Để bảo vệ nền độc lập mới giành được, ngày 19 - 12 - 1946, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định phát động nhân dân toàn quốc đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp.. Một nguyê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS TRIỆU QUANG TIẾN
HÀ NỘI - 2004
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 3
Chương 1: ĐẢNG BỘ NAM ĐỊNH PHÁT ĐỘNG CHIẾN TRANH
DU KÍCH Ở ĐỊA PHƯƠNG (1946 - 1954) 5 1.1 Nam Định - Mảnh đất, con người và truyền thống 5 1.2 Lãnh đạo chiến tranh du kích những năm 1946 - 1951 17 1.2.1 Chỉ đạo thực hiện chủ trương giam chân địch
trong thành phố và các căn cứ 17 1.2.2 Lãnh đạo chống địch lấn chiếm, bình định, phục hồi và
phát triển căn cứ du kích (1947 - 1951) 26
Chương 2: ĐẢNG BỘ NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CHIẾN
TRANH DU KÍCH GÓP PHẦN GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG (1951 - 1954) 55 2.1 Củng cố mở rộng khu du kích và căn cứ du kích (1951-1952) 55 2.2 Đảng bộ lãnh đạo lực lượng du kích chủ động tiến công
địch góp phần giải phóng quê hương (1952 - 1954) 63
Chương 3: NHỮNG THÀNH QUẢ VÀ KINH NGHIỆM 86 3.1 Những thành quả của chiến tranh du kích ở Nam Định 86 3.2 Những kinh nghiệm lãnh đạo chiến tranh du kích của Đảng
3.2.1 Quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối kháng chiến chống
thực dân Pháp của Trung ương Đảng vào địa phương Nam Định 88 3.2.2 Tổ chức, động viên toàn dân tham gia chiến tranh du
kích, kiên trì bám trụ, bám đất, bám dân 90 3.2.3 Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương
3.2.4 Thường xuyên xây dựng, củng cố tổ chức Đảng để
Trang 4KẾT LUẬN 96
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2 - 9 - 1945, tại Quảng
trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc
lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà Nhưng nhiều khó khăn,
thử thách dồn dập đe doạ sự tồn vong của Nhà nước cộng hoà non trẻ Khó khăn, thử thách lớn nhất là dã tâm cướp nước ta một lần nữa của thực dân Pháp
Để bảo vệ nền độc lập mới giành được, ngày 19 - 12 - 1946, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định phát động nhân dân toàn quốc đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp Nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược và giành được thắng lợi vẻ vang Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954),
là một trong những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ
XX Một nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
là, Đảng ta đã phát động chiến tranh nhân dân, tiến hành chiến tranh du kích ở các vùng địch tạm chiếm
Nam Định là một tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ, có vị trí chiến lược quan trọng Thực dân Pháp sớm chiếm đóng Nam Định, hòng biến Nam Định thành hậu phương, cung cấp sức người, sức của cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng
Thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện của Trung ương Đảng, Đảng bộ Nam Định đã lãnh đạo nhân dân địa phương tiến hành cuộc chiến tranh du kích cực kỳ gian khổ, anh dũng, sáng tạo, đánh bại
âm mưu nham hiểm của địch, góp phần vào thắng lợi chung và để lại nhiều kinh nghiệm quý
Nghiên cứu đề tài "Đảng bộ Nam Định lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương (1946 - 1954)" sẽ góp phần dựng lại một cách phong phú bức tranh chung của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần giải thích cụ thể một trong những nguyên nhân của
Trang 6thắng lợi, tổng kết những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ Nam Định, góp phần làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm của Đảng trong việc phát huy sức mạnh toàn dân tộc nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Những kinh nghiệm được đúc rút trong lãnh đạo chiến tranh du kích
ở Nam Định có thể vận dụng trong xây dựng và bảo vệ quê hương hiện nay
Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Vì thế tôi chọn làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học Lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TàI
Về cuộc kháng chiến chống Pháp đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn
như: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Sơ thảo tập I, NXB Sự thật 1981; Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, NXB Chính trị quốc gia 1996; Mấy vấn đề lớn ở khu tả ngạn sông Hồng trong kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, NXB Chính trị quốc gia 2001; Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc bộ, NXB Chính trị quốc gia 2001… Liên quan trực tiếp đến đề tài có một số cuốn sách đã xuất bản: Lịch sử Đảng bộ Nam Định, Tập I, NXB Chính trị quốc gia 2001 và một số cuốn lịch sử các
Đảng bộ huyện trong tỉnh
Những công trình trên là những tài liệu tham khảo có giá trị, cung cấp những định hướng và tư liệu quý để tác giả luận văn triển khai nghiên cứu đề tài này Tuy nhiên, các công trình trên mới trình bày một cách tổng thể về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và về lịch sử Đảng bộ địa phương, chưa nghiên cứu một cách hệ thống, sâu sắc riêng về vấn đề Đảng bộ lãnh đạo chiến tranh du kích ở Nam Định (1946 - 1954)
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
Nghiên cứu đề tài: "Đảng bộ Nam Định lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương (1946 - 1954)" nhằm làm rõ sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối kháng chiến của Đảng, của Đảng bộ Nam Định trong lãnh đạo, chỉ đạo cuộc chiến tranh du kích ở địa phương, nêu rõ những đóng góp to lớn
Trang 7Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của luận văn là:
- Trình bày một cách hệ thống những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Định vận dụng đường lối kháng chiến của Đảng trong cuộc chiến tranh
du kích ở địa phương (1946 - 1954)
- Phân tích quá trình Đảng bộ Nam Định chỉ đạo thực hiện thắng lợi chủ trương của Trung ương, những thành tích và hạn chế của cuộc chiến tranh du kích ở Nam Định; tổng kết những kinh nghiệm của Đảng bộ trong quá trình lãnh đạo chiến tranh du kích ở tỉnh Nam Định từ 1946 - 1954
Luận văn không trình bày toàn bộ các nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Định mà chỉ tập trung nghiên cứu chuyên đề Đảng bộ Nam Định lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa phương (1946 - 1954)
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU
- Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về chiến tranh, tác giả sử dụng các phương pháp chuyên ngành: lịch sử, lô gíc, phân tích, tổng hợp, so sánh, điền đã và sự kết hợp của các phương pháp đó
- Nguồn tư liệu chính:
+ Các văn kiện của Trung ương Đảng, Liên khu uỷ III, các văn kiện của Tỉnh uỷ Nam Định trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp
+ Các báo cáo hàng năm (1946 - 1954) của chính quyền tỉnh, huyện; của tỉnh đội, huyện đội
+ Hồi ký của cán bộ lão thành ở địa phương
+ Tài liệu khảo sát thực tế
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Góp phần trình bày một cách hệ thống và làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Nam Định đối với chiến tranh du kích ở địa phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954)
- Làm rõ những đóng góp của nhân dân Nam Định trong cuộc chiến
Trang 8tranh du kích; đúc rút những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ (1946 - 1954) Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các Đảng bộ huyện, thành phố viết lịch sử địa phương mình; cho các giáo viên giảng dạy lịch sử địa phương
ở các trường phổ thông trung học tỉnh Nam Định
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương, 6 tiết
- Chương 1: Đảng bộ Nam Định phát động chiến tranh du kích ở địa phương (1946 - 1951)
- Chương 2: Đảng bộ Nam Định lãnh đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích, góp phần giải phóng quê hương (1951 - 1954)
- Chương 3: Những thành quả và kinh nghiệm
Trang 9Chương 1
ĐẢNG BỘ NAM ĐỊNH PHÁT ĐỘNG CHIẾN TRANH
DU KÍCH Ở ĐỊA PHƯƠNG (1946 - 1951)
1.1 NAM ĐỊNH - MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG
Nam Định là một tỉnh duyên hải ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, có truyền thống văn hiến, yêu nước và cách mạng, là quê hương của vương triều Trần với hào khí Đông A nổi tiếng, ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông, lập nên chiến công hiển hách, góp phần sáng danh dân tộc anh hùng Người Nam Định hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động và xây dựng đất nước quê hương, bất khuất trong đấu tranh cách mạng với tinh thần tự lực, tự cường và ý thức cộng đồng sâu sắc
Tỉnh Nam Định phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình, phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía Đông Nam là biển Đông Nam Định có diện tích tự nhiên 1.671,5km, bằng 6,52% diện tích toàn quốc [3, tr 11]
Nam Định hiện có 10 đơn vị hành chính bao gồm thành phố Nam Định
và 9 huyện, tính từ phía Bắc xuống Nam là các huyện: Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng với 225 xã, phường, thị trấn; có trên 1.927.000 người
Nam Định là tỉnh nằm giữa hạ lưu hai con sông lớn của đồng bằng Bắc
Bộ là sông Hồng và sông Đáy Sông Hồng chảy vào Nam Định từ xã Mỹ Trung (huyện Mỹ Lộc) qua thành phố Nam Định và 4 huyện: Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thuỷ rồi đổ ra biển Đông ở cửa Ba Lạt Sông Đáy chảy vào Nam Định từ xã Yên Hưng (huyện Ý Yên) qua huyện Nghĩa Hưng rồi đổ ra biển ở cửa Đáy và là địa giới tự nhiên giữa tỉnh Nam Định và tỉnh
Trang 10Ninh Bình
Nam Định có bờ biển dài 72km Bờ biển bị chia cắt bởi 4 cửa sông lớn:
Ba Lạt và Hà Nạn huyện Giao Thuỷ, Ninh Cơ thuộc huyện Hải Hậu và cửa Đáy thuộc huyện Nghĩa Hưng [19, tr 15] Dọc bờ biển có nhều bãi cát, có 3 khu vực làm muối thuộc huyện Giao Thuỷ và huyện Hải Hậu, ven biển có nhiều nhà thờ Thiên Chúa giáo với tháp chuông cao, dễ trở thành đài quan sát
xa, rộng, những vị trí tập kết đột xuất và kiên cố
Nam Định có hệ thống giao thông đa dạng và phong phú, thuận lợi với 6.899 km đường bộ, 417 km đường sông và đường biển, 42 km đường sắt chạy qua (từ ga Bình Lục về Nam Định qua Trình Xuyên, Gôi, Cát Đằng rồi
đi Ninh Bình) thuận tiện cho giao lưu và thông thương giữa hai miền Nam - Bắc của đất nước và trong khu vực Nam Định có đường quốc lộ 21 dài 75
km chạy từ bờ biển Văn Lý ngược lên qua các thị trấn Cồn, Yên Định (huyện Hải Hậu) vượt qua cầu Lạc Quần tới thị trấn Cổ Lễ (huyện Trực Ninh) qua cầu Đò Quan vào thành phố Nam Định, vượt qua huyện Mỹ Lộc đến địa phận tỉnh Hà Nam gặp đường quốc lộ 1A ở thị xã Phủ Lý
Đường số 55 dài 55 km chạy từ bờ biển Nghĩa Phúc huyện Nghĩa Hưng qua thị trấn Đông Bình lên thị trấn Liễu Đề qua huyện lỵ Nam Trực ở đoạn Chợ Chùa rồi nối với đường 21 tại Đò Quan để vào thành phố Nam Định
Đường quốc lộ số 10 từ Quảng Yên đi Hải Phòng, Thái Bình qua Nam Định rồi đi Ninh Bình (đoạn qua Nam Định dài 34 km) đây là tuyến đường chiến lược phía Nam đồng bằng Bắc Bộ
Đường tỉnh lộ 12 từ thành phố Nam Định đi huyện Ý Yên dài 20 km Đường liên tỉnh từ Bình Lục tỉnh Hà Nam đi thị trấn Gôi huyện Vụ Bản qua thị trấn Liễu Đề huyện Nghĩa Hưng, thị trấn Yên Định huyện Hải Hậu đến thị trấn Ngô Đồng huyện Giao Thuỷ dài 70 km
Nam Định là một tỉnh đông dân Cuối năm 1945 dân số Nam Định hơn
80 vạn người, năm 1959 có 1.027.385 người, năm 1997 có 1.921.000 người,
Trang 11năm 2003 có 1.927.765 người Hiện nay, mật độ trung bình khoảng 115 người trên 1 km2 Dân số chủ yếu là người kinh, trong đó có trên 22 vạn người theo đạo Thiên Chúa Đa số giáo dân sống ở các huyện ven biển Hệ thống nhà thờ Thiên Chúa ở Nam Định được xây dựng kiên cố, thành từng tuyến ở những nơi quan trọng Trước Cách mạng tháng Tám (1945) và trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhiều nhà xứ và toà giám mục ở Nam Định
đã bị bọn phản động đội lốt hoặc lợi dụng tôn giáo ẩn náu để vạch kế hoạch
và thành lập cái gọi là "tỉnh công giáo tự trị" phục vụ cho chính sách "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" của thực dân Pháp
Nhân dân Nam Định có 90% dân số làm nghề nông Hàng năm Nam Định có thể sản xuất một khối lượng lương thực chiếm hơn 1/10 tổng sản lượng lương thực của toàn miền Bắc với nhiều giống lúa quý cho sản lượng
và chất lượng cao Hiện nay, mỗi năm Nam Định sản xuất được trên 1 triệu tấn thóc và đang biến cây lúa lương thực thành cây lúa hàng hoá để xuất khẩu gạo ra nước ngoài
Nam Định có nguồn lợi thiên nhiên lớn về cá biển và muối Hàng năm các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng có thể đánh bắt trung bình trên 10.000 tấn cá, tôm và nhiều tấn thuỷ, hải sản khác, sản xuất mỗi năm trên 70.000 tấn muối
Nam Định Có nhiều nghề thủ công tinh xảo, nổi tiếng như nghề làm mắm ở Sa Châu (huyện Giao Thuỷ), dệt tơ, lụa ở Báo Đáp (huyện Nam Trực), Dịch Diệp, Phương Định (huyện Trực Ninh), nghề rèn ở Vân Tràng (huyện Nam Trực), nghề đúc ở Tống Xá nghề mộc và nghề trạm khắc gỗ ở La Xuyên -Yên Ninh (huyện Ý Yên)
Người Nam Định từ xa xưa đã thông minh, tài trí tạo lập nên truyền thống tốt đẹp của quê hương và có những đóng góp quan trọng vào nền văn hiến của đất nước Những hình ảnh đua thuyền, đấu vật, đấu giáo, dùng giáo
Trang 12đâm hổ, báo đã được ghi lại trên mặt trống đồng Côi Sơn (huyện Vụ Bản) và trên các bức phù điêu, các hình chạm khắc ở đền Trần, đình Đệ Tứ (ngoại thành Nam Định), tam quan chùa Cự Trữ (huyện Trực Ninh)…
Ở Nam Định có nhiều danh nhân của đất nước: Thời Lý (đầu thế kỷ thứ
XI đến đầu thế kỷ thứ XIII), Phật giáo được coi là Quốc giáo Nam Định có hai bâc đại thiền sư là Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải uyên thâm giáo
lý, nổi tiếng về thi ca và là những danh y có tài Thời Trần trong số 128 vị đại khoa của hai tỉnh Nam Định và Hà Nam thì ba huyện: Nam Trực, Trực Ninh,
Ý Yên đã chiếm hơn 1/3 Đặc biệt cả 5 Trạng nguyên đều là người Nam Định
Thời Lê, Nam Định có trường thi hương ở thành Vị Hoàng cho sĩ tử các trấn phía Nam đồng bằng sông Hồng; Nam Định có hơn hai mươi người
đỗ tiến sỹ, làm rạng danh xứ Sơn Nam [3, tr 30]
Triều Mạc, Nam Định có tới hàng chục vị đại khoa Sau khi lập vương triều, nhà Nguyễn đã tổ chức thi cử để chọn nhân tài bổ sung cho bộ máy cai trị Nam Định là đất học, có trường thi được lập ra từ thời Lê (năm 1441) đến năm 1845 được xây trên đất làng Năng Tĩnh Nhà Nguyễn không lấy đỗ Trạng Nguyên, Nam Định có Trần Bích San đỗ tam nguyên (trong số 3 người của cả nước) Thời Nguyễn, nho sư - tiến sỹ Khiếu Năng Tĩnh (Ý Yên) được
cử làm Tế tửu Quốc Tử Giám (Hiệu trưởng trường Đại học duy nhất của cả nước lúc bấy giờ) Trong số hơn 800 cử nghiệp, Nam Định có 87 vị đại khoa,
có 5 Trạng nguyên, 3 Bảng nhãn, 3 Thám hoa, 14 Hoàng giáp, 62 Tiến sỹ và Phó bảng [3, tr 31]
Dưới chế độ cũ, mặc dù làm ra nhiều của cải nhưng đa số người dân Nam Định vẫn bị bóc lột nặng nề và bị bần cùng hoá Khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, hơn 90% dân số Nam Định sống về nghề nông nhưng 50% diện tích đất đai lại nằm trong tay bọn địa chủ, khiến cho phần lớn cư dân ngày càng nghèo đói và phải làm thuê cho địa chủ Hơn 90% dân số Nam Định mù chữ, nhiều người phải rời bỏ quê hương đi tìm kế sinh nhai Nạn đói
Trang 13năm 1945 làm cho hơn 30 vạn người Nam Định bị chết, hàng loạt người phải tha phương biệt xứ Sự cùng khổ và uất ức đó đã thúc giục họ vùng lên đấu tranh chống cường quyền, áp bức và xâm lược
Nam Định còn có nhiều làng văn hoá truyền thống, những giáo phường độc đáo, những lễ hội kèm theo diễn xướng, trò chơi dân gian, những sinh hoạt phong phú như hội chùa Keo, Phủ Giày, đền Trần, múa hát Dặm, múa Phương Bông… Người Nam Định đã sáng tạo ra nền văn học dân gian vô cùng phong phú Thiên nhiên và cuộc sống, con người hiện lên trong ca dao, tục ngữ với một phong vị rất riêng, đậm đà không thể lẫn với bất kỳ nơi nào khác trên đất nước Việt Nam
Nam Định còn là đất có truyền thống thượng võ Từ những năm đầu Công nguyên, nhân dân nhiều nơi trong tỉnh đã đứng dưới cờ nghĩa Hai Bà Trưng đánh quân xâm lược, hiện nay vẫn còn đền thờ Thục Côn Công chúa tại làng Thượng Lỗi, xã Lộc Vượng (ngoại thành Nam Định)
Những năm 776 - 779, Phùng Hưng đã lấy các huyện Đại An, Ý Yên làm căn cứ chống quân xâm lược nhà Đường (Trung Quốc) Thời vua Đinh Tiên Hoàng, tướng quân Trần Lãm - bố nuôi của Đinh Bộ Lĩnh là người đất Giao Thuỷ đã chiếm giữ vùng cửa biển Kỳ Bố và lập nhiều chiến công giữ nước, giúp nhà Đinh thống nhất giang sơn, được Triều đình phong tặng: "Phụ dục Quốc chính Thượng công."
Năm 1282, quân Nguyên mượn cớ đánh Chăm Pa để đánh chiếm Đại Việt, Vua Trần Nhân Tông đã giao cho Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn bộ quân đội đánh giặc Theo lệnh của Trần Quốc Tuấn, các đơn vị chủ lực được bố trí ở các vị trí chiến đấu, thanh niên các làng, xóm tự vũ trang thành lập các đội dân binh để bảo vệ quê hương và phối hợp với quân đội Triều đình, thực hiện kế sách "vườn không nhà trống", liều chết mà đánh, không được đầu hàng
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai, trước thế
Trang 14mạnh ban đầu của địch, quân ta thực hiện kế rút lui chiến lược về Thiên Trường để củng cố và bổ sung lực lượng Khi thời cơ lớn xuất hiện, quân ta
mở cuộc tập kích chiến lược đánh bại nửa triệu quân Nguyên vào tháng 6 -
1285
Tháng 12 -1287, quân Nguyên laị chia làm 3 đạo từ mặt Bắc đánh vào nước ta Nhưng ngay từ trận đầu, bọn xâm lược đã bị thua to ở Vân Đồn, khi vào thành Thăng Long chúng lại gặp cảnh vườn không nhà trống và liên tục
bị vây hãm Tháng 5 - 1288, Thoát Hoan buộc phải rút quân về nước Thắng lợi vĩ đại của ba lần kháng chiến chống quân Nguyên của nước Đại Việt thế
kỷ XIII có công lao to lớn của người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn và con em nhân dân tỉnh Nam Định
Khi quân Minh xâm lược nước ta, nhân dân Nam Định đã đứng lên theo nghĩa quân của Trần Triệu Cơ Đặc biệt có người đàn bà ở làng Ngọc Chuế, xã Yên Nghĩa, huyện Ý Yên đã có nhiều mưu kế giúp nghĩa quân Lam Sơn tập kích hạ thành Cổ Lộng, xã Yên Thọ, huyện Ý Yên tiêu diệt nhiều tên xâm lược Bà được Vua Lê Thái Tổ phong danh hiệu "Kiến quốc phu nhân", hiện nay Đền thờ bà ở quê hương vẫn còn tấm bia ghi công trạng đó
Năm 1876, sau khi đánh tan Chúa Nguyễn ở Đàng trong, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt Trịnh Quân Tây Sơn theo đường biển tiến ra chiếm thành Vị Hoàng (nay là thành phố Nam Định) Nhân dân Nam Định đã hết lòng giúp đỡ quân Tây Sơn, đi theo nghĩa quân, góp sức xây dựng phòng tuyến Tam Điệp, thông báo tin tức địch cho quân Tây Sơn Sau khi nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn tiêu diệt, nhân dân Nam Định lại nổi dậy chống chế độ thống trị, bóc lột hà khắc của nhà Nguyễn, như cuộc nổi dậy của Xiển Văn Đạo ở Liễu Đề huyện Nghĩa Hưng, đặc biệt là khởi nghĩa do Phan Bá Vành lãnh đạo Phan Bá Vành quê gốc ở Trà Lũ (huyện Xuân Trường), di cư sang Minh Giám (Thái Bình) Năm 1826, nghĩa quân lập căn cứ ở Trà Lũ nay thuộc các xã Xuân Phong, Xuân Bắc, Xuân Trung (huyện Xuân Trường) Ông
Trang 15đã chiêu tập hàng nghìn nghĩa quân đứng lên khởi nghĩa chống ách áp bức của Triều đình nhà Nguyễn Khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta (1858), ngay từ lúc chúng nổ súng gây hấn ở Đà Nẵng, trong lúc Triều Nguyễn nhu nhược, từng bước nhượng bộ, đầu hàng giặc thì nhân dân Nam Định đã sôi sục ý chí "quyết chiến" Thay mặt giới sĩ phu - kẻ sĩ Bắc Hà, Đốc học Nam Định Phạm Văn Nghị đã gửi lên vua Tự Đức tờ tấu "Trà Sơn kháng Sở" xin được tổ chức một đội quân tình nguyện Nam tiến để đánh giặc Pháp Đầu năm
1860, ông dẫn đoàn quân nghĩa dũng gồm 365 người trong đó có rất nhiều học trò của ông vào đến Huế thì quân Pháp đã rút vào Gia Định để tập trung đánh chiếm Nam Kỳ Nghĩa quân xin được tiếp tục hành quân vào Nam đánh giặc nhưng Vua Tự Đức không đồng ý, buộc nghĩa quân phải trở ra Bắc
Năm 1873, giặc Pháp đem quân đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất, Đốc ngoại phòng giữ bờ biển Phạm Văn Nghị đã chỉ huy quân sĩ nã phát súng thần công đầu tiên vào tàu giặc khi chúng đang theo sông Đáy vào đến ngã ba Độc
Bộ Khi thành phố Nam Định thất thủ, Phạm Văn Nghị chiêu mộ được 7.000 nghĩa sĩ xây dựng căn cứ ở Ý Yên, Phong Doanh, Thanh Liêm để tiếp tục chiến đấu và giữ vững địa bàn cho đến khi giặc phải rút khỏi Bắc Kỳ
Giặc Pháp chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai, năm 1883 chúng lại kéo quân đánh chiếm thành Nam Lần này hoả địch mạnh gấp mười lần trước, cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt Khi Pháp chiếm được thành, quân ta rút
ra vòng ngoài bao vây giam chân chúng nhiều tháng trong thành
Năm 1885, Vua Hàm Nghi xuống Chiếu Cần Vương Nhiều sĩ phu Nam Định đã nổi dậy hưởng ứng, như Tạ Hiền, Lã Xuân Oai, Phạm Trung Thứ ở Thượng Đồng (Ý Yên), Vũ Đức Huy (Vụ Bản), đội Võ (Giao Thuỷ)… Phong trào kháng Pháp của các sĩ phu lan rộng khắp làng quê Nam Định nhưng không được Triều đình giúp sức Trong suốt một thời gian dài về sau, các cuộc khởi nghĩa, nổi dậy nhỏ, lẻ, tự phát của nhân dân Nam Định đều bị thực dân Pháp dập tắt Song đó là biểu hiện của tinh thần yêu nước thiết tha, ý
Trang 16chí quật cường, bất khuất của của các tầng lớp nhân dân Nam Định Đó chính
là nguồn mạch nuôi dưỡng, bồi đắp thành những di sản quý giá của quê hương, là những tiền đề quan trọng để nhân dân Nam Định sớm tiếp nhận ngọn đuốc soi đường, ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào cách mạng theo khuynh hướng vô sản
Ở Nam Định, giai cấp công nhân ngay từ khi mới ra đời đã từng bước đứng lên đấu tranh chống bọn chủ Đội ngũ công nhân thành phố Nam Định được hình thành cùng với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Nam Định Đến đầu thế kỷ XX, số lượng công nhân ước tính khoảng 1,5 vạn người [20, tr 34] Trình độ kỹ thuật, tác phong công nghiệp ở họ được hình thành sớm, sống tập trung Do phần lớn xuất thân từ nông dân, bị bần cùng hoá và cùng có chung kẻ thù là đế quốc, phong kiến nên công nhân sớm đoàn kết với nông dân tạo thành khối liên minh Công - Nông vững chắc trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung Đời sống công nhân vô cùng cực khổ, họ phải lao động 12 đến 14 giờ một ngày, lương thấp lại luôn bị cúp phạt, đánh đập,
đe doạ, sa thải… Họ sớm giác ngộ ý thức giai cấp, nhận rõ kẻ thù và sớm trở thành lực lượng tiền phong của cách mạng
Ngày 30 - 4 - 1925, cuộc đấu tranh của hơn 2500 công nhân nhà máy Sợi Nam Định phản đối chủ sa thải 300 anh chị em công nhân đã tham gia đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, có tiếng vang lớn
Năm 1925, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ra đời Tháng 9 -
1927, Tỉnh bộ Lâm thời Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tỉnh Nam Định
được thành lập Cuốn Đường cách mệnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc được
đưa từ nước ngoài về trao cho đồng chí Nguyễn Công Hoan, Bí thư Tỉnh bộ
Lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin ngày càng được truyền bá sâu rộng trong hội viên thanh niên, trong học sinh và các tầng lớp sĩ phu yêu nước Vì thế hơn hai năm sau, hội viên của hội đã có hơn 100 người
Ngày 3 - 2 - 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Tỉnh bộ hội Việt
Trang 17Nam cách mạng thanh niên Nam Định được đổi thành Tỉnh Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Nam Định Nhiệm vụ cách mạng của quân, dân địa phương là đấu tranh chống Pháp giành độc lập tự do cho dân tộc được tuyên truyền sâu rộng Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Định, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân chống Pháp liên tiếp nổ ra, đặc biệt cuộc đấu tranh của hơn 4.000 công nhân nhà máy dệt Nam Định, kéo dài từ ngày
28 - 3 đến ngày 16 - 4 - 1930, đã buộc bọn chủ phải thoả mãn các yêu sách tăng lương 10%, bỏ đánh đập, cúp phạt công nhân Bên cạnh thắng lợi về kinh
tế, cuộc đấu tranh đã làm cho uy tín của Đảng được nâng lên, làm xôn xao dư luận ở nước Pháp và trên trường quốc tế
Tháng 7 - 1930, đồng chí Trần Phú, về Nam Định khảo sát tình hình và chỉ ra nhiều việc cần phải uốn nắn để thúc đẩy phong trào tiến lên Từ ngày
25 - 7 đến 25 - 9 - 1930, công nhân các nhà máy Dệt, Tơ, Sợi Nam Định có 6 cuộc bãi công trong đó có những cuộc đối đầu quyết liệt, chứng tỏ sự trưởng thành mạnh mẽ của phong trào công nhân Nam Định…
Cùng với công nhân ở thành phố, nông dân các huyện Ý Yên, Xuân Trường, Giao Thuỷ đã đứng lên đòi lập chợ, đòi tổ chức gặt lúa ở những ruộng mà trước đó địa chủ cường hào cưỡng đoạt của nông dân, như nông dân các xã Lạc Nghiệp, Hội Khê Ngoại, Quất Lâm Lạc Quần, Trung Thành…
Ở trường Thành chung Nam Định, giáo viên và học sinh đã đấu tranh chống lại một số giáo sư phản động người Pháp xúc phạm nhân phẩm học sinh Việt Nam.Từ trong số đông học sinh, công nhân, nông dân giác ngộ cách mạng, "Đảng đã lựa chọn, kết nạp được một số đảng viên ở 16 nhà máy, trường học, đường phố, 30 xã thuộc các huyện Ý Yên, Phong Doanh, Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Mỹ Lộc, Hải Hậu có cơ sở Đảng" [19, tr 29]
Trước tình hình đó, địch tăng cường triệt phá các cơ sở cách mạng bằng nhiều thủ đoạn và biện pháp thâm độc Năm 1931, chúng tiến hành khủng bố trắng ở nhiều nơi hòng dập tắt phong trào đấu tranh cách mạng của quần
Trang 18chúng Tháng 1 - 1932, hầu hết cán bộ chủ chốt của Nam Định bị sa vào tay giặc Cuối năm 1932, một số vượt ngục cùng với số mãn hạn tù trở về địa phương đã chủ động, tích cực gây dựng lực lượng, từng bước phục hồi phong trào đấu tranh chống đế quốc
Năm 1936, Mặt trận nhân dân thắng cử ở Pháp Tháng 7 - 1937, Đảng Cộng sản Đông Dương xác định mục tiêu trước mắt của cách mạng là chĩa mũi nhọn đấu tranh vào bọn phản động thuộc địa Pháp và tay sai của chúng, đòi tự do dân chủ, cơm áo, hoà bình
Đầu năm 1937, phong trào ở nhiều nơi được phục hồi, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân trong tỉnh tiếp tục nổ ra: Từ tháng 10 - 1936 đến tháng 10
- 1937, Nam Định có 33 cuộc đấu tranh lớn, nhỏ trong đó có cuộc đấu tranh của 7.000 công nhân nhà máy Dệt ngày 3 - 2 - 1937 đòi tăng lương 25%, giảm giờ làm việc từ 12 xuống 8 giờ một ngày
Tháng 11 - 1939, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng Quán triệt chủ trương của Đảng, Tỉnh uỷ Nam Định đề ra nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân tinh thần quyết tâm chống đế quốc thực dân phản động, giải phóng dân tộc, đòi quyền lợi thiết thực cho giai cấp mình Tháng 9 - 1940, phát xít Nhật tràn vào Đông Dương, nhân dân ta "một cổ hai tròng", đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân càng điêu đứng, cơ cực Nhưng cũng chính lúc này, phong trào cách mạng lại ngày càng dâng cao khắp nước Tại Nam Định, cờ đỏ búa liềm đã tung bay trên cây gạo ở làng Trình Xuyên (huyện Vụ Bản) cạnh đường số 10 Trong nhà tù Nam Định, anh em tù chính trị đã lập chi bộ, chi uỷ và lãnh đạo đấu tranh đòi cải thiện đời sống, chống đánh đập, cúp phạt
Ngày 10 - 5 -1941 tại Pác Bó, (Cao Bằng), dưới sự chủ trì của lãnh tụ
Hồ Chí Minh, Hội nghị Trung ương VIII đã khẳng định: Trong lúc này nếu
Trang 19không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi được độc lập, tự
do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) Giữa năm 1943, Ban cán sự Đảng Nam Định được củng cố và bắt tay chỉ đạo thực hiện xây dựng các đoàn thể và lực lượng vũ trang Giữa năm 1944, đội tự vệ vũ trang thành phố Nam Định được thành lập gồm 10 người, được trang bị súng lục, gậy gộc, giáo mác, dao kiếm… Để thúc đẩy sự phát triển của phong trào, Đảng bộ Nam Định đã phân công cán bộ và tổ chức cho công nhân, học sinh
từ thành phố về nông thôn xây dựng cơ sở, tập hợp đông đảo nhân dân vào Mặt trận Việt Minh Nhiều đội tự vệ ở nông thôn được tổ chức, tập luyện
Ngày 9 - 3 - 1945, Nhật đảo chính Pháp để độc chiếm Đông Dương Trước biến động này, ngày 12 - 3 - 1945 Ban thường vụ Trung ương Đảng đã họp và thông qua chỉ thị: "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật, đề ra khẩu hiệu: "đánh đuổi phát xít Nhật, thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân" và phát động cao trào kháng Nhật Sau khi dựng nên chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim (17 - 4 - 1945), Nhật đã đưa thêm lính về xã Văn Lý (huyện Hải Hậu) và một số nơi khác để lùng bắt cán bộ, đảng viên, mua vét thóc gạo trong khi mùa màng thất bát làm cho 212.218 người Nam Định bị chết đói (tính đến hết tháng 4 - 1945) Cuối tháng 4 - 1945, Ban cán sự Đảng Nam Định đã họp ở Quần Liêu (huyện Nghĩa Hưng) để đề ra những chủ trương cụ thể như: "phát động mạnh mẽ cao trào kháng Nhật cứu nước; khẩn trương tiến hành vũ trang cho quần chúng cách mạng, xây dựng tự vệ chiến đấu, sắm sửa
vũ khí, luyện tập quân sự; thành lập đội vũ trang tuyên truyền và tập trung sự chỉ đạo đối với địa bàn nông thôn" [19, tr 36]
Ngay sau Hội nghị Quần Liêu, truyền đơn "kháng Nhật cứu nước" đã
Trang 20được rải ở nhiều xã thuộc các huyện Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Giao Thuỷ, thậm chí còn được chuyển vào các công sở, trại lính, sở chỉ huy Nhật Cờ đỏ sao vàng xuất hiện ở các chợ Cát Xuyên, Trà Trung (huyện Xuân Trường),
Cổ Lễ, Ninh Cường (huyện Trực Ninh), Hưng Lễ (huyện Nam Trực) Ở các
xã Ninh Cường, Các Môn (huyện Trực Ninh), Quần Phương (huyện Hải Hậu) Quỹ Nhất, Quần Liêu (huyện Nghĩa Hưng) đông đảo đồng bào theo đạo Thiên Chúa đã tham gia các đoàn thể cứu quốc Phong trào "Tự mua sắm vũ khí đuổi thù chung" được đông đảo bà con ở thành phố, thị trấn và các địa phương hăng hái, hưởng ứng
Nông dân thôn Nhuộng xã Yên Trung (huyện Ý Yên) đã trừng trị tên chánh bảo an ngoan cố; nông dân Thượng Đồng vạch tội lý trưởng Ở các xã Hành Thiện (huyện Xuân trường), Ngô Đồng (huyện Giao Thuỷ), chợ Bo (huyện Ý Yên), cờ và ảnh quân Nhật bị xé bỏ, cờ đỏ sao vàng được treo tại nhiều trụ sở Bảo an… Không khí chuẩn bị tổng khởi nghĩa ngày càng sôi nổi
ở mọi nơi làm cho quân địch bị rệu rã, tê liệt Trước tình hình đó, chúng đã điên cuồng khủng bố, bắt gần 100 cán bộ, đảng viên của Tỉnh uỷ và cấp uỷ
cơ sở ở các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc… Đảng bộ Nam Định lại đứng trước thử thách nặng nề
Ngày 13 - 8 - 1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh Đêm
13 - 8 - 1945, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc phát Quân lệnh số 1, lệnh khởi nghĩa lập tức được truyền đi khắp nơi trong cả nước Trưa 16 - 8 - 1945, Ban cán sự Đảng tỉnh gồm các đồng chí Tùng Giang, Việt Hùng, Phạm Ngọc Hồ, Phạm Khuê họp ở thôn Trung Lao, xã Trực Trung (huyện Trực Ninh) đã quyết định phát lệnh khởi nghĩa, trước hết giành chính quyền ở các huyện phía Nam tỉnh Đêm 16 - 8 - 1945 và sáng 17 - 8, Ban cán sự Đảng tỉnh ra lệnh giới nghiêm thôn Nam Lạng (xã Trực Tuấn), cách huyện lỵ Trực Ninh 2
km, lúc này không khí chuẩn bị khởi nghĩa rất sôi nổi ở toàn huyện, Uỷ ban cách mạng lâm thời Trực Ninh được thành lập và đã tuyên bố xoá bỏ chính
Trang 21quyền cũ, tuyên bố thành lập chính quyền mới của huyện trước đông đảo nhân dân
Sau huyện Trực Ninh là các huyện Nam Trực (18 - 8), thành phố Nam Định (19 - 8), huyện Ý Yên (20 - 8), huyện Vụ Bản (20 - 8), huyện Nghĩa Hưng (20 - 8), huyện Xuân Trường (20 - 8), huyện Giao Thuỷ (20 - 8), huyện
Mỹ Lộc (22 - 8) đã tuyên bố thành lập chính quyền cánh mạng 15 giờ ngày
21 - 8 - 1945, tại khu vực dốc Lò Trâu (thành phố Nam Định), Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Nam Định được thành lập, gồm 7 người do đồng chí Đặng Châu Tuệ làm Chủ tịch Chỉ trong 6 ngày, kể từ khi phát lệnh khởi nghĩa, chính quyền cách mạng của tỉnh Nam Định và các huyện đã được thành lập…
Trải qua nhiều thế kỷ, các thế hệ người Nam Định luôn tự hào về quê hương của mình Khi ánh sáng cách mạng chiếu dọi, nhân dân Nam Định đã nhất tề đi theo Đảng, đứng lên đấu tranh khởi nghĩa giành chính quyền về tay mình ở quê hương, cùng nhân dân cả nước lập ra một nước Việt Nam mới, một "Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập" [30, tr 557]
Ngày 23 - 9 - 1945, thực dân Pháp đã nổ súng tấn công Nam Bộ, sau
đó trắng trợn gây chiến tranh ra toàn lãnh thổ Việt Nam Hưởng ứng lời kêu gọi "Toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dân Nam Định cùng nhân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp kéo dài suốt 9 năm và cuối cùng đã giành được thắng lợi vẻ vang
1.2 LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH NHỮNG NĂM 1946 - 1951
1.2.1 Chỉ đạo thực hiện chủ trương giam chân địch trong thành phố (1946 - 1947)
Trước những hành động ngang ngược, gây chiến của thực dân Pháp, chủ trương của ta là tranh thủ hoà bình, củng cố lực lượng Thực hiện hoà hoãn
Trang 22nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới Tại Hà Nội, liền trong hai ngày 18, 19
- 12 - 1946, chúng liên tiếp gửi tới Chính phủ ta ba tối hậu thư buộc công an,
bộ đội ta phải hạ vũ khí ở thành phố Nam Định, thực dân Pháp cũng liên tiếp khiêu khích, hăm doạ nhân dân và lực lượng tự vệ của ta Chiều ngày 17 - 12
- 1946, chúng đặt súng trên xe GMC chạy dọc các phố để phô trương lực lượng, uy hiếp tinh thần của nhân dân Nam Định Ngày 18 - 12 - 1946, chúng cho lính công binh dùng xe ủi phá vật chướng ngại ở các ngã tư Cửa Đông, Máy Tơ và bến Đò Quan Chúng cướp vũ khí của tự vệ ngã tư phố Máy Tơ Chập tối 19 - 12 - 1946, lính đóng ở trường tư thục Xanh Tô ma đã kéo ra ngã
tư Cửa Đông bắn vào tự vệ Ta nổ súng cảnh cáo Chúng vin vào cớ đó đòi ta phải giải tán lực lượng tự vệ
Nhận thấy khả năng hoà hoãn không còn, nguy cơ chiến tranh không thể tránh khỏi, Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì họp ngày 18, 19 - 12 - 1946 đã quyết định: "Phát động cả nước đứng lên kháng chiến" chống lại chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp
Tối ngày 19 - 12 - 1946, theo Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra mật lệnh chiến đấu phát trên Đài tiếng nói Việt Nam: "Tổ quốc lâm nguy! Giờ chiến đấu đã đến Toàn thể bộ đội, vệ quốc quân, dân quân tự vệ Trung, Nam, Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước, tiêu diệt thực dân Pháp" [20, tr 116]
Ngày 19 - 12 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: "Hỡi đồng bào toàn quốc
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước
ta lần nữa
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Bất kỳ đàn ông, đàn bà, không chia tôn
Trang 23giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc…
Với một lòng kiên quyết hy sinh, dù phải gian lao kháng chiến thắng lợi nhất định về dân tộc ta" [31, tr 480]
Trước đó, ngày 12 - 12 - 1946, Trung ương Đảng ra chỉ thị "Toàn dân kháng chiến", nêu rõ đường lối kháng chiến của Đảng, vạch rõ mục đích của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược là giành độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc Đường lối chung chỉ đạo toàn bộ cuộc kháng chiến là: Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh
Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của Trung ương Đảng, Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường - Chinh, Tổng Bí thư của Đảng là
những văn kiện có tính chất cương lĩnh kháng chiến của Đảng, chỉ đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ; đồng thời đó cũng là ngọn đuốc soi đường, cổ vũ, động viên, hướng dẫn toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đoàn kết chặt chẽ "quyết đánh" và "quyết thắng" giặc Pháp xâm lược
Sau khi Hà Nội nổ súng mở đầu cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, mặt trận Nam Định nhận được mật lệnh tiến công của Bộ chỉ huy chiến khu II (sau là Bộ tư lệnh Liên khu III) Ban chỉ huy mặt trận cùng với Tỉnh uỷ Nam Định, đã nhanh chóng phối hợp chỉ đạo các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và các đơn vị bộ đội, tự vệ, dân quân du kích thực hiện ngay những công việc chuẩn bị cuối cùng Các cơ quan Dân, Chính, Đảng của tỉnh
và thành phố di chuyển về nông thôn Khẩu hiệu: "Tản cư là yêu nước", "Tản
cư cũng là đánh giặc" được tuyên truyền sâu rộng trong các khối phố và được đông đảo mọi nhà, mọi người hưởng ứng
Ban chỉ huy mặt trận gồm các đồng chí Đỗ Mười, Bí Thư tỉnh uỷ, Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh Nam Định, Hà Kế Tấn
Trang 24Chính trị viên trung đoàn 34, Cao Xuân Hổ, Trung đoàn trưởng trung đoàn 34
đã họp ở thôn Mỹ Trọng (ngoại thành Nam Định) để bàn bạc và thống nhất kế hoạch tác chiến của quân, dân Nam Định Ban chỉ huy mặt trận đã xác định rõ quyết tâm chủ động tiến quân bao vây quân Pháp trong nội thành Nam Định nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng,
để địa phương và cả nước có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài Lực lượng tự vệ và dân quân du kích các huyện, thành phố được điều động tăng cường sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu
Bộ phận cán bộ được phân công ở lại thành phố Nam Định đã tiến hành tuyên truyền, vận động nhân dân thành phố tản cư ra ngoài thành phố Nam Định Công an, quân báo và tự vệ thành phố cùng bộ đội các tiểu đoàn 69, 75
và đại đội trợ chiến cùng các đại đội tự vệ, dân quân du kích chiến đấu của thành phố (được bố trí xen vào các đội hình chiến đấu của các đại đội vệ quốc quân), đều sẵn sàng vào các vị trí đánh địch
Đúng 0 giờ 30 phút ngày 20 - 12 - 1946, từ trận địa bên bờ Nam bến
Đò Quan, đại đội trợ chiến bắn quả pháo 75 mm đầu tiên vào nhà Băng, báo hiệu cuộc tiến công địch trên toàn mặt trận Nam Định bắt đầu Ngay sau hiệu lệnh ấy, tất cả các cỡ súng, pháo trên khắp các trận địa ta đã nhả đạn đồng loạt vào căn cứ địch, lửa đạn bùng lên khắp thành phố Lực lượng tự vệ nổ mìn giật đổ cây to dọc đường Đinh Tiên Hoàng, đường từ ngã tư Cửa Đông đến toà Thị chính (vườn hoa khu Cột cờ) Nhân dân các khu phố có nhà lá tự châm lửa đốt nhà mình Khắp các khu phố chính, chướng ngại được dựng lên bằng giường, tủ, bàn ghế… Nhân dân cùng tự vệ lấy xe bò chở thêm đất, đá, gạch, gỗ… đổ vào những ngã ba, ngã tư làm thành chiến luỹ cản xe địch
Tại trại Ca rô, các chiến sỹ Vệ quốc đoàn và tự vệ khu I đại đội 15 (tiểu đoàn 69) đã nhanh chóng chiếm giữ một phần doanh trại địch ở phía Tây Nam, diệt gần một chục tên Ở dãy nhà Quan, các chiến sỹ đại đội 17 (tiểu
Trang 25đoàn 69) cùng tự vệ khu Năng Tĩnh đã dũng mãnh xung phong đánh chiếm hết căn nhà hai tầng này đến căn nhà hai tầng khác của địch, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều tên Đến 4 giờ sáng ngày 20 - 12 - 1946, quân ta chiếm giữ được 6 trong số 10 nhà hai tầng, dồn địch vào 4 nhà còn lại Tại nhà máy Dệt, các mũi tiến công của đại đội 9 (tiểu đoàn 75) và tự vệ khu 4 chỉ ít phút sau khi nổ súng đã tiêu diệt gần 2 tiểu đội địch ở khu vực Cần Cẩu, nhà máy
Tơ, khu nhà Băng…
Bị quân ta tấn công dồn dập, quân Pháp buộc phải co cụm lại trong các
vị trí chiếm giữ Mãi tới 8 giờ sáng ngày 20 - 12 - 1946, chúng mới cho 4 máy bay phóng pháo đến bắn phá khu vực nhà Ga Sau đó, bộ binh Pháp từ trại Ca
rô theo đường Lê Quý Đôn nống ra lấn chiếm nhà Ga nhưng đã bị quân ta đánh chặn lại Ngày 21 - 12 - 1946, với lực lượng mạnh và 2 xe tăng mở đường, quân Pháp lại nống ra lần nữa để lấn chiếm khu nhà Ga Trước hoả lực mạnh của địch, dân quân, du kích Mỹ Trọng, Mai Xá bảo vệ nhà Ga đã được lệnh rút ra vòng ngoài để thực hiện kế hoạch bao vây lại quân địch Giặc Pháp đóng ở nhà Băng bị uy hiếp mạnh Để tránh khỏi nguy cơ bị tiêu diệt, ngày
23 - 12 - 1946 chỉ huy địch ở Nam Định lệnh cho quân ở nhà Băng nổ súng lấn ra phía Cột cờ Cùng lúc, chúng thúc quân ở nhà máy Sợi vọt qua đường Máy chiếu, thọc qua trụ sở Uỷ ban nhân dân thành phố Nam Định, tiến về đường Cột cờ giúp cho quân Pháp ở nhà Băng chạy vào khu vực nhà máy Sợi Nhưng cả 2 mũi tiến công đó đều bị đánh bật trở lại vị trí xuất phát, âm mưu giải cứu của chúng ở nhà Băng không thực hiện được
Thi hành chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 23 - 12 - 1946, Uỷ ban kháng chiến tỉnh Nam Định được thành lập thay cho Uỷ ban bảo vệ, do đồng chí Đỗ Mười, Bí thư Tỉnh uỷ làm Chủ tịch Các huyện, xã cũng lần lượt thành lập các uỷ ban kháng chiến Cùng với việc tổ chức các hoạt động tiến công, bao vây quân sự chặn đứng âm mưu "đánh nhanh thắng nhanh" của địch, Tỉnh uỷ Nam Định đã chỉ đạo chặt chẽ việc giữ gìn trật tự giao thông, trị
Trang 26an xã hội, đảm bảo tốt việc tản cư dân và ngoại kiều ra ngoài, chuyển máy móc, tài sản về căn cứ, thực hiện triệt để công tác phá hoại, nhất là triệt phá các tuyến giao thông quan trọng từ thành phố đi các huyện Ngay từ lúc kháng chiến bùng nổ, các cấp uỷ, chính quyền thành phố đã chỉ đạo thực hiện việc hướng dẫn những người không có nhiệm vụ chiến đấu mà chưa kịp tản cư nay tản cư hết ra ngoài với khẩu hiệu: "Tản cư cũng là kháng chiến" Các ngoại kiều còn lại được bảo vệ tính mạng, tài sản và được tiếp tế lương thực, thực phẩm Từ thời bình chuyển sang thời chiến rất khẩn trương nhưng trật tự trị
an xã hội vẫn đảm bảo tốt, mọi người đoàn kết chặt chẽ giúp đỡ lẫn nhau làm tốt nhiệm vụ Các tầng lớp nhân dân trong tỉnh luôn luôn hướng về thành phố, sát cánh với lực lượng vũ trang cùng chiến đấu và phục vụ chiến đấu Thanh niên, công nhân tình nguyện ở lại đào thêm hào, đắp thêm ụ, đặt thêm những chướng ngại vật ở mọi nơi, phá hoại những nơi có thể có lợi cho quân địch
Nhiều bậc phụ lão đã đến nuôi dưỡng thương binh; các bà, các chị lo công việc cấp dưỡng, đưa cơm đến tận chiến hào Thiếu nhi tìm mọi cách xin
ở lại làm liên lạc hoặc tham gia canh gác giữ gìn trật tự an ninh, phòng gian bảo mật trong thành phố Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm xuất hiện, điển hình là em Phan Đỗ Hải mới 13 tuổi khi đi liên lạc, bị địch bắt đã kịp huỷ tài liệu; khi bị địch giam giữ đã cảm hoá được hai lính Pháp theo kháng chiến Em đã được Chủ tich Hồ Chí Minh khen ngợi
Nhân dân các huyện Vụ Bản, Nam Trực, Mỹ Lộc hăng hái tham gia đào đắp công sự, ổ tác chiến, giao thông hào, cắt đứt tuyến đường từ thành phố đi các nơi Hàng ngày, hàng trăm gánh rơm, rạ được chuyển vào thành phố để đánh hoả công các vị trí của địch, nhất là ở nhà Băng Hàng trăm thuyền xếp đầy đá, được đánh chìm xuống lòng sông để ngăn cản tàu địch; hàng vạn cây tre được cắm xuống sông Đào Nhiều huyện cử đội du kích vào nội thành phối hợp chiến đấu Các chiến sỹ du kích Nam Trực đã vượt sông Đào sang phối hợp chiến đấu ở khu vực nhà máy Sợi C; du kích Vụ Bản tham
Trang 27gia chiến đấu ở Đông A, Năng Tĩnh, nhà Ga Du kích Mỹ Lộc cùng du kích
Lý Nhân (tỉnh Hà Nam) phối hợp phá rối, tiêu hao lực lượng của quân địch Đêm 25 - 12 - 1946, quân ta tập kích nhà Ga, nhà Bạch Tuyết Ngày 26 - 12 -
1946, quân ta chặn đánh tàu Jắc cơ lin của Pháp trên sông Đào, diệt một tiểu đội lính áp tải, thu 3 xà lan bông, một súng đại liên và 4 súng trường Đêm 31
- 12 - 1946, quân ta tấn công lần thứ ba vào khu vực đóng quân của Pháp ở nhà máy Sợi, nhà máy Dệt, làm cho địch bị tiêu hao sinh lực và giảm sút tinh thần
Vừa tròn 12 ngày đêm chiến đấu, những chiến sỹ Vệ quốc đoàn cùng
du kích, tự vệ thành Nam liên tục tấn công địch, nêu nhiều tấm gương dũng cảm quên mình và hy sinh cao đẹp vì Tổ quốc, vì quê hương, như đồng chí Triệu Hàn, Tiểu đội trưởng, đại đội 15 hy sinh khi chiến đấu tại trại Ca rô; đồng chí Phạm Sơn, tự vệ nhà máy Sợi hai lần tình nguyện đem bom ba càng đánh nhà Băng; tự vệ Hoàng Khắc Được ở Mai Xá dũng cảm chiến đấu Tại
ga Nam Định, dân quân du kích Mai Mỹ cùng bộ đội chiến đấu ngoan cường, giành từng tấc đất, căn phòng, tầng gác với quân địch Có trận 2 chiến sỹ du kích là Phái, Thìn cùng một số tự vệ, trong tay chỉ có lựu đạn và mã tấu đã đẩy lùi nhiều đợt phản kích của giặc, bị vây chặt đã leo lên mái nhà, nhịn đói
3 ngày, 3 đêm rồi tìm cách thoát khỏi vòng vây tiếp tục chiến đấu "Cũng tại đây, 5 du kích xã Mai Mỹ là Trần Trọng Duyệt, Trần Văn Dần, Trần Huy Cung, Trần Ngọc Tiêu và Trần Hữu Tài đã anh dũng hy sinh" [20, tr 123]
Tối 5 - 1 - 1947, Ban chỉ huy mặt trận Nam Định đã họp để nhận định tình hình và bàn phương án tác chiến Đến 21 giờ, địch huy động 6 máy bay
Đa cô ta đổ quân dù và hàng tiếp tế cho các vị trí ở máy Sợi và cả khu vực Bãi Dâu (Đông An), nhà máy Chiếu (Năng Tĩnh), Cầu Gia… Lúc đầu ta đối phó có lúng túng nhưng sau ta đã đưa súng máy lên tầng cao và chiếm lĩnh bãi rộng để đánh quân dù, cướp hàng tiếp tế của địch Ở Cầu Gia, du kích và tự
vệ cùng tiểu đoàn 69 Vệ quốc đoàn đã xông ra đánh địch khi chúng vừa chạm
Trang 28đất Ở Bãi Dâu (Đông An), Máy Chiếu… du kích, tự vệ cùng Vệ quốc đoàn
đã chiến đấu ngoan cường, như tự vệ Nguyễn Thị Ca vừa cõng, cứu thương binh vừa dùng chai thuốc đập vào đầu lính dù… "Trận này quân Pháp bị chết
40 tên, ta thu hàng chục khẩu súng, hàng tấn đạn dược, thuốc men, nhiều lương thực và hàng trăm dù" [20, tr 125]
Sáng 6 - 1 - 1947, địch cho hai tàu chiến loại nhỏ, 4 ca nô chở 200 quân vượt cửa Ba Lạt tiến vào thành phố Nam Định Đến Tân Đệ, chúng để lại 1 ca
nô và cho một số quân đổ bộ lên bờ, số còn lại theo sông Đào tiến vào thành phố, vừa đi vừa bắn như vãi đạn Phối hợp với thuỷ quân, máy bay Pháp điên cuồng bắn phá các trận địa của ta Quân Pháp ở trại Ca rô, trại C nống ra khu máy Chiếu, Năng Tĩnh để phối hợp Quân ta lợi dụng tường ngăn nước dọc sông Đào và cơ động trong các hào giao thông đánh địch từ nhà máy nước, máy rượu, bến Đò Chè, bến Đò Quan đến Lò Lợn Quân Pháp ở Tân Đệ bị du kích Tân Đệ và đại đội 12 đón đánh phải chạy xuống ca nô để rút vào thành phố Để tránh hoả lực của ta, địch cho ca nô chạy dạt sang bờ Nam sông Đào, pháo của ta đã bắn chìm 1 ca nô ở Đò Quan Đến 14 giờ chiều 6 - 1 - 1947, trận chiến đấu chống địch giải toả kết thúc, ta diệt gần 100 tên lính thuỷ, bộ
và quân chiếm đóng, bắn chìm 1 ca nô
Thắng lợi đó làm cho đồng bào ở hậu phương rất phấn khởi và tăng thêm lòng tin vào kháng chiến Chiến thắng to lớn này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh điện khen ngợi
Ngày 7 - 1 - 1947, tại nhà ông Lý Lầm thôn Vĩnh Trường, xã Lộc Vượng (ngoại thành Nam Định), đã diễn ra hội nghị cán bộ trung đoàn rút kinh nghiệm qua hai ngày chiến đấu (6, 7 - 1) chống viện binh của địch Đồng chí Đỗ Mười, Hà Kế Tấn đọc điện khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tại hội nghị quân sự toàn quốc, từ 12 đến 16 - 1 - 1947, Người đã khen ngợi chiến công của quân, dân Nam Định và nêu gương: Anh dũng chống thuỷ, lục, không quân địch
Trang 29Quân Pháp bị ta bao vây chặt chỉ còn cố thủ ở trại Ca rô, nhà máy Sợi
C, nhà Băng và bị thiếu thốn mọi bề Hàng ngày, máy bay Pháp phải tiếp tế lương khô, đạn dược và cả nước uống cho địch Trên chiến trường Bắc Bộ lúc này quân Pháp được tăng viện đã đánh chiếm Quảng Yên (6 - 2 - 1947), Cẩm Giàng (10 - 2 - 1947)… Trung đoàn Thủ đô đã rút ra ngoài (17 - 2 - 1947)
Trước tình hình đó, ngày 23 - 2 - 1947, tại thôn Vĩnh Trường, xã Lộc Vượng, Ban chỉ huy mặt trận Nam Định đã họp hội nghị quân sự mở rộng do đồng chí Đỗ Mười, Bí thư Tỉnh uỷ chủ trì Hội nghị nhận định: "Sớm muộn địch sẽ giải vây cho quân của chúng ở Nam Định bằng đường sông" và đề ra chủ trương: "Xiết chặt vòng vây, tạo điều kiện tiêu hao địch trong nội thành nhiều hơn nữa Đồng thời chuyển các cơ quan về hậu phương Nhanh chóng xây dựng đội quyết tử quân Khi địch tấn công, ta chủ động đẩy mạnh công tác triệt để tiêu thổ kháng chiến và rút lực lượng vũ trang ra ngoài, chỉ để lại đội quyết tử quân làm nhiệm vụ nghi binh, quấy rối, kiềm chế tiêu hao địch" [20, tr 127]
Thực hiện chủ trương trên, quân, dân Nam Định đã xiết chặt vòng vây, tiêu hao địch Đội quyết tử gồm 100 chiến sỹ được thành lập chủ yếu là tự vệ thành được chọn sang, còn một ít là chiến sỹ Vệ quốc đoàn Ban chỉ huy đại đội gồm Đặng Văn Thiết (đại đội trưởng), Nguyễn Ngọc Lân (đại đội phó ), Nguyễn Túc (chính trị viên) Nhân dân đã chuẩn bị cho đại đội 350 tấm bánh chưng, 350 tấm bánh mật, 100 kg gạo nếp rang, hàng trăm lưỡi tầm sét để sử dụng Đại đội biên chế thành 3 trung đội: Trung đội 1 do đồng chí Khâm chỉ huy, hoạt động ở khu 5 (gồm các phố Hàng Sắt, Hàng Đồng, Cồn Vịt đến Tân Đệ), Trung đội 2 do đồng chí Sơn chỉ huy hoạt động ở khu 4 (Máy Tơ, Bến Thóc và bờ sông Đào), Trung đội 3 do đồng chí Khải chỉ huy hoạt động ở trung tâm thành phố Sau khi nắm chắc nhiệm vụ: Bám trụ trong nội thành, quấy rối tiêu hao địch và phối hợp với lực lượng của ta ở bên ngoài cùng chiến đấu khi địch giải vây, đại đội quyết tử đã khẩn trương đào hầm ngầm,
Trang 30địa đạo xuyên qua các phố, phá hoại, tiêu thổ kháng chiến Liên tiếp những ngày cuối tháng 2 - 1947, quân ta vây chặt vị trí nhà Băng, máy Sợi C, tấn công khu nhà Ga và trại Ca rô Ngày 6 - 3 - 1947, thực dân Pháp điều 1.500 quân, 120 xe cơ giới các loại, một đại đội thuỷ quân lục chiến, 2 tàu chiến, 4
ca nô và máy bay yểm trợ theo đường sông Hồng về giải vây Nam Định Trên đường đi, chúng bị du kích Lý Nhân (Hà Nam) cùng tiểu đoàn 129 chặn đánh Đến 7 giờ tối 9 - 3 - 1947, bộ binh Pháp mới tới đê Hữu Bị, giáp đường 38 (cách thành phố 7 km về phía Bắc), thuỷ quân tới Tân Đệ (cách thành phố 6
km về phía Đông) Chúng hội quân và chia làm 3 mũi: Mũi 1 theo đường 38 đánh vào thành phố; mũi 2 tắt đường 38 sang Quang Sáng, Bườn Sắc, xuống Đặng Xá theo đường 21 đánh vào thành phố; mũi 3 từ Trung Trang, Tân Đệ (Mỹ Tân) theo đường 10 (Thái Bình - Nam Định) đánh vào thành phố
Thực hiện kế hoạch đánh viện binh địch, các đơn vị của tiểu đoàn 75 cùng quân, dân huyện Lý Nhân (Hà Nam), Mỹ Lộc (Nam Định) trong hai ngày 10 và 11 - 3 - 1947 đã đánh địch tại Đại Hoàng, Hữu Bị, Đặng Xá diệt hơn 100 tên Tại thôn Trung Trang, xã Mỹ Tân huyện Mỹ Lộc, trung đội tự vệ khu 4 đã phục sẵn đón đánh địch và yểm trợ cho bộ đội rút lui Sáng 11 - 3 -
1947, một lực lượng lớn quân Pháp từ Hữu Bị, Mỹ Trung kéo xuống có xe tăng dẫn đường Cuộc chiến đấu không cân sức tại đây đã diễn ra ác liệt Các chiến sỹ ta quần nhau với địch ngoài bãi, trên mặt đê, ở rìa làng và khu vực nhà thờ, 11 chiến sỹ trong đó có Trung đội trưởng Tạ Quang Khả cùng 3 em trai đã bắn đến viên đạn cuối cùng và đã anh dũng hy sinh
Đến thời điểm này, trong nội thành phần lớn quân chủ lực của ta đã rút
ra ngoài để bảo toàn lực lượng Chỉ còn một bộ phận của tiểu đoàn 69, đại đội quyết tử và đội địch vận tiếp tục hoạt động Trưa 10 - 3 - 1947, khi tiểu đoàn
75 rút, địch mới tiến vào được nội thành Ngày 13 - 3 - 1947, tiểu đoàn 16 rút quân ra khỏi thành phố Ngày 15 - 3 - 1947, bộ phận chỉ huy cuối cùng của tiểu đoàn 69 rút khỏi thành phố, đại đội quyết tử cũng bí mật rút ra ngoài Đến
Trang 31đây cơ bản kết thúc thắng lợi cuộc chiến đấu vây hãm, giam chân địch trong thành phố
Sau 86 ngày đêm liên tục chiến đấu, quân, dân Nam Định đã kìm chế, giam chân một lực lượng lớn quân viễn chinh Pháp; đã giết và làm bị thương hơn 400 tên địch, bắt sống 6 tên, phá huỷ một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh, thu 300 dù, hàng chục tấn đạn dược của địch Cùng với Thủ đô
Hà Nội và một số thành phố, thị xã khác ở Bắc Bộ, cuộc chiến đấu của quân, dân Nam Định đã làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp, góp phần cùng cả nước có thêm thời gian củng cố và xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài Qua chiến đấu ác liệt, lực lượng ta vẫn được bảo toàn và trưởng thành Bộ đội địa phương (nhất là trung đoàn 34), dân quân, du kích có thêm nhiều kinh nghiệm chiến đấu độc lập và hỗ trợ lẫn nhau trong chiến đấu
Có được những thắng lợi trên là do Đảng bộ Nam Định đã thấm nhuần
và vận dụng một cách sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng vào hoàn cảnh địa phương Nam Định, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng và tích cực xây dựng lực lượng về mọi mặt Đảng bộ đã biết chớp thời cơ, kiên quyết, chủ động tiến công địch, biết khơi dậy, động viên và phát huy mạnh
mẽ tinh thần yêu nước và truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường của nhân dân Nam Định, tạo nên khí thế hào hùng bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, gian khổ, ác liệt ở địa phương
1.2.2 Lãnh đạo chống địch lấn chiếm, bình định, phục hồi và phát triển căn cứ du kích (1947 - 1951)
Sau khi đã chiếm được mấy thành phố trống rỗng, thực dân Pháp tiếp tục tăng viện binh Mục tiêu của Pháp lúc này là chiếm những đường giao thông chính, lập vành đai bảo vệ thành phố (sào huyệt của chúng), xúc tiến việc thiết lập bộ máy bù nhìn, tay sai, dụ dỗ nhân dân hồi cư và thực hiện chính sách "dùng người Việt đánh người Việt", "lấy chiến tranh nuôi chiến
Trang 32tranh"
Ở Nam Định, chúng đã đóng quân ở thành phố, gồm các vị trí: Vườn chay, chùa Phán Chương, Lò Lợn, trại Ca rô, Nhà thương, Nhà Thờ Sanh Tô
ma, nhà máy Sợi và âm mưu mở rộng vùng chiếm đóng theo chiến thuật "Vết dầu loang" Địch đã mở nhiều cuộc càn quét xung quanh thành phố để khủng
bố nhân dân, phá cơ sở, gây tâm lý cầu an, dụ dỗ, thúc ép nhân dân hồi cư để đẩy lực lượng của ta ra ngoài thành phố Thực dân Pháp đã tiến hành xây nhiều công trình quân sự và dân sự, phá Văn Miếu, chùa Năng Tĩnh để xây đồn cảnh sát, phá nhà dân khu Năng Tĩnh, Cổng Hậu để làm sân bay, biến nhà thờ Sanh Tô ma thành nơi đóng quân và huấn luyện quân sự, biến nhà máy Chai thành nơi giam giữ những người yêu nước Không những thế, thành phố Nam Định còn là nơi địch đóng quân cơ động, đi càn quét các vùng nông thôn Nam Định và các vùng lân cận khác "Ở đồng bằng Bắc Bộ đến giữa năm
1947 đã hình thành 3 vùng rõ rệt: Vùng tạm chiếm, vùng tranh chấp và vùng
tự do Trong vùng tạm chiếm, địch mở các cuộc hành quân càn quét các làng
xã xung quanh vị trí đóng quân, sử dụng bọn phản động trong hội tề, tập hợp bọn lưu manh xây dựng lực lượng vũ trang phản động ở cơ sở, tổ chức mạng lưới gián điệp chỉ điểm để phát hiện cơ sở của ta, tiêu diệt cán bộ, du kích" [27, tr 46]
Bọn phản động địa phương, nhất là bọn đội lốt Thiên Chúa giáo và một
số địa chủ cường hào ngóc đầu dậy, đứng ra lập tề dõng, bắt nhân dân nộp tô cho địch xây đồn bốt Từ tháng 4 - 1947, chúng chiếm thêm một số vị trí bên ngoài thành phố như Đò Quan, Vạn Diệp (Nam Phong, Nam Trực), Đệ Nhất (Mỹ Trung), Bảo Long (Mỹ Hà), Lê Xá (Mỹ Thịnh) huyện Mỹ Lộc và Xuân Mai (huyện Bình Lục, Hà Nam) Đồng thời, quân Pháp càn ra vùng tự do (15 km) để khủng bố tinh thần dân ta và để cướp lương thực, trâu bò… Ngày 19 -
3 - 1947, Chính phủ ta ký sắc lệnh bổ sung, sửa đổi một số điều khoản về Uỷ ban bảo vệ khu và tỉnh Ngày 25 - 3 có sắc lệnh về uỷ ban bảo vệ huyện, xã
Trang 33Cơ quan chính quyền xã gọi là uỷ ban hành chính kiêm kháng chiến, Chủ tịch
uỷ ban nhân dân xã gọi là Chủ tịch uỷ ban hành chính kiêm kháng chiến xã
Tháng 3 - 1947, Bộ tổng chỉ huy Quân đội quốc gia đổi tên thành Bộ tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và dân quân tự vệ; thành lập các tỉnh đội, huỵện đội, xã đội trực thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp Ngày 20 - 4 - 1947, Ban chỉ huy tỉnh đội Nam Định được thành lập Đến cuối tháng 4 - 1947, cơ quan quân sự các huyện, thành phố được tổ chức và đi vào hoạt động nhằm phát động quần chúng tham gia, xây dựng dân quân du kích, phát triển lực lượng Việt Minh trong vùng tạm chiếm Tháng 5 - 1947, Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất họp để thống nhất việc tổ chức dân quân tự vệ và du kích trên phạm vi cả nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới Hội nghị và nhấn mạnh: "Dân quân, tự vệ và du kích là lực lượng toàn dân tộc, là lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc Vô luận kẻ địch hung bạo đến thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã" [28, tr 174]
Song song với hoạt động lấn chiếm để mở rộng vành đai thành phố, thực dân Pháp còn tiến hành lập bộ máy cai trị để đàn áp nhân dân Chúng thành lập các toà Đốc lý, Sở cẩm, Sở mật thám liên bang (phụ trách 4 tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình), Kho bạc, Công chính… "Riêng ở thành phố Nam Định có tới 30 cơ quan trong bộ máy cai trị Thực dân Pháp tăng cường tuyên truyền, lôi kéo nhân dân hồi cư Đến tháng 9 - 1947, ở thành phố Nam Định có khoảng 1.000 người Việt Nam và 870 Hoa kiều Ngày 11 -
9 - 1947, chúng mở lại chợ Rồng, nhưng việc mua bán vẫn lẻ tẻ thưa thớt" [3,
tr 249]
Trước tình hình đó, Tỉnh uỷ Nam Định đã xác định trách nhiệm của Đảng bộ và nhân dân Nam Định là đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thu nhiều thắng lợi hơn nữa với 5 nội dung cơ bản là:
- Phát triển chiến tranh du kích, kiềm chế, tiêu hao địch, chống địch lấn
Trang 34chiếm, phục hồi cơ sở vùng địch hậu
- Mở rộng khối đoàn kết toàn dân, tranh thủ giáo dân, trấn áp bọn phản cách mạng
- Ra sức xây dựng cơ quan quân sự và lực lượng vũ trang địa phương
- Xây dựng hậu phương, quan tâm đến đời sống quần chúng, đẩy mạnh sản xuất, thực hiện nền kinh tế tự cấp, tự túc
- Ra sức phát triển Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực công tác
Tỉnh uỷ Nam Định đã quyết định hợp nhất Uỷ ban kháng chiến với Uỷ ban hành chính thành Uỷ ban kháng chiến hành chính Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, trung đoàn 34 rút ra khỏi thành phố Nam Định chỉ để lại đại đội
11 hoạt động ở Mỹ Lộc (vùng tạm chiếm), đại đội 77 và đại đội 36 về hoạt động ở vùng tạm chiếm Nam Trực, Vụ Bản Với tư cách là các đại đội độc lập, các đơn vị này có nhiệm vụ dìu dắt lực lượng dân quân, du kích từ chỗ chỉ làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ xóm làng tiến tới tự động đánh địch
Năm 1947, ở Nam Định có 40 trận đánh của dân quân du kích, tiêu biểu là du kích Mai Mỹ, xã Mỹ Thành, huyện Mỹ Lộc Chiến tranh du kích phát triển đã ngăn chặn một phần hoạt động của địch, tạo điều kiện cho cán
bộ của ta đi vào tuyên truyền, giáo dục quần chúng, phục hồi cơ sở Đặc biệt phát triển du kích chiến ngay trong vùng địch kiểm soát và ngay trong thành phố mà địch tạm thơì làm chủ, vừa tiêu hao, vừa tiêu diệt địch
Tại các vùng tạm chiếm, trước sự khủng bố của giặc, tuy có một bộ phận nhỏ nhân dân dao động, hoang mang còn đại bộ phận nhân dân rất tin tưởng vào kháng chiến và Chính phủ Nhiều người đã tích cự giúp đỡ, bảo vệ
bộ đội và cán bộ hoạt động, nằm vùng Vì vậy, dần dần phong trào quần chúng vùng tạm chiếm đã được phục hồi "Năm 1947 ta đã phá được 15 ban
tề, đem du kích tập kích vào làng có hội tề phản động, tước súng lính dõng và bắt nhân viên hội tề, làm cho cả bọn hội tề phản động khác hoang mạng lo sợ"
Trang 35[38, tr 12]
Trong một đêm tháng 10 - 1947, du kích xã Mỹ Tân (ngoại thành Nam Định) đã đột nhập bắt sống cả ban hội tề của 2 làng Phù Long và Hữu Long, thu 5 súng trường, sau đó lại đột nhập làng Trung Trang bắt sống tên Phó lý
và thuyết phục Lý trưởng làng Tân Đệ ra thú tội; đồng thời ta đã vận động nhân dân trong làng có hội tề tranh đấu bằng những hình thức:
- Bí mật tản cư đi chỗ khác
- Làm việc chiếu lệ nếu bị bắt ép (lãn công)
- Trốn lính, trốn phu
- Gây áp lực (dùng biểu tình) bắt hội tề yêu cầu Pháp miễn việc đi phu,
đi lính, nộp thực phẩm, xoá thuế hay giảm thuế [38, tr 13]
Nhân dân các vùng bị địch uy hiếp đã triệt phá cầu, đường, đắp ụ ngăn
xe cơ giới của địch, thực hiện vườn không nhà trống khi địch tới Các xã Liên Minh, Liên Phương, Lê Lợi, Bảo Xuyên, Cốc Thành, Thanh Côi (huyện
Vụ Bản) phá sập 6 cầu, đánh đổ 70 cột điện, bóc 3.500 mét đường sắt trên đường 12; đường 10 cứ 50 mét lại đắp một ụ đất để cản xe địch Toàn tỉnh đã đắp 9.954 ụ đất, đào 35.768 hố hoả mai và hố tránh máy bay, đào 55 km giao thông hào [3, tr 251] "Riêng nhân dân các làng, xã Liên Minh (Vụ Bản) đã gánh hàng trăm gánh rạ, rơm phối hợp với các xã bạn đốt cháy 3 nhà ga, đắp
200 ụ đất, đào 100 ổ gà trên đường 10" [6, tr 105]
Việc rào làng kháng chiến cũng được tiến hành ở một số địa phương như Đại An, Phú Hào (Nam Trực), Dịch Diệp, Cát Trung (Trực Ninh), Thượng Đồng, An Lạc (Ý Yên), Lạc Châu, Hành Thiện (Xuân Trường), Quả Linh, Hào Kiệt (Vụ Bản) Thực hiện chủ trương "thôn trang chiến", xây dựng làng chiến đấu, các thôn Lương - Hào Kiệt và một số xóm ở Đống Xuyên, Tam Hoà đã vót tre rào làng, trồng thêm các cụm tre ở những nơi trống trải, tạo thành hàng trăm mét bờ rào đơn, kép và hàng chục các cổng làng Chỉ trong vòng 7 ngày, nhân dân đã đóng góp 17.870 cây tre để rào làng và vót
Trang 36nhọn cắm xuống cánh đồng chống địch nhảy dù, đào 7.190 mét giao thông hào tạo thành khu vực chiến đấu liên hoàn Đây là xã có làng chiến đấu sớm ở đồng bằng Bắc Bộ [6, tr 112]
Thực hiện nghị quyết Hội nghị cán bộ Đảng lần thứ hai (4 - 1947), tháng 5 - 1947 Tỉnh uỷ Nam Định đã đổi Uỷ ban dân quân tỉnh thành tỉnh đội dân quân, lập các huyện, xã đội dân quân Các đội du kích xã, huyện được xây dựng Đến cuối năm 1947, lực lượng du kích tập trung đã có 525 người,
có 2 đại đội thoát ly: C195 ở Nam Trực, C115 ở Mỹ Lộc Tại các huyện phía Nam tỉnh, mỗi huyện có một trung đội thường trực trên dưới 30 người Tỉnh
uỷ đã chú trọng chỉ đạo công tác huấn luyện và trang bị vũ khí cho dân quân
du kích, phát động phong trào quân sự hoá toàn tỉnh Lúc này là lúc các ban xung phong công tác, các đội vũ trang tuyên truyền, các đại đội độc lập, các đội biệt động bên cạnh các đội dân quân xã, các đội du kích tập trung càng phải hoạt động ráo riết, mở rộng và củng cố cơ sở du kích trong lòng địch Sự hoạt động trong lòng địch cần phải gan dạ, phải kịp thời nhưng lại cần phải thận trọng, tránh manh động Kiên quyết và gấp rút gây cơ sở du kích trong các vùng chiến lược và kinh tế quan trọng, những vùng mà địch sẽ ra sức củng cố, phát triển chiến tranh… [39, tr 85]
Một trong những thủ đoạn quen thuộc rất thâm độc, xảo quyệt của thực dân Pháp là chính sách chia để trị, dùng người bản xứ trị người bản xứ Chúng triệt để lợi dụng giáo dân, hà hơi tiếp sức cho bọn phản động trong đạo Thiên Chúa cùng bọn cường hào phản động Tháng 4 - 1947, Pháp phái Hoàng Quỳnh (tên phản động khét tiếng đội lốt thầy tu) từ Phát Diệm (Ninh Bình) sang Bùi Chu (Nam Định) để thực hiện âm mưu này Hoàng Quỳnh đã
đi nhiều xứ đạo để tập hợp lực lượng, tổ chức, huấn luyện thanh niên công giáo diệt cộng, đào tạo bọn đầu sỏ phản động, tổ chức Việt Nam quốc dân Đảng, Đại Việt duy tân, Mặt trận liên tôn chống cộng, tổ chức bán tín phiếu chống cộng lấy tiền mau sắm vũ khí, thúc ép thanh niên tham gia lực lượng tự
Trang 37vệ công giáo chống chính quyền địa phương
Tại Hải Hậu, ngày 21 - 5 - 1947 chúng cướp 50 vạn đồng của Ty thuế quan Văn Lý, đầu tháng 7 chúng thúc ép giáo dân Xương Điền, Văn Lý biểu tình chống thuế muối Ngày 25 - 7 - 1947 Vũ Đức Khâm ở nhà thờ Đông Biên ngang nhiên cho tay chân bắt phó chủ tịch xã Quần Phương, tập hợp giáo dân
để hỏi tội Tháng 9 - 1947 chúng gây ra vụ bạo loạn Xuân Hà - Tang Điền Bọn phản động còn kích động, thúc ép giáo dân 8 xã xung quanh biểu tình, rào làng canh gác, bắt cán bộ ta sau đó phát triển sang An Bài - An Đại - An Nghĩa… [4, tr 66]
Sau khi cuộc bạo loạn Xuân Hà - Tang Điền xảy ra, được sự chỉ đạo trực tiếp của Liên khu uỷ và Tỉnh uỷ, ngày 5 - 9 - 1947 hai trung đội bộ đội địa phương và một đại đội du kích được điều về tuyên truyền giải thích đường lối chính sách của Chính phủ, vận động giáo dân biểu tình, trừng trị những tên hung hãn nhất, bắt những tên đầu sỏ, gian ác, tước khí giới của chúng.Vụ bạo loạn nhanh chóng bị dập tắt (đã bắt 30 tên, xử tử 3 tên, giam giữ 15 tên, riêng Hoàng Quỳnh bị đuổi về Phát Diệm)
Tháng 6 - 1947, Tỉnh uỷ Nam Định đã phát động phong trào thi đua sản xuất để ổn định đời sống nhân dân và góp phần nuôi quân đánh giặc Kết quả
vụ chiêm 1947 đã cấy được 238.000 mẫu lúa, thu 110.000 tấn thóc; vụ mùa
1947 cấy 142 mẫu ruộng, sản xuất muối năm 1947 là 22.543.456 tấn, đã vận chuyển 10 tấn muối đi giúp các tỉnh Hà Đông, Thái Bình, Việt Trì, Ninh Bình
… Cuối năm 1947, theo chủ trương của Tỉnh uỷ, các địa phương đã tổ chức cho nhân dân hồi cư kết hợp với việc xây dựng cơ sở vùng địch tạm chiếm
Tháng 12 - 1947, Đại hội đại biều Đảng bộ Nam Định được tổ chức tại chợ Lương (xã Hải Anh, Hải Hậu) có 109 đại biểu Đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bí thư khu uỷ II và đồng chí Trần Đăng Ninh, phụ trách Đặc uỷ đoàn của Chính phủ về dự Đại hội đã kiểm điểm, đánh giá công tác lãnh đạo của Đảng bộ qua một năm kháng chiến và đề ra nhiệm vụ cho giai đoạn tới, bầu
Trang 38Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 11 người, đồng chí Hoàng Văn Tiến được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ
Qua một năm kháng chiến, quân và dân Nam Định đã giành được những thắng lợi bước đầu về các mặt chiến đấu và xây dựng hậu phương, về phát triển chiến tranh du kích và hình thành lực lượng vũ trang 3 thứ quân… Trước tình hình ngày càng bất lợi, thực dân Pháp đã đẩy mạnh chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh nhằm mau chóng kết thúc cuộc chiến tranh Với âm mưu này, ngày 7 - 10 - 1947 thực dân Pháp đã mở cuộc tiến công lên Việt Bắc "Mục đích cuộc hành binh là tóm gọn cơ quan lãnh đạo tối cao của ta, tiêu diệt bộ đội chủ lực, phá tan căn cứ địa kháng chiến nhằm mau chóng kết thúc chiến tranh" [1, tr 110]
Ngày 15 - 10 - 1947, Trung ương Đảng ra chỉ thị: Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp và vạch rõ nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là làm cho địch thiệt hại nặng nề không gượng lại được, đánh mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung, Nam Bộ, giam chân địch tại mấy căn cứ vừa chiếm
Thi hành chỉ thị của Trung ương Đảng, Đảng bộ Nam Định đã phát động quần chúng phá đường giao thông quanh nơi địch đóng quân, đắp các con trạch dài ở một số đê để cản trở sự hoạt động của xe cơ giới địch, quấy rối phục kích, quét tề, trừ gian ở vùng tạm bị chiếm… Mỗi gia đình đều có Hũ gạo kháng chiến và phong trào mùa Đông binh sỹ được tổ chức với khẩu hiệu: Mỗi làng 2 áo trấn thủ, 2 chăn cho bộ đội Toàn tỉnh đã góp 1.000 chăn và quần áo, 30.000đ ủng hộ quỹ mùa Đông binh sỹ Riêng thôn Ân Phú, Văn Giáo (Nghĩa Hưng) ủng hộ quỹ 3.000đ được Bác Hồ gửi thư khen ngợi
Qua 75 ngày, đêm chiến đấu anh dũng của quân và dân ta ở Việt Bắc, cuộc tiến công đại quy mô của thực dân Pháp đã bị thất bại thảm hại Ngày 22
- 12 - 1947, Pháp phải rút quân khỏi Việt Bắc Sau thất bại ở Việt Bắc, thực dân Pháp phải từ bỏ chiến lược đánh nhanh thắng nhanh, đưa quân về càn
Trang 39quét, bình định ở vùng đồng bằng Tại Nam Định, chúng mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhỏ nhằm phá cơ sở, cướp bóc của cải, phá hoại kinh tế của ta,
ra sức củng cố nguỵ quyền, tăng cường nguỵ quân, mở rộng chiếm đóng theo kiểu "vết dầu loang" Tháng 4 - 1948, địch chiếm Báo Đáp, Gia Hoà, Vô Hoạn, Thương Hữu, Quy Phú, Cổ Gia (huyện Nam Trực), An Duyên, Lập Thành, Trung Phu, Trình Xuyên (huyện Vụ Bản) Đến tháng 10 - 1949, chúng chiếm được 200 km2
các vùng nông thôn xung quanh thành phố, thiết lập vành đai từ đường Vàng (Nam Trực) đến Trình Xuyên (Vụ Bản), Tân Đệ (Mỹ Lộc) nhằm bảo vệ thành phố Nam Định Chúng còn ra sức tuyển mộ nguỵ quân, tích cực thực hiện chính sách "dùng người Việt trị người Việt", lập tề, dõng để bình định vùng chiếm đóng, (đến cuối năm 1948 địch đã lập tề ở 125 làng/130 làng của cả tỉnh) và tổ chức các cuộc hành quân thọc sâu ra vùng tự
do, nhằm gây hoang mang trong nhân dân, kích động bọn phản động ở địa phương chống lại ta
Được sự dìu dắt của các đại đội độc lập 36, 37 và đội tuyên truyền vũ trang, phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh mẽ đã hạn chế những hoạt động sục sạo của địch, ngăn chặn bọn phản động lập tề, dõng Trong nửa đầu năm 1948 dân quân, du kích Nam Định đã đánh 306 trận, phối hợp với bộ đội đánh 57 trận, diệt 173 tên, làm bị thương 50 tên, tổ chức 10 cuộc tuyên truyền vũ trang, phá 15 ban tề [3, tr 256]
Ngoài những hoạt động quấy rối hàng ngày, du kích còn có các trận đánh mìn, phục kích ở Đỗ Xá (Nam Trực), Trình Xuyên (Vụ Bản), ngã sáu Năng Tĩnh (thành phố Nam Định) Từ tháng 6 - 1948 đến tháng 12 - 1948 dân quân du kích đã tổ chức đánh 110 trận trong đó có 51 lần quấy rối, 21 lần phục kích, 19 trận đột kích, 19 trận diệt tề trừ gian, phối hợp với bộ đội tấn công địch 18 trận [3, tr 265] Trong báo cáo tổng kết phong trào dân quân du kích năm 1948, Bộ tư lệnh Liên khu III đã nhận xét: Đặc biệt nhất có tỉnh Nam Định, tuy không có điều kiện đánh xe lửa, nhưng đứng về mặt hoạt
Trang 40động, Nam Định được xếp hạng nhì trong liên khu, đặc biệt chiến thuật quấy rối là chiến thuật sở trường nhất của dân quân, du kích Nam Định
Đầu năm 1949, Tỉnh uỷ Nam Định đã mở hội nghị tổng kết kinh nghiệm công tác vùng địch hậu và đề ra chủ trương xây dựng lực lượng tự
vệ, du kích, thực hiện khẩu hiệu: Bám lấy giặc đánh giặc, xây dựng cơ sở, tiến tới đánh vào nội thành giữ vững chính quyền… Tháng 3 - 1949, Hội nghị Tỉnh uỷ mở rộng đề ra chủ trương chuyển hướng mọi mặt theo yêu cầu tích cực cầm cự chuẩn bị phản công Tháng 7 - 1949, Hội nghị đại biểu toàn tỉnh
mở rộng lần thứ IV đã đề ra 5 nhiệm vụ là: Chú trọng củng cố Đảng hơn là phát triển Đảng; xây dựng mặt trận, phát triển phong trào vùng tạm chiếm và vùng đồng bào theo đạo; dân chủ hoá và cách mạng hoá bộ máy chính quyền; kiện toàn du kích tập trung, phát triển du kích xã; động viên phong trào thi đua lập thành tích… Hội nghị bầu Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 15 uỷ viên, Ban thường vụ gồm 5 uỷ viên do đồng chí Trần Xuân Bách làm Bí thư Tỉnh uỷ
Thực hiện nghị quyết của Tỉnh uỷ, những hoạt động của du kích như quấy rối, phục kích, đột kích, đánh địa lôi trên các đường giao thông… đã phát triển mạnh mẽ, như tập kích vào An Thuần (Nam Trực) tháng 2 - 1949, Đồn Thự, Dương A tháng 6 - 1949, chợ Viềng (Mỹ Lộc) tháng 8 - 1949 Đó cũng là để thực hiện nghị quyết của Hội nghị cán bộ trung ương về cương quyết chuyển sang du kích vận động chiến Giành quyền chủ động về chiến thuật… dùng những đội dân quân du kích thật gan dạ và khôn khéo, quấy nhiễu, du kích đánh tỉa cho địch hao mòn Dùng những đội quân đặc biệt tích cực và linh hoạt thừa lúc thuận tiện, tiến thật nhanh và sâu vào vùng địch kiểm soát, đánh chớp nhoáng, tiêu diệt địch rồi rút lui thật nhanh ra khỏi vùng địch kiểm soát…
Sau những hoạt động của ta, địch điên cuồng tập trung đối phó.Trong 6 tháng đầu năm 1949, chúng đã mở 96 cuộc càn quét trong đó có 63 cuộc càn