1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới

202 871 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung, phương pháp hoạt động của Công đoàn đã có đổi mới, hướng mạnh về cơ sở, vận động, tập hợp và chăm lo bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động, gia

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2005

Trang 2

Đánh giá về vai trò của tổ chức Công đoàn, Nghị quyết Đại hội IX Công đoàn Việt Nam đã nhấn mạnh: “Phát huy vai trò và trách nhiệm to lớn của mình trong sự nghiệp đổi mới, trong thời gian qua, giai cấp công nhân, tổ chức Công đoàn Việt Nam đã bền bỉ phấn đấu, hướng theo đường lối, chủ trương của Đảng và các mục tiêu nhiệm vụ chung của Đất nước mà hành động Nội dung, phương pháp hoạt động của Công đoàn đã có đổi mới, hướng mạnh về cơ sở, vận động, tập hợp và chăm lo bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, lao động, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn đã có đóng góp quan trọng vào sự ổn định chính trị, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bồi dưỡng nguồn nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất nước.” [sách

đã dẫn, tr.15]

Trang 3

Nhìn chung, từ khi đổi mới Đất nước, các thành phần kinh tế được thừa nhận, các doanh nghiệp và cơ sở dịch vụ ngoài quốc doanh ngày càng phát triển và đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta

Cùng với sự đa dạng hoá các loại hình sản xuất, kinh doanh, trong hoạt động của mình, Công đoàn đã cố gắng đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng, đổi mới tổ chức hoạt động cho phù hợp với điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Nhiều nghiệp đoàn, hội nghề đã được hình thành, Công đoàn ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển

Tuy nhiên vấn đề cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn đang là vấn

đề cần được nghiên cứu, xem xét để hướng tới một mô hình chung nhằm đảm bảo hoạt động có hiệu quả hơn nữa

Thực tế cho thấy, Công đoàn là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của những người lao động Việt Nam”, Công đoàn Việt Nam có vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị của nước ta, được tổ chức theo vùng, lãnh thổ hoặc ngành, nghề Nếu người lao động được tổ chức tốt sẽ có sức mạnh to lớn trong xây dựng đời sống xã hội

Trong những năm qua, mặc dù tổ chức Công đoàn đã có những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa vị thế của mình trong đời sống xã hội nhưng vẫn còn có những đoàn viên Công đoàn chưa thiết tha, gắn bó với tổ chức của mình Trong sinh hoạt Công đoàn có nơi còn hình thức, cứng nhắc, không hấp dẫn đoàn viên nên đoàn viên không tự giác tham gia sinh hoạt Công đoàn cơ

sở có nơi còn chưa phát huy được vai trò tổ chức tập hợp quần chúng

Những hạn chế nêu trên có nguyên nhân từ cơ cấu tổ chức chưa đổi mới kịp, hình thức tổ chức còn ảnh hưởng cơ chế cũ Trong các cấp Công đoàn còn tình trạng tổ chức đồng dạng: cấp trên có ban nào thì cấp dưới có ban ấy Hoạt động còn trùng chéo, phân tán, ỷ lại Quan hệ chỉ đạo giữa Công đoàn ngành, nghề và Liên đoàn Lao động địa phương đối với cấp cơ sở chưa

rõ ràng Do đó, đối với một Công đoàn cơ sở có thể có nhiều cấp trên, khi giải

Trang 4

quyết các công việc cụ thể còn chậm vì phải qua nhiều cấp Đội ngũ cán bộ Công đoàn ít được bồi dưỡng những kiến thức cập nhật, chưa theo kịp quá trình đổi mới, chưa thích ứng với cơ chế thị trường do hoạt động quá lâu trong

cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cho nên còn tình trạng hành chính hoá, quan liêu hoá và công chức hoá

Tất cả những vấn đề nêu trên cho thấy đã đến lúc cần phải có một nghiên cứu khoa học về sự biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn Việt Nam trong quá trình đổi mới

Tác giả hy vọng luận án sẽ có những đóng góp trong việc lý giải về sự biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn Việt Nam, từ đó góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu thực trạng sự biến đổi của tổ chức Công đoàn Việt Nam, luận án sẽ góp phần lý giải quá trình biến đổi về cơ cấu tổ chức, những biến đổi về chức năng, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp hoạt động Công đoàn trong quá trình đổi mới Từ đó đánh giá về sự biến đổi, phát hiện những vấn đề hợp lý, bất hợp lý trong cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn, đề xuất những vấn đề mang tính giải pháp xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam phù hợp với tình hình hiện nay, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất nước

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Sự biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới

3.2 Phạm vi khảo sát:

- Phía Nam là Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ

- Phía Bắc là Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bắc Ninh

Trang 5

- Công đoàn ngành giáo dục

- Công đoàn ngành Bưu điện Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

- Dựa trên phương pháp luận triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

- Dựa trên phương pháp luận của lý thuyết cơ cấu chức năng

- Dựa trên phương pháp lôgíc lịch sử

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phân tích tài liệu

Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, từ phát hiện vấn đề, lựa chọn đối tượng nghiên cứu, hình thành giả thuyết, thu thập thông tin và phân tích kết quả nghiên cứu Việc phân tích tài liệu trong quá trình hoàn thành luận án không chỉ dừng lại ở các tài liệu của các ngành khoa học khác nhau nghiên cứu về công nhân, Công đoàn, về các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng, đặc biệt luận án còn sử dụng các thông tin bổ ích từ các Hội thảo về tổ chức, hoạt động Công đoàn, các lớp tập huấn cán bộ chủ chốt của Công đoàn ngành Trung ương, Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố

4.2.2 Nghiên cứu thực địa

- Quan sát về tổ chức hoạt động Công đoàn một số cơ sở: Nhằm xem xét cách tổ chức chỉ đạo hoạt động của Công đoàn cơ sở từ đó đánh giá các phương pháp công tác cán bộ Công đoàn

- Phỏng vấn sâu một số cán bộ Công đoàn chủ chốt từ Trung ương đến

cơ sở: để thu thập thông tin định tính nhằm lý giải vấn đề nghiên cứu từ nhiều khía cạnh, đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của luận án, tác giả đã tiến hành phỏng vấn: 03 cán bộ thuộc Tổng liên đoàn, 05 cán bộ Liên đoàn lao động địa phương, 03 cán bộ Công đoàn ngành, 4 Chủ tịch Công đoàn cơ sở

Trang 6

- Trưng cầu ý kiến thông qua bảng hỏi: dung lượng mẫu: 515 người là cán bộ Công đoàn cơ sở, cấp trên cơ sở, cán bộ chuyên môn, đoàn viên Công đoàn và công nhân lao động

5 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết

5.1 Các giả thuyết nghiên cứu :

Giả thuyết 1: Sự biến đổi cơ chế quản lý kinh tế đã dẫn đến sự biến đổi nhất định về hệ thống chính trị, từ đó tất yếu dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn Việt Nam

Giả thuyết 2: Sự biến đổi hiện nay của tổ chức Công đoàn có vấn đề hợp lý, phù hợp với yêu cầu thực tiễn nhưng cũng có vấn đề chưa hợp lý Do

đó vai trò của Công đoàn trong hệ thống chính trị cũng chưa đáp ứng yêu cầu trong quá trình đổi mới và quá trình toàn cầu hoá

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ khẳng định hoặc bác bỏ các giả thuyết trên

5.2 Khung lý thuyết:

Công cuộc đổi mới Đất nước

Sự biến đổi hệ thống chính trị Việt Nam

Cơ cấu tổ chức Công đoàn Việt Nam

Biến đổi cơ cấu tổ chức

hệ thống Công đoàn Việt Nam

Cơ cấu bộ máy, quy mô tổ chức Công

đoàn VN

Cơ cấu đội ngũ cán bộ Công đoàn Quan hệ của Tổ chức Công đoàn

Cơ chế thị trường

Cơ cấu kinh tế

Biến đổi cơ cấu công nhân, viên

Trang 7

Lược đồ trên cho thấy cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn Việt Nam được xem xét dưới tác động của công cuộc đổi mới Đất nước Sự biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với sự biến đổi về số lượng, chất lượng đội ngũ công nhân, viên chức, lao động Qua đó nhận thấy có sự biến đổi về hệ thống tổ chức, quy mô tổ chức, hoạt động của Công đoàn Việt Nam, biến đổi về cơ cấu đội ngũ cán bộ Công đoàn và quan hệ của tổ chức Công đoàn trong hệ thống chính trị Từ đó xác định cần đổi mới cơ cấu tổ chức Công đoàn, nâng cao vị thế vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay

6 Đóng góp của luận án

Đây là đề tài đầu tiên trong hệ thống lý luận, nghiệp vụ công tác Công đoàn nghiên cứu trực tiếp sự biến đổi về cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn Việt Nam từ khi Đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới Trên cơ sở làm rõ thực trạng của sự biến đổi, tìm hiểu nguyên nhân biến đổi, tác giả sẽ nêu một số kiến giải và đề xuất về mô hình, cơ cấu tổ chức và loại hình hoạt động của Công đoàn Việt Nam phù hợp với cơ cấu hệ thống chính trị và cơ cấu xã hội, đáp ứng yêu cầu thực hiện tốt luật Công đoàn, luật Lao động, luật Mặt trận Tổ quốc và pháp lệnh công chức nhằm nâng cao vị thế của tổ chức Công đoàn Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất nước, vì mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

7 Kết cấu của luận án: gồm 3 phần:

Phần một: Mở đầu (Từ trang 1 đến trang 6)

Phần hai: Nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài (Từ trang7đến trang 48)

Chương 2: Thực trạng cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn Việt Nam

(Từ trang 49 đến trang 119) Chương 3: Đổi mới cơ cấu tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong hệ thống chính trị hịên nay (Từ trang 120 đến trang 164)

Phần ba: Kết luận (Từ trang 165 đến trang 172)

Trang 8

PHẦN HAI: NỘI DUNG

CHƯƠNG: 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong điều 1, chương I Luật Công đoàn (1990) đã ghi rõ:

“Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động”

Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về công nhân, Công đoàn Việt Nam trong quá trình đổi mới Tuy nhiên chỉ từ những năm 90 của thế kỷ XX mới có những nghiên cứu cụ thể làm cơ sở định hướng cho việc xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn

Năm 1995, KX05-10 thuộc chương trình khoa học - công nghệ KX05

về “Vị trí, tính chất hoạt động của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” do PTS Nguyễn Viết Vượng làm chủ nhiệm, đã khái quát thực trạng các đoàn thể, tổ chức xã hội, trong đó vấn đề về tổ chức Công đoàn được đặc biệt quan tâm

Đề tài đã đề cập đến vấn đề giai cấp công nhân và điều kiện hoạt động sản xuất công nghiệp: Trước đổi mới, giai cấp công nhân nước ta có gần 4 triệu người Thực hiện đường lối đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, giai cấp công nhân nước ta đã có sự biến động và dịch chuyển về cơ cấu đội ngũ Tiếp đến đề tài đã đề cập đến tình hình tổ chức Công đoàn và trên một số vấn đề cần giải quyết trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn Các tác giả đã khẳng định: “Công cuộc đổi mới đã có tác động mạnh mẽ đến đội ngũ công nhân, lao động và tổ chức Công đoàn Từ đó chỉ ra: Tổ chức và hoạt động của Công đoàn phải nhạy cảm với đời sống của công nhân, lao động, với sự vận động và phát triển của mọi lĩnh vực đời sống xã hội Sự tác động

Trang 9

của kinh tế thị trường đang đặt ra cho hoạt động Công đoàn ở nước ta sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới nhận thức, tư duy về vai trò, chức năng của Công đoàn, tổ chức và hoạt động của Công đoàn để tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của tổ chức Công đoàn trong hệ thống chính trị”

Cũng trong năm 1995, đề tài KX 04-07 là đề tài khoa học cấp Nhà nước "Những luận cứ khoa học về đổi mới chính sách xã hội đối với giai cấp công nhân và thợ thủ công Việt Nam" thuộc chương trình khoa học và công nghệ KX.04 Cơ quan chủ trì nghiên cứu là trung tâm nghiên cứu thông tin lý luận Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam

Mục tiêu của Đề tài là nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng các chính sách xã hội đối với giai cấp công nhân đã ban hành Trên cơ

sở đó nghiên cứu đề xuất những luận cứ khoa học về đổi mới chính sách xã hội đối với giai cấp công nhân và thợ thủ công Việt Nam nhằm xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh về số lượng và chất lượng trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở chính trị xã hội vững chắc co Đảng cộng sản Việt Nam

Những người thực hiện đề tài sau khi trình bày những vấn đề cơ bản về

lý luận và phương pháp luận đã làm rõ thực trạng tình hình giai cấp công nhân và thực trạng chính sách xã hội đối với giai cấp công nhân

Cuối cùng, đề tài đã đưa ra những nhận định cụ thể về giai cấp công nhân: "Cơ chế thị trường đang tác động hàng ngày vào các giai tầng xã hội Việt Nam nhưng tác động trực tiếp, mạnh mẽ trước hết vào giai cấp công nhân Những diễn biến nhanh chóng về cơ cấu xã hội, về thực trạng tình hình giai cấp công nhân đòi hỏi phải nắm bắt cập nhật, nhạy bén và khái quát nhanh để có biện pháp ứng xử kịp thời và đúng đắn, nhằm ổn định chính trị,

ổn định xã hội và tránh nguy cơ trệch hướng xã hội chủ nghĩa

Năm 1996 PTS Bùi Đình Bôn đã có công trình nghiên cứu “Giai cấp công nhân Việt Nam - mấy vấn đề lý luận và thực tiễn” Trong công trình này

Trang 10

Ngoài ra, từ năm 1997 đến 2000, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

đã rất quan tâm chỉ đạo và triển khai nghiên cứu về công nhân, Công đoàn, đó

là các đề tài “Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam”, “Thực trạng lao động khu vực phi kết cấu ở Việt Nam” (Dự án Ras/97/M11/DAN do Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tài trợ và “Tình hình lao động nữ khu vực phi kết cấu ở Việt Nam” (Dự án Ra-006501- 20- Việt Nam của Trường Đại học Công đoàn

do Bộ phát triển và Hợp tác Hà Lan tài trợ)

Năm 1999 đề tài KHXH - 03- 07 “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp công nhân những chính sách và giải pháp xây dựng giai cấp công nhân, củng cố tăng cường vị trí giai cấp công nhân trong xã hội do PTS Nguyễn Viết Vượng làm chủ nhiệm đã được nghiệm thu

Đề tài đã làm rõ tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tác động của quan hệ sản xuất với sự phát triển của giai cấp công nhân và ngược lại Nghiên cứu vai trò, vị trí của giai cấp công nhân đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Các tác giả thực hiện đề tài

đã trình bày và phân tích hệ thống những chính sách vĩ mô và những giải pháp cơ bản nhằm củng cố và tăng cường vị trí của giai cấp công nhân trong

xã hội và tạo động lực cho giai cấp này vươn lên đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đất nước

Trang 11

Năm 1999 Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội đã có đề tài nghiên cứu “Về vai trò của Công đoàn cơ sở trong việc giải quyết tranh chấp lao động, hạn chế đình công chưa đúng pháp luật”

Đây là đề tài được nghiên cứu trong phạm vi Hà Nội nhưng đã đề cập đến vấn đề rất cấp bách trong hoạt động Công đoàn giai đoạn hiện nay Trong công trình nghiên cứu, các tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận chung về đình công và quyền đình công của công nhân lao động và tổ chức Công đoàn Đồng thời chỉ ra nguyên nhân của đình công, hậu quả kinh tế, chính trị, xã hội của đình công và trách nhiệm của Công đoàn với vấn đề giải quyết tranh chấp lao động, hạn chế đình công không đúng pháp luật

Năm 2000 Bộ lao động thương binh và xã hội đã có Dự án nghiên cứu

về “Tác động xã hội của việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, đối với người lao động” Trong Dự án sau khi mô tả thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, thực trạng lao động việc làm của doanh nghiệp Nhà nước

đã cổ phần hoá và tác động của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đối với người lao động, những người thực hiện đề tài đã đưa ra các kiến nghị của doanh nghiệp, các kiến nghị của người lao động dôi dư và các kiến nghị của người đang làm việc tại các doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hoá Cuối cùng Dự án đã đưa ra những ý kiến kết luận và khuyến nghị phù hợp liên quan đến việc làm, đời sống của công nhân, lao động nhằm đẩy nhanh tiến độ

cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước nhưng cũng hướng tới sự ổn định đời sống công nhân, lao động và phát triển doanh nghiệp

Năm 2002 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã nghiệm thu đề tài

“Tổ chức và hoạt động Công đoàn trong các Công ty cổ phần ở Việt Nam” do trường Đại học Công đoàn thực hiện Đề tài đã đánh giá thực trạng về tình hình tổ chức và hoạt động Công đoàn trong các Công ty cổ phần, từ đó đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công đoàn cơ

sở các công ty cổ phần

Trang 12

Năm 2003 có 2 công trình nghiên cứu về công nhân, Công đoàn khu vực kinh tế liên doanh với nước ngoài Trước hết là cuốn "Công nhân công nghiệp trong các doanh nghiệp liên doanh ở nước ta thời kỳ đổi mới" của Bùi Thị Thanh Hà do Quỹ Ford tại Việt Nam tài trợ

Công trình nghiên cứu này đã khái quát từ các nghiên cứu đã có từ những năm 90 của thế kỷ XX đến tháng 4 năm 2002 về đội ngũ công nhân trong doanh nghiệp liên doanh, để hình dung rõ nét hơn về họ như một nhóm

xã hội mới trong xã hội Việt Nam Nhận diện chân dung đội ngũ với các đặc điểm kinh tế - xã hội, xác định những đặc trưng của nhóm, đi sâu phân tích các quan hệ xã hội trong và ngoài doanh nghiệp, phân tích vai trò của Công đoàn theo các chiều cạnh xã hội học, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất cũng như khả năng, cơ hội thăng tiến của họ Nghiên cứu đã góp phần làm rõ hơn về cơ cấu xã hội ở nước ta trong thời kỳ đổi mới và đánh giá vai trò của đội ngũ công nhân công nghiệp trong các đơn vị liên doanh trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Công trình thứ 2 trong năm 2003 đó là cuốn sách "Nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài" Đây

là cuốn sách được biên soạn theo kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam do Viện Công nhân Công đoàn thực hiện

từ năm 2001 đến 2002

Sau khi khái quát tình hình đầu tư nước ngoài và thực trạng đội ngũ công nhân, lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các tác giả đã nêu thực trạng hoạt động Công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Cuối cùng là những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài Các tác giả cũng đã nêu được một số khuyến nghị với Đảng, Nhà nước với tổ chức Công đoàn và đưa ra kết luận "Đội ngũ công nhân lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đến nay đã tăng lên đáng

Trang 13

kể về số lượng, chất lượng, có cơ cấu ngành nghề đa dạng, cơ cấu tuổi đời trẻ Việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động như hợp đồng lao động, tiền lương, thu nhập, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, điều kiện làm việc đã được người sử dụng lao động quan tâm Tuy nhiên, quan hệ lao động ở khu vực này vẫn còn phức tạp, tình trạng vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của công nhân, lao động như làm tăng ca, tăng giờ quá nhiều, định mức lao động cao, không thực hiện đúng quy định của thoả ước lao động tập thể vẫn còn không ít Do vậy rất cần có sự quan tâm của các cấp các ngành chức năng và tổ chức Công đoàn

Nhìn chung, những năm gần đây, những nghiên cứu về công nhân, Công đoàn ngày càng nhiều nhưng đề tài về cơ cấu tổ chức Công đoàn Việt Nam chưa được quan tâm Trên thế giới cũng vậy, về sự biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn hầu như chưa có nghiên cứu nào chính thức đề cập đến Gần đây nhất, tại Liên bang Nga có công trình nghiên cứu của Phó giáo sư - Tiến sĩ Anhiusin S.V Phó Viện trưởng Học viện Lao động và quan

hệ xã hội thuộc Trung ương các Công đoàn độc lập Liên bang Nga đã đề cập đến “vai trò của tổ chức Công đoàn trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế -

xã hội”

Trong công trình của mình, tác giả Anhiusin S.V đã mở đầu bằng việc đánh giá tổ chức hoạt động Công đoàn ở Liên bang Nga hiện nay là vừa tiến hành thử nghiệm, vừa khắc phục sai sót Hiện nay hoạt động Công đoàn ở Liên bang Nga còn “nhiều điều ảm đạm” nhưng đã có những thay đổi cơ bản với tuyên cáo đã được ghi trong điều 7 của Hiến pháp Liên bang Nga Điều này thể hiện hướng giải quyết khả thi và “duy nhất đúng”, đó là: “Liên bang Nga là một chỉnh thể Nhà nước xã hội, với đường lối chính sách là tạo mọi điều kiện nhằm đảm bảo cuộc sống tốt đẹp và sự phát triển tự do của con người” Từ đó ở Nga đã hình thành hệ thống quan hệ đối tác xã hội dựa trên

cơ chế rõ ràng về tác động qua lại giữa các thành viên: người lao động làm thuê, người sử dụng lao động và Nhà nước

Trang 14

về sự biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn để từ đó khẳng định tính hợp lý của sự biến đổi, đồng thời từng bước khắc phục những mặt chưa hợp lý của nó, góp phần xây dựng tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày càng vững mạnh

1.2 Các lý thuyết tiếp cận và khái niệm công cụ

1.2.1 Các lý thuyết tiếp cận

1.2.1.1 Lý thuyết cơ cấu xã hội:

Vào đầu những năm 50 của thế kỷ XX xuất hiện lý thuyết cơ cấu xã hội

do nhà nhân học Claude Levi Strauss mở đầu với tác phẩm "Những cơ cấu sơ đẳng của hệ thân tộc" Sau đó lý thuyết này đã có ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn

Trang 15

Hệ thức (paradigme) của lý thuyết cơ cấu xã hội xác định mục đích nghiên cứu của nó là khám phá ra các cơ cấu, sự vận hành và những qui luật nội tại của chúng; Chủ trương giải thích những biến đổi bằng các qui luật nội tại của các cơ cấu xã hội nhằm khám phá ra những mối liên hệ qua lại giữa các cơ cấu và tính thống nhất của chúng

Một điều có ý nghĩa phương pháp luận là bất cứ một lý thuyết khoa học

xã hội nào đều phải trải qua một quá trình suy nghĩ, phê phán đối với ngay cả những bậc tiền bối được thừa nhận nhiều nhất Tuy nhiên cũng không có một

lý thuyết nào được xây dựng mà không có sự kế thừa những thành quả trí tuệ của quá khứ và đặt chúng vào những “dòng dõi lý thuyết” trong lịch sử

Nhà xã hội học người Pháp P Bourdieu được xem là người có nhiều đóng góp vào sự phát triển lý thuyết về cơ cấu xã hội dưới tên gọi “lý thuyết hậu cơ cấu” có sự kế thừa những luận điểm khoa học của nhiều nhà khoa học như E Durkheim, M Weber, đặc biệt là C Mác để xây dựng nên những luận điểm khoa học của mình, ví dụ như nguyên lý về tính khách quan của cái

xã hội (le social)

Luận thuyết của P.Bourdieu rất coi trọng mối quan hệ biện chứng giữa các tác nhân và cơ cấu xã hội, không xem các tác nhân như những phản ánh đơn giản của các cơ cấu khách quan Điều đó đã được P.Bourdieu nói rất rõ trong tác phẩm nổi tiếng "Nghề nghiệp của nhà xã hội học", "sự mô tả những thái độ, những ý kiến và những nguyện vọng cá nhân không thể đem lại nguyên lý giải thích những thái độ, những ý kiến và những nguyện vọng ấy" [Paris Mouton Bordas 1968, tr.41]

Sự phát triển lý thuyết cơ cấu xã hội của P.Bourdieu theo quan điểm mác xít được xây dựng xung quanh ba khái niệm; hệ thống các quan điểm, tập tục (habitus) và tái sản xuất xã hội

Vấn đề đầu tiên lý thuyết cơ cấu xã hội đề cập đến là yêu cầu phải khôi phục lại các hệ thống liên hệ là điểm xuất phát của tất cả những phân tích và

Trang 16

Do đó, phải xem lại khái niệm mơ hồ "sự kiện xã hội" phân biệt những cái có thể được gọi là "đối tượng thật" với những "đối tượng giả" Một đối tượng xã hội phải là một đối tượng cho thấy có một tập hợp những liên hệ nội tại, một hệ thống liên hệ và việc phân tích nó cho phép giải thích sự vận hành của nó

Như vậy, mục đích của sự nghiên cứu là khám phá lôgíc của hệ thống và đòi hỏi phải quy gọn các hiện tượng lại, đồng thời phải có một sự khám phá nhiều mặt

Để vạch rõ những mối quan hệ chằng chịt trong hệ thống cơ cấu, không được chỉ tính đến những bằng chứng, những phán xét của những người có liên quan trong cơ cấu xã hội, trái lại, phải giả định rằng những thái độ, những phán xét, những động cơ của những người hữu quan được quy định một phần lớn bởi cơ cấu và nói chính xác hơn, bởi vị trí đã nắm giữ trong hệ thống các cương vị

Đó là một chủ đề căn bản của cách tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết

cơ cấu, theo đó hệ thống có thể giải thích từ một bộ phận của nó và có chú trọng nhiều tới bộ phận ấy

Thứ hai, theo những nguyên lý chung của M.Weber, nhận thức xã hội học là công việc xây dựng những quan hệ và những khái niệm đi từ những hiện tượng xã hội vô cùng phức tạp Những nguyên lý chung ấy được áp dụng chặt chẽ vào việc đưa ra khái niệm "tập tục" trái với quan điểm của Strauss và Saussieu về chủ nghĩa cơ cấu được xem là máy móc, P.Bourdieu phê phán

Trang 17

quan điểm đó, cho rằng theo quan điểm đó, chính hệ thống cơ cấu áp đặt một cách máy móc những chuẩn mực ứng xử cho các cá nhân và các cá nhân này chỉ tái hiện ra cơ cấu mà thôi Do đó, không thể hiểu được những sáng tạo, những cách tân của các cá nhân xã hội

Vì vậy, vấn đề là phải giải thích tại sao những sự tập luyện xã hội tạo ra

và khắc sâu những phương thức cảm nhận và ứng xử ở các tác nhân xã hội Các gia đình và các hệ thống giáo dục cũng góp phần vào điều đó cũng như những kinh nghiệm xã hội cũng góp phần quan trọng vào điều đó Như vậy, người ta có thể cảm nhận thấy đã diễn ra "một sự hướng vào bên trong từ cái bên ngoài" Những chủ thể nằm trong những điều kiện xã hội khác nhau, tuỳ theo thời điểm lịch sử và vị trí của họ trong một hệ thống cơ cấu xã hội nhất định Như vậy, theo khái niệm của P.Bourdieu, tập tục là chỉ toàn bộ những tư thế đã đạt được, những sơ đồ cảm nhận, đánh giá và hành động do bối cảnh

xã hội in sâu vào một thời điểm và một vị trí riêng biệt Tập tục giữ vị trí trung gian giữa những liên hệ khách quan và những ứng xử cá nhân, nó vừa là điều kiện của những thói quen cá nhân

Do những điều kiện tập luyện và sự khắc sâu những sự tập luyện tương đối đồng nhất ở bên trong một giai cấp xã hội, nên trên thực té có thể xác định đặc trưng của một tập tục giai cấp, được khắc sâu bằng một hệ thống giáo dục phức hợp bao gồm gia đình, trường học và bối cảnh xã hội - tập tục giai cấp, như vậy, làm cho các tác nhân xã hội ứng xử phù hợp với những liên hệ khách quan giữa các giai cấp

Khái niệm "tập tục xã hội" là một yếu tố căn bản để nhận thức và giải đáp vấn đề "tái sản xuất xã hội" theo quan điểm của P.Bourdieu

Thứ ba, tái sản xuất xã hội, trước hết là tái sản xuất hệ thống liên hệ của các giai cấp được xác nhận bởi những dự kiến thống kê về sự phân phối những tài sản kinh tế và văn hoá

Trang 18

Chủ nghĩa cơ cấu, khi nghiên cứu các xã hội gọi là truyền thống, thường

có khuynh hướng xem các cơ cấu xã hội là bất biến, và không phải bao giờ cũng tìm hiểu toàn bộ những điều kiện đề ra những sự lặp đi lặp lại đó Sự phân tích của Marx đã đem lại lời giải đáp chung cho vấn đề tái sản xuất của

hệ thống cơ cấu xã hội bao gồm các giai cấp, nhưng sự phân tích đó chủ yếu tập trung vào các quan hệ kinh tế và mối quan hệ có ý nghĩa quyết định nhất

là sự chiếm hữu tư bản

Sự đóng góp của P.Bourdieu là nhằm tới tất cả những kết quả của những

sự kiện tái sản xuất văn hoá, đặc biệt chú trọng tới những chức năng của hệ thống trường học trong sự tái sản xuất ấy và trong sự phân biệt văn hoá Về điểm này, P.Bourdieu đã đưa ra những khái niệm mới về tư bản

Thuật ngữ tư bản, theo định nghĩa truyền thống của từ này được dùng để chỉ tư bản kinh tế, hoặc do thừa kế, hoặc có được do chiếm hữu tư bản kinh

tế, nguyên nhân cơ bản tạo ra những vị trí giai cấp và tầng lớp khác nhau trong cơ cấu xã hội P.Bourdieu đã dành phần chủ yếu trong các công trình nghiên cứu của ông cho sự phân tích hình thức thứ hai của tư bản, "tư bản văn hoá" dưới hai hình thức "tư bản học hành" được tiếp thu qua nhà trường và

"tư bản văn hoá thừa kế" do gia đình truyền thụ

Một hình thức thứ ba của tư bản được phân tích là "tư bản xã hội" được xác định chủ yếu bằng toàn bộ những liên hệ xã hội mà nó đặc biệt có thể nắm giữ do những nguồn gốc xã hội và sử dụng như một tư bản

Thuật ngữ "tư bản" như vậy có những định nghĩa khác xa với từ vựng khoa học kinh tế và cho phép khám phá những xung đột thuộc loại kinh điển trong quan hệ giữa tổng thể các cơ cấu xã hội nói chung, cũng như trong từng

cơ cấu xã hội nói riêng

Vận dụng lý thuyết về cơ cấu xã hội có thể lý giải quá trình vận động và biến đổi của cơ cấu tổ chức Công đoàn trong những năm gần đây Chỉ tính từ Đại hội VIII đến Đại hội IX Công đoàn Việt Nam, trong vòng 5 năm đã thấy

Trang 19

những vấn đề trong lý thuyết về cơ cấu xã hội đặt ra đó là "sự thay đổi của một yếu tố hoặc một quan hệ, tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi của các yếu tố và quan hệ khác"

Sự phát triển về cơ cấu tổ chức Công đoàn cũng dẫn đến sự thay đổi về nội dung, phương pháp hoạt động Đúng như hệ thức lý thuyết xã hội do K.Marx đề ra về phân tích sự tiến hoá cách mạng của xã hội chính là do tiến hoá của các quan hệ xã hội

Từ đó ta thấy lý thuyết cơ cấu xã hội trong xã hội học có ý nghĩa cực kì quan trọng trong việc lý giải cơ cấu xã hội nói chung và từng cơ cấu của nhóm xã hội cụ thể trong đó có cơ cấu tổ chức Công đoàn

1.2.1.2 Lý thuyết chức năng:

Lý thuyết chức năng xem xét các hiện tượng xã hội với những chức năng

mà chúng đảm nhiệm Khái niệm chức năng xuất phát từ sự phát triển của sinh lý học gắn liền với tên tuổi của nhà bác học Claude Bernard với ý nghĩa, chức năng là phương thức hoạt động của các bộ phận trong cơ thể con người

mà sự hoạt động phối hợp của chúng nhằm đảm bảo cho việc duy trì sự sống Khái niệm chức năng đã được vận dụng vào các môn khoa học xã hội trước hết trong mô hình chức năng của môn nhân học Ănglô - Sacxon với các nhà khoa học tiêu biểu Malinowski và Radcliffe – Brown Họ cho rằng lý thuyết chức năng có thể trở thành phương pháp hữu hiệu để giải thích các hiện tượng

xã hội Về đại thể thuyết chức năng có ba biến thể:

- Lý thuyết chức năng cổ điển: phát triển mạnh mẽ vào những năm 30

của thế kỷ XX Chúng đánh giá quá cao mức độ hội nhập và cố kết của những

hệ thống xã hội; đề cao tính hài hoà của tổng thể xã hội mà không chú trọng đến những mâu thuẫn, xung đột, những đảo lộn vẫn thường xảy ra trong xã hội Chính vì vậy mà R Merton đã phê phán đây là một thuyết “chức năng tuyệt đối”

Trang 20

Merton phê phán lý thuyết này đã qui cơ cấu xã hội đơn giản chỉ còn là những nghề nghiệp và thái độ ứng xử của các cá nhân, chỉ còn là sự sắp đặt của các vai trò được quy định bởi các qui chế nghề nghiệp; coi các đối tượng nghiên cứu đều hưởng thụ một nền văn hoá như nhau trong khi sự phát triển của các hiện tượng xã hội bao gồm cả cơ cấu xã hội lại phong phú và phức tạp hơn nhiều

- Merton đã đưa ra biến thể thứ hai Đó là Lý thuyết chức năng tương đối

hoá Từ sự phê phán thuyết chức năng tuyệt đối, R Merton nêu lên khái niệm

về “ hệ thức phân tích chức năng trong xã hội học” “Hệ thức chức năng” đặt

ra một số qui tắc đòi hỏi nhà nghiên cứu không được bỏ qua những tính cách không chức năng, đa chức năng, thậm chí trái chức năng của một số yếu tố trong một hệ thống xã hội nhất định Ông cho rằng cần phải phân biệt giữa

những chức năng hiển hiện (tức là những hậu quả được hiểu biết và mong muốn bởi những người tham dự trong hệ thống) và những chức năng tiềm ẩn

(tức là những hậu quả không được hiểu biết và cũng không được mong muốn) Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hệ thức phân tích chức năng đã giúp ông thành công trong việc đưa ra những điều được ông gọi là lý thuyết trung gian trong một loạt vấn đề như hiện tượng lệch chuẩn, vấn đề ảnh hưởng trong các nhóm, vấn đề nhân cách, vấn đề những cách ứng xử quan liêu,

- Biến thể thứ ba của lý thuyết chức năng là lý thuyết cơ cấu chức năng

do nhà xã hội học Mỹ Talcol Parsons xây dựng nên Từ những kết quả nghiên cứu, Parsons tin rằng hành động xã hội mang những đặc tính của một “hệ thống xã hội” Với lý thuyết cơ cấu chức năng ông có tham vọng giải thích sự vận động tổng thể của một hệ thống xã hội Để thực hiện được điều đó ông xây dựng một phương thức phân tích độc đáo gồm hai giai đoạn khác biệt

Giai đoạn thứ nhất nhằm phát hiện từ trong lòng hệ thống xã hội được

nghiên cứu những bộ phận cấu thành tương đối ổn định, chúng tạo thành cơ

Trang 21

cấu của hệ thống xã hội và do tính độc lập của chúng trong những biến động ngắn hạn được xem là những “hằng số” Những “hằng số” đó là những cơ sở quy chiếu để tiến hành nghiên cứu

Giai đoạn thứ hai nhằm tìm ra một lời giải bằng các cơ chế về sự thích

hợp của hệ thống xã hội đối với những điều kiện môi trường của nó trong cơ cấu nội tại của nó Đó là thời điểm năng động của sự phân tích đòi hỏi một sự quan tâm sâu sắc đến các quá trình và ý nghĩa của chúng, theo quan điểm của thuyết cơ cấu chức năng , cần phải xem xét đối với sự duy trì của hệ thống xã hội

Nói cách khác, T Parsons đề ra cho thuyết cơ cấu chức năng hai vấn đề

phải giải quyết: thứ nhất, là những điều kiện để duy trì và thực hiện sự vận động của hệ thống xã hội Thứ hai, là những phương thức của bản thân hành

động xã hội trong quá trình vận động của hệ thống xã hội

Để giải quyết vấn đề thứ nhất, Parsons đưa ra những đòi hỏi về chức

năng đối với mọi hệ thống hoạt động cũng như đối với các yếu tố cơ cấu tương ứng với hệ thống đó

Những đòi hỏi về chức năng đó gồm 4 yếu tố/ quá trình sau:

Trang 22

soát các vai trò đó; những “chuẩn mực” của sự hội nhập vào các tổ chức/ tập thể đó

Đối với vấn đề thứ hai (những phương thức của bản thân hành động xã

hội trong quá trình vận động của hệ thống xã hội), hành động xã hội phải đối mặt với sự lựa chọn liên quan đến sự đánh giá của tác nhân đối với đối tượng hành động của nó cũng như đến thái độ mà nó phải có đối với đối tượng hành động đó Những cái đó được xem như là các biến số của cơ cấu chức năng cho phép phân tích những hành động của các cá nhân cũng như các tổ chức, tập thể

Từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX, lý thuyết cơ cấu chức năng của T Parsons mất dần uy tín khoa học và một số nhà khoa học bắt đầu đưa ra những biến thể mới của lý thuyết chức năng trong đó phải kể đến lý thuyết chức năng macxit với những công trình nghiên cứu của Wright Mill Một số nhà nghiên cứu xã hội học cho rằng còn có một biến thể của học thuyết chức năng mà họ gọi là lý thuyết chức năng macxit Đó là học thuyết kinh tế của C Mác, những nguyên lý về các hình thái kinh tế – xã hội, về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, về phương thức tổ chức sản xuất quyết định phương thức tổ chức xã hội và ý thức xã hội, thông qua quan hệ chặt chẽ giữa phương thức sản xuất, cơ cấu chính trị và hệ tư tưởng

Hệ tư tưởng là chất ximăng cần thiết cho sự cố kết xã hội

Quá trình xã hội hoá và quá trình tiếp thu những chuẩn mực và giá trị xã hội chung đã tạo nên sự cố kết xã hội và sản sinh những hành vi và thiết chế

xã hội cần thiết để duy trì trật tự xã hội Theo quan điểm đồng cảm cấu trúc, hai quá trình này rất quan trọng bởi vì đó chính là phương tiện nhằm đạt được

sự đồng thuận xã hội và điều chỉnh tinh thần trong xã hội

E Durkheim và những người kế tục lý thuyết của ông như T Parsons cho rằng xã hội là một thể thống nhất các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và cùng tham gia tạo nên sự ổn định bền vững của tổng thể Khi đó theo những

Trang 23

xã hội có thể được lý giải thông qua chức năng Con người như những cỗ máy

và hành động theo những vai trò đã được xã hội định trước

Các nhà xã hội học, kể cả những người theo lý thuyết chức năng cũng phải thừa nhận có một số những khác biệt về các giá trị giữa những nhóm khác nhau trong xã hội và mọi người phải thích ứng và thay đổi khi hoàn cảnh

xã hội biến đổi

Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của tổ chức Công đoàn, các hội trong quản lý kinh tế – xã hội "Trong nhiều nước, các nghiệp đoàn đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa ra và phổ biến thông tin về những vấn đề lao động và chính sách có liên quan Sự phát triển của những tổ chức có tính chất trung gian này phản ánh phong trào lớn hơn, tức là tiến tới nền dân chủ ở nhiều khu vực và trong một số nước, phản ánh nhu cầu san lấp “cái khoảng giữa hẫng hụt” giữa các công dân và Nhà nước Tuy nhiên, không phải tất cả các tổ chức này đều có tính đại diện như nhau hoặc là đại diện cho những lợi ích công cộng một cách rộng rãi hơn" [Ngân

hàng thế giới: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi – Báo cáo về tình

hình phát triển thế giới 1997, Nxb Chính trị quốc gia, 1998, tr 144]

Theo lý thuyết chức năng, những hiệp hội đóng vai trò cốt yếu trong việc nói lên tiếng nói của các công dân bình thường, đặc biệt là những người nghèo và kiến tạo năng lực tham gia vào những công việc chung Và những tổ

Trang 24

chức, đích thực hoạt động cho những lợi ích chung, có thể là những cộng sự đáng giá trong phát triển kinh tế xã hội Sử dụng tiền đề này nhiều chính phủ đang tìm kiếm những thoả thuận mới về thể chế để cung ứng những dịch vụ công cộng, lôi cuốn sự tham gia ở cả khu vực tư nhân lẫn các nhóm trong xã hội để tăng cường sự tham gia của quần chúng nhân dân vào việc vạch ra và thực hiện chính sách công

Từ góc độ phân tích cấu trúc chức năng, cần phải nhìn nhận từ những giác độ khác nhau: cá nhân và xã hội, giá trị và chuẩn mực, xã hội hoá, hành

vi sai lệch, bất bình đẳng và phân tầng xã hội, biến đổi xã hội và xung đột Nhìn chung lại, với lý luận của thuyết cơ cấu chức năng, bao gồm những biến thể của nó, từ Radcliffe – Brown, Malinowski, Parsons, Merton đến Louis Althusser, ta có thể luận giải có tính thuyết phục được về các quá trình biến đổi và phát triển của các mô hình tổ chức khi môi trường hoạt động của các tổ chức thay đổi Ví dụ như việc phân tích sự chuyển đổi mô hình hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi mô hình quản lý kinh tế – xã hội hiện nay

Tuy nhiên, cũng có những hạn chế nhất định vì phương pháp tư duy của lý thuyết chức năng đã qui các quá trình xã hội vào những hệ thống xã hội khép kín và tự duy trì như những cơ cấu và thể chế xã hội bất biến Câu trả lời của họ về vấn đề “trật tự xã hội “ là chính quá trình xã hội hoá đã dẫn đến sự hoà cảm đối với các chuẩn mực và giá trị Đối với họ, nguyên nhân bền vững của các hội, các tổ chức, là sự tuân thủ các quy luật của hành vi Các cá nhân có thể tới rồi lại đi nhưng tổ chức, xã hội tiếp tục tồn tại bền vững bởi vì

nó có khả năng qui định được hành vi của những cá nhân mới tham gia vào tổ chức, xã hội sao cho thích đáng Điều đó đã hạn chế khả năng phân tích và giải thích sự quá độ từ mô hình tổ chức Công đoàn thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang mô hình tổ chức Công đoàn thời

kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường Điều này sẽ được khắc phục bằng lý

Trang 25

thuyết hệ thống và lý thuyết biến đổi xã hội trong quá trình phân tích những vấn đề nghiên cứu tiếp theo

1.2.1.3 Lý thuyết biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội là một trong những khái niệm phong phú nhất trong xã hội học Ở đây chúng ta cần hiểu Biến đổi xã hội là một quá trình xã hội về những thay đổi trong cơ cấu của một hệ thống xã hội Những thay đổi này liên quan đến những đặc trưng của nó Vấn đề đặt ra ở đây là bàn về sự thay đổi trong cơ cấu thể chế của một xã hội

Nếu chúng ta có thể coi “hành vi xã hội’ là dạng tổng quát nhất của một quá trình xã hội thì có thể dễ đi đến nhận xét biến đổi xã hội là dạng tổng quát nhất của các quá trình xã hội dẫn tới thay đổi [G.Endruwit và G.Trommsdoztt, NXB thế giới 2002, tr26]

Chúng ta có thể gặp quan niệm này ở Heintz, Peter: “toàn bộ các thay đổi xảy ra trong một khoảng thời gian trong một cơ cấu xã hội” hoặc Zapt: “Sự thay đổi các cơ cấu xã hội” Qua đó, biến đổi xã hội đồng nghĩa với thay đổi

là từ thường được dùng làm khái niệm chung để định nghĩa rất nhiều quá trình

xã hội

Biến đổi xã hội, với quan niệm trên, được coi là khái niệm song song với các quá trình thay đổi khác, nhưng nó chỉ tập trung vào sự thay đổi các yếu tố đặc trưng của một thể thức xã hội Nó không bao gồm mọi thay đổi của một thể chế mà bình thường được xem là tĩnh, mà gồm những thay đổi về thể loại Những thay đổi xảy ra thường xuyên không gây hậu quả cho đặc trưng cơ cấu

xã hội (như vấn đề sinh, tử của các thành viên xã hội) sẽ không bàn đến trong

khái niệm Biến đổi xã hội này

Biến đổi xã hội có hai hình thức chủ yếu:

Thứ nhất, là sự tiến hoá xã hội Đây là quá trình các hiện tượng và sự vật

đang vận động, phát triển để tiến dần đến sự tiến hoá Quá trình này còn được gọi là quá trình lượng đổi dần dần

Trang 26

Thứ hai, là cách mạng xã hội Cách mạng xã hội là một sự nhảy vọt về

chất của sự phát triển xã hội Lịch sử xã hội loài người là một quá trình lịch

sử thay đổi các hình thái kinh tế – xã hội từ thấp lên cao thông qua các cuộc cách mạng xã hội Tiến hoá xã hội và cách mạng xã hội là hai hình thức của biến đổi xã hội Chúng khác nhau về bản chất nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Tiến hoá xã hội là bước chuẩn bị cho một cuộc cách mạng xã hội Sau khi cuộc cách mạng xã hội đã nổ ra rồi thì ngay trong lòng nó đã bắt đầu nảy sinh những mầm mống của sự tiến hoá xã hội Và khi sự tiến hoá xã hội phát triển đến một độ nhất định sẽ tạo ra điều kiện chuẩn bị cho một cuộc cách mạng xã hội mới

Những kết quả nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, biến đổi xã hội chính là kết quả của cả những yếu tố (nguyên nhân) bên trong và bên ngoài tác động vào mỗi khu vực, quốc gia, cộng đồng Những nhà nghiên cứu xã hội học, nhân chủng học thường tập trung vào những yếu tố sau: môi trường tự nhiên

và dân số; Sự thay đổi những giá trị văn hoá; Sự lan truyền văn hoá; Sự phát triển kinh tế và những cuộc cách mạng khoa học công nghệ

Trong đó phát triển kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến những biến đổi mạnh mẽ, cơ bản trong xã hội Nó liên quan chặt chẽ đến một quá trình rộng lớn có tác động mạnh mẽ, quyết định đến sự biến đổi xã hội -

đó là quá trình hiện đại hoá Đây chính là quá trình mang tính bản chất của sự biến đổi xã hội khi có sự chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội công nghiệp hiện đại Đó còn là một quá trình rộng, mang tính tổng quát trong đó bao hàm ba quá trình: công nghiệp hoá, đô thị hoá và quan liêu hoá

Công nghiệp hoá tất yếu dẫn đến quá trình đô thị hoá vì nó đòi hỏi một

sự biến đổi từ nhân lực đến các nguồn năng lượng với sự ra đời hệ thống các nhà máy và do đó, dẫn đến những biến đổi cả về mặt tổ chức lao động

Phát triển nền kinh tế thị trường tất yếu dẫn đến quá trình phát triển nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu khác nhau Quá trình hội

Trang 27

nhập vào nền kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có sự điều chỉnh hành vi, tuân thủ những “luật chơi”, đòi hỏi phải có những điều chỉnh phương thức tổ chức, quản lý thích hợp với môi trường, hoàn cảnh mới

Các kết quả nghiên cứu cho thấy, biến đổi xã hội (cũng có một số tài liệu dùng khái niệm biến chuyển xã hội) là một sự thay đổi có tính chất cơ cấu trong những tổ chức, trong tư duy, trong hành vi ứng xử của xã hội khi môi trường xã hội có những thay đổi Những biến đổi này có thể nhận biết được qua thời gian Chúng có tính chất kéo dài do đó, có thể coi đó là một hiện tượng tập thể Có thể mô tả biến đổi xã hội bằng những đặc tính tổng quát sau đây:

Thứ nhất, biến đổi xã hội là một hiện tượng phổ biến nhưng lại diễn ra

khác nhau trong mỗi môi trường xã hội

Thứ hai, biến đổi xã hội vừa có tính tự giác vừa có tính phi kế hoạch Thứ ba, biến đổi xã hội vừa đem lại hiệu quả tích cực vừa gây ra những

hậu quả khó lường trước do đó nó thường gây ra nhiều phản ứng, tranh luận

Thứ tư, biến đổi xã hội khác biệt về mặt thời gian và hậu quả Có những

biến đổi chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian ngắn và không có ảnh hưởng lâu dài Nhưng cũng có những thay đổi kỹ thuật, những cải cách làm biến đổi

cả bộ mặt xã hội và tồn tại mãi mãi Ngày nay cuộc cách mạng kỹ thuật số đã làm thay đổi sâu sắc toàn thế giới Quá trình toàn cầu hoá vừa đem lại những thay đổi lớn trong hầu hết các quốc gia về kinh tế nhưng nó cũng gây nên nhiều hậu quả về mặt xã hội; thất nghiệp, số người nghèo không giảm mà khoảng cách giàu - nghèo ngày càng tăng; sự can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi khu vực, mỗi quốc gia, thậm chí mỗi nhóm xã hội/ cá nhân ngày càng tăng Cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn là cơ cấu của một thiết chế xã hội mặc dù có tính độc lập tương đối nhưng không thể không có những biến đổi do các tác nhân của sự biến đổi xã hội

Trang 28

1.2.1.4 Lý thuyết hệ thống

Trước hết chúng ta hãy xem xét khái niệm "hệ thống" và “lý thuyết hệ thống” Khái niệm hệ thống ngày nay được sử dụng khá rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu, do đó cũng xuất hiện nhiều định nghĩa khác nhau vì chúng được rút ra từ kết quả nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau Đó là

sự phát triển tất yếu của khoa học Hãy so sánh một số định nghĩa về khái

niệm hệ thống để thấy rõ tính phức tạp của vấn đề [Xem Tô Duy Hợp: Lý

thuyết hệ thống - Nguyên lý và vận dụng, Tạp chí Triết học]

Khái niệm hệ thống được dùng từ hơn 300 năm nay cả trong lĩnh vực ngôn từ thường nhật lẫn trong lĩnh vực khoa học Xã hội học cố gắng quan tâm tới các hệ thống xã hội, nghĩa là ở tâm điểm là sự hội nhập của số nhiều Các yếu tố và mối liên hệ của chúng lập nên một hệ thống mà cuối cùng chỉ

có thể tiếp cận được qua giao tiếp Nếu định hướng như vậy thì hành động giao tiếp có vị trí trung tâm trong việc nghiên cứu hệ thống Việc nghiên cứu

hệ thống nào cũng bắt đầu bằng câu hỏi về sự gắn bó của ít nhất hai đơn vị, cũng như với dạng cơ sở đã được đặt làm nền tảng [Xem Parsons - Từ điển xã hội học, Nxb thế giới H, 2002, tr206]

Dù khái niệm hệ thống được xác định theo nhiều cách khác nhau, vẫn toát lên một ý chính rằng, hệ thống là một tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và có tính chỉnh thể, có những thuộc

tính và những tính quy luật tổng hợp [V.P Cuzơmin Nguyên lý tính hệ thống

trong lý luận và phương pháp luận của C Mác Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1986,

tr 20 Cụm từ "những tính quy luật tổng hợp" được dịch từ tiếng Nga là

"ẩHTEÃPATẩBHÛE ầAKOHOMEPHOCTẩ", chính xác hơn nên dịch là:

Trang 29

thống, lịch sử hệ thống, v.v Chúng trở thành những khái niệm công cụ được

sử dụng trong quá trình nghiên cứu và lý giải những vấn đề nghiên cứu trong những lĩnh vực khác nhau nhưng đều xuất phát từ hướng tiếp cận hệ thống Theo cách phân loại lý thuyết hệ thống của L.V Bertalanffy, có một lý thuyết hệ thống tổng quát và nhiều lý thuyết hệ thống chuyên biệt thích dụng cho các lĩnh vực khác nhau (như lý thuyết hệ thống tự nhiên, lý thuyết hệ thống xã hội, lý thuyết hệ thống tư duy v.v )

Trong bài viết "Đặc điểm tiếp cận hệ thống trong xã hội học", [Tô Duy

Hợp, tạp chí Xã hội học, N4/1996] Tác giả đã cố gắng làm sáng tỏ đặc điểm tiếp cận hệ thống trong xã hội học, tập trung vào hai điểm quan trọng sau đây:

Một là, các lý thuyết xã hội học thực chất đều là các lý thuyết hệ thống

xã hội, nhưng với những cách tiếp cận khác nhau Lý thuyết xã hội học

mácxít thực chất đó là lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội do C Mác đề xướng,

có đặc điểm tiếp cận hệ thống xã hội tổng thể, toàn diện, trong khi đó các lý thuyết xã hội học phi mácxít thường tiếp cận hệ thống xã hội học không tổng

thể, không toàn diện Đó có thể là chủ nghĩa cấu trúc (thiên hướng tuyệt đối hoá các quan hệ bất biến), chủ nghĩa chức năng (thiên hướng tuyệt đối hoá tính ổn định), chủ nghĩa hành vi (thiên hướng tuyệt đối hoá tự do cá nhân),

chủ nghĩa lịch sử (thiên hướng tuyệt đối hóa khuôn mẫu truyền thống) v,v

Các khuynh hướng lý thuyết này thường cạnh tranh nhau, thậm chí đối lập, loại trừ lẫn nhau

Hai là, các khuynh hướng tổng - tích hợp các lý thuyết xã hội học đương

đại (như tích hợp tác nhân - cấu trúc, chức năng - xung đột, vĩ mô - vi mô và tổng hợp lý thuyết chức năng cơ cấu với lý thuyết tác nhân hành động, lý thuyết xung đột với lý thuyết tiến hoá văn hoá - văn minh, chủ nghĩa thực chứng với chủ nghĩa phản thực chứng trong xã hội học v.v.) thực chất là đi theo hướng tiếp cận hệ thống xã hội tổng thể, toàn diện mà C.Mác đã khởi xướng từ giữa thế kỷ XIX

Trang 30

và quy nạp kinh nghiệm (đi từ cái riêng đến cái chung) Lý thuyết hệ thống

ngày càng được vận dụng có hiệu quả trong nghiên cứu xã hội học cũng như nhiều lĩnh vực khác nhau chính là nhờ là hai tính chất cơ bản của nó, đó là

tính chất mở và cơ chế tự điều chỉnh

Hệ thống là một chỉnh thể các yếu tố quan hệ chặt chẽ với nhau, đòi hỏi

có đầu vào từ môi trường xung quanh, chuyển hoá chúng thành những kết quả hoạt động có ích và trả lại những kết quả này cho môi trường xung quanh Kenneth Boulding đã phân tích nhiều loại hệ thống khác nhau và đi đến kết luận rằng các loại hệ thống có thể sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp Ông đã

đưa ra một mô hính mô tả các thang độ của hệ thống như sau:

Trang 31

Trong sơ đồ trên, hệ thống khung (ví dụ như một nguyên tử, một cây

cầu, một chiếc đồng hồ, một toà nhà, ) là hệ thống đơn giản nhất vì nó bao gồm những vận động nhất định nào đó của các yếu tố nhưng đó là những hoạt động đã được xác định trước

Hệ thống kiểm tra là một số hệ thống có thể tự điều chỉnh ví dụ như máy

điều hoà nhiệt độ, dây chuyền lắp ráp hoặc các nhà máy chế biến dầu khí,

Hệ thống sinh học bao gồm các tiểu hệ thống cấu thành nên chính nó,

tương tác với nhau theo con đường đã định trước nhằm duy trì sự sống của hệ thống

1.2.1.5 Lý thuyết Mác - Lênin về Công đoàn

Lý thuyết về Công đoàn gắn liền với lý thuyết của Mác, Ănghen và Lênin về công nhân

C Mác và Ph.Ăngghen đã luận chứng sự phát triển của phong trào công nhân qua “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” Ở đó, hai ông xem xét các trình

độ khác nhau trong sự phát triển của giai cấp vô sản và đã đi đến kết luận rằng, việc tổ chức những người vô sản thành một giai cấp là yêu cầu khách quan của lịch sử Trong “Chỉ thị gửi các đại biểu Hội đồng Trung ương lâm

Trang 32

thời”, khi nói về sự phát triển của Công đoàn, C.Mác nhận định rằng, hoạt động của Công đoàn nhằm cố gắng chặn đứng cuộc tấn công không ngừng của tư bản vào những người lao động cần được mở rộng một cách phổ biến bằng cách lập ra những Công đoàn trong tất cả các nước và liên hiệp những Công đoàn ấy lại, để các Công đoàn trở thành những trung tâm tổ chức đối với giai cấp công nhân nhằm loại trừ chế độ làm thuê và quyền lực của tư bản C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng được lý thuyết về Công đoàn và định hướng cho phong trào Công đoàn trong cuộc đấu tranh gay gắt chống sự thâm nhập của tư tưởng tiểu tư sản và tư sản vào giai cấp công nhân Hai nhà sáng lập của chủ nghĩa xã hội khoa học kiên quyết chống chủ nghĩa Pru-đông

và chủ nghĩa Lát-xan, chủ nghĩa công liên tự do

Qua tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, “Chỉ thị gửi các đại biểu, Hội đồng Trung ương lâm thời” và nhiều tác phẩm khác, C.Mác đã vạch trần

âm mưu của bọn theo chủ nghĩa Pru-đông mưu toan chống lại các liên minh công nhân, chống đấu tranh chính trị và gieo rắc tư tưởng tiểu tư sản vào phong trào công nhân

Trong một bức thư gửi cho Sơ- vây-se, C.Mác nêu thực chất tiểu tư sản trong tư tưởng của Lát-xan về cải tạo hoà bình xã hội tư bản bằng cách lập ra những hội sản xuất được Nhà nước tư sản giúp đỡ, thông qua phổ thông đầu phiếu Nhấn mạnh tính chất không tưởng và phản động trong quan niệm của Lát-xan, C.Mác nhận định rằng, Lát-xan đã rơi vào sai lầm của Pru-đông là không tìm thấy một cơ sở thực tế cho công việc của mình là thúc đẩy các yếu

tố tích cực của phong trào công nhân mà lôi kéo phong trào này theo một công thức giáo điều đã được vạch sẵn

Về Công đoàn, tiếp tục phát triển lý thuyết của Mác - Ph.Ăngghen, Lênin đã chỉ ra vai trò “Trường học” của Công đoàn

Theo Lênin, bản chất Công đoàn (vai trò xã hội) là trường học chủ nghĩa cộng sản vẫn không thay đổi ngay trong điều kiện của chính sách kinh tế mới

Trang 33

Song, sự thể hiện vai trò đó được bổ sung thêm những nội dung mới Đồng thời cũng có sự thay đổi tương ứng về hình thức và phương pháp công tác của Công đoàn

Cũng như trước đây, chức năng hoạt động chủ yếu của Công đoàn vẫn là những phương hướng hoạt động có liên quan đến việc thu hút đông đảo quần chúng lao động tham gia quản lý sản xuất và các công việc xã hội khác, bồi dưỡng cho quần chúng những phương pháp quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa, phổ biến cho công nhân viên chức những thao tác lao động mới và phương pháp tổ chức quá trình sản xuất, giáo dục cho họ thái độ lao động mới đối với lao động và tài sản, kỷ luật lao động mới, tinh thần làm chủ xí nghiệp, tinh thần làm chủ Đất nước Đó chính là những chức năng trường học quản lý, trường học kinh doanh của Công đoàn

Điều có ý nghĩa quan trọng là Công đoàn tham gia vào việc xây dựng tất

cả cơ quan Nhà nước và kinh doanh về quản lý kinh tế Công đoàn có quyền giới thiệu ứng cử viên của mình vào các chức vụ quản lý hành chính - kinh tế

Có quyền xét duyệt các ứng cử viên thuộc về tổ chức Đảng và các cơ quan chính quyền Chức năng Công đoàn là trường học quản lý, trường học kinh doanh cũng được thực hiện bằng cách đại diện của Công đoàn tham gia với tư cách là thành viên của các cơ quan tối cao của Nhà nước, các ban lãnh đạo kinh tế, ban giám đốc nhà máy, người quản lý, trợ lý của người quản lý v.v (những đại diện đó do Công đoàn đề nghị và được các cơ quan Đảng và chính quyền thông qua) Khi đề bạt ai lên giữ những chức vụ hành chính trong các

cơ quan quản lý hành chính - kinh tế của Nhà nước, cần phải kiểm tra trước một cách tỉ mỉ, thiết thực trình độ của ứng cử viên về kỹ năng và nghệ thuật quản lý và kinh doanh dựa trên những nguyên tắc mới

Nội dung chức năng của Công đoàn là trường học quản lý, trường học kinh doanh còn bao gồm cả việc Công đoàn tham gia vào việc lập kế hoạch sản xuất Với mục đích đó, Đảng đã nêu rõ sự cần thiết phải có đại diện của

Trang 34

Công đoàn tham gia vào tất cả các cơ quan kế hoạch của Nhà nước vô sản Như Lênin đã nhấn mạnh, hoạt động đó của Công đoàn “phải lôi cuốn ngày càng sâu rộng giai cấp công nhân và quần chúng lao động vào toàn bộ sự nghiệp xây dựng kinh tế, toàn bộ hoạt động công nghiệp, từ việc thu mua nguyên liệu đến việc bán sản phẩm, bằng cách làm cho họ có một ý niệm ngày càng cụ thể về kế hoạch kinh tế xã hội chủ nghĩa thống nhất của Nhà nước cũng như về lợi ích thực tiễn của công nhân và nông dân trong việc thực hiện kế hoạch đó” [ V.I.Lênin toàn tập, tiếng Việt, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, t44, tr 424-425]

Việc Công đoàn tham gia xây dựng định mức lao động và định mức vật

tư là một trong những yếu tố hợp thành cần thiết về hoạt động của Công đoàn trong việc xây dựng nền kinh tế mới và quản lý công nghiệp Như đã trình bày trên đây, mục đích việc làm này của Công đoàn cũng như mọi công tác khác, đều nhằm nâng cao năng suất lao động, kinh doanh không thiếu hụt, có lãi, tăng sản lượng

Một trong những vấn đề quan trọng nhất của lý thuyết của Lênin về Công đoàn là bảo vệ lợi ích của người lao động

Chính sách kinh tế mới do Lênin đề xướng đã mang lại hàng loạt những biến đổi quan trọng về nội dung, hình thức và phương pháp thực hiện một chức năng nữa của Công đoàn là gắn liền với việc bảo vệ lợi ích kinh tế, các quyền của công nhân viên chức, việc quan tâm đến điều kiện lao động và sinh hoạt của họ

Lênin từng nhấn mạnh: Công đoàn có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của người lao động theo ý nghĩa đúng đắn và trực tiếp của từ đó Bằng cách thường xuyên và không ngừng sửa chữa những thiếu sót và sự cường điệu vấn

đề của cán bộ phụ trách, đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu trong công tác của các cơ quan kinh tế và bộ máy quản lý Nhà nước, tuỳ khả năng cho phép, Công đoàn cần tạo mọi điều kiện để cải thiện điều kiện lao động và sinh

Trang 35

hoạt của công nhân viên chức, nâng cao phúc lợi vật chất của họ Việc Công đoàn thực hiện chức năng bảo vệ ở các xí nghiệp Nhà nước tuyệt nhiên không mang và không thể mang tính chất đấu tranh giai cấp về mặt kinh tế Việc vận dụng những luận điểm của Mác, Ăngghen và Lênin trong lý thuyết về Công đoàn ở Việt Nam hiện nay trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam là điều đặc biệt có ý nghĩa

1.2.1.6 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Công đoàn

Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của dân tộc Việt Nam đã khẳng định giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng tiên tiến lãnh đạo cách mạng Việt Nam Người hết sức quan tâm đến phong trào Công đoàn ngay từ thời kỳ sơ khai, với tên gọi là Công hội đỏ Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho tổ chức Công đoàn Việt Nam Điều đó thể hiện ở các hoạt động của Người từ nước ngoài

Từ năm 1914 đến năm 1916, sau khi xa Tổ quốc không lâu, Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tham gia tổ chức Nghiệp đoàn có tên là Lao động hải ngoại tại nước Anh, rồi tiếp theo từ năm 1918 đến năm 1919 ở Pháp Cũng trong năm 1919, trong Bản yêu sách gửi tới Hội nghị Véc-xây, Nguyễn Ái Quốc đòi lập Nghiệp đoàn ở Việt Nam Từ năm 1921 đến năm

1923, thông qua Đảng cộng sản Pháp và Tổng Công hội Pháp, Người tuyên truyền cách mạng trong công nhân và thuỷ thủ Việt Nam, tập hợp những đồng chí của mình lập cơ sở Công hội đỏ đầu tiên (thuộc Tổng Công hội thống nhất của Quốc tế Công hội đỏ); đồng thời, gửi thư cho Đảng cộng sản Pháp yêu cầu Đảng tổ chức Nghiệp đoàn ở các nước thuộc địa hoặc trực thuộc Tổng Công hội thống nhất Cũng từ năm 1923, Nguyễn Ái Quốc có mặt tại Mát-xcơ-va Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc , một đường dây liên lạc giữa Mát-xcơ-va, Đông Dương và Pa-ri được tổ chức, qua đó chi phối và tác động rất mạnh đến sự phát triển của Công hội đỏ Việt Nam

Trang 36

Tháng 7 năm 1924, khi Đại hội V Quốc tế Cộng sản vừa bế mạc, Đại hội III Quốc tế Công hội đỏ được tổ chức tại Mat-xcơ-va Tại đại hội này, với tư cách là đại biểu duy nhất của giai cấp công nhân và lao động xứ Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc đọc một bài tham luận quan trọng, trong đó, nêu rõ tình hình công nghiệp như số lượng nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, bưu điện, đường sắt, hải cảng và số công nhân trong các cơ sở công nghiệp tiêu biểu như xi măng Hải Phòng, than Hạ Long, dệt Bắc Kỳ, đường sắt Người vạch trần tính chất

dã man của lối bóc lột thực dân đối với công nhân xứ Đông Dương

Trong năm 1927, Nguyễn Ái Quốc viết tác phẩm “Đường kách mệnh”; trong chương “Công nhân quốc tế”, Người đã trình bày lịch sử phong trào Công đoàn thế giới, giải thích tính chất của Công hội đỏ quốc tế và nêu những thành tích của tổ chức này Người nêu rõ ràng và cụ thể chức năng, tính chất của Công hội “trước hết là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; năm là để giúp cho thế giới” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội,

1995, tr302] Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ mô hình tổ chức hoạt động Công đoàn Việt Nam thời thuộc địa; “Tổ chức có hai cách, cách nghề nghiệp và cách sản nghiệp Nghề nghiệp là ai làm nghề gì thì vào hội nghề ấy Như thợ may thì vào hội may, thợ rèn thì vào hội rèn Sản nghiệp là bất kỳ nghề gì, hễ làm một chỗ thì vào một hội Như việc xe lửa, người đốt than, người sơn xe, người phát vé, người coi đường, người cầm máy, tất cả nhập vào Công hội xe lửa Tổ chức theo sản nghiệp thì mạnh hơn, vì thống nhất hơn Thí dụ khi xe lửa muốn bãi công, nếu là sản nghiệp thì hội viên đều phải bãi công, thì tư bản sợ hơn Nếu là hội nghề nghiệp, thì có khi người đốt lửa bãi công, mà người cầm máy không, hoặc người phát vé bãi công mà người làm ga không, thì sức bãi công yếu đi” [Hồ Chí Minh: Sdd tr.302] Tháng 8 năm 1930, Đại hội V Quốc tế Công hội đỏ được tiến hành tại Mát-xcơ-va Để chuẩn bị cho Đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư cho Ban

Trang 37

Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc đi vào xây dựng

và phát triển, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn phải lôi cuốn giai cấp tư sản dân tộc vào sự nghiệp chung và nêu rõ: “Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, giai cấp tư sản Việt Nam đã ủng hộ Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Từ ngày hoà bình lập lại, họ có đóng góp một phần trong công cuộc khôi phục kinh tế Hiện nay, chúng ta có điều kiện để cải tạo họ theo con đường xã hội chủ nghĩa Giai cấp tư sản dân tộc sẵn sàng tiếp thu cải tạo để góp phần vào công cuộc xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội Chúng ta phải đoàn kết với những người thợ thủ công và những người buôn bán nhỏ, vì họ

Trang 38

là những người lao động và họ sẵn sàng đi vào con đường hợp tác hoá, họ tán thành và ủng hộ cách mạng chủ nghĩa” [Hồ Chí Minh, Giai cấp công nhân và Công đoàn, Nxb Lao động, Hà Nội, 1985, tr.93]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nhân, Công đoàn đã khẳng định vị thế của tổ chức Công đoàn trong xã hội Là một lực lượng không thể thiếu trong mọi giai đoạn của Đất nước Trong giai đoạn hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Công đoàn chính là thực hiện chiến lược của Đảng xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trước hết, cần xây dựng tổ chức Công đoàn vững mạnh, thực sự là người đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động

1.2.2 Các khái niệm công cụ

1.2.2.1 Hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị là một khái niệm hiện đại Trong những thập kỷ gần đây, khái niệm hệ thống chính trị mới được đề cập đến nhiều trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước, trong sách báo, tài liệu và trong đời sống xã hội

Hệ thống chính trị là một tổng thể thiết chế thể hiện quyền lực chính trị của một giai cấp đối với toàn xã hội Không thể không nói tới vấn đề giai cấp khi nghiên cứu về hệ thống chính trị Tất nhiên, với mỗi giai đoạn lịch sử thì vấn đề giai cấp, dân tộc và mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều phải được nhìn nhận trong sự vận động và phát triển của nó

Hệ thống chính trị là một loại hệ thống xã hội, một hệ thống mở, bao gồm các tổ chức, các thiết chế chính trị – xã hội và các mối quan hệ qua lại giữa chúng với nhau hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội [Triết

học mác – Lênnin Đề cương bài giảng trong các trường đại học và cao đẳng,

Nxb Giáo dục 1994, tập 2, tr 87]

Nghiên cứu về hệ thống chính trị không thể chỉ nghiên cứu thuần tuý về phương diện chính trị, bản chất giai cấp của hệ thống chính trị Không có giai

Trang 39

cấp nào tồn tại mà không gắn liền với dân tộc Những điều kiện, đặc điểm của dân tộc luôn là những nhân tố tác động đến giai cấp, chính đảng và hệ thống chính trị Nghiên cứu những nét đặc thù, những đặc điểm dân tộc trong đặc điểm chung của hệ thống chính trị là rất cần thiết Đó là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị

Song, trên phương diện tổng quát, người ta còn tính tới cả môi trường các quan hệ chính trị vào hệ thống chính trị, có thể xem hệ thống chính trị như hình thức tổ chức chính trị của một xã hội Hình thức tổ chức này bao gồm những yếu tố cấu thành nên cấu trúc cơ quan chính trị, quan hệ giữa chúng với nhau và cả mối quan hệ qua lại của môi trường chính trị xung quanh đối với

chúng Từ những quan niệm như trên có thể hiểu hệ thống chính trị của một quốc gia là một cơ cấu chính trị phức tạp bao gồm các đảng phái chính trị,

Nhà nước, các đoàn thể và tổ chức chính trị xã hội hoạt động trong khuôn khổ pháp luật hiện hành cùng với các quan hệ giữa chúng với nhau và quan hệ qua lại của chúng với môi trường chính trị của xã hội

Trong hệ thống chính trị quốc gia luôn có một lực lượng trung tâm nắm quyền lực Nhà nước, quyết định chức năng và cấu trúc của hệ thống chính trị Điểm quan trọng ở đây là hệ thống chính trị được chế định theo tư tưởng của giai cấp cầm quyền, có nghĩa nó mang tính giai cấp và lợi ích của giai cấp cầm quyền định hướng mọi hoạt động của nó Tính giai cấp này được thể hiện rõ rệt trong cấu trúc của bộ máy Nhà nước và thể hiện về mặt lý luận trong cương lĩnh, chính sách của đảng cầm quyền

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, lực lượng trung tâm là giai cấp công nhân trong mối liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Điều này quyết định nội dung và tính chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và cấu trúc của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

Trang 40

Cấu trúc của hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam là trung tâm lãnh đạo chính trị của hệ thống chính trị Nhà nước là mắt xích cơ bản của hệ thống chính trị; là trung tâm của quyền lực, nắm quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội bằng phương thức cưỡng chế, thực hiện việc quản lý xã hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Công đoàn Việt Nam), Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, và các đoàn thể nhân dân

Hệ thống chính trị Việt Nam có một số đặc điểm sau đây:

1- Đó là một hệ thống tổ chức có sự phân định rõ chức năng nhiệm vụ của mỗi tổ chức, có tính tổ chức cao được đảm bảo bởi nguyên tắc chỉ đạo: tất

cả quyền lực thuộc về nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tập trung dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa

2- Hệ thống chính trị Việt Nam có sự thống nhất về lợi ích lâu dài và mục tiêu hoạt động Tính thống nhất này bắt nguồn từ sự thống nhất về kinh tế , chính trị và tư tưởng trong xã hội các thiết chế: Đảng Cộng sản, Nhà nước, các tổ chức xã hội (Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, ) tuy có vị trí, chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng đều nhằm phục vụ cho lợi ích của nhân dân

3- Hệ thống chính trị Việt Nam có tính dân chủ Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu, động lực, vừa là phương tiện để tổ chức, vận hành hệ thống chính trị Mỗi tổ chức đều được tổ chức và hoạt động theo một cơ chế vừa bảo đảm tính tập trung thống nhất vừa tạo điều kiện cho các bộ phận của

tổ chức đó phát huy tính chủ động sáng tạo trong quá trình giải quyết các công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình Quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị là quan hệ bình đẳng

1.2.2.2 Khái niệm tổ chức

“Tổ chức là dấu hiệu đặc trưng và yếu tố cấu thành một xã hội công nghiệp và dịch vụ hiện đại” Hầu hết các nhà xã hội học đều nhất trí với định

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bổ sung sửa đổi năm 2002. Nxb Chính trị quốc gia. H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bổ sung sửa đổi năm 2002
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H.2002
4. Bộ Giáo dục và đào tạo: Triết học (dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành triết học). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tập 3, tr. 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học (dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không thuộc chuyên ngành triết học)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
5. Bộ Tài chính: Chính sách đối với lao động dôi dư trong tiến trình sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, Nxb Tài chính, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối với lao động dôi dư trong tiến trình sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước
Nhà XB: Nxb Tài chính
6. Các tổ chức Công đoàn trên thế giới. Nxb Lao Động H.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tổ chức Công đoàn trên thế giới
Nhà XB: Nxb Lao Động H.1999
7. Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ 21, Kinh nghiệm của các quốc gia. Nxb Chính trị quốc gia. H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ 21, Kinh nghiệm của các quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H.2002
8. Chiến lược con người trong thời kỳ kinh tế Nhật Bản - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện kinh tế thế giới. Nxb Chính trị quốc gia. H.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược con người trong thời kỳ kinh tế Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H.1996
9. Công đoàn viên chức Việt Nam 10 năm xây dựng và phát triển. Nxb Lao Động H. 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công đoàn viên chức Việt Nam 10 năm xây dựng và phát triển
Nhà XB: Nxb Lao Động H. 2004
10. Công đoàn Giáo dục Việt Nam, 3/4 thế kỷ Công đoàn Việt Nam xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia. H.2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 3/4 thế kỷ Công đoàn Việt Nam xây dựng và phát triển
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H.2003
11. Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia. H.1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H.1992
12. Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị, Đại học quốc gia, Nxb Đại học quốc gia H.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia H.1995
13. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia. H.1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H.1992
14. Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới. Nxb Chính trị quốc gia. H.1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H.1993
15. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia. H.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H.1996
16. Luật Công đoàn, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Công đoàn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
18. Luật Công đoàn và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nxb Chính trị quốc gia. H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Công đoàn và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H
19. Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nxb Lao Động, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nxb Lao Động
20. Luật Doanh nghiệp Nhà nước và hướng dẫn thi hành. Nxb Chính trị quốc gia. H.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp Nhà nước và hướng dẫn thi hành
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia. H.1996
21. Luật Lao động, Nxb Bộ Lao động TB-XH, H.1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Lao động
Nhà XB: Nxb Bộ Lao động TB-XH
23. Một số vấn đề cơ bản về xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Lao Động, H.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về xây dựng, phát huy vai trò giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nhà XB: Nxb Lao Động
24. Một số vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nxb Lao Động, H.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nhà XB: Nxb Lao Động

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1.  Hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Sơ đồ 2.1. Hệ thống tổ chức Công đoàn Việt Nam (Trang 57)
Sơ đồ 2.3. Chi tiết hệ thống Công đoàn Việt Nam trong giai đoạn hiện - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Sơ đồ 2.3. Chi tiết hệ thống Công đoàn Việt Nam trong giai đoạn hiện (Trang 67)
Sơ đồ 2.2. Hệ thống Công đoàn Việt Nam trước đổi mới (trước năm 1986) - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Sơ đồ 2.2. Hệ thống Công đoàn Việt Nam trước đổi mới (trước năm 1986) (Trang 67)
Sơ đồ 2.4. Hệ thống tổ chức Công đoàn Công ty cổ phần hoá - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Sơ đồ 2.4. Hệ thống tổ chức Công đoàn Công ty cổ phần hoá (Trang 72)
Bảng  2.1:    Những  vấn  đề  Công  đoàn  cơ  sở  giúp  công  nhân,  lao  động - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
ng 2.1: Những vấn đề Công đoàn cơ sở giúp công nhân, lao động (Trang 80)
Sơ đồ sau (xem sơ đồ 2.6): - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Sơ đồ sau (xem sơ đồ 2.6): (Trang 83)
Bảng 2.4: Phân bố giới tính của đối tƣợng điều tra - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Bảng 2.4 Phân bố giới tính của đối tƣợng điều tra (Trang 87)
Bảng 2.6: Trình độ chính trị cán bộ Công đoàn   Trình độ chính trị  Cán bộ Công đoàn  Tỷ lệ % - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Bảng 2.6 Trình độ chính trị cán bộ Công đoàn Trình độ chính trị Cán bộ Công đoàn Tỷ lệ % (Trang 89)
Bảng 2.8: Thống kê đội ngũ cán bộ Công đoàn đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng thêm - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Bảng 2.8 Thống kê đội ngũ cán bộ Công đoàn đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng thêm (Trang 92)
Bảng 2.10: Đánh giá sự thay đổi về cơ cấu, loại hình tổ chức và đội ngũ - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Bảng 2.10 Đánh giá sự thay đổi về cơ cấu, loại hình tổ chức và đội ngũ (Trang 95)
Bảng 2.11: Đánh giá về nguyên nhân biến đổi - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Bảng 2.11 Đánh giá về nguyên nhân biến đổi (Trang 97)
Bảng 2.12:  Đánh giá tác động của sự biến đổi - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Bảng 2.12 Đánh giá tác động của sự biến đổi (Trang 98)
Bảng 2.14: Đánh giá sự biến đổi tác động đến nội dung hoạt động - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Bảng 2.14 Đánh giá sự biến đổi tác động đến nội dung hoạt động (Trang 100)
Bảng 2.23: Đánh giá về mức độ quan trọng của các phẩm - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Bảng 2.23 Đánh giá về mức độ quan trọng của các phẩm (Trang 110)
Sơ đồ 3.1: Hệ thống tổ chức Công đoàn cấp huyện, qụân, thị xã - Biến đổi cơ cấu tổ chức của hệ thống công đoàn Việt Nam thời kỳ đổi mới
Sơ đồ 3.1 Hệ thống tổ chức Công đoàn cấp huyện, qụân, thị xã (Trang 131)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w