1.3.2 Loại hình, số lượng và nội dung tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại tại Việt Nam 32 hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế tại Vi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ANH THƯ
KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU
LƯU TRỮ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI
VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LƯU TRỮ VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
Trang 2MỤC LỤC
Trang
A PHẦN MỞ ĐẦU
B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI
TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
giao văn hoá
14
trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế
20
đổi mới và hội nhập quốc tế
20
Nam hiện nay
21
hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế
30
ngoại-kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
30
Trang 31.3.2 Loại hình, số lượng và nội dung tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt
động văn hoá đối ngoại tại Việt Nam
32
hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế tại Việt Nam
38
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ
PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
văn hoá đối ngoại
42
động văn hoá đối ngoại trong thời gian qua tại Việt Nam
48
ấn phẩm tuyên truyền về Việt Nam
48
công chúng và bạn bè quốc tế
51
người Việt Nam với bạn bè quốc tế
55
ngành về đất nước, con người, văn hoá Việt Nam trên các tạp chí khoa học có uy tín của Việt Nam và của các nước bằng tiếng nước ngoài, các bưu thiếp, bưu ảnh, tem bưu chính…
58
quan lưu trữ là điểm đến văn hoá của du khách trong và ngoài nước
59
Trang 42.3 Những ưu điểm và tồn tại trong việc khai thác, sử dụng tài liệu
lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại tại Việt Nam thời gian qua
60
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại thuộc
Đề án chiến lược Ngoại giao văn hoá
65
liệu lưu trữ
67
liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại
71
viên chức chuyên môn
72
tài liệu lưu trữ
74
điểm đến văn hoá của du khách trong và ngoài nước
78
Trang 53.10 Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ khai thác, sử dụng tài liệu
lưu trữ
80
phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại
81
3.11.1 Công bố, giới thiệu tài liệu và sử dụng tài liệu lưu trữ để biên
soạn sách, sách ảnh, ấn phẩm truyền thống, ấn phẩm điện tử giới thiệu về đất nước, con người, văn hoá Việt Nam
81
tuyến tài liệu lưu trữ tài liệu lưu trữ để giới thiệu về Việt Nam tới bạn bè quốc tế
82
3.11.3 Sử dụng phim tài liệu, tư liệu để giới thiệu về đất nước, con
người Việt Nam với bạn bè quốc tế
82
3.11.4 Sử dụng tài liệu lưu trữ trong các bài viết chuyên khảo, chuyên
ngành về đất nước, con người, văn hoá Việt Nam trên các tạp chí khoa học có uy tín của Việt Nam và của các nước bằng tiếng nước ngoài và xây dựng các sản phẩm văn hoá lưu trữ
83
3.11.5 Sử dụng tài liệu lưu trữ trong các cơ sở du lịch, chương trình
quảng bá du lịch với cộng đồng quốc tế và đưa chương trình tham
quan kho lưu trữ vào các chương trình du lịch
85
chức quốc tế và các nước để giới thiệu Việt Nam với bạn bè và các đồng nghiệp quốc tế
85
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001- văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất về lưu trữ đã khẳng định “tài liệu lưu trữ là di sản của dân tộc, có giá trị đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” Bởi vậy, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các cơ quan lưu trữ Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến hoạt động phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ thông qua việc ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, quản
lý, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ quốc gia như: Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001, Nghị định số 111/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08 tháng 4 năm 2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia, Chỉ thị số 05/2007/CT-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ… Do đó, vị trí của công tác lưu trữ ngày càng được khẳng định, thủ tục khai thác ngày càng thuận lợi, hình thức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ ngày càng đa dạng, đáp ứng các nhu cầu của xã hội và công dân để giá trị của tài liệu lưu trữ được phát huy trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao
Trong thời đại hội nhập, quốc tế hoá, toàn cầu hoá hiện nay, các quốc gia thường thông qua con đường văn hoá như: phim ảnh, sách báo và các chương trình trao đổi văn hoá để quảng bá hình ảnh đất nước, con người, các nét văn hoá đặc sắc, độc đáo, cái đẹp đẽ, nhân bản nhất của dân tộc với quốc tế nhằm thúc đẩy sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau, hợp tác cùng phát triển đồng thời có thể tiếp biến, nâng cao, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thời đại và tránh sự
va chạm giữa các nền văn minh, sự mâu thuẫn trong cọ xát văn hoá mỗi dân tộc, quốc gia Do vậy, Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo, thực hiện văn hoá đối ngoại nhằm mục đích “góp phần giới thiệu, tuyên truyền về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời tiếp thu
có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại”
Trang 7Việc nghiên cứu về văn hoá đối ngoại là công việc liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực xã hội, đặc biệt là ngành ngoại giao, ngành văn hóa… nhằm tổng kết và đúc rút những bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển bản sắc văn hoá của nhân dân Việt Nam, đồng thời có thể giới thiệu với
bè bạn thế giới, với cộng đồng người Việt Nam các thế hệ ở nước ngoài về nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc của quê hương mình
Vì vậy, có thể nói việc nghiên cứu và triển khai văn hoá đối ngoại không chỉ
có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa cả về mặt thực tiễn Đây là nhiệm vụ của nhiều ngành khoa học, trong đó có ngành khoa học lưu trữ Do vậy, thông qua
đề tài này, chúng tôi muốn trình bày một khía cạnh quan trọng khác là sử dụng nguồn thông tin tài liệu quý giá sẵn có của các cơ quan, tổ chức và cá nhân (tài liệu lưu trữ) để giới thiệu với bạn bè quốc tế về một Việt Nam đa dạng về văn hoá, anh hùng trong chiến đấu, năng động và cởi mở trong đổi mới và hội nhập để bạn bè quốc tế hiểu về Việt Nam, tăng cường hợp tác và giao lưu với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực và các mối quan hệ của đời sống, đồng thời nâng cao nhận thức của xã hội
về công tác lưu trữ, giá trị của tài liệu lưu trữ và tăng cường mối quan hệ giữa các hoạt động lưu trữ và hoạt động văn hoá, nhằm hướng tới mục đích cuối cùng của công tác lưu trữ là “phát huy giá trị tài liệu lưu trữ” phục vụ cuộc sống
Trước thực trạng hoạt động văn hoá đối ngoại là nhiệm vụ chính trị, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế cũng như tiềm năng đặc biệt, đa dạng
và phong phú của tài liệu lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức, việc nghiên cứu và sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại ở Việt Nam là việc làm
thật sự cần thiết và có ý nghĩa, chúng tôi chọn vấn đề: "Khai thác, sử dụng tài liệu
lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập
quốc tế" làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu chính của đề tài là khảo sát về tình hình sử dụng tài liệu lưu trữ và đề xuất các giải pháp nhằm khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
Trang 8Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã nêu trên, Đề tài có nhiệm vụ:
Thứ nhất, khẳng định được giá trị của tài liệu lưu trữ trong hoạt động văn hoá
đối ngoại
Thứ hai, nghiên cứu khái quát nguồn, các loại hình tài liệu lưu trữ đang bảo quản
tại các cơ quan lưu trữ và các cơ quan, tổ chức có thể phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại
Thứ ba, đánh giá thực tiễn về khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ động
văn hoá đối ngoại trong thời gian qua của các cơ quan, tổ chức
Thứ tư, đề xuất các giải pháp và biện pháp tổ chức việc khai thác, sử dụng tài
liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là: thông qua việc tìm hiểu các biện pháp triển khai văn hoá đối ngoại trong thời gian qua, các hình thức khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ, các nguyên tắc, thủ tục, phương pháp của việc khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ và triển khai văn hoá đối ngoại để triển khai thực hiện các mục tiêu mà Đề tài đã đặt ra
4 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về việc triển khai văn hoá đối ngoại trong thời kỳ đổi mới
và hội nhập quốc tế, do vậy, chúng tôi xác định thời gian nội dung của triển khai văn hoá đối ngoại và khai thác tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại
từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mới (năm 1986) cho đến nay
Căn cứ vào mục tiêu, mục đích của từng trường hợp đối ngoại, các cơ quan, tổ chức có thể lựa chọn tài liệu lưu trữ từ cơ quan mình và các cơ quan khau nhau (trong và ngoài nước) thông qua các hình thức khác nhau để thực hiện nội dung công việc cụ thể, ví dụ có thể tổ chức triển lãm hoặc xuất bản các sách ấn phẩm trong nước và cả tại nước ngoài, bằng tiếng Việt hoặc bằng cả các ngôn ngữ khác Nội dung vấn đề nghiên cứu của Đề tài là trên cơ sở phân tích về tài liệu lưu trữ, về văn hoá đối ngoại, thấy được giá trị của tài liệu lưu trữ với hoạt động văn hoá đối ngoại, từ đó đánh giá thực tiễn về khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ
Trang 9động văn hoá đối ngoại trong thời gian qua của các cơ quan, tổ chức để đề xuất các giải pháp nhằm tổ chức việc khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại có hiệu quả trong thời gian tới
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ là mục đích cuối cùng của công tác lưu trữ,
do đó, đã có nhiều hội nghị, hội thảo, đề án, đề tài nghiên cứu khoa học của Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước; luận văn, khoá luận, báo cáo khoa học của sinh viên Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng; bài viết trên Tạp chí Văn thư, Lưu trữ Việt Nam về lý luận, thực tiễn khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ như: báo cáo “Nghiên cứu quan hệ đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1945-1975 qua tài liệu lưu trữ” của PGS.TS Phạm Quang Minh, đề tài “khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975
ở bậc Trung học Phổ thông” của Nguyễn Thuỳ Trang (2009), hội thảo khoa học
“Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (năm 2008); “Khai thác và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn” của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2009)…
Tuy nhiên, qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm trên chúng tôi thấy rằng các tác giả mới đề cập đến việc khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ trong các hoạt động giáo dục, nghiên cứu lịch sử và các ngành khoa học xã hội và nhân văn, thực sự chưa có nhiều tác giả đề cập đến việc sử dụng những tư liệu, tài liệu lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức nói chung cơ quan lưu trữ nói riêng nhằm phục vụ công tác đối ngoại Có thể khẳng định rằng, chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể nào về khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại ở Việt Nam
6 Nguồn tài liệu tham khảo
Để thực hiện đề tài, chúng tôi tham khảo những nguồn tài liệu sau:
Một là, hệ thống các văn bản của Đảng và Nhà nước về tổ chức khai thác, sử
dụng tài liệu lưu trữ như: Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001, Nghị định số
Trang 10111/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành chi tiết một số điều của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia, Chỉ thị số 05/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ, Quy định số 212-QĐ/TW ngày 16 tháng 3 năm 2009 của Ban Chấp hành Trung ương giải mật tài liệu của các cơ quan, tổ chức trước khi nộp lưu vào Kho Lưu trữ Trung ương Đảng và tài liệu của Kho Lưu trữ Trung ương Đảng, quy trình giải mật tài liệu lưu trữ, quy trình khai thác tài liệu lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ quốc gia của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
Hai là, hệ thống các văn bản của Đảng và Nhà nước về hoạt động văn hoá
đối ngoại và ngoại giao văn hoá như: Chỉ thị số 4252/2008/CT-BNG của Bộ Ngoại giao về việc tăng cường công tác Ngoại giao văn hoá tạo động lực mới cho ngoại giao Việt Nam trong tiến trình Hội nhập quốc tế
Ba là, các sách, giáo trình, ấn phẩm về công tác lưu trữ: giáo trình “Lý luận
và thực tiễn công tác lưu trữ”; sách chỉ dẫn các phông lưu trữ bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, II, III; sách giới thiệu tài liệu lưu trữ theo chuyên đề như:
“Nguồn tài liệu lưu trữ ảnh về cuộc kháng chiến chống Pháp”, “Lịch sử Hà Nội qua tài liệu lưu trữ”
Bốn là, các sách và giáo trình và công trình nghiên cứu, các tài liệu đã được
công bố, các bài đăng tải trên các báo, tạp chí viết về văn hoá đối ngoại như: cuốn
“Một số vấn đề về quản lý nhà nước kinh tế, văn hoá, giáo dục trên thế giới và Việt Nam” của PGS.TS Lê Thanh Bình hay cuốn “Ngoại giao và công tác ngoại giao” của PGS TS Vũ Dương Huân (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2009) giúp chúng tôi cái nhìn tổng quát và toàn diện về công tác văn hoá đối ngoại, các hoạt động phối hợp của các ban ngành có liên quan trong việc phát triển và nâng cao nhận thức cũng như hiệu quả của hoạt động văn hoá đối ngoại
Năm là, các loại tài liệu lưu trữ hiện đang bảo quản tại các cơ quan lưu trữ
và các cơ quan tổ chức như: các trung tâm lưu trữ quốc gia, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao
Sáu là, các công trình nghiên cứu khoa học (đề tài nghiên cứu khoa học, khoá
luận, luận văn), kỷ yếu hội nghị, hội thảo về khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ
Trang 11Bảy là, các bài viết trên báo, tạp chí, internet về giá trị của tài liệu lưu trữ và
khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ trong các hoạt động văn hoá và văn hoá đối ngoại
Tám là, các bài công bố, giới thiệu về tài liệu lưu trữ, giá trị của tài liệu lưu trữ
đăng trên Tạp chí Văn thư, Lưu trữ Việt Nam, Tạp chí Dấu ấn thời gian, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Tạp chí Xưa và Nay, Báo Nhân dân, Báo An ninh thế giới,…
Chín là, các trang thông tin điện tử của: Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước; Bộ
Ngoại giao, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, Lưu trữ Quốc gia một số nước: Mỹ, Anh, Singapore, Malaysia, Austraylia
7 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chúng tôi tiến hành nghiên cứu Đề tài với các phương pháp cụ thể sau:
Với mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi xác định nguồn, nội dung tài liệu tham khảo có liên quan đến Đề tài cần thu thập và tiến hành xử lý tài liệu Thông qua việc phân loại, nghiên cứu tài liệu tham khảo theo từng vấn đề và lựa chọn những nội dung có giá trị trong tài liệu tham khảo để đưa vào Đề tài bằng phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng trong cả ba chương của Đề tài, cụ thể là:
Tại Chương 1, phương pháp này được sử dụng để phân tích khái niệm tài liệu lưu trữ, nội dung, loại hình và giá trị của tài liệu lưu trữ; đánh giá thực tiễn hoạt động văn hoá đối ngoại để từ đó thấy được mối quan hệ giữa khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ và việc nâng cao chất lượng của hoạt động văn hoá đối ngoại
Tại Chương 2, trên cơ sở tổng hợp kết quả Chương 1 và phân tích khả năng, nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ để đưa ra các nguyên tắc, yêu cầu, hình thức tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại
Chương 3 phân tích vai trò, vị trí, các công việc việc cần triển khai của các cơ quan lưu trữ, cơ quan văn hoá, ngoại giao và các cơ quan khác và đề xuất các biện pháp khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ nhằm phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại
Trang 12Phương pháp khảo sát: Để khảo chứng các hình thức triển khai văn hoá đối ngoại và khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại, chúng tôi đã khảo sát, tìm hiểu thực tế tại các triển lãm, trưng bày tài liệu lưu trữ để
có thể đánh giá thực tiễn một cách khách quan
8 Đóng góp của Đề tài
Phạm vi của đề tài mang tính tổng hợp lý luận và thực tiễn trong việc khai thác tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại Do vậy, Đề tài được nghiên cứu và triển khai sẽ có đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:
Về lý luận: trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc, phương pháp luận chung của công tác lưu trữ, chúng tôi nghiên cứu một số vấn đề mang tính lý luận về khai thác,
sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại như: nguyên tắc, yêu cầu về tài liệu lưu trữ, các hình thức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ; các nguyên tắc trong việc chỉ dẫn, chú thích và biên dịch tài liệu lưu trữ với hy vọng rằng đó
sẽ là cơ sở bước đầu để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống lý luận này
Về thực tiễn: đề xuất các giải pháp mang tính khoa học, tính thực tiễn để có thể xây dựng một đề án về khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ trong hoạt động văn hoá đối ngoại với sự phối hợp giữa các cơ quan lưu trữ, văn hoá và ngoại giao, đồng thời ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn,bổ sung cơ sở vật chất, ứng dụng khoa học công nghệ; đa dạng hoá các hình thức tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại, qua đó góp phần nâng cao vai trò, vị trí của công tác lưu trữ
Ở chương này, Đề tài làm sáng tỏ các vấn đề về: giá trị của tài liệu lưu trữ trong việc giới thiệu đất nước, con người Việt Nam với bạn bè quốc tế; khái quát về
Trang 13loại hình, số lượng và nội dung tài liệu lưu trữ có thể phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại đang bảo quản tại các cơ quan lưu trữ và các cơ quan, tổ chức khác; thực tiễn triển khai hoạt động văn hoá đối ngoại trong thời gian qua của các cơ quan, tổ chức;
sự cần thiết phải khai thác tài liệu lưu trữ phục vụ cho hoạt động văn hoá đối ngoại Qua đó, có thể khẳng định rằng, việc khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục
vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế là vấn
đề cần thiết phải tiến hành triển khai nhằm hướng tới các mục đích lâu dài của tương lai
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ
PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI
MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Trong chương này trình bày về việc nghiên cứu tài liệu và các hình thức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ, các yêu cầu, phương pháp khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại được phân tích, đánh giá để có thể đề xuất các giải pháp khả thi trong việc tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục
vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TỔ CHỨC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG
GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Các giải pháp đề xuất được tập trung phân tích để thực hiện thành công việc khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn trân trọng nhất tới PGS TS Đào Xuân Chúc - người thầy hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành
Đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo Khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng; lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước; các cán bộ các trung tâm lưu trữ quốc gia, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, và các cơ quan, tổ chức nơi tôi
Trang 14đến khai thác tài liệu đã ủng hộ, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành
Đề tài
Hy vọng rằng, chúng tôi sẽ tiếp tục nhận đƣợc sự quan tâm, giúp đỡ của PGS
TS Đào Xuân Chúc và các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè
Mặc dù có nhiều cố gắng, Đề tài cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm để Đề tài của chúng tôi đƣợc hoàn thiện hơn./
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2010
Nguyễn Anh Thƣ
Trang 15CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU LƯU TRỮ
PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm về tài liệu lưu trữ, văn hoá, văn hoá đối ngoại và ngoại giao văn hoá
1.1.1 Khái niệm về tài liệu lưu trữ
Hiện nay, trên thế giới chưa có sự giải thích thống nhất hoàn toàn về khái niệm “tài liệu lưu trữ” Nhiều nước chỉ giới hạn tài liệu lưu trữ là các sản phẩm tài liệu được hình thành trong hoạt động của các cơ quan hoặc cá nhân nhưng có những nước xác định tài liệu lưu trữ bao gồm cả ấn phẩm, tác phẩm hội họa…, có thể kể
đến như: Luật Lưu trữ Pháp định nghĩa “tài liệu lưu trữ là toàn bộ tài liệu không phụ
thuộc vào bất kỳ thời gian nào, hình thức, vật mang tin và tình trạng vật lý như thế nào, được sinh ra hay nhận được từ bất kỳ cá nhân hay tập thể nào, từ tất cả các cơ quan hay tổ chức công hay tư trong quá trình hoạt động”; luật pháp lưu trữ tại
Canađa cho rằng “tài liệu lưu trữ là toàn bộ các yếu tố thông tin như công văn, thư
từ trao đổi, thông báo, sách, sơ đồ, bản đổ, bản vẽ thiết kế, biểu đồ, tranh vẽ, ảnh, phim, vi phim, các bản sao từ tính hoặc máy tính, hoặc tất cả các bản sao chép có chứa yếu tố thông tin” hoặc luật pháp lưu trữ tại Inđônêsia khẳng định “tài liệu lưu trữ là tất cả các tài liệu dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả tài liệu riêng lẻ hoặc nhóm tài liệu được các tổ chức nhà nước hoặc các cơ quan của Chính phủ lập ra và nhận được trong quá trình hoạt động, cũng như do các cơ quan tư nhân hoặc các cá nhân lập ra hoặc nhận được trong quá trình thực hiện các hoạt động vì lợi ích quốc gia”[05]
Tại Việt Nam, trong cuốn “Từ điển Lưu trữ Việt Nam” giải thích “tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị được lựa chọn từ trong toàn bộ khối tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp và cá nhân được bảo quản cố định trong các lưu trữ để khai thác phục vụ các mục đích chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, lịch sử… của toàn xã hội” nhưng chưa có định nghĩa cụ thể về
“tài liệu lưu trữ” trong các văn bản mang tính quy phạm Điều 1 của Pháp lệnh Lưu
Trang 16trữ quốc gia năm 2001 đưa ra khái niệm “tài liệu lưu trữ quốc gia” là "tài liệu có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ được hình thành trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các nhân vật lịch sử, tiêu biểu phục vụ việc nghiên cứu lịch sử, khoa học và hoạt động thực tiễn Tài liệu lưu trữ quốc gia phải là bản chính, bản gốc của tài liệu được ghi trên giấy, phim, ảnh, bằng hình, đĩa hình, bằng âm thanh, đĩa âm thanh hoặc bằng các vật mang tin khác; trong trường hợp không còn bản chính, bản gốc thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp” [55, 1]
Như vậy, tài liệu lưu trữ chứa đựng các thông tin trên các vật mang tin khác nhau, có thể là tài liệu của các cơ quan nhà nước hoặc cũng có thể tài liệu có xuất
xứ từ các cá nhân tiêu biểu, không phân biệt cơ quan bảo quản và lưu giữ, có giá trị đối với quốc gia và dân tộc Có thể nhận thấy rằng, tài liệu lưu trữ có các đặc điểm
và tính chất như sau:
Một là, tài liệu lưu trữ có nội dung phong phú, hình thức đa dạng, có thể được
thể hiện trên các vật mang tin khác nhau như: giấy, phim, ảnh, bằng hình, đĩa hình, bằng âm thanh, đĩa âm thanh hoặc gỗ, lụa, đá, lá cây… Như vậy, tài liệu lưu trữ có thể là văn bản hành chính, một bài hát, một bức tranh, một bức ảnh, một bản vẽ, một tấm bưu thiếp, một bộ phim, một bản khắc gỗ… phản ánh các vấn đề về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ…
Hai là, tài liệu lưu trữ là bản gốc, bản chính của tài liệu và thường có mối liên
hệ trực tiếp với sự kiện, hiện tượng mà nó phản ánh, do vậy không chỉ nội dung mà
cả hình thức của tài liệu lưu trữ cũng phản ánh thời điểm sản sinh ra tài liệu Chính
vì vậy, tài liệu lưu trữ có giá trị pháp lý, đảm bảo tính chân thực, không giả mạo
Ba là, tài liệu lưu trữ là sản phẩm phản ánh trực tiếp hoạt động của các cơ
quan, tổ chức và cá nhân một cách khách quan, trung thực, do đó, tự bản thân tài liệu lưu trữ có tính thuyết phục và tin tưởng cao
Trang 17Có thể khẳng định rằng, tại Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, tài liệu lưu trữ được đánh giá là nguồn thông tin đa dạng, phong phú, chân thực và tin cậy được khai thác, sử dụng để phục vụ các mục đích khác nhau của xã hội trong đó
có công tác văn hoá, công tác đối ngoại và các hoạt động văn hoá đối ngoại
1.1.2 Khái niệm về văn hoá, văn hoá đối ngoại và ngoại giao văn hoá
a) Khái niệm về văn hoá
Khái niệm "văn hoá" hiện nay được định nghĩa rất khác nhau theo từng thời điểm lịch sử, từng lĩnh vực, từng mục đích khác nhau, bởi những học giả khác nhau Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng việc khái niệm văn hoá vẫn tiếp tục được bàn cãi trên thế giới nghĩa là văn hoá đã thành một khái niệm có tính chất quan trọng ngang với kinh tế và chính trị Văn hóa đã có mặt ở khắp mọi nơi, thâm nhập mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và thực sự văn hóa đã trở thành một nhu cầu cấp thiết gắn liền với cuộc sống mỗi người, mỗi dân tộc và cả loài người [04, 53]
Nhằm đưa ra một định nghĩa mới về văn hóa, tại lễ phát động Thập kỉ phát triển văn hóa ngày 21/1/1998, Tổng Giám đốc UNESCO F Mayor nói: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ và cũng đang diễn ra trong hiện tại; qua hàng bao thế kỷ văn hóa đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống
mà dựa trên đó, từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [38,11]
Trong tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hoá tháng 11 năm 2001, UNESCO đã nhấn mạnh "Văn hoá là một tổng hợp các đặc điểm về tinh thần, thể chất, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hoặc một nhóm xã hội, bao hàm không chỉ nghệ thuật và văn học mà còn cả lối sống, cách thức chung sống với nhau, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng Những đặc trưng của các yếu tố cấu thành đó giúp ta phân biệt được một xã hội (hoặc một nhóm xã hội) với các xã hội (hoặc nhóm xã hội) khác"[38,11]
Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn của thế giới đã phát biểu: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
Trang 18nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người
đã sản sinh ra nhằm thích ứng nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn Quan niệm của Hồ Chí Minh toát lên một cái nhìn vừa toàn diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử của văn hóa, về phạm vi rộng lớn của văn hóa, về mặt biểu hiện của văn hóa trong lối sống và toàn bộ sinh hoạt của con người Với tầm nhìn rộng lớn ấy, cách đây hơn 50 năm, Người đã nêu lên một điều mà trong những năm gần đây mới đặt ra và nhấn mạnh Đó là mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa với chính trị và kinh tế Văn hóa không chỉ là sản phẩm thụ động của kinh tế và chính trị, mà văn hóa còn tác động ngược trở lại một cách mạnh mẽ vào kinh tế và chính trị Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng mọi hoạt động văn hóa không thể đứng ngoài mà phải
nằm trong kinh tế và chính trị Nếu văn hóa không thâm nhập vào kinh tế, nếu
không đưa được khoa học kỹ thuật vào lực lượng sản xuất, không phát huy được thành tựu cao nhất của văn hóa trong quan hệ sản xuất, trong nhiệm vụ quản lý kinh
tế và xã hội, thì kinh tế không thể phát triển được Nếu trong lĩnh vực chính trị, việc quản lý của bộ máy cầm quyền cũng như cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân
[04,54-56]
b) Khái niệm về văn hoá đối ngoại
Bước vào thiên niên kỷ 21, UNESCO - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp quốc - đã đề ra tiêu chí hành động về văn hoá toàn cầu cho thập
kỷ đầu tiên là “đối thoại với các nền văn minh” Do vậy, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đa phương, việc sử dụng văn hoá phục vụ mục tiêu đối ngoại dẫn đến sự ra đời của văn hoá đối ngoại
Theo Ông Phạm Sanh Châu, Vụ trưởng Vụ Văn hoá Đối ngoại và UNESCO,
Bộ Ngoại giao, “văn hoá đối ngoại là tất cả các hoạt động giao lưu văn hoá của một quốc gia, dân tộc có yếu tố bên ngoài nhằm đưa văn hoá của quốc gia giới thiệu ra bên ngoài để nâng cao hình ảnh, sự hiểu biết và tiếp thu tinh hoá bên ngoài để làm giàu lại văn hoá quốc gia” [04, 17]
Trang 19Ông Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, cho rằng “văn hoá đối ngoại là
sự giao lưu, trao đổi quốc tế của tất cả các lĩnh vực văn hoá từ văn học, nghệ thuật đến ngôn ngữ…với phạm vi rất rộng Nó có thể bao gồm cả hoạt động kinh doanh, buôn bán các sản phẩm văn hoá Trong bối cảnh hiện nay, văn hoá đối ngoại có những mặt cạnh tranh gay gắt; những quốc gia không đủ năng lực làm chủ công nghệ mới trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ và cách mạng thông tin bùng nổ như hiện nay sẽ bị đẩy ra bên lề phát triển”[04, 30] Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Niên, trong một bài phỏng vấn đã khẳng định “cùng với kinh tế đối ngoại, chính trị đối ngoại, văn hoá đối ngoại tạo thành kiềng ba chân vững chãi cho đất nước vươn ra hoà nhập với thế giới” [38,15]
Như vậy, văn hoá đối ngoại, vừa mang đặc tính của lĩnh vực văn hoá, vừa mang đặc tính của lĩnh vực đối ngoại Nếu xét trên phạm trù ngôn ngữ học thì từ
“đối ngoại” bổ trợ cho từ “văn hoá”, nghĩa là dùng văn hoá để phục vụ mục đích đối ngoại hoặc sử dụng văn hoá nhằm hướng tới công chúng là người nước ngoài ở trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam cũng như người Việt Nam ở nước ngoài, đối lập với thuật ngữ “văn hoá đối nội” nghĩa là văn hoá phục vụ cho các đối tượng người Việt Nam ở trong nước
Có thể khái quát rằng văn hoá đối ngoại là sự giao lưu, trao đổi với quốc tế của một quốc gia về tất cả các lĩnh vực văn hoá như: văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ… với phạm vi rất rộng nhằm giới thiệu hình ảnh đất nước, con người và văn hoá ra bên ngoài để nâng cao vị thế, tăng cường hiểu biết với quốc tế, đồng thời qua đó, nâng cao ý thức dân tộc của người dân một quốc gia ở trong và ngoài nước [34, 15] c) Khái niệm về ngoại giao văn hoá
Cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một định nghĩa chung được coi là chuẩn mực cho khái niệm ngoại giao văn hoá Nhưng "ngoại giao văn hoá" đã, đang
và sẽ ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả, các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà lãnh đạo của các quốc gia trên toàn thế giới
Trang 20Theo giáo sư Joseph S.Nye (Hoa Kỳ), ngoại giao văn hoá là "một ví dụ hàng đầu về "sức mạnh mềm" hoặc khả năng thuyết phục thông qua văn hoá, giá trị và những tư tưởng trái với "sức mạnh cứng", tức là chinh phục hoặc cưỡng ép thông qua sức mạnh quân sự [38,17]
Tạp chí "Ngoại giao văn hoá" (Cultural Diplomacy) định nghĩa "ngoại giao văn hoá là một lĩnh vực ngoại giao liên quan đến việc thiết lập, phát triển và duy trì các mối quan hệ với các quốc gia khác thông qua văn hoá, nghệ thuật và giáo dục
Nó cũng là một quá trình hoạt động đối ngoại chủ động, trong đó có các thiết chế,
hệ giá trị và bản sắc văn hoá độc đáo của một dân tộc được quảng bá ở cấp độ song phương và đa phương" [38,17]
Tại Việt Nam, khi Hội nghị Ngoại giao lần thứ 25 (năm 2006) đã thống nhất
và đi vào triển khai đồng bộ chính sách ngoại giao Việt Nam dựa trên ba trụ cột chính là Ngoại giao Chính trị, Ngoại giao Kinh tế và Ngoại giao Văn hóa Trong đó, Ngoại giao Văn hóa đóng vai trò là nền tảng tinh thần, biện pháp, nội dung và mục tiêu của chính sách đối ngoại Việt Nam, hỗ trợ cho Ngoại giao chính trị và Ngoại giao kinh tế để tạo thành một tổng thể chính sách, phát huy tốt nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, khái niệm ngoại giao văn hoá được đề cập và nghiên cứu Đến nay mỗi học giả đều đưa ra những định nghĩa riêng của mình về khái niệm ngoại giao văn hoá, nhưng các điểm chung nhất mà các quan điểm hướng đến là: ngoại giao văn hoá là một trong những trụ cột của ngoại giao Việt Nam, thông qua các công cụ văn hoá để thực hiện một cách hiệu quả hơn chính sách đối ngoại của đất nước và đảm bảo lợi ích quốc gia, quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam ra thế giới, với bạn bè quốc tế
Ông Phạm Sanh Châu đã định nghĩa khái quát về Ngoại giao Văn hoá như sau: "Ngoại giao Văn hoá là một hoạt động đối ngoại, được nhà nước tổ chức, ủng
hộ hoặc bảo trợ Hoạt động này được triển khai trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm đạt được những mục tiêu chính trị, đối ngoại được xác định, bằng các hình thức văn hóa như: nghệ thuật, lịch sử, tư tưởng, truyền thống, ẩm thực, phim,
ấn phẩm, văn học Đối tượng hướng tới của Ngoại giao Văn hóa là Chính phủ và nhân dân các quốc gia khác Không nhằm lợi nhuận, Ngoại giao Văn hóa quảng bá
Trang 21hình ảnh và nâng cao vị thế của đất nước, dân tộc Mục tiêu của Ngoại giao Văn hóa
là góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao vị thế, hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế và phục vụ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Cùng Ngoại giao Chính trị và Ngoại giao Kinh tế, Ngoại giao Văn hóa
là một trong ba trụ cột của Ngoại giao Việt Nam" [04,18-19]
1.2 Tầm quan trọng và các biện pháp triển khai văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế
1.2.1 Tầm quan trọng của hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế
Chính sách “đổi mới” năm 1986 với kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập đã đưa Việt Nam vào thời đại toàn cầu hoá Việt Nam không chỉ hợp tác với bên ngoài thông qua các quan hệ song phương mà còn chủ động tham gia hợp tác đa phương, trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế hàng đầu thế giới và khu vực như: gia nhập ASEAN (1995), APEC (1997), WTO (2007) hay đảm nhận vai trò Uỷ viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010…
Nghị quyết trung ương lần thứ 5, khoá VIII (1998) đã chính thức đề cập đến văn hoá đối ngoại và hợp tác quốc tế về văn hoá Nghị quyết đã xác định nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá “đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ về văn hoá nhằm tiếp thu được nhiều tinh hoa, kinh nghiệm của nước ngoài, ngăn ngừa những tác động tiêu cực”, “làm tốt việc giới thiệu, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài Phổ biến những kinh nghiệm tốt xây dựng và phát triển văn hoá của các nước…Giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết về tình hình nước nhà, thu thập thông tin và sản phẩm văn hoá từ trong nước ra, nêu cao lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống, bản sắc dân tộc, phát huy trí tuệ, tài năng sáng tạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước” [17]
Trước đây, nhiều người trên thế giới mới chỉ biết đến Việt Nam như một đất nước có chiến tranh liên miên và dân tộc Việt Nam đã giành thắng lợi trong các
Trang 22cuộc chiến tranh đó Ngày nay, nhờ mở rộng việc giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế mà thế giới đã biết rằng “Việt Nam đã bỏ lại đằng sau quá khứ đau buồn và đang tham gia vào một tương lai toàn cầu đầy hứa hẹn” [03]
Chính vì vậy, trong những năm gần đây, hoạt động văn hoá đối ngoại giữ một
vị trí quan trọng, vừa là biện pháp và mục tiêu của chính sách đối ngoại Việt Nam, tạo cơ hội và khả năng tiếp xúc, giao lưu, xích lại gần nhau và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc ở cấp độ song phương và đa phương, đồng thời thiết lập, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại nhằm đạt được các mục tiêu lợi ích cơ bản của quốc gia
là phát triển, an ninh, mở rộng ảnh hưởng quốc tế Thông qua việc quảng bá rộng rãi kho tàng các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể hết sức phong phú, độc đáo, đầy bản sắc riêng của Việt Nam, thông điệp về một nước Việt Nam nghìn năm văn hiến, hòa bình, ổn định, thân thiện, yêu chuộng hòa bình, yêu độc lập, tự do, tôn trọng công lý, khoan dung, năng động đang thực hiện đổi mới thành công, phát triển nhanh, bền vững và đóng vai trò ngày càng lớn hơn ở khu vực và trên thế giới được chuyển tới đông đảo bạn bè quốc tế
1.2.2 Các biện pháp triển khai văn hoá đối ngoại tại Việt Nam hiện nay
Những năm gần đây, việc triển khai các hoạt động văn hoá đối ngoại được tăng cường và đẩy mạnh, thông qua nhiều hình thức là nhiệm vụ không chỉ của riêng Bộ Ngoại giao hay Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, mà có sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp tới các tầng lớp nhân dân và của toàn xã hội
Qua nghiên cứu, tổng hợp, chúng tôi nhận thấy các biện pháp triển khai các hoạt động văn hoá đối ngoại trong thời gian vừa qua bao gồm:
a) Thông tin, tuyên truyền về đất nước, con người, văn hóa và những thành tựu kinh tế, xã hội của Việt Nam qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo viết, báo nói, báo hình, internet…)
Hoạt động thông tin tuyên truyền là kênh quan trọng để giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam như trên trang thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao, Uỷ ban Người Việt Nam ở nước ngoài, các loại hình báo viết, báo điện tử, báo hình với
Trang 23nội dung phong phú, hấp dẫn bằng nhiều ngôn ngữ như: Quehuongonline, nguoivienxu.vn, VTV4, VOV5, VOV6, các báo như: Vietnam News, Vietnam Courrier, Vietnam Investment Review, Vietnam Economic Times, Saigon Times, Vietnam Cuntural Window, Le Courier de Vietnam, Le Courrier du Vietnam dimanche, Báo Ảnh Việt Nam, Tạp chí Chân trời UNESCO, Tạp chí Outloook…
VTV4 - một đài truyền hình quốc gia cho "nước Việt Nam ở nước ngoài" với những tin tức về Việt Nam mà khán giả quan tâm, hoạt động của cộng đồng người Việt ở các nước, phim của Việt Nam và một số phim tài liệu của nước ngoài có giá trị lịch sử và tư liệu về Việt Nam được phát sóng vào giờ vàng ở từng khu vực Với một số chương trình được đông đảo khán giả ưa thích như: Biz Vietnam (nay là chương trình Chào Việt Nam); chương trình "Núi sông bờ cõi" phổ biến kiến thức
về biên giới lãnh thổ, lãnh hải và đi sâu về các văn bản pháp lý phân định đường biên trên bộ và trên biển, cũng như các công ước quốc tế, các hiệp định của Việt Nam ký với nước ngoài, kết hợp quảng bá quê hương đất nước ra bên ngoài (với kết cấu chương trình là tin về các hoạt động liên quan đến biên giới, sau đó có một phóng sự giới thiệu về một vùng biên giới và phổ biến kiến thức hay thông tin pháp lý); chương trình điểm báo quốc tế về Việt Nam qua con mắt của báo chí nước ngoài giúp khán giả được tiếp nhận thông tin nhiều chiều, kể cả một số vấn đề nhạy cảm như dân chủ, nhân quyền và tôn giáo bởi cách nhìn nhận về những vấn đề đó ở người nước ngoài cũng rất khác nhau Chẳng hạn, về vấn đề tôn giáo, trong khi những tổ chức như Human Right Watch hay Ủy ban Tư do Tôn giáo Quốc tế (Mỹ) phê phán Việt Nam nhưng đồng thời, có những phóng viên của Ý hay Pháp lại viết những bài kể về sự ngỡ ngàng của họ khi Việt Nam có nhiều nhà thờ thế, tại sao cuộc sống, sinh hoạt vào dịp Noel ở Việt Nam lại hấp dẫn đến vậy, khi không chỉ những giáo dân, mà cả những thanh niên bên lương cũng coi Noel là ngày lễ của
họ Hoặc đánh giá của các chuyên gia kinh tế nước ngoài về Việt Nam, trong khi Moody's đánh tụt hạng Việt Nam, nhưng World Bank, hay Asia Development Bank,… thì lại nâng hạng Vai trò, ảnh hưởng và hiệu quả của văn hoá đối ngoại qua truyền hình đã được ghi nhận khi khán giả nói với ông Bạch Ngọc Chiến,
Trang 24Trưởng Ban truyền hình Đối ngoại (VTV4): "…xin chúc mừng vì ông đã thắng được Thúy Nga Paris Trước đây, khi đi làm về, mệt mỏi, chúng tôi chỉ mở Nguyễn Ngọc Ngạn - Kỳ Duyên ra xem Còn bây giờ, chỉ mở VTV4 thôi." [65]
Ngoài ra, Việt Nam cũng chủ động vận động, tổ chức và phối hợp với các kênh truyền hình quốc tế, truyền hình nước ngoài các phương tiện thông tin đại chúng, các chính khách, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế, văn hóa có uy tín và các phóng viên, nhà báo…viết bài, đưa tin, làm phim và tuyên truyền quảng bá về đất nước, con người và văn hoá Việt Nam như: nhân dịp Việt Nam tổ chức Tuần lễ cấp cao APEC từ ngày 12-20/11/2006, hơn 1500 phóng viên nước ngoài, trong đó
có các hãng thông tấn, phát thanh, truyền hình, báo lớn trên thế giới như: CNN, ABC, CBS, AP, New York Time (Mỹ); NHK, Nippon TV, TV Asahi, Fuji TV, Asahi Shimbun (Nhật Bản); Itar-Tass, Ria Novosti (Nga), ARD (Đức); AFP (Pháp)…đã vào Việt Nam đưa tin và quảng bá hình ảnh của Việt Nam ra thế giới [03]
Chương trình quảng bá Việt Nam trên các kênh truyền hình quốc tế như: Kênh truyền hình CNN Châu Á (CNN Hongkong, Singapore, Nhật Bản ) chiếu phim quảng cáo 30 giây về Việt Nam với bề dày văn hóa lịch sử, con người thân thiện hiếu khách, ẩm thực, nghệ thuật, cảnh quan thiên nhiên phong phú, sống động, đầy màu sắc: tà áo dài, phố cổ ở Hà Nội, Hội An, cảnh đẹp tuyệt vời của Vịnh Hạ Long hay Thành phố Hồ Chí Minh đầy sức sống và năng động, những địa danh quen thuộc như: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng trường Ba Đình, Chùa Một Cột, Văn Miếu Quốc Tử Giám, phố ẩm thực, phố bán đồ thủ công, một số gallery, biểu diễn rối nước và nụ cười rạng rỡ của các em học sinh Việt Nam…; kênh truyền hình NBC phát sóng một đoạn video khoảng 9 phút về Việt Nam nhân sự kiện cuộc thi Hoa hậu hoàn vũ năm 2008 được tổ chức tại Việt Nam; kênh truyền hình BBC World (tháng 4/2009) phát sóng 03 chương trình, với
320 lần, mỗi lần 30 giây ở Châu Á Thái Bình Dương, Châu Âu, châu Mỹ; Kênh truyền hình quốc tế Star World (Mỹ) giới thiệu Việt Nam tới hơn 300 triệu khán giả người Mỹ và khoảng 500 triệu khán giả ở 100 quốc gia khác trên toàn thế giới trong
Trang 25buổi truyền hình chung kết Hoa hậu quý bà thế giới diễn ra tại thành phố Vũng Tàu ngày 22/11/2009; Kênh truyền hình Fashion TV phát sóng chương trình "Quảng bá
du lịch Việt Nam thông qua du lịch tàu biển" do Tổng công ty du lịch Sài Gòn phối hợp cùng tàu F-Diamond thực hiện; Đoàn nghệ thuật và Hãng tin KBS (Hàn Quốc),
Đài Truyền hình Australia SBS quảng bá cho di sản Vinh Hạ Long, phát sóng 3
lần/tuần, thời lượng 8 phút (trong đó có 2 lần vào giờ vàng), Đài Truyền hình của Thành phố Kawasaki (Nhật Bản) quảng bá hình ảnh Thành phố Đà Nẵng 1 lần/tháng và tổ chức ngày hội văn hoá Đà Nẵng…là thông điệp gửi đến bạn bè thế giới: Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn, nhiều sắc thái văn hóa, sản phẩm du lịch
đa dạng, phong phú
Bên cạnh đó, các báo như: Nhân dân, Hà Nội mới, Thời báo kinh tế Việt Nam, Quê hương, Tuổi trẻ, Thanh niên… đã sử dụng mạng internet với phiên bản tiếng Anh và các ngôn ngữ khác giới thiệu về công cuộc đổi mới ở Việt Nam, con người, các giá trị văn hoá và truyền thống của Việt Nam để làm nhịp cầu thông tin nối Việt Nam với bạn bè quốc tế
b) Xây dựng các sản phẩm văn hóa có tầm cỡ quốc gia để giới thiệu với thế giới, trong đó chú trọng tuyên truyền và vận động Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể và di sản thiên nhiên thế giới, các khu dự trữ sinh quyển thế giới, các công viên địa chất và các hồ sơ chương trình Ký ức Thế giới của Việt Nam, cụ thể là:
UNESCO thế giới đã công nhận các di sản thế giới tại Việt Nam, bao gồm: Kinh đô Huế (1993), Vịnh Hạ Long (1994 và 2000), Khu Di tích Mỹ Sơn (1999), Phố cổ Hội An (1999), Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (2003), Nhã nhạc Cung đình Huế (2003), Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên (2005) UNESCO cũng công nhận các khu dự trữ sinh quyển thiên nhiên thế giới ở Việt Nam là Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà (Hải Phòng), Kiên Giang, Tây Nghệ An, Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và Khu Vườn quốc gia Cà Mau (Cà Mau) và ngày 01 tháng 8 năm
2010 là Khu Di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long
Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi vào danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; hát Ca trù được UNESCO ghi vào Danh sách
Trang 26văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp; Mộc bản triều Nguyễn và Văn đá các khoa thi tiến sĩ 1442-1779 tại Văn miếu Quốc tử giám là di sản tư liệu của Việt Nam được đưa vào danh mục Di sản tư liệu thuộc chương trình Ký ức thế giới (Memory of the World) của UNESCO
Từ đó, những di sản văn hoá của Việt Nam ngày được thế giới biết đến, tìm hiểu, khám phá và trải nghiệm, Dân ca quan họ Việt Nam đã được Tạp chí Times chọn là loại hình nghệ thuật độc đáo để du khách có thể tìm kiếm những trải nghiệm tuyệt vời nhất cho trí óc, cơ thể và tâm hồn; Di sản Phố cổ Hội An ngày càng hấp dẫn du khách trong và ngoài nước đến tham quan, mối quan hệ giao lưu Việt-Nhật ngày càng mạnh hơn, ý thức bảo tồn, phục dựng và phát huy di sản, lễ hội dân gian, văn hoá truyền thống của dân tộc ngày càng tăng và các nguồn thu không nhỏ từ du lịch ngày càng nhiều đã làm biến đổi bộ mặt đời sống tinh thần xã hội của người dân và địa phương có di sản
Có thể nói rằng, những công nhận của UNESCO không chỉ là kênh quan trọng giới thiệu đất nước, con người và văn hoá Việt Nam, tạo ra các “thương hiệu” mang tầm quốc tế ra cộng đồng thế giới mà qua đó, ý thức cũng như hành động trong việc bảo vệ và phát triển di sản của toàn xã hội, từ lãnh đạo các cấp đến người dân được nâng cao
c) Tham gia các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hoá, văn nghệ tại nước ngoài và các nước tại Việt Nam
Các hoạt động giao lưu văn hóa đối ngoại, các sự kiện Việt Nam ở nước ngoài như các tuần/ngày Việt Nam, Ngày Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, Không gian Việt,… đã góp phần tăng cường tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước
Nhiều chương trình đã tạo được tiếng vang và để lại ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè quốc tế như: Những ngày văn hóa Việt Nam tại Đức, Nam Phi, Singapore (2005), Hàn Quốc, Anh, Bỉ-Luxembuurg (2006), Pháp, Ấn Độ (2007), Tuần lễ Việt Nam tại Anh, Nhật Bản (2008), Tuần văn hóa Việt Nam tại Lion (2009), các hoạt động văn hóa nghệ thuật của Việt Nam tại Trung Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Điển,
Trang 27Italy, Lào, Chương trình "Gặp gỡ Việt Nam" (Meet VietNam) tại San Francisco (Hoa Kỳ),…Theo ông Phạm Gia Túc, Tổng thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Ngày Việt Nam ở nước ngoài là một kênh xúc tiến mới, bao gồm các hoạt động tổng thể giới thiệu từ kinh tế, văn hoá đến chính trị và con người Việt Nam để bạn bè khu vực và quốc tế hiểu rõ về đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trên tiêu chí: Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia, các dân tộc, vì hòa bình, hữu nghị, bình đẳng, cùng
có lợi, cùng phát triển
Ngoài ra, Việt Nam cũng chủ động phối hợp với các nước, các tổ chức quốc
tế tổ chức tuần văn hoá các nước tại Việt Nam, các chương trình nghệ thuật quốc tế biểu diễn ở Việt Nam (Dàn nhạc giao hưởng New York Philharmonic biểu diễn tại Việt Nam, chương trình ca nhạc quốc tế “Chào Việt Nam”; chương trình Liên hoan
Âm nhạc châu Âu tổ chức ở Việt Nam do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Trung tâm Tổ chức Biểu diễn Nghệ thuật) phối hợp với phái đoàn của Ủy Ban châu Âu tại Việt Nam, phái đoàn Wallonia-Brussels (Bỉ), các đại sứ quán Pháp, Áo, Luxembourg, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Hy Lạp và Ai Len) với mục đích phá
bỏ những rào cản ngôn ngữ và văn hóa, thúc đẩy giao lưu văn hóa với khán giả Việt Nam
d) Tham gia các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế, các lễ hội về văn hoá, văn nghệ tại các tỉnh, thành phố của Việt Nam
Các địa phương trên cả nước đã phối hợp tổ chức quảng bá hình ảnh địa phương mình, nổi bật là việc gắn kết hoạt động của ngoại giao đoàn với các sự kiện văn hóa tại địa phương nhằm tôn vinh văn hóa truyền thống trong quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa thế giới với phương châm “đưa Việt Nam ra thế giới và thế giới đến với Việt Nam” như: Festival Tây Sơn - Bình Định, cuộc thi bắn pháo hoa quốc tế lần thứ nhất, thứ hai tại Đà Nẵng (2007, 2008), lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột; Festival Huế (2008) Festival Biển tại Nha Trang, Festival Lúa, gạo Việt Nam lần thứ nhất tại Hậu Giang, Festival cồng, chiêng quốc tế tại Gia Lai, cuộc thi Hoa hậu Quý bà đẹp và thành đạt thế giới tại Bà Rịa-Vũng Tàu (2009), những Ngày
du lịch, văn hóa Mekong -Nhật Bản tại Cần Thơ , Đêm Giao lưu văn hóa Quan họ ,
Trang 28Lễ hô ̣i Hoa Đà La ̣t, Liên hoan Hát then Đàn tính ta ̣i Bắc Ka ̣n , Hô ̣i thảo Cao nguyên đá Đồng Văn ta ̣i Hà Giang…
Có thể nói, bằng công tác quảng bá và vận động, việc giới thiệu hình ảnh, danh lam thắng cảnh và những nét đặc sắc văn hóa của mỗi vùng miền đã góp phần xúc tiến du lịch, thu hút đầu tư, đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh tế, xã hội ở các địa phương
đ) Kết hợp các chương trình văn hoá nghệ thuật nhân các chuyến thăm của lãnh đạo cao cấp của Việt Nam tới các quốc gia trên thế giới
Tổ chức các chương trình giao lưu văn hoá nghệ thuật giới thiệu về Việt Nam nhân các chuyến thăm các nước của các vị lãnh đạo cao cấp là giải pháp mềm đang được chú trọng triển khai, như: Đoàn nghệ thuật của Việt Nam biểu diễn Nhã nhạc cung đình Huế cho Nhật Hoàng xem và đích thân Nhật Hoàng đã xuống sân khấu bắt tay từng diễn viên và chụp ảnh lưu niệm cùng với đoàn, bày tỏ ủng hộ trong việc giữ gìn và phát huy Nhã nhạc cung đình Huế, góp phần vào thành công chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (11/2007), tạo đà nâng tầm quan hệ của hai nước nên tầm cao mới hoặc chương trình “Duyên dáng Việt Nam” khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Singapore (2007) đã được Thủ tướng Singapore đánh giá “chương trình là biểu hiện của các mối quan hệ trao đổi văn hoá, tương tác, giáo dục và con người với con người đang được tăng cường giữa nhân dân hai nước” hoặc chương trình “Ngày Việt Nam tại Bắc Âu” nhân chuyến thăm Thuỵ Điển, Phần Lan, Đan Mạch của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng (6/2008)…[38]
Qua các kênh ngoại giao văn hoá, bạn bè quốc tế đã bắt đầu hiểu hơn về Việt Nam hiện đại, năng động, giàu tiền năng phát triển, tham gia có trách nhiệm vào các vấn đề quốc tế, con người Việt Nam hiếu khách, nền văn hoá Việt Nam độc đáo, đậm đà bản sắc…
e) Quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua việc tổ chức hoạt động văn hoá song phương và đa phương
Nhằm quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, Việt Nam đã tổ chức nhiều hoạt động văn hoá song phương và đa phương qua các hội nghị, hội thảo
Trang 29quốc gia, khu vực và quốc tế như: Hội nghị đánh giá định kỳ các khu di sản thiên nhiên và hỗn hợp thế giới khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Hội nghị cấp Bộ trưởng khu vực Châu Á-Thái Bình Dương về đối thoại giữa các nền văn hoá và văn minh vì hoà bình và phát triển bền vững, Diễn đàn Du lịch ASEAN 2009 (ATF-09), Hội nghị cấp cao ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng các nước ASEAN, Hội nghị APEC, Chương trình kích cầu du lịch "Ấn tượng Việt Nam", Hội thảo Việt Nam học được
tổ chức tại Việt Nam và nước ngoài như “Việt Nam sau 30 năm chiến tranh” được
tổ chức tại Berlin, nhân dịp Tuần lễ Châu Á-Thái Bình Dương ở Đức (09/2005),
“Việt Nam xưa và nay” tại Thái Lan (2006) nhân dịp 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Thái Lan hoặc hội thảo Việt Nam học tổ chức tại Việt Nam (1998,
2004, 2008) với sự tham gia của các học giả trong và ngoài nước là một trong những phương pháp hiệu quả để có thể quảng bá, tuyên truyền, giới thiệu, cung cấp những nguồn thông tin đầy đủ, chất lượng, đa dạng về Việt Nam đến với công chúng và giới học giả quốc tế
g) Nâng cao chất lượng sách, báo, phim, ảnh, các ấn phẩm tuyên truyền khác
để cung cấp cho các cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài; sử dụng các thiết chế văn hóa sở tại (trung tâm triển lãm, bảo tàng, rạp chiếu phim, trung tâm thương mại…) nhằm quảng bá hình ảnh Việt Nam
Các ấn phẩm liên quan đến văn hoá Việt Nam do Nhà Xuất bản Thế giới, Vietnammese Studies, Trung tâm văn hoá Đông Tây, Tổng cục Du lịch, Hàng không Việt Nam…cùng phối hợp để in ấn, xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, ngày càng phong phú về nội dung, hấp dẫn về hình thức, đa dạng về thể loại như: sách, bản đồ, sách ảnh, bưu thiếp, tập gấp du lịch (tờ rơi quảng cáo), đĩa CD-Rom hoặc triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật, các ấn phẩm tuyên truyền, phim ảnh… cũng là phương thức hiệu quả trong việc tuyên truyền, giới thiệu về Việt Nam Có thể kể đến một số sách, triển lãm, phim ảnh của Việt Nam được giới thiệu ở nước ngoài như:
Sách “Lãng du trong văn hoá Việt Nam” (Wandering through Vietnamese Cunlture) của Nhà văn hoá Hữu Ngọc được viết và dịch sang nhiều ngôn ngữ được
Trang 30nhiều người nước ngoài ưa thích và nhà văn Mỹ Lady Borton đã viết “Làm thế nào tôi có thể giúp các bạn quốc tế của tôi hiểu tại sao tôi thấy Việt Nam hấp dẫn đến thế? Có khi câu trả lời của tôi: là vì ảnh hưởng của một quyển sách; có khi là vì một câu chuyện; có khi là vì một con người đặc biệt Và giờ câu trả lời của tôi đã được gói gọn trong một quyển sách vô song của ông Ngọc: “Lãng du trong văn hoá Việt Nam””[36]
Triển lãm ảnh “Nét đẹp Việt Nam” (từ ngày 04/9 đến 30/9/2009) tại Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Paris với 80 bức ảnh về đất nước, con người Việt Nam, đặc biệt, có 10 bức ảnh đen trắng về nếp sống của đồng bào dân tộc Tây Nguyên đã đoạt cúp FIAP - giải thưởng cho bộ ảnh xuất sắc nhất tại cuộc thi ảnh quốc tế năm
2008 đã giúp công chúng và Việt kiều tại Pháp hiểu thêm về đất nước con người Việt Nam với những đổi mới và sự phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây Noémi, người Việt thế hệ hai sinh ra tại Pháp, cho biết: “Tôi thực sự ấn tượng về Việt Nam thông qua những bức ảnh trưng bày tại đây Việt Nam giờ đây đang phát triển không ngừng trên mọi lĩnh vực Bộ mặt đất nước cũng đổi thay nhiều Tôi còn nhận thấy những nét văn hóa đặc sắc của quê hương Việt Nam Đây là những điều
mà tôi rất quan tâm” Anh Fourré (người Pháp) từng đến Việt Nam hai lần nói rằng những bức ảnh giúp anh cảm nhận được thêm nhiều điều về Việt Nam, về những nét độc đáo của văn hóa Việt, về những danh lam thắng cảnh, về cuộc sống đời
Triển lãm ảnh "60 năm hữu nghị Việt- Trung” do Thông tấn xã Việt Nam
và Tân Hoa xã Trung Quốc phối hợp với Đại sứ quán hai nước tổ chức tại Bảo tàng Quân đội Bắc Kinh và Bảo tàng Hồ Chí Minh từ ngày 11/01/2010 đến ngày 20/01/2010 với hơn 200 bức ảnh chọn lọc từ các ảnh của Tân Hoa xã và Thông tấn
xã Việt Nam, được chụp từ năm 1950 đến nay, phản ánh toàn diện quan hệ hợp tác hữu nghị Việt - Trung và những thành tựu trong công cuộc đổi mới, phát triển kinh
tế, xã hội của mỗi nước
Sách ảnh “Quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào” với trên 350 hình ảnh, tư liệu quý phản ánh sống động mối quan hệ hữu
Trang 31nghị, tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu thuỷ chung, trong sáng giữa hai Đảng, nhân dân hai nước Việt Nam - Lào trong hai cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước hiện nay
Ngoài ra, trong các khuôn khổ hợp tác đa phương, song phương Việt Nam tích cực tham dự các triển lãm phim, ảnh quốc tế, hội chợ, triển lãm quốc tế và khu vực… để lại nhiều tiếng vang và sự quan tâm của bạn bè quốc tế
h) Đẩy mạnh công tác vận động, hỗ trợ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc và tham gia tích cực vào các hoạt động tuyên truyền, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam ở nước sở tại
Thông qua các hình thức như: cầu truyền hình Xuân quê hương, chương trình Ngày Việt Nam tại nước sở tại, tăng cường công tác văn hóa đối với người Việt Nam ở nước ngoài (trong đó có văn hoá tâm linh) nhằm mở rộng hợp tác giáo dục tiếng Việt, văn hoá Việt Nam với các nước tạo ra những diễn đàn thu hút người Việt Nam ở nước ngoài tham gia, vừa góp phần giúp cộng đồng người Việt ở các nước gìn giữ truyền thống dân tộc, bản sắc văn hóa
Ngoài ra, các cơ quan ngoại giao cũng chủ động triển khai các hoạt động trao đổi văn hoá giữa Việt Nam với các nước nhân các sự kiện đối ngoại lớn, thành lập các trung tâm văn hoá Việt Nam tại các nước, tăng cường triển khai các hoạt động như vận động đặt tượng hoặc bia tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tôn vinh và quảng bá hình ảnh của Người ở các nước như: Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Mêxicô
1.3 Sự cần thiết của việc khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế
1.3.1 Giá trị của tài liệu lưu trữ đối với hoạt động văn hoá đối ngoại-kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
Tài liệu lưu trữ với những đặc điểm, tính chất vốn có là một nguồn di sản văn hoá có giá trị của dân tộc, có khả năng giới thiệu một cách trung thực và sinh động hình ảnh đất nước, con người, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia Bởi vậy, tài liệu lưu trữ đã, đang và ngày càng phải phát huy giá trị của nó trong hoạt động văn hoá đối ngoại
Trang 32Trên thế giới, khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ trong văn hoá đối ngoại cũng được một số quốc gia chú trọng, có thể lấy một số ví dụ như sau:
Trong các chương trình giao lưu với các nước, Nhật Bản đã dựa trên các tài liệu lưu trữ tại các viện lưu trữ, các bảo tàng để triển lãm, xuất bản sách… nhằm thúc đẩy mối quan hệ và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nền văn hoá, ví dụ như dựa trên các tài liệu về châu ấn lệnh (Lệnh cho phép thuyền từ Nhật Bản được đến nước
An Nam, có đóng triện đỏ của người có thẩm quyền), các bức tranh thờ, tranh cuộn, các bản đồ giao thương giữa Nhật Bản và An Nam (Việt Nam)… đang lưu trữ tại bảo tàng Quốc gia Kyushu để biên tập và xuất bản và dịch sách tranh “Phía bên kia
bờ biển xa xôi” để giới thiệu đến với độc giả, kể cả trẻ em về sự giao lưu giữa Nhật Bản và Việt Nam thời kỳ Ê-đô dùng thuyền đỏ để buôn bán qua lại…[59]
Hàn Quốc cũng là ví dụ điển hình trong việc sử dụng tài liệu lưu trữ cổ để tạo
ra sản phẩm văn hoá sống động Nhiều bộ phim nổi tiếng được xây dựng từ các sự kiện lịch sử được ghi trong Biên niên sự kiện của triều đại Joseon (1392-1863) được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới năm 1997 như: “Nàng Daejanggeum” hoặc “Dong-I” hoặc bộ phim “Thần y Heo Jun”, kể về cuộc đời của tác giả cuốn sách “Dongui Bogam” được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới năm
2007 [15] Qua các bộ phim được Hàn Quốc tặng, bán cho các nước trong các hoạt động giao lưu văn hoá, nhiều người đã hiểu biết về đất nước, con người, văn hoá truyền thống của Hàn Quốc
Ngoài ra, cơ quan lưu trữ của các quốc gia cũng phối hợp tổ chức triển lãm và xuất bản các ấn phẩm nhằm tăng cường giao lưu văn hoá song phương, chia sẻ các
di sản văn hoá và đẩy mạnh quan hệ giao lưu giữa các nước, ví dụ như Lưu trữ Quốc gia Singgarpore và Lưu trữ Quốc gia Malaysia đã phối hợp tổ chức triển lãm
và xuất bản thành sách với chủ đề “Reminiscences of the Straits settlements through Postcards” (Ký ức về khu định cư ở eo biển Ma-lắc-ca qua những tấm bưu thiếp) Với gần 250 tấm bưu thiếp, hình ảnh đa dạng về con người, vận tải, biểu tượng các toà nhà, cảnh đường phố, hoạt động kỷ niệm, lễ hội và giải trí… từ thập niên 1870, sách đã cung cấp những cái nhìn hiếm hoi về cuộc sống trong khu định cư ở một eo
Trang 33biển (Malacca, Penang và Singapore) thời kỳ bị chi phối dưới sự cai trị của người Anh… [63]
Cộng hoà Liên bang Đức cũng tích cực giao lưu văn hoá, Viện Gouth của Đức tại các nước thường xuyên tổ chức các chương trình văn hoá, các buổi chiếu phim tài liệu miễn phí để công chúng các nước đến xem và tìm hiểu về văn hoá Đức
Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ có những hình thức khai thác tài liệu đa dạng, tiện ích trên internet và thiết kế các vật phẩm văn hoá rất đặc sắc cho những người đến
tham quan làm quà lưu niệm như: bản tuyên ngôn độc lập hoặc tuyên ngôn giải
phóng nô lệ của nước Mỹ… để các khách tham quan có thể mua các vật phẩm văn hoá đặc biệt này làm quà tặng cho những người thân, bạn bè, đối tác sau chuyến thăm quan, làm việc trên nước Mỹ… (phụ lục 05)
1.2.3 Loại hình, số lượng và nội dung tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại tại Việt Nam
Phạm vi hoạt động của văn hoá đối ngoại rất rộng, tuỳ từng trường hợp, từng hoàn cảnh, từng mục đích của hoạt động cụ thể mà các cơ quan, tổ chức có thể sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại đang được bảo quản phân tán tại nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước Có thể giới thiệu khái quát về loại hình, số lượng và nội dung tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại hiện đang lưu trữ tại các cơ quan, tổ chức như sau:
a) Các trung tâm lưu trữ quốc gia thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước
Các trung tâm lưu trữ quốc gia (TTLTQG) thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước đang bảo quản trên 30 km giá tài liệu bằng các vật mang tin khác nhau như tài liệu giấy, tài liệu trên phim nhựa, băng từ tính, đĩa từ,… được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức; các nhân vật lịch sử, gia đình, dòng họ tiêu biểu Khối tài liệu lưu trữ này phản ánh chân thực đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của Việt Nam từ thế kỷ thứ 15 cho đến nay, chứa đựng nhiều thông tin đa dạng về văn hoá, lịch sử, đất nước, con người Việt Nam
Trang 34TTLTQG I quản lý tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của Nhà nước phong kiến Việt Nam (trừ tài liệu Mộc bản) và của chính quyền thuộc địa Pháp được viết bằng các ngôn ngữ như: Pháp, Việt và Hán-Nôm
Trung tâm hiện đang bảo quản khối tài liệu hành chính (tài liệu Châu bản, sắc phong, địa bạ Hán-Nôm của chính quyền phong kiến Việt Nam trước năm 1945, tài liệu của các cơ quan của Pháp và chính quyền thân Pháp tại Đông Dương như: Phủ Toàn quyền Đông Dương; Phủ Thủ hiến Bắc Việt, Văn phòng Bảo Đại tại Hà Nội
và Đà Lạt; Tổng Thanh tra Công chính Đông Dương; các sở tại khu vực Đông Dương và Bắc Kỳ như: Sở Tài chính Đông Dương, Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương; Sở Địa chính Bắc Kỳ, Sở Thanh tra Lao động Bắc Việt; các toà: Thượng thẩm Hà Nội, Thị chính Hà Nội; một số công ty như: Hoả xa Đông Dương-Vân Nam, Than Bắc Kỳ, Dệt Bắc Kỳ) và khối tài liệu các công trình kiến trúc xây dựng thời Pháp như: Cầu Long Biên, Phủ Toàn quyền Đông Dương (Phủ Chủ tịch), Dinh Thư ký Phủ Toàn quyền Đông Dương (trụ sở báo Nhân dân), Khu cảnh sát Bắc Kỳ (Bộ Công an), Ga Hà Nội, Trường Trung học A.Sarraut (Văn phòng Trung ương Đảng), Bảo tàng Louis Finot (Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), Nha Lưu trữ và Thư viện Đông Dương (Thư viện Quốc gia)
TTLTQG II trực tiếp quản lý tài liệu của Thống đốc Nam Kỳ; tài liệu của Chính quyền Việt Nam Cộng hoà (1954 - 1975) và của các cơ quan trung ương nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trụ sở đóng ở miền Nam
Trung tâm hiện đang bảo quản khối tài liệu hành chính (hơn 75 phông, sưu tập tài liệu khoảng 3.335 m giá tài liệu về hoạt động của các cơ quan, tổ chức trung ương của chế độ Việt Nam Cộng hoà; các cơ quan, tổ chức của Mỹ và chư hầu đóng tại miền Nam Việt Nam; các cơ quan trung ương của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975) và tài liệu bản đồ (khoảng 17.244 tấm bản
đồ thời kỳ Mỹ - Nguỵ và Chính quyền Sài Gòn ở miền Nam; bản đồ hành chính Việt Nam Cộng hoà; bản đồ hành chính đô thành Sài Gòn; bản đồ địa hình, hình thể Đông Nam Á; bản đồ quân sự; bản đồ kinh tế; bản đồ giao thông; bản đồ dân số;
Trang 35bản đồ địa chất; bản đồ nổi do Sở Đồ bản Quân đội Hoa Kỳ xuất bản như bản đồ các tỉnh Bắc Việt, Trung Việt, miền Đông Nam bộ; bản đồ các tỉnh thuộc các nước: Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Philippin) và tài liệu nghe nhìn (tài liệu ghi âm về hoạt động của Quốc hội, Tổng thống; hoạt động của Hội đồng Đô - Tỉnh - Thị; hoạt động của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà với 597 cuộn băng gốc, 599 cuộn băng sao, 122 đĩa CD-Rom, 429 giờ phát tài liệu ghi âm từ năm 1967 đến năm
1975 và tài liệu ảnh (về các phiên họp của Quốc hội; hoạt động hội đàm, công du, tiếp kiến, ký kết của Tổng thống, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo quốc gia, Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng với 40.372 tấm phim, 41.863 tấm ảnh từ năm 1952 đến năm 1975)
TTLTQG III trực tiếp quản lý tài liệu, tư liệu lưu trữ của các cơ quan, tổ chức trung ương; các cá nhân, gia đình và dòng họ tiêu biểu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ tỉnh Quảng Bình trở ra phía Bắc; các cơ quan, tổ chức cấp kỳ, cấp liên khu, cấp khu của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ năm 1945 đến nay
Trung tâm hiện đang bảo quản khối tài liệu hành chính (hơn 130 phông, khối phông về hoạt động của các cơ quan nhà nước cấp trung ương và cấp khu, liên khu
và tài liệu về các khu, sở, uỷ ban chuyên môn thuộc liên khu III, khu tự trị Thái - Mèo, khu tự trị Tây Bắc, khu tự trị Việt Bắc; Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ; Uỷ ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung bộ) khối tài liệu khoa học công nghệ (các công trình như: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình, Sân bay quốc tế Nội Bài, Thuỷ điện Hoà Bình, hồ sơ địa giới hành chính các cấp…) và khối tài liệu nghe nhìn (tài liệu ghi âm với băng ghi âm những sự kiện quan trọng trong lịch sử như: Đại hội Đảng, Kỳ họp Quốc hội, Hội nghị Chính trị đặc biệt, băng ghi âm ghi giọng nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lại bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với Việt kiều tại Pari (Pháp) ngày 15 tháng 7 năm 1946, Hội nghị Fontainbleau năm 1946, Hội nghị Geneva năm 1954, Hội nghị Paris năm 1968-1973 và tài liệu phim điện ảnh, phim tài liệu phản ánh cuộc sống, chiến đấu và sinh hoạt của nhân dân Việt
Trang 36Nam, trong đó có phim của các hãng phim nước ngoài quay trong chiến tranh Việt Nam; tài liệu ảnh (tài liệu ảnh của nhà nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản, tài liệu ảnh thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954), tài liệu ảnh Bộ Ngoại giao, tài liệu ảnh giai đoạn 1954 – 1985)
TTLTQG IV bảo quản khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn; tài liệu, tư liệu của các cơ quan, tổ chức trung ương và cá nhân thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc và của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn từ Quảng Trị đến Bình Thuận và khu vực Tây Nguyên
b) Trung tâm lưu trữ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Trung tâm lưu trữ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hiện đang lưu trữ các loại hình tài liệu đa dạng phong phú, phản ánh các hoạt động kinh tế, văn hoá,
xã hội, chính trị của từng địa phương, được thể hiện bằng nhiều ngôn ngữ như: Anh, Pháp, Hán, Việt…
c) Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch là cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trong phạm vi cả nước với rất nhiều tài liệu, tư liệu
về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá (văn hoá vật thể và phi vật thể); di sản văn hoá, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với các di tích và nhân vật lịch sử của cộng đồng các dân tộc Việt Nam; các chương trình, tiết mục, vở diễn của các tổ chức, cá nhân Việt Nam đi biểu diễn ở nước ngoài và của các tổ chức, cá nhân nước ngoài biểu diễn tại Việt Nam; điện ảnh (liên hoan phim quốc gia và quốc tế, những ngày phim nước ngoài tại Việt Nam và những ngày phim Việt Nam ở nước ngoài; quản lý phim lưu chiểu và lưu trữ các tư liệu, hình ảnh động sản xuất ở trong nước
và nước ngoài); trưng bày, triển lãm tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh quy mô quốc gia,
quốc tế; hợp tác, trao đổi sách, báo, tài liệu với nước ngoài; xúc tiến du lịch và giao lưu văn hóa Việt Nam ở nước ngoài; các hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài; quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu du lịch quốc gia; xây dựng các sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch, các sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm và hoạt động về văn hóa, thể thao, du lịch cấp quốc gia, khu vực và quốc tế
Trang 37d) Bộ Ngoại giao
Bộ Ngoại giao lưu trữ tài liệu, tư liệu về hoạt động đối ngoại của Nhà nước việt Nam, gồm: công tác ngoại giao, biên giới lãnh thổ quốc gia, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế, các cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
đ) Đài Tiếng nói Việt Nam, Truyền hình Việt Nam, Truyền hình kỹ thuật số VTC và các các đài phát thanh, truyền hình địa phương
Các đài phát thanh và truyền hình trung ương và địa phương có nguồn tài liệu nghe nhìn phản ánh các hoạt động về đất nước, con người Việt Nam
Đài Truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia của Việt Nam, phát sóng trong cả nước và có kênh phát qua vệ tinh đi quốc tế, chủ yếu làm công tác tuyên truyền đối ngoại của Chính phủ Việt Nam và phục vụ người Việt Nam ở nước ngoài (Kênh VTV4) Hiện nay, Đài đang lưu trữ khoảng 390 mét tài liệu hành chính, 2.576 cuộn phim, 26.902 tổng số cuộn băng video, 90 đĩa, 17.299 phim âm
Truyền hình kỹ thuật số VTC lưu trữ nhiều tài liệu ghi hình phục vụ các kênh truyền hình của Đài, đặc biệt là kênh VTC10 - kênh truyền hình chuyên biệt về văn hóa Việt với các chương trình như: Thời trang Việt Nam, Người Việt trẻ, Bản tin Việt Nam ngày nay, Khám phá Việt Nam, Ẩm thực Việt, Góc nhìn nhà đầu tư, Phim tài liệu, Phim truyện, Ca nhạc dân tộc, Sóng nhạc trẻ,
Đài Tiếng nói Việt Nam là đài phát thanh quốc gia, thực tiện chức năng thông tin trên các phương tiện phát thanh, internet, truyền hình và báo viết Trung tâm Âm thanh của Đài lưu trữ rất nhiều băng ghi âm các chương trình, các kênh phát thanh, trong đó có Kênh VOV 5, hệ phát thanh đối ngoại dành cho cộng đồng người nước ngoài ở Việt Nam bằng 12 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Nhật, Trung Quốc, Đức, Lào, Thái, Khmer, Indonesia và tiếng Việt trên sóng FM và kênh VOV
6 dành cho người Việt Nam và người nước ngoài ở các nước trên thế giới (Đông
Nam Á, Châu Phi, Trung Đông, Châu Âu, Châu Mỹ)
Ngoài ra, còn có 63 đài phát thanh, truyền hình địa phương lưu trữ các tài liệu phản ánh những nét đặc sắc về văn hoá, con người tại từng địa phương
Trang 38e) Thông tấn xã Việt Nam
Thông tấn xã Việt Nam là cơ quan thông tin chính thức của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, cung cấp những thông tin về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học và công nghệ của Việt Nam và thế giới, phản ánh quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về những vấn đề thời sự lớn trong nước, khu vực và trên thế giới
Hiện nay, ngoài kho lưu trữ tài liệu hành chính, Thông tấn xã Việt Nam còn có
3 kho lưu trữ chuyên ngành: Kho lưu trữ ảnh (do ban Biên tập sản xuất ảnh báo chí quản lý) với 256.258 phim và hơn 10.000 file ảnh; kho lưu trữ băng hình (do Trung tâm Truyền hình Thông tấn quản lý) với 480 băng DVD và kho lưu trữ tin bản giấy (do Trung tâm Dữ kiện – Tư liệu quản lý) với 934 m tài liệu và 560 MB tài liệu thông tin điện tử [45,5]
g) Các bảo tàng
Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện đang bảo quản 5.000 sử liệu chữ viết, 4.730 sử liệu ảnh về đấu tranh bảo vệ và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân (1945 - 1946); 4.215 sử liệu chữ viết, 4.682 sử liệu ảnh về thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1954 - 1960); miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ - Diệm; miền Bắc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ; cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975…
Ngoài ra, các bảo tàng như: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Quân đội… cũng đang lưu giữ nhiều tài liệu, tư liệu, hiện vật có giá trị phản ánh các hoạt động, các
sự kiện về đất nước, con người, văn hoá Việt Nam
h) Viện Phim Việt Nam và các hãng phim
Viện Phim Việt Nam hiện đang lưu trữ phim và bảo quản các tư liệu điện ảnh với gần 80.000 cuốn phim nhựa, 20.000 tên phim, hàng chục ngàn băng video, trong đó có sưu tập phim điện ảnh cách mạng Việt Nam những năm đầu tiên, phim
tư liệu về Đông Dương đầu thế kỷ do Viện Lưu trữ phim Pháp tặng
Hãng Phim Truyện Việt Nam đã sản xuất được hơn 300 bộ phim truyện nhựa, phim nghệ thuật và phim tài liệu, thường xuyên trao đổi, hợp tác về phim ảnh
Trang 39với các hãng phim quốc tế, góp phần giữ gìn bản sắc của dân tộc Việt Nam và giao lưu với văn hoá quốc tế
Hãng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương hiện có khoảng 12.000 bản phim lưu trữ để tuyên truyền và lưu trữ tài liệu cho các thế hệ mai sau
Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều bộ phim tài liệu hấp dẫn như: “Biệt động Sài Gòn”, “Thiếu tướng tình báo Nguyễn Đình Ngọc”, "Huyền thoại về tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn” …
Ngoài ra, rất nhiều tài liệu về các hoạt động hợp tác, giao lưu giữa các ngành, các địa phương với các cơ quan tổ chức nước ngoài hiện đang được bảo quản tại các
bộ ngành trung ương, các hội hữu nghị… chứa đựng nhiều thông tin quý giá có thể phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong từng ngành, từng lĩnh vực…
Cùng với tài liệu đang được bảo quản tại các cơ quan lưu trữ, khối tài liệu trên góp phần cung cấp nhiều thông tin, tư liệu quan trọng phục vụ các hoạt động đối ngoại và giao lưu văn hoá với các đối tác nước ngoài…
1.3.3 Sự cần thiết của việc khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế tại Việt Nam
Điều 1 của Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001 đã khẳng định tài liệu lưu trữ quốc gia là tài liệu có giá trị về nhiều phương diện, trong đó có giá trị về mặt văn hóa Tài liệu lưu trữ, xét về nhiều mặt, chính là di sản văn hoá của quốc gia, dân tộc
Do vậy, "các thông tin trong tài liệu lưu trữ thường xuyên được khai thác và sử dụng phục vụ cho việc nghiên cứu văn hoá quốc gia, văn hoá các tộc người, văn hoá vùng, miền… góp phần làm sang tỏ những giá trị văn hoá truyền thống của người Việt, là cứ liệu tin cậy để thế giới công nhận và xếp hạng nhiều di sản văn hoá có giá trị của Việt Nam Những nghiên cứu về văn hoá dựa trên cơ sở tài liệu lưu trữ
đã góp phần giới thiệu văn hoá Việt Nam với bạn bè thế giới và ngược lại; góp phần đẩy mạnh giao lưu văn hoá… khai thác tài liệu lưu trữ để xác định, tổ chức triển lãm quá trình hình thành và phát triển của các địa danh du lịch nổi tiếng, góp phần thu hút khách du lịch đến Việt Nam…” [40, 13-14]
Trang 40Khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ hoạt động văn hoá đối ngoại là một giải pháp thực sự cần thiết và hữu hiệu để giới thiệu một cách sinh động, lôi cuốn và hấp dẫn đối với công chúng trong và ngoài nước thông qua việc tiếp cận trực tiếp với nguồn tài liệu gốc Như lời Ông Dương Trung Quốc - Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam khi nói về sưu tập bưu ảnh chủ yếu do người Pháp chụp và phát hành vào đầu thế kỷ 20 cho rằng: pho sử bằng ảnh này có thể được sử dụng hiệu quả khi muốn tái tạo bối cảnh xưa trên sân khấu, phim ảnh Hơn thế, trước đây bưu ảnh đã quảng bá hình ảnh thuộc địa rất tốt, vậy chúng ta hãy suy nghĩ về vai trò của
nó trong cuộc sống ngày nay trong việc quảng bá hình ảnh, thu hút du lịch, thu hút đầu tư " [69]
Tài liệu lưu trữ là một nguồn di sản văn hoá của Việt Nam, Điều 12 của Luật
Di sản văn hóa năm 2009 đã nêu rõ: “Di sản văn hoá Việt Nam được sử dụng nhằm mục đích: phát huy giá trị di sản văn hóa vì lợi ích của toàn xã hội và góp phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế” [43] Do đó, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, việc khai thác các tài liệu lưu trữ phục vụ cho nhiệm vụ đối ngoại văn hoá nhằm giới thiệu Việt Nam là một đất nước đa dạng về văn hoá, anh hùng trong chiến đấu, năng động và cởi mở trong đổi mới và hội nhập “là trách nhiệm và cũng là vinh dự của của các cơ quan lưu trữ” [40, 17]
Hiện nay, triển khai thực hiện văn hoá đối ngoại trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng được các cơ quan của Việt Nam quan tâm Nhiều giải pháp
đã được đưa ra nhằm triển khai và nâng cao chất lượng hoạt động văn hoá đối ngoại như lựa chọn quốc hoa, quốc phục, quốc thực tuy nhiên, những vấn đề đó chỉ mang tính hình thức mà chưa thực sự chú trọng đến bề sâu và hiệu qủa lâu dài Chúng ta không chỉ muốn thế giới biết đến Việt Nam qua vẻ ngoài của tà áo dài, nón lá dân tộc, cây đàn bầu đặc sắc hay biểu tượng của loài hoa sen, cây tre, cây lúa mà còn muốn bạn bè thế giới khám phá và hiểu sâu sắc về một Việt Nam đa dạng về văn hoá, dũng cảm trong chiến đấu, năng động trong hội nhập, tích cực lao động, sáng tạo với những bằng chứng thiết thực chứng minh về việc làm của Việt Nam như câu nói:
“Đừng nói, hãy làm và hãy cho tôi xem bằng chứng”