1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lan Khai và thể loại tiểu thuyết lịch sử

105 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ với hơn chục năm cầm bút làm nghề viết văn, Lan Khai đã để lại cho chúng ta 26 tác phẩm tiểu thuyết lịch sử, trong đó có gần chục tác phẩm thực sự gây được tiếng vang lớn, được bạn đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

LAN KHAI VÀ THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội – Năm 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ HUYỀN TRANG

LAN KHAI

VÀ THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 34

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Xuân Thạch

Hà Nội – Năm 2013

Trang 3

MỤC LỤC

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 13

NỘI DUNG 15 Chương 1: TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ LAN KHAI TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM TRƯỚC 1945

15

1.1 Giới thuyết về khái niệm tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử 15

1.1.2 Khái niệm tiểu thuyết lịch sử 17 1.2 Diện mạo và sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945

Trang 4

2.2.1 Đề tài vua chúa 48

2.2.2 Đề tài người phụ nữ 60

2.2.3 Đề tài người anh hùng 65

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ LAN KHAI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT

71

3.1 Mối quan hệ giữa tính chân thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật 71

3.1.1 Hư cấu từ những sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử 71

3.1.2 Hư cấu hoàn toàn 78

3.2.1 Kết cấu theo kiểu tiểu thuyết chương hồi 82

3.2.2 Kết cấu theo kiểu tiểu thuyết hiện đại 86

3.3.1 Khắc họa tâm lí nhân vật qua giới thiệu tiểu sử và miêu tả ngoại hình

87

3.3.2 Khắc họa tính cách nhân vật qua miêu tả hành động 90

3.3.3 Khắc họa tính cách nhân vật qua độc thoại nội tâm và miêu

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc, giai đoạn từ

1930 – 1945 được xem như “thời đại vàng” với sự nở rộ của rất nhiều tài năng

ở nhiều thể loại, nhiều dòng văn học…Những tên tuổi nổi tiếng đánh dấu cho thành tựu của văn học giai đoạn này có thể kể đến Tố Hữu, Hồ Chí Minh… với dòng văn học cách mạng; Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Ngô Tất Tố…với dòng văn học hiện thực phê phán; nhóm Tự Lực văn đoàn với dòng văn học lãng mạn

Lan Khai là cây bút có tiếng của văn học giai đoạn 1930 – 1945 Năm

1938, ông cùng với Lê Văn Trương đã trở thành một trong hai cây bút trụ cột của nhà xuất bản Tân Dân Năm 1939, ông làm Tổng thư kí tạp chí Tao Đàn của nhà xuất bản Tân Dân, một nhà xuất bản quyền lực nhất ở Việt Nam thời bấy giờ Ông cũng sớm gây được tiếng vang và được đông đảo bạn đọc đương

thời biết đến với những cuốn tiểu thuyết tâm lí xã hội như Cô Dung (1936),

Lầm than (1938)…, những cuốn tiểu thuyết đường rừng như Tiếng gọi của rừng thẳm (1939), Truyện đường rừng (1940)…và đặc biệt là với hơn hai

mươi cuốn tiểu thuyết lịch sử của mình Con số này đã đưa Lan Khai trở thành một trong những cây bút viết tiểu thuyết lịch sử nhiều nhất Việt Nam Tuy nhiên do “cái chết đầy bất ngờ của ông trong hoàn cảnh có nhiều tao loạn lịch sử đã không được công bố và giải thích rõ ràng, phủ lên dư luận một màn đêm kéo dài gần sáu mươi năm" [51, tr 22] nên trong việc kể tên các nhà văn tiêu biểu của giai đoạn 1930 – 1945 hầu như ít người nhắc đến cái tên Lan Khai, việc nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của Lan Khai vì thế vẫn còn nhiều khoảng trống

“Lịch sử không bao giờ nhầm lẫn, nhà văn Lan Khai là người có công với nước” Câu nói ấy của thiếu tướng Hoàng Mai đã khẳng định những cống

Trang 6

hiến của Lan Khai với cách mạng và với văn học nước nhà Gần sáu mươi năm sau cái chết của Lan Khai, lịch sử đã “thanh minh” cho ông, cũng phải sau ngần ấy năm giới nghiên cứu, phê bình mới quan tâm nhiều hơn đến những sáng tác của Lan Khai Tuy nhiên phần lớn những nghiên cứu phê bình

ấy mới chỉ mang tính gợi mở, số ít cũng đã đi sâu nghiên cứu nhưng mới chỉ

đi sâu nghiên cứu về Lan Khai với tư cách là nhà văn hiện thực, nghiên cứu

về mảng lí luận và phê bình văn học của ông, còn về mảng tiểu thuyết lịch sử của nhà văn này gần như vẫn bị bỏ ngỏ Chỉ với hơn chục năm cầm bút làm nghề viết văn, Lan Khai đã để lại cho chúng ta 26 tác phẩm tiểu thuyết lịch sử, trong đó có gần chục tác phẩm thực sự gây được tiếng vang lớn, được bạn đọc đương thời chú ý không chỉ về nội dung mà còn về những cách tân của ông trong hình thức nghệ thuật Để giúp chúng ta, những người hậu thế có cái nhìn nghiêm túc, thấu đáo về tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai, những đóng góp của Lan Khai trong việc cách tân tiểu thuyết lịch sử nói riêng và tiểu thuyết Việt Nam nói chung, để góp phần trả lại cho nhà văn chịu rất nhiều thiệt thòi này địa vị xứng đáng trên văn đàn dân tộc, chúng tôi lựa chọn đề tài

Lan Khai và thể loại tiểu thuyết lịch sử để nghiên cứu

Đây là công trình nghiên cứu khoa học chuyên biệt đầu tiên về tiểu

thuyết lịch sử của nhà văn Lan Khai, luận văn tập trung nghiên cứu những đặc điểm nội dung và hình thức của gần chục tác phẩm tiểu thuyết lịch sử, và những đóng góp của Lan Khai vào quá trình cách tân tiểu thuyết, cách tân văn học dân tộc Thông qua những kết quả nghiên cứu của mình, luận văn cũng mong muốn góp phần trả lại vị trí xứng đáng của nhà văn Lan Khai trên văn đàn dân tộc Do điều kiện tư liệu cũng như do khả năng của bản thân còn có hạn nên trong luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý và chỉ dẫn Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 7

2 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên

biệt về tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai Những nghiên cứu về mảng tiểu thuyết này của Lan Khai chủ yếu là những bài viết nhỏ hay chỉ là một phần của bài viết được in và đăng trên các sách, báo và tạp chí Chúng tôi xin phép được thống kê lại như sau:

1 Trương Tửu trong bài viết Lan Khai và tiểu thuyết lịch sử đăng trên Loa

số 82, Thứ năm, tháng 12/1935 đã tiên đoán Lan Khai “có thể trở thành một nhà tiểu thuyết lịch sử có tài” nhưng đồng thời ông cũng không nhất trí với Lan Khai vì cho rằng Lan Khai “chỉ thích tả tình và cảnh nên dễ sa vào tính cách chung, không theo sự thực lịch sử Vì thế tiểu thuyết của ông thiếu phong vị và màu sắc thời đại Ông cho những người ở thế kỉ trước sống những tư tưởng và tình cảm chỉ riêng có ở thế kỉ XX” [51, tr 238] Như vậy bên cạnh việc đánh giá cao tài năng của Lan Khai, Trương Tửu cũng đã thẳng thắn phê bình lối viết “thiếu phong vị và màu sắc thời đại” của nhà văn này

2 Đến cuốn Nhà văn hiện đại, mục Lan Khai (tập IV quyển thượng,

1942), Vũ Ngọc Phan kết lại: “Trong một cuốn lịch sử tiểu thuyết, việc không cần toàn đúng sự thật, nhưng ngôn ngữ cử chỉ các nhân vật cũng cần phải hợp với thời đại Vào thời Mạc Đăng Dung mà một vị tiểu thư lại thốt ra lời này

trước mặt một viên gia tướng: Thế mà ta đã yêu Vũ Mật! Chính tấm lòng ta

đã lừa dối ta, còn để làm gì Lời trên này thật là lời một gái tân thời Việt Nam

ở thế kỷ XX đã chịu Âu hoá Chữ “yêu” theo cái nghĩa về tình ái, cổ nhân

chưa biết dùng…” [51, tr 275] Như vậy, cũng đồng tình với Trương Tửu, Vũ Ngọc Phan cho rằng ngôn ngữ và cử chỉ của các nhân vật trong tiểu thuyết của Lan Khai chưa hợp với thời đại Mặc dù vậy, Vũ Ngọc Phan vẫn đánh giá cao tài năng của Lan Khai khi cho rằng đương thời chỉ có Lan Khai mới thực

sự là nhà lịch sử tiểu thuyết trong khi các nhà văn khác như Nguyễn Triệu

Trang 8

Luật, Phan Trần Chúc, Trúc Khê Ngô Văn Triện…chỉ là những nhà lịch sử kí

sự

3 Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ

(1967), tác giả này cho rằng "các tiểu thuyết loại này (tiểu thuyết lịch sử) của Lan Khai bao giờ cũng có một cốt cách chung, đó là một chuyện tình lãng mạn đặt trong một khung cảnh lịch sử" [51, tr 283] Và không hẳn đồng tình

với nhận xét của Trương Tửu trên báo Loa năm 1937 cho rằng tác giả có một

triết lí bi quan về lịch sử, về con người, Phạm Thế Ngũ đã đưa ra nhận định:

"đọc kĩ tất cả những tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai ta thấy chưa hẳn tác giả

đã gửi vào đó một chủ nghĩa triết lí gì Có lẽ ông chỉ đi tìm những cơ hội dễ dàng rung cảm người đọc với những cảnh tượng bi đát, những mối tình éo le" Như vậy, đối với Phạm Thế Ngũ, những tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai lại chỉ nặng về miêu tả những mối tình nam nữ éo le để dễ dàng chiếm được tình cảm của độc giả đương thời

4 Hoài Anh, trong bài viết Lan Khai từ khuynh hướng lãng mạn thoát li

đi đến hiện thực xã hội cũng đã bàn về tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai trong

sự so sánh với thể loại tiểu thuyết lịch sử nói chung Theo tác giả: "tiểu thuyết lịch sử thì yếu tố cốt truyện là quan trọng nhất, phải có kết cấu chặt chẽ, diễn biến hợp lí, mang tính chân thực lịch sử và màu sắc thời đại nhất định Thế nhưng cốt truyện trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai lại rất tầm thường, nhiều khi sắp xếp giả tạo, thậm chí mượn cái tên lịch sử để lồng vào một chuyện tình lãng mạn và tiểu tư sản mang tính chất thời thượng đương thời" [51, tr 296] Không những thế Hoài Anh còn phát hiện ra tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai còn mang dấu ấn của văn chương Pháp: "Viết về những thời kì

xa xưa của dân tộc nhưng Lan Khai đã chịu ảnh hưởng của văn chương Pháp, cốt truyện của ông mang tính chất éo le như những vở kịch của Corneille, Racine…”[51, tr 296]

Trang 9

5 Thạc sĩ Đỗ Ngọc Thúy với bài viết Hình tượng vua chúa trong tiểu

thuyết lịch sử của Lan Khai (10/2004) in trong cuốn Lan Khai - nhà văn hiện thực xuất sắc đã nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai ở khía cạnh

nhân vật, đặc biệt là nhóm nhân vật thuộc tầng lớp vua chúa Theo Ths Đỗ Ngọc Thúy: "vua chúa trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai là hệ thống nhân vật trong tầng lớp thống trị hoàng tộc, nơi chứa đựng nhiều mâu thuẫn, gắn liền với nhiều sự biến động của lịch sử " [51, tr 112] Khi đi sâu vào nghiên cứu nhóm nhân vật này trong tác phẩm của Lan Khai, Đỗ Ngọc Thúy còn phát hiện ra Lan Khai đã rất khéo léo kết hợp giữa lịch sử và hư cấu tưởng tượng khi xây dựng các nhân vật: "Nếu soi bóng các nhân vật đó vào lịch sử

ta thấy, mỗi người mang tên một nhân vật trong lịch sử nhưng được nhà văn bồi đắp thêm nhiều bằng hư cấu, tưởng tượng" [51, tr 123]

Như vậy, với việc đi sâu vào một nhóm nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử,

Đỗ Ngọc Thúy đã chỉ ra được một nét nghệ thuật trong xây dựng nhân vật của Lan Khai, đó là sự kết hợp giữa sự thật lịch sử với hư cấu tưởng tượng

6 Trần Mạnh Tiến, một nhà nghiên cứu đã có công rất nhiều trong việc

đưa tên tuổi của Lan Khai trở lại với độc giả, trong bài viết Lan Khai nhà văn

đi tiên phong (2006) in trong cuốn Lan Khai - nhà văn hiện thực xuất sắc đã

nhận xét: “Đương thời các tiểu thuyết lịch sử đã tạo nên chỗ đứng riêng cho Lan Khai trong nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại […] không tái hiện quá khứ như các nhà làm sử mà thông qua nhân vật và sự kiện nhà văn nhằm gửi gắm những vấn đề mới về quan niệm nghệ thuật với nhân sinh” Còn trong bài viết

Tiểu thuyết lịch sử và người đầu tiên mở hướng cách tân đăng trên tạp chí Nhà văn tháng 1/2011, Trần Mạnh Tiến cũng đã dành cho tiểu thuyết lịch sử

của Lan Khai những lời nhận xét: Tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai ra đời trong trào lưu cách tân tiểu thuyết đáp ứng nhu cầu tiếp nhận đa chiều của bạn đọc Con người trong tiểu thuyết của ông không„„trùng khít‟‟ với nhân vật

Trang 10

lịch sử Nhà văn đã tước đi những yếu tố ước lệ, các điển tích, điển cố, những

„„khuôn mẫu‟‟ trong văn chương trung đại và những trang viết của các nhà Nho đầu đầu thế kỉ XX, thay vào đó là con người mang trong mình „„cái hay cái dở‟‟ của cuộc đời Việc thoát ra kiểu kết cấu chương hồi, tạo tiếng nói đa thanh phức điệu, kết hợp hoà trộn linh hoạt các yếu tố sử thi, thế sự, đời tư, kỳ

ảo, tâm lí, lạ hóa, khéo sử dụng cái hài cùng các chất liệu dân gian là những cách làm mới tiểu thuyết của Lan Khai Mặc dù có những điểm hạn chế về sự cách tân “táo bạo”, có chỗ nhà văn đã “cho nhân vật nói tiếng nói của chàng

và nàng ở thế kỉ XX”, song nhìn chung sáng tác của Lan Khai đã thể hiện cái nhìn mới về bản chất con người xã hội, gắn với các sự kiện tiêu biểu trong từng triều đại hoặc ở mỗi địa phương để tạo nên cốt truyện Số lượng nhân vật trong mỗi tác phẩm không nhiều, nhưng chi tiết gây ấn tượng ở việc dựng cảnh dựng người, tạo tình huống bất ngờ cùng với lời thuật linh hoạt, kể chuyện xen miêu tả, dùng từ ngữ mang dấu ấn lịch sử, phép lạ hoá, dùng biệt ngữ và địa danh, kết hợp tư liệu lịch triều và dã sử tạo nên các bức tranh nghệ thuật nhiều màu sắc Tất cả làm nổi lên bức chân dung rõ nét của một nhà tiểu thuyết lịch sử sáu thập niên về trước, một trong những cây bút đi tiên phong

trên hành trình cách tân tiểu thuyết” Trong Lan Khai, tác phẩm nghiên cứu lí

luận và phê bình văn học, Trần Mạnh Tiến lại viết: "Các tiểu thuyết lịch sử

của Lan Khai là bức tranh dài rộng nối tiếp nhau về những biến cố trong tiến trình lịch sử dân tộc Song tác giả không chỉ nhằm tái hiện các sự kiện xảy ra trong quá khứ như các nhà làm sử, mà tác giả còn gửi gắm trong đó những vấn đề thế sự, về cái thiện cái ác, về tình yêu và hạnh phúc( ) Lan Khai viết tiểu thuyết lịch sử như bản thân nó có Ông lấy những mẫu người là nhân vật thực trong cuộc đời thực, tên tuổi hình dáng, cá tính rồi soi chiếu nhân vật ấy

ở những góc nhìn khác nhau, gây phản ứng "sốc" Có lẽ vì thế mà tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai thời ấy bị nhiều ý kiến chỉ trích, phản đối" [50, tr 45]

Trang 11

Như vậy, Trần Mạnh Tiến đã chỉ ra những cách tân đáng kể của Lan Khai đối với thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng, và theo ông Lan Khai xứng đáng là “cây bút tiên phong trên hành trình cách tân tiểu thuyết”

7 Vũ Đức Hoan với đề tài Nhóm Tân Dân trong đời sống văn học Việt

Nam trước 1945 (2011) đã cho rằng “khi viết tiểu thuyết lịch sử Lan Khai chủ

yếu quan tâm đến khía cạnh nghệ thuật, tức ở sự hư cấu, sáng tạo thêm chi tiết Lan Khai cho rằng nếu nhà lịch sử đi tìm cái “nguyên sự thực” gác bỏ lại những điều huyền hoặc, mơ hồ thì nhà tiểu thuyết lịch sử lại được quyền

“biên chép tất cả để thêm hứng thú cho câu chuyện mình kể” [20, tr 60] Cũng đồng tình với Trần Mạnh Tiến, Vũ Đức Hoan đánh giá cao những cách tân của Lan Khai khi viết tiểu thuyết lịch sử

Như vậy ta có thể thấy rằng văn học giai đoạn 1930 – 1945, một giai đoạn được coi là “thời đại vàng” của văn học dân tộc nhưng cho đến nay, trong việc nghiên cứu văn học giai đoạn này vẫn còn nhiều khoảng trống Điều này được thể hiện rất rõ ở bộ phận tiểu thuyết Đối với tiểu thuyết thì thể loại tiểu thuyết lịch sử là thể loại có ý nghĩa quan trọng Nó vừa có ý nghĩa về nghệ thuật, vừa có ý nghĩa về văn hóa Vậy mà lâu nay, thể loại này vẫn chưa được chú ý một cách đúng mức Và nhắc đến tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này không thể không nhắc đến cái tên Lan Khai Ông được đánh giá là một nhà văn độc đáo của giai đoạn 1930 – 1945 bởi ở ông người ta tìm thấy sự giao thoa của nhiều trào lưu và khuynh hướng Tuy vậy việc nghiên cứu về Lan Khai mới chỉ tập trung ở thể loại tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết đường rừng còn tiểu thuyết lịch sử như chúng tôi vừa chỉ ra ở trên vẫn còn nhiều bỏ ngỏ Vì thế luận văn của chúng tôi hướng đến một cái nhìn cụ thể và rõ ràng

về tiểu thuyết lịch sử Lan Khai ở các phương diện: đề tài và cảm hứng sáng

tạo, đặc điểm thi pháp…

Trang 12

3 Nhiệm vụ của đề tài

Từ tình hình nghiên cứu đã nêu trên, trong điều kiện tư liệu và khả năng cho phép, chúng tôi xác định nhiệm vụ của đề tài là:

- Tái hiện lại diện mạo của các sáng tác tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai, qua đó thấy được ông là nhà văn lớn ở thể loại này

- Tìm hiểu một số đặc điểm về nội dung và hình thức tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Lan Khai, từ đó đánh giá những mặt thành công, hạn chế của Lan Khai trên hai phương diện nội dung và thi pháp nghệ thuật

- Xác lập và khẳng định vai trò của nhà văn Lan Khai trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1930 – 1945

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng

Mặc dù Lan Khai viết tổng cộng là 26 cuốn tiểu thuyết lịch sử tuy nhiên

sau cái chết của ông, những tác phẩm này đã bị mất mát nhiều, tư liệu hiện không đủ, nên chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số cuốn tiểu thuyết lịch sử tiêu biểu của nhà văn Lan Khai hiện còn được lưu giữ:

Ai lên phố Cát, Chiếc ngai vàng, Cái hột mận, Gái thời loạn, Đỉnh non thần, Thành bại với anh hùng vua Lê chúa Trịnh, Chế Bồng Nga, Treo bức chiến bào

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Chúng tôi tập trung chủ yếu vào những tư liệu còn được lưu giữ tại Thư viện quốc gia Việt Nam, các công bố của những người thân trong gia đình nhà văn Lan Khai, các tài liệu của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam 1930 – 1945

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng phương pháp chính là phương pháp

tiếp cận thi pháp học và lịch sử - xã hội Bên cạnh đó, chúng tôi cũng kết hợp

Trang 13

sử dụng các thao tác nghiên cứu khác như: phương pháp so sánh, phương pháp tiếp cận văn hóa học, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung

chính của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Tiểu thuyết lịch sử Lan Khai trong bức tranh chung của tiểu

thuyết lịch sử Việt Nam trước 1945

Chương 2: Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử Lan Khai nhìn từ phương diện

cảm hứng sáng tạo và đề tài

Chương 3: Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử Lan Khai nhìn từ phương diện

hình thức nghệ thuật

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ LAN KHAI TRONG BỨC TRANH CHUNG

CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM TRƯỚC 1945

1.1 Giới thuyết về khái niệm tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử

1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

Thực chất “tiểu thuyết” không phải là một từ quá mới Ngay từ trước công nguyên, ở Trung Quốc, người ta đã thấy có sự xuất hiện những chữ “tiểu

thuyết” đầu tiên trong Trang Tử, Luận ngữ, Tuân Tử…Tuy nhiên khi đó “tiểu

thuyết” chưa được hiểu như một thể loại nằm trong phương thức tự sự như bây giờ Ở các nước phương Tây, mãi đến tận khi xã hội cổ đại tan rã, tiểu thuyết – với tư cách là một thể loại thuộc phương thức tự sự mới hình thành,

và đến thời Phục hưng (XIV – XVI) và đặc biệt là đến thế kỉ XIX, tiểu thuyết thực sự nở rộ Ở Trung Quốc, đến thời Minh - Thanh, thể loại tiểu thuyết cũng rất phát triển, tuy nhiên trong quan niệm của người Trung Quốc, tiểu thuyết vẫn không được coi trọng như các thể loại khác và nó chưa có được tính độc lập tương đối của một thể loại mà hay được dùng để chỉ cả cho truyện ngắn (đoản thiên tiểu thuyết) Ở Việt nam, tiểu thuyết cũng ra đời khá muộn Cho đến nay, những tác phẩm vốn được coi là tiểu thuyết Hán văn Việt Nam như

Hoàng Việt xuân thu, Hoàng Lê nhất thống chí vẫn còn gây nhiều tranh cãi

về tính tiểu thuyết của nó Phải đến năm 1887, khi Nguyễn Trọng Quản cho ra

đời tác phẩm Truyện thầy Lazaro Phiền với cấu trúc của một cuốn tiểu thuyết

phương Tây, và chủ đề nói về đời sống tâm lý nhân vật thì tiểu thuyết Việt Nam mới chính thức được công nhận Mặc dù quãng thời gian phát triển của tiểu thuyết tính từ thời điểm xuất hiện cho đến giờ không phải là ngắn nhưng nói như M Bakhtin thì tiểu thuyết là thể loại duy nhất đang hình thành và chưa xong xuôi Chính bởi lẽ đó việc đưa ra khái niệm về tiểu thuyết là một

Trang 15

điều vô cùng khó khăn Nói như thế không phải là chúng ta không có những khái niệm về tiểu thuyết, mà ngược lại đã có rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình, nhà văn đưa ra khái niệm về thể loại này, nhưng một điều tất yếu giữa những khái niệm đã được đưa ra này đều có những sự khác biệt, không hoàn toàn đồng nhất với nhau

Một trong những quan niệm về tiểu thuyết mà chúng tôi muốn dẫn ra trước tiên chính vì tính đồng nhất về thời gian của nó đối với những tiểu thuyết thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn, đó chính là quan niệm của

Phạm Quỳnh trong bài viết Bàn về tiểu thuyết đăng trên Nam Phong số 43 (1

– 1921) Trong bài viết này, Phạm Quỳnh cho rằng: “Phàm đã gọi là tiểu thuyết, tất phải có kết cấu, kết cấu tức là sửa sang xếp đặt sự thực cho có nghĩa lí, có hứng thú hơn Kết cấu khéo là bày đặt ra một truyện huyền mà vẫn căn cứ ở sự thực, khiến cho người đọc vẫn biết là truyện không thực mà không thể không tin được (…)” [32, tr 232 – 233] Như vậy, dù chưa hẳn là một khái niệm về tiểu thuyết nhưng theo Phạm Quỳnh, một tác phẩm đã là tiểu thuyết thì phải có kết cấu, phải có hư cấu nhưng dựa trên sự phản ánh hiện thực

Trong Từ điển văn học, bộ mới, tiểu thuyết được hiểu là “thể loại tác

phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu”

của nhân cách” [17, tr 1716] Trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán,

Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, tiểu thuyết là “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng…” Nó cũng là “thể loại của tinh thần tự do,

Trang 16

vượt ra khỏi sự gò bó của những luật lệ cũ và cho phép sự sáng tạo về hình thức cũng như về chủ đề” [16, tr 328] Chính vì không chịu bất cứ giới hạn nào nên đối tượng phản ánh của nó cũng dường như không giới hạn, từ con người cá nhân đến một nhóm, một tập thể, cả xã hội…Có thể nói tiểu thuyết

là một thể loại mở cả về nội dung lẫn hình thức Chính vì là một thể loại mở

cả về nội dung lẫn hình thức nên về mặt khái niệm của tiểu thuyết, đây cũng

là một phạm trù hoàn toàn mở Tuy nhiên, chúng ta có thể thống nhất với nhau ở một số đặc điểm đặc trưng của thể loại này:

- Tiểu thuyết là sản phẩm của trí tưởng tượng, của sự hư cấu do đó tiểu thuyết có tính hư cấu

- Trong tiểu thuyết bao giờ cũng có tính truyện, tính trần thuật và tính tự sự

- Tiểu thuyết có tính tổng hợp Tiểu thuyết có khả năng khái quát, tổng hợp rất nhiều hiện tượng đời sống Chính nhờ tính tổng hợp này mà tiểu thuyết có khả năng miêu tả cuộc sống ở muôn mặt của nó

- Tiểu thuyết có tính dân chủ Với đặc trưng này, tiểu thuyết đã phát hiện ra

sự phức tạp của cuộc sống và tính phức tạp trong bản thân mỗi con người Xã hội luôn có người tốt kẻ xấu cũng như trong bản thân mỗi con người luôn có

sự đồng hành của hai mặt tốt – xấu

1.1.2 Khái niệm tiểu thuyết lịch sử

Cũng giống như đối với khái niệm tiểu thuyết, khái niệm tiểu thuyết lịch

sử cũng nhận được rất nhiều cách định nghĩa khác nhau Theo Từ điển thuật

ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên thì tiểu

thuyết lịch sử (thể loại văn học lịch sử) được hiểu như sau: “Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm lịch sử thường mượn truyện đời

Trang 17

xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thật lịch sử của thể loại này…”[ 16, tr 336]

Trong Từ điển văn học, bộ mới, thì tiểu thuyết lịch sử được hiểu như sau: “tác

phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Lịch sử trong ý nghĩa khái quát, là quá trình phát triển của tự nhiên, xã hội Các khoa học xã hội (cũng được gọi là các khoa học lịch sử) đều nghiên cứu quá khứ của loài người trong tính cụ thể và đa dạng của nó Tuy vậy những tiêu điểm chú ý của các sử gia lẫn các nhà văn quan tâm đến đề tài lịch sử, thường đều là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các nhà nước, những biến cố lớn trong đời sống xã hội của cộng đồng quốc gia, trong quan hệ giữa các quốc gia như chiến tranh, cách mạng…cuộc sống và sự nghiệp của các nhân vật có ảnh

hưởng đến tiến trình lịch sử…” [ 17, tr 1725] Trong bài viết, Suy nghĩ từ

những tiểu thuyết mang chủ đề lịch sử, đăng trên vietnamnet (10/2005), TS

Phạm Xuân Thạch cũng đưa ra quan điểm: “tiểu thuyết lịch sử là những ấn tượng và suy tư cá nhân về các vấn đề của lịch sử Nó nêu ra các vấn đề của lịch sử và phản chiếu những suy tư cá nhân về những vấn đề đó” Ngay bản

thân nhà văn Lan Khai, trong tiểu thuyết Ai lên phố Cát của mình cũng đã

quan niệm: " sưu tầm nguyên sự thực, nhà làm sử gác bỏ những điều huyền hoặc đã đành Nhà tiểu thuyết, trái lại, có thể tự do biên chép hết cả để có thể thêm hứng thú cho câu chuyện mình kể" Nói như vậy có nghĩa là theo nhà văn Lan Khai, tiểu thuyết lịch sử là kết quả của sự kết hợp giữa hai yếu tố: sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật của nhà tiểu thuyết

Mặc dù cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn thường xuyên tranh luận về mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch

sử nhưng theo quan điểm của chúng tôi, tiểu thuyết lịch sử là một bộ phận của thể loại tiểu thuyết, nó mang đầy đủ những đặc trưng của thể loại này, tuy

Trang 18

nhiên đặc điểm nổi bật của nó là viết về đề tài lịch sử: các nhân vật lịch sử, sự kiện, giai đoạn lịch sử…Dựa trên sử liệu, các tác giả sáng tác, hư cấu thêm để hấp dẫn người đọc và qua đó nhằm “chất vấn quá khứ để trả lời cho hiện tại

và tương lai" Điều này có nghĩa là, nhà văn chỉ cần giữ cốt lõi lịch sử và dựa vào những phương tiện là nghệ thuật tiểu thuyết để hư cấu, sáng tạo, để tạo ra một tiểu thuyết đúng nghĩa của nó Do đó, điều quan trọng của một cuốn tiểu thuyết lịch sử không phải hoàn toàn chỉ ở việc tái hiện các sự kiện lịch sử đến mức độ nào mà chủ yếu là việc nhà văn có khả năng xây dựng thành công nhân vật lịch sử đó hay không

1.2 Diện mạo và tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

từ đầu thế kỉ XX đến 1945

Sống và cầm bút đúng vào giai đoạn lịch sử đất nước đầy biến động, các nhà văn cũng muốn đóng góp sức lực của mình vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc, và vũ khí của họ chính là ngòi bút Với mục đích nhằm khích lệ ý chí

tự tôn, tự hào dân tộc, nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân đối với vận mệnh đất nước, đồng thời để vượt qua sự kiểm duyệt gắt gao của thực dân Pháp, rất nhiều nhà văn đã mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, từ những câu chuyện lịch sử các tác giả đã hư cấu, tưởng tượng thêm nhằm gửi gắm vào đó những vấn đề thời đại đương thời…Có lẽ cũng vì vậy, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XX phát triển vô cùng mạnh mẽ Có thể kể

đến các tác phẩm như: Trùng quang tâm sử (Phan Bội Châu); Tiếng sấm đêm

đông, Vua Bố Cái, Hai bà đánh giặc (Nguyễn Tử Siêu); Giọt máu chung tình, Gia Long tẩu quốc (Tân Dân Tử); Vua Hàm Nghi, Vua Quang Trung (Phan

Trần Chúc); Ai lên Phố Cát, Chiếc ngai vàng, Cái hột mận, Gái thời loạn,

Thành bại với anh hùng vua Lê chúa Trịnh (Lan Khai); Hòm đựng người, bà chúa chè (Nguyễn Triệu Luật); Hùng Vương diễn nghĩa (Lê Văn Triện); Đêm hội Long Trì (Nguyễn Huy Tưởng)…Tuy nhiên ta có thể tạm chia quá trình

Trang 19

vận động và phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến

1945 ra làm hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất, từ đầu thế kỉ XX đến 1930 Trong giai đoạn này, đại đa số các tiểu thuyết đều được viết bằng tiếng Việt

(trừ Trùng quang tâm sử của Phan Bội Châu), số lượng tác giả và tác phẩm

chưa nhiều Về mặt nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này thường có

quy mô nhỏ (Tiếng sấm đêm đông 107 trang, Vua Bố Cái 63 trang, Lê Đại

Hành 56 trang ) và nhìn chung kết cấu nghệ thuật của tác phẩm vẫn chịu

nhiều ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi Việc miêu tả nhân vật do vậy cũng chủ yếu thiên về hành động, thông qua hành động để thể hiện tính cách Tâm lí nhân vật chưa được đi sâu khám phá Câu văn vẫn mang dấu ấn của câu văn biền ngẫu Về nội dung, chủ yếu tập trung vào hai nội dung: yêu nước

và thế sự Ở nội dung yêu nước, các tác phẩm đi vào phản ánh những sự kiện quan trọng, những chiến công lừng lẫy trong công cuộc dựng nước và giữ

nước của dân tộc Các tác phẩm như: Trùng quang tâm sử (Phan Bộ Châu),

Tiếng sấm đêm đông (Nguyễn Tử Siêu), Giọt máu chung tình (Tân Dân Tử), Vua Bố Cái (Nguyễn Tử Siêu) Ở nội dung thế sự, các tác phẩm chủ yếu phản

ánh những cuộc nội loạn, những giao tranh ác liệt giữa các thế lực phong kiến,

sự cực khổ của đời sống nhân dân…Có thể kể đến các tác phẩm như: Gia

Long tẩu quốc, Hoàng tử Cảnh như Tây (Tân Dân Tử), Đinh Tiên Hoàng

(Nguyễn Tử Siêu)…Giai đoạn thứ hai, từ 1930 – 1945 Ở giai đoạn này, tiểu thuyết lịch sử phát triển khá mạnh mẽ, số lượng tác giả tham gia viết nhiều hơn, số tác phẩm ra đời vì thế cũng nhiều hơn giai đoạn trước Về mặt nghệ

thuật, quy mô tác phẩm lớn hơn giai đoạn trước Trần Nguyên chiến kỉ của Nguyễn Tử Siêu dày hơn 200 trang, Ai lên phố Cát của Lan Khai gần 150 trang; Bà chúa chè của Nguyễn Triệu Luật gần 200 trang Số lượng nhân vật

trong mỗi tác phẩm cũng nhiều hơn trước Các tiểu thuyết viết theo lối chương hồi ngày càng ít đi thay vào đó là những tiểu thuyết mang dấu ấn của

Trang 20

thi pháp tiểu thuyết phương Tây mà tiêu biểu là khuynh hướng lãng mạn Nhờ

đó tâm lí nhân vật, đặc biệt là thế giới nội tâm của nhân vật đã bắt đầu được đi sâu khai thác Ta bắt gặp rất nhiều những tình yêu lãng mạn, yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên của những cặp trai tài gái sắc như tình yêu của Bội Ngọc và Lí

Công Uẩn trong Cái hột mận, của Thục Nương và Thiếu Hoa trong Gái thời

loạn của Lan Khai; của Quỳnh Hoa và Bảo Kim trong Đêm hội Long trì của

Nguyễn Huy Tưởng; của Trần Nguyên công chúa và Phạm Ngũ Lão trong

Trần Nguyên chiến kỉ của Nguyễn Tử Siêu Theo Ths Bùi Văn Lợi "chính

khuynh hướng này (khuynh hướng lãng mạn) đã làm cho tiểu thuyết thời kì này giảm đi tính chất lịch sử, tính sử thi và tăng thêm tính chất tiểu thuyết nhiều hơn Và như thế bản thân lịch sử đã được tái hiện một cách nghệ thuật hơn [ ] Lịch sử với tư cách là chất liệu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử thời kì này đã được sử dụng như một thứ vũ khí tinh thần hữu hiệu nhằm vào thực tại, đánh thức nhân dân và cổ vũ lòng người" [24, tr 36] Về nội dung, tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này vẫn tiếp tục hai nội dung ở giai đoạn trước,

đó là yêu nước và thế sự Ở nội dung yêu nước, ca ngợi các chiến công lừng lẫy trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc có thể kể đến các tác

phẩm như: Trần Nguyên chiến kỉ, Hai bà đánh giặc (Nguyễn Tử Siêu); Ngọn

cờ vàng (Đinh Gia Thuyết); Vua Quang Trung (Phan Trần Chúc)…Ở nội

dung thế sự, các tác phẩm tập trung vào đề tài nội trị có: Cái hột mận, Ai lên

phố Cát, Gái thời loạn, Chiếc ngai vàng (Lan Khai); Bà chúa chè, Chúa Trịnh Khải (Nguyễn Triệu Luật), Đêm hội Long Trì (Nguyễn Huy Tưởng)…Có thể

thấy đến giai đoạn này, các tác phẩm ở nội dung thế sự ngày càng chiếm ưu thế Một phần có lẽ cũng do nguyên nhân khách quan là sự kiểm duyệt gắt gao của thực dân Pháp nên các tác giả tìm thấy sự an toàn cho mình ở mảng

đề tài thế sự

Trang 21

Như vậy, nhìn chung tiểu thuyết lịch sử Việt nam từ đầu thế kỉ XX đến những năm 1945 phát triển ngày càng mạnh mẽ Số lượng các tác giả và các tác phẩm tăng dần theo thời gian Chất lượng các tác phẩm cũng ngày càng được nâng cao Những tác phẩm viết theo lối chương hồi, sử dụng những câu văn biền ngẫu, khai thác tính cách nhân vật dựa trên hành động dần được thay thế bằng những cuốn tiểu thuyết mang dấu ấn phương Tây: kết cấu theo tâm lí nhân vật, lối kết thúc bỏ ngỏ hoặc không có hậu Tất cả cho thấy sự đổi mới không ngừng của các nhà văn và quy luật tất yếu cho sự phát triển không ngừng của tiểu thuyết Việt Nam nói chung và của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nói riêng

Trang 22

1.3 Lan Khai trong đời sống văn học Việt Nam trước 1945

Chân dung nhà văn Lan Khai

Lan Khai sinh ngày 24/6/1906, mất ngày 29/11/1945 tại Bản Luộc, xã Vĩnh Lộc, châu Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Nhà văn tên thực là Nguyễn Đình Khải Ngoài bút danh Lan Khai, ông còn có các bút danh khác như: Nguyễn Văn Huyên, Huệ Khai, Thục Oanh, Lâm Tuyền Khách, Lan, ĐKG Thân phụ là Nguyễn Đình Chức (1870 – 1945), có nguyên quán ở Thừa Thiên Huế

Trang 23

Lan Khai rất thông minh, lanh lợi Thời thơ ấu của Lan Khai gắn liền với vùng rừng núi Chiêm Hóa hoang vu Vùng đất với địa hình rừng núi hoang vu,

là nơi sinh sống của nhiều dân tộc vùng núi phía Bắc này đã ảnh hưởng rất nhiều đến con người Lan Khai cũng như sự nghiệp sáng tác của ông Ngoài sự thông minh, Lan Khai đã sớm bộc lộ tài hội họa của mình Năm mười tám tuổi, Lan Khai thi đỗ trường Cao đẳng mĩ thuật Đông Dương, vì thế mà trong nhiều tác phẩm của Lan Khai có những đoạn miêu tả thiên nhiên, con người đẹp như tranh vẽ Năm 21 tuổi, Lan Khai kết duyên với bà Hà Thị Minh Kim (1909 – 1982), sau này là một trợ bút đắc lực của Lan Khai

Bà Hà Thị Minh Kim, người vợ, người trợ bút đắc lực cho nhà văn Lan Khai

Cũng giống như bao thanh niên trẻ tuổi lúc bấy giờ, sinh ra vào thời đất nước đang mất quyền tự do, lại thêm môi trường học tập tại trường Cao đẳng

mĩ thuật Đông Dương, nơi xuất thân của biết bao nhà cách mạng nên cũng không mấy khó hiểu khi nhà văn của chúng ta đã tham gia tích cực vào cuộc biểu tình bãi khóa của học sinh sinh viên đòi thả cụ Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh và rồi sau đó bị kết tội “dính lứu vào quốc sự" Cũng bởi thế ông quyết định thôi học về lại Tuyên Quang làm nghề dạy học, dịch sách, viết

Trang 24

văn Cũng trong thời gian này ông đã tiến hành ngao du, khám phá thế giới sơn lâm từ Việt Bắc tới Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam Đó cũng là lí do vì sao truyện đường rừng của Lan Khai lại hấp dẫn bạn đọc đến thế nhất là với bạn đọc đương thời Sau một thời gian ngao du và viết văn, cuối năm 1928, dưới sự giới thiệu của nhà yêu nước Phạm Tuấn Tài, Lan Khai đã gia nhập Quốc dân đảng của lãnh tụ Nguyễn Thái Học và nhanh chóng trở thành thành viên cốt cán của tổ chức này Khi tổ chức bị bại lộ năm 1930, Lan Khai bị bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò chờ án tử hình Nhờ sự giúp đỡ của những người trong gia đình, Lan Khai được ra tù Kể từ đó ông chuyên tâm cho viết văn, làm báo Với khả năng đọc được cả Hán văn và Pháp văn nên Lan Khai rất thuận lợi khi tìm hiểu văn hóa phương Đông và phương Tây qua sách báo, hiểu rõ hơn về cách viết và tư tưởng của nghệ sĩ nước ngoài, điều này cũng được thể hiện rất rõ trong những sáng tác mang đậm tính cổ điển và hiện đại, phương Đông và phương Tây của nhà văn Sau khi chuyên tâm sáng tác, nhanh chóng gặt hái được thành công và trở nên nổi tiếng trong giới văn sĩ Hà Thành, các bài viết của Lan Khai liên tục được đăng trên các tờ báo có tiếng lúc bây giờ như: Loa, Ngọ Báo, Đông Tây, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Ích Hữu Năm 1939, sau khi Vũ Đình Long, chủ nhà xuất bản Tân Dân xin giấy phép xuất bản tạp chí Tao Đàn, tạp chí đầu tiên về văn học của làng báo nước ta thời bấy giờ, ông đã mời ngay Lan Khai về làm Tổng thư kí Bộ biên tập (ngày nay là Tổng biên tập) kiêm Quản lí Những bài viết của ông trên lập trường "nghệ thuật vị nghệ thuật" "tuy không tránh khỏi phiến diện, cực đoan ( ) song ông đã đi sâu vào những khía cạnh khác, xác đáng bàn về dân tộc của văn hóa văn nghệ, về thiên chức cao cả của văn nghệ sĩ, về đòi hỏi cao đối với tài năng và lao động nghệ thuật" [51, tr 77] Ngoài ra ông còn là diễn giả thường xuyên về văn học cho Hội Trí Tri và hội Truyền bá chữ Quốc ngữ của Nguyễn Văn Tố Cuối năm 1939 đầu năm 1940, Lan Khai

Trang 25

lại một lần nữa bị thực dân Pháp bắt giam do viết cuốn Lầm than Cũng bởi

phải chạy vạy cho ông thoát khỏi cảnh tù tội nên kể từ đó gia đình ông ngày càng quẫn bách Tuy nhiên khó khăn về vật chất không thể quật ngã nhà văn của chúng ta, thậm chí chính trong cái thời kì khốn khó nhất đó Lan Khai lại sáng tác được nhiều nhất Chỉ với mười bảy năm cầm bút, Lan Khai đã để lại cho độc giả hơn năm mươi cuốn sách thuộc các thể loại: tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tâm lý xã hội, nghiên cứu lý luận và phê bình văn học, dịch sách, thơ… Đến năm 1943, do quá lao lực để viết nên Lan Khai đổ bệnh hen suyễn nhưng không vì thế mà ông dừng sáng tác Cũng năm 1943, Lan Khai gia nhập Hội văn hóa cứu quốc tại Hà Nội, làm nhiệm vụ truyên truyền đường lối cách mạng cho mặt trận Việt Minh và phát hành báo chí bí mật của Đảng Đầu năm 1944, vì lí do gia đình, Lan Khai về lại Tuyên Quang Tháng 8 năm

1945, cách mạng thành công, Tuyên Quang được giải phóng, Lan Khai được nhân dân bầu làm chủ tịch khu phố Xuân Hòa Ở cương vị mới chưa được bao lâu, cuối tháng 11 năm 1945, có một người lạ đến mời Lan Khai đi có công việc khẩn Ông đi và mãi mãi không về nữa Vậy nên vợ và các con ông đã chọn ngày đó làm ngày giỗ hàng năm của ông "Cái chết đầy bất ngờ của ông trong hoàn cảnh có nhiều tao loạn lịch sử đã không được công bố và giải thích

rõ ràng, phủ lên dư luận một màn đêm kéo dài gần sáu mươi năm gây nhiều tổn thất cho nền văn học nước nhà và gia đình ông" [52, tr 19] Năm mươi tám năm sau khi Lan Khai mất, nhà báo Văn Hải (tức thiếu tướng Hoàng Mai – bộ công an) đã chính thức cho biết sự thật về cái chết của nhà văn Lan Khai

và vuông đất cuối cùng mà ông nằm lại Ngày 27 tháng 6 năm 2006, Hội nhà văn Việt Nam đã long trọng tổ chức lễ kỉ niệm 100 năm sinh Lan Khai Năm

2010, trong bộ sách kỉ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất

bản văn học đã cho phát hành hai tập sách Lan Khai tuyển tập, do Trần Mạnh

Tiến chủ biên, tập hợp những tác phẩm có giá trị đặc sắc trong sự nghiệp sáng

Trang 26

tác của Lan Khai Tất cả những hành động đó như sự tưởng nhớ, như nén hương cung chiêu hương hồn một nhà văn đa tài nhưng đầy bất hạnh – Lan Khai

Chỉ với mười bảy năm cầm bút ông đã để lại cho độc giả hàng trăm tác phẩm thuộc các thể loại: truyện ngắn, kí, tiểu thuyết (tiểu thuyết tâm lý xã hội, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết đường rừng), nghiên cứu lý luận và phê bình văn học, dịch sách, làm thơ, sưu tầm văn học dân gian Suốt cuộc đời cầm bút của mình, Lan Khai luôn là một nhà văn sống hết mình vì nghệ thuật, luôn

cố gắng tìm tòi những cách thể hiện mới trong văn chương nghệ thuật

Ở mảng tiểu thuyết tâm lí xã hội, có thể kể đến các tác phẩm: Nước Hồ

Gươm, Cô Dung, Lầm than, Nơi ước hẹn, Kiếp con tằm, Mực mài nước mắt Nước Hồ Gươm (1928) cũng là một dạng tiểu thuyết ái tình như Tố Tâm

của Hoàng Ngọc Phách và chỉ viết sau Tố Tâm 3 năm Cô Dung bắt đầu được

viết từ năm 1928 và đến 1938 mới hoàn thành Đây có thể coi là cuốn tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đầu tiên viết về người phụ nữ ở nông thôn Việt Nam

(trước cả Tắt đèn của Ngô Tất Tố) “Tác phẩm nói lên một vấn đề mang tính

thời sự lúc bấy giờ: vấn đề con người cá nhân và sự giải phóng phụ nữ” [16, tr

803] Đến Lầm than (1928 – 1933), có thể xem Lan Khai là một trong những

cây bút đầu tiên viết về giai cấp công nhân Việt Nam Nhà phê bình Hải Triều

nhận định về cuốn Lầm than của Lan Khai: "Lầm than – một tác phẩm đầu

tiên của nền văn học tả thực xã hội ở nước ta" còn Vũ Ngọc Phan thì cho rằng:

"Lan Khai là một nhà văn đã biết ghi những cái đáng ghi ở trên đời và đã hiểu tâm lí người lao động" Bên cạnh đề tài viết về giai cấp công nhân, mảng đề tài về bi kịch của người trí thức trong xã hội cũ cũng được Lan Khai đi sâu khai thác từ rất sớm (trước cả Nam Cao) Có thể kể đến những tác phẩm viết

về đề tài này như: Nơi ước hẹn (1934), Kiếp con tằm (1935), Mực mài nước

mắt (1941) Trong đó Mực mài nước mắt vẫn được xem là cuốn tiểu thuyết ít

Trang 27

nhiều mang tính tự truyện Nhân vật chính trong truyện là Khải, một nhà văn yêu nghề, luôn dằn vặt, day dứt trước những bài văn viết vội để kiếm tiền sinh sống hay trước những khắc nghiệt của cuộc sống đương thời Người đọc dễ dàng nhận thấy “rất nhiều trang trong cuốn sách là nước mắt hòa lẫn với từng con chữ, nước mắt của những ai đã trót mang cái nghiệp bạc bẽo, khốn khổ, những ai đã từng nhiều phen bất lực với cơm áo gạo tiền, phải viết những tác phẩm nhạt nhẽo để kiếm sống và phải nhìn thấy những tác phẩm máu thịt bị nhà xuất bản trả giá bèo bọt” [17, tr 804]

Ở mảng tiểu thuyết đường rừng, Lan Khai cũng nhận được sự yêu thích của rất nhiều độc giả Vốn sinh ra ở vùng rừng núi Tuyên Quang, lại thêm có một thời gian sau khi thôi học ở trường Cao đẳng mĩ thuật Đông Dương, Lan Khai đã đi ngao du, khám phá thế giới sơn lâm từ Việt Bắc tới Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam nên ông tỏ ra rất sung sức ở thể loại này Ta có thể kể đến

các tác phẩm như: Lô HNồ, Rừng khuya, Tiếng gọi của rừng thẳm, Dấu ngựa

trên sương, Chiếc nỏ cánh dâu, Suối Đàn Trong đó Tiếng gọi rừng thẳm là

cuốn tiểu thuyết đường rừng được đánh giá cao nhất, kể về tình yêu giữa Peng Lang (người Mán) và Hoài Anh (người Kinh) Đi theo tiếng gọi của tình yêu, Peng Lang đã cùng Hoài Anh về Hà Nội nhưng cuối cùng cô đành phải từ bỏ tất cả vì cảm thấy quá lạc lõng Xen giữa câu chuyện tình yêu là những trang

tả phong cảnh núi rừng nên thơ Đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai là khắc họa thế giới rừng thiêng với vô vàn hiểm nguy, “rừng thẳm núi cao phô bày hết cái vẻ hoang dã bí ẩn và rùng rợn của nó […] Lan Khai thường miêu tả kĩ, nhiều khi rề rà các cảm giác lạnh lẽo cùng những linh cảm tai họa lơ lửng trong không gian […] sau đó mới cho các sự kiện xảy ra, tạo cho tác phẩm một không khí hoang đường, căng thẳng từ đầu tới cuối”[16,

tr 805] Nhưng bên cạnh đó, ta cũng thấy một thiên nhiên hùng vĩ trong mối quan hệ hài hòa với con người Trên cái nền thiên nhiên bí hiểm bao giờ cũng

Trang 28

là những mối tình nam nữ trong sáng, cao đẹp, hay những cảnh sống, những phong tục tập quán của các đồng bào dân tộc thiểu số Mãi tận giữa những năm ba mươi của thế kỉ XX, nhà văn Lan Khai mới bắt đầu viết tiểu thuyết lịch sử, tuy nhiên ở thể loại này ông cũng nhanh chóng gây được tiếng vang Chúng tôi xin phép được trình bày cụ thể hơn ở tiểu mục sau

Bên cạnh tiểu thuyết, Lan Khai còn sáng tác cả kí và truyện ngắn Về kí

có thể kể đến các tác phẩm: Cánh hoa mua (1929), Con ngựa hồng của tôi (1930), Thầy Độ tôi (1933), 8023, Biệt ly Nhìn chung kí của Lan Khai mang

tính tự truyện rất cao Tác giả ở vị trí người kể chuyện xưng tôi kể lại các câu chuyện, những suy nghĩ, cảm nhận về con người, sự vật, sự việc xung quanh

Về truyện ngắn có Người lạ, Con thuồng luồng nhà họ Ma, Con bò dưới thủy

tề, Đôi vịt con, Tiền mất lực, Dưới miệng hùm, Sóng nước Lô giang, Khổ tình Phần lớn các nhân vật trong truyện ngắn của Lan Khai đều là người dân

tộc Thông qua các nhân vật này nhà văn muốn thể hiện những suy nghĩ, những quan niệm của mình về tình yêu nam nữ, tình yêu quê hương đất nước,

về cuộc mưu sinh

Đương thời, bên cạnh là một nhà văn, nhà thơ, nhà sưu tầm, Lan Khai còn

là một nhà lí luận và phê bình có tên tuổi với một loạt bài viết đăng trên Tạp

chí Tao Đàn và nhiều sách báo khác như: Tài hoa cái lụy ngàn đời, Tình với cảnh, Tính cách Việt Nam trong văn chương, Thiên chức của văn sĩ Việt Nam, Bàn qua về nghệ thuật, Phác họa hình dung và tâm tính thi sĩ Tản Đà, Lê Văn Trương mớ tài liệu cho văn sử Việt Nam, Vũ Trọng Phụng mớ tài liệu cho văn

sử Việt Nam Những bài viết này đã thể hiện những quan niệm của Lan Khai

về nghệ thuật, về văn chương, về thiên chức của người nghệ sĩ trên quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh "Văn chương là gì? Là sự phô diễn tâm tình và tư tưởng của loài người bằng văn tự Vậy thì, văn chương phải lấy người làm nền tảng Không đúng với người, văn chương chỉ có thể là bịa đặt, là giả dối

Trang 29

và, như thế, văn chương sẽ mất hết giá trị" [53, tr 658] Bên cạnh đó, vấn đề tính dân tộc trong văn học cũng được Lan Khai đề cao, nhiệm vụ của văn sĩ là phải "lấy những nết hay của nòi giống ta và làm rõ rệt thêm lên [ ], phải biết làm rực rỡ cái tinh thần của chủng tộc trong mọi sáng tác văn chương "[53,

tr 687]

Với lợi thế biết Hán văn, Pháp văn và tiếng nhiều dân tộc thiểu số, Lan Khai còn có nhiều bài viết nghiên cứu về triết học phương Đông, phương Tây, dịch thuật các sáng tác của các tác giả nước ngoài, và đặc biệt Lan Khai còn dành khá nhiều thời gian và công sức sưu tầm văn học dân gian, thơ ca dân gian của các dân tộc H' Mông, Tày, Nùng, Dao, Gia rai rồi dịch chúng ra tiếng Việt Việc làm này của Lan Khai có một ý nghĩa rất lớn trong việc gìn giữ và phát huy kho tàng văn học dân gian của các dân tộc thiểu số nói riêng

và văn học dân gian của Việt Nam nói chung

Với những hoạt động rất tích cực của mình trong sáng tác, nghiên cứu, lí luận phê bình, dịch thuật Lan Khai thực sự là một tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam trước 1945

1.4 Tiểu thuyết lịch sử Lan Khai – một chặng đường

Với mười bảy năm cầm bút, Lan Khai đã để lại hơn hai mươi cuốn tiểu thuyết lịch sử Chúng tôi xin được tập hợp lại trong bảng dưới đây:

STT Tên tác phẩm Nơi xuất bản & năm xuất bản

1 Chàng đi theo nước Tân Dân xuất bản, 1936

2 Ai lên phố Cát PTBNS số 4, Tân Dân xuất bản,

1937

3 Chiếc ngai vàng PTBNS số 9, Tân Dân xuất bản,

1937

4 Chàng áo xanh Tiểu thuyết thứ bảy từ số

185 - 195, Tân Dân xuất bản,

Trang 30

1937

5 Cái hột mận Tân Dân xuất bản, 1938

6 Gái thời loạn PTBNS số 20, Tân Dân xuất bản,

1938

7 Chế Bồng Nga PTBNS số 24, Tân Dân xuất bản,

1938

8 Bóng cờ trắng trong sương mù Tiểu thuyết thứ bảy từ số

210 – 223, Tân Dân xuất bản,

Hương Sơn xuất bản, 1941

14 Gửi cái xuân tàn Hương Sơn xuất bản, 1941

15 Theo lớp mây đưa PTBNS số 92, Tân Dân xuất bản,

1942

16 Tình ngoài muôn dặm PTBNS số 112, Tân Dân xuất

bản, 1942

17 Trăng nước hồ Tây Hương Sơn xuất bản, 1942

18 Trong cơn binh lửa Kiến Thiết xuất bản, 1942

Trang 31

19 Thành bại với anh hùng vua Lê

chúa Trịnh

Quốc gia xuất bản, 1942

20 Rỡn sóng Bạch Đằng (Lan Khai

viết cùng với Nguyễn Tố)

Duy Tân thư xã xuất bản, 1942

21 Sầu lên ngọn ải Duy Tân thư xã xuất bản, 1942

22 Ái tình và sự nghiệp Đời Mới xuất bản, 1942

23 Giấc mơ bạo chúa Hương Sơn xuất bản, 1942

24 Chàng kị sĩ Đời Mới xuất bản, 1943

25 Treo bức chiến bào Hương Sơn xuất bản, 1949

26 Việt Nam - Ngươi đi đâu? Hoạt động xuất bản, 1944

(Theo ông Nguyễn Lan Phương – con đẻ của nhà văn Lan Khai công bố trên

mạng Internet tháng 7/2011)

Năm 1936 Lan Khai đã cho xuất bản cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của

mình là Chàng đi theo nước Nhưng phải đến cuốn tiểu thuyết lịch sử thứ hai:

Ai lên phố Cát thì Lan Khai mới thực sự gây được tiếng vang với độc giả

đương thời về thể loại này Truyện kể về giai đoạn Mạc Đăng Dung chuyên quyền, toan thoán ngôi nhà Lê Khi đó ở Tuyên Quang có hai anh em Vũ Uyên, Vũ Mật đứng ra đối kháng Ở kinh thành thì có thượng tướng Thái Bạt cũng âm mưu lập đảng diệt Mạc, đặt sào huyệt tại chùa Lí Quốc Sư Con gái Thái Bạt là Lan Anh vừa xinh đẹp, lại tinh thông võ nghệ đem thư của cha lên cho Biều Vương (tức Vũ Uyên), tình cờ gặp Vũ Mật, hai người đem lòng yêu nhau Vũ Mật cầm thư anh, về kinh thành, tỏ ý liên minh với Thượng tướng chống Mạc và đồng thời xin cưới Lan Anh Tuy nhiên cùng lúc ấy hay tin Mạc Đăng Dung hạ gục vua Lê Chiêu Tôn, Vũ Mật và Lan Anh liền tổ chức vào thành cứu vua Chẳng ngờ mắc phải mưu Đăng Dung, Vũ Mật vì cứu Lan Anh nên bị bắt lại Mạc Đăng Dung tìm mọi cách mua chuộc Vũ Mật nhưng không được đành dùng mưu lí gián khiến cho phe Thái Bạt và Lan Anh tưởng

Trang 32

Vũ Mật về với Mạc Lan Anh vô cùng đau khổ Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi rồi đăng quang Phe Thái Bạt do Lan Anh dẫn đầu kéo vào thành đánh phá Trong lúc rối loạn, Vũ Mật được một tên lính mở cửa ngục cho ra, gặp đúng khi Lan Anh bị thương Vũ Mật vực Lan Anh lên ngựa, chạy ra xa để giải tỏ nỗi oan của mình Lan Anh rất nhanh đã trút hơ thở cuối cùng bên Vũ Mật nhưng vẫn chưa hay về mối oan của người yêu Cùng năm

1937, Lan Khai cho in cuốn tiểu thuyết lịch sử thứ ba của mình: Chiếc ngai

vàng Cũng giống như Ai lên phố cát, Chiếc ngai vàng được dựng lên dựa trên

hai câu chuyện: tình yêu của Lí Chiêu Hoàng và Trần Cảnh, bên cạnh đó là

câu chuyện kể về âm mưu cướp ngôi nhà Lý của Trần Thủ Độ Cái hột mận

(xuất bản năm 1938) kể về một cuộc sống xa hoa, dâm dục khát máu của vua Ngọa Triều, một tình yêu đẹp giữa Lý Công Uẩn và Bội Ngọc Vượt qua bao gian nan, thử thách cuối cùng hai người đã đến được với nhau và Lý Công

Uẩn được nhân dân tôn lên làm vua Gái thời loạn (xuất bản năm 1938) lại là

cuốn tiểu thuyết kể về cuộc đời của Thục Nương trong bối cảnh loạn lạc của dân tộc với sự hoành hành của bọn giặc Cờ Đen, Cờ Vàng Cũng chính hoàn cảnh đó đã đẩy tình yêu của Thục Nương và Hoàng Thiếu Hoa – con tướng giặc Cờ Đen - vào sự lựa chọn nghiệt ngã giữa bên tình và bên hiếu Để sửa lại những tội lỗi do giặc Cờ Đen gây ra cho nhân dân và cho gia đình nhà Thục Nương, Thiếu Hoa đã tìm mọi cách để giúp gia đình nàng được đoàn tụ Sau đó chàng lại ra trận chiến đấu với quân Pháp, bị thương trở về, Thục Nương mặc dù yêu chàng vẫn không thể tha thứ cho chàng vì không thể nào quên được giặc Cờ Đen đã giết mẹ nàng Chỉ còn một cách để nhận được sự tha thứ của Thục Nương, Thiếu Hoa đã rút súng tụ kết liễu cuộc đời mình Thục Nương vô cùng đau khổ: "Hoàng Lang, Hoàng Lang! Em yêu chàng lắm nhưng mà trời ơi! Trước hết em phải là một con người, con của mẹ, một

người dân của nước Nam" Cuốn tiểu thuyết Chế Bồng Nga (xuất bản năm

Trang 33

1938) kể về câu chuyện hoàng tử Bồng Nga nước Chiêm Thành trở về cố quốc sau 15 năm ẩn lánh quê người, khởi binh đánh nhau với quân của Đỗ Tử Bình mong khôi phục lại được đất nước nhưng cuối cùng thua cuộc Cũng giống như những cuốn tiểu thuyết lịch sử trước đó, trong những câu chuyện liên quan đến lịch sử bao giờ cũng có bóng dáng của những câu chuyện tình của trai tài gái sắc Chế Bồng Nga, trớ trêu thay lại yêu ngay tiểu thư Nam Trân, con gái Đỗ Tử Bình, vì thế chuyện tình yêu giữa hai người cũng đầy

trắc trở, sóng gió, bất hạnh Đỉnh Non Thần (xuất bản 1941) lấy bối cảnh là

châu Đại Man trong thời kì giặc Cờ Đen, Cờ Vàng, Cờ Trắng đang tranh chấp quyền lực Khi ấy, Bàn Văn Nhị vốn là chủ tướng của Cờ Trắng, bị vợ mình

là Yến Xuân liên kết với Ma Vạn Thắng hãm hại Yến Xuân vì ham mê danh vọng, quyền lực đã đang tâm bỏ mặc đứa con bé bỏng của mình chạy theo Ma Vạn Thắng Hai người đã xây dựng được một thành lũy vô cùng vững chắc Lại nói về người con trai đã bị Yến Xuân bỏ rơi, được người chú ruột đặt tên

là Bàn Tuyết Hận, được nuôi nấng, dạy võ để có thể giết chết Ma Vạn Thắng báo thù cho cha Tuy nhiên, Bàn Tuyết Hận và nàng Nhạn – con gái riêng của

Ma Vạn Thắng – lại trót đem lòng yêu nhau Tình yêu trong sáng, mãnh liệt của đôi bạn trẻ không thể xóa đi những thù hằn của hai gia đình Cứ thế lần lượt Yến Xuân chết, Ma Vạn Thắng và cả người chú Bàn Văn Tam của Tuyết Hận cũng chết Kết thúc truyện là hình ảnh nàng Nhạn ngày ngày lên đỉnh non Thần nhớ về một Bàn Tuyết Hận đã hi sinh khi đang tham gia vào phong

trào Cần Vương ủng hộ triều đình nhà Nguyễn Thành bại với anh hùng vua

Lê chúa Trịnh (xuất bản năm 1942) là cuốn tiểu thuyết chủ yếu nói về mâu

thuẫn giữa Thái tử Lê Duy Vỹ, con trai vua Lê Hiển Tông và Thế tử Tĩnh Quốc công Trịnh Sâm Duy Vỹ là người rất thông minh, phong nhã Minh Đô vương và Vương phi Nguyễn Thị Ngọc Vinh đều vị nể, yêu quý muốn gả con gái là Tiên Dung quận chúa cho chàng Tuy nhiên do ghen ghét đố kị với Duy

Trang 34

Vỹ, Trịnh Sâm đã tìm mọi cách phá hỏng cuộc hôn nhân của em gái mình và Duy Vỹ Tiếp sau đấy, "tháng chạp năm Đinh Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ

ba mươi hai nhà hậu Lê", Trịnh Sâm đã vu tội cho Thái tử gian dâm với phụ thiếp của Tiên Vương và sai bọn Hoàng Ngũ Phúc và Phạm Huy Định đến bắt Thái tử tạm thời lánh vào nội điện nhưng cũng không thể thoát khỏi tay chân của Trịnh Sâm Khi đưa về phủ chúa Trịnh, Huy Đĩnh bắt thái tử trút mũ ra để nhận tội, thái tử không chịu Trịnh Sâm bèn truất thái tử làm thứ nhân, rồi giam vào ngục Thế rồi Hoàng Ngũ Phúc đã dâng lên Trịnh Sâm một kế: sai mấy tên lính đóng giả là quân của Vũ Bá Cảnh, Nguyễn Lệ, Lương Giản vào

cướp ngục Duy Vỹ, từ đó lấy cớ để bắt Nguyễn Lệ và giết Thái tử Treo bức

chiến bào là cuốn tiểu thuyết lịch sử được Lan Khai viết năm 1942, nhưng

đến năm 1949 mới được xuất bản Nội dung của cuốn tiểu thuyết này chủ yếu xoay quanh cuộc đời của Đỗ Quyên, con gái Nguyễn Khắc Tuân, thời vua Lê Cảnh Hưng nhà Hậu Lê Trước sự ngang ngược và lộng quyền của Đặng Thị Huệ và em trai là Mậu Lân, Nguyễn Khắc Tuân đã nổi lên giúp Trịnh Khải nhưng việc bị bại lộ Trước khi nhắm mắt, Khắc Tuân viết thư cho con gái Đỗ Quyên, khuyên con nên đi tìm và gia nhập nghĩa quân của Nguyễn Huệ Đỗ Quyên vâng theo lời cha, giả trai tìm đến với nghĩa quân này Với tài năng võ nghệ của mình, Đỗ Quyên đã giành được ấn tiên phong xông pha chiến trận,

đã cứu được Nguyễn Huệ trong trận chiến với Đinh Tích Nhưỡng Vốn cảm mến Nguyễn Huệ từ lâu nhưng chưa có dịp nói ra, sau khi Nguyễn Huệ ra Bắc

Hà dẹp loạn, lại được vua Cảnh Hưng yêu mến gả công chúa Ngọc Hân cho,

Đỗ Quyên quyết định ra đi, giữ kín bí mật về thân phận và tình yêu của mình Nguyễn Huệ cũng từ lâu ngờ ngợ về thân phận của Đỗ Quyên, trong đám cưới không thấy Đỗ Quyên đâu đã lập tức hiểu ra mọi lẽ và sai người đi tìm nhưng

đã muộn

Trang 35

Mặc dù Lan Khai viết rất nhiều tiểu thuyết lịch sử nhưng trên đây, chúng tôi chỉ xin phép được tóm tắt những nội dung chính của những cuốn tiểu thuyết mà chúng tôi đi sâu khai thác

* *

*

Tóm lại trong chương 1 này, thông qua việc giới thuyết về khái niệm tiểu

thuyết và tiểu thuyết lịch sử và thông qua việc phác họa lại sơ lược tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945, chúng tôi muốn giới thiệu một cách cụ thể vị trí, vai trò của Lan Khai trong đời sống văn học Việt Nam trước 1945 và đặc biệt là chặng đường sáng tác tiểu thuyết lịch sử của nhà văn này

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ LAN KHAI

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN CẢM HỨNG SÁNG TẠO VÀ ĐỀ TÀI 2.1 Cảm hứng chủ đạo

Đối với những người sáng tác văn học nghệ thuật, muốn tạo ra một tác

phẩm có giá trị thì yếu tố cảm hứng là rất quan trọng Cảm hứng chính là

“trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt trong tác phẩm nghệ thuật (…) gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận” [17, tr 44- 45] Quả thật, cảm hứng của người sáng tác làm nên cái hồn của tác phẩm Cảm hứng càng sâu sắc, càng chân thật thì khả năng thành công của tác phẩm đó càng lớn Cũng chính vì thế nên cảm hứng cũng có vai trò quan trọng trong việc hình thành đề tài, chủ đề tư tưởng của tác phẩm Với mảng tiểu thuyết lịch sử của mình, nhà văn Lan Khai đã dựa trên những cảm hứng chính: cảm hứng dân tộc, cảm hứng lãng mạn và cảm hứng luân lý

2.1.1 Cảm hứng dân tộc

Như chúng ta đã biết, trong khoảng thời gian từ đầu thế kỉ XX đến 1945, dưới sự bóc lột tàn nhẫn của thực dân Pháp và sự thối nát của triều đình phong kiến, đời sống đại đa số nhân dân vô cùng cực khổ Không giống như rất nhiều nghệ sĩ đương thời thoát li hiện thực, say đắm lạc thú tình yêu, say đắm trong cái tôi cá nhân, Lan Khai viết tiểu thuyết lịch sử và với những bài học lịch sử được nêu lên trong tác phẩm, nhà văn muốn kêu gọi mọi người đứng dậy đấu tranh, do đó cảm hứng dân tộc đã trở thành một trong những cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết lịch sử Lan Khai

Trong tiểu thuyết của Lan Khai, cảm hứng dân tộc được thể hiện trước tiên ở việc nhiệt thành ca ngợi những anh hùng đã tạo dựng nên những chiến công góp phần vào sự bình yên và hưng thịnh của xã hội: Lý Công Uẩn,

Quang Trung, Chế Bồng Nga… Trong Cái hột mận, nhà văn đã xây dựng

Trang 37

hình tượng Lý Công Uẩn là một dũng tướng, hết dẹp giặc Chiêm Thành lại trừ họa tên vua gian ác Lê Long Đĩnh Với tài năng và lòng nhân đức, Lý

Công Uẩn đã trở thành “đấng minh quân” của nước Đại Cồ Việt Trong Treo

bức chiến bào, vua Quang Trung được miêu tả là người “anh dũng xuất chúng,

có thể cứu trăm họ ra khỏi sự lầm than” Sau khi dẹp xong quân Chiêm Thành

và quân Bồn Man, Nguyễn Huệ xuất hiện trong cuộc tranh ấn tiên phong ra dẹp loạn đất Bắc Hà, ông được nhân dân chào đón như một vị “anh hùng xuất chúng”, “những tiếng hoan hô dậy đất vang lên” Tiếp đó Nguyễn Huệ đã thân chinh dẫn quân ra Bắc Hà đánh tan quân của Trịnh Khải và nhận lời giúp vua Lê Cảnh Hưng Nhân vật Chế Bồng Nga trong tiểu thuyết cùng tên được Lan Khai xây dựng là hoàng tử với tuổi thơ đầy sóng gió, rất tinh thông võ nghệ và đặc biệt là sự hi sinh hết mình vì cố quốc thân yêu Khi Chế Bồng Nga mới mười lăm tuổi, "phụ vương chàng, Chế Chí bị vua Anh Tôn nhà Trần lừa bắt, tông quốc chàng bị diệt vong" [53, tr 287], rồi sau đó vương hậu chàng cũng tử tiết trong cung cấm, thì chàng cũng bắt đầu những tháng ngày lưu lạc nơi đất khách quê người Tuy vậy ở con người ấy dường như chưa bao giờ nguôi ý định phục quốc Sau mười lăm năm phiêu bạt, từng trải bao mưa nắng, Chế Bồng Nga trở về cố quốc thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng Chàng được nhân dân gọi là "Đức Quân thượng", và hết thảy đều tự nguyện

đi theo Chàng thương cho tất cả số phận của những con người ấy mà rơi lệ Phải thực sự thương yêu nhân dân, nghĩ về nhân dân, Chế Bồng Nga mới có những cảm xúc như vậy

Bên cạnh việc ca ngợi những anh hùng dân tộc, cảm hứng dân tộc còn được thể hiện ở nỗi đau xót trước hiện thực đất nước bị xâm lược hay nói đến nỗi khổ của nhân dân trong cảnh nội loạn của dân tộc do những bạo chúa gây

ra Trong Gái thời loạn, ngòi bút miêu tả của Lan Khai nhiều khi như thấm

đẫm cả máu và nước mắt trước hiện thực đất nước bị bọn giặc Cờ Đen đàn áp,

Trang 38

trước những hành động tra tấn dã man như thời trung cổ của chúng: “Chỉ chớp mắt, tiếp theo tiếng kêu gào của hai người khốn khổ, bốn cái tai đã rụng xuống đất lả tả như mấy cánh hoa tàn” Không chỉ hành hạ người lớn, lũ giặc

Cờ Đen còn hành hạ cả trẻ thơ: “tức mình vì đứa bé cứ bò quềnh bò quành gào khóc rầm rĩ; hắn (giặc Cờ Đen) nghiến răng vùng đứng xuống đất, nắm chân đứa bé tung bổng lên gần nóc nhà, đoạn giơ mũi gươm ra đón […] Đứa nhỏ chới với rơi xuống, bị mũi gươm xóc qua ngực, ằng ặc được mấy tiếng

rồi chết thẳng” [53, tr 22] Hay như trong Treo bức chiến bào, tác giả dựng

lại cảnh bối cảnh xã hội những năm nhà Hậu Lê đang suy yếu, Trịnh Sâm thì nhu nhược, toàn bộ quyền hành hầu như đều nằm trong tay chị em Đặng Thị Huệ, Mậu Lân dựa hơi chị làm biết bao điều chướng tai gai mắt khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, đến nỗi cứ tối tối, trong thành chỗ nào có hỗn loạn, nhân dân lại nghĩ ngay đến việc Mậu Lân đi bắt gái đẹp: “tên thị hầu tức khắc xông vào đàn bà con gái, bị dồn tới chỗ, đương xoắn lấy nhau mà kêu khóc Hắn lôi ra một cô rất xinh, kéo xềnh xệch cô tại lại bên chiếc kiệu sơn

có màu hoa phủ kín […] Một người định cứu cô gái nhưng “tên lính rít gươm, một làn chớp lòa […], một tiếng kêu bị tắc nghẽn” [21, tr 18]

Cảm hứng dân tộc còn được thể hiện qua việc đề cập đến ý thức trách nhiệm của mỗi người dân trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược Nhân vật

Thục Nương trong Gái thời loạn, mặc dù là phận nữ nhi nhưng trong hoàn

cảnh đất nước bị xâm lược cũng đã sẵn sàng quên đi tình riêng của mình với con tướng giặc Cờ Đen là Hoàng Thiếu Hoa để nghĩ đến trách nhiệm của mình, một người dân của nước Việt Nam bị xâm lược: “Hoàng Lang! Vâng,

em yêu chàng lắm! Em thương chàng lắm…Nhưng mà, trời ơi! Trước hết em còn phải là một người con của mẹ, một người dân của nướcNam”.[53, tr 74]

Hay như nàng Lan Anh trong Ai lên phố Cát, trong hoàn cảnh Mạc Đăng

Dung chuyên quyền, toan cướp ngôi, không quản thân phận nữ nhi, không

Trang 39

quản đường xá xa xôi, nàng giả trai từ kinh thành lên vùng Tuyên Quang mong nhận được sự trợ giúp của anh em Vũ Uyên, Vũ Mật chống lại vây cánh

Mạc Đăng Dung Cũng giống như nhân vật Thục Nương trong Gái thời loạn,

Lan Anh mặc dù rất yêu Vũ Mật nhưng khi biết chàng đứng về phe Mạc Đăng Dung, nàng “rũ liệt đi, cảm giác như trong tâm hồn có cả một cái gì vừa sụp

đổ, tan tành”, nàng “phóng mạnh đao vào ngực” toan tự tử nhưng nghĩ đến việc cha mình vừa mất, nghĩa quân cự Mạc không có người lãnh đạo, Lan Anh quyết tâm “thúc ngựa lăn xả vào đám quân Mạc […] xông xáo như vào

chỗ không người” [53, tr 201] Nhân vật Đỗ Quyên trong Treo bức chiến bào

cũng có nhiều điểm tương đồng với Lan Anh Vốn là con của Nguyễn Khắc Tuân, sau khi việc cha mình giúp Trịnh Khải lật đổ phe Đặng Thị Huệ không thành và bị mất mạng, Đỗ Quyên đã giả trai gia nhập nghĩa quân của Nguyễn Huệ mong có cơ hội báo thù cho cha Không những thế, nàng còn nhận thấy trách nhiệm của một người dân trong cảnh đất nước loạn lạc: “nước nhà đang cần phải có những người như Trưng nữ Vương, Lệ Hải Bà Vương, để bênh vực và giải thoát cho nhà Lê” [21, tr 22] Chúng tôi nhận thấy một điều, khi viết tiểu thuyết lịch sử, để nhấn mạnh ý thức trách nhiệm của mỗi người dân đất Việt trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, thay vì để cho các đấng nam nhi thể hiện điều đó, những điều tất yếu họ phải làm, Lan Khai đã chú tâm xây dựng những nhân vật nữ đầy khí phách, đầy bản lĩnh và trách nhiệm

2.1.2 Cảm hứng lãng mạn

Giai đoạn 1930 – 1945 được coi là “thời đại vàng” của văn học Việt Nam với sự phát triển mạnh mẽ của cả văn học lãng mạn, văn học hiện thực và văn học cách mạng Cầm bút sáng tác chủ yếu trong giai đoạn này nên trong sự nghiệp sáng tác của Lan Khai cũng mang đậm dấu ấn của thời đại Lan Khai

là một trong những trường hợp đặc biệt mà trong các sáng tác có dấu ấn của rất nhiều trào lưu và khuynh hướng văn học với một chút lãng mạn, một chút

Trang 40

hiện thực Trước khi viết tiểu thuyết lịch sử, năm 1928, với việc cho ra đời

tiểu thuyết diễm tình Nước hồ Gươm, Lan Khai ngay lập tức đã được xếp vào

nhóm tác giả theo chủ nghĩa lãng mạn (cùng với Tam Lang Vũ Đình Chí, Từ

Trẩm Á, Tương Phố, Đông Hồ…) Sau đó, khi ông viết Cô Dung và Lầm than,

rất nhiều nhà phê bình đã đánh giá ông là một nhà văn hiện thực xuất sắc, nhưng đúng như GS Hà Minh Đức đã nhận xét: trên hành trình sáng tác của Lan Khai, ông chịu ảnh hưởng ít nhiều của phong trào Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939) " nên trong các tác phẩm của ông có cả sự giao thoa của khuynh hướng hiện thực”, nhưng ông chủ yếu thuộc khuynh hướng lãng mạn Cảm hứng lãng mạn vì thế đã trở thành một trong những cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai

Biểu hiện đầu tiên của cảm hứng lãng mạn chính là việc tìm về với quá khứ, với lịch sử dân tộc, lấy lịch sử dân tộc làm đề tài trong các tác phẩm của mình Lan Khai đã khắc họa các triều đại đầy biến động trong lịch sử Việt Nam Từ sự bạo tàn của ông vua cuối cùng nhà Tiền Lê – Lê Long Đĩnh đến

sự thay thế của nhà Lý với sự lên ngôi của Lý Công Uẩn; từ những toan tính của Trần Thủ Độ và sự yếu đuối của người cầm quyền cuối cùng nhà Lý – Lý Chiêu Hoàng đến sự thay thế của nhà Trần với sự lên ngôi của Trần Cảnh; từ

sự suy thoái của nhà Lê đến sự chuyên quyền của Mạc Đăng Dung và sự bành trướng thế lực của tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn; từ sự suy yếu của chế

độ phong kiến Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đến sự tung hoành của lũ giặc Cờ Đen, Cờ Trắng, Cờ Vàng…tất cả đã được Lan Khai dựng lại thật cụ thể, chân thực, sinh động

Cảm hứng lãng mạn còn được thể hiện trong tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai ở sự đề cao tình yêu đôi lứa Tình yêu và sự kì diệu của tình yêu luôn là

đề tài hấp dẫn đối với các nhà văn nhà thơ Dù viết tiểu thuyết lịch sử, đề tài chủ yếu là các vấn đề lịch sử nhưng Lan Khai vẫn không thể cưỡng lại được

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (2001), Chân dung văn học, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn học
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2001
2. Lê Tú Anh (2010), Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1900 – 1930, Luận án tiến sĩ, Viện văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1900 – 1930
Tác giả: Lê Tú Anh
Năm: 2010
3. M. Bakhtin (2003), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2003
4. Nguyễn Triệu Căn (2011), Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Triệu Luật
Tác giả: Nguyễn Triệu Căn
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 2011
5. Phan Bội Châu (1971), Trùng quang tâm sử, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trùng quang tâm sử
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1971
6. Trương Đăng Dung, Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mỹ học của G. Lucat, Tạp chí văn học, (5), tr 40 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí văn học
7. Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức (2003), Văn học Việt Nam 1900 – 1945, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam 1900 – 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ, Trần Đình Hượu, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Lê Chí Dũng, Hà Văn Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
8. Trịnh Bá Đĩnh (2003), Phạm Quỳnh luận giải văn học và triết học, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quỳnh luận giải văn học và triết học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
9. Lê Quý Đôn (2012), Đại Việt thông sử, quyển I, NXB trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2012
10. Lê Quý Đôn (2012), Đại Việt thông sử, quyển II, NXB trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt thông sử
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB trẻ
Năm: 2012
11. Hà Minh Đức (2003), Lí luận văn học, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2003
12. Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ (1966) Nguyễn Huy Tưởng, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huy Tưởng
Nhà XB: NXB Văn học
13. Văn Giá, Quan niệm về tiểu thuyết trong khoa nghiên cứu văn học giai đoạn 1932 – 1945, Tạp chí văn học, (8), tr 25 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí văn học
14. Dương Quảng Hàm (1951), Việt Nam văn học sử yếu, NXB Bộ quốc gia giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: NXB Bộ quốc gia giáo dục
Năm: 1951
15. Lê Bá Hán, Hà Minh Đức (1973), Cơ sở lý luận văn học, Tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1973
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
17. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá cb (2004), Từ điển văn học, bộ mới, NXB thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá cb
Nhà XB: NXB thế giới
Năm: 2004
18. Phạm Đình Hổ (2003), Vũ trung tùy bút, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ trung tùy bút
Tác giả: Phạm Đình Hổ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
19. Vũ Đức Hoan (2011), Nhóm Tân Dân trong đời sống văn học Việt Nam 1945, Luận văn thạc sĩ ngữ văn trường ĐH KHXH & NV, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm Tân Dân trong đời sống văn học Việt Nam 1945
Tác giả: Vũ Đức Hoan
Năm: 2011
20. Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng (1988), Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930
Tác giả: Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng
Nhà XB: NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1988

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w