Trang 36

đứng ở ba điểm nhìn với sự đứt gãy hiện thực, nhưng người đọc lại hoàn toàn hình dung được đầy đủ diễn tiến của câu chuyện và trọn vẹn các quan niệm nghệ thuật Ở chương 12, Kelebek kể về chuyến viếng thăm của Siyah, lúc đó

“lệnh cầu kinh buổi trưa chưa được gióng lên” Sang chương 13, khi gặp Leylek là “gần buổi cầu kinh trưa” Và đến chương 14, Zeytin không hề biết

về các cuộc nói chuyện trước, nhưng lời kể của anh ta đã hoàn tất hành trình của Siyah ở thời điểm “sau buổi cầu kinh trưa” Ở ba chương liên tiếp này, Siyah là nhân vật chung của ba cuộc nói chuyện, nhưng anh ta không đóng vai là sợi dây nối kết ba quan niệm hội họa này Ba nhà tiểu họa lần lượt đưa

ra cho người nghe ẩn tàng những mảnh ghép, và công việc gắn kết chúng lại với nhau được trao cho độc giả Ở chương 8, 15, 25, nếu không có lời của người kể chuyện Esther – bà mối, thì người đọc không được thưởng thức những bức thư tình nồng nàn yêu thương của Siyah hay giận dỗi của Shekure

và cũng khó lý giải được thái độ và hành động sau khi nhận được thư của mỗi nhân vật Bởi lẽ, chính người viết thư hay nhận thư thường không cho người khác biết nguyên vẹn bức thư Sự chắp nối hiện thực này được thể hiện rõ nét

từ chương 26 đến chương 30

chuyện

Thời gian

cổ

Nhà Người

Do Thái bị treo cổ

Siyah và Shekure gặp nhau tại ngôi nhà Người Do Thái bị treo

cổ

Trang 37

3 28 Kẻ sát nhân Tối Nhà

Enishte

Enishte ở nhà một mình

Kẻ sát nhân giết Enishte

4 29 Enishte Đêm Nhà

Enishte

Bị giết Giờ phút hấp hối

5 30 Shekure Đêm Nhà

Enishte

Trở về nhà và phát hiện ra Enishte bị giết

mà mỗi nhân vật đóng vai trò là nhà quay phim Buổi chiều, Shekure nhận được bức thư đe dọa của Hasan Cùng với nỗi lo sợ cho tương lai của ba mẹ con và niềm khao khát được gần gũi Siyah, cô gửi thư hẹn gặp anh tại nhà người Do Thái bị treo cổ vào trước giờ cầu kinh tối Điểm nhìn được chuyển sang cho Siyah để anh tiếp tục kể sự việc tại ngôi nhà ma ám đó Chương tiếp theo, cùng thời gian Shekure và Siayh gặp nhau, kẻ sát nhân trực tiếp kể lại

vụ án mạng thứ hai một cách chi tiết, cụ thể Câu chuyện li kì này vắt từ điểm nhìn của thủ phạm sang nạn nhân ở chương kế tiếp Enishte kể tiếp cảm giác của một người vừa bị hạ sát Ở chương 30, máy quay trả lại cho Shekure với vai trò là nhân chứng đầu tiên của vụ án Độc giả cần phải tham gia vào lời kể

Trang 38

của từng nhân vật mới có thể dựng lại một bức tranh hoàn chỉnh Điều đó có nghĩa, mỗi nhân vật hoạt động trong không gian của mình và chỉ được nắm giữ một mảnh ghép Lời kể của các nhân vật chân thực nhưng không phải toàn bộ sự thật Vì thế, các lời kể có thể chồng lên nhau, lặp lại phần nào đó ở các chương

Mỗi chương truyện là lời tự thuật của một nhân vật Người kể chuyện Zeytin, Kelebek hay Leylek chỉ có thể thuật về những sự việc liên quan đến giới tiểu họa Qua lời kể của họ, người đọc không thể tìm được sự việc liên quan đến mối tình của Siyah và Shekure Nhưng khi đi vào năm chương (chương 8, 15, 25, 39, 53), Esther, dù là người ngoài cuộc, nhưng đã đem lại cái nhìn chi tiết và đầy sinh động về những cung bậc cảm xúc tình yêu của Siyah và Shekure Lời của con chó cho thấy những vùng đất nó đi qua, lời đồng tiền vàng lột tả thực trạng xã hội coi trọng giá trị vật chất, lời của tử thi đưa đến một không gian xa xăm huyền bí về cõi chết… Mê cung của năm mươi chín cái “tôi” tự thuật không đơn giản chỉ là một trò chơi kỹ thuật tự sự, không đơn giản chỉ là cách tác giả duy trì độ căng thẳng, sự hồi hộp và tính khó đoán trước mà một tiểu thuyết hình sự cần phải đạt được Việc sử dụng ngôi kể thứ nhất của người kể chuyện tạo ra cách kể linh hoạt, sinh động cho câu chuyện Người kể chuyện đồng thời là nhân vật được nói lên tiếng nói riêng của mình Ở chương này, nhân vật là người kể chuyện, nhưng sang chương khác, với người kể chuyện khác thì nhân vật này trở thành đối tượng được đề cập Người kể chuyện vừa kể về những việc xung quanh, vừa thể hiện suy nghĩ của mình Các nhân vật chính là người lên tiếng Dù họ có thực hay phi thực, họ cũng cùng nhau thực hiện một việc: chắp vá và trổ nhánh hiện thực Đứng về phía tác giả, đây có thể coi là việc làm đứt gãy hiện thực thành những mảnh nhỏ và đặt nó vào lời kể của từng nhân vật Qua mỗi chương, người đọc như thấy câu chuyện được trổ nhánh bởi lời kể của các

Trang 39

nhân vật tiếp theo đóng vai là người kể chuyện Đây chính là sự mở rộng dần, phức tạp hóa cái mê cung tội ác mà người đọc lỡ đặt chân vào ở chương đầu tiên qua lời thì thào của kẻ bị hại Zarif Nhân vật cũng phải thốt lên điều này khi thấy chính mình cũng lạc bước vào mê cung do chính mình tạo ra “Bất chợt tôi thấy rằng toàn bộ thế giới này giống một tòa lâu đài với vô số phòng

có cửa ăn thông với nhau Chúng ta chỉ cần dùng kí ức và óc tưởng tượng là

có thể đi từ phòng này đến phòng kế bên, nhưng hầu hết chúng ta do lười biếng nên chẳng mấy khi sử dụng những khả năng này, mà mãi mãi ở trong căn phòng cũ” [38, 562] Cuốn sách của Orhan Pamuk là một tòa lâu đài như thế Các phòng ốc trong tòa lâu đài này - 59 chương, tương ứng với 59 phát ngôn ở đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất - ăn thông với nhau theo các liên hệ bên ngoài và các liên hệ bên trong Các liên hệ bên ngoài được thiết lập bởi những nhân vật tham gia - theo mức độ đậm nhạt khác nhau - vào biến cố chính của cốt truyện (hai vụ giết người) Các liên hệ bên trong, là liên hệ giữa những nhà tiểu họa với tác phẩm của họ, liên hệ giữa những đối tượng được thể hiện trong các bức tranh minh họa với chính cái đời sống văn hóa - lịch sử

mà chúng là một thành tố Và ở đây, chính sự kết dệt giữa các liên hệ này đã làm thành phương án tối ưu để Orhan Pamuk thực hiện tham vọng phục dựng sống động diện mạo của quá khứ một đi không trở lại Mỗi chương trong cuốn sách của ông dường như đều mang xu hướng kép: chúng vừa tham gia vào diễn tiến của cốt truyện, vừa cưỡng chống việc tập trung vận hành theo quỹ đạo của cốt truyện

Xu hướng thứ hai dễ nhận thấy nhất ở những chương được thuật lại bằng phát ngôn của những đối tượng mà nhà tiểu họa thể hiện trong các bức tranh minh họa Chúng “trổ nhánh” trên cốt truyện, bung ra, và mang lại ánh xạ nhiều mặt về đời sống văn hóa trong một quá khứ dài dằng dặc của thế giới Hồi giáo vốn mang nặng tính khép kín Chín chương mang tên người kể

Trang 40

chuyện vô danh là các chủ thể kép độc đáo Người kể chuyện cùng lúc đóng hai vai trò, vừa giấu mặt, vừa lộ diện xưng tôi kể chuyện mình, vừa hòa vào câu chuyện lại vừa đứng ngoài mọi diễn biến của cốt truyện Hình ảnh Istanbul cổ xưa trải ra theo lời kể của từng nhân vật vô danh Mỗi người góp vào một mẩu chuyện, chuyện lịch sử, tôn giáo, nghệ thuật, giao thương… hiện ra sinh động qua lời kể tự tin, hóm hỉnh và thông minh Hành trình của đồng tiền vàng qua 560 lần trao tay đã vạch trần thói xảo quyệt của con người

“khi đụng đến tiền bạc thì thay vì làm ra thứ thật, họ lại làm những đồng tiền giả”, Satan kể câu chuyện về niềm tin của con người trước Thánh Allah, cái chết khổ nhục của hai nhà tu và cuộc hóa thân thành một người đàn bà cho thấy một xã hội bất bình đẳng đã làm mòn đi những giá trị của sáng tạo và hạnh phúc Màu đỏ quyền uy không chỉ soi sáng một giai đoạn lịch sử hội họa

mà còn xót xa cho dòng máu dân tộc đã đổ xuống để dựng xây và bảo vệ đất nước

Xen vào diễn biến của vụ án là những đường chia cắt tạo bởi câu chuyện tình yêu, câu chuyện về lịch sử, nghệ thuật và lẽ sống ở đời Câu chuyện tình yêu được kể ngắt quãng bởi sự xen vào của những chi tiết về vụ án, nghệ thuật Nhiều người kể chuyện tham gia đã cưỡng lại sự tập trung diễn biến, trổ nhánh hiện thực Lối kể trổ nhánh làm đầy đặn thêm hiện thực Mỗi chương

do một nhân vật đảm nhiệm Những câu chuyện nhỏ do từng nhân vật kể không hề rời rạc, mà ngược lại, có mối liên hệ móc xích với nhau Chủ đề mà nhân vật trước vừa kể sẽ được tiếp nối ở chương sau trong lời kể của một nhân vật khác Các nhân vật xuất hiện đan xen nhau, không có nhân vật nào cất tiếng nói ở hai chương liên tiếp Độc giả cần lắp ráp tất cả lời kể của các nhân vật từ đầu tới cuối tác phẩm

Lối kể chuyện đa tầng các điểm nhìn khác nhau tạo nên mê cung giữa các lời kể Điều này càng khiến cho hành trình truy tìm hung thủ trở nên khó

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nhiều tác giả (2004), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
2. Văn Thị Thùy An (2004), Kết cấu truyện trinh thám Edgar Allan Poe, Luận văn, ĐHKHXH&NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu truyện trinh thám Edgar Allan Poe
Tác giả: Văn Thị Thùy An
Năm: 2004
3. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh sưu tầm, biên soạn (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội nhà văn, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
4. Đào Tuấn Ảnh (2005), Quan niệm về thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8, tr. 43-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Năm: 2005
5. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 1999
6. Lê Huy Bắc (2008), Cốt truyện trong tự sự, Tạp chí Văn học, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện trong tự sự
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2008
7. Lê Huy Bắc (2011), Giả trinh thám trong tự sự hậu hiện đại, Tạp chí Khoa học, số 2, tr. 39-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giả trinh thám trong tự sự hậu hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2011
8. Lê Huy Bắc (chủ biên) (2013), Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam
Tác giả: Lê Huy Bắc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
9. Nguyễn Duy Bình (2003), Những vấn đề văn học và ngôn ngữ, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn học và ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Duy Bình
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2003
10. Bakhtin M. (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn và dịch, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin M
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2003
11. Booth Wayne (2008), Khoảng cách và điểm nhìn, Đào Duy Hiệp dịch, Tạp chí văn học nước ngoài, số 4, tr. 159-168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoảng cách và điểm nhìn
Tác giả: Booth Wayne
Năm: 2008
12. Borges Jorge Luis (2002), Edgar Poe và truyện trinh thám, trích Tuyển tập Edgar Allan Poe, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Edgar Allan Poe
Tác giả: Borges Jorge Luis
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 2002
13. Borges Jorge Luis (2012), Về truyện trinh thám, Ngô Tự Lập dịch, http://clbnguoiyeusach.com/bai-viet/chan-dung-van-hoc/van-hoc-viet-nam/truyen-trinh-tham-cua-poe-10092012-20.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về truyện trinh thám
Tác giả: Borges Jorge Luis
Năm: 2012
14. Lê Nguyên Cẩn (2002), Về tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất trong văn học phương Tây thế kỉ XVIII, Tạp chí Khoa học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiểu thuyết sử dụng ngôi thứ nhất trong văn học phương Tây thế kỉ XVIII
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Năm: 2002
15. Lê Nguyên C?n (2013), V? m?t vài khái ni?m c?a ch? ngh?a h?u hi?n ??i, http://phebinhvanhoc.com.vn/?p=5462#more-5462 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một vài khái niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Năm: 2013
16. Nguyễn Thị Mai Chanh (2008), Tự sự ngôi thứ nhất theo điểm nhìn đa tuyến qua truyện ngắn “Trong quán rượu” và “Con người cô độc” của Lỗ Tấn, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự ngôi thứ nhất theo điểm nhìn đa tuyến qua truyện ngắn “Trong quán rượu” và “Con người cô độc” của Lỗ Tấn
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Chanh
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu văn học
Năm: 2008
18. Diễm Cơ (2004), Hậu hiện đại, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu hiện đại
Tác giả: Diễm Cơ
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu văn học
Năm: 2004
20. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2001
21. Đặng Anh Đào (1994), Tính chất hiện đại của tiểu thuyết, Tạp chí Văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hiện đại của tiểu thuyết
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1994
22. Đặng Anh Đào (2008), Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong truyện kể, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong truyện kể
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm