Sự sụp đổ của lý tưởng nhân văn thời kỳ Phục Hưng trong sự nảy sinh chế độ tư bản đã in đậm trong Don Quichotte của Cervantès hay những vở bi kịch của Shakespeare .Cuộc sống đầy biến độ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
HỒ THU GIANG
ĐẶC TRƯNG THẨM MỸ CƠ BẢN CỦA TIỂU THUYẾT HIỆN THỰC CHỦ NGHĨA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Mã số : 5.04.33
Người hướng dẫn khoa học: GS.VS PHAN CỰ ĐỆ.
Hà Nội -2004
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài Trang
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Phạm vi và các phương pháp nghiên cứu 8
4 Các cấu trúc luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG Chương I: Chủ nghĩa hiện thực và tiểu thuyết 10
1.1 Quan niệm về chủ nghĩa hiện thực 10
1.2.Sự hình thành chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam 19
1.3.Một số hiện tượng tiêu biểu trong tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa Việt Nam buổi đầu hình thành và phát triển (Từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX) 23
1.3.1Chủ nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du 23
1.3.2.Chủ nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái 29
1.4.Chủ nghĩa hiện thực và sự ra đời của tiểu thuyết 31
Chương II: Đặc trưng thẩm mỹ cơ bản của tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa 41
2.1 Tiểu thuyết là gì ? 41
2.2 Đặc trưng thẩm mỹ cơ bản của tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa 44
Tiểu thuyết là thể loại văn học gần gũi nhất với đời sống, có thể bao quát hiện thực trên quy mô rộng lớn và toàn vẹn 2.2.1.Cuộcsống trong tiểu thuyết bao giờ cũng là cuộc sống toàn diện,phong phú và nhiều mặt 46
2.2.2 Tiểu thuyết gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của quần chúng nên nó là một trong những thể loại dân chủ nhất của văn học 55
Trang 32.2.3 Trong tiểu thuyết, các tính cách nhân vật có sự phát triển tự thân như
trong đời thật 59
Chương III: Ảnh hưởng quyết định của đặc trưng thẩm mỹ cơ bản đối với các đặc trưng thẩm mỹ khác trong tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa 3.1.Tiểuthuyết là thể loại có bản chất tổng hợp, nhiều phong cách và thanh điệu 65
3.1.1 Ảnh hưởng của âm nhạc 70
3.1.2 Ảnh hưởng của điện ảnh 71
3.2 Tính văn xuôi của tiểu thuyết 74
3.1.1.Tính văn xuôi của tiểu thuyết được thể hiện ở cuộc sống bình thường hàng ngày trong sự pha trộn, đan chéo và chuyển hoá lẫn nhau của các sắc thái thẩm mỹ 75
3.2.2.Tính văn xuôi của tiểu thuyết được thể hiện trong ngôn ngữ gầnnhư trung tính của tiểu thuyết 79
3.3.Tiểu thuyết là thể loại có dung lượng lớn Sự khác nhau giữa tiểu thuyếtvà truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch 83
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ TIỂU THUYẾT
1.1.Quan niệm về chủ nghĩa hiện thực
Nghệ thuật, trong hành trình tồn tại của mình luôn làm tròn thiên chức cao cả là phản ánh một cách chân thực sự vận động của lịch sử, sự phát triển của xã hội và những diễn biến phức tạp trong thế giới nội tâm con người Đặc tính quý giá này của nghệ thuật cho phép ta tìm thấy ở nó
một cuốn biên niên vĩ đại, một thứ ký ức đặc biệt của nhân loại, đó là lịch
sử được tái hiện bằng ngôn từ (43/82) Với những khả năng đặc biệt nghệ
thuật đã ghi lại những biến cố trong đời sống vật chất và tinh thần của các nền văn minh cổ xưa đầy đủ hơn, nguyên vẹn hơn những văn bản lịch sử đã
cũ nát hay những di chỉ văn hoá vật chất còn lại cho đến ngày nay của nhân loại
Bộ sử thi vĩ đại Illiade, Odyssée của Homère đã cho ta hiểu về cuộc
sống chiến đấu đầy mưu trí và dũng cảm của người Hy Lạp xưa cách đây mấy mươi thế kỷ Sự sụp đổ của lý tưởng nhân văn thời kỳ Phục Hưng
trong sự nảy sinh chế độ tư bản đã in đậm trong Don Quichotte của
Cervantès hay những vở bi kịch của Shakespeare Cuộc sống đầy biến động
và đau thương dưới chế độ phong kiến đang trên đà đi xuống của thế kỷ
XVIII đã được Nguyễn Du phản ánh sâu sắc trong Truyện Kiều …
Tuy vậy, bộ mặt của thế giới hiện ra trong tác phẩm nghệ thuật không phải là một thứ rập khuôn những gì có sẵn, một sự sao chép máy móc thực tế cuộc sống Mô tả cuộc sống con người và đời sống xã hội một cách chân thực là yêu cầu chung cho tất cả các nền văn học nghệ thuật chân chính từ xa xưa Song điều đó không có nghĩa là nghệ thuật trong mọi thời đại bao giờ cũng là nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực
Trang 5Chủ nghĩa hiện thực với tư cách là phương pháp sáng tác, một trào lưu nghệ thuật là một hiện tượng phát sinh ở một giai đoạn nhất định trong một hành trình phát triển nhận thức của nhân loại khuynh hướng vận động ngày càng cao của xã hội giúp con người nhận ra rằng: hành động và tình cảm của mình không phải là hệ quả của những say mê hoặc những ý đồ thần linh mà chúng bị quyết định bởi những nguyên nhân thực tại của cuộc sống Là một phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực có khả năng miêu
tả chân thực cuộc sống chân thực cuộc sống con người và hoàn cảnh xã hội,
nơi họ sống và hoạt động theo một quy luật nhất định Chủ nghĩa hiện thực
bao hàm một thái độ tích cực của con người đối với cuộc sống, một ý muốn tìm hiểu, nhận thức thế giới y như nó tồn tại, và một ý thức can thiệp vào đời sống xã hội (8/14) Quan niệm về chủ nghĩa xã hội hiện thực như vậy
yêu cầu con người phải đạt tới một trình độ nhận thức nhất định Điều đó
có nghĩa là con người phải có một vốn kinh nghiệm về đời sống tự nhiên, tâm lý xã hội của bản thân mình cùng với những mối quan hệ phức tạp giữa bản thân con người với xã hội thì chủ nghĩa hiện thực mới hình thành trong nghệ thuật
Nghệ thuật Trung Cổ cũng đã mang những yếu tố thực của cuộc sống nhưng chủ nghĩa hiện thực chưa xuất hiện bởi con người còn bị thống trị bởi chế chế độ phong kiến Trung Cổ hà khắc và nhà thờ Thiên Chúa Giáo Cái đẹp chân chính trong sự an bài của Chúa, đó là cái đẹp tinh thần, cái đẹp hướng tới lòng tôn kính những đấng siêu nhiên
Thế kỷ XVI, cùng với sự xuất hiện mầm mống chủ nghĩa tư bản, ý thức hệ phong kiến gần suy sụp về căn bản, ý niệm về cái Tôi cá nhân bắt đầu hình thành Nghệ thuật phá vỡ quy phạm của nhà thờ, vượt ra ngoài vòng kiêm toả của tôn giáo để miêu tả cuộc sống trần thế Nguyên tắc tái hiện hiện thực bằng nghệ thuật là tiền đề khách quan cho sự phát sinh chủ
Trang 6pháp sáng tác độc lập Có được điều đó, nghệ thuật đã phải đi vào con đường nghiên cứu và mô tả cuộc sống xã hội, những tình cảm của con người trong những mối liên hệ phức tạp, tác động chi phối lẫn nhau và có tính lịch sử của chúng
Ở Châu Âu, sự hình thành chủ nghĩa hiện thực như một trào lưu nghệ thuật độc lập gắn liền với sự biến đổi to lớn của lịch sử xã hội Đó là một cuộc cách mạng trong tư tưởng con người, sự xói mòn của cấu trúc các quan hệ xã hội phong kiến đã giải phóng và nâng cao vị trí con người trong
xã hội, từ đó thay đổi thế giới quan của con người Mặc dù hết sức tinh vi, nhưng ý thức Trung Cổ chưa phát hiện được cho cá nhân con người những khả năng tư duy và cảm quan giải phóng Thoát khỏi hệ thống thế giới quan phong kiến, con người bắt đầu ý thức về những khả năng của mình như là những cá nhân với đời sống nội tại riêng
Các tác phẩm nghệ thuật Trung Cổ cũng đã sử dụng chất liệu của cuộc
sống, nhưng đó chưa được coi là chủ nghĩa hiện thực mà chỉ là những yếu tố
hiện thực, tính hiện thực, giá trị hiện thực… chúng được đan quyện với các
biểu tượng phi thực tại về thế giới, các yếu tố ước lệ, cách điệu, huyền thoại
… phương pháp hiện thực chủ nghĩa bắt đầu hình thành trong nghệ thuật
Phục Hưng, một nền nghệ thuật không thuần nhất, phong cách hết sức đa
dạng, trong đó nghệ thuật Gôtích kề bên chuyện sinh hoạt và tiếu lâm mà tiêu biểu là những tác phẩm của Pôgiô và Mazaxiô, trong đó sử thi cung đình Trung Cổ biến thành thơ hùng -hài, thành thơ ca hết sức trần tục của Pulchi hoặc trường ca anh hùng hào hoa của Ariôxtô, trong đó chủ nghĩa chủ quan của những người theo chủ nghĩa Platon và nghệ thuật Baroccô thay thế cho những truyền thống thơ xán lạn và hoàn thiện bắt nguồn từ Pêtrarca (43/46)
Chủ nghĩa hiện thực được phát sinh cùng với sự xuất hiện của
Gargantua và Pantagruel của Rabelais Đó được xem như tác phẩm mở
Trang 7đầu cho sự xuất hiện chủ nghĩa hiện thực trong buổi bình minh của nó Mặc
dù các nhân vật còn được mô tả theo lối cường điệu quá đáng, các quy phạm của nghệ thuật phong kiến vẫn còn tồn tại, song tác phẩm đã có những phân tích những quan hệ xã hội đương thời Xung đột trong tác phẩm là xung đột của xã hội thời hiện tại Rabelais đã thấy rõ cuộc sống xác thực đang bị bóp méo, thậm chí lý tưởng về một cuộc sống tươi đẹp đang bị phủ định Với trí tuệ ưu tú và trái tim mẫn cảm Rabelais đã nhìn ra được mâu thuẫn đối kháng đang chứa chất trong lòng xã hội thời kỳ phôi
thai của của một chế độ xã hội mới Xung đột làm thành cốt lõi của
Gargantua và Pantagruel được nghệ sĩ rút ra từ môi trường trong đó con
người sống và hoạt động, từ kinh nghiệm thực tiễn của nó (43/49)
Một thời gian không lâu sau đó, tiểu thuyết Don Quichotte của
Cervantès ra đời đã cung cấp cho ta một bức tranh khá đầy đủ về xã hội Tây Ban Nha và thế kỷ XVII, giai đoạn giao thời giữa thời kỳ Phục Hưng Xung đột tác phẩm phản ánh tình trạng đầy bi kịch giữa khát vọng vươn tới
cái cao cả và lẽ công bằng của con người với một thực tế đầy tính chất văn
xuôi của cuộc sống hàng ngày Cervantès đã chính xác hơn Rabelais rất
nhiều về sự nhận địmh và phản ánh xã hội thời đại ông , và do vậy bi kịch giữa lý tưởng nhân văn với thực tế sinh hoạt thị dân được phản ánh sâu sắc hơn, toàn diện hơn Nếu như Rabelais luôn hy vọng có thể đạt tới sự hài
hoà trong cuộc sống, luôn kỳ vọng vào một xã hội tốt đẹp thì Don Quichotte đã ca ngợi sự cao cả của cái thiện, cái đẹp, đồng thời phá vỡ ảo
tưởng về khả năng cái thiện sẽ thắng thế trong trật tự thế giới mới của xã hội tư sản đang hình thành
Sự xuất hiện của Gargantua và Pantagruel và Don Quichotte
đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của sự hình thành bước đầu chủ nghĩa hiện thực như một trào lưu nghệ thuật độc lập, một phương pháp sáng tác
Trang 8trí của Người nơi từ đó Người đã điều khiển toàn bộ vũ trụ và ngôi thứ của các giá trị trong vũ trụ đó , phân biệt cái thiện với cái ác và ban cho mỗi sự vật một ý nghĩa, Don Quichotte bước ra khỏi nhà và không còn đủ sức nhận ra thế giới nữa Cái thế giới này thiếu mất vị trí phán xét tối cao, đột nhiên hiện ra trong một tình trạng nhập nhằng đáng sợ, chân lý thần thánh duy nhất bị tan rã thành hàng trăm chân lý tương đối mà những con người chia lấy cho nhau Như vậy đấy, thế giới của thời hiện đại đã ra đời
(24/13), và cùng với nó chủ nghĩa hiện thực đã hình thành trong buổi đầu
sơ khai của mình
Cervantès đã chọn một tiêu chí khác để đánh giá và suy xét cuộc sống thực tại, ông tìm kiếm trong bản thân những xung đột của cuộc sống câu trả lời cho tính chất của hành động của con người, động cơ và nguyên nhân dẫn tới quyết định của con người Ông lấy chính các kinh nghiệm cuộc sống để điều chỉnh lại các hành vi của con người và lôgíc của hành động Cervantès đã thông qua thái độ mỉa mai, châm biếm, thậm chí hạ thấp những chiến công cao cả của Don Quichotte để chứng minh rằng: lý tưởng không phải là trừu tượng, nó là lôgíc của cuộc sống thực tế nôm na hằng ngày và nghệ thuật phải phản ánh nó chứ không được phản ánh lại những hiện tượng tự biện về thế giới Tư tưởng này của tác phẩm là một thành tựu rất to lớn của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa đang hình thành
Millan Kundera cho rằng: Đối với tôi, người sáng lập Thời Hiện Đại
không chỉ là Descartes mà còn là Cervantès (24/11) Thời Hiện Đại, thời
của chủ nghĩa hiện thực , một trào lưu vô cùng quan trọng của nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng, và chủ nghĩa hiện thực của Rabelais, của
Cervantès là chủ nghĩa hiện thực nghịch dị (Bakhtin ) Trong đó, hiện thực
cuộc sống đương thời hết sức rối ren, khắc nghiệt cùng với mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn luôn đan xen nhau trong một chỉnh thể thống nhất không thể tách rời Điều đó được phản ánh dưới kiểu hình tượng đặc thù
Trang 9nằm trong thuộc tính của nền văn hoá trào tiếu dân gian với hệ thống những yếu tố gây cười
Nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa với nhiệm vụ phản đời sống xã hội của con người để rồi từ đó nhận thức bản chất các quá trình lịch sử trong hình thành của mình, luôn có những bước phát triển vượt bậc Lối mô tả cuộc sống nhiều bình diện trong các tác phẩm của Shakespeare được xem như là một bước đột phá trong sự phát triển của phương pháp hiện thực chủ nghĩa
Các sáng tác của Shakespeare luôn có tính nguyên hợp, những mô típ hiện thực và phi hiện thực luôn đan xen với nhau trong các tác phẩm Nhưng môtíp chủ đạo vẫn là chủ nghĩa hiện thực trong sự mô tả những tính cách, sự tái hiện một cách chân thực những xung đột đạo đức của các nhân vật Đó là cơ sở cốt yếu nhất để nhận thức một cách đúng đắn và chân thực
xã hội đương thời
Các xung đột bi kịch của những nhân vật trong sáng tác của Shakespeare không mang tính chất định mệnh bởi các đấng siêu nhiên mà
bị quyết định bởi các nguyên nhân từ điều kiện lịch sử - xã hội Những khát vọng cá nhân cao đẹp luôn luôn mâu thuẫn với thực tế cuộc sống đương thời Cái chết của Roméo và Julliette, tấn bi kịch tinh thần của Hamlet, sự sụp đổ lòng tin của Otello là kết quả của những xung đột nằm trong chính
xã hội mà Shakespeare sống và sáng tác Thực tế là chìa khoá của bi kịch,
là ngọn nguồn phát sinh những bi kịch đó Shakespeare đã phản ánh một cách chân thực những xung đột của cuộc sống bằng những sáng tác của mình Chủ nghĩa hiện thực đến Shakespeare đã có sự phát triển mới sâu sắc hơn chủ nghĩa hiện thực của Rabelais và Cervantès
Shakespeare mô tả thế giới nội tâm của con người trong sự thống nhất với thực tế xã hội Tính cách các nhân vật của ông là những điển hình
Trang 10quát, vừa cá biệt Tư tưởng nghệ thuật của Shakespeare hướng về nghiên cứu tồn tại khách quan và ông đã biểu hiện những mâu thuẫn cùng xung đột trong lòng xã hội đó Mâu thuẫn trong những tính cách của Shakespeare
là mâu thuẫn của chính cuộc sống thời đại ông Tuy cốt truyện được lấy từ quá khứ nhưng Shakespeare luôn hướng về cuộc sống hiện tại bằng việc nghiên cứu đời sống xã hội và những xung đột đang diễn ra nóng hổi Chủ nghĩa hiện thực Shakespeare được coi là chủ nghĩa hiện thực thời Phục Hưng
Sau Shakespeare, chủ nghĩa hiện thực vẫn tiếp tục phát triển: Lôgíc của sự phát triển lịch sử, sự nghiên cứu bằng nghệ thuật thực tiễn của con người được hiểu theo nghĩa rộng đã dẫn tới việc chủ nghĩa hiện thực hình thành hoàn toàn như là một phương pháp sáng tác độc lập Các sáng tác của Rechardson , Diderot, Lessing ,Goethe, Smolett thế kỷ XVIII đã cho phép
ta xác định đặc điểm xác định của phương pháp mô tả hiện thực và phân biệt nguyên tắc chủ nghĩa hiện thực với các xu hướng khác nhau trong nghệ thuật
Thế kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư bản bộc lộ hết bản chất xấu xa của nó , chủ nghĩa hiện thực kiểu mới có thái độ phê phán đối với thực tế xã hội đương thời của Balzac; Stendhal; Dickens; Gogol đã xuất hiện Cho đến lúc này, chủ nghĩa hiện thực mới trở thành một phương pháp sáng tác nghệ thuật hoàn chỉnh với đầy đủ các đặc trưng của nó Lịch sử hình thành của chủ nghĩa hiện thực với tính cách là một khuynh hướng hiện nghệ thuật
diễn ra rất phức tạp Nhưng có thể nói chủ nghĩa hiện thực đã đạt tới mức
độ phát triển cao nhất , mức độ biểu hiện rõ rệt nhất và có ý thức của nó trong giai đoạn quá độ từ thời cách mạng tư sản sang thời đại cách mạng
vô sản, nói đúng hơn tức là trong thế kỷ XIX (60/52)
Chủ nghĩa hiện thực gắn liền với tiểu thuyết của Stendhal, Balzac, Flaubert (Pháp); Dickens, Thakerey, Charlotte Bronte (Anh); Gogol,
Trang 11Tchékov, L Tolstoi, Dostoievsky ( Nga ) … trong thế kỷ XIX Trước đó và cùng thời với nó là những tiểu thuyết lãng mạn chủ nghĩa của Walter Scott, Victor Hugo, Alexandre Dumas (Pháp), Multatuli (Hà Lan)… Đó là chưa
kể những tiểu thuyết chủ nghĩa tự nhiên của Émile Zola… Trong thế kỷ XIX, tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa là dòng chủ lưu nhưng không phải là tất cả và không nên quy lịch sử tiểu thuyết thành hai dòng tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa và tiểu thuyết phi hiện thực bởi như vậy là không đúng, thậm chí là lệch lạc
Là một phương pháp sáng tác, một trào lưu nghệ thuật độc lập, chủ nghĩa hiện thực có đầy đủ các tiêu chí nghệ thuật của nó Nghệ thuật chủ nghĩa hiện thực đòi hỏi phải phản ánh hiện thực một cách chân thực, khách quan Cái đẹp của nghệ thuật hiện thực phải là cái đẹp của cuộc sống, cái
đẹp bắt nguồn từ cuộc sống Engels cho rằng: Theo tôi quan niệm thì chủ
nghĩa hiện thực, ngoài tính chân thực của chi tiết, nó còn đòi hỏi tính chân thực trong việc tái hiện những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình (60/72 )
Lời phát biểu của Engels được coi là một chuẩn mực để đánh giá các tác phẩm nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa Nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa đòi hỏi phải chân thực đến từng chi tiết của cuộc sống Nhưng chỉ thế thôi chưa đủ , mà nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa còn phải xây dựng được những tính cách điển hình trong một hoàn cảnh điển hình Cái điển hình ở đây chính là cái bản chất trong những sự kiện và hiện tượng, cái mà qua đó người ta có thể thấy được tính khái quát hoá và cá thể hoá của bản thân những sự kiện, hiện tượng đó
Chủ nghĩa hiện thực đi sâu vào chân lý của đời sống thực tại, rút chân lý đó ra từ những biểu hiện sinh động của hiện thực khách quan bằng cách mô tả chân thực sự phản ánh của đời sống vào tâm lý con người
Trang 12thuật xuất phát từ bên trong, về cuộc đấu tranh của cá tính con người trong hoàn cảnh vật chất bao quanh cá tính đó Chủ nghĩa lãng mạn tách con người ra khỏi hoàn cảnh vật chất, hướng con người tới chỗ đấu tranh chống những gì trừu tượng, như Don Quichotte chẳng hạn, chống cối xay gió, chủ nghĩa tự nhiên mô tả, xuất phát từ cái bên ngoài nói chung, hoàn cảnh vật chất không đi sâu vào tính biện chứng bên trong của sự vật - chủ nghĩa hiện thực xuất phát từ cái bên trong để phát hiện thế giới nội tâm của con người bao quanh như cây gắn liền với rễ của nó với đất nuôi dưỡng nó (60/81 ) Chủ nghĩa hiện thực luôn tìm tòi những mối liên hệ giữa
cuộc sống vật chất và cuộc sống tinh thần để từ đó làm nổi bật bản chất của hiện thực đời sống khách quan và những khát vọng của cá nhân con người
trong xã hội đó Cách xử lý hình tượng theo phương pháp hiện thực chủ
nghĩa đòi hỏi phải nêu thật nổi bật bản chất của hình tượng không cho đan xen vào trong đó một tính khuynh hướng lộ liễu , không ép các thuộc tính
và phẩm chất của hình tượng phải “thích ứng” giả tạo với quan niệm giả định sẵn có về nó - phải nêu nổi bật bản chất nói trên qua sự vận động của những niềm say đắm và những khát vọng cá nhân gắn bó với tồn tại xã hội của con người, với những cảnh và môi trường xung quanh cuộc sống con người (60/79)
Có thể nói chủ nghĩa hiện thực là một phương pháp sáng tác, một trào lưu, một khuynh hướng nghệ thuật mang tính lịch sử Với hành trình hơn bốn thế kỷ, chủ nghĩa hiện thực luôn có những bước phát triển vượt bậc cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại Trong buổi sơ khai của mình, chủ nghĩa hiện thực nghịch dị, chủ nghĩa hiện thực thời Phục Hưng của Rabelais, Cervantès và Shakespeare đã có những thành tựu đáng kể đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XVIII, chủ nghĩa hiện thực phê phán phát triển và hoàn thiện nguyên lý sáng tác Đến chủ nghĩa hiện thực
xã hội chủ nghĩa, nghệ thuật đã trở thành một vũ khí tư tưởng mạnh mẽ của
Trang 13nhân dân, của giai cấp vô sản trên toàn thế giới, tích cực đấu tranh cho cái mới nhanh chóng thắng lợi ngay trong cuộc sống hiện tại và cho việc xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn xã hội trước đó, xã hội cộng sản chủ nghĩa
1.2 Sự hình thành chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam
Ở Việt Nam, chủ nghĩa hiện thực ra đời muộn hơn ở Châu Âu khoảng hai thế kỷ Vào nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX( Thời Lê mạt – Nguyễn sơ ), xã hội phong kiến Việt Nam đã thật sự rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, bộc lộ toàn vẹn sự xấu xa, thối nát của các tập đoàn phong kiến vua Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn Nhiều phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra, nổi bật là phong tào Tây Sơn với người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ Cuộc khởi nghĩa được xem như là một cuộc cách mạng lớn có thể so sánh với thời đại Phục Hưng ở một số nước Phương Tây Xã hội biến động dẫn tới sự phân hoá sâu sắc các giai tầng trong xã hội, tiêu biểu là sự phân hoá tầng lớp nho sĩ, lực lượng trí thức duy nhất của
xã hội phong kiến Các quy phạm về chính trị, đạo đức thẫm mỹ của xã hội phong kiến cũng bị đảo lộn, những khát vọng tự do, công lý của quần chúng, của tầng lớp thị dân ngày càng dâng lên mạnh mẽ, tạo điều kiện cho
một loạt sáng tác văn học nghệ thuật mang những yếu tố hiện thực chủ
nghĩa kết tinh thành cả trào lưu văn học hiện thực chủ nghĩa bước đầu với
những tác phẩm xuất sắc như Truyện Kiều của Nguyễn Du và Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái, thơ Hồ Xuân Hương
Xét về quy mô và tính chất thì ở Việt Nam sự biến thiên xã hội để hình thành chủ nghĩa hiện thực như một phương pháp sáng tác , một trào lưu văn học nhỏ hơn nhiều so với Phương Tây thời Phục Hưng Việt Nam
là một nước nằm trong phương thức sản xuất Châu Á khép kín, manh mún
Trang 14Các cuộc cải cách xã hội diễn ra chậm chạp và nhỏ giọt Tuy nhiên kết quả của những chuyển biến xã hội và tư tưởng là sự ra đời của một phong trào văn học nghệ thuật hết sức đặc sắc Nội dung, đề tài, khuynh hướng sáng tác, thể loại của văn học dân gian cũng như văn học bác học phong phú và sâu sắc chưa từng thấy trong lịch sử văn học lịch sử văn học nghệ thuật dân
tộc Chủ nghĩa hiện thực trên cơ sở đó đã phôi thai ở những bước đầu
tiên Chủ nghĩa hiện thực với tư cách là một phương pháp sáng tác, một
trào lưu văn học độc lập được đánh dấu bởi các sáng tác của Nguyễn Du,
tác giả của Truyện Kiều nỗi tiếng, Nguyễn Du là đại biểu lớn nhất ,
Truyện Kiều và một phần thơ chữ Hán của ông là sự thể hiện rực rỡ nhất
chủ nghĩa hiện thực ( 8/25)
Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam được tiếp thu từ truyền thống của văn học dân gian, cụ thể là truyện thơ Nôm Truyện thơ Nôm là loại hình tự sự lớn nhất của Việt Nam trước đây (thế kỷ XVIII trở về trước), chiếm một khối lượng đồ sộ trong kho tàng văn học cổ Truyện thơ Nôm bắt rễ sâu vào đời sống của nhân dân Nhiều lúc dường như là tiếng vang của những cuộc khởi nghĩa quần chúng , đặc biệt là trong thời kỳ Lê mạt - Nguyễn sơ Giai cấp phong kiến chưa bao giờ đặt văn học Nôm ngang hàng với văn học chữ Hán ( chỉ có Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải là dám đem chữ Nôm thách thức với chữ Hán trong mọi lĩnh vực )
Nôm na là cha mách qué, Mua vui cũng được một vài trống canh
Truyện Nôm để đả kích, để châm biếm, để mua vui’ chứ không phải để chỉ
đạo như văn học chữ Hán Phú, văn tế, hịch, cáo, thơ Đường là những
thể loại nghiêm nghị, bi ai, hùng tráng Thơ Đường luật của bà Huyện Thanh Quan trang trọng, chạm trổ tinh vi, kết cấu chặt chẽ, thâm nghiêm như một toà lâu đài phong kiến Nhưng văn Nôm thì có loại bông lơn đùa cợt Thơ Đường luật của Hồ Xuân Hương, Tú Xương nghe có giọng châm chọc, đả kích đôi khi quất thẳng vào mặt kẻ thù như một tiếng chửi
Trang 15Văn học chữ Hán gắn liền với đạo lý Truyện thơ Nôm hầu như xa lịch sử, cho phép hư cấu nhiều hơn ,nói chuyện đời nhiều hơn Truyện thơ Nôm vừa đề cập đến những vấn đề của quốc gia, dân tộc đồng thời vừa phản ánh những câu truyện hằng ngày của quần chúng, chú ý nhiều hơn đến số phận những con người bình thường trong cuộc sống Khuynh hướng dân chủ hoá khiến nó đi sâu được vào quần chúng đông đảo Truyện thơ Nôm về cơ bản nằm ngoài khuôn khổ của những quy phạm đạo đức phong kiến Do vậy nó là một cơ sở quan trọng để chủ nghĩa hiện thực tiếp thu và phát triển trở thành một phương pháp sáng tác, một trào lưu văn học độc lập
Chủ nghĩa hiện thực cũng đã tiếp thu các yếu tố thực, các giá trị hiện
thực của dòng văn học bác học từ thế kỷ XVIII trở về trước Đó là những
dòng tâm sự, những nỗi lòng của tác giả về thời thế, những chi tiết tả chân
về cuộc sống hiện thực của xã hội phong kiến Việt Nam : Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng Bên cạnh những tác phẩm chữ Hán
mang tính chất chỉ đạo, ngợi ca xã hội phong kiến, còn có những dòng thơ Nôm thể hiện nỗi lòng tâm sự về cuộc sống hàng ngày, nhân tình thế thái
và tư tưởng nhân văn cao cả luôn hướng về nhân dân của các bậc trí thức giàu lòng nhân nghĩa Ngoài ra chủ nghĩa hiện thực cũng đã kế thừa thơ Đường Trung Quốc của Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị các tiểu thuyết thời Minh ,
Thanh như Tam Quốc chí, Thuỷ Hử, Hồng Lâu Mộng Truyền thống
văn học dân gian và văn học bác học cũng như ảnh hưởng thời kỳ đầu của văn học Trung Quốc đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành chủ nghĩa hiện thực
Chủ nghĩa hiện thực hiện thực trong văn học học Việt Nam thời Lê được hình thành trong những điều kiện lịch sử - xã hội đặc biệt của dân tộc
Trang 16ở Việt Nam bao trùm toàn bộ các lĩnh vực của văn học nghệ thuật chứ không phải chỉ riêng ở văn học Chủ nghĩa hiện thực được thể hiện trong hội họa, âm nhạc, điêu khắc ( Các vị La Hán chùa Tây Phương ), nhưng đặc biệt in dấu đậm nhất vẵn là ở các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Văn học Việt Nam là một bộ phận của văn học Đông Nam Á và Văn học học thế giới nên chủ nghĩa hiện thực Việt Nam vừa mang những nét phổ biến giống chủ nghĩa hiện thực trong khu vực, văn học thế giới, vừa mang những nét riêng biệt ,độc đáo của dân tộc
Tính chất dân tộc của chủ nghĩa hiện thực Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đó là văn học chống chế độ phong kiến tham tàn đang trên dốc của
sự suy thoái Hình tượng bọn vua chúa tham tàn được khắc hoạ rõ nét trong
rất nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật Truyện Kiều của Nguyễn Du, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái Các phong tráo khởi
nghĩa nông dân dưới chế độ phong kiến thối nát cũng đã được văn học phản ánh khá đầy đủ, đặc biệt là phong trào khởi nghĩa Tây Sơn của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ Chủ nghĩa hiện thực Việt Nam thế kỷ XVIII cũng đã đồng thời đề cấp đến những tư tưởng nhân văn cao cả Đó là sự bênh vực những người thấp cổ bé miệng trong xã hội, đặc biệt là những người phụ nữ, ca ngợi tình yêu tự do
Nằm trong quy luật phát triển chung, chủ nghĩa hiện thực Việt Nam cũng đã thể hiện những nét phổ biến của chủ nghĩa hiện thực khu vực và chủ nghĩa hiện thực thế giới Các tác phẩm Việt Nam đã lên án bọn xâm lược ngoại bang đội lốt các thầy tu đi truyền bá và khai sáng văn minh ở
xứ sở lạc hậu, phê phán sự lỗi thời của tư tưởng Nho giáo và Phật giáo
Về hình thức thể hiện, đặc trưng chủ nghĩa hiện thực Phương Đông có sự tranh chấp giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa quy phạm Khi khắc họa các nhân vật phản diện, các nhà văn đã dùng bút pháp tả thực, còn khi xây
Trang 17dựng các nhân vật lý tưởng, các quy phạm của mỹ học phong kiến lại chiếm ưu thế
Ở bình diện thế giới, các nhà văn đã xây dựng hình tượng các bạo chúa tham tàn giống như ở Châu Âu Phục Hưng Bạo chúa là hình tượng văn học phổ biến trong dòng văn học hiện thực của tất cả các nền văn học trong buổi đầu hình thành chủ nghĩa hiện thực Đó là các Trang vương, Ngụy vương, lực lượng phản diện cản trở và trà đạp hạnh phúc của con người
Đồng thời với việc xây dựng các bạo chúa, tiếng cười cũng đã được đưa vào văn học như một vũ khí châm biếm, đã kích vào thực tế thối nát của chế độ phong kiến Nếu như tiếng cười của Rabelais nhằm chống lại trật tự xã hội Trung Cổ thì tiếng cười Hồ Xuân Hương lại tấn công vào chế
độ phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII đầy bất công và thối nát
Có thể nói chủ nghĩa hiện thực Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX mặc dù chưa có các điển hình nỗi tiếng như chủ nghĩa hiện thực Châu Âu thời Phục Hưng nhưng đã đạt đến một trình độ khá cao về mặt khái quát hoá và điển hình hoá Lần đầu tiên trong văn học con người thoát khỏi tư tưởng thần quyền, thế giới quan tôn giáo để khẳng định tư tưởng làm chủ của mình Và cũng lần đầu tiên những con người bình thường được phản ánh một cách rõ nét và chân thực Tuy vậy chủ nghĩa
hiện thực thời Lê mạt - Nguyễn sơ vẫn còn mang tính chất tự phát, phổ
biến nhưng tản mạn, không đều phải tập trung rất nhiều tác phẩm mới có thể khái quát hoàn chỉnh bức tranh xã hội đương thời (8/39)
1.3 Một số hiện tƣợng tiêu biểu trong tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa buổi đầu hình thành và phát triển ( Từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX )
Trang 181.3.1 Chủ nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết Đoạn trường tân thanh
của Nguyễn Du
Chủ nghĩa hiện thực là sự phản ánh hiện thực xã hội vào thế giới nội tâm con người một cách đầy đủ nhất và chính xác nhất Chủ nghĩa hiện thực tái hiện thực tại như nó vốn có, không lý tưởng hoá, không phóng đại theo lối châm biếm, đả kích Sự phản ánh của chủ nghĩa hiện thực không chỉ dừng lại ở việc tái hiện hình thức bên ngoài mà còn phải đi sâu vào bản
chất của cuộc sống đế xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh
điển hình
Tiểu thuyết Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du là tác phẩm
đầu tiên đặt nền móng cho văn học hiện thực ở nước ta Tuy nhiên trong buổi đấu sơ khai của nó tính chất quy phạm của nền văn học trước vẫn còn
dấu ấn Ở Truyện Kiều có sự đan xen, giằng xé giữa xu hướng chủ nghĩa
hiện thực và những những nền nếp đã trở thành quy phạm Và cái vĩ đại
của Nguyễn Du không phải ở chỗ cắt đứt mọi liên hệ với văn học quá khứ
và đương thời mà là ở chỗ, thông qua những khuân khổ, những quy ước định sẵn, Nguyễn Du tìm được con đường dẫn tới chủ nghĩa hiện thực, bằng một sự kết hợp sinh động, tài tình(27/7) Xuất phát từ một tác phẩm
nước ngoài nhưng Nguyễn Du đã sáng tạo và xây dựng nên một tác phẩm
mang tư tưởng mới mẻ, là sản phẩm của xã hội và thời đại ông Từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đến Truyện Kiều của Nguyễn
Du là một sự tái tạo tinh vi , phức tạp để biến một tác phẩm văn học tầm thường , tự nhiên chủ nghĩa đến thô tục trở thành một tác phẩm văn học hiện thực chủ nghĩa kiệt xuất, tuyệt vời (27/ 62 ) Nguyễn Du sống ở thời
điểm xã hội phong kiến đang trên bờ vực của sự suy tàn, và bản thân ông
là một nhà Nho nên có chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến Nguyễn
Du tin vào định mệnh, ông tin rằng có một thứ chủ nghĩa định mệnh đâu đó
ở thế giới trần thế này chi phối đến cuộc sống tình cảm con người Đó
Trang 19chính là tâm trạng bế tắc của tác giả trước sự bế tắc của xã hội đương thời Nguyễn Du không biết nguyên do tại đâu, không biết đâu là lối ra, không giải thích được vì sao lực lượng này cứ ngự trị trong cuộc sống Nguyễn Du không biết làm thế nào để đánh đổ lực lượng ấy và lấy gì để thay thế vào Ông cho rằng, đó là do định mệnh, do một đấng thiên tạo nào đó bày ra, chủ nghĩa định mệnh cũng từ đó ảnh hưổng đến tư tưởng và kết cấu
Truyện Kiều Truyện Kiều cũng có cái kết thúc có hậu giống như các
truyện Nôm đương thời và đó là ý nghĩa của lực lượng thần bí, là ước mơ của con người qua lời tiên tri của nhà Phật Đấy chính là hạn chế của tư tưởng - nghệ thuật tác phẩm
Chủ nghĩa định mệnh của Truyện Kiều bắt nguồn từ tư tưởng thiên
mệnh của Đạo Nho: Không biết mệnh, không là người quân tử, Tử sinh
hữu mệnh, phú quý tại thiên Mặt khác chủ nghĩa định mệnh của Nguyễn
Du cũng ảnh hưởng của tư tưởng luân hồi đạo Phật:
Đã mang lấy nghiệp vào thân Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Thiên mệnh, hoạ phúc con người là tư tưởng của tôn giáo và Nguyện
Du đã dùng nó để chứng minh cho thuyết tài mệnh tương đố, hồng nhan
bạc mệnh Trong hoàn cảnh xã hội phong kiến, thuyết này không phải là
không có nội dung hiện thực, nhưng Nguyễn Du đã gán cho nó một ý nghĩa
duy tâm , siêu hình, cho đó là tạo vật đố hàn, bỉ sắc tư phong Mâu thuẫn
trong thế giới quan của Nguyễn Du đã được thể hiện qua tác phẩm:
Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau tài ở đây là tài hoa, tài sắc, tài tình Với Đạm Tiên là tài văn chương, với
Trang 20chắc chắn là trong thuyết tài mệnh tương đố của mình, Nguyễn Du lệch về
phía tài hoa mà rất nhẹ về phía tài thao lược, trí dũng, anh hùng Cái tài của
Từ Hải cũng vì thế không nằm trong vòng cương toả của chữ mệnh Mâu
thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn Du vừa mang tính chất lịch sử xã hội, đồng thời cũng sẽ có căn nguyên từ chính hoàn cảnh cá nhân ông Nếu
Nguyễn Du đồng nhất chữ tài với cái anh hùng thì chủ đề tác phẩm sẽ
khác, nhân vật trung tâm sẽ không phải là Thuý Kiều mà là Từ Hải Chủ
đề Truyện Kiều sẽ là mâu thuẫn giữa những con người có khí phách như
Từ Hải với số mệnh tàn ác Nhưng đó là giả thuyết vì quan niệm của
Nguyễn Du về chữ tài không cho phép ông đặt phần sâu sắc nhất của lý
tưởng thẩm mỹ của mình vào nhân vật Từ Hải Đây chính là hạn chế của Nguyễn Du
Chữ tài trong Truyện Kiều về thực chất là chữ tình Thuý Kiều
chịu bao oan khổ, đập vùi cũng là vì muốn sống cho ra sống, do chữ tình
đối với cuộc đời, đỗi với người khác và đối với chính mình
Nghĩ đời mà ngán cho đời Tài tình chi lắm cho trời đất ghen
Nếu bỏ qua cái vô siêu hình thì lý thuyết của Nguyễn Du không phải
là không có cơ sở khách quan, không phải là không có giá trị tố cáo Xã hội phong kiến vốn không dung nạp tài năng, thời Nguyễn Du, Gia Long đã bãi bỏ chức trạng Nguyên vì sợ người có tài Đến Đặng Trần Thường, Nguyễn Văn Thành là những công thần khai quốc cuối cùng cũng có một kết cục đau thương Trong xã hội phong kiến đa tài đồng nghĩa với đa nạn
Từ Hải chết đứng còn Kiều thì: Những là oan khổ lưu ly
Chữ tài của Nguyễn Du mang đậm nội dung xã hội Ông đã thấy
được thế lực hắc ám gây tội ác với những người tài hoa như Kiều, Đạm Tiên Tác giả đã quất mạnh tay và vạch mặt một cách không thương xót lũ người ấy Khi cần Nguyễn Du cũng đã có những kết luận đúng đắn Nhưng
Trang 21đến khi tổng kết, khi rút ra những khái quát triết lí thì dường như, Nguyễn
Du lại quên mất lũ sai nha đầu trâu mặt ngựa, quên mất Tú Bà, Sở Khanh…, những kẻ buôn thịt bán người Kẻ thù không còn là lũ lang sói
mà là một cái gì vô hình vô ảnh, tuy không kém phần khắc nghiệt: đó là số mệnh
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Mệnh là sự may rủi cá nhân và là cái không thể tránh được Nguyễn
Du tin như vậy:
Rủi may âu cũng tự trời
Lòng tin của Nguyễn Du vào định mệnh bắt nguồn từ căn nguyên xã hội Thời đại Nguyễn Du sống là thời đại mà chế độ phong kiến đã đến cực điểm của sự khủng hoảng, nhiều phong trào nông dân nổ ra rồi thất bại Trong hoàn cảnh như thế, ông không biết phải giải thích ra sao, phải chăng
do định mệnh?
Nguyễn Du tin vào số mệnh nhưng mặt khác ông cũng tố cáo định
mệnh: Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều Tác giả xót xa cho thân
phận con người, căm ghét những lực lượng giày xéo lên con người, gây cho
họ những bất hạnh, khổ đau Chủ nghĩa hiện thực Truyện Kiều được xây dựng dựa trên tư tưởng nhân đạo tích cực ấy Truyện Kiều đã phản ánh
được chân lí đời sống đồng thời chắp cánh cho những ước mơ được giải phóng của những con người chịu nhiều khổ đau trong xã hội cũ
Truyện Kiều là bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội Việt Nam,
phản ánh những mối quan hệ thực tế gắn liền với chế độ phong kiến trên bước đường suy vong của nó Những quan hệ này làm nên bối cảnh thực cho hành động của các nhân vật Qua đó tính cách của nhân vật được phơi bày và mang ý nghĩa điển hình sinh động Tú Bà, Sở Khanh, Mã Giám
Trang 22hình ảnh của những con buôn, mụ chủ, quan lại trong xã hội phong kiến thối nát rất nhỏ nhen, rất bẩn thỉu, rất dâm ô
Nhân vật trong Truyện Kiều cũng đã có sự giằng xé nội tâm gay
gắt, có sự bộc lộ tính cách qua độc thoại nội tâm Ở một số nhân vật, bước đầu có sự đa dạng và phát triển tính cách theo hoàn cảnh Lúc ở Lâm Tri, Thúc Sinh mê Kiều như Kim Trọng nhưng trước sự chèn ép của Hoạn Thư, Thúc Sinh lại xử sự như Sở Khanh Con người Thúc là vậy: ân tình mà bạc bẽo, đáng giận mà đáng thương, vừa là tội nhân, vừa là nạn nhân Còn Thuý Kiều, nhân vật được Nguyễn Du yêu mến nhất cũng bị xã hội làm cho tha hóa Là một người con gái khôn ngoan và tinh tế nhưng đứng trước những khổ đau và dập vùi, với mong muốn thoát khỏi nhục nhã, Kiều đã bị mắc lừa Sở Khanh, đã chịu khuất phục trước ngọn roi của Tú Bà, bám vào Thúc Sinh để thoát khỏi lầu xanh, bị Hồ Tôn Hiến lừa trong trận chiến với
Từ Hải Ở Kiều có sự thống nhất các mặt đối lập Khúc tình ca với Kim
Trọng, chủ nghĩa hiện thực nôm na với Thúc Sinh, cảm hứng anh hùng ca với Từ Hải, Kiều đã trải qua tất cả Kiều chỉ sống với Kim Trọng mà chọn con đường phụ bạc Kim Trọng Kiều cảm phục Từ Hải cũng chân thành như khuyên Từ Hải ra hàng Kiều vừa sắc sảo khôn ngoan lại vừa nhẹ dạ
cả tin, nhìn thấy tâm can của Kim Trọng, Từ Hải, Thúc Sinh nhưng lại mắc lừa Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến Kiều tin yêu , hồn nhiên, mà cũng biết dè chừng, tính toán, dạn dày Kiều can trường quyết liệt nhưng lại thu phục khẩn cầu, vâng dạ trước Tú Bà và nhẫn nhục một cách lạ kỳ khi rơi vào tay Hoạn Thư Kiều gắn bó với đời mà lại có cảm tình với cảnh tu hành Kiều rất hiền lành, sinh ra ở đời chỉ để yêu thương và đem lại hạnh phúc, cuối cùng buộc phải nhờ tay Từ Hải vung gươm lên gây ra cảnh máu rơi thịt nát tan tành Xét cho cùng thì cuộc sống đã tạo ra một Thuý Kiều như thế, vừa
đa dạng vừa rất thống nhất (27/221)
Trang 23Có thể nói, trong chừng mực nhất định, một số nhân vật trong
Truyện Kiều có diễn biến, có phát triển theo lôgic nội tại một cách biện
chứng Nhân vật vừa dựa vào nhau để sống, vừa là mình, vừa biến đổi, vừa chịu tác động, vừa tác động trở lại Ta có thể hiểu nhân vật này thông qua nhân vật kia và ngược lại
Với Truyện Kiều, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam,
Nguyễn Du đã thông qua ngoại hình để đi sâu vào tâm lí bên trong nhân vật Một nét mặt, một cử chỉ, một điệu bộ, một tư thế không chỉ là cái bên ngoài mà thông qua đó tác giả thể hiện cái thần của nhân vật Và cũng với
Truyện Kiều lần đầu tiên ngôn ngữ dân tộc đạt đến độ tinh vi nhất, đẹp đẽ
nhất
Tuy nhiên, chủ nghĩa hiện thực Truyện Kiều trong buổi đầu sơ khai
còn bị chi phối bởi những quy phạm của mỹ học phong kiến Các nhân vật
lí tưởng như Kim Trọng, Từ Hải còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của khuynh hướng lí tưởng hóa Một số nhân vật được xây dựng theo thủ pháp ước lệ, tượng trưng Tâm lí nhân vật còn sơ khai, mức độ cá thể hóa chưa được sâu
sắc Cái vĩ đại của Nguyễn Du chính là qua Truyện Kiều đặt nền móng
đầu tiên cho sự hình thành và phát triển chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam
1.3.2 - Chủ nghĩa hiện thực trong Hoàng Lê nhất thống chí của
Ngô Gia văn phái
Chủ nghĩa hiện thực từ Truyện Kiều đến Hoàng Lê nhất thống chí
đã có một sự phát triển cao hơn Hoàng Lê nhất thống chí đã khái quát
một cách chân thực và khá đầy đủ xã hội Việt Nam đầy biến động thời Lê mạt- Nguyễn sơ Phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, những cuộc nổi loạn của đám kiêu binh, sự ăn chơi vô độ của quan lại nhà Lê- Trịnh… đã được các tác giả họ Ngô phản ánh khá sắc nét Chế độ phong kiến Việt Nam hàng ngàn năm tồn tại đang trên bờ vực của sự suy tàn đã
Trang 24bộc lộ tất cả những gì xấu xa nhất, bỉ ổi nhất Sức mạnh lớn nhất của chủ
nghĩa hiện thực trong Hoàng Lê nhất thống chí là việc xây dựng những
tính cách điển hình trong lòng xã hội đảo điên ấy Muốn xác định bất cứ
một phương pháp sáng tác nào, những giới hạn và nguyên tắc của nó, thì việc tái hiện vấn đề tái hiện tính cách bằng phương pháp nghệ thuật có một
ý nghĩa quyết định (60/49) Những điển hình tính cách trong Hoàng Lê
nhất thống chí có ý nghĩa quyết định đối với phương pháp hiện thực chủ
nghĩa của tác phẩm
Hoàng Lê nhất thống chí đã dựa trên bối cảnh lịch sử- xã hội
đương thời để xây dựng những tính cách điển hình trong lòng xã hội đó với rất nhiều dáng vẻ sinh động khác nhau tùy theo ngôi thứ, đẳng cấp của họ trong xã hội Từ những kẻ lưu manh côn đồ lợi dụng thời thế đảo điên để hành sự như Đặng Mậu Lân, Nguyễn Cảnh Thược, những kẻ bất tài, bỉ ổi như Dương Khuông, bè phái lộng quyền như Quận Huy, khoác lác mưu mô quyền lực như Hoàng Phùng Cơ, tàn bạo và gian dối như Đinh Tích Nhưỡng… đến những kẻ cầm quyền đầy hoang dâm, bạo tàn như Trịnh Sâm, xa xỉ như Trịnh Tông, bất tài hèn hạ như Trịnh Bồng, đớn hèn, nhu nhược như Lê Cảnh Hưng, Lê Chiêu Thống… Tất cả như những con rối múa may quay cuồng trong lòng chế độ phong kiến đang trên bờ vực của
sự suy tàn Đối lập với những kẻ bạo tàn, đớn hèn và nhu nhược ấy là những người luôn có ý thức đem tài năng cải tạo xã hội trở nên tốt đẹp hơn như Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm, đặc biệt là sự tỏa sáng của người anh hùng áo vải Quang Trung- Nguyễn Huệ
Hoàng Lê nhất thống chí đã xây dựng được một số nhân vật điển
hình có chiều sâu, có cá tính rõ nét: Nguyễn Hữu Chỉnh, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Huệ… Nhưng được khắc họa sâu sắc nhất, hoàn chỉnh nhất là
Nguyễn Hữu Chỉnh Với hình tượng Nguyễn Hữu Chỉnh Hoàng Lê nhất
thống chí đã đạt tới tính cách điển hình ở trình độ khá cao, nói lên bước
Trang 25tiến quan trọng của văn học hiện thực chủ nghĩa thời Lê mạt- Trịnh sơ
(8/129), Các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí bằng ngòi bút của mình đã
làm nổi bật được bản chất giai cấp của Nguyễn Hữu Chỉnh, nhân vật tiêu biểu cho một thứ chính khách thời loạn, có tài và nhiều tham vọng cá nhân, xuất thân từ tầng lớp con buôn nhưng lại có Nho học (10/461) Bằng thủ
đoạn, ma giáo, liều lĩnh Chỉnh đã leo từ một chức quan nhỏ bé lên làm tể
tướng Bắc Hà quyền chính thật ngang với nhà vua, thế của Chỉnh có thể lật
nghiêng cả nước… Chỉnh là hạng người có ý nghĩ cực kì hiểm độc, bụng dạ quá ư tàn nhẫn, mưu mô hết sức sâu sắc, gian trá rất đỗi khôn ngoan, mà ứng biến thì mau lẹ tuyệt vời Con người ấy thực là một kẻ gian hùng thời
loạn (18/387) Các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí đã phân tích khá sâu
sắc cái tâm lí hai mặt, gian dối, lật lọng và tàn nhẫn của Chỉnh, tâm lí ấy rất phù hợp với nguồn gốc giai cấp xuất thân của y
Với hình tượng Nguyễn Hữu Chỉnh, các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí đã nâng vấn đề cá thể hóa lên một bước phát triển cao hơn so với
các tác phẩm trước đó Tác giả không phải chỉ kể lại những việc nhân vật
mình làm mà nhấn mạnh đến các cách mà nhân vật đó làm như thế nào
nữa Nhân vật nói bằng một thứ ngôn ngữ của riêng mình, ngôn ngữ cá thể
hóa chứ không phải là ngữ điệu của người kể chuyện, ngôn ngữ của tính cách và làm nổi rõ tính cách Ngôn ngữ của Nguyễn Hữu Chỉnh đã phản ánh rất trung thành tính cách của hắn, tính cách của một chính khách thời loạn rất hiểm ác, tráo trở, gian hùng nhưng lúc cần cũng có thể nói chuyện nhân nghĩa vua tôi, thầy trò, có lúc lại giả vờ tỏ ra khiêm tốn, nhún nhường,
tự hạ mình xuống làm kẻ bất tài, vô dụng… Nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh
cùng với Hoàng Lê nhất thống chí đã đánh dấu một bước phát triển đột
xuất trên dòng văn học hiện thực chủ nghĩa của nền văn học Việt Nam cổ
và cận đại (27/138)
Trang 261.4 Chủ nghĩa hiện thực và sự ra đời của tiểu thuyết
Quá trình hình thành tiểu thuyết gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực Phân tích sự gắn bó giữa phương pháp sáng tác và thể loại, chúng ta nhằm mục đích bước đầu rút ra một số đặc trưng thẩm mĩ, một số đặc điểm truyền thống của thể loại Trong những cuốn tiểu thuyết đầu tiên, những đặc trưng thẩm mĩ hiện ra một cách đơn giản nhất, do đó cũng rõ ràng nhất, dễ thấy nhất
Nhiều nhà nghiên cứu thể loại tiểu thuyết cho rằng lịch sử tiểu thuyết của thời đại mới bắt đầu bằng những tác phẩm tự sự hiện thực chủ nghĩa cỡ
lớn của thời Phục Hưng Gargantua và Pantagruel của Rabelais và Don
Quichotte của Cervantès Con đường của tiểu thuyết hiện ra như một lịch
sử song hành của Thời Hiện Đại … Tiểu thuyết nhịp bước cùng con người thường xuyên và trung thành từ buổi đầu của Thời Hiện Đại (23/12-16) Từ cuối thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XVIII, “tiểu thuyết bợm nghịch” như một làn sóng đầu tiên của lịch sử tiểu thuyết đã tràn qua các nước Tây Ban Nha, Anh sau đó là Pháp, Đức Tây Ban Nha lúc bấy giờ được gọi là “tổ quốc của tiểu thuyết” Điều đó hoàn toàn phù hợp với lịch sử: trong quá trình tan rã nhanh chóng của các nền tảng phong kiến, trong thời kì diễn ra những cuộc phát minh lớn và những cuộc chinh phục thực dân địa, những khối người lao động đông đảo đã tách ra khỏi hệ thống phong bế của xã hội Trung thế kỉ và biến thành những cá nhân đi lang thang, không nơi nương tựa Đó là nguyên mẫu cho một loạt tiểu thuyết Tây Ban Nha và phong trào “tiểu thuyết bợm nghịch” đã thu hút được độc giả Châu Âu trong gần hai thế kỉ (10/435)
Thời đại Phục Hưng không chỉ là thời đại đấu tranh chống lại nhà thờ và các thế lực phong kiến Trung thế kỷ mà còn là thời kỳ tích lũy nguyên thuỷ chủ nghĩa tư bản Đó là thời kỳ xuất hiện hình ảnh kỳ quặc của
những ông vua ăn mày lang thang, những tên lính hành khất, và đủ các
Trang 27loại lưu manh giang hồ(36/ 113) Những kẻ lang thang do quá trình tan rã
của chế độ phong kiến và quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy, đó chính là hình ảnh của lịch sử cụ thể đầu tiên của của con và cá thể người thời cận đại
Lần đầu tiên trong tiểu thuyết bợm nghịch, văn tự sự bắt đầu chú ý
miêu tả lịch sử cá nhân của những con người bình thường Trước kia trong các tác phẩm cổ và trung đại, người ta chỉ chú ý miêu tả những bậc vua chúa, các vị anh hùng mà chưa có số phận cá nhân của những con người bình thường Tiểu thuyết ra đời ngay từ buổi bình minh đã chú ý đến vận mệnh của những con người bình thường cuộc sống hằng ngày của quần chúng, ngôn ngữ quần chúng Đây chính là tính chất dân chủ của thể loại này
Don Quichotte là tác phẩm vĩ đại đầu tiên của lịch sử tiểu thuyết
thời đại mới và là tác phẩm gắn với sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực với tư
cách một phương pháp sáng tác văn học Don Quichotte miêu tả cuộc đời
và vận mệnh của một cá nhân một anh chàng quý tộc nông thôn nghèo khổ nhưng đồng thời tác phẩm này cũng phản ánh một cách sâu sắc sự tiếp xúc
giữa hai thời kỳ lịch sử: trung - cận đại Tiểu thuyết không phải chỉ miêu tả
cuộc sống riêng tư, không phải chỉ là anh hùng ca của cuộc sống cá nhân, tiểu thuyết còn là bức họa khổng lồ bao quát cả một thời đại (10/439)
Trong Tiểu thuyết bợm nghịch và đặc biệt là trong tác phẩm Don
Quichotte chúng ta thấy một sự hòa hợp hết sức đặc biệt giữa các chất liệu
thẩm mỹ khác nhau: chất anh hùng ca và chất châm biếm, tính bi kịch và tính hài kịch, cái cao cả và cái thấp hèn… Cái đẹp cái lý tưởng được phát hiện ngay trong cuộc sống bình thường hàng ngày của quần chúng Đây là một sự thẩm thấu lẫn nhau hết sức tinh vi giữa các chất liệu thẩm mỹ chứ không phải là một sự hoà hợp theo lối đan chéo, yếu tố này đứng bên cạnh
Trang 28yếu tố kia Trong con người Don Quichotte có đầy đủ màu sắc thẫm mỹ khác nhau, tất nhiên tính bi kịch vãn là âm hưởng chủ đạo
Trong 150 năm đầu tiên của lịch sử tiểu thuyết mỗi thể loại phát triển như một dòng phụ bên cạnh bi kịch, hài kịch, sử thi… Vào nửa sau thế kỷ XVIII, đặc biệt là thế kỷ XIX, tiểu thuyết đã xuất hiện như một thể loại chủ đạo của văn học nói chung với nhiều tác giả và tác phẩm nổi tiếng của nên văn học lớn như Nga, Pháp, Anh, Đức…
Có thể nói, tiểu thuyết hiện đại Châu Âu xuất hiện khi phương thức sinh hoạt tư sản đã bắt đầu rõ nét trong đời sống xã hội Nó tiếp thu những truyền thống của văn học dân gian, hướng về quần chúng bình thường đông đảo và có khuynh hướng dân chủ hóa Lịch sử tiểu thuyết gắn liền khá chặt chẽ với chủ nghĩa hiện thực (chủ nghĩa hiện thực thời Phục Hưng, thời Khai Sáng, chủ nghĩa hiện thực phê phán và hiện thực xã hội chủ nghĩa) và ngày càng đi gần đến cuộc sống thực với tất cả những hình thái đa dạng và phức tạp của nó Do đó tiểu thuyết phải phản ánh cho được quá trình vận động không ngừng của con người và thế giới Tiểu thuyết theo dõi vận mệnh của từng cá nhân nhưng lại phải bao quát quy mô rộng lớn của cả một thời đại Tiểu thuyết mang tính đa dạng về mặt thẫm mỹ và là một loại hình nghệ thụât tổng hợp đó các yếu tố bi kịch hay trữ tình được xây dựng trên cơ sở một nền móng sử thi vững chắc Đó chính là đặc trưng thể loại của tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa
Ở Việt Nam, truyện và tiểu thuyết bắt nguồn từ những loại thần kỳ, chí quái, truyền kỳ và những loại truyện lịch sử (loại chí, diễn nghĩa, liệt truyện) Quá trình hình thành của truyện và văn xuôi nói chung cũng là quá trình tách rời giữa lịch sử và văn học, tính sử thi bớt đi, tính chất sáng tạo
và hư cấu nghệ thuật tăng lên, cũng là quá trình đi từ những chuyện kỳ lạ, hoang đường đến những truyện bình thường trong cuộc sống hàng ngày
Trang 29Có thể nói Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu
tiên của nước ta bước đầu được viết theo phương pháp hiện thực chủ nghĩa Tác phẩm đã khái quát được một giai đoạn lịch sử đầy biến động mà thời
Lê mạt - Nguyễn sơ với các sự kiện lịch sử lớn mà tác giả đã chứng kiến Mặc dù còn gần gũi với thể loại ký sự lịch sử, thậm chí có khi còn mang
màu sắc của sự biên thiên, song Hoàng Lê nhất thống chí căn bản vẫn là
một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo lối chương hồi chứ không phải là ký
sự lịch sử như Thƣợng kinh ký sự của Lê Hữu Trác
Lịch sử phát triển của tiểu thuyết tiến bộ có giá trị nhìn chung
thường gắn với vai trò của chủ nghĩa hiện thực (10/463) Hoàng Lê nhất
thống chí và Truyện Kiều là những cái mốc quan trọng đánh dấu sự hình
thành bước đầu của chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam Chủ nghĩa hiện thực
ở đây còn có những giới hạn của nó Cuốn tiểu thuyết còn rơi rớt những yếu tố thần linh, hoang đường, những quan điểm duy tâm về con người và thế giới Các tác giả ở thời đại bây giờ chưa có ý thức về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong xã hội Những người lao động hãy còn xuất hiện thưa thớt trên sân khâu lịch sử Vai trò của môi trường và hoàn cảnh, sự tác động qua lại giữa hoàn cảnh và tính cách chưa được chú ý đúng mức Các nhân vật tuy trải qua các thử thách, có thay đổi các cương vị xã hội, nhưng tính cách dường như tính cách vẫn rất ít được chuyển biến theo hoàn cảnh Nhìn chung chưa thấy được sự vận động bên trong, sự vận động của tâm lý nhân vật
Lịch sử hình thành, phát triển của tiểu thuyết Việt Nam gắn liền với
sự hình thành bước đầu của chủ nghiã hiện thực trong văn học Lê mạt- Nguyễn sơ Và điều này có nguyên nhân của nó
Sự khủng hoảng nghiêm trọng của xã hội Việt Nam thế kỷ XVIII và XIX đã làm sụp đổ hết mọi kỷ cương, làm đảo hết mọi trật tự phong kiến
Trang 30của một triều đại quân chủ tập quyền xây dựng trong suốt 300 năm Nó ảnh hưởng rất lớn đến văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng
Xã hội phong kiến đã quy định sẵn các tiêu chuẩn, quy phạm về đạo đức, lối sống, phong tục,thẫm mỹ… và buộc con người ta phải sống trong các thứ khuôn phép hẹp hòi và giả tạo đó Tuy cái Tôi đã xuất hiện trong một số trường hợp (Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát…) nhưng nhìn chung văn học dưới thời phong kiến là văn học phi ngã Nói
đến cô gái đẹp thì nghiêng nước nghiêng thành, quốc sắc thiên hương, nói đến người chinh phụ thì bụi cuốn chinh an, da ngựa bọc thây … Ngay đề tài của thi ca cũng có lúc tập trung vào : Phong hoa tuyết nguyệt, cầm kỳ thi
tửu
Trong những thời kỳ chế độ phong kiến còn hưng thịnh, các nhà Nho sống rập khuôn theo những quy phạm có sẵn thì trong các nhân vật của họ thường được lý tưởng hóa và làm cái loa phát ngôn của đạo đức Sự băng hoại của xã hội phong kiến phá vỡ làm đảo lộn các thứ nguyên tắc, quy phạm giả dối Con người bắt đầu lộ ra những bản chất vốn có của nó chứ không phải là bọc kín bởi lớp vỏ dày đạo đức và lễ nghĩa Đó là một điều kiện quan trọng giúp cho những tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa bóc trần không thương tiếc bộ mặt dâm ác, giả nhân giả nghĩa của bọn vua chúa và quan lại phong kiến Đó cũng là điều kiện giúp cho sự hình thành những tác phẩm trong đó nhân vật chính vận động ngoài khuôn khổ phong kiến (truyện Nôm bình dân)
Một mặt khác,trong xã hôi đang chuyển biến mạnh mẽ, cương vị thứ bậc bị đảo lộn, các mâu thuẫn xã hội và tính cách con người sẽ có dịp bộc
lộ ra một cách rõ ràng nhất và trải qua những thay đổi, những bước ngoặt quan trọng, đó cũng là một điều kiện thuận lợi cho sự hình thành của tiểu thuyết , một thể loại có khả năng miêu tả sự vận động không ngừng của thế giới
Trang 31Có thể nói quá trình hình thành của tiểu thuyết Việt Nam gắn bó chặt chẽ với quá trình hình thành của chủ nghĩa hiện thực trong văn xuôi Việt Nam nói chung Quá trình hình thành của một thể loại có những quy luật chung của nó trong điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước nó mang lại những nét đặc thù riêng biệt
Nếu như ở Phương Tây, tiểu thuyết chỉ bắt đầu được hình thành từ khi có quan hệ tư sản , từ khi xuất hiện con người cá thể tư nhân hiện đai thì ở Việt Nam,tiểu thuyết đã hình thành và phát triển trong những thời kỳ khủng hoảng trầm trọng của xã hội phong kiến Những cuốn tiểu thuyết bắt nguồn từ sử thi dân gian đã hình thành rất sớm trong lịch sử văn học Phương Đông
Do những điều kiện lịch sử - cụ thể của xã hội Việt Nam, do những truyền thống tốt đẹp trong tinh thần của con người Việt Nam, do những quan điểm mỹ học của các nhà nho phong kiến (Văn dĩ tải đạo), tiểu thuyết Việt Nam rất xem trọng tính lý tưởng, xem trọng chứ năng giáo dục của văn nghệ, xem trọng vai trò trách nhiệm người cầm bút nhân vật trung tâm chính diện trong tiểu thuyết thường là những mẫu mực về đạo lý, về lòng khí tiết trung nghĩa, về lòng chung thủy sắt son Đó là mặt mạnh của tiểu thuyết cổ điển Việt Nam và cũng là mặt mạnh của tiểu thuyết hiện thực xã
hội chủ nghĩa ngày nay Tuy nhiên do quan niệm văn dĩ tải đạo các nhà
Nho phong kiến dễ dàng biến nhân vật của mình thành cái loa phát ngôn của đạo đức Do vậy tiểu thuyết trong tính lý tưởng phải gắn chặt chẽ với tính hiện thực, hay nói đúng hơn,đó là cái hiện thực có lý tưởng
Những năm 1930- 1945, Việt Nam có nhiều loại hình tiểu thuyết : Lãng mạn, tự nhiên chủ nghĩa,hiện thực phê phán… nhưng tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa vẫn được coi là dòng chủ lưu và có giá trị nhất Hàng loạt
các tác phẩm lớn đã ra đời: Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Sống Mòn của Nam
Trang 32Cao, Giông Tố, Làm Đĩ của Vũ Ttọng Phụng, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Bỉ vỏ của Nguyên Hồng…
Nội dung của những tiểu thuyết hiện thực thời kì này tập trung vào những vấn đề xã hội, như cuộc đời cùng khổ của nông dân( Tắt đèn,Bước đưòng cùng,Vỡ đê), công nhân(Lầm Than), những hành động thường luân bại lý của bọn cường hào, địa chủ tư sản (Giông tố, Cái thủ lợn)
Tuy có nhưng hạn chế do điều kiện lịch sử xã hội nhưng nhìn chung các nhà tiểu thuyết hiện thực phê phán đã cố gắng thực hiện nhiêm vụ người thu ký trung thành của thời đại Họ đã lên án gay gắt bộ mặt xã hôi
thối nát, dâm ô, tàn bạo, cái xã hội chó đểu mà bọn thực dân phong kiến
không ngớt lời ngợi ca
Vũ Ttọng Phụng với Số đỏ, Giông tố, Vỡ đê đã vạch trần tính chất
sa đọa, thối nát, giả dối, độc ác, dâm loạn, coi đồng tiền là thế lực vạn năng của xã hội thực dân phong kiến thời thuộc Pháp Đồng thời ông cũng đã lên
án những chính sách bịp bợm của bọn đế quốc, và tố cáo sự kết cấu giữa bọn thực dân, phong kiến và tử sản mại bản
Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan là quá trình bần cùng
hóa của người nông dân trong xã hội cũ Tác giả bắt đầu thấy được quy luật đấu tranh giai cấp trong xã hội, thấy được quá trình giác ngộ của người nông dân về ý thức giai cấp Họ đã biết yêu thương nhau, đoàn kết với nhau chống lại kẻ thù
Tố cáo và đòi hủy bỏ chế độ thuế vô nhân đạo đánh vào người sống
và cả người chết, Tắt đèn đã đáp ứng nguyện vọng thiết tha của nông dân
đương thời và là một cái tát đích đáng vào mặt của giai cấp thống trị Cảnh chị Dậu phải mang con đi bán cho Nghị Quế Tiếng van lơn tha thiết của cái Tý, tiếng khóc xé ruột của chị Dậu, mang lai giá trị tố cáo sâu sắc đồng thời đưa tác phẩm trở thành cuốn tiểu thuyết có tính nhân dân sâu sắc nhất của văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Trang 33Có thể nói, tiểu thuyết hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-
1945 đã có nhiều thành tựu quan trọng trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Đó là sự kế thừa và phát huy tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa giai đoạn trước và sự cách tân do yêu cầu của thời đại Cách mạng Tháng Tám bùng nổ , khép lại một thời kỳ lịch sử và cũng chấm dứt một thời kỳ văn học, sự kiện lịch sử quan trọng đó đã đánh dấu một bước chuyển biến
về chất của những nhu cầu xã hội Và khi những nhu cầu xã hội đã thay đổi thì nhiệm vụ của văn học nói chung và của tiểu thuyết cũng khác đi Phương pháp hiện thực phê phán và phương pháp lãng mạn nhường chỗ cho phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa Những tiểu thuyết hiện thực
xã hội chủ nghĩa đầu tiên đã nói lên lòng quyêt tâm phục vụ sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của văn nghệ sĩ Các sáng tác đều tập trung phản ánh những cuộc vận động lớn về chiến đấu và sản xuất, những nhiệm vụ lớn ở tiền phương và hậu phương Tiểu thuyết đã miêu tả một cách sinh động, nóng hổi những thắng lợi của công nhân vùng mỏ trong vùng tạm chiếm(Vùng mỏ), những thắng lợi của chúng ta ở Bình Trị Thiên, ở Vĩnh Yên (Xung kích), tinh thần quyết chiến của nhân dân Quảng nẩm sức giữ trâu để bảo vệ sản xuất(Vùng mỏ)…
Chiển tranh cách mạng là đề tài trung tâm của tiểu thuyết hiện thực
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Điều đó không có gì lạ, suốt ba mươi năm trên đất nước ta không lúc nào ngừng tiếng súng của bọn ngoại xâm.Chúng ta
đã tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt nhất trong thế kỷ XX với hai tên đế quốc đầu sỏ giàu mạnh và nguy hiểm Chiến tranh lan đến mọi miền của đất nước, làm đảo lộn mọi gốc rễ của xã hội, gõ của đến từng căn nhà và làm thay đổi tâm hồn của cả một thế hệ Chiến tranh thức dậy bốn nghìn năm lịch sử , xây dựng những giá trị của truyền thống và giá trị tinh thần mới cho chủ nghiã hiện thực người Việt Nam , gắn dân tộc Việt
Trang 34mạng các nhà tiểu thuyết có thể phản ánh những bước đường đi lớn của một dân tộc trong hơn một phần tư thế kỷ vừa qua, đồng thời lại có thể lý giải được sự chuyển biến kỳ diệu trong tính cách con người đã được thử thách trong khói lửa kháng chiến
Chúng ta có hàng loạt những tác phẩm của các tác giả lớn: Một chuyện chép ở bệnh viện của Anh Đức, Trước giờ nổ súng của Lê Khâm, Sống mãi với Thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, Đất Lửa của Nguyễn Quang Sáng, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi,
Gia đình má Bảy, Mẫn và Tôi của Phan Tứ, Đất Quảng của Nguyễn
Trung Thành, Rừng U Minh của Trần Hiếu Minh, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Vùng trời của Hữu Mai…
Song hành với đề tài chiến tranh cách mạng, tiểu thuyết hiên thực chủ nghĩa xã hội Việt Nam cũng đã có nhiều dấu ấn lớn khi viết về công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với các tác phẩm nổi bật: Xung đột của Nguyễn Khải, Cái sân gạch của Đào Vũ, Đi bước nữa của Nguyễn Thế Phương, Miền tây của Tô Hoài Bão biển của Chu Văn, Chủ tịch huyện của Nguyễn Khải, Đất làng của Nguyễn Thị Ngọc Tú, Cù Lao Tràm của
Nguyễn Mạnh Tuấn …
Chiến tranh kết thúc, lịch sử đất nước bước sang trang mới Nền tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa Việt Nam trong suốt 30 năm kháng chiến đã để lại cho chúng ta những tác phẩm rất đáng tự hào, những tác phẩm làm xúc động hàng triệu người đang chiến đấu và tạo nên những giá trị tinh thần bền vững cho thế hệ mai sau Tuy nhiên bất kỳ một nền văn học nào trong chiến tranh cũng có những hạn chế nhât định Chúng ta chưa có điều kiện
để phản ánh một cách toàn diện hiện thực phức tạp và khốc liệt của chiến tranh, chưa đi sau vào những mâu thuẫn nội bộ của nhân dân, vào những vấn đề của cuộc sống hàng ngày của con người, vào số phận cá nhân, hạnh phúc cá nhân… Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã khắc phục một cách có ý
Trang 35thức những vấn đề này với nhiều tác phẩm có giá trị: Hạt mùa sau của Nguyễn Thị Ngọc Tú, Sao đổi ngôi của Chu Văn ,Mưa mùa hạ , Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, Bến không chồng Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai,…
Trang 36CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG THẪM MỸ CƠ BẢN
CỦA TIỂU THUYẾT HIỆN THỰC CHỦ NGHĨA
2.1.Tiểu thuyết là gì?
Tiểu thuyết là gì? Thật khó mà trả lời ngay trong một định nghĩa ngắn gọn, chính xác So với các thể loại khác như sử thi, kịch, trữ tình… đã
đi vào ổn định thì tiểu thuyết hãy còn là một thể loại rất trẻ và đang phát
triển Cái sườn thể loại của tiểu thuyết vẫn chưa hoàn chỉnh, chưa cứng
rắn lại và ta vẫn chưa hình dung hết được tất cả những khả năng tạo hình của nó Tiểu thuyết là một thể loại uyển chuyển, mềm dẻo và dường như không bị đóng khung trong những quy phạm chật hẹp như một số thể loại khác (10/500) Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và chưa định hình (2/21) Lịch sử văn học chỉ thấy có một số mẫu
mực tiểu thuyết đã phát huy tác dụng nhưng bản thân những quy phạm
cứng rắn, bất bíên của thể loại thì dường như không có Tự bản thân nó
không có tính quy phạm Đó chính là hiện thân của sự uyển chuyển Đó là một thể loại luôn luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn luôn soát lại tất cả những hình thức đã thành hình của mình Một thể loại như vậy chỉ có thể là một thể loại được xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang tiến triển (2/22)
Tiểu thuyết là một thể loại luôn biến chuyển và Bakhtin cho rằng sự không ổn định và luôn tiến lên phía trước đó là do tiểu thuyết luôn tiến lên phía trước đó là do tiểu thuyết luôn nhại lại nó và nhại lại thể loại khác
Điều đặc thù là tiểu thuyết không để cho bất cứ dạng thức nào của nó được
ổn định Xuyên suốt lịch sử tiểu thuyết là một truyền thống nhất quán nhại lại hoặc hướng phỏng những trạng thái đang thống ngự, thời thượng, đang muốn biến thành một “khuôn mẫu”của thể loại: nhại tiểu thuyết hiệp sĩ… nhại tiểu thuyết baroco, nhại tiểu thuyết mục đồng… Tính tự phê phán là
Trang 37một đặc điểm tuyệt vời của tiểu thuyết như một thể loại luôn chuyển biến
(2/26) Lịch sử tiểu thuyết đã chứng minh ý kiến của Bakhtin: Don Quichotte của Cervantès được đánh giá là cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên và chính nó đã nhại lại tiểu thuyết kỵ sĩ Northanger Abbey của Tane Austen, còn Ulysses của Jame Joyce thì mô phỏng Odyssée – Sử thi cổ đại
Hy Lạp
Tiểu thuyết luôn đi tìm cho mình những hình thức mới theo dòng biến thiên của cuộc sống Và mặt khác, tiểu thuyết có thể chia ra làm nhiều loại: Tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết sử thi, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết hoạt kê, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết trinh thám… Các nhà văn thuộc các khuynh hướng sáng tác khác
nhau quan niệm tiểu thuyết theo các kiểu khác nhau: Tiểu thuyết lãng mạn
chủ nghĩa, tự nhiên chủ nghĩa, hiện thực phê phán, hiện thực xã hội chủ nghĩa, hiện đại chủ nghĩa Để có được một định nghĩa chung nhất cho tất cả các loại tiểu thuyết đó là vấn đề không dễ đối với các nhà lý luận văn học Một số nhà lý luận văn học đã cố gắng đưa ra định nghĩa về tiểu thuyết, song do tính chất chủ quan mà các định nghĩa đó không khỏi mang tính chất phiến diện, một chiều
Tiểu thuyết là một câu chuyện tình, không chứa đựng những nội dung liên quan đến tình yêu không phải là tiểu thuyết Trong thực tế văn học, có
những cuốn tiểu thuyết không phản ánh chuyện yêu đương Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan hoàn toàn là chuyện thân phận con người và
thế sự trong xã hội thực dân phong kiến
Tiểu thuyết là một câu chuyện về cuộc sống riêng tư mang tính chất sinh hoạt gia đình? Sự chú ý phản ánh cuộc sống riêng tư của con người không chỉ là miếng đất của tiểu thuyết mà còn của nhiều nghệ thuật khác, nhiều thể loại văn học khác nữa Chúng ta không phủ nhận rằng tiểu thuyết
Trang 38của con người Nhưng song song với tiểu thuyết, nhiều vở kịch cũng đã chú
ý nhiều đến vấn đề này như Người cha của gia đình của Diderot hay Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng…
Bên cạnh các ý kiến đó, có những nhà lý luận đã xuyên tạc, hạ bệ vai
trò to lớn của tiểu thuyết và xem nó như một sự tiêu khiển : Tiểu thuyết là
một phương thuốc kích thích thần kinh và chỉ trong một vài trường hợp ngoại lệ hiém hoi mới vươn lên tới giá trị nghệ thuật ( Karl Vossler ) hay: Tiểu thuyết nguyên sinh ra vì nó có một mục đích tiêu khiển mà thôi Người xem không cần biết đó là thực hay giả, người xem chỉ cần trong chốc lát quên cái cõi đời ô trọc này đi để nhảy lên trời cao thăm Ngọc Hoàng Thượng đế hay hòa mình với Lý Quảng, giả tảng uống rượu say để thử chọc ghẹo xem Sở Vân con trai hay con gái… Về sau này muốn thích hợp với cuộc đời khoa học hơn, người ta rút phép đi, làm những truyện mới nhưng cũng không ngoài mục đích làm cho độc giả quên đời, quên cuộc đời của họ ( Vũ Bằng )
Thực tiễn văn học đã hoàn toàn bác bỏ những ý kiến nhằm hạ thấp vai trò của tiểu thuyết và chứng minh rằng: tiểu thuyết từ thưở sinh thành đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục lý tưởng xã hội - thẩm mỹ cho quần chúng, đã góp phần tích cực vào việc cải tạo con người và thế giới
Nhận thức được vai trò của tiểu thuyết, nhiều nhà văn, nhà lý luận đã
cố gắng hoàn chỉnh khái niệm về tiểu thuyết Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng người ta vẫn có thể xác định được bản chất của tiểu thuyết bằng một số đặc trưng thẩm mỹ của thể loại chứ không phải chỉ bằng một đặc trưng Sai lầm của các nhà lý luận khi đưa ra các định nghĩa là tuyệt đối hóa một nét đặc trưng của tiểu thuyết, xem đó là bản chất chung của cả thể loại Dựa trên dòng chủ lưu của thể loại (Tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa)
Trang 39cùng các đặc trưng thẩm mỹ của thể loại này, Giáo sư Phan Cự Đệ đã đưa
ra định nghĩa khá hoàn chỉnh về tiểu thuyết
Tiểu thuyết là một thể loại văn học có dung lượng và hình thức khá tự
do, có khả năng bao gồm một phạm vi phức tạp các hiện tượng trong cuộc sống, liên kết một khối lượng lớn các nhân vật với nhiều chủ đề, nhiều tuyến cốt truyện đan chéo nhau, quyện lẫn với nhau Trong tiểu thuyết các hình thức ngôn ngữ được kết hợp xen kẽ với nhau: độc thoại nội tâm và đối thoại của các nhân vật, các loại ngôn ngữ khác nhau của người kể chuyện, bình luận trữ tình phụ đề của tác giả, miêu tả tính cách nhân vật, miêu tả thiên nhiên Tiểu thuyết là một hình thức kể chuyện cỡ lớn có khả năng phản ánh được cả một thời đại lịch sử (10/554)
2.2 Đặc trƣng thẩm mỹ cơ bản của tiểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại văn học gần gũi nhất với đời sống, có thể bao quát hiện thực trên quy mô rộng lớn và toàn vẹn Đây là đặc trưng thẩm mỹ
cơ bản của tiểu thuyết, bởi lẽ, trong thể loại này, cuộc sống được thể hiện một cách toàn vẹn với tất cả tính chất sinh động, phức tạp, nhiều màu nhiều
vẻ của nó
Đặc trưng cơ bản này của tiểu thuyết đã được nhiều nhà văn, nhà lý
luận đề cập một cách nghiêm túc Cái khuynh hướng của tiểu thuyết bây
giờ là hết sức gần sự sống để được linh hoạt và thật như cuộc đời (48/119) Tiểu thuyết lànhững cuốn bách khoa toàn thư của đời sống (53/127) Tiểu thuyết có dung lượng phản ánh cuộc sống lớn lao, có khả năng thu nạp một cách không hạn chế những gì xẩy ra trong cuộc sống bất kể thời gian, không gian… Tiểu thuyết là một thể loại có sức phản ánh cuộc sống đầy đủ nhất, tỉ mỉ nhất, toàn vẹn nhất (22 /20-21) Tiểu thuyết là truyện dài bằng văn xuôi có dung lượng lớn với nhiều nhân vật hoạt động trong phạm vi lịch sử xã hội rộng lớn (48/217) Tiểu thuyết là bức tranh khái quát xã hội
Trang 40rộng lớn, trọn vẹn và đầy đủ (1/257) Tiểu thuyết là một thể văn phổ thông hơn hết, vì những nhà tiểu thuyết chính là những người đứng giữa đời nói chuyện cho người đời nghe (48/67) Tiểu thuyết cũng phức tạp, lộn xộn, linh động như cuộc đời cả bề rộng lẫn bề sâu (48/378) Tiểu thuyết là cuộc đời với tất cả những điều vụn vặt, những sự phiền toái, với tất cả những sự lộn xộn của nó Không nên tìm thấy ở đây một thống kê hay một trật tự nào
(3/102)… Các nhà tiểu thuyết, nhà lý luận phê bình nước ngoài cũng đã quan tâm nhiều đến vấn đề này của tiểu thuyết David Herbert Lawrence
nói rằng: Tiểu thuyết là cuốn sách về cuộc đời Còn Andrew Michael Roberts lại khẳng định: tiểu thuyết là một tấm gương của đời sống xã hội
hàng ngày, một cửa kính trong suốt nhìn ra thế giới và không có lĩnh vực nào của hiện thực cuộc sống mà tiểu thuyết không đề cập tới (10/507)
Theo giáo sư Phan Cự Đệ: Tiểu thuyết đã đi vào tất cả các ngõ ngách của đời sống để miêu tả và phản ánh, chẳng hạn, như tài liệu về mâu thuẫn xã hội và xung đột chính trị trong những cuốn tiểu thuyết về các vấn đề xã hội của Plizabert Gaskell hay các tiểu thuyết chính trị của Anthory Trollope, tiểu thuyết đã đề cập chi tiết về thu nhập, tiền thuê nhà, sắp xếp nội thất của Anthory Trollop, tiểu thuyết mô tả các khía cạnh tinh tế nhất và độc đáo nhất về thế giới nội tâm con người của Virginia Woolf hay Henry James Tuy nhiên, tiểu thuyết vẫn thường được xem là thể loại có mối quan hệ cụ thể với thực tế, là một thể loại văn học mà chúng ta hiểu là gần gũi nhất với bản thân cuộc sống
Tiểu thuyết là một bức tranh xã hội rộng lớn với nhiều màu, nhiều vẻ khác nhau Trong tiểu thuyết, chúng ta có thể bắt gặp mọi khía cạnh của cuộc sống: những vấn đề triết học, chính trị, đạo đức, quân sự, kinh tế, văn nghệ mà nhân loại hằng quan tâm, sự hình thành tính cách của một con người, những nét tinh tế phức tạp của tâm hồn, tấn bi kịch của một cá nhân,