Việc tiếp nhận sách Gia lễ ở các nước cùng chịu ảnh hưởng của Nho giáo có thể coi là một sự kiện quan trọng trong lịch sử giao lưu văn hóa, việc tiến hành nghiên cứu sách này là công việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LU ẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hán Nôm
HÀ N ỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hán Nôm
Mã s ố: 60 22 40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Kim Sơn
HÀ N ỘI - 2014
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi tư liệu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp mới của luận văn 9
7 Kết cấu luận văn 9
NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1: TÁC GIẢ CHU HY VÀ TÁC PHẨM GIA LỄ 10
1.1 Chu Hy – vài nét về quan điểm Lễ học của ông 10
1.1.1 Tác giả Chu Hy 10
1.1.2 Vài nét về quan điểm Lễ học của Chu Hy 12
1.2 Bối cảnh và sự ra đời của tác phẩm Gia lễ 19
1.2.1 Bối cảnh chí nh trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo, học thuật 19
1.2.2 Sự ra đời của tác phẩm Gia lễ 23
1.3 Quá trì nh lưu truyền và phát triển trong lịch sử 28
1.3.1 Truyền bản của Gia lễ 28
1.3.2 Sự ảnh hưởng của Gia lễ trong khu vực Đông Á 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG 39
TÁC PHẨM GIA LỄ 39
2.1 Thông lễ 44
2.2 Quan lễ 49
2.3 Hôn lễ 51
2.4 Tang lễ 54
2.5 Tế lễ 62
Trang 4TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM LỄ HỌC TRONG TÁC PHẨM GIA LỄ 66
3.1 Đối tượng tiếp nhận lễ chế trong Gia lễ 66
3.1.1 Lễ hạ thứ nhân – điểm nhấn cho Lễ học thời Tống 66
3.1.2 Đối tượng và sự phân tầng đối tượng trong tác phẩm Gia lễ 67
3.2 Tông pháp chế trong Gia lễ của Chu Hy 75
3.2.1 Tông tử - Người nắm giữ việc kết nối với tổ tiên 76
3.2.2 Tông tử có vị trí chi phối trong các hoạt động lễ nghi của gia tộc 79 3.2.3 Quyền điều hành nghi lễ và trách nhiệm của Tông tử đối với gia tộc ………81
3.3 Vấn đề Phục cổ - Tòng tục trong tác phẩm Gia lễ 85
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 105
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chu Hi (1130 – 1200), là nhà Lý học uyên bác thời Nam Tống của Trung Quốc Bình sinh ông trước tác rất nhiều, các tác phẩm của ông có ảnh hưởng sâu sắc tại Trung Hoa và ở những nước chịu ảnh hưởng của Nho học khác Có thể kể đến
những tác phẩm nổi bật như Tứ thư tập chú, Chu Văn công văn tập, Chu tử ngữ
loại và Chu tử gia lễ Trong những trước tác của ông, cuốn sách Gia lễ được làm ra
không chỉ thuần túy theo đuổi học thuật có ảnh hưởng đến một bộ phận trí thức trong xã hội, đây còn là cuốn sách trực tiếp ảnh hưởng đến phong hóa của các quốc gia, dân tộc tiếp nhận nó dựa trên tinh thần tôn thượng Nho gia
Lễ của Nho gia với tinh thần là những quy phạm cho hành vi ngoại tại và là
một trong những nội dung quy định đạo đức của con người, là vấn đề bức thiết được các nhà Nho quan tâm giải quyết, đặc biệt là trong những giai đoạn Nho học cần
khẳng định vị thế của nó Chu Hi cũng vậy, trong các trước tác về Lễ của ông, Gia
lễ có thể coi là tác phẩm nổi bật Là tác phẩm thuộc dòng Lý học thời Tống, bị chi
phối bởi đặc trưng học phái, thời đại, với mục tiêu “phục đạo”, “tòng chính”, quảng
hạ hóa bộ phận cổ lễ, Gia lễ xuất phát điểm từ Nghi lễthời Tiên Tần đã có những
chỉnh lược nhất định trên cơ sở bảo nguyên lễ ý, thành ra quy chuẩn mẫu mực cho
các giai tầng thực hành gia lễ sau này Nó trở thành cuốn sách không thể không tham cứu trong việc nghiên cứu gia lễ nói chung
Chu tử gia lễ tại Trung Quốc là trung tâm cho rất nhiều các tác phẩm nghiên
cứu xoay quanh, phát huy và bổ trợ nó với mục tiêu nghiên cứu và tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống gia lễ, chứng tỏ mức độ ảnh hưởng sâu rộng của sách Điều này cũng gần như tương tự xảy ra ở những nước có ảnh hưởng của Nho giáo, đặc biệt là Tống nho Chu tử Do việc cuốn sách được quảng bá và có tầm ảnh hưởng, bao quát lớn như vậy, việc nghiên cứu hệ thống gia lễ ở bất kì đâu cũng cần và nên phải lấy
nó làm cơ sở triển khai
Trang 6Việc tiếp nhận sách Gia lễ ở các nước cùng chịu ảnh hưởng của Nho giáo có
thể coi là một sự kiện quan trọng trong lịch sử giao lưu văn hóa, việc tiến hành nghiên cứu sách này là công việc không thể bỏ qua đối với những người nghiên cứu gia lễ nói riêng và những người làm công tác văn hóa nói chung Chọn tác phẩm
Chu tử gia lễ làm trung tâm giải quyết của luận văn, không phải với ý tác phẩm
chưa từng được giải quyết trước đây Tại Trung Quốc và nhiều nước khác, tác phẩm này được nghiên cứu với những hướng triển khai hết sức phong phú Tuy nhiên, nằm trong mảng đề tài về gia lễ, tại Việt Nam hầu như chưa có nghiên cứu nào đi vào chính văn của tác phẩm này, đây có thể coi là một thiếu xót cho việc nghiên cứu
gia lễ ở nước ta
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ thời phong kiến, cụ thể là ngay sau khi cuốn sách Gia lễ của Chu Hy xuất
hiện, tại Trung Quốc đã có rất nhiều các công trì nh khảo cứu, khảo ngộ, phụ chú, phụ lục,… cho cuốn sách Tiêu biểu có thể kể đến như việc Dương Phục 楊復, học
trò của Chu Hy làm sách phụ chú cho chính văn của Gia lễ Về sau, dựa trên bản
phụ chú này, các học giả như Chu Phục 周復 làm tăng chú, Lưu Cai Tôn 劉垓孫 làm tập chú, Khâu Tuấn 丘濬(Minh) làm nghi tiết,… Sau khi cuốn sách này được
du nhập, quảng bá đến một số nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo đương thời tại
Đông Á, hệ thống các sách lấy Gia lễ làm trung tâm khảo cứu lại càng được mở
rộng hơn, với những mức độ quan chú khác nhau và tùy theo bối cảnh cụ thể Sách
Gia lễ của Chu Hi tuy không phải là cuốn sách duy nhất khảo kinh tu lễ, làm ra
cuốn sách về những nghi tiết, lễ độ trong gia tộc, nhưng tầm ảnh hưởng của nó lớn
đến mức, khi nhắc đến khái niệm Gia lễ, người ta thậm chí quy hẳn về cuốn Chu tử
gia lễ Chí nh vì có tầm ảnh hưởng nhất thành bất biến, lại là một tác phẩm về lễ, nó
kéo theo một hệ thống lớn các trứ tác phong phú, cho nên việc nghiên cứu về cuốn sách nói riêng cũng đã là một công việc phức tạp đối với các nhà nghiên cứu hiện đại
Trang 7Hiện nay, việc nghiên cứu chuyên chú vào cuốn sách Gia lễ của Chu tử tại
Trung Quốc và trên thế giới rất sôi động và phong phú với nhiều hướng tiếp cận
khác nhau Những nghiên cứu cơ bản về Gia lễ của Chu Hi có thể kể ra một số xu
hướng như sau:
Nghiên cứu văn bản học, từ lịch sử hình thành, lưu truyền và cố định văn bản qua các thời kì và tại những khu vực khác nhau Những nghiên cứu nổi bật có thể kể
đến như các bài nghiên cứu, khảo luận của các học giả như Trần Lai 陳來 (Chu tử
gia lễ chân ngụy khảo nghị 朱子家礼真伪考议), Tiền Mục 錢穆 (Chu Tử tân học
án 朱子新學案), Thúc Cảnh Nam 束景南 (Chu Hy “Gia lễ” chân ngụy khảo biện 朱熹家礼真伪考辨), Trương Quốc Phong 张国风(“Gia lễ“ tân khảo
家礼新考), khảo về tính chân ngụy của sách Gia lễ Hoặc có thể kể đến các công
trì nh nghiên cứu của học giả Nhật Bản, Hàn Quốc khảo sát về sự hì nh thành tác phẩm này của Chu Hi Đây là vấn đề mà trong hầu hết các công trì nh nghiên cứu mang tí nh toàn diện về cuốn sách đều có nhắc đến: Có thể kể đến như công trì nh
nghiên cứu của học giả Lư Nhân Thục 盧仁淑(“Văn công gia lễ” cập kì đối Hàn
Quốc lễ học chi ảnh hưởng 文公家禮及其對韓國禮學之影響); Hay như Luận văn
thạc sĩ của Tôn Hoa 孙华 lấy đề tài Chu Hy “Gia lễ” nghiên cứu 朱熹 “家礼”研究
Những nghiên cứu này, tùy theo cách tiếp cận và phân loại, đều đưa ra những khảo cứu về quá trì nh lưu truyền và cố định văn bản Những nghiên cứu của các học giả trên đây đều là những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng đối với luận văn này Nhiều công trì nh nghiên cứu đã đi sâu tiếp cận vào nội dung sách Gia lễ của
Chu Hy hết sức chi tiết Việc phân tí ch nội dung của sách cũng được chia ra làm
nhiều cấp độ Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về Gia lễ của Tôn Hoa tập trung chủ yếu
vào giới thiệu nội dung tác phẩm, trong đó người viết đưa ra đối sánh làm rõ sự
tương đồng và dị biệt của nội dung sách Gia lễvới những quan điểm đã từng được Chu Hy phát biểu Với mục đích làm rõ tầm ảnh hưởng của Gia lễ đối với bộ phận
Lễ học của Hàn Quốc, học giả Lư Nhân Thục cũng có những bước làm rõ nội dung cũng như các quan điểm đặc sắc của tác phẩm này Tuy nhiên, đa phần để tiếp cận
Trang 8nội dung, các nhà nghiên cứu thường đặt tác phẩm Gia lễ trong sự đối sánh với các
văn bản như: Chu Hy – Nghi lễ kinh truyện thông giải 儀禮經傳通解,Tư Mã Quang – Tư Mã thị Thư Nghi 司馬氏書儀, hai tác phẩm này vừa cùng thuộc một hệ thống
trứ tác như Gia lễ, bên cạnh đó, một tác phẩm cùng tác giả, và một tác phẩm có ảnh
hưởng sâu sách đến cuốn sách Có thể kể đến như những nghiên cứu của Dương Chí
Cương 杨志刚(“Tư Mã thị Thư nghi” hòa “Chu tử Gia lễ” nghiên cứu 司马氏书和朱子家礼研究), Thượng Sơn Xuân Bình 上山春平(“Gia lễ” và “Nghi
lễ kinh truyện thông giải” của Chu tử 朱子の家禮と儀禮經傳通解), Ngoài
những nghiên cứu theo hướng tiếp cận trên, các học giả cũng lấy Gia lễ làm trung
tâm trong các nghiên cứu so sánh với những tác phẩm thuộc dòng gia lễ khác: Bành Lâm (Kim Sa Khê “Tang lễ bị yếu” dữ “Chu tử Gia lễ” đích Triều Tiên hóa ), Lee Gil Pyo, Kim In Wook (Khảo sát so sánh văn hiến Tế lễ xuất hiện trong “Chu tử
朱子家禮와四禮便覽에나타난祭禮의문헌적비교고찰),
Ngoài ra, việc đánh giá tác phẩm trong vị thế là một cuốn sách có tầm ảnh hưởng lớn đến bộ phận gia lễ tại một số nước trong khu vực, có thể là đặt trong nghiên cứu về lễ nói chung hoặc về gia lễ nói riêng cũng đã có một số những nghiên
cứu rất cụ thể: như cuốn Trung Quốc Lễ học tại cổ đại Triều Tiên đích bá thiên
(中国礼学在古代朝鮮的播迁)của học giả Bành Lâm (彭林), Trương Phẩm Đoan
张品端 (“Chu tử gia lễ” dữ Triều Tiên lễ học đích phát triển 朱子家礼与朝鲜礼学的发展), Bành Vệ Dân 彭衛民 (“Gia lễ” Triều Tiên hóa tiến
lộ 家禮朝鮮化進路),
Ngoài ra có rất nhiều hướng nghiên cứu khác đã được tiến hành Tác già Ngô
Triển Lương 吳展良 trong Chu tử nghiên cứu mục lục tân biên 朱子研究書目新編
(1900 – 2002) đã thống kê những nghiên cứu về Chu tử và các tác phẩm của ông
trong hơn 1 thế kỷ Riêng về mang Gia lễ, ngoài những hướng chủ đạo trên, ta thấy
có nhiều nghiên cứu theo hướng văn hóa, nhân học như: ảnh hưởng của Chu tử gia
Trang 9lễ đến gia tộc như một tác nhân văn hóa, hoặc tác phẩm với vai trò là sách lễ thông
dụng của dân gian,
Có những công trình đưa ra bản dịch sách Gia lễ ra các thứ tiếng, trong đó phải kể đến tác giả Patricia Buckley Ebrey với bản dịch hoàn chỉnh Chu Hy Gia lễ
sang tiếng Anh Điều này cho thấy sự cần thiết có những bản dịch chuẩn xác trong quá trì nh giới thiệu, tiếp nhận và nghiên cứu tác phẩm trên thế giới
Có thể thấy khá nhiều những nghiên cứu về Chu tử gia lễ của học giả không
chỉ tại Trung Quốc mà còn ở các nước Nhật Bản, Hàn Quốc và cả phương Tây Những nghiên cứu này đã đẩy mạnh nghiên cứu về Lễ học, Chu tử học, Lễ học của Chu tử nói chung, về Gia lễ và Gia lễ của Chu tử nói riêng; đồng thời cũng góp phần tăng cường giao lưu học thuật trên thế giới Những thành tựu của các nghiên cứu trên vừa gợi mở cho chúng tôi những hướng nghiên cứu, bên cạnh đó cũng là nguồn tài liệu không thể thiếu khi chúng tôi thực hiện luận văn này
Tại Việt Nam, Gia lễ của Chu Hy là một trong những sách có tầm ảnh hưởng
lớn đến bộ phận gia lễ nước ta Hầu hết các sách mang tên gia lễ nói chung đều lấy
Gia lễlàm bản vị, ngoài ra, cũng như tình hình phát triển sách ở những nước nó du
nhập đến, tại Việt Nam, sách này cũng ảnh hưởng trên nhiều mặt văn hóa, chính trị,
xã hội, luật pháp,… Cuốn sách thường được đề cập và luận bàn trong hệ thống các
sách về gia lễ tại Việt Nam thời phong kiến Những nghiên cứu đề cập đến Gia lễ
của Chu tử tại Việt Nam hiện nay không nhiều, mặc dù khi đề cập đến vấn đề gia lễ
và các vấn đề về phong hóa có liên quan đến các nghi tiết có trong sách Chu tử gia
lễ, g gần như không công trình nào không nhắc đến tác phẩm Một số sách thuộc
loại này như Phong tục Việt Nam – tác giả Phan Kế Bí nh, Gia lễ xưa và nay – tác giả Phạm Côn Sơn,… Đơn cử có Văn công Thọ Mai gia lễ của tu sĩ Viên Tài - Hà Tấn Phát, tuy nhiên sách này cũng không thể gọi là nghiên cứu về Văn công gia lễ
Hầu hết các công trình trên đều tập trung vào việc nghiên cứu các nghi tiết, hoặc các
bộ phận lễ được dùng trong gia tộc, tuy vậy cũng hết sức bổ í ch cho chúng tôi trong
việc nghiên cứu tác phẩm Gia lễ của Chu tử
Trang 103 Mục tiêu nghiên cứu
Việc giới thiệu cuốn Gia lễ của luận văn một phần có thể coi như công việc sơ
giản tổng thuật lại nhiều nghiên cứu của các học giả (chủ yếu là nước ngoài) về tác phẩm này Bước thứ nhất, chúng tôi đi vào làm rõ các vấn đề về tác giả, sự ra đời, quá trì nh truyền bản của tác phẩm Đây là những bước đi cơ bản làm tiền đề cho việc giới thiệu nội dung cuốn sách
Trên cơ sở phiên dịch, chúng tôi hướng tới việc giới thiệu nội dung tác phẩm cùng một số quan điểm lễ học của Chu Hi thể hiện qua nội dung của tác phẩm Phần
này hướng tới chính văn Gia lễ của Chu tử, cũng là nhiệm vụ chính của toàn bộ
Tôn dựa trên bản chú của Dương Phục,… Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát sơ lược một số sách có quan hệ đến tư tưởng về Lễ của Chu tử nhằm góp phần vào việc tì m hiểu một số vấn đề lễ học nổi bật trong nội dung tác phẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành các phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích, tổng thuật các dữ liệu cho bước đầu
tì m hiểu về tác phẩm Bên cạnh đó, chúng tôi vận dụng các phương pháp liên ngành
Trang 11tổng hợp được về lịch sử, văn hóa, tư tưởng, triết học,…cho việc nghiên cứu tác phẩm
Các thao tác giải mã văn bản: phiên âm, dịch nghĩa, là thao tác cơ bản được giải quyết trong luận văn, nhằm hướng tới nghiên cứu nội dung tác phẩm
Chúng tôi tiến hành các phương pháp phân tích, tổng hợp nội dung của văn bản, xử lý các thông tin của những tài liệu liên quan để đưa ra những nhận định
đánh giá về tác phẩm một cách khách quan và chính xác
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn giới thiệu một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản xung quanh tác
phẩm Gia lễ của Chu Hy như: Tác giả Chu Hy và quan điểm làm lễ của ông; Bối
cảnh xã hội, kinh tế, chí nh trị, văn hóa,… cho sự ra đời của tác phẩm Gia lễ; Tác phẩm Gia lễ và những vấn đề về sự ra đời, tí nh chân ngụy, quá trì nh truyền bản và
sự phổ cập của tác phẩm ở khu vực Đông Á
Trên cơ sở những giới thuyết đó, chúng tôi giới thiệu kết cấu và nội dung cơ
bản của tác phẩm Gia lễ
Kết hợp những yếu tố về quan điểm làm lễ và phân tí ch nội dung cụ thể của
Gia lễ, luận văn đưa ra tổng kết về một vài quan điểm lễ học được thể hiện qua tác
phẩm
Bên cạnh đó, luận văn cũng đóng góp bản tuyển dịch nội dung Gia lễở những
mục lễ quan trọng
7 Kết cấu luận văn
Luận văn bao gồm các phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục Nội dung chí nh của Luận văn gồm ba chương:
Chương I: Tác giả Chu Hy và tác phẩm Gia lễ;
Chương II: Giới thiệu về kết cấu và nội dung của Gia lễ;
Chương III: Một số quan điểm Lễ học trong tác phẩm Gia lễ
Trang 12NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TÁC GIẢ CHU HY VÀ TÁC PHẨM GIA LỄ
1.1 Chu Hy – vài nét về quan điểm Lễ học của ông
Chu Hy từ nhỏ đã tỏ ra là bậc dĩnh ngộ, gia cảnh nghèo khó nhưng là người có chí hướng, trúng Tiến sĩ vào niên hiệu Thiệu Hưng 18 (1148) đời Tống Cao Tông Nghiệp quan trường của Chu Hy không thể coi là hiển hách, tuy nhiên, Chu Hy là
người ưu thế, cũng là một bậc hành đạo hữu thực Sử gia trong Tống sử - Liệt
truyện – Đạo học phần về Chu Hy đã dành một phần lớn dung lượng cho con
đường quan nghiệp ấy, trong đó có chép kĩ các bản tấu dâng vua của ông Qua các bản tấu này, ta thấy được hì nh ảnh một Nho gia mẫn đạo, thông tuệ và cương trực, tuy rằng điều này không phải lúc nào cũng được bề trên chấp nhận Về sau vì gặp phải biến cố với Đường Trọng Hữu (1182), ông quay về chuyên tâm mở trường dạy học, củng cố học thuật, cùng với những trước tác của mình, ông đã ghi dấu trong lịch sử tư tưởng của Trung Quốc như là người đã xác lập nên hệ thống chủ nghĩa duy tâm khách quan hoàn chỉnh trong triết học cổ đại
Chu Hy theo học thuyết của Chu Đôn Di và Nhị Trì nh thời Tống, xây dựng nên học phong nghiên cứu triết lý thời Tống gọi là Lý học Những trước tác thể hiện
học thuật của Chu Hy được kể đến trong Tống sử: Đối với việc học, đại để ông
hướng tới việc thấu cùng sự lý để đi đến chỗ rất mực của tri thức, tự ứng dụng vào
Trang 13bản thân để xem thực tiễn của vấn đề, lại lấy việc cư kính làm chủ Ông cho rằng,
sự truyền đạo thống của Thánh hiền tản mạn ở trong sách vở, ý chỉ trong kinh sách
ấy không được làm rõ nên việc truyền đạo thống mới bị hôn ám đi Chính vì thế ông dốc hết tinh lực mà nghiên cứu kinh huấn của Thánh hiền Các trứ tác gồm có: Bản
nghĩa, Khải mông của Dịch; Thi quái khảo ngộ; Thi tập truyện;Chương cú, Hoặc vấn của Đại học, Trung dung; Tập chú của Luận ngữ, Mạnh tử; Thái cực đồ;
Thông thư; Tây minh giải; Tập chú, Biện chứng của Sở từ; Hàn văn khảo dị
Những biên soạn gồm có: Luận Mạnh tập nghĩa, Mạnh tử chỉ nam; Trung dung
tập lược; Hiếu kinh san ngộ, Tiểu học thư, Thông giám cương mục, Tống danh thần ngôn hành lục, Gia lễ, Cận tư lục, Hà Nam Trì nh thị di thư, Y lạc uyên nguyên lục Thảy đều được lưu hành Chu Hy mất, triều đình lấy những huấn
thuyết Đại học, Ngữ, Mạnh, Trung Dung của ông lập thành cái học quan phương Lại có cuốn Nghi lễ kinh truyện thông giải vẫn còn là bản thảo, cũng đưa vào học
quan cả Khi còn đương thế, ông viết văn tập hợp thành hơn trăm quyển, những lời hỏi đáp với học trò cũng có 80 quyển, chép riêng thành 10 quyển.[88, tr3377]
Những năm cuối đời, học thuật của ông bị quy vào ngụy học (năm Tống Ninh
Tông niên hiệu Khang Nguyên thứ 4 - 1198) và bị cấm chỉ, những học trò theo cái học của ông cũng không được ra làm quan Đến năm Gia Thái thứ 2 (1202) cũng đời Tống Ninh Tông ông mới được ban thụy là Văn, và đến năm Bảo Khánh thứ 3 (1227) đời Tống Lý Tông thì được tặng ban là Thái sư, phong là Tín Quốc công Đến năm đầu niên hiệu Thuần Hữu (1241), Chu Hy cùng với các vị Chu Đôn Di, Trương Tái, nhị Trình được đưa vào tòng tự ở miếu Khổng tử Tuy lúc sinh thời có khi thăng trầm bất ổn, nhưng Lý học của Chu Tử về sau đã trở thành thứ triết học quan phương, sau khi nhà Nguyên khôi phục hệ thống khoa cử thì cái học của Chu
Tử trở thành chuẩn mực cho khoa trường Đời Minh, Thanh đưa Chu học lên hàng
kết nho học của Trình Chu và hàng Hư, Tĩnh, bất quá cũng chỉ như Thiền Tông,
Huấn Hỗ, Văn tự mà thôi Tuy nhiên cùng với từng đấy thế kỷ thống trị về mặt tư
tưởng, Lý học của Chu Hy có tầm ảnh hưởng rất rộng rãi không chỉ ở Trung Quốc
Trang 14mà còn lan sang cả các vùng lân cận như Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản, trở thành
ý thức hệ ăn sâu đặc biệt đối với những người theo nghiệp Nho học và có ảnh
hưởng trên nhiều khía cạnh xã hội khác
1.1.2 Vài nét về quan điểm Lễ học của Chu Hy
Trong sự nghiệp trước tác, nghiên cứu cũng như giáo dục của Chu Hy, điểm sáng xuyên suốt và cũng là những thành tựu mang lại nhiều ảnh hưởng trên các mặt chí nh trị, văn hóa, xã hội nhất chí nh là sự nghiệp Lễ học Những năm cuối cuộc đời
dù sức khỏe không tốt, Chu Hy vẫn gia công làm sách Nghi lễ kinh truyện thông
việc gửi gắm và ủy thác công cuộc tu Lễ cho các bậc ưu học mẫn thế đương thời, chứng tỏ mối quan tâm to lớn đối với sự nghiệp này
Một mệnh đề về Lễ nổi tiếng và mang ý nghĩa xuyên suốt của Chu tử mà chúng ta vẫn biết đến là 禮者天理之節文,人事之儀則 Lễ giả, thiên lí chi tiết văn,
nhân sự)1 [55] Thiên lý là các nguyên lý, các quy luật vận hành của vũ trụ, mà theo
Chu Hy thì: “Khi một vật được tạo ra, thì trong nó có một cái Lý nào đó Đối với vạn vật được tạo ra trong vũ trụ, trong mỗi vật cũng đều có một cái Lý nào đó” [17, tr301] Và trong đó, Lễ đóng vai trò như một trong những biểu hiện hữu hì nh của quy luật vô hì nh Lễ của nhà Nho là một loại luật tục thiết lập trên cơ sở lễ nghi vu thuật cổ đại, nó thí ch ứng với một cộng đồng được xây dựng trên huyết thống Trong các phạm trù của Nho gia, Lễ là công cụ để nhà Nho hiển hiện mọi mặt về
1朱熹四書集注–論語 Chu Hy - Tứ thư tập chú – Luận ngữ:
有子曰:“禮之用,和為貴。先王之道,斯為美。小大由之,有所不行。知和而和,不以禮節之,亦不可行也。”禮者,天理之節文,人事之儀則也。和者,從容不迫之意。蓋禮之為體雖嚴,而皆出於自然之理,故其為用,必從容而不迫,乃為可貴。先王之道,此其所以為美,而小事大事無不由之也。
Lễ giả, Thiên lý chi tiết văn, nhân sự chi nghi tắc Hòa giả, thung dung bất bách chi ý Cái lễ chi vi thể tuy nghiêm, nhi giai xuất ư tự nhiên chi lý, cố kì vi dụng, tất thung dung nhi bất bức, nãi vi khả quý Tiên vương chi đạo, thư kì sở dĩ vi mỹ, nhi tiểu sự đại sự vô bất di chi dã (Lễ là hình thức văn tiết của thiên lý, là khuân phép trong nhân sự Hòa, là cái ý thong dong không có gì bức bách Đại khái là, Lễ tuy tỏ ra là nghiêm ngặt, nhưng cũng đều xuất phát từ cái Lý tự nhiên mà ra, cho nên khi dụng công vào nó, tất tự nó thong dong không có gì bức bách hết cả, nên mới bảo là đáng quý Đạo của bậc Tiên vương lấy đấy làm điều tốt đẹp, cho nên mọi việc từ lớn đến bé không gì không từ đấy ra cả)
Trang 15đạo đức, quan điểm tư tưởng, phương pháp hành đạo,… Chính vì lẽ đó, trong mọi
hoàn cảnh cần những minh chứng cụ thể cho cái gọi là Đạo, Lễ là công cụ hữu hiệu
đôi khi là duy nhất của họ Nếu như thời đại của Khổng tử bổ sung thêm yếu tố Nhân 仁 vào Lễ, biến Lễ trở thành một tiêu chí để cho con người sở dĩ được gọi là con người, thì thời đại của Chu tử đã có nhiều điểm khác biệt Với những biến đổi
về xã hội, chí nh trị, tư tưởng, tôn giáo to lớn, Nho gia một lần nữa đứng trước thách thức lấy lại vị thế của mì nh Chu Hy ý thức rõ vai trò của Lễ, đồng thời với nó là những hành động cụ thể nhằm khuếch trương Lễ học
Quan niệm về Lễ của Chu Hy nói riêng và tư tưởng của ông nói chung được
thể hiện khá phong phú qua các sách như Chu tử ngữ loại hay Chu tử văn tập Một
hì nh dung chung về Lễ của Chu Hy được ông trì nh bày khi giảng về bài tựa sáchLễ
ký được chép trong Văn tập quyển 74:
熹聞之,學者博學乎先王六藝之文,誦焉以議其辭,講焉以通其意,而無以約之,則非學也.故曰:博學而詳說之,將以反說約也.何謂約,禮是也.禮者履也謂其誦而說者,至是可踐而履也.故夫子曰:君子博學於文,約之以禮
….禮以極卑為事,故自飲食居處洒掃欬唾之間,皆有儀節
(Hy văn chi, học giả bác học hồ tiên vương lục nghệ chi vă, tụng yên dĩ nghị kì từ, giảng yên
dĩ thông kì ý, nhi vô dĩ ước chi, tắc phi học dã Cố viết: Bác học nhi tường thuyết chi, tương
dĩ phản thuyết ước dã Hà vị ước? Lễ thị dã! Lễ giả lý dã, vị kì tụng nhi thuyết giả, chí thị khả tiễn nhi lý dã Cố Phu tử viết: Quân tử bác học ư văn, ước chi dĩ lễ… Lễ dĩ cực ty vi sự,
cố tự ẩm thực, cư xử, sai tảo, khái thóa chi gian, giai hữu nghi tiết.) Hy tôi nghe rằng, bậc
học giả học rộng thuyết văn về lục nghệ của Tiên vương, mà chữ nghĩa, ý tứ đều bàn luận với nhau đến thông hiểu cả, thế nhưng chẳng biết lấy gì mà ước thúc mình để làm theo cho được hết, thế thì chưa gọi là học được Cho nên mới nói: học rộng đến mức hiểu rõ được cái
lý thuyết ấy rồi, lại đem cái thuyết ấy mà ước thúc lại mình Thế ước thúc ấy là cái gì? Chính
là Lễ đấy! Lễ là “dẫm lên”, nghĩa là đã đọc thông lý thuyết đến mức có thể đem ra thực hành
ở thực tế để mà trải nghiệm được Cho nên Phu tử mới nói rằng: Quân tử học rộng ở văn,
ước mình bằng Lễ… Lễ là từ những việc hết sức nhỏ bé, cho nên từ những lúc ăn uống, cư
xử, quét dọn, nói năng, đều phải có lễ tiết
Trang 16Có thể thấy rằng, Chu tử hết sức coi trọng Lễ, không chỉ là thứ Lễ kinh viện,
mà hơn nữa là Lễ học thực hành, là phương diện thực tiễn, là khả năng ứng dụng
của Lễ trong đời sống Chúng ta vẫn có câu: Học ăn, học nói, học gói, học mở, có
thể lấy làm ví dụ về một khí a cạnh Lễ đã đi vào cuộc sống hàng ngày Chu Tử muốn đưa Lễ vào cuộc sống, hay nói cách khác là muốn tạo dựng một cuộc sống tràn ngập Lễ một cách tự nhiên Công năng của Lễ, tì nh trạng Lễ học hiện thời cũng như tầm quan trọng của việc sửa Lễ có thể cho chúng ta một cái nhìn khái quát đối với quan niệm của Chu tử về Lễ học
Nhắc lại mệnh đề Lễ giả, Thiên lý chi tiết văn, trong sách Ngữ loại, Chu tử
cũng từng giải thích bản chất hữu hình ấy của Lễ Trong đó, ông cho rằng vạn vật trong Thiên hạ vốn đều có cái Lý đương nhiên của nó, nhưng cái Lý đó vô hình vô ảnh, cho nên mới cần đến Lễ để vẽ nên một hình dáng của Thiên lý cho con người
ta có thể hình dung ra Đó vừa là thước đo, cũng vừa là chỗ dựa cho cuộc sống của chúng ta Cuộc sống của mỗi cá nhân trong xã hội Nho giáo là một cuộc sống đầy tràn đạo đức, Lễ một cách tượng trưng chính là hệ thống biểu mẫu để hiện thực hóa, quản lý hoạt động và đánh giá kết quả đạt được của cuộc sống đó Tuy rằng công năng hết sức quan trọng, nhưng thực tế áp dụng đương thời lại không đạt được như
mong muốn của Chu Hy Ngữ loại:
古礼学者是专门名家,始终理会此事,故学者有所传授,终身守而行之。凡欲行礼有疑者,则就质问。所以上自宗庙朝廷,下至世俗乡党,典礼各各分明。汉唐时犹有此意,如今直是无人。
(Cổ lễ học giả thị chuyên môn danh gia, thủy chung lý hội thử sự, cố học giả hữu sở truyền thụ, chung thân thủ nhi hành chi Phàm dục hành lễ hữu nghi giả, tắc tựu chất vấn Sở dĩ thượng tự tông miếu, hạ chí thế tục hương đảng, điển lễ các các phân minh Hán Đường thời
do hữu thử ý, như lim trực thị vô nhân.) Thời xưa, các nhà Lễ học đều là những bậc danh gia
chuyên trị về lễ, luôn nắm rất rõ việc này, cho nên khi được truyền thụ điều gì thảy đều ghi nhận lấy mà biến nó thành cái học thực hành suốt cuộc đời Phàm khi hành lễ có gì nghi vực, thì đều chất vấn cho rõ Vậy nên trên thì từ việc tông miếu triều đình, dưới đến những việc trong hương đảng thế tục, điển lễ nào cũng đều rõ ràng mạch lạc Thời Hán, Đường vẫn còn thấy có, nhưng như ngày nay thì chẳng còn ai được như vậy nữa rồi!
Trang 17Đây chính là thực trạng ngay cả những đối tượng đương nhiên phải am hiểu về
Lễ, cả trong trường hợp khắp thiên hạ chẳng còn ai biết Lễ, cũng đang tỏ rõ sự yếu kém của mình đối với khối tri thức ấy Chu Hy đã gay gắt lên án việc các Lễ quan không đủ năng lực để chỉnh đốn những sai lầm trong việc thực hành các nghi
tiết: … Chẳng biết trải qua được mấy thời mà các Lễ quan thảy đều không biết
đường chấn chỉnh cho đúng Những nho thần làm việc cầm dây dắt xe giá của vua cũng chẳng biết việc mình làm sai, lại đi khoa trương lấy đó làm vinh dự, thế là làm sao?[49]2 Từ những trăn trở ấy, một cách gián tiếp, Chu tử chỉ ra rằng: Một khi tầng lớp quan lại chuyên trách về Lễ và những nho thần bản thân phải có trách nhiệm gánh vác sự nghiệp phục đạo tòng chí nh còn không biết hành Lễ sao cho đúng, thì tầng lớp sĩ thứ bình dân cũng khó lòng đạt được thành quả gì trong công cuộc này
Tì nh hì nh thực tế trên đã phác họa nên cục diện “lễ nhạc băng hoại” theo quan điểm của nhà Nho, đồng thời cũng thúc đẩy việc hình thành một mục tiêu lớn trong
sự nghiệp của Chu Hy Bản thân ông dốc không í t tâm huyết vào việc phục dựng và triển khai Lễ học! Chu Hy cũng như các học giả ưu tú trước ông và đương thời cùng ông, trăn trở với hào quang của nền Lễ nhạc hưng thịnh, nhưng trong nhiều phương cách để đi tới kết quả khôi phục những mỹ phong ấy, tư tưởng của Chu Hy có thể coi là đã dung hòa được nhiều yếu tố tạo nên thành tựu như chúng ta đã thấy Tiền
Mục khi bàn về vấn đề này đã đưa ra kết luận: Khảo cổ để thông kim là tôn chỉ lớn
của Chu tử khi biên tập Lễ thư.3[59, tr141] Quan điểm làm Lễ này không thể chỉ hiểu đơn thuần là yêu cầu tinh thâm cổ lễ, dùng những kiến thức sâu rộng ấy để phục hồi thực trạng mờ mịt của lễ nhạc đương thời
Đối với cổ lễ, Chu Hy khẳng định giá trị của các kinh điển cổ lễ, đặc biệt là
Nghi lễ, tác giả coi sách này như cội gốc, còn Lễ ký chí nh là cành lá của nó Chu tử
từng tỏ rõ sự không đồng lòng với chủ trương đề cao Lễ ký trong khoa cử của
Vương An Thạch: Xưa có khoa thi Minh kinh, người ta còn tiện thì đọc những sách
này Từ khi Vương Giới Phủ đưa việc tân kinh ra, bỏ khoa thi Minh kinh học cứu,
2Văn tập 文集 quyển 71
3朱子新學案第五册 -朱子之禮學, Chu tử tân học án quyển 5: Chu tử chi Lễ học
Trang 18mọi người càng chẳng buồn đọc sách nữa Rốt cục Lễ văn biến đổi mà chẳng ai biết
[48] Chúng ta không thể dựng một ngôi nhà kiên cố nếu không có nền móng vững chắc, tuy nhiên, nếu lấy cổ lễ ở thực trạng đương thời làm móng cho ngôi nhà đó sẽ có nhiều điểm bất cập Chu tử chỉ ra rằng: Thứ nhất, hệ thống cổ lễ quá phiền phức và phồn tạp; Thứ hai, trải qua lịch đại, hệ thống ấy cũng tản mát và không nguyên vẹn, khiến cho giai tầng hành lễ rất khó để khảo cứu bồi đắp những chỗ khuyết thiếu đó Điều này gây ra một số tệ lậu trong
việc tập lễ: Lễ học nhiều chỗ không thể khảo cứu được, nói chung là bởi sách vở
không còn toàn vẹn, cứ khảo đi khảo lại, rồi ra chẳng đi đến đâu cả, cho nên người học lễ cũng có nhiều chỗ vu khoát5[48] Đối với bộ phận Lễ còn lưu giữ được, người ta lại quá nệ cổ mà không biết thức thời, hoặc tích góp quá nhiều kiến thức cổ kim, bác lãm lễ thuyết mà không có chắt lọc, lại không tính toán đến khả năng thực thi để đến nỗi việc đến không biết phải làm như thế nào6 [49] Việc có thể tạm gọi là
lễ nhạc băng hoại lúc đương thời, một phần lớn là do sự cồng kềnh không cần thiết
của bộ phận cổ Lễ, mà đối với xu hướng hiện thời không còn phù hợp nữa Điều này chí nh là lí do khiến cho thậm chí những nhà Nho tự xưng là uyên bác còn chưa chắc đã đọc hiểu Lễ, chứ không nói đến những kẻ sĩ thứ nhân:
Trang 19(Tam đại chi tế, Lễ kinh bị hỹ Nhiên kì tồn ư kim giả, cung lư khí phục chi chế, xuất nhập khởi cư chi tiết, giai dĩ bất nghi ư thế Thế chi quân tử, tuy hoặc chước ư cổ kim chi biến, cánh vi nhất thời chi pháp, nhiên diệc hoặc tường hoặc lược, vô sở chiết trung Chí hoặc di ư bản nhi vụ ư mạt, hoãn ư thực nhi cấp ư văn Tự hữu chí hiếu lễ chi sĩ, do hoặc bất năng cử
kì yếu, nhi dụng ư bần lũ giả, vưu hoạn kì chung bất năng hữu dĩ cập ư lễ dã.)Từ thời Tam
đại đã có Lễ kinh rất đầy đủ rồi Thế nhưng, tồn tại có đến ngày nay, thì những chế độ về cung lư khí phục, những môn về xuất nhập đứng ngồi, đều đã không còn hợp với đời nữa Người quân tử ở đời, tuy có khi châm chước đến sự thay đổi cổ - kim, mà xây dựng các pháp
độ theo thời, thế mà vẫn có chỗ rõ chỗ không; chẳng biết chất chính nghi ngờ vào đâu Đến nỗi, có kẻ thì bỏ mất gốc mà vụ vào ngọn, chậm ở thực mà cấp ở văn, kể cả bậc sĩ có chí hiếu Lễ, vẫn có kẻ không thể giơ cao được cái điều cốt yếu; thì khi dùng với những người nghèo không thể theo Lễ cho đủ được, lại càng e rốt cục họ chẳng biết lấy gì mà theo kịp Lễ
đó.7
[41]
Vì thế cho nên Chu tử đề xuất phương thức phục cổ - tòng tục, kê cổ - thông
kim, tôn cổ - dụng kim Công việc này không chỉ đến Chu tử mới làm,Văn tập 文集
quyển 64:
溫公之說亦適時宜,不必過泥古禮 即且從俗 ,亦無害.且從溫公之說,庶幾寡過 (Ôn công
chi thuyết diệc thí ch thời nghi, bất tất quá nê cổ lễ Tức thả tòng tục, diệc vô thậm hại Thả tòng Ôn công chi thuyết, thứ cơ quả quá) Thuyết của Ôn công cũng thích ứng với thời nghi,
bất tất phải quá nệ vào cổ lễ Vừa theo thói tục, lại cũng không hại đến lễ Theo thuyết của
Ôn công, cơ hồ cũng ít mắc sai lầm.8
諸家之禮, 惟韓魏公司馬溫公之法適時中易行 (Chư gia chi lễ, duy Hàn Ngụy công, Tư
Mã Ôn công chi pháp thí ch thời trung dị hành) Lễ của các nhà, chỉ có phép độ của Hàn
Ngụy công và Tư Mã Ôn công là thích hợp với thời thế, dễ dàng thực hành theo.9
Ủng hộ cách làm lễ của Ngụy công và Ôn công, cũng là khẳng định xu hướng làm lễ của mì nh Phục cổ để tòng tục là hiểu mình có gì để biết mì nh cần phải làm
gì Chu Tử cảm nhận sâu sắc việc phồn tạp trong tra cứu Lễ thư, và coi công việc
7
Chu Hy - Gia lễ - Gia lễ tự 家禮 - 家禮序
8 Trả lời thư của Quách Tử Tòng, nói về Tang lễ
9 Trả lời thư của Thừa Nhân Phụ luận về các tiết trong Tế lễ
10
Ngữ loại:hội ư cổ nhân lễ học chuyên môn danh gia chi di ý.
Trang 20những kẻ học lễ, nhưng trên phương diện thực hành thì cần phải xác lập lại một hệ
thống khả thi hơn Tòng tục, thông kim, dụng kim không nằm ngoài hai việc: giản
hóa bộ phận cổ lễ:
禮,時為大.有聖人者作,必將因今之禮而裁酌其中,取其簡易易曉而可行.必不至復取古人繁縟之禮而施之於今也(Lễ thời vi đại Hữu Thánh nhân giả tác, tất tương nhân kim chi lễ nhi tài chước kì trung, thù kì giản dị dị hiểu nhi khả hành Tất bất chi phục thủ cổ nhân phồn nhục nhi thi chi ư kim dã) Lễ, quan trọng ở việc tùy thời mà vận dụng Có bậc Thánh nhân làm lễ,
ắt sẽ nhân lễ ngày nay mà góp nhặt, lựa lấy những điều giản dị dễ hiểu để có thể thực hiện theo Đương nhiên không thể lại đi lấy thứ lễ phồn tạp của cổ nhân để thi hành ở đời nay được.11
[48]
và vận dụng nó một cách linh hoạt tại đương thời:
禮有密處有疏處, 如弓之有張弛(Lễ hữu mật xứ, hữu sơ xứ, như cung chi hữu trương thỉ)
Lễ có chỗ chặt, chỗ thưa, như cung tên có chỗ căng, chỗ trùng
Ví như xét xem cổ lễ ấy có thể thi hành được ở đương thời hay không, và nếu
cổ lễ không còn chứng tích để khảo thì cũng nên theo thói tục mà làm12 Vận dụng linh hoạt nghĩa là biết cân nhắc giữa cổ và kim, giản lược chỗ nào, lưu giữ chỗ nào Tuy vậy, không thể vì mục tiêu tinh giảm nghi tiết trong cỗ lễ, tòng tục dụng lễ mà
tự cho phép mình vượt ngoài khuôn khổ đạo đức nhà nho, tức là vẫn phải bảo lưu lễ
ý Tinh giảm nghi tiết không có nghĩa là muốn bỏ gì thì bỏ, ngược lại, bảo lưu lễ ý cũng không có nghĩa là để nghi tiết muốn ra sao cũng được:
之繁,但放古之大義 (Cổ lễ ư kim thực nan hành Thường vị hậu thế hữu đại thánh nhân
giả tác, dữ tha chỉnh lí nhất phiên, kim nhân tô tỉnh, tất bất nhất nhất tận như cổ nhân chi phồn, đãn phóng cổ chi đại nghĩa) Cổ lễ thật khó thực hành ở đời nay Vẫn thường nhủ
rằng, hậu thế nếu như có được bậc đại thánh nhân tác lễ, ta cùng ông ấy chỉnh lý một phen,
11
Chu tử ngữ loại, quyển 84
12如今考得禮子細, 一一如古, 固是好 如考不得, 也只得隨俗,不礙理底行將去 (Như kim khảo đắc lễ tử tế, nhất nhất như cổ, cố thị hảo Như khảo bất đắc, dã chỉ đắc tùy tục,bất ngại lý để hành tương khứ Nếu như ngày nay mà có thể khảo lễ cho được tỷ mỉ, nhất nhất theo đó, đương nhiên là tốt Nhưng nếu khảo không được, thì cũng chỉ có thể theo thói tục mà làm, không ngại sự xa khác với lý
Trang 21khiến cho người đời thức tỉnh, hẳn là không thể nhất nhất theo được những nghi tiết phồn tạp của cổ nhân, nhưng chắc cũng giữ được cái đại nghĩa ấy
Chu Hy nhận định: Việc khảo cứu cổ lễ đã khó, châm chước cổ kim, thời nghi
lại càng khó hơn Công việc chấp kì lưỡng đoan này đòi hỏi bậc thức giả phải có
một khối kiến thức vừa uyên thâm, vừa quảng bác, lại không được chỉ cố chấp vào chỗ căng của cung tên, mà còn phải biết chỗ trùng mà lựa Nếu không phải là người dụng tâm, dụng lực như Chu tử thì đây quả là một đề mục bất khả thi
Đôi nét về tác giả Chu Hy và quan điểm của ông đối với Lễ học là một nội dung căn bản mà chúng tôi thấy rằng không thể bỏ qua khi thực hiện đề tài này Chúng tôi cũng thấy cần thiết phải giới thiệu một số nét về bối cảnh, những nhân tố
liên quan trực tiếp tới sự hình thành quan điểm lễ học cũng như tác phẩm Gia lễcủa
Chu Hy
1.2 Bối cảnh và sự ra đời của tác phẩm Gia lễ
1.2.1 Bối cảnh chí nh trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo, học thuật
Nhà Tống phân chia làm Bắc Tống (960 – 1127) và Nam Tống (1127 – 1279)
có thể coi là một triều đại đầy biến động, không hề ổn định về nhiều mặt trong số các triều đình phong kiến Trung Hoa từ trước đến nay Trước thời kì này là cả một
khoảng thời gian ngót 1 thế kỷ của giai đoạn Ngũ đại thập quốc, cùng với sự xâm
lấn của những tộc người được coi là man di, ở trình độ văn minh thấp hơn đối với người Hán, còn sau đó là giai đoạn nhà Nguyên Mông chinh phục và cai trị vùng Hoa Hạ rộng lớn Về các mặt chí nh trị, kinh tế, xã hội, với tiền đề là một giai đoạn
rối ren ngũ đại thập quốc, quần hùng nổi lên, chia Trung Hoa vốn thống nhất thành
nhiều cát cứ, phân chia quyền lực cai trị đối với khu vực mì nh chiếm đóng đã tạo nên tì nh trạng mất đi sự liên kết tương hỗ về các mặt kinh tế, chí nh trị Trong thời kì này, chiến tranh liên miên dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực
về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,… sự phát triển của giai tầng thương nhân nảy sinh đồng thời do nhu cầu trao đổi thông thương giữa những lãnh địa Đến nhà Bắc Tống, trên bì nh diện kinh tế đã có một sự thay đổi tương đối giữa các lực lượng xã
Trang 22hội cơ bản Chiến tranh và sự mờ nhạt đi quyền được bảo hộ của tầng lớp quý tộc khiến cho ruộng đất là cơ sở sản xuất, được thương mại hóa, con em họ không thể truyền đời lưu giữ đất đai của tổ tiên, giai tầng quý tộc cũng vì thế mà dần mất đi vị thế
Cũng từ cơ sở kinh tế đó, sĩ đại phu lớp thứ bắt đầu nổi lên, kết hợp với sự hoàn thiện đương thời của chế độ khoa cử, giai tầng này phát triển ngày một nhanh với số lượng ngày càng tăng và tiến đến chiếm lĩnh những địa vị cao trong xã hội Càng sau, giai tầng sĩ phu trên lại càng phát triển mạnh, họ nhận được sự bồi dưỡng hoàn hảo từ những nhà tri thức lớn thông qua hệ thống các trường học tư thục và càng có đủ điều kiện bước thêm những bước vững chắc để có thể xếp ngang hàng với tầng lớp quý tộc Nhu cầu quý tộc hóa được phần nào được thực hiện thông qua việc tập lễ, đi kèm với nó là quá trì nh cải biến Lễ sao cho phù hợp với đối tượng thực hành
Song song với nó, những mô hình đại gia tộc có tầm bao quát cả về huyết thống lẫn lao động, với cơ cấu tổ chức hoạt động chặt chẽ, cơ sở kinh tế hùng hậu của số í t những quý tộc đại phu chuyển dịch thành hệ thống gia tộc phổ biến với quy mô nhỏ hơn về mọi mặt Lễ cũng vì thế không thể áp dụng với quy mô đồ sộ như diện mạo nó vốn có
Bên cạnh đó, Nho học thời Tống được nhì n nhận dưới khá nhiều nguy cơ! Sự suy kiệt về kinh tế của nhà Bắc Tống đã làm nảy sinh một trong những nguy cơ ấy
đối với nền chính trị Nho gia Cao trào là biến pháp Hy Ninh: Vương An Thạch cải
cách một cách cấp tiến, mạnh dạn giải quyết hàng loạt mọi vấn đề, đồng thời, tư tưởng chính trị của ông bắt nguồn từ tư tưởng Pháp gia trong đời Tiên Tần của Trung Quốc, chứ không phải bắt nguồn từ Nho gia [14].Đường lối cải cách đúng
đắn, thực tế nhưng khắc nghiệt, cùng với “nguy cơ” hứa hẹn thành công sẽ đồng thời với việc đưa chính trị phát triển theo một hướng khác với lý tưởng của nhà nho Đây là một cuộc cải cách mạnh mẽ và toàn diện, mà một trong những sản phẩm của
nó là sự ra đời của Tân phái, Tân học Đối lập với họ là đảng phái của Tư Mã
Trang 23Quang với mọi nỗ lực chí nh trị, cùng với một lực lượng hùng hậu chịu ảnh hưởng
về lợi í ch ủng hộ tuy đã dẹp được Tân phái nhưng có lẽ cái “tệ lậu” của nó vẫn còn
kéo dài, như Chu Tử từng nhận xét về việc cải cách khoa cử của Vương An Thạch
đã nói ở trên
Bị nhà Kim đánh bật và chiếm cứ vùng phương Bắc, nhà Tống phải chạy xuống phía nam, đó là một sự thất bại về mặt chí nh trị, đồng thời cũng mang lại những nguy cơ rõ rệt về mặt văn hóa Khi vào Trung Nguyên, tộc người Nữ Chân này vẫn trong xã hội nô lệ thị tộc, sự tiếp biến văn hóa, hòa nhập và đồng bộ hai nền văn hóa ở những trình độ văn minh khác nhau trong cái nhìn của Nho gia là sự suy
vi phong hóa Hoa Hạ Sự xâm nhập của thứ văn hóa ngoại lai không mong muốn là
một nguyên nhân không thể bỏ qua tạo nên cục diện lễ băng nhạc hoại đương thời,
kể cả đó là sự tiếp nhận tự nhiên, đương nhiên Một lần nữa, nhà Nho phải sốt sắng trong công cuộc cải cách của mì nh
Nhưng có lẽ mối nguy hại, đồng thời cũng là động lực mạnh mẽ cho những thành tựu Nho học của thời Tống cần phải kể đến là lực lượng đối trọng mang tên Phật giáo, Đạo giáo Theo tác giả Cát Kiếm Hùng, Phật giáo sau khi du nhập vào Trung Quốc vào cuối đời Tần – Hán, được sự tán thành và cổ vũ của giai cấp thống trị vào thời Đông Hán, đã rất thịnh hành và ngày càng thịnh hành hơn dưới đời Tùy – Đường, tức là triều đại ngay sát nhà Tống [14, tr377] Phật giáo cùng với sự phổ biến kinh Phật ngày càng rộng rãi theo phong trào thỉnh kinh, truyền giáo và phiên dịch kinh Phật bằng lối văn bạch thoại, đã đưa hệ thống giáo lý của tôn giáo này vào đời sống của giai tầng bình dân, vốn luôn luôn chiếm số lượng đông áp đảo trong xã hội Bên cạnh đó, việc linh động tiếp nhận văn hóa bản địa, tiếp thu tư tưởng luân lý đạo đức của Nho gia, lại sử dụng phương pháp cách nghĩa, dùng thuật ngữ huyền học của Đạo gia để phiên dịch hệ thống kinh điển của mì nh, Phật giáo đã tích lũy thành công một hệ thống triết học tôn giáo phù hợp và được chấp nhận cả với giai
cấp thống trị ở Trung Hoa Tư Mã Quang trong Thư nghikhi bàn về việc tang trong
Thông lễ đã thấy rõ cái “tệ” tin theo Phật sự của dân chúng đương thời, Chu Hy
cũng tán đồng và đưa nguyên văn vào Gia lễkhi biên tập cuốn sách này Đạo gia tuy
Trang 24là yếu tố bản địa, nhưng ngay trong thời Bắc Tống, cũng có những triều đại nó thể hiện uy quyền chi phối bậc quân chủ đứng đầu lực lượng phong kiến [14] Sau này
Khâu Tuấn (Minh) khi làm sách Gia lễ nghi tiết nhắc đến Gia lễ của Chu Hy cũng
đề cập đến vấn đề dị đoan, dị giáo làm ảnh hưởng đến học phong cổ lễ đương thời13[45] Bởi vậy, Lễ học cũng theo đó mà vận dụng phương pháp bình dân hóa, quảng
hạ hóa để đáp ứng xu hướng thời đại14 [45]
Sự phát triển về kinh tế dẫn đến những thay đổi trong kết cấu xã hội, quan niệm văn hóa cũng có sự thay đổi Nho học đứng trước sự thay đổi đối tượng vận dụng, sự cạnh tranh của các thế lực tư tưởng, tôn giáo lớn mạnh khác, hơn nữa, trong tì nh hì nh triều Tống dời xuống phương Nam, đòi hỏi cần phải xác lập lại hệ thống chí nh quyền với đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, uy lực vốn có, đương nhiên cũng đã và đang tiến hành cách tân Trong công cuộc đó, có nhu cầu bức thiết là khôi phục hệ thống điển lễ, nó tạo ra phong khí khôi chuẩn lễ chế thời bấy giờ
Nói đến Tống Nho là nói đến Lý học và Chu Hy Là học trò tam truyền của
Nhị Trì nh, nhận thấy đặc điểm hữu hì nh của Lễ học, với tinh thần nhiệm trọng đạo
viễn, Chu tử đã có những đóng góp vượt trội cho tư tưởng Nho gia nói chung và cho
Lễ học nói riêng Cùng với lực lượng trí thức mới có nhu cầu cần tăng cường địa vị, lại gặp tì nh trạng bản thân thứ Lễ xa xỉ đặc vị đối với giai tầng quý tộc cao cấp cũng không còn chỗ để sử dụng nữa, sự đóng góp này được đón nhận nhiệt thành
13 邱俊 – 家禮儀節– 家禮儀節序: “儒 教 所 以 不 振者異端亂之也 異端所以能肆行者以儒者失禮之柄也 世之學儒者徒知讀書而不能執禮而吾禮之柄遂為異教所竊弄…
Khâu Tuấn – Gia lễ Nghi tiết – Gia lễ nghi tiết tự: (Nho giáo sở dĩ bất chấn giả, dị đoan loạn chi dã Dị đoan
sở dĩ năng tứ hành giả dĩ nho giáo giả thất lễ chi bính dã Thế chi học nho giả đồ tri độc thư nhi bất năng chấp
lễ chi bính toại vi dị giáo sở thiết lộng…)“Nho giáo sở dĩ không chấn hưng được là do dị đoan tác loạn Dị đoan có thể hoành hành khắp nơi được là bởi Nho giáo mất đi quyền lực Lễ Những người học Nho giáo đương thế chỉ biết chăm chắm đọc sách mà không biết sử dụng Lễ, cho nên quyền uy của Lễ mới bị dị giáo lộng đoạt…”
14
Cũng trong lời tựa sách Gia lễ Nghi tiết: “竊以謂家禮一書誠闢邪說正人心之本也
使天下之人人誦此書家行此禮慎終有道追遠有儀則彼自息矣, 儒道豈有不振也哉.”(Thiết dĩ vị gia lễ nhất thư thành tịch tà thuyết chính nhân tâm chi bản dã Sử thiên hạ chi nhân nhân tụng thử thư, gia hành thử
lễ, thận chung hữu đạo, truy viễn hữu nghi, tắc bỉ tự tức hỹ Nho đạo khởi hữu bất chấn dã tai?) “Trộm nghĩ
quyển sách Gia lễ này có thể loại bỏ tà thuyết, làm ngay thẳng gốc nhân tâm Người người trong thiên hạ đọc
sách này, nhà nhà làm theo lễ này, việc tang ma lúc cáo chung theo được đúng đạo, việc tế tự xa đời theo được đúng nghi, vậy thì thứ kia (tà giáo, di đoan) sẽ tự mất đi thôi, Nho đạo há lại chẳng chấn hưng được sao?”
Trang 25Trong các tác phẩm về Lễ học, Gia lễ là bộ sách có tầm ảnh hưởng hết sức sâu
rộng, tại Trung Quốc và tại các nước láng giềng cùng chịu sự ảnh hưởng của Nho học, trong suốt quá trì nh từ khi nó xuất thế cho đến tận ngày nay
1.2.2 Sự ra đời của tác phẩm Gia lễ
Khi giải quyết vấn đề văn bản của Gia lễ, các học giả thường đi vào giải quyết
các vấn đề về Niên đại thành thư, Thời điểm xuất thế, gắn liền với nó là công việc chứng minh Tí nh chân ngụy của tác phẩm Những học giả đương đại như Tiền Mục
錢穆, Trần Lai 陳來, Thúc Cảnh Nam 束景南, Trương Quốc Phong 張國風,… cũng như hầu hết những nghiên cứu có đề cập đến tác phẩm đều nhắc lại vấn đề này
Gia lễ là một trứ tác đặc biệt không chỉ bởi địa vị thống trị của cuốn sách về
mặt Lễ học sau này mà còn bởi đây là cuốn sách được biết đến sau khi người được cho là biên trứ ra cuốn sách – Chu Hy – đã qua đời, nên hoàn toàn không được xác nhận bởi chí nh tác giả Hậu học sau này đánh giá về mặt văn bản đa phần thông qua
những ghi chép trong Chu tử ngữ lục 朱子語錄 và Chu tử văn tập 朱子文集, cùng
với những ý kiến xác nhận của các cao đệ Chu tử như Chu Tại 朱在(con trai Chu tử), Hoàng Cán 黃榦 (con rể cũng là học trò của Chu tử), Trần Thuần 陳淳, Lý
Tí nh Truyền 李性傳,Lý Phương Tử 李方子 trong các sách như Chu tử niên phả 朱子年譜; Gia lễ hành trạng 家禮行狀,Chu tử ngữ tục lục 朱子語續錄 hay dựa vào những tổng kết trong Gia lễ phụ lục 家禮附錄 của Dương Phục 楊復
Cuốn sách Gia lễ được ra đời bắt nguồn từ người con của Chu tử tên là Chu
Tại, tự Kí nh Chi 敬之, việc này được chép trong sách Niên phả và được Dương Phục đưa vào Gia lễ phụ lục: “Trần Thuần nói rằng: Vào năm Tân Mùi niên hiệu
Gia Định (1211) tôi có đi qua Ôn Lăng, có người con trai út của tiên sinh là ngài quận phó Kí nh Chi, ngài mới đưa cho xem một cuốn Gia lễ và bảo rằng đây là cuốn
sách khi xưa đã bị mất ở chùa tăng, có người học trò chép lại được, đến ngày an táng tiên sinh mới mang ra, cũng vì thế mà có được cuốn sách này”15 Trong Gia lễ
15家禮附錄:陳淳云, 嘉定辛未歲過溫陵, 先生季子敬之倅郡, 出示家禮一編云, 此往年僧寺所亡本也, 有
士人錄得, 會先生葬日攜來,因得之 Gia lễ phụ lục: Trần Thuần vân, Gia Định Tân mùi tuế quá Ôn Lăng,
Trang 26phụ chú hậu tự, Lý Đại Tông 李大琮 có ghi chép về việc này như sau: “Trước đây,
vào năm Kỷ Sửu niên hiệu Càn Đạo (1169), sách đã được làm xong ở Hàn Tuyền tinh xá, tuy nhiên các môn nhân không được thấy Trải qua 32 năm (tức năm 1201) khi chôn cất tiên sinh ở Đường Thạch, mới có người đưa ra Lại mất thêm 10 năm nữa (tức năm 1211) thì Liệu Tra Khê 廖槎溪 ở Quảng Châu mới cho san khắc làm sách học Đây là bản khắc sớm nhất.”16 Từ khi cuốn sách được đưa ra in khắc để phổ biến cho người học vào năm 1211, thì các học trò của Chu tử mới bắt đầu đưa
ra những ý kiến về lai lịch của cuốn sách này Gia lễ phụ lục chép lời của Lý
Phương Tử rằng: “Vào tháng 9 niên hiệu Càn Đạo thứ 5 (1169), tiên sinh gặp tang
mẹ là Chúc lệnh nhân, ngài cư tang tận lễ, tham chước cổ kim, nhân đó soạn xong các lễ về Tang, Táng, Tế, lại mở rộng thêm hai lễ Quan, Hôn, tập hợp lại thành một
cuốn sách, đặt tên là Gia lễ”17 Các học trò của Chu tử đa phần khẳng định rằng Gia
lễ chí nh xác là cuốn sách do Chu tử làm ra, lý do cuốn sách không sớm được ra mắt
cũng rất thống nhất Ý kiến của Hoàng Cán trong sách Niên phả được chép là trong
Gia lễ phụ lục như sau: “Tiên sinh đã làm xong cuốn Gia lễ, nhưng lại bị mất trộm
đi Đến khi tiên sinh ốm mất, sách ấy mới được đưa ra, và trở thành cuốn sách được lưu truyền ngày nay.”18
Và trongChu tử hành trạng Hoàng Cán cũng đưa ra những nhận định khẳng định sách là do Chu tử làm ra Cũng trong quyển Phụ lục này,
Dương Phục đưa ra ý kiến tương tự: “Sách Gia lễ khi mới làm xong thì bị mất trộm,
nên tiên sinh không kịp khảo đính lại Đến khi tiên sinh mất rồi, thì sách mới lại xuất hiện.” Tuy vậy cũng có một vài ý kiến khác, ví dụ như Lý Tính Truyền trong
tiên sinh quý tử Kí nh Chi tốt quận, xuất thị Gia lễ nhất biên vân, thử vãng niên tăng tự sở vong bản dã, hữu
sĩ nhân lục đắc, hội tiên sinh táng nhật huề lai, nhân đắc chi
16家禮附注後序: “初, 乾道己丑, 成於寒泉精舍, 雖門人未之見 越三十有二年, 唐石會葬,迺有持出者 又 十年,寥楂溪守廣,刊之學,視諸本為最早” Gia lễ phụ chú hậu tự: “Sơ, Càn Đạo Kỉ sửu, thành ư Hàn Tuyền
tinh xá, tuy môn nhân vị chi kiến Việt tam thập hựu nhị niên, Đường Thạch hội táng, nãi hữu trì xuất giả Hựu thập niên, Liệu Tra Khê thủ Quảng, san chi học, thị chư bản vi tối tảo.”
17家禮附錄: “李方子曰: 乾道五年九月, 先生丁母祝令人憂, 居喪盡禮, 參酌古今, 因成喪, 葬, 祭禮, 又推 之於冠, 昏, 共為一編, 命曰家禮” Gia lễ phụ lục: “Lý Phương Tử viết: Càn Đạo ngũ niên cửu nguyệt, tiên
sinh đinh mẫu Chúc Lệnh nhân ưu, cư tang tận lễ, tham chước cổ kim, nhân thành Tang, Táng, Tế lễ, hựu suy
chi ư Quan, Hôn, cộng vi nhất biên, mệnh viết Gia lễ”
18家禮附錄: 年譜: 黃榦云: “先生既成家禮, 為一行童竊以逃 先生易簀, 其書始出,今行於世.” Gia lễ phụ
lục: Niên phả: Hoàng Cán vân: “Tiên sinh kí thành Gia lễ, vi nhất hành đồng thiết dĩ đào, tiên sinh dịch trách,
kì thư thủy xuất, kim hành ư thế.”
Trang 27Chu tử ngữ tục lục 朱子語續錄 lại đưa ra một thông tin về năm ra đời của tác phẩm
như sau: “Sách Gia lễ của tiên sinh được làm xong vào năm Canh Dần niên hiệu
Càn Đạo (1170)” Về niên đại của tác phẩm, các học trò của Chu Hy hầu hết dựa vào mốc năm mẹ ngài mất là 1169, làm mốc quan trọng ra đời cuốn sách này Chí nh từ việc khẳng định niên đại ra đời của cuốn sách, mà các học giả về sau này càng có nhiều chứng cứ chứng minh cuốn sách không phải là do Chu tử làm ra
Mặc dù dưới đời Tống, với địa vị của Chu tử, không có một hồ nghi nào về việc cuốn sách có hay không đúng là của Chu Hy làm ra, nhưng đến năm Chí Chính
至正 thời Nguyên, khi Ưng Vũ Lâm làm Gia lễ biện 家禮辨 đã không ngần ngại
đưa ra những chứng cứ khẳng định cuốn sách này chỉ là ngụy tác Về sau có Khâu Tuấn 邱浚 đời Minh, Vương Mậu Hoành 王懋宏 đời Thanh cũng theo thuyết này
Sách Tứ khố toàn thư nhà Thanh lấy ý kiến của họ Vương đi theo chủ trương cuốn
sách là tác phẩm được ngụy tác:
Bản cũ đề là của Chu Hy đời Tống soạn Nay xét trong Bạch Điền tạp trứ của Vương Mậu Hoành có làm Gia lễ khảo chép rằng: “Gia lễ không phải là sách của Chu Tử …”… Xét sách Văn tập, Chu tử trong Thư trả lời Uông Thượng thư, Thư gửi Trương Kính Phu, Thư
gửi Lã Bá Cung, đã có những lời bàn luận qua lại rất rõ ràng về các sách Tế nghi, Tế thuyết
Thư gửi họ Uông, họ Lãviết vào các năm Nhâm Thìn, Quý Tỵ, thư gửi họ Trương thì không
rõ năm tháng, nhưng cũng khoảng thời gian đó mà thôi Năm Nhâm Thìn, Quý Tỵ cách năm
Canh Dần chừng 2,3 năm, nếu như sách Gia lễ đã làm xong, cớ gì lại tuyệt nhiên chẳng thấy
nhắc đến, mà lại chỉ nói đến Tế nghi, Tế thuyết? Trần An Khanh chép rằng: “Trước đã làm
Tế nghi, Tế thuyết, hết sức giản dị mà dễ hiểu, nhưng đến nay thì đã mất mất rồi.” Vậy thì rõ
ràng sách mất ở đây là Tế nghi, Tế thuyết, chứ không phải là cuốn Gia lễ Trong các sách
Văn tập, Ngữ loại, thì ngoài Gia lễ tự, còn lại thì chẳng nhắc gì đến Gia lễ nữa cả Chỉ có
trong Thư gửi Sái Quý Thông thì có nhắc đến việc soạn Gia lễ gồm 4 quyển tập hợp lại thành một, ấy là 4 trong số 6 quyển Gia lễ nằm trong Nghi lễ kinh truyện thông giải, chứ không phải quyển Gia lễ vẫn lưu truyền ngày nay Vào tháng 8 năm Giáp Dần ngài viết Bạt Tam
gia lễ phạm hậu, có nói rằng: “Ta vẫn thường muốn nhân sách của Tư Mã thị, tham khảo
thêm các nhà, soạn lược thêm bớt, cử cương trương mục, phụ thêm vào phía sau Thế nhưng trông lại thì mình cũng đã già yếu, chẳng thể kíp làm Những bậc quân tử về sau, ắt sẽ có bậc hoàn thành chí nguyện của ta!” Năm Giáp Dần cách năm Canh Dần 20 mươi năm, nếu năm Canh Dần đã làm xong sách rồi, thì Chu tử khi ấy dẫu có già lão, há có thể quên hẳn đi, để
Trang 28rồi lại có những lời như vậy? Trộm tìm nguyên cớ, thì đây hẳn là có chuyện có kẻ nhân lời
đề bạt cho Tam gia lễ phạm mà dựa hơi làm thành sách này Đại khái là tự phụ mình là “bậc
quân tử về sau” mà truyền tập, nên mới mượn danh là trước tác của Chu tử Lời tự (của sách
Gia lễ) cũng là dựa theo lời bạt trong Lễ phạm, nhưng lời ấy lại chẳng hợp với sách Gia lễ
Sách Gia lễ trọng thị Tông pháp, trong khi đó là điều mà các họ Trình, Trương, Tư Mã đều
chưa đạt tới, việc này trong lời tự tuyệt nhiên không nhắc tới, vì trong lời bạt kia cũng không
có Trong Niên phả có nói về việc nhân cư tang mẹ mà làm sách này, ấy hắn là có người dựa
theo ý mà phụ ích thêm thôi…”[89]
Từ những phản biện đầu tiên của Ưng Vũ Lâm cho đến những ý kiến được
quyết xác trong Tứ khố toàn thư, cuốn sách Gia lễ càng về sau càng nằm giữa lằn
gianh của sự ngờ vực Điều này khiến cho nhiều học giả hiện đại tiếp tục đi vào con đường tìm hiểu sự thực về lai nguyên của cuốn sách Trong một bài viết nhan đề
Chu tử Gia lễ nghiên cứu hồi cố dữ triển vọng《朱子家禮 》研究回顧與展望, tác
giả Chu Hâm 周鑫19 đã tổng kết đầy đủ các nghiên cứu về tí nh chân ngụy của tác
phẩm Gia lễ Trong đó, tác giả nêu ra những vấn đề mà các nhà nghiên cứu nổi trội
về mặt này như Tiền Mục, Thúc Cảnh Nam, Thượng Sơn Xuân Bình, Trần Lai, quan tâm bao gồm tư tưởng làm sách, hoàn cảnh làm sách và việc truy nguyên văn bản gốc của cuốn sách Cũng như những nhà khảo chứng học trước đây, các vị này
cũng lọc tìm những dấu vết về việc Chu tử đã từng trước tác cuốn sách tên là Gia lễ,
tuy nhiên các chứng cứ hoặc là chưa thuyết phục, hoặc là lại có sự dẫm chân lên nhau20 [70], có chăng chỉ là việc khẳng định tư tưởng làm sách về Gia lễ của Chu
Hy mà thôi Học giả Thúc Cảnh Nam [62] dựa trên việc khảo sát sự ra đời của hai
Tế, chỉ còn đề lại Thông lễ mà thôi Tiên sinh Thượng Sơn Xuân Bình lại cho rằng chứng cớ quan trọng nhất
chính là điều 109 trong quyển 90 sách Chu tử ngữ lục chép rằng “Đến năm ta 17,18 tuổi mới khảo đính được
các gia lễ, lễ văn cũng gọi là đầy đủ rồi.”…” (Chu Hâm, sđd) Nói thêm về khảo chứng của tiên sinh Trần Lai, ông cho rằng khi chứng cứ này chỉ chứng tỏ vào năm Ất Mùi niên hiệu Thuần Hy, khi ấy Chu tử 46 tuổi,
ông mới chỉ sửa Hương ước, Hương nghi của họ Lã thôi, chứ không phải là dấu mốc cho việc Chu tử làm
Gia lễ.(Trung Quốc cận thế tư tưởng sử nghiên cứu 中國近世思想史研究 , Tam liên thư điếm, tr143 – 163
(nguyên bài viết đăng trên “Bắc Kinh đại học học báo”, 3/1989).)
Trang 29tác phẩm Tế nghi và Gia lễ, sắp xếp các sự kiện vào đúng với các mốc thời gian, chứng minh sách Tế nghi là cuốn sách về Lễ được tu đính năm 1169, trước khi Chu
tử cư tang mẹ, còn sách Gia lễ chỉ được làm trong giai đoạn Thuẩn Hy 2 – 3 (1175
– 1176), và bị mất ngay sau đó khi còn ở dạng bản thảo Học giả Trần Lai tuy chưa quyết xác một thời điểm nhất định cho sự ra đời của cuốn sách, nhưng dựa vào những trao đổi qua lại của Chu Hy với hai học giả tâm giao đương thời là Trương Thức 張栻 và Lã Tổ Khiêm 呂祖謙, ông cho rằng, cho đến thời điểm hai vị trên qua đời (tức là vào năm Chu Hy 51, 52 tuổi), Chu Hy vẫn chưa biên soạn sách nào
có tên là Gia lễ
Nói về lịch sử quá trì nh khảo chứng sách Gia lễ, tác giả Chu Hâm đưa ra nhận
định rằng: “Nỗ lực xác lập địa vị chính thống cũng như một định bản hoàn mỹ của
khoảng thế kỷ 13 đến 15” Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằng, chí nh vì Gia lễ chưa
hoàn toàn xác lập được địa vị chí nh thống của mì nh, cho nên vấn đề về việc thành thư của sách vẫn còn kéo dài cho đến đời Thanh và cả sau này nữa
BảnTứ khố toàn thư phê phán sự hồ đồ của Chu Tại vì đã không gia công
khảo xét kĩ càng trước khi đưa sách ra, Hoàng Cán đồ chừng cũng có nghi ngờ nhưng lại không công tâm phán xét Nhận xét này tuy là dựa vào những lập luận ở trên, nhưng cũng có nét chủ quan của người viết Nếu đúng như lời Chu Tại, thì từ khi có được cuốn sách cho đến khi đưa cuốn sách ra vấn thế là khoảng 10 năm (1201 – 1211), hẳn với từng đấy thời gian không thể nói là Chu Tại không khảo xét
gì được Bên cạnh đó, cùng với sự công nhận của nhiều học trò vào hàng cao đệ, cũng không thể nói là cuốn sách có những nội dung đi ngược lại với tư tưởng của Chu Tử, trong khi bản thân Chu Hy về sau này cũng có những thay đổi về tư tưởng
Có lẽ chí nh vì sự băn khoăn đó, mà mặc dù không có được sự xác nhận trực tiếp, nhưng việc cuốn sách được lưu hành và có địa vị không nhỏ vẫn chứng minh quan điểm nghiêng về sự chính thống của sách
Trang 301.3 Quá trình lưu truyền và phát triển trong lịch sử
1.3.1 Truyền bản của Gia lễ
Đã có khá nhiều những nghiên cứu đưa ra các hệ thống văn bản sách Gia lễ
được lưu truyền kể từ khi cuốn sách xuất thế Tùy vào cách thức phân loại hệ thống
tư liệu, mà mỗi khảo cứu đưa ra cách nhìn khác nhau Có thể kể đến như những
khảo cứu trong Chu tử toàn thư đã phân chia hệ thống văn bản theo số quyển, bao
gồm bản 5 quyển, bản 7 quyển, bản 10 quyển, bản không phân quyển, Tác giả Lư
Nhân Thục 卢仁俶 trong Chu tử Gia lễ dữ Hàn Quốc chi Lễ học21朱子家礼与韓 国之礼学 căn cứ vào những khảo cứu của các học giả đi trước về vấn đề văn bản
học tác phẩm Gia lễ của Chu Hy, lại chia hệ thống văn bản này thành hai mảng lớn
là Hệ thống nguyên bản, và Hệ thống theo bản Gia lễ nghi tiết của Khâu Tuấn
(Minh) Trong đó, hệ thống thống nguyên bản lại chia thành hai mảng Hệ thống văn
bản đã thất lạc, và Hệ thống văn bản hiện tồn Trong Luận văn Chu tử “Gia lễ”
nghiên cứu 朱子《家禮》研究 người viết Tôn Hoa 孫华 đã chia hệ thống sách Gia lễ được in khắc theo thời kì : bản khắc thời Tống, bản khắc thời Nguyên, Minh
Và nhiều khảo cứu của những nhà nghiên cứu khác như Thúc Cảnh Nam 束景南,Thượng Sơn Xuân Bình 上山春平, Cao Sư Trọng Hoa 高师仲华, là cơ
sở quan trọng cho các nghiên cứu liệt kê ở trên Dựa vào những thành quả nghiên
cứu trên, chúng tôi xin giới thiệu về những truyền bản tiêu biểu của sách Gia lễ tại
Trung Quốc
Những văn bản sách Gia lễ sớm nhất được biết cho đến nay hầu như đã không
còn
- Quyển Gia lễ khắc in sớm nhất được biết đến là bản in Ngũ Dương – Quảng
Châu 五羊–廣州 do Liệu Đức Minh 廖德明 cho san hành vào năm Tống - Gia Định 嘉定 4 (1211), ngay sau khi Trần Thuần 陳淳 có được cuốn sách này, và
21Bắc Kinh: Nhân dân văn học xuất bản xã, 2000 北京: 人民文学出版社, 2000
Trang 31cuốn sách được in để dùng vào việc dạy học Việc này đã được Lý Phương Tử
nêu rõ trong Gia lễ phụ chú hậu tự22 Bản này hiện nay đã thất lạc
- Tiếp theo sau bản in của Liệu Đức Minh, theo lời của Hoàng Cán 黃榦 trong
Thư Hối Am tiên sinh Gia lễ hậu 書晦庵先生家禮後 thì Triệu Sư Thứ 趙師恕
khi làm chủ quản ở Hàng Châu 杭州 đã cho in sách này vào năm Tống - Gia Định 嘉定 9 (1216) Bản này hiện nay không còn
- Môn nhân của Chu tử là Dương Phục 楊復 đã dựa trên bản in ở Ngũ Dương để làm phụ chú, bản này cũng được cho in ở Quảng Châu năm Tống - Thuần Hựu nguyên niên (1241) Bản in năm 1241 hiện nay đã mất, tuy nhiên về sau có khá
nhiều văn bản Gia lễ được in khắc dựa trên bản phụ chú này Tiêu biểu là bản
được Thượng Nhiêu Chu Phục 上饒周復 viết bạt và cho in san vào năm Tống - Thuần Hựu 5 (1245)
- Theo ghi chép trong Quận trai độc thư chí – Phụ chí郡齋讀書志 – 附志 thì
còn có một bản Gia lễ gồm 5 quyển do Triệu Sùng Tư cho khắc in ở Bì nh
Hương, không rõ năm in Bản Gia lễ này có chép tự, bạt của các học giả đương
thời như Phan Thời Cử 潘時舉, Lý Đạo Truyền 李道傳, Hoàng Cán 黃幹, Liệu Đức Minh 廖德明, Trần Quang Tổ 陳光祖,tiếc rằng bản này cũng đã thất truyền
- Ngoài ra còn một văn bản nữa do chí nh Trần Thuần cho khắc san ở Lâm Chương 臨漳, không rõ năm in và hiện nay cũng đã thất lạc
- Cho đến nay, văn bản sớm nhất hiện còn là bản Phụ chú của Dương Phục gồm 5 quyển, có lời bạt của Chu Phục, in năm Tống – Thuần Hựu 5 (1245) đã nói ở trên Theo lời bạt của Chu Phục, ta thấy văn bản này đã nhặt những phần phụ
chú của Dương Phục dọc theo toàn văn bản Gia lễ và đặt nó ra sau sách, nhằm
mục đích “tránh gián đoạn bản thư của Văn Công”
22Đã dẫn ở trên
Trang 32Theo khảo cứu trong Chu tử toàn thư thì bản Dương Phục phụ chú, Chu Phục đề bạt đã qua tay ba đại gia tàng thư nhà Thanh trứ lục là Hoàng Phi Liệt 黃丕烈, Uông Thổ Chung 汪土鐘 và Dương Thiệu Hòa 楊紹和, rồi đến Truyền Tăng Tương 傳增湘,và hiện còn lưu ở Thư viện Quốc gia, từ quyển 1 đến quyển 3
lại có phối thêm ảnh của thời Thanh vào Cũng theo thống kê trong Hiệu điểm của
Chu tử toàn thư, nếu xét riêng bản chia 5 quyển, có khá nhiều bản in do các học giả
đời sau làm được lưu hành rộng rãi như:
+ Bản Phụ chú của Dương Phục, hiện còn lưu ở Thư viện Quốc gia, Thư viện Thượng Hải,
+ Bản của Chuyết Tu Trai 拙修齋 in vào thời Thanh - Ung Chí nh 雍正 10 (1732)
+ Bản Tứ khố toàn thư 四庫全書, niên thời Thanh – Càn Long 乾隆 46 (1781) + Bản của Vọng Tam Ích Trai 望三益齋 san hành năm Đồng Trị 同治 4 (1865)
+ Bản của họ Hồng khắc Hồng thị công thiện đường tùng thư
洪氏公善堂叢書 năm Quang Tự 光緒 6 (1880)
+ Bản do Tư Hiền giảng xá 思賢講舍 san khắc năm Quang Tự 光緒 17 (1891) +
Càng về đời sau thì những văn bản Gia lễ càng không giữ nguyên trạng, thêm
vào đó là những phần tăng bổ, bổ chú của các lễ học gia đời sau Tiêu biểu có thể kể đến như:
- Văn công gia lễ tập chú文公家禮集注 san khắc thời Nguyên, được chia
thành 10 quyển nhỏ Đầu sách đề là Môn nhân Tần Khê Dương Phục phụ
門人秦溪楊復附注後學復軒劉垓孫增注 Bản này còn có lời bạt của Tra Thận Hành 查慎行.Bản này có thêm nhiều đồ hì nh xen kẽ ngay trong
chính văn của văn bản
Trang 33- Về sau, Lưu Chương dựa theo bản tăng chú của Lưu Cai Tôn, phụ thêm
phần bổ chú, làm thành sách Văn công tiên sinh gia lễ 文公先生家禮 cho
khắc in vào đời Minh Nội dung cơ bản chia làm 5 quyển, đầu sách thêm 1
quyển Gia lễ đồ 家禮圖 , cuối sách thêm 1 quyển Thâm y khảo 深衣考, tổng cộng là 7 quyển Còn 1 bản được chia làm 10 quyển
Hai cuốn trên cơ bản vẫn đi theo bản Phụ chú của Dương Phục và phát triển lên
- Đến thời Nguyên, niên hiệu Chí Chí nh 至正 nguyên niên (1341), Hoàng
Thụy Tiết 黃瑞節 làm sách Chu tử thành thư 朱子成書, tập hợp một số tác phẩm nổi tiếng của Chu Tử, trong đó có sách Gia lễ Bản in sớm nhất
hiện còn được nhắc đến là bản in thời Minh, niên hiệu Cảnh Thái 景泰 1 (1450)
Và nhiều văn bản Gia lễ khác, với khác biệt cơ bản là ở cách phân chia số quyển Trong đó, truyền bản Gia lễ được cố định trong sách Tính lý đại toàn là
một trong số những văn bản được nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc và đặc biệt là những nhà nghiên cứu Nhật Bản, Triều Tiên quan tâm vì tí nh chất phổ cập của nó trong khu vực những nước đồng văn đương thời
Từ thời Minh trở về sau, với định hình trước đó của văn bản Gia lễ, các nhà
Lễ học liên tục cho ra đời những bộ sách xiền phát Gia lễ của Chu tử Học giả
Dương Chí Cương trong bài viết Minh Thanh thời đại Chu tử Gia lễ đích phổ cập
Hóa (1464 – 1487) nhà Minh, Khâu Tuấn soạn Văn công gia lễ nghi tiết gồm có 6
quyển, đây là một bản chú thí ch cho Chu tử Gia lễ, có ảnh hưởng rất lớn Ngoài ra Thang Thích nhà Minh cũng soạn Văn công gia lễ hội thông, gồm 10 quyển, hiện
còn lại bản khắc của Thang thị chấp trung đường năm Cảnh Thái nguyên niên
(1450); Ngụy Đường nhà Minh soạn Văn công gia lễ hội thành, gồm 8 quyển, hiện
23
Kinh học nghiên cứu tập san, kỳ 9, 10.2010, tr29-50, Cao Hùng sư phạm đại học Kinh học nghiên cứu sở 經学研究集刊, 第九期, 2010 年 10 月, 頁 29 – 50,高雄師範大學經學研究所
Trang 34còn bản khắc năm Gia Tĩnh 36 (1557) Những bản chú thí ch, tăng san liên quan đến
Chu tử Gia lễ dưới hai triều đại Minh – Thanh vô cùng nhiều, những biên soạn
cùng kiểu xung quanh vấn đề Gia lễ hoặc “Tứ lễ” Quan, Hôn, Tang, Tế cũng vô số
kể.” [66] Trong đó phải kể đến giá trị của bộ sách Văn công gia lễ nghi tiết, tác giả
Lư Nhân Thục 卢仁俶 đưa ra nhận xét về sách này như sau: “Khâu Tuấn nhà Minh
làm sách Gia lễ nghi tiết có 8 quyển, nội dung là nguyên bản cuốn Gia lễ và bổ
sung thêm các phần tạp lục, nghi tiết, khảo chứng cùng với các lễ tục nhà Minh Sau
khi Gia lễ nghi tiết được san hành, sách này đã thay thế nguyên bản Văn công gia
lễ và được phổ biến rộng rãi, thậm chí nguyên bản Gia lễ cũng hiếm còn thấy được lưu hành nữa.” [60] Càng về sau thì những sách về Gia lễ phỏng theo bộ Nghi
tiếtcủa Khâu Tuấn càng được chuộng, có lẽ vì đây cũng là một mảnh đất màu mỡ để
các học giả xiển phát kiến văn Lễ học vốn bản thân nó vừa sâu rộng lại thường xuyên biến đổi
Tuy nhiên không cần phải đến khi các nhà Lễ học sau này làm các sách phụ lục, bổ chú, tập chú, nghi tiết, cho cuốn sách, mà ngay từ những bản in đầu tiên đã
có sai lệch về văn bản mà học giả sau này đánh giá là “làm mất đi diện mạo ban đầu
của sách Gia lễ” Đây là nhận định của Thúc Cảnh Nam 束景南 trong bài viết Chu
Hy Gia lễ chân ngụy khảo biện 朱熹〈家礼〉真伪考辨 thông qua việc khảo sát
những ghi chép của các học trò Chu tử Trần Thuần khi có được văn bản Gia lễ từ
tay Chu Kính Chi đã có những đánh giá về nguyên bản sách này như sau:
Lúc bấy giờ chỉ có người con út của Tiên sinh là ngài Kính Chi giữ lại được một thiên Thời
tế nghi, vẫn thường dùng trong nhà Đến năm Tân Mùi niên hiệu Gia Định, từ Nam Cung về
có ghé qua Ôn Lăng, gặp ngài Kinh Chi đưa ra cho xem cuốn sách Gia lễ Sách chia làm 5
thiên, Thông lễ ở đầu tiên, rồi đến bốn lễQuan, Hôn, Tang, Tế xếp sau, trong mỗi thiên thì lại tùy theo việc mà phân thành các chương, trong mỗi chương lại phân chia thành các cương mục Trong sách này nhiều khi thấy những chỗ khuyết văn chưa kịp bổ sung, nhưng chỗ câu văn còn thất thoát chưa được bù đắp, những chữ dùng sai chưa được cải chính 24
[62]
24 是時只于先生之季子敬之傳得《時祭儀》一篇, 乃其家歲時所常按用者… 嘉定辛未, 自南宮回, 過溫陵, 值敬之倅郡, 出示《家禮》一編… 為篇有五, 通禮居一, 而冠 , 昏, 喪, 祭四禮次之,
Trang 35Về cơ bản, diện mạo cuốn sách có 5 thiên xếp tuần tự theo thứ tự Thông lễ,
Quan, lễ, Hôn lễ, Tang lễ, Tế lễ, và một đặc điểm không thể bỏ qua đó là sự thô sơ,
thiếu chỉnh lí của văn bản Trần Thuần trong Gia lễ bạt đã đưa ra lời giải thích như
sau:
“Tiên sinh làm ra sách này, đang mới ở mức định bản sơ thảo, thế nhưng lại bị một tăng đồng lấy trộm mất Đến khi Tiên sinh mất thì di thảo này mới xuất hiện, chẳng kíp được Tiên sinh chỉnh sửa, thế nên trong đó còn có những chỗ chưa được định thuyết.”25
Chí nh vì hiện trạng trên mà các học giả về sau có những thay đổi, cải biến về mặt văn bản:
“Bản Ngũ Dương ra đời đầu tiên, là văn bản có nhiều sai sót nhất Bản Dư Hàng khảo đính
lại bản Ngũ Dương, cái gọi là chương Thời tế, chính là lấy phần nghi tiết trong nhà Tiên sinh
vẫn dựa vào để tế bổ sung vào, thành ra định thuyết Lại đưa các phần Tham thần đặt lên trước Giáng thần Nay xét, bản Dư Hàng bổ sung thêm, đến như hai nghi tiết Đông chí, Lập
xuân, trước đây đã từng được đích tai nghe lời Tiên sinh dạy rằng hai tiết ấy giống như hai lễ
tế Đế, Hợp nên không làm, nên bây giờ theo bản ý của Tiên sinh mà loại bỏ đi ”26
Trong nghiên cứu đã dẫn trên của Thúc Cảnh Nam, ông đưa ra nhận xét: “Cảo
bản Gia lễ mà Trần Thuần được xem chỉ phân thành các thiên chứ không chia thành
quyển, cũng không thấy nói đến đồ hì nh Bản sớm nhất còn lại đến nay là bản khắc đời Tống, có phân Thông lễ 1 quyển, Quan lễ 1 quyển, Hôn lễ 1 quyển, Tang lễ 5 quyển, Tế lễ 2 quyển, lại có thêm đồ hình, đương nhiên là sách do hậu nhân làm
Đến bản khắc thời Nguyên lại trùng biên lại số quyển, trích phần Thâm y chế độ ra thành 1 quyển lấy tên là Thâm y khảo, lại đưa các đồ hì nh ra lập riêng thành 1 quyển, làm mất đi hoàn toàn diện mạo cũ của sách Nội dung thậm chí cũng có chỗ
thêm bớt cải biến ”
于篇之內各隨事分章,于章之中又各分綱目…其間亦尚有闕文而未及補,脫句而未及填與訛舛字之未獲
正者, 或多見之
25家禮跋: “先生…別為是書…方尔草定, 即為僧童窃去 至先生沒, 而後遺編始出, 不及先生一修, 其間猶有未定之說.”
26 家禮跋:“五羊本先出, 最多訛舛 余杭本再就五羊本為之考訂, 所謂時祭一章, 乃取先生家歲時常用之儀入之,惟此為定說, 并栘其諸參神在降神之前 今按, 余杭本復精加校, 至如冬至, 立春二儀, 向嘗親聞先生語, 以為似禘祫而不舉, 今本先生意刪去 ”
Trang 361.3.2 Sựảnh hưởng của Gia lễ trong khu vực Đông Á
Gia lễ của Chu Hy ở Trung Quốc có ảnh hưởng to lớn về văn hóa, tư tưởng,
chí nh trị, phong tục tập quán của toàn xã hội Không chỉ ngừng lại ở tầm ảnh hưởng tại Trung Quốc, mà về sau, cùng với sự truyền bá của Chu tử học đến các nước đồng văn trong khu vực như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, cuốn sách này cũng ngày càng khẳng định được địa vị của mình
Tại Nhật Bản, từ trước thời Tống, vào khoảng giai đoạn Hán – Đường, giữa Nhật Bản và Trung Quốc đã có sự giao lưu và trao đổi học thuật Truyền thống này kéo dài hàng mấy thế kỷ, cùng với đó là hàng loạt những đoàn trí thức Nhật Bản, Trung Quốc lần lượt đi về giữa hai nước để nhằm du nhập và truyền bá tư tưởng cũng như văn hóa Hoa Hạ Theo học giả 馮儁熙 [78]chỉ ra rằng, đến thời Nam Tống, những đoàn tăng lữ được cử sang Trung Quốc học tập về Tịnh độ tông và Thiền tông, đồng thời đã thu nhận những kiến thức về Chu tử học Từ đây, cùng với
sự tiếp nhận chủ động của các Thiền tăng trên tinh thần kết hợp Nho - Phật, Chu tử học bắt đầu có những bước thâm nhập và phát triển tại Nhật Bản Đặc điểm của Chu
tử học tại Nhật Bản vào thời kỳ đầu là sự phối kết hợp với Phật giáo, được giới tăng
lữ nghiên cứu, giảng tập và phát huy thành quả Vào thời Edo, Phật giáo suy thoái, Chu tử học trở nên hưng thịnh và được nhà Mạc Phủ (Bakufu) lấy làm quan học, là đại biểu cho giai tầng nắm quyền trong hệ thống chính trị lúc bấy giờ, và bắt đầu phát sinh những học phái độc lập về Chu tử học Có thể coi Nho học ở Nhật Bản chủ yếu là Chu tử học, về sau có thêm học phái về Cổ học và Dương Minh học, nhưng chỉ là tư học không mang tính chính thống Cùng với sự phát triển và địa vị
to lớn của Chu tử học, tác phẩm Gia lễ cũng có những ảnh hưởng nhất định ở Nhật Bản Học giả Trì Điền Ôn 池田溫 (Ikeda On) khi đề cập đến sự phổ cập của Văn
công Gia lễ tại Đông Á đã đưa ra những thống kê và nhận xét về lượng sách Gia lễ
tại Nhật Bản Trong đó ông nhận định rằng: Giáo học chi phối Nhật Bản cận đại
vào giai đoạn thời đại Đức Xuyên (Edo) chính là Chu tử học, cho nên những trứ tác
của Chu tử cũng được xuất bản rất nhiều ngoại trừ Tứ thư tập chú , sách liên
Trang 37quan đến Tiểu học chiếm đa số, thứ đến là Cận tư lục, thứ nữa là Gia lễ Ngoài
những san bản của sách Gia lễ, các học giả Nhật Bản cũng có nhiều thành quả trong mảng gia lễ, thể hiện ở lượng trước tác về gia lễ của họ: Gia lễ sao lược 家禮抄略 của 稻葉正信, Gia lễ tang lễ sao 家禮喪禮鈔, Văn công gia lễ thông khảo, 文公家禮通考 của 室直清,Gia lễ nghi tiết khảo 家禮儀節考 của 新井君美, Gia
lễ bút ký 家禮筆記, Gia l ễ huấn mông sớ 家禮訓蒙疏 của 若林進居, Gia lễ chư
đồ khảo 家禮諸圖考, Gia lễ giảng nghĩa 家禮講義 Chu tử gia lễ bút ký
朱子家禮筆記, Chu văn công gia lễ tang lễ lược tư chú 朱文公家禮喪禮略私注,
Văn công gia lễ nghi tiết chính ngộ 文公家禮儀節正誤 của 彥豬飼博,
Cũng như Nhật Bản, Triều Tiên tiếp nhận Gia lễ của Chu Hy thông qua tiếp
nhận Chu tử học Ngay từ khoảng giữa thế kỷ 13, tức là sau khi Chu Hy mất khoảng mấy chục năm, các học giả ở đây đã có ý thức chủ động tiếp nhận học phái của ông một cách quan phương và được cổ vũ nhằm cải biến xã hội, khi ấy vẫn còn nằm dưới triều Cao Ly Khi Chu tử học vào Cao Ly, Phật giáo ở nơi này đang trong giai đoạn lũng đoạn cả về mặt chính trị và xã hội, từ đây nảy sinh một cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa Nho giáo (Chu tử học) và Phật giáo Theo như nghiên cứu của học giả Trương Phẩm Đoan 張品端[75] đã chỉ ra rằng, để Chu tử học thiết lập được chỗ đứng trong xã hội Cao Ly và dần tạo ra những biến chuyển ở đây, các học giả Chu
tử học đã dựa chủ yếu vào việc xiển phát chí nh tác phẩm Gia lễ Một mặt họ lên án,
bóc trần tí nh nguy hại và hư huyễn của Phật giáo, một mặt họ đưa Gia lễ của Chu tử
vào để dần dần thay thế phương thức sinh hoạt bằng Phật giáo truyền thống ở bán đảo này hơn 1000 năm qua Đời Cung Nhượng vương 恭讓王 2 (1390), chính phủ Cao Ly đưa cuốn sách này vào làm tiêu chuẩn thực hành gia lễ cho tầng lớp đại phu,
sỹ, thứ nhân, về sau cả gia đình bình thường cũng đều lấy Văn công Gia lễ làm tiêu
chuẩn Đến năm 1392, Lý Thành Quế 李成桂 phế Cung Nhượng vương, lập nên nhà nước Triều Tiên của họ Lý, lấy Nho học, chủ yếu là Chu tử học làm hình thái ý
thức của xã hội và quốc gia, lấy Chu tử Gia lễ làm nghi tắc hành lễ, hoàn toàn trừ
bỏ Phật giáo Từ đây, các hiến chương pháp điển của nhà nước đều có tham cứu qua
Trang 38cuốn sách này Chu tử học từ Nam Tống truyền tập vào Cao Ly, trải trên 200 năm đến Triều Tiên đã có những đại biểu nổi trội như Lý Hoảng – Lý Thoái Khê 李退溪(1501-1570), Lý Nhĩ – Lý Lật Cốc 李栗谷(1536-1584), hình thành nên học phái Thoái Khê học và Lật Cốc học, thậm chí có ảnh hưởng lớn đến các nước trong khu vực như Nhật Bản Các học giả Triều Tiên dần dần đi sâu vào việc nghiên cứu Chu tử học, Tí nh lý học, làm thành các học phái, phân chia và nghiên cứu Lễ học nói riêng hết sức uyên thâm Thành quả của các học giả Triều Tiên có thể kể đến
như: Gia lễ khảo ngộ 家禮考誤 của Kim Lân Hậu 金麟厚, Tang tế lễ vấn đáp 喪祭禮問答, Chu tử thư tiết yếu 朱子書節要 của Lý Hoảng 李滉 có ảnh hưởng rất lớn đến Chu tử học Triều Tiên và Nhật Bản, Tế lễ nghi 祭禮儀 của Lý Nhĩ
李珥 , Gia lễ tập lãm bổ chú 家礼辑览补注, Ngũ phục duyên cách đồ
五服沿革图, Thâm y chế độ 深衣制度 của Trịnh Cầu 郑逑 Gia lễ tật thư 家礼疾书 của Hứa Mục 许穆, Gia lễ chú thuyết 家礼注说, Gia lễ vấn đáp 礼问答 của Tống Dực Bật 宋翼弼, Gia lễ tập lãm 家礼辑览, Nghi lễ vấn đáp
疑礼问解, Tang lễ bị yếu 丧礼备要 của Kim Trường Sinh 金长生, Gia lễ khảo
chứng 家禮考證 của Tào Hiếu Ích 曹好益,Gia lễ tập giải 家禮輯解 của Tân Mộng
Tham 辛夢參, Càng về sau, những tác phẩm dạng này càng nhiều, cho thấy một sự
phát triển vượt trội trong trước tác và nghiên cứu gia lễ tại Triều Tiên
Qua một thời kỳ Bắc thuộc dài hơn 10 thế kỷ, Việt Nam là một trong những nước từ sớm đã chịu ảnh hưởng của nền văn minh, văn hóa Trung Quốc Phong tục tập quán liên quan đến các lễ Quan, Hôn, Tang, Tế sớm cũng đã được du nhập
Trong mục Lễ biện (Bàn về lễ), sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ có nhắc
đến việc này: “Nước Việt ta từ thời nội thuộc, dùng theo lễ nhà Hán” [13] Cùng với
sự giải phóng đất nước, yêu cầu xây dựng một kết cấu nhà nước theo chế độ quân chủ, giới cầm quyền Việt Nam cũng đã chủ động tiến hành những tiếp thu học thuyết chí nh trị, xã hội của Nho gia Có lẽ cũng như tình hình chung của các nước trong khu vực, vào giai đoạn nhà Hậu Lý của Việt Nam, Phật giáo là quốc giáo
Trang 39chí nh thức, các nhà sư, tăng lữ cũng là những nhà hoạch định chí nh trị và tham gia
vào công tác triều chính Cho đến nhà Trần, trong sách Đại Việt sử ký toàn thưcó chép về việc sử dụng Tứ thư, Lục kinh trong các kỳ thi minh kinh tuyển sĩ, điều này
chứng tỏ học thuyết và trước tác của Chu Hy đã có mặt và ảnh hưởng trực tiếp đến học giới quan phương ở Việt Nam Khi Chu tử học vào Việt Nam, cũng chính là lúc Phật giáo đang dần mất đi địa vị chí nh trị, đây là cơ hội tốt, cũng như một mảnh đất
đã được chăm sóc kỹ lưỡng để Nho học của Chu tử có cơ hội phát triển Gia lễ cũng
có chỗ đứng cùng với việc sùng chuộng Chu tử học Hiện nay chưa có ghi chép gì
về việc cho in khắc một cách độc lập Văn công Gia lễ ở Việt Nam, nhưng về mặt
triều đình, không ít lần cuốn sách được đem ra làm chuẩn mực trong các quy định
về điển chương chế độ Các học giả Việt Nam cũng nắm bắt được nhu cầu tì m hiểu
bộ phận gia lễ này của đông đảo học giới cũng như quần chúng nhân dân, từ đó cho
ra đời một loạt các tác phẩm thuộc về chủ đề này, nổi bật gồm có: Gia lễ tiệp kính của Ngô Tiểu Doãn, Hồ thượng thư gia lễ 胡尚書家禮 của Hồ Sỹ Dương, Thanh
Thận gia lễ đại toàn 清慎家禮大全, Thọ Mai gia lễ của Hồ Gia Tân 胡嘉賓, Tứ lễ
lược tập 四禮略集 của Bùi Tú Lĩnh 裴秀嶺, Tam lễ tập yếu 三禮輯要 của Phạm
Phủ, Văn công gia lễ tôn chân 文公家禮存真 của Đỗ Huy Uyển 杜輝琬, Tang lễ
bị kí 喪禮備記, Tang tế khảo nghi 喪祭考疑
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chu Hy 朱熹(1130 – 1200) là nhà tư tưởng nổi bật thời Nam Tống, cùng với
sự khai mở của hai bậc đại gia là Trì nh Hạo - Trình Di, Chu Hy được coi là tập đại thành, kết hợp, chỉnh lý và xiển phát học thuyết của Nho gia, tạo nên học phái Lý học, có ảnh hưởng to lớn đến Nho học đời sau Với mối quan tâm đặc biệt đến Lễ học, trong các trước tác cũng như trao đổi học thuật của mì nh, Chu Hy không í t lần thể hiện các quan điểm cá nhân về tì nh hì nh Lễ học băng hoại đương thời Cùng với
Trang 40tư tưởng muốn khôi dựng, bao gồm phục hồi, phát huy cổ lễ kết hợp với cân nhắc những lễ tục đương thời, Chu Hy đã để lại những trước tác Lễ học quan trọng.Trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động, việc thực hành lễ không chỉ còn là đặc quyền của tầng lớp trí thức và quý tộc trong xã hội, cùng với sự thâm nhập sâu của một số tôn giáo (đặc biệt là Phật giáo) và sự giao lưu tiếp biến phong tục tập quán với các vùng lãnh thổ phi Hán tộc, yêu cầu chấn chỉnh lại phong tục tập quán, cùng với nó
là sự thiết lập lại địa vị của Nho gia đối với chí nh trị cũng như xã hội là hết sức
quan thiết Cuốn sách Gia lễ ra đời một phần từ sự trăn trở của chí nh bản thân tác giả, nhưng cũng không nằm ngoài xu hướng trên
Cuốn sách Gia lễđược đưa đến tay con trai của Chu Hy là Chu Tại vào năm
1201, xuất thế sớm nhất vào năm 1211, tức là 11 năm sau khi Chu Hy mất Với sự không được công nhận của chính tác giả, cùng với đó là những biện luận thiếu chặt chẽ về thời điểm cũng như hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, mà từ thời Nguyên trở đi, bắt đầu từ Ưng Vũ Lâm, cuốn sách đã dấy lên nghi ngờ về tí nh chân xác của nó Khâu Tuấn đời Minh, sau đó là Vương Mậu Hoàng đời Thanh, ngay cả trong sách
Tứ khố toàn thư cũng đã quy kết Gia lễkhông phải chân đích là tác phẩm của Chu
Hy Tuy nhiên, điều này không hề ảnh hưởng đến sự phổ biến của tác phẩm Ngay sau khi xuất thế, cuốn sách liên tục được cho khắc in, bản in sớm nhất hiện còn có thể kể đến là bản khắc kèm phụ chú của Dương Phục, in năm Thuần Hựu 5 (1245)
Từ đó về sau, hàng loạt những tác phẩm về gia lễ ra đời dựa trên cuốn sách này,
trong đó, Gia lễ nghi tiết của Khâu Tuấn có lẽ là cuốn sách thành công nhất Cùng
với việc truyền bá Chu tử học ra các nước trong khu vực như Nhật Bản, Việt Nam,
Triều Tiên, cuốn sách Gia lễ cũng tạo ra tầm ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa,
phong tục, tập quán của những nước này Tuy sự tiếp nhận và sử dụng với mục đích
và hoàn cảnh không hoàn toàn giống nhau, nhưng sách Gia lễ có thể coi là gốc rễ
cho bộ phận gia lễ ở những nơi này đạt được những thành quả nhất định trong trước
tác và nghiên cứu
Từ những giới thuyết trên, luận văn đi vào giới thiệu về nội dung cũng như những tư tưởng lễ học được thể hiện thông qua cuốn sách