Cuốn tiểu thuyết Linh Sơn mang màu sắc du ký rõ nét, nếu như trong tiểu thuyết Tây Du Ký, nhân vật Đường Tăng và ba đồ đệ đã phải lội suối, băng rừng muôn vàn cực nhọc để vượt qua một q
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN CÔNG CẢNH
DỊCH CHUYỂN KHÔNG GIAN TRONG TIỂU
THUYẾT LINH SƠN CỦA CAO HÀNH KIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Chuyên ngành: Văn Học Nước Ngoài
Hà Nội-2013
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN CÔNG CẢNH
DỊCH CHUYỂN KHÔNG GIAN TRONG TIỂU
THUYẾT LINH SƠN CỦA CAO HÀNH KIỆN
Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành văn học nước ngoài
Mã số:602230
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Trần Lê Bảo
Hà Nội-2013
Trang 33
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
5 Phương pháp nghiên cứu 15
6 Đóng góp của luận văn 16
7 Cấu trúc của luận văn 16
NỘI DUNG 17
CHƯƠNG 1: TỪ LÍ THUYẾT DỊCH CHUYỂN KHÔNG GIAN ĐẾN DỊCH CHUYỂN KHÔNG GIAN TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN 17 CỦA CAO HÀNH KIỆN 17
1.1 Không gian và sự dịch chuyển không gian nghệ thuật 17
1.1.1 Khái niệm “không gian nghệ thuật” 17
1.1.2 Trường phái địa lí – lịch sử và trường phái Hình thức Nga với vấn đề “sự dịch chuyển không gian” 20
1.1.2.1 Trường phái hình thức Nga 20
1.2 Từ dịch chuyển không gian trong văn học dân gian, du ký đến sự dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn 25
1.2.1 Dịch chuyển không gian trong thần thoại, sử thi, cổ tích 26
1.2.1.1 Sự mở rộng trục không gian theo tư duy nhị nguyên 26
1.2.1.2 Dịch chuyển tuyến tính 31
1.2.2 Dịch chuyển không gian trong thể tài du kí 33
1.3 Khái quát về dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn 38
1.3.1 Dưới góc nhìn văn hóa 39
Trang 44
1.3.2 Dưới góc nhìn trần thuật 43
Tiểu kết: 45
CHƯƠNG 2 46
SỰ DỊCH CHUYỂN CỦA TÂM VÀ THÂN GIỮA KHÔNG GIAN 46
HƯ VÀ THỰC 46
2.1 Hành trình chiếm lĩnh không gian của nhân vật 46
2.1.1 Trạng thái chiếm lĩnh trong không gian vật lí 46
2.1.2 Trạng thái chiếm lĩnh trong không gian văn hóa – tư tưởng 51
2.1.3 Trạng thái chiếm lĩnh trong không gian tâm linh 55
2.2 Phương thức và phương tiện dịch chuyển 57
2.2.1 Dịch chuyển trong không gian hiện thực 57
2.2.2 Dịch chuyển trong không gian tâm lí 62
2.3 Cấu trúc sự dịch chuyển không gian trong Linh Sơn 64
2.3.1 Dịch chuyển một chiều 64
2.3.2 Dịch chuyển đa chiều 66
2.4 Tính đa nghĩa của sự dịch chuyển không gian trong Linh Sơn 67
2.4.1 Tìm về thiên nhiên như một phương thức trốn chạy hiện thực 68
2.4.2 Tìm về cội nguồn văn hóa, lịch sử 69
2.4.3 Hành trình giác ngộ tâm linh 74
2.4.3.1 Con người tìm sự an lạc trong tôn giáo 74
2.4.3.2 Tính không hay là chủ nghĩa hư vô 76
Tiểu kết: 78
CHƯƠNG 3 80
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG VÀ TỔ CHỨC KHÔNG – THỜI GIAN TRONG LINH SƠN 80
3.1 Thời gian đa tuyến, đa chiều 80
3.1.1 Thời gian hành trình 80
Trang 55
3.1.2 Thời gian tự sự 81
3.2 Các kiểu không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn 85
3.2.1 Không gian thiên nhiên 86
3.2.2 Không gian sinh hoạt 87
3.2.3 Không gian tâm lí 89
3.2.4 Không gian Thiêng 90
3.3 Nghệ thuật kỳ ảo hóa không gian 93
3.3.1 Hiện thực hóa không gian ảo 93
3.3.2 Nhòe mờ hóa ranh giới giữa thực và ảo 94
3.3.3 Không gian khép kín 97
3.3.4 Không gian đối lập 100
3.4 Nghệ thuật biểu trưng không gian 102
3.4.1 Căn Phòng 102
3.4.2 Con đường 105
3.4.3 Người chỉ đường 108
3.4.4 Linh Sơn 112
Tiểu kết: 116
KẾT LUẬN 118
PHỤ LỤC 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
Trang 6Nobel văn học với cuốn tiểu thuyết mang tên Linh Sơn Cao Hành Kiện là nhà
văn Trung Quốc duy nhất cho đến thời điểm ấy may mắn đạt giải thưởng cao quý Như một nghịch cảnh, tác gia này lại bị từ chối tại Trung Quốc bởi những yếu tố chính trị nhất định Những công trình nghiên cứu tác phẩm của Cao Hành Kiện ở Việt Nam không nhiều và cũng chủ yếu hướng vào nghiên
cứu nghệ thuật kể chuyện của cuốn tiểu thuyết Linh Sơn Do đó, nghiên cứu tác phẩm của Cao nói chung và tiểu thuyết Linh Sơn nói riêng sẽ giúp chúng
ta có cái nhìn toàn diện hơn về những đóng của tác phẩm trên phương diện nội dung tư tưởng cũng như phương thức nghệ thuật
Cuốn tiểu thuyết Linh Sơn mang màu sắc du ký rõ nét, nếu như trong tiểu thuyết Tây Du Ký, nhân vật Đường Tăng và ba đồ đệ đã phải lội suối,
băng rừng muôn vàn cực nhọc để vượt qua một quãng đường 10 vạn 8000 dặm với 81 kiếp nạn để thỉnh được chân kinh, tu thành chánh quả, hoàn thành
sứ mệnh thì tiểu thuyết Linh Sơn - cuốn tiểu thuyết mang màu sắc hiện đại
của Cao Hành Kiện là một câu chuyện dài kể về chuyến đi thực tế của nhân vật trong thời gian 10 tháng, với khoảng cách không gian kéo dài 15000 km dọc sông Trường Giang, tiến sâu vào thung lũng Tứ Xuyên, trung tâm lục địa của Trung Quốc để sưu tầm văn hóa dân gian đồng thời là tìm kiếm ngọn núi
Linh Sơn kỳ ảo Chuyến đi này không phải kiếm tìm chân kinh cũng chẳng
phải vì công vụ mà hoàn toàn mang màu sắc cá nhân Cuốn tiểu thuyết có sự pha trộn giữa kỹ thuật tự sự phương tây và triết lí, tư tưởng, nhân sinh quan phương Đông Nhân vật trần thuật ở cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai trải dài trong 81 chương của toàn tác phẩm gắn với “ta” và “mi”, cả cuốn tiểu thuyết
Trang 77
là một hành trình đi tìm ngọn “núi hồn” tượng trưng cho sự yên bình, an lạc trong cuộc sống Sự dịch chuyển không gian liên tiếp đã tạo điều kiện cho nhân vật nhận thức, tìm kiếm những giá trị đích thực, đồng thời chúng ta cũng bắt gặp hình tượng nhân vật mang “bi kịch trốn chạy” trong đời sống hiện thực gắn với những nội dung chính trị, tâm linh phức tạp Chính vì lẽ đó, chúng tôi quyết định đi sâu khai thác đề tài “dịch chuyển không gian trong
tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện” nhằm giải mã tính quan niệm và
tính biểu trưng của không gian dịch chuyển
2 Lịch sử vấn đề
Dịch chuyển không gian trong tác phẩm văn học là một hiện thực phổ biến trong thể loại tự sự nói chung và mang tính tất yếu trong thể tài du kí nói riêng Từ văn học dân gian với thần thoại, sử thi, cổ tích đến văn chương bác học gồm truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết… đều có liên quan ít hay nhiều, chủ yếu hay thứ yếu gắn với vấn đề “dịch chuyển không gian nghệ thuật” Có thể nói lí thuyết về vấn đề này còn tương đối mới mẻ trong khi nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc nhìn thi pháp về không gian nghệ thuật thì đã phổ biến trên phạm vi thế giới từ giữa thế kỉ XX Do tính chất mới mẻ và chuyên sâu của đề tài, chúng tôi chỉ có thể điểm qua một vài công trình nghiên cứu có liên quan gián tiếp hay trực tiếp đến lí thuyết “dịch chuyển không gian trong
văn học” có ý nghĩa gợi ý cụ thể trong trường hợp tiểu thuyết Linh Sơn của
Cao Hành Kiện
2.1 Vấn đề dịch chuyển không gian nghệ thuật
Có thể nói rằng vấn đề “dịch chuyển không gian trong văn học” đã được chú ý từ việc phân loại và hệ thống hóa trong văn học dân gian các dân tộc
với công trình “hình thái học truyện cổ tích” của V.Propp và “bảng mục tra cứu type và motif văn học dân gian” của S Thompson Vấn đề phân loại này
chỉ ra một thực tế, đó chính là việc dịch chuyển không gian có tầm bao quát
Trang 88
rộng và mang tính chủ đề tiêu biểu cho hàng loạt truyện cổ tích Bên cạnh đó, vấn đề “du kí” trong văn học với đặc đặc trưng gắn với các cuộc hành trình, những chuyến phiêu lưu thám hiểm vốn là một đề tài truyền thống khá quen
thuộc trong cả nền văn học phương Đông lẫn Phương tây Năm 1997, Evans
Lansing Smith của trường đại học Press, Hoa Kỳ có chuyên luận “hành trình
của người anh hùng trong văn học”(The Hero Journey In Literature) đã trình
bày một cách khái quát “lịch sử du ký” trong văn học Công trình này bao gồm 5 chương, chương 1 và chương 2 là hành trình của những anh hùng thời
cổ đại đến trung cổ và thời phục hưng Từ chương 3 trở đi là hành trình của
người anh hùng trong văn học từ chủ nghĩa lãng mạn đến chủ nghĩa tự nhiên
và sau cùng là chủ nghĩa hiện đại với các tác giả tiêu biểu như : Eta Hoffman,
Rabindranath Tagore, Nathaniel Hawthorne, Herman Melville, Walt Whitman, Mark Twain, Thomas Mann, Joseph Conrad, James Joyce, D.H Lawrence Công trình này giúp chúng tôi có một cái nhìn khái quát về motif
cuộc hành trình hay những chuyến phiêu lưu, chinh phục đầy thú vị của
những người anh hùng từ khắp các nền văn minh như: Hy Lạp, Ấn Độ, Lưỡng
Hà, Trung Quốc…
Đối với thể loại du kí ở Trung Quốc phải kể đến tiểu thuyết Tây Du Kí
của Ngô Thừa Ân Trong vấn đề dịch chuyển không gian gắn với hành trình của các nhân vật chúng tôi chú ý đến công trình “Nguyên mẫu và biểu trưng trong Tây Du Ký” của nhà nghiên cứu Khai Trương - giáo sư trường đại học Victoria, Mĩ Đề tài này dùng nguyên mẫu lịch sử là điểm tựa để phân tích những yếu tố biểu trưng dưới ánh sáng phân tâm học của Freud và K.Jung Hành trình của người anh hùng được nhìn nhận từ lúc “khởi hành” cho đến khi “trở về” trong chuyến hành trình sang phương Tây thỉnh kinh muôn vàn
vất vả Vấn đề nhân vật hỗ trợ trong chuyến hành trình được nhìn ngắm dưới
góc độ tâm lí học ở chương 2 với tên gọi “vô thức tập thể và đơn huyền thoại”
Trang 99
The Collective Unconscious and Monomyth) tác giả đã giải mã tính chất biểu
tượng của các lực lượng siêu nhiên có vai trò hỗ trợ người anh hùng trong
suốt cuộc hành trình gian nan và nguy hiểm, đó là các nhân vật siêu phàm: bồ
tát, chư phật, sơn thần, thổ địa… Đặc biệt là sự phò tá của Tôn hành giả thần
thông quảng đại Bên cạnh đó người nghiên cứu cũng cho thấy mối tương
đồng giữa hình tượng thần khỉ Hanuman trong sử thi Ramazana và hình tượng Ngộ Không trong tiểu thuyết Tây Du Ký Chính ý tưởng này gợi ý cho chúng tôi khi giải thích cơ chế của các nhân vật kỳ ảo trong Linh Sơn của Cao Hành Kiện, đặc biệt là hình tượng người phụ nữ đồng hành, người chỉ đường,
ông lão ở bên này sông Ô Y… Yếu tố nguyên mẫu có thực trong lịch sử Phật
giáo Trung Hoa là Trần Huyền Trang đã được thần thoại và hư cấu nghệ thuật làm cho cuốn tiểu thuyết trở nên hấp dẫn, thú vị gắn với những nội dung tư tưởng tiến bộ của thời đại Về vấn đề “nguyên mẫu” gắn với nhân vật lịch sử thì Lỗ Tấn trong công trình “Sơ lược lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc” cũng đã
tiến hành khảo sát câu chuyện thỉnh kinh từ Đại Đường Tây Vực đến Tây Du
Kí trong mối quan hệ với bút kí của nhân vật lịch sử Đường Tam Tạng
Ở Việt Nam, vấn đề “những chuyến đi” gắn với dịch chuyển không gian
được nghiên cứu khá muộn Cụ thể có thể kể đến luận văn thạc sĩ của Phạm
Vũ Lan Anh – Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh (2009) mang tên
“Không gian lữ thứ trong thơ Đường”, tác giả cho rằng trong thế giới thơ Đường có một lằn ranh vô hình giữa hai không gian sáng tác của thi nhân, đó chính là không gian đời tư, gia đình và không gian lữ thứ Tác giả dẫn luận rằng, hoàn cảnh đặt nhà thơ vào trong không gian lữ thứ đã làm cho “thuộc tính cố hữu” của nhà thơ bộc lộ một cách rõ nét, chứa đựng nhiều tâm tư, xúc cảm: “ở lữ thứ mười năm đã than thở quan hà đầu bạc, lìa nhà mười dặm
đã bùi ngùi mưa gió hoa vàng…” Đó là khi nhà thơ mới rời khỏi không gian gia đình, bản xứ; bởi thi cử đỗ đạt, được bổ nhiệm làm quan; khi đã làm quan
Trang 1010
được ít năm bị biếm trích, lưu lạc nơi góc bể chân trời; cũng có khi là những người chinh chiến nơi trận mạc, khi binh giáp tả tơi, dựng lều hạ trạm không khỏi bơ vơ nơi đất khách mà mong nhớ gia đình… Trong chương hai của luận
văn, người nghiên cứu còn làm nổi bật không gian “du hiệp, du lãm” giàu chất thơ và ý vị trong thơ Đường Không gian lữ thứ thực chất là “sự dịch
chuyển” của nhà thơ về mặt địa lí đã tạo nên những xúc động và nỗi niềm sâu thẳm trong tâm hồn thi nhân
Tiếp cận với vấn đề “dịch chuyển không gian” mang tính trực tiếp nhất phải kể đến luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Vân Anh – Đại học sư phạm Hà
Nội (2010) với tên gọi “sự dịch chuyển không gian trong Tây Du Kí của Ngô
Thừa Ân” Công trình này đã kế thừa và phát triển lí thuyết về không gian nghệ thuật, được soi chiếu từ mô hình không gian trong thần thoại, cổ tích, tiếp đó bắt đầu xác lập lí thuyết dịch chuyển không gian trong thể du kí và
trình bày cụ thể nó trong trường hợp tác phẩm Tây Du Kí Tác giả luận văn đã
làm thao tác thống kê, phân loại, so sánh loại hình và dùng phương pháp liên ngành để khám phá nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật của tác phẩm Có thể nói rằng đây là công trình có ý nghĩa gợi ý trực tiếp cho đề tài
“dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn”
2.2 Vấn đề liên quan đến tiểu thuyết Linh Sơn
Tại Việt Nam
Sự kiện Cao Hành Kiện đạt giải Nobel văn học năm 2000 đã gây sự chú
ý đặc biệt đối với độc giả cũng như các nhà nghiên cứu phê bình trong nước
và quốc tế Mặc dù là nhà văn gốc Hoa nhưng vì những lí do chính trị nhất
định khiến cuốn tiểu thuyết Linh Sơn và tác phẩm của Cao Hành Kiện hầu
như không được biết đến ở Trung Quốc đại lục Giải Nobel năm 2000 không được báo chí Trung Quốc ngợi ca rầm rộ như sự kiện Mạc Ngôn đạt giải Nobel vào năm 2012, chẳng những thế, tờ nhật báo Tin tức chiều Dương
Trang 1111
Thành (羊城晚報) vào năm 2001 đã chỉ trích Linh Sơn và gọi Cao Hành
Kiện là một "nhà văn dở tệ" và nói rằng việc ông đoạt giải Nobel thật là lố bịch Mặc dù có những quan điểm khen chê khác nhau, nhưng ở Việt Nam nhà văn này vẫn được đánh giá một cách tích cực Hoàng Thị Phương Ngọc
đã dẫn ra một số nhận xét của các nhà nghiên cứu Chẳng hạn như Trương
Thái Du: “Cao không thành công như chúng ta tưởng Linh Sơn là núi thiêng
của nhà họ Cao, nơi chủ nghĩa cá nhân phôi thai ra chính nó” Giáo sư Nguyễn Lân Dũng trong bài: “Trung Quốc hôm nay đâu còn giống như
trong Linh Sơn” in trên tạp chí An ninh thế giới cuối tháng 3 năm 2000 cho rằng: “Đọc Linh Sơn thật khó hình dung nổi đó là xã hội gì vì trung quốc hôm nay đâu còn giống như trong Linh Sơn, nó đã trải qua cuộc lột xác vĩ đại” [34, 14] Dịch giả Phạm Xuân Nguyên lại đánh giá cao Linh Sơn và
xem đó là: “sự tích hợp văn hóa, một nghiệm sinh cuộc đời, một trầm tư phận người” Trên phương diện nghệ thuật tự sự và quan niệm nghệ thuật
của nhà văn, giáo sư Lê Huy Tiêu trong Cảm Nhận mới về văn hóa và văn
học Trung Quốc đã đánh giá cao yếu tố “khách quan triệt để” của tác phẩm
khi nhà văn không bộc lộ cảm xúc cá nhân trên trang viết Giáo sư Nguyễn Văn Dân còn chỉ ra sự ảnh hưởng của nghệ thuật tự sự phương Tây đến lối
viết của Cao Hành Kiện qua bài “Tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện
trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông – Tây”…
Ngoài ra có thể kể đến bài viết của Nguyễn Thị Diệu Linh trong kỷ yếu hội thảo khoa học của những nhà nghiên cứu ngữ văn trẻ tháng 11 năm 2004
của trường đại học sư phạm Hà Nội với tiêu đề: “Biểu tượng Linh Sơn của
Cao Hành Kiện và hành trình tìm kiếm chính mình” Bên cạnh đó còn rất nhiều bài viết, luận văn của sinh viên xoay quanh nghệ thuật tự sự của cuốn tiểu thuyết Đặc biệt phải kể đến luận văn thạc sĩ năm 2010 với đề tài “Nghệ
thuật tự sự trong tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện của tác giả Hoàng
Trang 12Tại Nước Ngoài
Trong khi Trung Quốc tẩy chay những tác phẩm của Cao Hành Kiện thì phương Tây lại hết sức ca ngợi “ngọn núi hồn đứng sừng sững và tự lấy
nó làm quy chiếu” đồng thời đánh giá cao vai trò hiện đại hóa và cách tân to lớn của Cao Hành Kiện đối với nền văn học Trung Quốc hiện đại Báo chí truyền thông phương Tây chủ yếu giới thiệu và nhận định một cách khái quát về tác giả và tác phẩm Có thể nói rằng Cao Hành Kiện là một tác giả tài năng trên nhiều phương diện bao gồm: hội họa, tiểu thuyết và kịch bản sân khấu Cuốn sách nghiên cứu mang tính chất tổng hợp về những tác phẩm của Cao Hành Kiện cũng là tên buổi hội thảo khoa học với chủ đề: Những tác phẩm tiểu thuyết và kịch của Cao Hành Kiện (L'ecriture romanesque et théâtrale de Gao Xingjian) được tổ chức tại Aixen Provence năm 2005 tại Pháp với sự tham dự của 17 nhà nghiên cứu từ các nước Anh, Pháp, Mĩ, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam…
Tiêu biểu phải kể đến Mabel Lee, phó giáo sư đại học Sydney- người
dịch Linh Sơn sang tiếng Anh và đề cử Cao Hành Kiện với giải Nobel văn học với hàng loạt các công trình nghiên cứu liên quan đến cuốn tiểu thuyết Linh
Sơn như: “nằm ngoài chính trị - sáng tác văn học của Cao Hành Kiện”
(Without Politics Gao Xingjian on Literary Creation." The Stockholm
Journal of Asian Studies 6 ), “Cao Hành Kiện, nhà văn Trung Quốc đầu tiên
đạt giải Nobel văn học” (Gao Xingjian: First Chinese Writer of the Nobel
Prize for Literature) năm 2001 v.v… Ngoài ra có thể kể đến công trình của
Li Xia trong tạp chí văn học so sánh Canada năm 2006 với chủ đề: “Sự pha
Trang 13điểm gồm: Điểm nhìn trần thuật trong Linh Sơn (Narrative Perspectives of
Lingshan), Cao Hành Kiện và Samuel Beckett (Gao Xingjian and Samuel Beckett), Linh Sơn và kĩ thuật dòng ý thức (Lingshan and the Stream of Consciousness Technique), Linh Sơn và Ludwig Josef Johann Wittgenstein (Lingshan and Wittgenstein), Ngọn núi diệu kỳ của Thomas Mann và Cao
Hành Kiện (Gao Xingjian and Thomas Mann's The Magic Mountain)
Đặc biệt trong nội dung “điểm nhìn trần thuật trong Linh Sơn” tác giả đã
trình bày một cách khái quát những đặc trưng của văn học du ký truyền thống
Trung Quốc với 4 nội dung chủ yếu: những cuộc hành trình, nhiệm vụ, tìm
kiếm thiên đường và sự bất tử Theo đó, tác giả nhấn mạnh, cuốn tiểu thuyết Linh Sơn được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với văn học du ký Trung
Hoa truyền thống, tuy vậy sự khác nhau cơ bản nằm ở trọng tâm của sự trần
thuật gắn với dịch chuyển của nhân vật trong văn bản Linh Sơn Không chỉ thế Li Xia còn chỉ ra sợi dây liên văn bản từ cuốn Linh Sơn của Cao Hành Kiện với Lão Tàn du kí của nhà văn Lưu Ngạc (1857 – 1909), nếu nhân vật
của Cao Hành Kiện xuống phía nam thì hành trình của Lão Tàn đi về phía bắc, nhân vật Lão Tàn một mặt từ bỏ sự hỗn loạn, suy đồi đạo đức, chính trị thời
nhà Thanh, mặt khác viếng thăm những người ẩn dật và tìm đến núi Thái sơn
(một trong năm ngọn núi linh thiêng của Trung Quốc) để kiếm tìm sự yên bình cho tâm hồn Mặc dù có cùng motip du ký nhưng cuốn tiểu thuyết của
Trang 1414
Cao Hành Kiện mang màu sắc hiện đại đã cách biệt rất xa với lối tiểu thuyết chương hồi truyền thống, mặt khác ngôn từ và kỹ thuật trần thuật độc đáo in
đậm dấu ấn phương Tây đã khiến cho Linh Sơn có một dấu ấn riêng biệt Có
thể nói, công trình của Li xia giúp chúng tôi có một cái nhìn tương đối bao quát đối với cuốn tiểu thuyết của Cao Hành Kiện dưới góc nhìn so sánh, đối chiếu liên văn bản Ngoài ra còn rất nhiều các công trình tâm huyết về cuốn tiểu thuyết này nhưng do tính chuyên biệt của đề tài và khoảng cách về ngôn ngữ nên chúng tôi chỉ nêu lên những công trình tiêu biểu và có ý nghĩa đóng góp thiết thực cho đề tài để đi đến xác định mục tiêu cụ thể là làm sáng tỏ
“dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu “dịch chuyển không gian trong trong tiểu thuyết Linh
Sơn của Cao Hành Kiện” không đơn thuần là sử dụng lí thuyết không gian
nghệ thuật để khảo sát một tác phẩm văn học cụ thể là tiểu thuyết Linh Sơn
mà người nghiên cứu muốn đặt nó trong dòng chảy xét từ phương diện thể loại đến bước đột phá trong việc phản ánh nội dung tư tưởng, triết lí nhân sinh, vấn đề chính trị, xã hội trong cuốn tiểu thuyết này Qua đó làm rõ tính quan niệm và tính biểu trưng của “dịch chuyển không gian nghệ thuật” gắn với chủ thể của sự dịch chuyển, nhân vật dịch chuyển
3.2 Khảo sát “sự dịch chuyển không gian trong Linh Sơn” là dựa trên
các mô hình không gian tiêu biểu mang tính chất hiện thực và mang tính tâm linh Giả thuyết nếu không có sự dịch chuyển về không gian thì nhân vật
không thể đặt chân đến Linh Sơn, mặt khác dù đã có sự chủ động dịch chuyển trong không gian cũng chưa chắc đã tìm thấy ngọn Linh Sơn mơ hồ Phải
chăng đây là một chuyến đi không khôn ngoan và tỉnh táo? Nếu không phải, vậy giá trị đích thực của dịch chuyển không gian ở đây là gì? Qua đó giúp ta thấy được tầm quan trọng của việc dịch chuyển không gian theo ý nghĩa là
Trang 1515
một cơ hội để nhận thức thế giới, dịch chuyển không gian khi này được xem
là một trong những cách thức, phương tiện để trưởng thành về mặt nhận thức
và giác ngộ về mặt tâm linh
3.3 Khẳng định được cách tiếp cận theo hướng “dịch chuyển không
gian” trong các thể loại văn học nói chung đến tiểu thuyết Linh Sơn nói riêng
có một giá trị bước ngoặt, bởi lẽ Linh Sơn là sự tổng hòa ở mức độ cao giữa
thể tài du ký và hư cấu, tưởng tượng độc đáo trong đại tự sự Dịch chuyển không gian không chỉ gắn với những địa danh cụ thể, thực tế mà còn là một quá trình biến động kỳ ảo của tâm hồn Qua đó khẳng định nhu cầu “dịch chuyển không gian” là hành trình giúp con người nhìn ra thế giới và nhìn vào chính mình Dù con người đó có lên sơn nhai, xuống hải ngạn hay lơ lửng trên những chuyến bay thì đều mang theo một không gian tâm cảnh cố hữu Dịch
chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn là một cuộc dịch chuyển kép
của thân và tâm, trong chiều kích vô hạn của tâm thức và trong nhận thức về
sự hữu hạn của hình tướng, xác thân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Giới hạn tìm hiểu trong phạm vi “dịch chuyển không gian trong tiểu
thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện”
Phạm vi tư liệu khảo sát chủ yếu mà chúng tôi sử dụng là cuốn tiểu
thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện (bản dịch của Trần Đĩnh, Nxb Phụ nữ in
năm 2003, dày 715 trang)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 1616
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Luận văn kế thừa, phát triển lí thuyết về không gian nghệ thuật, khái quát hóa các loại hình không gian trong văn học
6.2 Khảo sát sự dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn, tìm
hiểu bản chất của sự vận động không gian gắn với vấn đề tồn tại của con người trong không gian để từ đó đưa ra hướng phá tích cực cho thể loại tiểu thuyết mang tính chất Du kí với motif “những hành trình” của nhân vật đã được phân loại và mô hình hóa trong văn học dân gian
6.3 Góp phần khám phá nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật của tác phẩm một cách khách quan, khoa học Đánh giá đúng những đóng góp của nhà văn Cao Hành Kiện trong việc mở rộng tầm bao quát của tiểu thuyết nhằm phản ánh những suy tư trăn trở không nguôi của con người trong đời sống vật chất; tinh thần vô cùng phức tạp và phong phú của mình
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục bố cục luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Từ lí thuyết về không gian đến sự dịch chuyển không gian
trong tiểu thuyết Linh Sơn của Cao Hành Kiện
Chương 2: Sự dịch chuyển của tâm và thân giữa không gian hư và thực Chương 3 Nghệ thuật xây dựng và tổ chức không – thời gian trong tiểu
thuyết Linh Sơn
Trang 1717
NỘI DUNG CHƯƠNG 1
TỪ LÍ THUYẾT DỊCH CHUYỂN KHÔNG GIAN ĐẾN DỊCH
CHUYỂN KHÔNG GIAN TRONG TIỂU THUYẾT LINH SƠN
CỦA CAO HÀNH KIỆN 1.1 Không gian và sự dịch chuyển không gian nghệ thuật
Đối với mỗi thể loại tiểu thuyết đều có những cách thức tổ chức không gian mang tính đặc trưng Đó có thể là không gian lâu đài, nhà thờ với những hồn ma bóng quế trong tiểu thuyết Gothic; là không gian khép kín huyền ảo trong văn chương Mĩ La tinh, cũng có thể là không gian với
vô số những ký hiệu, biểu tượng trong tiểu thuyết trinh thám… Đối với mỗi loại tổ chức không gian riêng biệt thì phương thức mà nhân vật dịch chuyển cũng như hiệu ứng chuyển cảnh mà nhà văn tạo nên đều mang những dụng ý nghệ thuật nhất định
1.1.1 Khái niệm “không gian nghệ thuật”
Không – thời gian là một trong những khái niệm của vật lí học hiện đại nhằm chỉ mối quan hệ gắn bó chặt chẽ không thể tách rời của thời gian với không gian dựa trên nguyên tắc tính tương đối do Einstein chứng minh Thực
ra khái niệm không - thời gian nghệ thuật được Bakhtin đặt ra nhằm hướng đến “mối liên quan cơ bản giữa thời gian và không gian được thể hiện một cách nghệ thuật trong văn học là chronotope (thời - không gian) trên tinh thần
đó Bakhtin hướng sự tập trung chú ý tìm hiểu “chronotope” vào thể loại tiểu thuyết và xem đó là một sự thể hiện đầy đủ và có tầm bao quát rộng lớn hơn
cả I.u Lotman cũng nhấn mạnh rằng, một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên thế giới tác phẩm chính là không gian nghệ thuật: “việc chú ý đến vấn đề không gian nghệ thuật là hệ quả của những quan niệm coi tác phẩm như một không gian hình ảnh được khu biệt, phản ánh cái hữu hạn của mình
Trang 1818
về một thế giới vô hạn là không gian bên ngoài tác phẩm”[25, 24] Theo đó, mối quan hệ giữa không gian hiện thực và không gian ý niệm của tác giả được hiểu là những nội dung quan trọng không thể thiếu trong việc phản ánh thế giới vô hạn mà con người tồn tại trong đó Không gian nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, tuy nhiên không gian trong văn học mang tính thông tin thẩm mĩ, nó không chỉ tả dòng sông, thác núi, chim muông, cây cỏ… thuần túy mà mang những dụng ý nghệ thuật cũng như chứa đựng những xúc cảm thẩm mĩ nhất định Đó có thể là thủ pháp cường điệu, thi vị hóa hay hiện thực đến đáy… Ngoài ra, không gian nghệ thuật còn chứa đựng những nội dung tư tưởng và mang tính quan niệm
Nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc độ thi pháp hay cấu trúc đều có điểm chung là “thừa nhận không gian nghệ thuật chính là mô hình thế giới độc lập mang tính chủ quan và mang nghĩa tượng trưng” [3, 10] I.U.Lotman dưới góc độ của chủ nghĩa cấu trúc đã hệ thống và gọi tên các mô hình không gian nghệ thuật dưới dạng: không gian điểm, không gian tuyến tính, không gian mặt phẳng (không gian khối)
Từ những quan niệm tiêu biểu trên, có thể nói không gian nghệ thuật nói chung, không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học nói riêng là sự mô hình hóa thế giới khách quan, mô hình hóa thế giới tâm thức của con người dưới dạng ngôn ngữ được xây dựng một cách có chủ đích, kỹ thuật
Không gian một mặt thuộc về cấu trúc nội tại của tác phẩm, tạo nên một bức tranh đời sống sinh động, phong phú; mặt khác nó cho ta thấy sự tri giác, cảm xúc chủ quan và quan niệm riêng của người sáng tạo Không gian nghệ thuật đóng vai trò quan trọng như thế nào trong một tác phẩm văn học tùy thuộc vào cách chọn lựa khai thác và xử lí văn bản của nhà văn Có những tác phẩm chú trọng về thời gian, có những tác phẩm chú trọng về không gian hoặc chú trọng việc kể chuyện, phân tích nội tâm… Nhưng dù thế nào, không
Trang 1919
gian là yếu tố không kém phần quan trọng trong việc lí giải quan niệm thẩm
mĩ tư tưởng của nhà văn
Đối với mỗi tác phẩm cụ thể, việc xây dựng không gian nghệ thuật có những mức độ đậm nhạt khác nhau, luôn phải xem xét không gian nghệ thuật trong mối quan hệ không tách rời với thời gian nghệ thuật trong tác phẩm ấy Vấn đề “dịch chuyển không gian trong văn học” là vấn đề không mới, đặc biệt là trong ngành nghiên cứu văn học dân gian Nhân vật chức năng được bao phủ bởi một lớp không gian mang màu sắc kỳ ảo, do không gian bị cản trở về mặt hiện thực theo trục ngang nên người sáng tạo thần thoại, cổ tích thần kỳ … đã mở rộng theo chiều dọc với kiểu không gian trên cao (thượng giới), trên mặt đất (nhân gian) và âm giới (địa ngục) Tư duy nhân loại có lí
do của riêng mình, việc mở rộng không gian theo chiều nào đều gắn với sự dịch chuyển của nhân vật theo chiều ấy, không gian không thể mở rộng nếu nhân vật cứ ở một chỗ, chính sự dịch chuyển này mang lại điều thần kỳ và thú
vị trong truyện cổ Chẳng hạn như truyện cổ tích “Cây khế”, tác giả dân gian không để cho con chim đại bàng ăn quả khế rồi mang vàng thả xuống sân nhà của người em trai mà lại trả lời “ăn một quả khế, trả một cục vàng, may túi ba gang đem ra mà đựng” như vậy dịch chuyển không gian gắn liền với thử thách, sự thử thách về thân để vượt núi cao biển sâu bị xem là thứ yếu mà sự thử thách về đạo đức, phẩm chất mới đáng được xem trọng
Có thể nói, vấn đề dịch chuyển không gian có ý nghĩa quan trọng trong kho tàng văn học dân gian của nhân loại Sự chú ý đến dạng dịch chuyển không gian như vậy được trường phái địa lí – lịch sử hay còn gọi là trường phái Phần Lan và trường phái hình thức Nga hệ thống hóa và khái quát tương đối chi tiết và mang tính phân loại cần được nhìn nhận và tiếp thu một cách tích cực
Trang 20và xã hội mà còn là “nguồn sữa trong mát, ngọt lành nuôi dưỡng cho văn học viết phát triển” (M.Gorki) Sự tôn trọng đối với trầm tích văn hóa cổ xưa với
vẻ đẹp thuở “bình minh” của nhân loại đã thôi thúc chúng ta phải có trách nhiệm bảo tồn và gìn giữ nét văn hóa độc đáo ấy
Những năm cuối thế kỷ XIX, khoa học nghiên cứu văn học dân gian bắt đầu hình thành và phát triển với sự ra đời của thuật ngữ folklore (1846) Kể từ
đó trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về folklore nói chung và văn học dân gian nói riêng với sự xuất hiện của nhiều nhà lí luận nổi tiếng như Zirmunxki, Meletinxki, Propp, Xakhanov… Đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu truyện cổ tích phải kể đến tên tuổi của những tác giả như V.I.Propp và Anti Aarne, Stith Thompson Họ là đại diện cho hai trường phái nghiên cứu truyện cổ tích, đó là trường phái hình thái học (lý thuyết chức năng của nhân vật hành động) và trường phái địa lý – lịch sử Phần Lan
1.1.2.1 Trường phái hình thức Nga
Nga là một trong những quốc gia có lịch sử nghiên cứu folklore sớm với những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng Trường phái hình thức Nga
là khuynh hướng nổi bật nhất trong giới nghiên cứu ngữ văn Nga những năm
1910 – 1920 Trường phái này ra đời như một sự phản ứng đối với cách tiếp cận cảm tính thiên về triết học, văn hoá, xã hội học lịch sử trong khoa nghiên cứu văn học cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Với vấn đề “dịch chuyển không gian trong văn học” đặc biệt phải nhắc đến V.I.A Propp – người được đánh giá là nhà folklore vĩ đại nhất của thể kỷ XX
Trang 2121
Trong công trình “Hình thái truyện cổ tích xuất hiện lần đầu vào năm
1928, Propp sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa vào văn bản để khảo sát và phân tích tác phẩm, ông cho rằng truyện cổ tích được xây dựng dựa trên
những yếu tố bất biến gắn với hành động chức năng của nhân vật và những
yếu tố khả biến gắn với phương pháp hay cách thức mà nhân vật thực hiện
nhiệm vụ của mình Tác phẩm trên của Propp có ý nghĩa bước ngoặt và có tầm quan trọng lớn đối với nghành nghiên cứu folklore thế giới, không chỉ thế
nó còn ảnh hưởng đến nhiều nghành khoa học nhân văn khác như Nhân học, Dân tộc học, … Trong công trình này, lần đầu tiên trong lịch sử folklore học, V.Propp đã tiến hành nghiên cứu truyện cổ tích từ góc độ cấu trúc loại hình, trong quá trình khảo sát truyện cổ tích, nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng bên
cạnh các đại lượng có thể thay thế như các nhân vật với các hành động cụ thể, các thuộc tính khác nhau (tuổi tác, giới tính, hình thức bên ngoài v.v…), còn tồn tại những đại lượng bất biến, không thể thay thế, chúng lặp đi lặp lại qua
các truyện thuộc cùng loại hình cổ tích Theo Propp những đại lượng bất biến
và có tính chất lặp lại ấy không phải là motif (theo quan điểm của
A.Veselovsky) mà chỉ là các chức năng và những vai trò hành động Propp xác định được tổng số có 31 chức năng: vắng mặt – cấm đoán – vi phạm – dò
la tin tức – tiết lộ thông tin – lừa dối – tiếp tay – gây hại (hay sự thiếu thốn) – môi giới (vai trò trung gian) – chấp nhận hay quyết định đấu tranh – giã biệt – thử thách của người tặng bảo vật – phản ứng của nhân vật với thử thách – có
được bảo vật – vượt quãng đường xa – giao tranh – đánh dấu – chiến thắng – khắc phục tai họa hay sự thiếu thốn – trở về – sự truy nã – thoát khỏi sự truy
nã – viếng thăm bí mật – đòi hỏi không có căn cứ – nhiệm vụ khó khăn –
nhiệm vụ được giải quyết – nhận biết – vạch mặt – đổi thay diện mạo – trừng trị kẻ gây hại – kết hôn Các chức năng được xắp sếp theo trình tự tuyến tính
và được qui định bởi kết cục của dãy sự kiện Bên cạnh đó, ông cũng nhóm
được 7 vai trò hành động của nhân vật bao gồm: kẻ đối địch – người tặng bảo
Trang 2222
bối – người trợ giúp – công chúa và cha của cô – kẻ phái đi – người anh hùng
– kẻ mạo danh anh hùng
Trên tinh thần đó, nhân vật thực hiện các chức năng và vai trò của mình trong mạch truyện kể, được xác định bằng những nhóm chức năng Trong 31 chức năng trên chúng tôi chú ý đến chức năng thứ 1 (sự đi vắng), 11 (nhân vật chính rời khỏi nhà), 15 (cuộc phiêu lưu), 20 (nhân vật chính trở về), 22 (nhân vật thoát thân) biểu thị rất rõ nhu cầu dịch chuyển của nhân vật để thực hiện những nhiệm vụ nhất định Về nhóm “7 nhân vật chức năng” trong đó đại diện cho sự dịch chuyển là người anh hùng với chức năng: đuổi theo và cứu thoát, vượt quãng đường xa, sự trở về, viếng thăm bí mật Cụ thể ở chương VI, Propp xem việc ra đi của nhân vật như là một nhân tố của bố cục truyện kể và
là tâm điểm của câu chuyện, sự ra đi này gắn với những hình thức và nội dung nhất định Hơn thế, trong chương VIII, ông bàn về những miền đất lạ với đặc điểm địa lí cũng như thuộc tính của những vương quốc lạ lùng trong truyện cổ tích Lý thuyết chức năng của Propp từ khi ra đời đã thể hiện được tính ứng dụng rộng rãi và thiết thực của nó
Từ mô hình do V.I.A Propp xác lập để nghiên cứu văn học dân gian, cụ thể là trong cổ tích thần kỳ, đã tạo tiền đề mang tính chất gợi ý giúp chúng tôi
đi sâu vào việc khám phá “dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh
Sơn”, áp dụng phương pháp folklore vào một tác phẩm tiểu thuyết vốn dĩ có
sự khác biệt rất lớn về thể tài, thời đại dễ đưa ta đến những so sánh và nhận xét khiên cưỡng, áp đặt Tuy nhiên trong cuốn tiểu thuyết mang tính chất du
ký độc đáo, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hư cấu và thực tế, giữa những trầm tích dân gian văn hóa cổ Trung hoa và nét hiện đại trong lối viết Tây hóa khiến cho cả một quá trình lịch sử văn hóa và cải cách hiện lên như những mảng, điểm cần phải xâu chuỗi lại để nhận thức và cảm nhận một cách sâu sắc hơn
Trang 2323
Sự dịch chuyển không gian gắn với nhân vật ta, mi trong Linh Sơn
không phải chỉ là cách nhìn nhận “dịch chuyển” theo kiểu “nhân vật chức năng” và “không gian kỳ ảo” trong văn học dân gian mà nó mang tầm thời đại, dịch chuyển không gian khi này mang ý nghĩa bi kịch chứa đựng những thông tin chính trị, văn hóa sâu sắc Dịch chuyển không gian có khi chỉ là cách trốn chạy hiện thực, cũng có thể là cách khám phá để hiểu biết, có khi chỉ là giải trí, có khi là một hành trình bất tận tìm về cái bản thể tâm thức vô biên trong một thân xác hữu hạn Từ đó giúp ta thấy vấn đề dịch chuyển không gian không chỉ là vấn đề đã được quan tâm đối với trường hợp của văn học dân gian mà còn là hướng nghiên cứu của thi pháp học hiện đại Bên cạnh lí thuyết chức năng của Propp phải kể đến cuốn “từ điển A – T” được Stith Thompson phát triển, đây là công trình tiêu biểu nhất của trường phái Phần Lan với việc mô hình hóa văn học dân gian dưới góc độ type và motif
1.1.2.2.Trường phái Địa lí – lịch sử
Cuốn “từ điển A – T” (viết tắt của Aarne – Thompson) là công trình dày dặn và chứa nhiều tâm huyết của trường phái địa lí lịch sử hay còn gọi
là trường phái Phần Lan, trường phái này được khởi xướng bởi Fredick Krohn, Kaarle Krohn và được Anti Aarne, sau đó là S Thompson kế thừa
và phát triển Phương pháp nghiên cứu của trường phái này là tiến hành sưu tầm nghiên cứu hàng loạt các dị bản truyện cổ tích, đặt tên chung cho từng nhóm, xếp vào từng bảng tra cứu theo type và motif Thời điểm ban đầu của công trình bảng tra cứu type (the type of the folklore – A classification and Bibliography của Antti Aarne năm 1910) còn hạn chế ở chỗ chỉ bao quát được những truyện kể Châu Âu nên nó khó có thể ứng dụng rộng rãi ở các khu vực khác trên thế giới Để khắc phục hạn chế ấy, S Thomson đã đặt vấn đề lập một bảng tra cứu motif bởi theo ông sự tương đồng ở cấp độ một câu chuyện phức hợp, hoàn chỉnh không thường xuyên bằng sự tương đồng ở cấp độ motif
Trang 2424
Type được Thomson định nghĩa là những chuyện kể (Narative) có thể tồn tại độc lập trong kho truyện truyền miệng Còn motif là “ thuật ngữ chỉ bất kỳ một phần nào mà ở một dạng mục (Item) của Folklore có thể phân tích
ra được … Bản thân một motif cũng có thể đã là một mẩu kể ngắn và đơn giản, một sự việc đủ gây ấn tượng hoặc làm ưa thích cho người nghe” Theo
đó, type được hiểu là cốt truyện còn motif là những chi tiết cấu thành nên cốt truyện ấy Giữa motif và type có mối quan hệ yếu tố - hệ thống Đối với vấn
đề “dịch chuyển thời gian trong tiểu thuyết Linh Sơn” chúng tôi muốn trình
bày một cách cô đọng nhất vấn đề “dịch chuyển không gian” mà trường phái này đã bỏ nhiều công sức để quy phạm và phân loại, cụ thể là trong truyện cổ tích thần kỳ do Stith Thompson liệt kê trong công trình “bảng mục tra cứu motif văn học dân gian” (Motif – index of folk – literature, 1932) Trong mục
F “Toát yếu chi tiết - cái thần kỳ” (F marvels detailed synopsis) từ mục F0 – F199 (Otherworld Journeys) gồm khoảng 460 motif lớn nhỏ về sự dịch chuyển theo các loại hình không gian khác nhau Chẳng hạn F10 – Hành trình
lên thượng giới (Journey to upper world) thì F10.1 – Hành trình từ thượng
giới trở về (Return from upper world) và F10.2 – Người trên thượng giới thấy tất cả mọi chuyện trên trái đất (Man taken to upper world sees all that
happens on earth), hay F11 là hành trình lên thiên đường (Journey to heaven)
còn F60 là phương tiện dịch chuyển hay hành trình từ thiên đường trở về
(Transportation to or from upper world), còn F80-F109 là “hành trình xuống
địa ngục” … ta dễ dàng quan sát trong mỗi motif dịch chuyển đều có kèm theo phương tiện hỗ trợ dịch chuyển mang tính thần kỳ như mục F52.1 “lên trời bằng thang thủy tinh”, hay mục đích của dịch chuyển trong mục F81.1.2
là “hành trình thăm người đã khuất ở địa ngục” hoặc là cách xác lập thời gian dịch chuyển tại mục F76.1 “hành trình lên trời mất 500 năm” v.v Có thể nói
Trang 2525
rằng, công trình “Motif – index of Folk - literature”[57] có ý nghĩ hết sức quan trọng và cơ bản trong việc xác lập đặc điểm của sự dịch chuyển không
gian bao gồm: Thời gian dịch chuyển, không gian, phương tiện dịch chuyển,
mục đích, ý nghĩa của sự dịch chuyển trong văn học dân gian để từ đó mở
rộng vấn đề “dịch chuyển không gian” trong các loại thể văn học khác với một ý thức rất sâu sắc của con người trong việc nhận thức về không gian cản trở, không gian phi cản trở
Việc dịch chuyển không gian nhất thiết phải mang nghĩa, nó vừa là ý nghĩa của sự vận động theo bề rộng cũng như theo bề sâu trong niềm say mê được hiểu biết và được chinh phục hoàn cảnh của con người cũng như sự trải nghiệm tâm tư của con người khi đến những vùng địa lí mới
1.2 Từ dịch chuyển không gian trong văn học dân gian, du ký
đến sự dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn
Dịch chuyển không gian là một hiện thực khách quan trong đời sống thường nhật của nhân loại, không thể có một cuộc sống hoàn thiện nếu như con người không dịch chuyển trong không gian Cổ nhân có câu “sinh ký tử quy” ít nhất đã chứa đựng ý nghĩa là một hành trình đời người với hai không gian khác biệt, đó chính là trên mặt đất với mối quan hệ tự nhiên xã hội và dưới lòng đất trong sự phân hủy của đất đai, nguồn nước và vi sinh vật
Sự tồn tại của con người gắn liền với sự dịch chuyển của không gian Thời xa xưa, khi phương tiện giao thông đi lại còn lạc hậu nên cảm thức về không gian cũng như việc chinh phục không gian còn quá nhiều hạn chế bởi tính cản trở quá cao với núi cách, sông ngăn, đường xa chồn chân mỏi gối Nên nói cảm thức về “đất khách quê người” hay “ chân trời góc bề” được nhìn nhận dưới góc nhìn văn hóa và tâm thức chung của con người mang tính thời đại là xác đáng
Trang 2626
1.2.1 Dịch chuyển không gian trong thần thoại, sử thi, cổ tích
Như đã trình bày, dịch chuyển không gian có ý nghĩa quan trọng và nó
có thể tồn tại trong mọi thể loại tự sự hay trữ tình, tuy vậy ta dễ dàng thấy dấu
ấn đậm nét của dịch chuyển không gian sớm nhất từ trong kho tàng thần thoại,
cổ tích, truyền thuyết hay sử thi Thần thoại, sử thi, cổ tích là ba thể loại trong văn học dân gian gắn liền với tư duy mông muội của người cổ đại trong việc nhận thức thế giới tự nhiên khách quan Mặc dù là những thể loại khác nhau nhưng chúng có chung cách nhận thức thế giới, bao gồm những motif về cái thần kỳ, không gian kỳ ảo, nhân vật chức năng siêu phàm trong thế giới nghệ thuật cấu thành nên tác phẩm
1.2.1.1 Sự mở rộng trục không gian theo tư duy nhị nguyên
Thần thoại là thể loại văn học xuất hiện sớm nhất trong lịch sử văn học các dân tộc, là những truyện kể liên quan đến các vị thần trong tín ngưỡng thời công xã nguyên thủy Không gian trong thần thoại là không gian sơ khởi,
vô thủy vô chung gắn với những vị thần sáng tạo thế giới Đó là Zeus ở núi
Olempe trong thần thoại Hy Lạp, là nữ Oa đội đá vá trời trong thần thoại Trung Hoa, là Ông Đùng bà Đà trong thần thoại Việt Nam …
Xuất phát từ tư duy nhị phân thời cổ đại, nhà nghiên cứu Levi Strauss chứng minh rằng người nguyên thủy tư duy theo từng cặp lưỡng lập và cho rằng logic nhị phân là công cụ chính yếu của phương pháp huyền thoại hóa
Sự phân định trên - dưới, cao - thấp, dọc – ngang… theo tư duy nhị nguyên đã trở nên rất phổ biến và gắn liền với mỗi dân tộc, tư duy ấy được thể hiện trong các thần thoại về thần trụ trời, thần tát bể, thần kể sao, … Chính nguyên tắc nhị nguyên đã tạo nên những nhân tố quan trọng giúp việc phân định thế giới theo chiều dọc một cách dễ dàng Không gian trong thần thoại mang tính hoang dã, nguyên sơ với các vị thần núi, thần sấm, thần mưa hay thần gió… không gian thần thoại luôn gắn liền với ý thức tôn giáo, tin
Trang 27kỳ diệu và thần thánh hóa Nói cách khác, dịch chuyển không gian theo kiểu
“ngu công chuyển núi” phụ thuộc vào ý chí thần thánh, đậm chất hoang đường Trong thần thoại về “Bàn Cổ sáng tạo thế giới” của người Trung Hoa,
họ cho rằng Vũ trụ trước khi được tạo ra là một quả trứng lớn và hỗn loạn, từ trong quả trứng Bàn Cổ được sinh ra Bàn Cổ ngủ trong quả trứng đó trong vòng 18 ngàn năm Bàn Cổ vươn tay và chân làm mở tung quả trứng Ánh sáng và dương khí dâng lên hình thành một bầu trời xanh cao lớn Đồng thời,
âm khí nặng và dày hạ xuống hình thành vùng đất rộng bao la … Có thể nói, không gian trong thần thoại gắn với thần linh sáng lập thường mang tính siêu không gian, Bàn cổ nằm trong quả trứng, vậy quả trứng nằm ở đâu Do đó không gian thần thoại còn được hiểu là “không gian trong không gian” mà người cổ đại chưa thể nhận thức được
Mô hình “tam thế giới” cũng được thể hiện rất rõ trong truyện cổ tích, đặc biệt là trong truyện cổ tích thần kỳ Các nhà nghiên cứu như M E.Melintinxki, K.X.Dovletov, V.I.A Propp đều có chung một nhận định rằng truyện cổ tích ra đời như một thể loại cơ bản vào thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy tan rã Bên cạnh đó, họ cũng nhận thấy tính chất “manh nha” của thời kỳ tiền giai cấp Truyện cổ tích được nhìn nhận như là một “mảnh vỡ”
Trang 28Từ tâm thức đó, để thực hiện ước mơ, lí tưởng cũng như giải quyết những khó khăn hay những vấn đề tiêu cực trong đời sống của mình thì người
cổ đại thường hy vọng ở những phép thuật màu nhiệm
Xét từ mối quan hệ giữa nhân vật và không gian, nếu như không gian thần thoại gắn với các vị thần, không gian sử thi gắn với anh hùng, thì không gian truyện cổ tích gắn liền với đời sống của người bình dân Khi này, nhân vật thần thánh, hay tiên bụt chỉ mang tính chất hỗ trợ còn nhân vật phản diện
có vai trò tạo nên thử thách cho các nhân vật chính, xoay quanh một cốt truyện đạo đức nào đó…
Cả Levi- strauss và Melintinski đều đồng tình ở tính chất độc đáo của truyện cổ tích là lối tư duy nhị phân như đã trình bày, lối tư duy này in sâu vào các mẫu đề trong truyện kể dân gian Tham khảo bảng tra motif của Thompson chúng ta dễ dàng thấy quá trình dịch chuyển không gian của nhân vật như “hành trình đến thế giới khác”, “lên trời bằng cừu trắng”, “xuống địa ngục bằng cừu đen” (F69), “Đồ vật ở phía này thì màu trắng, phía kia thì màu đen trong khu vườn của thế giới khác” (F.162.1.2.1) v.v Chính lối tư duy nhị phân này, là cơ chế sản sinh các không gian trong truyện cổ tích thần kỳ Sự dịch chuyển không gian khi này không còn gắn với thần thánh, anh hùng nữa
mà gắn liền với những con người bình dân, đời thường
Trong kho tàng truyện cổ tích người Việt, màu sắc phong kiến hay không gian cung đình, lầu vàng gác tía, long li quy phụng hầu như không thấy
Trang 2929
xuất hiện mà chủ yếu là không gian gắn bó với đời sống bình dân Nhân vật chính thường là những con người hiền lành có xuất thân nghèo khổ, biết giữ lòng thiện, nuôi ý chí và luôn sống có đạo đức trên tinh thần “ở hiền gặp lành” theo quan niệm truyền thống
Trong bài viết “Tính hai mặt của không gian trong truyện cổ tích” Nguyễn Việt Hùng cho rằng, đặc điểm không gian nghệ thuật của thể loại cổ
tích mang tính chất vừa thống nhất vừa đối lập bao gồm: không gian kì ảo và
không gian hiện thực; không gian cản trở và không gian phi cản trở, không gian điểm và không gian tuyến tính Tác giả cũng nói đến “tính quan niệm của
không gian làng quê trong truyện cổ tích người Việt, đó là không gian làng quê gắn với sự sống, sự yên ổn (có khi tạm thời), không gian xa xôi lại gắn
với thử thách, tai họa và bất trắc như ba anh em trong truyện Trầu cau ra đi
khỏi nhà dẫn tới cái chết; Thạch Sanh đi khỏi gốc đa là đối diện với nguy
hiểm, lừa lọc; con quạ trong Lọ nước thần mang bức tranh đi xa gây tai họa
cho hai vợ chồng… Qua đó thể hiện tính chất làng xã gắn với tư duy trọng nông, với quan niệm không gian làng quê là dễ sống vì nó gần gũi, thân thuộc Bên cạnh không gian hiện thực là không gian kỳ ảo, không gian này bao
gồm thiên đình, thủy phủ, âm phủ… nó chỉ tồn tại trong ảo tưởng, tâm thức và
mang tính biểu trưng Không chỉ vậy, không gian kỳ ảo là thước đo phẩm chất,
là cơ hội mà ở đó người thiệt thòi được đền bù một cách xứng đáng Như vậy
sự dịch chuyển từ không gian hiện thực đến không gian kỳ ảo là sự dịch chuyển mang tính chất phép màu, lí tưởng và là ước mơ của người lao động
Đó chính là môi trường thử thách đồng thời cũng là môi trường ban thưởng cho người xứng đáng Vì thế, sau khi nhân vật dịch chuyển đến những không gian kỳ ảo này đã đem đến một kết thúc có hậu cho truyện kể Tuy nhiên cần hiểu rằng, không gian kỳ ảo và không gian hiện thực trong truyện cổ tích luôn
có sự đan xen, bổ trợ cho nhau Nhân vật cổ tích thường không sống quá lâu
Trang 30Nếu không gian trong thần thoại mang tính chất mô hình hóa gắn liền với dịch chuyển không gian của thần linh theo chiều dọc thì Sử thi là sự mở rộng không gian theo chiều rộng gắn với hành trình của những anh hùng mang dáng dấp của những vị bán thần Đó là hành trình của Asin, Uylise cùng chủ tướng Agamenon đến thành Thebes để chiếm lại nàng Helen cho Menelaus đồng thời đòi lại danh dự, tịch thu chiến lợi phẩm và chiếm đoạt
thành bang của người Hi Lạp trong sử thi Iliat và Odiseus; Đó là chàng Rama
anh dũng, trí tuệ siêu phàm cùng sự giúp đỡ của thần khỉ Hanuman trong
hành trình giết quỷ Ravana để cứu nàng Sita trong sử thi Ramarana của Ấn Độ; là Đăm San đi tìm nữ thần mặt trời của dân tộc Êđê… không gian trong
sử thi mang tính chất địa lí, lịch sử gắn với địa phương và mục đích ra đi của những người anh hùng là để chinh phục, chiếm đoạt và khát khao chiến thắng
để tiếng tăm lừng lẫy lưu truyền cho hậu thế
Trong chuyến hành trình của mình, các nhân vật chính gặp vô vàn những trở ngại từ đối thủ của mình là các anh hùng bên kia trận tuyến, các loài qủy quái yêu ma (Iliat và Odiseu) hay thiên nhiên khắc nghiệt (Đăm san)… Nhân vật sử thi gắn với người anh hùng, không gian sử thi gắn với quá trình dịch chuyển của nhân vật anh hùng, đó là việc xây dựng không gian
“biển khơi sinh nở”, những vùng “đầm lầy nguy hiểm”, những “khu rừng âm u” - nơi trú ngụ của những tên khổng lồ ăn thịt người hay yêu ma quỷ quái
Đó là không gian chiến trận với những cuộc ẩu đả sinh tử, hòn tên mũi đạn, nạn dịch hoành hành trong tiểu thuyết dã sử
Trang 3131
Không gian trong sử thi đã có sự phân biệt địa giới giữa bộ lạc, “thành bang chúng ta và xứ sở chúng nó”, giữa việc chinh phục và chinh phạt những vùng đất mới đầy cảm hứng anh hùng ca Giọng điệu hào sảng đi cùng với tầm vóc vĩ đại của người anh hùng Có thể nói rằng, sự dịch chuyển không gian gắn với người anh hùng trong sử thi mang tính chất tuyến tính, có xu hướng gần gũi với sự dịch chuyển không gian trong đời sống hiện thực của con người, đó là một điều tất yếu trong diễn trình tiến hóa mang tính lịch sử của nhân loại
Cách tiếp cận vấn đề “dịch chuyển không gian trong truyện cổ tích” như trên đã gợi mở cho ta nhiều cách thức tìm hiểu các mô hình không gian và ý nghĩa dịch chuyển gắn với nhân vật một cách ngày càng cụ thể, sinh động Khi xác lập mô hình không cản trở - phi cản trở, không gian điểm - không gian tuyến tính Nguyễn Mạnh Hùng đã thể hiện rất rõ tính chất của truyện cổ tích gắn liền với con người, một mặt là không gian thần thoại tôn giáo với những phép thần thông biến hóa như là một phương tiện giúp cho nhân vật lội núi, băng đèo hay ngồi trên lưng chim đến một không gian khác hết sức nhẹ nhàng, nhanh chóng bởi sự hỗ trợ của những phương tiện thần kỳ Mặt khác, nhiều lúc không gian cản trở gây ra những trở ngại trong quá trình
di chuyển của nhân vật, đó là không gian đầy những thử thách, kẻ thù ngăn cản Loại không gian này thường gặp trong kiểu truyện dũng sĩ, trong những truyện phiêu lưu, những cuộc truy đuổi của kẻ thù… cũng có khi nhân vật không vượt qua được sự khắc nghiệt của không gian nên thất bại như “Dã tràng xe cát biển đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì” hay Từ Thức rời cõi tiên với “suối tiễn oanh đưa” để rồi thấy “trần gian nhân thế đổi thay” vội vàng tìm lại cảnh Thiên Thai nhưng đã một đi không trở lại …
1.2.1.2 Dịch chuyển tuyến tính
Không gian điểm và tuyến tính cũng là một trong những đặc điểm của truyện cổ tích “Điểm” và “tuyến tính” vốn là những khái niệm hình học Có
Trang 3232
thể hiểu “điểm là phần không gian, nơi nhỏ nhất có thể hạn định được một
cách chính xác, xét về mặt nào đó” còn không gian điểm là loại không gian có
tính chất nhỏ hẹp mang tính khu vực, có sự biệt lập, không có sự mở rộng theo chiều dài dẫn đến hoạt động của nhân vật trong môi trường này bị bó hẹp,
sự dịch chuyển có thể chỉ diễn ra trong một ngôi nhà, một ngôi làng, một đỉnh núi, một góc rừng… Nhân vật có thể dịch chuyển bằng nhiều loại phương tiện khác nhau, nhưng đều có một nguyên tắc chung là dịch chuyển tuần tự, không
có sự dịch chuyển kép và sự đảo trật tự thời gian Nếu như trong thần thoại,
cổ tích phương tiện dịch chuyển của các nhân vật thường là những vật thần kỳ,
có thể vượt qua không gian cản trở một cách dễ dàng Chẳng hạn như “chiếc thảm thần”, “cây chổi phù thủy”, “con chim đại bàng”, “đôi giày có cánh”… thì trong thể loại sử thi gắn với hành trình của các anh hùng thì phương tiện dịch chuyển lại gần gũi với đời sống hiện thực Những anh hùng trong sử thi của Homere dùng “chiến thuyền”, “cưỡi ngựa” lâm trận, Đam Săn thì “cưỡi voi”, Rama thì “cưỡi ngựa” … Thời gian hoàn thành nhiệm vụ hay kết thúc câu chuyện có thể dài ngắn khác nhau nhưng đều diễn ra trong một tiến trình, nhân vật đến gần không gian nào thì tiếp tục mô tả về không gian đó, điều này khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của không gian đối với việc mở rộng cốt truyện
Có thể nói, không gian tuyến tính được hiểu là tính chất nối tiếp nhau theo trục thẳng và có tính tuần tự, nó là một chuỗi liên kết nhiều điểm không gian nhỏ bé thành một khoảng không gian trải dài và mở rộng Dịch chuyển tuyến tính diễn ra một cách tuần tự không có sự đảo trật tự niên biểu, việc gì xảy ra trước thì kể trước, dịch chuyển đến không gian nào thì miêu tả về không gian đó một các có sắp xếp nên dễ theo dõi và đặc biệt là không hề có
sự dịch chuyển diễn ra trong đời sống nội tâm nhân vật Đặc điểm của văn học dân gian là đời sống nội tâm nhân vật nghèo nàn và chủ yếu mang tính
Trang 33là không ngừng mở rộng không gian của mình
Dịch chuyển không gian từ thần thoại, sử thi đến cổ tích đều mang những đặc điểm và tính quan niệm khác nhau Nếu dịch chuyển không gian
trong thần thoại mang dáng dấp tín ngưỡng, tôn giáo gắn với thần linh; không gian trong sử thi gắn liền với những người anh hùng xuất chúng “đẹp tựa thần
linh” thì sự dịch chuyển trong truyện cổ tích lại chuyên chở những mơ ước,
nguyện vọng tốt đẹp về cái chân, thiện, mĩ của người bình dân Vấn đề dịch
chuyển không gian trong thể loại văn học dân gian luôn mang tính quan niệm
và tượng trưng Dịch chuyển không gian tồn tại trong mọi tác phẩm văn học, tuy vậy trong từng thể loại thì vai trò và ý nghĩa biểu đạt của chúng luôn có sự khác biệt Có thể loại xem “dịch chuyển không gian” hay “chủ nghĩa xê dịch”
là một nội dung trọng tâm chi phối cách cảm, cách nghĩ của tác giả trong những chuyến hành trình khám phá, du ngoạn của mình Ngoài ra dạng không gian này còn được thể hiện rất rõ trong thể các thể loại Ký
1.2.2 Dịch chuyển không gian trong thể tài du kí
Có thể nói, du ký là thể tài của “sự dịch chuyển không gian” chính không gian mang tính chất hành trình là môi trường tồn tại của hàng loạt những sự kiện, câu chuyện, những dấu ấn gắn với nhân vật dịch chuyển Điểm độc đáo của thể loại này là ở chỗ, nhân vật và hành trình du ký của họ
là một hiện thực mang tính trải nghiệm của “thân” và „tâm” khi đến những
Trang 3434
vùng đất mới hay những địa danh nổi tiếng Con người dịch chuyển với
hành trình của mình chính là chủ thể sáng tác, họ không phải là nhân vật
trong truyện cổ hay anh hùng trong truyền thuyết mà đích thực là con người mang hơi thở thời đại Họ đi đến những vùng đất có thật, những địa danh xác lập trên bản đồ, đi đến đâu, ấn tượng điều gì thì lưu giữ lại như một kỷ niệm thú vị có thể sẻ chia cùng mọi người Hiện nay thể loại du ký dành được sự ưu
ái đặc biệt của độc giả với những tác phẩm rất được yêu thích như: On the
Road (Jack Kerouac), As I Walked Out One Midsummer Morning (Laurie
Lee), The Great Railway Bazaar (Paul Theroux) …
Ở Việt Nam những năm gần đây, do tiến trình hội nhập diễn tra mạnh
mẽ, phong trào du học phát triển tự do đã giúp cho nhiều người trẻ tuổi thế hệ 8X, 9X có cơ hội bước vào thế giới rộng lớn với nhiều dấu ấn và kỷ niệm thú
vị Bằng niềm say mê khám phá hiểu biết của người trẻ, họ đã đưa cả thế giới vào trang viết của mình với một khí thế yêu đời và cuộn trào sức sống Chẳng
hạn như Ngô Thị Giáng Uyên với Ngón tay mình còn thơm mùi oải hương,
Bánh mì thơm, cà phê đắng Phan Quang với bộ ba tác phẩm du ký: Bên mộ
vua Tần, Thơ thẩn Paris, Chia tay trên sông Hay mới đây nhất, cô bé thuộc
thế hệ 9X Nguyễn Thị Khánh Huyền làm sôi động làng sách với cuốn Xách
ba lô lên và đi với hành trình du ký qua hơn 20 quốc gia trên thế giới …
Hơi thở thời đại của du ký với con người du hành khác hẳn với nhân vật
trong văn học dân gian và trong những tác phẩm hư cấu ở chỗ, đó là con người hoàn toàn chủ động trong việc “dịch chuyển không gian” (không gian được chọn lựa để đi đến), một đặc trưng nữa, nhân vật du kí - họ không phải
là anh hùng, không phải là người hiền lành trong cổ tích đi tìm phép màu trong thế giới kỳ ảo mà họ xem dịch chuyển không gian như một cuộc hành hương, cuộc phiêu lưu, khám phá, phát hiện mang tính giải trí làm tăng chất lượng đời sống Họ là những con người ít nhiều có máu lãng tử, có thú xê
Trang 3535
dịch và chính thực tế đã cho họ nhiều kiến thức và hiểu biết uyên bác về đất nước, con người Có thể nói, du ký là một thể tài văn học có phạm vi bao quát rộng, là một hành trình “đi rồi viết lại” những gì mình thích hoặc ghét một cách phóng túng, tự do
Du kí gắn với cuộc hành trình, do đó thể loại này đã có từ rất sớm cùng với nhu cầu dịch chuyển không gian của con người Du kí còn được phân loại dựa vào chủ thể người “đi và viết” bao gồm những người làm phóng sự, viết
về những chuyến đi cho một thời báo, một lĩnh vực thời thượng trong xã hội… Phạm Xuân Nguyên cho rằng, thơ đi sứ trong văn học trung đại có thể được xem là những tác phẩm tiêu biểu, nói cách khác: do yêu cầu dịch chuyển
vì công việc: nhận chức, thi cử hay thị sát dân tình thì nhà quan, kẻ sĩ đều có những bài thơ vịnh cảnh nơi mình đã đi qua… Trong tiếng Hán 旅记 (du kí) nghĩa là đã qua rồi viết lại, có khi được diễn đạt bằng 旅程 (hành trình) hay từ Journey trong tiếng Anh để chỉ những chuyến đi mang tính chất hành trình Văn học du ký (travel literature) được viết dựa trên cảm hứng từ sự thích đi, những cuộc hành hương, những chuyến công cán, những cuộc thám hiểm và phát kiến địa lí về các vùng đất mới nhằm tiêu khiển hay kiếm tìm một lợi ích nhất định
Sau hiện tượng Columbus tìm ra châu Mĩ, ở phương Tây làn sóng du kí với đầy những truyện kể anh hùng, các cuộc chinh phục và hành hương diễn
ra rộng khắp Bên cạnh những tác phẩm viết về hành trình du kí trải nghiệm thực tế của Marco Polo hay John Mandeville còn có rất nhiều tác phẩm du ký
hư cấu như “tâm điểm của bóng tối” của Joseph Conrad, Thần khúc của Dante, Gulliver du kí của Jonathan Swift, Candide của Voltaire hay lịch sử Rasselas của Samuel Johnson Trong thực tế yếu tố hiện thực của dạng “du kí hư cấu” này hoàn toàn là sản phẩm tưởng tượng phong phú của nhà văn Ở phương
Trang 3636
tây, có thể xem Robert Louis Stevenson (1850-1894) là người theo chủ nghĩa
xê dịch (tourism literature) đầu tiên trong văn học Ngoài ra phải kể đến những năm nửa cuối thế kỷ XIX, những nhà quý tộc, tu sĩ, những người có tiền và có thời gian rảnh rỗi đi châu Âu để tìm hiểu về nghệ thuật kiến trúc cổ rồi viết nhật ký làm kỷ niệm…
Thời phong kiến trung cổ Trung Quốc, văn học du kí (旅记文学) cũng biểu hiện khá phổ biến trong triều đại nhà Tống (960 – 1279), chúng được viết khá thường xuyên dưới dạng trần thuật, văn xuôi, tiểu luận hay mang phong cách của nhật kí Một số tác giả nổi tiếng trong thể loại này như Phạm Thành Đại (范成大 – 1126-1193), Từ Hà Khách (徐霞客 – 1587 - 1641) họ
đã làm giàu cho tác phẩm của mình bằng những thông tin về địa lí, những am hiểu tường tận về những địa danh nổi tiếng Trung Quốc Nhà thơ, nhà chính khách nổi tiếng Tô Thức (苏轼 - 1037 - 1101) cũng thường vịnh cảnh đề thơ trên những chuyến đi thực tế của mình …
Từ những dẫn chứng trên, có thể nói du kí là một thể tài xuất hiện rất sớm và quen thuộc trong văn học nhân loại gắn với sự dịch chuyển không gian của chủ thể, nhân vật Tuy vậy, những công trình nghiên cứu mang tính chất chuyên sâu, đông tây so sánh thì chưa được biết đến Riêng ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn có biên soạn công trình “Du kí Việt Nam” tuyển tập các bài trên tạp chí Nam Phong, ngoài ra tác giả còn dành tâm huyết khá nhiều trong việc nghiên cứu thể tài này trong loạt bài “Du kí của người Việt Nam viết về các nước và những đóng góp vào quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt giai đoạn thế kỉ XIX – đầu thế kỷ XX” hay “Thể tài du ký trên tạp chí Nam Phong (1917-1934)”
Từ những vấn đề trên ta có thể tái khẳng định: du ký là một thể loại đặc biệt nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học, bao gồm lịch sử,
Trang 3737
địa lí, văn hóa gắn với nhu cầu của mỗi cá nhân cụ thể Cơ chế của du ký là hành trình dịch chuyển của chủ thể từ không gian này đến không gian khác Tinh thần của Du ký là trải nghiệm, khám phá, bày tỏ những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân rồi chia sẻ cùng mọi người, kích thích tinh thần năng động, ham học hỏi của mỗi người khi đến những miền đất mới, được ngắm cảnh đẹp, ăn thức ăn ngon, truy tìm sản vật độc đáo mà nếu không có sự dịch chuyển không gian thì không thể cảm nhận hết sự thú vị
Đối với dịch chuyển không gian trong văn học du ký thiên về hư cấu thì
đó cũng là một chuyến phiêu lưu kỳ thú của tâm hồn và khả năng tưởng tượng độc đáo của con người Quả thực, một tác phẩm du ký hấp dẫn không đơn thuần chỉ là một tác phẩm văn chương mà còn chứa trong đó nhiều yếu tố lịch
sử, địa lý, giáo dục và đôi khi còn phản ánh trên phương diện chính trị xã hội Một đặc điểm khá nổi bật của không gian trong thể loại du ký là số lượng điểm không gian trong một hành trình thường nhiều và đa dạng hơn dịch chuyển mang tính chất đơn lẻ, nhân vật do đó thường trải qua nhiều điểm không gian khác nhau trong chuỗi thời gian nhất định Chẳng hạn như hành trình của thầy trò Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh đã vượt qua 10 vạn 8 ngàn dặm trèo đèo, lội suối; trải qua 81 kiếp nạn xảy ra trong mỗi lần dịch chuyển không gian, có thể nói cứ mỗi kiếp nạn lại gắn với một sự thay đổi không gian gắn với nhân vật Do đó hành trình của nhân vật du ký như một mũi tên chỉ dẫn đi từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc mà ở giữa là những
“điểm trung gian” được xâu chuỗi một cách logic Điều này có sự khác biệt rất lớn so với tiểu thuyết ở tính đảo trật từ thời gian, nghĩa là nhân vật dịch chuyển từ không gian này đến không gian kia không theo một trình tự thời gian và điểm không gian nhất định Không chỉ thế, dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết hiện đại còn là một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng như chuyển cảnh, gán ghép điện ảnh… Như vậy vấn đề dịch chuyển không gian
Trang 38Thực chất của dịch chuyển không gian chính là quan sát “hành trình của
con người” Đó có thể là con đường du ngoạn của kẻ lãng du trong Chiếc lư
đồng mắt cua (Nguyễn Tuân), có thể là đường đời phiêu bạt tìm mẹ đầy cay
đắng của Tam Mao, cũng có thể là con đường giác ngộ tâm linh trong hàng ngàn, hàng vạn chuyến hành hương tôn giáo,…
1.3 Khái quát về dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn
Dịch chuyển không gian là một nhu cầu không thể thiếu của con người
và cũng là một trong những hình thức phát triển truyện kể trong cấu trúc văn
bản nghệ thuật Dịch chuyển không gian trong tiểu thuyết Linh Sơn của Cao
Hành Kiện cũng là một chuyến du hành nhưng đã được phân tách làm hai
nhánh với hai lí tưởng xuất phát từ “bản thể con người” phân đôi gồm: ta và
mi Với kiểu trần thuật đa chủ thể, đa điểm nhìn, hành trình đến với ngọn Linh
Sơn được nhìn nhận vừa mang màu sắc bi kịch vừa chứa đựng những quan
Trang 39chuyển không gian trong Linh Sơn là chuyến đi tìm về “bản lai diện mục” con người Dịch giả Trần Đĩnh băn khoăn, phải chăng Linh Sơn của Cao Hành
Kiện là “một cuộc đi không tới nơi?”, và quả thực nếu cứ dịch chuyển tuyến
tính trong không gian hiện thực thì chẳng bao giờ tìm thấy được ngọn Linh
Sơn, thế nên tìm đến Linh Sơn phải gắn với cuộc hành trình tâm thức, của sự
giác ngộ mang màu sắc tôn giáo và đậm chất tâm linh
1.3.1 Dưới góc nhìn văn hóa
Cao Hành Kiện sinh năm 1940 tại huyện Cống Châu, tỉnh Giang Tây miền đông Trung Quốc Cha của Cao là một nhân viên ngân hàng, mẹ là một diễn viên tài tử Cao Hành Kiện lớn lên trong bối cảnh lịch sử có nhiều biến động, hết cuộc chiến tranh Nhật Trung lần thứ hai (1937 – 1945) đến nội chiến (1945 – 1949) rồi lại sống trong chế độ cộng hòa khắc nghiệt, dưới thời Mao Trạch Đông Sau khi tốt nghiệp trung học, từ năm 1957 tới năm 1962 Cao Hành Kiện học Pháp văn tại trường Đại Học Bắc Kinh Ông tham gia sáng tác nhiều loại hình nghệ thuật như: tiểu thuyết, kịch phẩm, phê bình văn học, dịch thuật, hội họa và còn làm đạo diễn sân khấu
Thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa đã đưa đất nước Trung Hoa vào một tình trạng hỗn loạn, hàng triệu người vô tội kể cả các nhân vật cao cấp bị tố cáo không đúng và hành hạ đến chết Có thể nói rằng giai đoạn này là một thời kỳ tăm tối đối với nền văn hóa truyền thống Trung Hoa, những đền đài, viện bảo tàng bị đóng cửa thậm chí biến thành kho chứa rác, làm trại lính Hàng loạt di sản văn hóa cổ bị phá huỷ - đồ cổ, tranh cổ cũng phải dấu cất trước mối họa đập phá, thiêu hủy bởi luận điểm: “những tàn tích của thời phong kiến lạc hậu
Trang 4040
đó, ai còn giữ thì là phản động” Vấn đề này cũng được Cao Hành Kiện trình
bày trong cuốn tiểu thuyết Linh Sơn và Kinh Thánh của Một Người
Trong thực tế, cuộc cách mạng văn hóa ở Trung Quốc từng bị báo chí phương Tây phê phán là không biết gìn giữ những di sản văn hoá dân tộc Thời điểm này, sáng tác văn học là vấn đề nhạy cảm, nguy hiểm Sau khi bị
vợ mình tố cáo là lén lút viết văn, Cao Hành Kiện bị đưa đến trại lao động cải tạo trong 6 năm dài Thời gian sau đó, từ năm 1980 đến 1987, Cao sáng tác trở lại với vai trò là nhà phê bình văn học, viết truyện ngắn và một số vở kịch
đăng tại các tạp chí văn chương ở Trung Quốc Năm 1983 Cao viết vở Trạm
Xe tác phẩm ngay sau đó bị xem là một văn bản độc hại cho nước Cộng Hòa
Nhân Dân Hai tiểu thuyết Người Rừng (1985) và Bỉ Ngạn (1986) ngay sau
khi ra đời đã biến nhà văn trở thành đối tượng phản cách mạng và chính thức
bị nhà cầm quyền Cộng Sản cấm phổ biến và trình diễn Kể từ thời điểm ấy, tác giả bị công an theo dõi gắt gao hơn Để tránh khỏi những phiền toái từ chính quyền đương thời, Cao đã đi lang thang trong 10 tháng qua các miền rừng núi thuộc tỉnh Tứ Xuyên rồi thả bộ dọc theo con sông Dương Tử Chuyến đi của Cao ban đầu với mục đích tránh khỏi giai đoạn kiểm soát gắt gao của chính quyền, sau đó là chủ động tìm kiếm văn hóa truyền thống dân tộc Không chỉ thế, sau sự kiện bác sĩ chuẩn đoán nhầm ung thư phổi, nhà văn như cảm thấy mình vừa sống lại sau bản án tử hình nên đã quyết định tìm kiếm một cuộc sống mới Đó chính là những nguyên nhân, cảm xúc chi phối
hành trình của Cao Hành Kiện dẫn đến sự ra đời của tiểu thuyết Linh Sơn
Có thể nói rằng, bối cảnh văn hóa, chính trị, xã hội đã tác động mạnh mẽ vào đời sống vật chất và tinh thần của nhà văn Thứ nhất, bị theo dõi khắt khe dẫn đến tâm lí tù túng là không thể tránh khỏi Ngay cả người vợ của Cao Hành Kiện cũng trở thành nhân chứng tố cáo ông nên những giá trị tinh thần qua con mắt nhà văn có phần bị đảo lộn Một thực tế là: tai họa cận kề có thể