1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động của lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc sau chiến tranh lạnh

275 1,1K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 275
Dung lượng 4,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ năm 1995, Viện Quan hệ quốc tế Pháp hàng năm công bố nghiên cứu tổng hợp về hệ thống kinh tế và các vấn đề có tính chất chiến lược trên thế giới RAMSES, do các giáo sư De Montbrial v

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

trường Đại học Khoa học x∙ hội và Nhân văn

-

nguyễn Hồng quân

hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình liên hợp quốc

sau chiến tranh lạnh

Luận án tiến sĩ lịch sử

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

trường Đại học Khoa học x∙ hội và Nhân văn

nguyễn Hồng quân

hoạt động của lực lượng

gìn giữ hòa bình liên hợp quốc

sau chiến tranh lạnh

Trang 3

Lời cám ơn

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân Vũ Dương Ninh, Phó Giáo sư –Tiến sĩ Nguyễn Văn Kim –

hai Thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học khi tôi làm luận án

Sau khi tôi hoàn thành luận văn Thạc sỹ tại Học viện Quan hệ quốc tế, nhờ

sự động viên, khích lệ và chỉ dẫn của Giáo sư Vũ Dương Ninh, tôi củng cố quyết

tâm tiếp tục nghiên cứu chủ đề “Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc” tại

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Mặc

dù rất bận, các Thầy đã dành nhiều thời gian nhiệt tình hướng dẫn, xem tỷ mỉ bản thảo từng chương luận án và cho tôi những lời chỉ dẫn quý giá Qua các Thầy, tôi học được cách thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc Điều này rất cần thiết đối với bước đường công tác của tôi Thành công của luận án này không chỉ nhờ sự khích lệ, gợi mở mà còn mang theo tâm huyết của các Thầy.

Tôi trân trọng cám ơn sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, các thầy cô Khoa Lịch sử, Bộ môn Lịch sử thế giới, các Khoa và Phòng chức năng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, đã tạo nhiều thuận lợi trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại mái trường này Tôi hình dung khó có thể hoàn thành luận án đúng hạn, nếu thiếu những ý kiến đóng góp quý báu của

Trang 4

các thầy cô Khoa Lịch sử, cũng như nếu không có sự giúp đỡ của các Khoa, Phòng nói trên

Xin chân thành cám ơn các đồng chí Lãnh đạo – Chỉ huy, cùng cán bộ, nhân viên Cục Đối ngọai – Bộ Quốc phòng - nơi tôi làm việc, đã dành cho tôi sự

giúp đỡ, khích lệ trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài Trong khi bộn bề công tác chuyên môn, thì sự giúp đỡ ấy đã tiếp cho tôi nguồn sinh lực để hoàn thành luận án

Xin chân thành biết ơn các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các tướng lĩnh,

sĩ quan quân đội, các nhà ngoại giao, các cán bộ quản lý, nghiên cứu, giảng dạy

đã và đang công tác tại các Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Ngọai giao, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Quốc phòng, Học viện Chính trị khu vực I, Hội đồng Lý luận Trung ương, Viện Chiến lược quân sự, Viện Lịch sử quân sự, Học viện Quan hệ quốc tế, các Viện Sử học, Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Đông Nam á, Viện Nghiên cứu Châu Mỹ, Viện Nghiên cứu Châu Âu, Viện Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hội đồng Lý luận Trung ương, các Truờng

Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học

Khoa học Huế, Đại học Đông Đô v.v… đã giúp chúng tôi thu thập tài liệu, góp

ý kiến, động viên khích lệ trong quá trình chúng tôi chuẩn bị luận án

Tôi không quên gửi lời cám ơn tất cả bạn bè, người thân – những người

luôn ở bên tôi, chia sẻ cùng tôi những trăn trở trên mỗi trang luận án và giúp đỡ tôi thực hiện luận án này./

Trang 5

Lêi cam ®oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc Nh÷ng kÕt luËn cña luËn ¸n ch−a tõng ®−îc c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c

T¸c gi¶

NguyÔn Hång Qu©n

Trang 6

Mục lục

Lời cam đoan ……….……….……… ……… 2

Mục lục………… ……….……… ……… … 3

Danh mục các chữ viết tắt……… … 5

Mở đầu……… .6

Chương 1 hoàn cảnh ra đời, cơ sở pháp lý, hoạt động của lực lượng gìn giữ hoà bình liên hợp quốc trong thời kỳ chiến tranh lạnh 18

1.1- Hoàn cảnh ra đời của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ……… … 18

1.1.1- Sự ra đời của LHQ và mục tiêu bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới………18

1.1.2- Bối cảnh quốc tế thời kỳ Chiến tranh lạnh………22

1.1.3- Sự ra đời của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ……….29

1.2- Cơ sở pháp lý, cơ cấu tổ chức của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ……… … 36

1.2.1- Cơ sở pháp lý hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ……… 36

1.2.2- Cơ cấu tổ chức của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ……… ……… 42

1.3- Sơ lược hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ trong Chiến tranh lạnh 46

1.3.1- Lực lượng khẩn cấp thứ nhất của LHQ (UNEF-1)………46

1.3.2- Hoạt động gìn giữ hòa bình do LHQ tiến hành tại Namibia……….51

1.3.3- Đánh giá chung về hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ trong Chiến tranh lạnh……….67

Tiểu kết ……… ……… .71

Chương 2

hoạt động của lực lượng gìn giữ hoà bình liên hợp quốc sau chiến tranh lạnh 73

2.1- Bối cảnh quốc tế và sự điều chỉnh chính sách của các ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an đối với hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ 74

2.1.1- Những chuyển biến lớn sau Chiến tranh lạnh……… 74

2.1.2- Vai trò các Tổng Thư ký LHQ……… 85

2.2- Mở rộng cơ sở pháp lý, nhiệm vụ và tổ chức lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ… 87

2.2.1- Mở rộng cơ sở cho hoạt động gìn giữ hòa bình ……….… 87

2.2.2- Bước phát triển về yêu cầu nhiệm vụ, tổ chức của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ……… ……….… 90

2.3- Các loại hình chiến dịch của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ sau Chiến tranh lạnh………96

2.3.1- Chiến dịch gìn giữ hòa bình truyền thống……….………96

2.3.2- Chiến dịch gìn giữ hòa bình mở rộng……….……….103

2.3.3- Chiến dịch gìn giữ hòa bình xen lẫn hành động cưỡng chế………… 121

Tiểu kết……….143

Chương 3

nhận xét chung và kiến nghị 145

3.1- Nhận xét chung về hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ sau Chiến tranh lạnh 145

3.1.1- Phân biệt các loại lực lượng gìn giữ hòa bình…… 145

3.1.2- Sự phát triển của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ

Trang 7

3.1.3- Thành công của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ 159

3.1.4- Những hạn chế của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ 165

3.2- Thách thức chủ yếu đối với lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ trong thời gian tới……….168

3.2.1- Yêu cầu phải tổ chức nhiều hơn các chiến dịch gìn giữ hòa bình…… 168

3.2.2- Các nước lớn tranh giành ảnh hưởng và tìm cách chi phối các chiến dịch gìn giữ hòa bình trên từng địa bàn cụ thể……… 169

3.2.3- Khó đảm bảo tôn trọng chủ quyền quốc gia khi “can thiệp nhân đạo” 170

3.2.4- Khó khăn về đảm bảo tài chính, hận cần……….…… 171

3.2.5- Thiếu nguồn nhân lực và biện pháp đảm bảo an ninh cho nhân viên 172

3.3- Kiến nghị việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ… …… 173

3.3.1- Việt Nam nên tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ………… …174

3.3.2- Khả năng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ của Việt Nam …177

3.3.3- Mục tiêu tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ……… …179

3.3.4- Quan điểm cần tuân thủ khi tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ …180

3.3.5- Những điều nên tránh khi tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ……… …181

3.3.6- Công tác chuẩn bị trước khi tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ………… ……… 182

Tiểu kết……… ………… 184

Kết luận……… ……… 186

Danh mục công trình khoa học của tác giả đ∙ công bố liên quan đến luận án ……… 191

Danh mục tài liệu tham khảo chủ yếu ……… ………….…….……….…… …… ……… 192

Danh mục các bảng

Bảng 1.1- Số lần sử dụng quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an LHQ trong Chiến tranh lạnh (1945 – 1991)………… ……… …26

Bảng 2.1- So sánh số lần sử dụng quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an trong Chiến tranh lạnh và sau Chiến tranh lạnh (từ1992 đến 2005)…….…80

Bảng 2.2- Số lượng chiến dịch gìn giữ hòa bình LHQ tiến hành sau Chiến tranh lạnh ……… ……… ………….91

Bảng 2.3- Sơ đồ tổ chức Vụ Các chiến dịch gìn giữ hòa bình LHQ (DPKO) ……… 92

Bảng 2.4- Cơ cấu phái đoàn gìn giữ hòa bình LHQ……… 93

Bảng 2.5- Chín nước góp nhân viên nhiều nhất cho lực lượng gìn giữ hòa bình SFOR và KFOR do NATO chỉ huy tại Nam Tư………143

Danh mục các Bản đồ

Bản đồ Ixraen – Palextin……… ……… 31

Bản đồ Namibia……… 55

Các chiến dịch gìn giữ hòa bình do LHQ tổ chức (tháng 2-2006)… …… …………91

Bản đồ khu vực Tây Xahara……….101

Bản đồ Campuchia………111

Bản đồ các nước Cộng hoà tách ra từ Liên bang Nam Tư………126 Phụ lục

Trang 8

danh mục các chữ viết tắt

ANC Africa’s National Congress Đại hội Dân tộc Phi của Nam Phi

asean Association of South East Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á Asian Nations

ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN

CIS Community of Independent States Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) DPKO Department for Peacekeeping Vụ Các chiến dịch gìn giữ hòa bình

Ecomog Economic Community Military Nhóm quan sát viên quân sự Cộng Observers Group đồng Kinh tế các Quốc gia Tây Phi Ecosoc United Nations Economic and Hội đồng kinh tế-xã hội của LHQ

ECOWAS Economic Community in West Cộng đồng Kinh tế các Quốc gia Tây

IFOR Implementation Force Lực lượng đa quốc gia tại Nam Tư ICAO International Civil Aviation Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế Organization

Icc International Criminal Court Tòa án Hình sự Quốc tế

Oua Organisation d' Unité africaine Tổ chức Thống nhất châu Phi

SFOR Stabiisation Force Lực lượng ổn định ở Nam Tư cũ

SNC Supreme National Council Hội đồng Dân tộc tối cao Campuchia Swapo South West Africa Poeple's Tổ chức Nhân dân Tây Nam Phi

UNDP UN Development Programme Chương trình Phát triển của LHQ

Unhcr United Nations Hight Cao ủy LHQ về người tị nạn

UNSAS United Nations Stand-by Hệ thống các dàn xếp thường trực

WEU Western European Union Liên minh Tây Âu

Trang 9

Mở đầu

1-tính cấp thiết của đề tài

" Nhân loại bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới với biết bao kỳ vọng

về một thế giới hòa bình, hợp tác và phát triển trước những vận hội mới, to lớn mà tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin mang lại; nhưng điều đáng buồn

là, ngay từ những năm đầu của thế kỷ, nhân loại đang phải đối mặt với những âu lo, những thách thức, những bất trắc khó lường của tình hình thế giới, của nạn khủng

bố, của chiến tranh và các cuộc xung đột"[18]

Sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, các cuộc xung đột cục bộ vẫn xảy ra liên tiếp, có chiều hướng gia tăng do mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ, tranh giành quyền lực Trong vài thập kỷ tới, tình hình thế giới vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp do những mâu thuẫn vốn có và những mâu thuẫn mới nảy sinh

Khát vọng của mọi người, mọi dân tộc là được sống trong môi trường hòa bình, hữu nghị, hạnh phúc, phát triển bền vững, không có xung đột vũ trang Trong bối cảnh ấy, Liên hợp quốc (LHQ) có vai trò ngày càng lớn, trong đó hoạt động gìn giữ hoà bình là một trong những hoạt động quan trọng nhất

Luận án “Hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ sau Chiến tranh lạnh” tập trung nghiên cứu hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình trong khoảng thời gian chưa đầy hai thập kỷ, nhưng có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Luận án nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu hoàn cảnh ra đời, những nguyên tắc, cơ sở pháp lý, thực chất và vai trò của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ Qua đó, luận

Trang 10

án tạo dựng bức tranh tổng quát, khái quát những đóng góp, hạn chế của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ, chủ yếu thời kỳ sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh Thông qua phân tích các hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ, luận án góp phần làm

rõ hơn cách thức các nước lớn đấu tranh với nhau và sử dụng LHQ vào việc xây dựng trật tự thế giới mới sau Chiến tranh lạnh theo lợi ích riêng

Tháng 12-2005, Việt Nam công bố chủ trương tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ khi hội đủ những điều kiện cần thiết Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này không những có ý nghĩa khoa học, mà còn mang ý nghĩa thực tiễn Từ kết quả nghiên cứu, luận án cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách cho việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ Điều này càng trở nên cấp thiết khi thời điểm Đại hội đồng LHQ có thể bầu Việt Nam làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (HĐBA) LHQ khóa 2008-2009 không còn

xa nữa

2- lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ được một số học giả trên thế giới đề cập dưới những góc độ khác nhau

Một số học giả giới thiệu cơ cấu tổ chức LHQ, HĐBA và cách thức tổ chức một chiến dịch gìn giữ hòa bình Năm 1987, Viện Luật học thuộc Viện Khoa

học xã hội Việt Nam, xuất bản cuốn Liên hợp quốc - Tổ chức, Những vấn đề pháp lý

cơ bản, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành, giới thiệu những vấn đề cơ bản

về LHQ

Năm 1992, tác giả Nguyễn Quốc Hùng xuất bản cuốn Liên hợp quốc, trình

bày những vấn đề cơ bản về tổ chức LHQ, đề cập tới hoạt động của HĐBA, trong đó

có hoạt động gìn giữ hòa bình

Cuốn sách Các tổ chức quốc tế mang tính toàn cầu (Organisations

internationales à vocation universelle) của Cơ quan lưu trữ Pháp xuất bản năm 1993,

đề cập cơ cấu tổ chức của LHQ, HĐBA và vấn đề tổ chức các chiến dịch gìn giữ hòa bình Cuốn sách nêu rõ quá trình thảo luận, các bước ra quyết định tổ chức một chiến dịch gìn giữ hòa bình do LHQ lãnh đạo

Trang 11

Cuốn Cơ cấu tổ chức của Liên hợp quốc, do Bộ Ngoại giao và Ngoại thương

Niu Dilân biên soạn và Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội xuất bản năm

2001, dành một phần điểm lại các chiến dịch do lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ

tiến hành từ năm 1948 đến năm 2000 Cuốn sách không phân tích các chiến dịch gìn giữ hòa bình

Một số cơ quan, tác giả phân chia các chiến dịch gìn giữ hòa bình LHQ thành các loại hình khác nhau

Lịch trình vì hòa bình (Agenda pour la paix) của Tổng Thư ký LHQ Boutros

Ghali, ra đời năm 1992, đã phân tích các biện pháp ngoại giao phòng ngừa, tái lập, gìn giữ, củng cố hòa bình sau khi giải quyết xung đột, đề ra cách thức hợp tác giữa

LHQ với các tổ chức khu vực Theo Lịch trình vì hoà bình các nỗ lực hòa bình bao

gồm nhiều hoạt động, từ ngoại giao phòng ngừa cho tới những công việc thuộc lĩnh vực hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ như giám sát bầu cử hoặc cưỡng

chế hoà bình Lịch trình vì hòa bình kêu gọi các quốc gia thành viên LHQ cần có

cách nghĩ mới và toàn diện về trách nhiệm gìn giữ hòa bình trên thế giới, coi lực lượng gìn giữ hòa bình như một công cụ để nâng cao vị thế chính trị của LHQ Đây

là điểm phát triển mới, vì trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, các hoạt động gìn giữ hòa bình do LHQ tiến hành chủ yếu giới hạn ở các hoạt động quan sát, giám sát ngừng bắn, hầu như chưa tổ chức những hoạt động củng cố hòa bình sau xung đột

Xung quanh hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình, Tổng Thư ký LHQ B

Boutros Ghali có bài LHQ và các chiến dịch gìn giữ hòa bình đang ở ngã tư đường

(L'ONU et les opérations de maintien de la paix à la croisée des chemins) đăng trên

Tạp chí Quan hệ quốc tế và Chiến lược (Relations internationales et stratégiques),

số 11, mùa Thu 1993 Tác giả cho rằng hiện nay các hoạt động hòa bình đang dao

động giữa phương pháp trừng phạt và phương pháp truyền thống; khẳng định gìn giữ hòa bình không chỉ là nhiệm vụ của LHQ, mà là nhiệm vụ của tất cả các quốc gia trên thế giới, các tổ chức khu vực, là nhiệm vụ mang tính toàn cầu, thường xuyên, cần lực lượng tình nguyện hoạt động lâu dài Tác giả nhắc lại rằng, gìn giữ hòa bình cần nằm trong khuôn khổ quá trình vận động từ ngoại giao phòng ngừa, đến gìn giữ hòa bình và củng cố hòa bình sau xung đột

Trang 12

Mấy năm sau, do sự phát triển của tình hình, Tổng Thư ký LHQ B Boutros

Ghali công bố báo cáo Bổ sung Lịch trình vì hòa bình (Supplément à l’Agenda pour

la paix) vào năm 1995 Theo Bổ sung Lịch trình vì hòa bình, hoạt động gìn giữ hòa

bình từ nay không chỉ gồm hoạt động truyền thống, mà còn mở rộng ra nhiều hoạt

động, từ giám sát ngừng bắn, gom và giải ngũ các bên xung đột, đưa những người đã từng tham chiến tái hòa nhập vào cộng đồng dân sự, phá hủy các phương tiện chiến tranh cùng vũ khí của họ; rà phá mìn; đưa dân tỵ nạn trở lại quê quán; phân phát hàng cứu trợ nhân đạo; giám sát việc thiết lập và điều hành cơ cấu chính quyền dân sự; lập lực lượng cảnh sát mới (bao gồm cả tư vấn xây dựng pháp luật); kiểm chứng việc tôn trọng các quyền con người; thiết kế và giám sát công tác cải cách thể chế, lập pháp và bầu cử; phối hợp nỗ lực khôi phục kinh tế và tái thiết đất nước

Các tác giả Karns và Mingst xuất bản cuốn sách Liên hợp quốc thời kỳ hậu

Chiến tranh lạnh (The United Nations in the Post-Cold War Era) năm 1995, điểm

những hoạt động gìn giữ hòa bình và cưỡng chế hòa bình từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh đến năm 1994

Trong cuốn sách Kiến tạo hòa bình và Gìn giữ hòa bình trong thế kỷ mới

(Peacemaking and Peacekeeping for the New Century) do Nhà xuất bản Littlefield Publishers ấn hành năm 1998, Phó Tổng Thư ký LHQ Kofi Annan có bài viết nhan

đề Những thách thức đối với việc gìn giữ hòa bình thế hệ mới (Chalanges of the New

Peacekeeping) Tác giả cho rằng LHQ cần tiến hành ba loại hoạt động gìn giữ hòa bình trong tương lai, đó là những hoạt động truyền thống, những hoạt động đa dạng nhằm thực hiện giải pháp toàn diện sau quá trình thương lượng lâu dài và sử dụng các biện pháp cưỡng chế ở những nơi xã hội dân sự bị tan rã

Bàn về các thế hệ hoạt động gìn giữ hòa bình, ông Akashi - tác giả bài Chính

sách gìn giữ hòa bình của LHQ từ Campuchia tới Nam Tư (The politics of UN

peacekeeping from Cambodia to Yugoslavia) đăng trong cuốn Các chiến dịch gìn

giữ hòa bình của LHQ: Các phái đoàn, Can dự thường trực (United Nations

Peacekeeping Operations: Ad hoc Missions, Permanent Engagement), xuất bản năm

2001 phân chia hoạt động gìn giữ hòa bình thành bốn thế hệ, đó là: gìn giữ hoà bình truyền thống (thời kỳ Chiến tranh lạnh); gìn giữ hoà bình thế hệ thứ hai (như những

Trang 13

chiến dịch ở Campuchia, Namibia và Môdămbích); cưỡng chế hoà bình ( như ở Xômali vào năm 1993); gìn giữ hoà bình thế hệ thứ tư, nằm ở đâu đó giữa thế hệ thứ hai và thế hệ thứ ba

Cũng trong cuốn sách Kiến tạo hòa bình và Gìn giữ hòa bình trong thế kỷ

mới (Peacemaking and Peacekeeping for the New Century) của Nhà xuất bản

Littlefield Publishers ấn hành năm 1998, cựu Tổng Thư ký LHQ B Boutros Ghali phân tích đặc điểm hoạt động gìn giữ hòa bình sau Chiến tranh lạnh là vượt ra ngoài hoạt động gìn giữ hòa bình truyền thống, vì phần lớn các cuộc xung đột trên thế giới sau Chiến tranh lạnh là nội chiến Theo tác giả, để đảm bảo hiệu quả khi tiến hành cưỡng chế xen lẫn với hoạt động gìn giữ hòa bình, cần chia thành hai giai đoạn; giai

đoạn 1, HĐBA trao quyền cho các tổ chức khu vực tiến hành cưỡng chế nhằm tạo môi trường an toàn, sau đó giai đoạn 2 bàn giao cho lực lượng LHQ thực hiện gìn giữ, tái thiết hòa bình

Từ năm 1995, Viện Quan hệ quốc tế Pháp hàng năm công bố nghiên cứu

tổng hợp về hệ thống kinh tế và các vấn đề có tính chất chiến lược trên thế giới (RAMSES), do các giáo sư De Montbrial và Jacquet làm chủ biên, trong đó điểm hoạt động giữ gìn hòa bình, an ninh ở các khu vực Các báo cáo năm 2001 và năm

2003 được Học viện Quan hệ quốc tế - Bộ Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Hà Nội dịch ra tiếng Việt và Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia in thành sách dưới tên Thế giới toàn cảnh

Có cơ quan, tác giả đã phân tích một số chiến dịch gìn giữ hòa bình cụ thể

Nhân dịp lực lượng gìn giữ hòa bình tròn 50 tuổi, LHQ phát hành cuốn Năm

mươi năm gìn giữ hòa bình 1948-1998 (50 ans de maintien de la paix 1948-1998),

thống kê và giới thiệu sơ lược các chiến dịch gìn giữ hòa bình do LHQ đảm nhiệm

từ 1948 tới 1998 Tất nhiên cuốn sách này không đề cập tới hoạt động gìn giữ hòa bình do các tổ chức khu vực hoặc các lực lượng đa quốc gia tiến hành

Năm 2001, đại tá Nambiar, người trực tiếp tham gia chiến dịch gìn giữ hòa

bình tại Nam Tư đã viết bài Hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ tại Nam Tư: từ

chiến dịch UNPROFOR tới hoạt động ở Côxôvô (UN Peacekeeping Operations in

Trang 14

the former Yugoslavia from UNPROFOR to Kosovo) đăng trong cuốn sách Các

chiến dịch gìn giữ hòa bình của LHQ: Các phái đoàn, Can dự thường trực (United

Nations Peacekeeping Operations: Ad hoc Missions, Permanent Engagement) Tác giả đã giới thiệu khía cạnh chính trị, khía cạnh quân sự của các chiến dịch gìn giữ hòa bình, vấn đề phối hợp giữa các lực lượng gìn giữ hòa bình với các tổ chức cứu trợ tại Nam Tư

Trong bài Chính sách gìn giữ hòa bình của LHQ từ Campuchia tới Nam Tư

(The politics of UN peacekeeping from Cambodia to Yugoslavia) đăng trong cuốn

Các chiến dịch gìn giữ hòa bình của LHQ: Các phái đoàn, Can dự thường trực

(United Nations Peacekeeping Operations: Ad hoc Missions, Permanent Engagement), xuất bản năm 2001, tác giả Akashi đã trình bày về hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ tại Campuchia và ở Nam Tư

Năm 2002, Thông tấn xã Việt Nam xuất bản cuốn sách Cuộc xung đột Israel

& Arập, điểm các cuộc chiến tranh Trung Đông từ năm 1949 đến năm 2002, nhưng

đề cập sơ qua hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ

Cuốn Những điểm nóng trên thế giới gần đây, do Vụ Quốc tế thuộc Ban Tư

tưởng - Văn hóa Trung ương biên soạn và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành năm 2002, điểm một số cuộc xung đột trên thế giới, trong đó đề cập tới cuộc chiến tranh ở Côxôvô (Nam Tư)

Cuốn Ngoại giao Việt Nam (1945-1995) của tác giả Lưu Văn Lợi, do Nhà

xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2004, dành một chương về quan hệ Việt Nam – Campuchia, đồng thời đề cập một số nét chủ yếu về hoạt động của lực lượng

gìn giữ hòa bình LHQ tại Campuchia từ 1992 đến 1993

Các nước lớn có chính sách khác nhau đối với hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ Điều này được phản ánh qua bài viết của một số học giả

Tác giả Fravel có bài trên Tạp chí Asian Survey số 11 (tháng 11-1996) nhan

đề Thái độ của Trung Quốc đối với các chiến dịch gìn giữ hòa bình của LHQ từ

năm 1989 (China's attitude toward UN Peacekeeping Operations since 1989) Bài

viết đề cập việc Trung Quốc thay đổi nhận thức đối với hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ Từ chỗ không chấp nhận, Trung Quốc đã tham gia trực tiếp vào các chiến

Trang 15

dịch gìn giữ hòa bình LHQ sau Chiến tranh lạnh Tác giả cũng điểm quá trình Trung Quốc chuẩn bị lực lượng và từng bước đưa nhân viên tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ

Năm 1997, học giả Yermolaev có bài trên internet Chính sách của Nga về

gìn giữ hòa bình quốc tế và quản lý khủng hoảng tại môi trường hậu Xô viết

(Russia's international Peacekeeping and Conflict Management in the Post-Soviet

environment), đề cập quan điểm của Nga về hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ Tác

giả cho biết Nga chuẩn bị cơ sở pháp lý, dành khối lượng vật lực, nhân lực khá lớn

để tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ

Năm 1998, Stern (chủ biên) xuất bản cuốn Hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ:

Hướng dẫn về chính sách của Pháp (United Nations Peacekeeping Operations A

Guide to French Policies), nêu lên chính sách, đóng góp tài chính, nhân lực của Pháp về hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ Theo tác giả, Pháp coi việc tham gia hoạt

động gìn giữ hòa bình LHQ là vấn đề chiến lược, nhằm bảo vệ không gian kinh tế, thương mại quốc tế của Pháp

Vấn đề hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ đã được đề cập, thống kê trong Sách

trắng quốc phòng của các nước Anh, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản…từ năm 2000

trở lại đây

Đề cập tới vai trò các nước lớn đối với chiến dịch gìn giữ hòa bình của LHQ,

ông Akashi - tác giả bài Chính sách gìn giữ hòa bình của LHQ từ Campuchia tới

Nam Tư (The politics of UN peacekeeping from Cambodia to Yugoslavia) đăng

trong cuốn Các chiến dịch gìn giữ hòa bình của LHQ: Các phái đoàn, Can dự

thường trực (United Nations Peacekeeping Operations: Ad hoc Missions, Permanent

Engagement), xuất bản năm 2001 – cho rằng ở đâu các nước lớn có nhiều quyền lợi

đan xen, thì ở đó chiến dịch gìn giữ hòa bình càng diễn ra phức tạp

Đối với vấn đề đổi mới hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ, Otunu và Doyle -

các tác giả cuốn Kiến tạo hoà bình và Gìn giữ hòa bình trong thế kỷ mới

(Peacemaking and Peacekeeping for the New Century) xuất bản năm 1998 - nêu yêu

cầu tranh thủ sự ủng hộ của các quốc gia đối với hoạt động gìn giữ hòa bình; xây

dựng các quy tắc, nhấn mạnh nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, xây dựng

Trang 16

các quy phạm chung… nhằm xem xét chính sách và hành động của các quốc gia thành viên mỗi tổ chức khu vực

Đề cập những thách thức của lực lượng gìn giữ hòa bình trong tương lai,

các tác giả Karns và Mingst có bài Gìn giữ hòa bình và vai trò đang thay đổi của

LHQ: Bốn vấn đề nan giải (Peacekeeping and the changing role of the United

Nations: Four dilemmas), đăng trong tác phẩm Các chiến dịch gìn giữ hòa bình của

LHQ: Các phái đoàn, Can dự thường trực (United Nations Peacekeeping

Operations Ad hoc Missions, Permanent Engagement), xuất bản năm 2001, do Thakur và Schnabel đồng chủ biên Theo các tác giả, bốn thách thức đó là bất đồng

về tiêu chí chủ quyền quốc gia; sự phối hợp giữa lực lượng gìn giữ hòa bình với các

tổ chức quân sự khu vực; vấn đề tính pháp lý của HĐBA khi đưa ra quyết định tổ chức chiến dịch gìn giữ hòa bình; vấn đề Mỹ cam kết đóng góp tài chính cho hoạt

động gìn giữ hòa bình

Bàn về những khó khăn của lực lượng gìn giữ hòa bình trong thời gian tới,

khi trả lời phỏng vấn tạp chí Quân đội ngày nay (Armées d' aujourd'hui) (Pháp) số

287 tháng 2-2004, ông Guéhenno, Phó Tổng Thư ký LHQ phụ trách Vụ Các hoạt

động gìn giữ hòa bình LHQ (DPKO) cho rằng đó là vấn đề nhân lực, tài chính, đảm bảo an toàn cho nhân viên

Những năm gần đây, Việt Nam ngày càng quan tâm tới hoạt động của

lực lượng gìn giữ hòa bình Không chỉ cử quan chức tham dự một số hội thảo quốc

tế, tháng 3-1999 Bộ Ngoại giao Việt Nam còn tổ chức tọa đàm, với sự tham gia của

đại diện Bộ Ngoại giao, Công an, Quốc phòng và một số học giả nước ngoài, nhằm cung cấp cho các cơ quan hữu quan thông tin về vấn đề gìn giữ hòa bình, bước chuẩn bị cho việc Việt Nam có thể tham gia tích cực, chủ động hơn vào các công việc của cộng đồng quốc tế

Tháng 6-2005, các Bộ Ngoại giao, Quốc phòng và Công an Việt Nam đã tổ chức đoàn đi nghiên cứu hoạt động này tại trụ sở LHQ và tham quan hoạt động gìn giữ hòa bình LHQ diễn ra tại Haiiti Báo cáo kết quả chuyến khảo sát là một trong những cơ sở để đề xuất với lãnh đạo cấp cao một khi Việt Nam quyết định tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình

Trang 17

Tháng 11-2005, Bộ Ngoại giao Việt Nam phối hợp với DPKO và Đại sứ quán Anh tại Hà Nội tổ chức hội thảo “Hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ và kinh nghiệm tham gia của các nước”, giới thiệu những vấn đề kỹ thuật đối với một quốc gia lần đầu tham gia các chiến dịch gìn giữ hòa bình LHQ

Nhìn chung các tác giả trong nước và ngoài nước đề cập tới khía cạnh chính trị quốc tế của hoạt động gìn giữ hòa bình, nhưng chưa tác giả nào tổng kết, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ sau Chiến tranh lạnh

Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên một số phương tiện thông tin đại chúng ngoài nước hiểu và đưa tin chưa thống nhất về lực lượng gìn giữ hòa bình Lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ mang lại thành công ít nhiều cho nhân loại, chí ít là cho đa số nhân dân ở nước có xung đột, nhưng vẫn không tránh khỏi bị hiểu sai lệch Vì thế, việc trình bày lịch sử hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ không phải là công việc dễ dàng

3- Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Đây là đề tài nghiên cứu lịch sử hiện đại, cụ thể là nghiên cứu hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình sau Chiến tranh lạnh Tác giả ứng dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử để nghiên cứu quá trình lịch sử ra đời và phát triển, hệ thống hoá các hình thức hoạt động, xem xét những tiến triển mới cũng như cơ sở pháp lý của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ từ sau Chiến tranh lạnh, đề xuất chủ trương, quan

điểm, khả năng, hình thức, mức độ Việt Nam có thể tham gia vào lực lượng gìn giữ hòa bình, thực hiện trách nhiệm của quốc gia thành viên LHQ

Lâu nay, nhiều người cho rằng mọi hoạt động gìn giữ hòa bình trên thế giới

đều do lực lượng gìn giữ hoà bình LHQ tiến hành Trên thực tế, có ít nhất ba lực

lượng thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Một là, lực lượng gìn giữ hòa bình do LHQ lãnh đạo Hai là, lực lượng gìn giữ hòa bình do một quốc gia lãnh đạo, tiến hành “cưỡng chế hoà bình” theo uỷ nhiệm của HĐBA Ba là, lực lượng gìn giữ hòa bình do các tổ chức khu vực chỉ đạo, theo Chương VIII, Hiến chương LHQ Ngoài

ra, lực lượng đa quốc gia can thiệp vào một số nước, nhưng không được LHQ cho

Trang 18

phép, như lực lượng liên quân tại Irắc (cuộc chiến tranh tháng 3-2003) Cần khẳng

định đó không phải là lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ

Trong khuôn khổ luận án, tác giả tập trung nghiên cứu sự ra đời, phát triển và hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình do LHQ chỉ đạo và trực tiếp tổ chức thực hiện Luận án chỉ có thể đề cập sơ lược một số hoạt động “cưỡng chế ” và không đề cập các hoạt động gìn giữ hòa bình do các tổ chức khu vực tiến hành

Lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ ra đời và hoạt động từ năm 1948, nhưng luận án tập trung nghiên cứu hoạt động của lực lượng này kể từ sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, tức là từ khi Liên Xô sụp đổ (tháng 12-1991) tới nay

Do khuôn khổ luận án, tác giả không thể trình bày cách vận hành, mối quan

hệ giữa lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ với chính phủ các nước góp nhân viên, với các lực lượng gìn giữ hòa bình khu vực v.v… Luận án cũng không thể trình bày tất cả các chiến dịch gìn giữ hòa bình đã và đang diễn ra Tác giả chọn nghiên cứu một vài chiến dịch tiêu biểu để minh họa cho mỗi loại hình hoạt động gìn giữ hòa bình

Đồng thời luận án đề ra những kiến nghị cần thiết liên quan việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ

4- nguồn tài liệu và Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả dựa vào nguồn tài liệu chính là Hiến chương LHQ, một số nghị quyết của HĐBA về tổ chức các chiến dịch gìn giữ hòa bình, một số báo cáo, bài viết của các Tổng Thư ký, Phó Tổng thư ký, quan chức cao cấp LHQ, một số tài liệu của DPKO và Cơ quan thông tin LHQ, cũng như bài viết của một số người đã từng trực tiếp tham gia chiến dịch gìn giữ hòa bình Tác giả cũng sử dụng một số sách, báo cáo, tài liệu hội thảo, hội nghị của các tác giả, cơ quan Việt Nam cũng như một số bài báo đăng trên tạp chí trong và ngoài nước viết

về vấn đề này

Đề tài này nghiên cứu về lịch sử thế giới, nhưng lại liên quan đến quan hệ quốc tế Do đó trong khi nghiên cứu, tác giả kết hợp vận dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử với phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời vận dụng các phương pháp khác như quy nạp, so sánh và phân tích

Trang 19

5- Đóng góp của luận án

Hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình gắn liền với đời sống chính trị của cộng đồng quốc tế Lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ trực tiếp làm nhiệm vụ duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, nên cần được nhìn nhận đúng mức vị trí, vai trò, thành công và những điểm chưa thành công Vì vậy:

Luận án góp phần khái quát lịch sử ra đời và phát triển; đánh giá thành công

và hạn chế của các lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ từ sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, rút ra những nhận xét cần quan tâm; góp phần khắc phục nhận thức không đầy

đủ, đánh giá quá cao hoặc coi nhẹ vai trò của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ Qua

đó, luận án góp phần củng cố nhận thức về trách nhiệm của các quốc gia thành viên LHQ đối với việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình

Luận án tập hợp, hệ thống hóa các tư liệu, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của một số Bộ, ngành, phục vụ các cán bộ đối ngoại, cán bộ nghiên cứu chính trị quốc

tế, các nhà quân sự quan tâm vấn đề gìn giữ hòa bình Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên cao học chuyên ngành quan hệ quốc tế hoặc lịch sử thế giới hiện đại, cũng như cho bạn đọc quan tâm đến các hoạt động ngoại giao đa phương và hệ thống LHQ hoặc vấn đề quản lý các cuộc xung đột trên thế giới hiện nay

Trong khi Việt Nam chuẩn bị hội đủ các điều kiện cần thiết để tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ, luận án đóng góp kiến nghị về quan điểm, chính sách của Việt Nam khi tham gia lực lượng này Luận án giúp các cơ quan hữu quan của Việt Nam có thêm tư liệu để xây dựng đề án tổ chức lực lượng, chuẩn bị điều kiện pháp lý cần thiết và thích hợp cho việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ

6- Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 3 Chương, cùng một số bảng, bản đồ

Chương 1 trình bày hoàn cảnh ra đời, cơ sở pháp lý, hoạt động cũng như thành công và hạn chế của lực lượng gìn giữ hòa bình trong thời kỳ Chiến tranh

Trang 20

lạnh Chương này làm điểm tựa để người đọc đối chiếu, so sánh, thấy rõ hơn sự phát triển, mở rộng của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ sau Chiến tranh lạnh

Chương 2 là chương trọng tâm Sau khi xác định thời điểm kết thúc Chiến tranh lạnh, xu hướng của tình hình thế giới, phân tích sự điều chỉnh chính sách của các nước ủy viên thường trực HĐBA đối với hoạt động gìn giữ hòa bình, giới thiệu việc mở rộng cơ sở pháp lý, nhiệm vụ và tổ chức của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ, luận án trình bày khái quát các chiến dịch gìn giữ hòa bình thành ba loại hình

Đó là gìn giữ hòa bình truyền thống, gìn giữ hòa bình mở rộng và gìn giữ hòa bình xen lẫn hành động cưỡng chế Tác giả chọn trình bày một chiến dịch tiêu biểu để minh chứng cho mỗi loại hình đó

Chương 3 nêu lên những nhận xét, đánh giá sau khi nghiên cứu đề tài này, làm nổi bật những phát triển của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ sau Chiến tranh lạnh; đồng thời đề cập những thách thức chủ yếu mà lực lượng gìn giữ hòa bình phải

đối mặt trong những thập niên đầu thế kỷ XXI Tác giả đề xuất kiến nghị về việc Việt Nam có nên tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình? Nếu tham gia, cần tuân theo những quan điểm, nguyên tắc nào? Nên tham gia loại hình hoạt động nào cho phù hợp với mục tiêu, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, cũng như phù hợp với khả năng thực tế của ta?

Phần Phụ lục được tác giả xây dựng trên cơ sở chọn lọc một số tư liệu, tài liệu liên quan của LHQ, Vụ Các tổ chức quốc tế – Bộ Ngoại giao, Cục Đối ngoại –

Bộ Quốc phòng Việt Nam và tư liệu của một số học giả, nhà nghiên cứu trong, ngoài nước

Trang 21

Chương 1

Hoàn cảnh ra đời, cơ sở pháp lý, hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình liên hợp quốc

trong thời kỳ chiến tranh lạnh

Chiến tranh và hòa bình luôn là vấn đề hệ trọng trong cuộc sống xã hội nói chung, trong quan hệ quốc tế nói riêng, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của hàng trăm triệu người Nhân loại luôn mong muốn được sống trong hòa bình Các nhà chính trị cũng luôn cố gắng xây dựng một cơ chế quốc tế, nhằm ngăn ngừa chiến tranh, đảm bảo hòa bình dài lâu trên thế giới LHQ - một bộ phận của cơ chế quốc tế ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ II - vượt qua thử thách của hơn 40 năm đối đầu Đông - Tây, đã thực hiện chức năng gìn giữ hòa bình, an ninh thế giới Một trong những công cụ được LHQ vận dụng để thực thi chức năng nói trên là lực lượng gìn giữ hòa bình

Có một thực tế là Hiến chương LHQ không đề cập tới việc thành lập lực lượng gìn giữ hòa bình cũng như cơ sở pháp lý bảo đảm hoạt động của lực lượng này Thế nhưng lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ đã ra đời trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, góp phần thúc đẩy hòa bình, an ninh quốc tế Chương này tập trung làm rõ hoàn cảnh ra đời và đóng góp của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh

1.1- Hoàn cảnh ra đời của lực lượng gìn giữ hòa bình liên hợp quốc

1.1.1- Sự ra đời của LHQ và mục tiêu bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới

Sau Chiến tranh thế giới thứ I, Hội Quốc liên được thành lập, đề ra nhiệm vụ cơ bản là duy trì hòa bình thế giới Tuy nhiên, Hội Quốc liên không làm được việc gì có ý nghĩa để thực hiện sứ mệnh trên Khi LHQ được thành lập năm 1945, với

Trang 22

kinh nghiệm của quá khứ, nhất là sau Chiến tranh thế giới thứ II, LHQ thấy cần phải

có nỗ lực quốc tế chung mạnh mẽ hơn, cụ thể hơn nhằm duy trì hòa bình, ngăn ngừa cuộc chiến tranh thế giới mới

Việc thành lập LHQ là kết quả những cuộc bàn luận, hợp tác giữa một số nước lớn trong khối Đồng minh chống phát-xít trong Chiến tranh thế giới thứ II như

Mỹ, Liên Xô, Anh và Trung Quốc Lãnh đạo các nước lớn đã suy nghĩ về việc xây dựng một cơ chế an ninh quốc tế, tránh cho nhân loại rơi vào thảm họa chiến tranh thế giới mới

ý tưởng xây dựng một tổ chức quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ II được thể hiện qua "Hiến chương Đại Tây Dương" do Tổng thống Mỹ Roosevelt và Thủ tướng Anh Churchill ký ngày 14-8-1941 Hiến chương nhằm xây dựng một nền hòa bình toàn cầu, dựa trên nguyên tắc an ninh tập thể (không thay đổi lãnh thổ nếu không có sự đồng ý của nhân dân, thực hiện quyền tự quyết của các dân tộc, không

sử dụng vũ lực)[72, tr.67] Ngày 24-9-1941, tại London (Anh), đại diện Liên Xô tuyên bố đồng ý với những nguyên tắc cơ bản của "Hiến chương Đại Tây Dương" Ngày 1-1-1942, 26 quốc gia chống phát-xít, bao gồm cả Mỹ, Liên Xô, Anh, Trung Quốc đã cùng nhau ký "Tuyên ngôn Liên hợp quốc", lấy tôn chỉ và nguyên tắc của

"Hiến chương Đại Tây Dương" làm cương lĩnh chung

Tháng 5-1942, tại Nhà trắng (Washington, Hoa Kỳ), Tổng thống Mỹ Roosevelt đã trao đổi với Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Molotov quan điểm về việc xây dựng cơ chế an ninh sau chiến tranh Theo đó, các nước lớn phải đóng vai trò

đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn hòa bình, an ninh thế giới, tức là Mỹ, Liên Xô, Anh và có thể cả Trung Quốc sẽ đóng vai trò cảnh sát quốc tế, cùng nhau trừng phạt những nước phá hoại hòa bình thế giới Liên Xô đồng ý với ý kiến này Tháng 8-1943, Tổng thống Roosevelt chính thức nêu ý kiến với Thủ tướng Anh Churchill

về việc xây dựng tổ chức hòa bình quốc tế với trung tâm là Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc Lần đầu tiên ra đời ý tưởng "bốn cảnh sát" của thế giới Mặc dù ý tưởng đó sau này không được thực hiện đầy đủ, nhưng tư tưởng các nước lớn phối hợp, cùng phát huy vai trò đã trở thành nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng LHQ,

Trang 23

là điều then chốt để LHQ phát huy tác dụng tích cực trong việc gìn giữ hòa bình thế giới

Từ ngày 22 đến ngày 26-11-1943, trên đường đến Teheran (Iran), Tổng thống Roosevelt, Thủ tướng Churchill đã cùng Tưởng Giới Thạch, Tổng thống Trung Hoa Dân quốc, mở hội nghị Cairo (Ai Cập) Nguyên thủ ba nước Mỹ – Anh – Trung Quốc đã ký “Tuyên ngôn ba nước Mỹ - Anh -Trung tại Cairo”, nhằm xử lý Nhật Bản sau khi Chiến tranh thế giới thứ II chấm dứt Stalin cũng được tham khảo ý kiến

về bản tuyên ngôn trên Tại hội nghị Cairo, Tổng thống Roosevelt đã hội đàm song phương với Tưởng Giới Thạch, trong đó hai bên ngỏ ý rằng Trung Quốc phải có địa

vị là một trong bốn nước lớn

Tại hội nghị Teheran (từ ngày 28 -11 đến ngày 1-12-1943), nguyên thủ ba nước Mỹ, Liên Xô, Anh đã bàn việc mở mặt trận thứ hai tại châu Âu Ngoài ra, ba vị nguyên thủ còn bàn vấn đề xử trí nước Đức, ranh giới Ba Lan sau chiến tranh, gợi ý Liên Xô tham chiến chống Nhật1 và vấn đề tổ chức quốc tế trong tương lai Tổng thống Roosevelt đã giới thiệu dự kiến xây dựng một cơ cấu hòa bình Qua hai hội nghị trên, nguyên thủ các nước Mỹ, Anh, Liên Xô, Trung Quốc đã thống nhất với nhau đoàn kết, chống xâm lược và bảo vệ hòa bình thế giới

Ngày 25-6-1945, hội nghị San Francisco nhất trí thông qua "Hiến chương Liên hợp quốc" Ngày 24-10-1945 – ngày họp đầu tiên của LHQ tại London - Chính phủ Mỹ tuyên bố Hiến chương LHQ được đa số các quốc gia ký tên phê chuẩn, do

đó Hiến chương bắt đầu có hiệu lực Ngày đó được lấy là ngày thành lập LHQ

Qua đó, có thể thấy: trong quá trình chuẩn bị thành lập LHQ, luôn có sự hợp tác, bàn bạc giữa các nước lớn, đặc biệt là giữa Mỹ và Liên Xô Chính sự hợp tác giữa các nước lớn đã quyết định sự ra đời của LHQ ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc Do đó, LHQ mang dấu ấn của quan hệ hợp tác giữa các nước lớn ngay trong quá trình thai nghén và ra đời Là sản phẩm hợp tác giữa các nước lớn, LHQ thể hiện mong muốn của loài người là xây dựng một cơ chế an ninh quốc tế để loại trừ mối nguy hiểm xảy ra chiến tranh thế giới mới, bảo vệ hòa bình Vì vậy đại

1

Stalin đồng ý tham gia chống Nhật, nhưng yêu cầu phải trả lại cho Liên Xô toàn bộ đảo Sakhalin, vì lấy

được đảo Kuril Liên Xô sẽ có một hải cảng quanh năm không bị đóng băng ở phía Đông[ 27, tr 770]

Trang 24

đa số các quốc gia trên thế giới ủng hộ LHQ ra đời Có thể nói rằng: LHQ là thể hiện của cơ chế hòa bình, an ninh thế giới mà loài người mong muốn xây dựng [30, tr.293]

Theo Điều 1 của Hiến chương, LHQ có các mục tiêu sau:

(i)- Duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, thông qua những biện pháp tập thể hữu hiệu, phù hợp với các nguyên tắc công lý và luật pháp quốc tế, để ngăn ngừa và loại bỏ các mối đe dọa đối với hòa bình, các hành động xâm lược, phá hoại hòa bình và giải quyết các tranh chấp quốc tế hay những tình huống có thể dẫn tới phá hoại hòa bình

(ii)- Xây dựng quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên nguyên tắc tôn trọng quyền bình đẳng giữa các quốc gia, quyền tự do của các dân tộc, và áp dụng các biện pháp phù hợp để củng cố nền hòa bình thế giới

(iii)- Thực hiện hợp tác quốc tế nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo, thúc đẩy và khuyến khích tôn trọng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo hay ngôn ngữ

(iv)- Là trung tâm điều hòa các hoạt động của các quốc gia để đạt được các mục tiêu trên

Như vậy, mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của LHQ là gìn giữ hòa bình,

an ninh quốc tế Theo Điều 24, khoản 1 Hiến chương LHQ, gìn giữ hòa bình, an ninh quốc tế là trách nhiệm tập thể của các quốc gia thành viên LHQ

Để đảm bảo cho LHQ hành động nhanh chóng và có hiệu quả, các thành viên LHQ trao cho Hội đồng Bảo an (HĐBA) trách nhiệm chính trong sự nghiệp duy trì hòa bình quốc tế, và thừa nhận rằng, khi làm những nghĩa vụ do trách nhiệm

ấy đặt ra, thì HĐBA hành động với tư cách thay mặt cho các thành viên LHQ Như vậy, HĐBA được giao trách nhiệm chủ yếu trong việc gìn giữ hòa bình,

an ninh quốc tế Các ủy viên thường trực HĐBA Liên Xô, Mỹ và Anh là những nước lớn đã chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ II Đó là những nước có phương tiện quân sự cần thiết để bảo vệ trật tự thế giới mới Mỹ đề nghị thêm Trung Hoa Dân quốc làm uỷ viên thường trực HĐBA, vì Trung Hoa Dân quốc đã có công làm cho Nhật Bản bị sa lầy ngay tại Trung Quốc, tạo điều kiện cho Mỹ thu hồi vùng Thái Bình Dương Mặt khác, Mỹ cần Trung Hoa Dân quốc như một điểm tựa ở châu

á, vì Mỹ hy vọng vào một nước Trung Hoa do những người theo tư tưởng dân tộc

Trang 25

chủ nghĩa của Tưởng Giới Thạch làm đại diện [9, tr.646] Anh đề nghị thêm Pháp làm uỷ viên thường trực HĐBA, vì Anh cho rằng một khi quân Mỹ rút khỏi châu

Âu, một khi chấm dứt thù địch với Đức, thì cần gắn Pháp với an ninh châu Âu để

đối chọi với "gấu trắng" Bắc cực - Liên Xô Do đó, ba nước lớn thỏa thuận HĐBA bao gồm 5 ủy viên thường trực [72, tr 68] Tất cả các nghị quyết của HĐBA đều phải được 5 ủy viên thường trực HĐBA thông qua, 5 quốc gia này có quyền phủ quyết mọi vấn đề Nói cách khác, hành động của HĐBA phải được cả 5 nước lớn nhất trí

Hiến chương LHQ quy định hai phương thức để thực hiện chức năng bảo vệ hòa bình, an ninh thế giới; đó là: thông qua giải quyết hòa bình các cuộc tranh chấp (Chương VI) và HĐBA được sử dụng biện pháp cưỡng chế (bao gồm biện pháp quân

sự hoặc phi quân sự) để trừng phạt các hành vi xâm lược (Chương VII)

1.1.2 Bối cảnh quốc tế thời kỳ Chiến tranh lạnh

1.1.2.1- Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ II, thế giới phân thành hai tuyến

giữa một bên là các lực lượng cách mạng do Liên Xô làm trụ cột, còn bên kia là các lực lượng đế quốc và phản động, do Mỹ đứng đầu Sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II không lâu, Mỹ dựa vào ưu thế kinh tế, quân sự, mở rộng thế lực của mình

ra thế giới, trong đó có Đông Âu Liên Xô cũng mở rộng tối đa ảnh hưởng của mình sang Đông Âu Chính vì thế, hợp tác hai nước Mỹ và Liên Xô đã nhanh chóng được thay thế bằng Chiến tranh lạnh

Chiến tranh lạnh chi phối nặng nề quan hệ quốc tế Mặc dù một trong những mục đích của hội nghị Yalta (từ ngày 4 đến ngày 12-2-1945) là vạch ra các nguyên tắc cơ bản giữa các nước Đồng minh trong việc tổ chức lại thế giới sau khi phe Trục thất bại, nhưng Mỹ, Anh và các nước đế quốc đã sớm áp dụng chính sách thù địch chống Liên Xô Từ ngày 5-3-1946, khi Thủ tướng Anh Churchill công khai phát

động Chiến tranh lạnh, hàng loạt công cụ, biện pháp, nguồn lực đã được huy động phục vụ Chiến tranh lạnh, làm cho toàn bộ đời sống quốc tế bị đối địch, băng giá Thế giới thường xuyên chịu tác động căng thẳng của quan hệ đối đầu Đông - Tây

Sự đối đầu này diễn ra trên mọi lĩnh vực, nhưng rõ rệt và sâu sắc nhất là cuộc chạy

đua vũ trang Thời kỳ Chiến tranh lạnh trở thành thời kỳ của những điểm nóng Đối

Trang 26

đầu Đông – Tây, mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp trên phạm vi toàn thế giới chi phối nặng nề các quan hệ quốc tế

Trong hơn bốn thập kỷ, sức mạnh của hệ thống tư bản chủ nghĩa (TBCN)

được củng cố đáng kể trên cơ sở quan hệ liên minh, liên kết, phối hợp hành động giữa Mỹ và các cường quốc tư bản khác trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, ngoại giao Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italia, Canađa, Nhật Bản câu kết với nhau trong đường lối chính trị chống cộng, bài Xô, chống cách mạng thế giới, bảo vệ những khu vực quyền lợi của mình trước ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội (CNXH) và phong trào cách mạng thế giới Về đối ngoại, chủ nghĩa tư bản (CNTB) ra sức củng cố sự thống nhất trong liên minh Mỹ - Tây Âu, bảo vệ lợi ích chung của CNTB và phối hợp đấu tranh chống các nước XHCN

Trong khi đó, hệ thống XHCN là một lực lượng thế giới về cơ bản là thống nhất, khống chế được Mỹ và các đồng minh của Mỹ trong chừng mực nhất định Bên cạnh đó, hệ thống XHCN cũng trải qua những thời điểm sóng gió do bất đồng, mâu thuẫn nội bộ, nhất là mâu thuẫn Xô - Trung, làm tổn hại nghiêm trọng sức mạnh và uy tín của CNXH

1.1.2.2 - Nhìn chung, trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, quan hệ Xô - Mỹ là

quan hệ có tính quyết định sự vận động của trật tự thế giới nói chung và hoạt động

của LHQ nói riêng Quan hệ Xô - Mỹ không chỉ là quan hệ giữa hai quốc gia, hai siêu cường, mà còn là đại diện cho quan hệ giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập Quan hệ Xô - Mỹ phản ánh tương quan giữa các lực lượng cách mạng tiến bộ và các thế lực phản động trên toàn thế giới Quan hệ Xô - Mỹ nhìn chung là thăng trầm; hết chạy đua vũ trang, lại đến giải trừ quân bị; hết hòa hoãn, hòa dịu lại đến căng thẳng, đối đầu Do đó, quan hệ Xô - Mỹ chi phối hoạt động gìn giữ hòa bình,

an ninh quốc tế

Sau khi xảy ra sự kiện phong tỏa Berlin năm 1948, sự kiện Hungari năm

1956, việc Liên Xô đưa quân vào Tiệp Khắc năm 1968 và vào ápganixtan năm

1979, Mỹ đều cầm đầu các chiến dịch chỉ trích Liên Xô tại LHQ Đồng thời, Mỹ cố gắng thao túng HĐBA hoặc LHQ để thông qua nghị quyết lên án hành động của Liên Xô, gây áp lực chính trị đối với Liên Xô LHQ trở thành công cụ đấu tranh

Trang 27

giữa các nước lớn, nhất là giữa Liên Xô và Mỹ Đại hội đồng LHQ là nơi hai phe gặp nhau để đưa ra những ý kiến trái ngược [69, tr.633] Liên Xô và Mỹ đã biến LHQ thành diễn đàn để tuyên truyền chính trị, công kích, chỉ trích hành động, chính sách của nhau, làm tổn hại hình ảnh của nhau trên trường quốc tế Mỹ ra sức thao túng, biến LHQ thành cái "máy biểu quyết" có lợi cho Mỹ Liên Xô đã dùng quyền phủ quyết để bảo vệ lợi ích của Liên Xô cũng như của hòa bình thế giới

Liên Xô đã ngăn cản HĐBA thông qua nghị quyết trong các trường hợp sau:

- Trong những vấn đề đối kháng trực tiếp với Mỹ Liên Xô ngăn cản HĐBA

thông qua nghị quyết liên quan đến việc phong tỏa Berlin năm 1948, đến sự kiện Hungari năm 1956, đến việc Liên Xô đưa quân vào Tiệp Khắc năm 1968 và vào

ápganixtan năm 1979 Liên Xô phủ quyết ứng cử viên (do Mỹ ủng hộ) vào chức Tổng Thư ký LHQ (năm 1946 và năm 1976); 5 lần phủ quyết những dự thảo nghị quyết về giải trừ quân bị, 6 lần phủ quyết dự thảo nghị quyết về hành động của LHQ ở Côngô Năm 1960, trong khóa họp lần thứ 15 của Đại hội đồng LHQ, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô Khroutchev đã chỉ trích cách giải quyết vấn đề Côngô của Tổng Thư ký LHQ Hammarskjoeld là đại diện cho lợi ích của các nước ĐQCN Nhà lãnh đạo Liên Xô cho rằng cần phải loại bỏ chức vụ Tổng Thư ký LHQ, lấy ba tổ thư ký đại diện cho ba nhóm quốc gia TBCN, XHCN và các quốc gia trung lập hợp thành Ban Tổng Thư ký Do đó, HĐBA về cơ bản không ra được nghị quyết cũng như không làm được gì để giải quyết những vấn đề có liên quan trực tiếp đến xung đột Xô - Mỹ

- ủng hộ các nước đồng minh trong phe XHCN Năm 1948, Liên Xô ngăn

cản HĐBA thông qua dự thảo nghị quyết bất lợi cho Chính phủ do Đảng Cộng sản Tiệp Khắc lãnh đạo Liên Xô phủ quyết dự thảo nghị quyết giải quyết tranh chấp eo biển Corfou giữa Anbani và Anh Nhờ đó, Anbani được thuận lợi Liên Xô ủng hộ việc Cộng hòa Nhân dân (CHND) Trung Hoa tới LHQ tố cáo hành động của Mỹ uy hiếp an ninh Trung Quốc khi Mỹ tham chiến ở Triều Tiên2 (từ sau ngày 7-7-1950) Lúc này, CHND Trung Hoa không có ghế ở LHQ Đại biểu của Trung Quốc tại

2

Chiến tranh Triều Tiên (từ 25-6-1950 đến 27-7-1953)

Trang 28

LHQ vẫn là Trung Hoa Dân quốc Liên Xô chủ trương đòi giao lại vị trí của Trung Quốc tại LHQ cho CHND Trung Hoa, trục xuất đại diện của Trung Hoa Dân quốc

ra khỏi LHQ, nhưng bị Mỹ và các nước phương Tây ngăn cản Để kháng nghị việc này, đại diện Liên Xô tại LHQ đã rút khỏi công việc ở HĐBA, làm cho hoạt động của HĐBA bị ngưng trệ trong thời gian sau khi nổ ra chiến tranh Triều Tiên Lợi dụng việc này, ngày 7-7-1950, Mỹ thao túng Đại hội đồng LHQ, thông qua nghị quyết trao quyền cho Mỹ tổ chức “Quân đội Liên hợp quốc” gồm 22 nước để can thiệp quân sự vào Triều Tiên Khi đại diện Liên Xô trở lại HĐBA, phủ quyết các phương án liên quan đến chiến tranh Triều Tiên, Mỹ không thể tiếp tục lợi dụng LHQ để tạo vỏ bọc pháp lý cho những hành động can thiệp quân sự Tháng 7-1962, Liên Xô tố cáo Mỹ đe dọa xâm lược Cuba trước LHQ Trong cuộc khủng hoảng tên lửa xảy ra vào tháng 10- 1962, đại biểu Liên Xô tại LHQ đã chỉ trích Mỹ phong tỏa vùng biển Cuba là ngang nhiên vi phạm Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế Tháng 12-1978, Việt Nam đưa quân vào Campuchia để giúp đỡ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt Bẩy nước thành viên Phong trào Không liên kết- ủy viên không thường trực HĐBA- đã đưa ra dự thảo nghị quyết, yêu cầu tất cả quân đội nước ngoài đều phải rút khỏi Campuchia, ám chỉ đòi Việt Nam rút quân tình nguyện Liên Xô đã phủ quyết dự thảo nghị quyết này

- ủng hộ một số nước đang phát triển Liên Xô nhiều lần sử dụng quyền phủ

quyết để ủng hộ các nước Arập chống lại các nước phương Tây và Ixraen Hai lần Liên Xô phủ quyết những nghị quyết bất lợi về chủ quyền của Ai Cập đối với kênh

đào Suez; nhiều lần Liên Xô dùng quyền phủ quyết để ủng hộ lập trường của ấn Độ trong vấn đề Kashmir, hoặc trong vấn đề chiến tranh giữa ấn Độ và Pakixtan [30, tr 300-301]

Trong khi đó, Mỹ thường sử dụng quyền phủ quyết để bảo vệ Nhà nước Ixraen, bảo vệ các đồng minh của Mỹ, chống phá phong trào giải phóng dân tộc, chống các đồng minh của Liên Xô gia nhập LHQ, bác bỏ các dự thảo nghị quyết lên

án Mỹ Lần đầu tiên Mỹ sử dụng quyền phủ quyết vào tháng 3-1970, cùng Anh bác

bỏ dự thảo nghị quyết về việc thành lập nước Zimbabwe Tính chung, Mỹ bác bỏ 35

dự thảo nghị quyết về Ixraen, phủ quyết 10 nghị quyết lên án chế độ phân biệt

Trang 29

chủng tộc apartheid ở Nam Phi, phủ quyết 8 dự thảo nghị quyết về Namibia, 7 nghị

quyết về Nicaragoa v.v…Anh dùng quyền phủ quyết cùng Mỹ (23 lần) và Pháp (14 lần) 7 lần Anh đơn phương dùng quyền phủ quyết trong năm 1972 và cả 7 lần đều bác bỏ dự thảo nghị quyết về tình hình tại Rhodesia (sau này là Zimbabwe) Pháp dùng quyền phủ quyết 13/15 lần cùng Anh và Mỹ 2 lần Pháp cùng Anh phủ quyết

dự thảo nghị quyết giải quyết cuộc khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956 Năm

1946, Pháp và Liên Xô cùng phủ quyết dự thảo nghị quyết về cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha 2 lần Pháp đơn phương phủ quyết dự thảo nghị quyết năm 1947 có liên quan tới Inđônêxia và dự thảo nghị quyết năm 1976 về tranh chấp giữa Pháp và Comoros

Trong giai đoạn từ 1945 đến tháng 10-1971, Trung Hoa Dân quốc đã phủ quyết đơn gia nhập LHQ của Mông Cổ Năm 1972, sau khi tiếp quản chiếc ghế tại LHQ, CHND Trung Hoa đã phủ quyết đơn gia nhập LHQ của Bănglađét; cùng Liên

Xô bác bỏ nghị quyết về Trung Đông (xem Bảng 1.1)

Bảng 1.1

Số lần sử dụng quyền phủ quyết Tại Hội đồng bảo an liên hợp quốc

Trong chiến tranh lạnh (1945-1991)

Nguồn: Vụ Các Tổ chức quốc tế – Bộ Ngoại giao Việt Nam (2002), Tài liệu phục

vụ Hội nghị ngoại giao lần thứ 24

Mặc dù xảy ra Chiến tranh lạnh và căng thẳng Xô - Mỹ, nhưng trong thời kỳ này vẫn đan xen một số giai đoạn hòa dịu Hai lần hòa dịu trong thập kỷ 70 và nửa sau thập kỷ 80 của thế kỷ XX, lãnh đạo cấp cao hai nước Liên Xô và Mỹ gặp nhau,

Trang 30

quan hệ kinh tế, chính trị Đông - Tây được cải thiện, hai bên tăng cường hợp tác trong một số vấn đề quốc tế

Khi Tổng thống Mỹ Nixon và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch

Đoàn Chủ tịch Xô - viết tối cao Liên Xô Brejnev gặp nhau tháng 5-1972 tại Moscow (Liên Xô) và nhất là từ sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973, các nước công nghiệp phát triển vươn lên cạnh tranh mạnh mẽ với Mỹ, hình thành nên ba trung tâm trong thế giới TBCN Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, đạt nhiều thành quả Kinh tế quốc tế tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng cao Nhằm thích ứng với những thay đổi đó, các nước đều tự điều chỉnh chính sách kinh tế, chính trị của mình

Lần hòa dịu từ nửa cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, khi Gorbachev lên cầm quyền ở Liên Xô, quan hệ Đông - Tây phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, từ chỗ chạy đua vũ trang đến cắt giảm quân bị Liên Xô cắt giảm quân đội, giảm chi phí quân sự, rút quân khỏi Đông Âu, rút dần quân khỏi căn cứ ở một số nước ngoài Mỹ cũng giảm quân và đóng cửa một số căn cứ quân sự ở nước ngoài Liên Xô và Mỹ hợp tác với nhau trong việc giải quyết xung đột khu vực liên quan đến quan hệ Đông

- Tây bằng giải pháp chính trị, như Liên Xô rút quân khỏi Apganixtan, Cuba rút quân khỏi Ăngôla, Liên Xô ngừng viện trợ quân sự cho Nicaragoa và nước này tiến hành bầu cử tự do Mỹ và Liên Xô cùng thừa nhận có hai nước Hàn Quốc và Cộng hòa DCND Triều Tiên trên bán đảo Triều Tiên

Cuối năm 1989, tại cuộc gặp không chính thức giữa Tổng thống Mỹ Bush và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachev trên đảo Malta, hai bên tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh Tuy Chiến tranh lạnh chỉ thực sự chấm dứt khi Liên Xô giải thể hai năm sau đó, nhưng tuyên bố của hai nguyên thủ Xô - Mỹ ở Malta tạo tiền đề quan trọng để các nước lớn hợp tác với nhau giải quyết những vấn đề về hòa bình, an ninh quốc tế

1.1.2.3 - Quá trình phi thực dân hóa sau Chiến tranh thế giới thứ II có bước

phát triển cao hơn, làm xuất hiện nhiều quốc gia mới Số nước trở thành quốc gia

độc lập, có chủ quyền và gia nhập LHQ không ngừng tăng lên Điều quan trọng là các quốc gia này biết tập hợp lại thành lực lượng chính trị thế giới Trước khi kết

Trang 31

thúc Chiến tranh lạnh, các nước này đã chiếm tới hai phần ba thành viên LHQ Liên Xô và Mỹ đều cần tranh thủ lực lượng này, để chi phối tình hình thế giới

Tuy nhiên, đây không phải là tập hợp các quốc gia thuần nhất về chính trị, kinh tế, tư tưởng, mà là hơn 100 quốc gia có chế độ chính trị - xã hội, lịch sử, văn hóa, tôn giáo rất khác nhau Đây lại là nơi xảy ra nhiều cuộc xung đột, chiến tranh gay gắt Từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ

XX, xảy ra 164 cuộc chiến tranh cục bộ trên thế giới, trong đó 94% là ở châu á, châu Phi và Mỹ la tinh [30, tr 351] Riêng ở châu Phi, trong thời gian từ 1952 đến

1985, đã xảy ra 241 cuộc đảo chính quân sự Hầu hết các quốc gia châu Phi đều có

đảo chính quân sự3 Từ thập niên 50 đến thập niên 80 của thế kỷ XX, đã xảy ra 20 cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang, tranh chấp biên giới, nội chiến (không kể các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc) Hơn 30 quốc gia bị lôi cuốn vào những cuộc xung đột đó [28, tr 548] Các nước giao chiến tìm viện trợ quân sự từ bên ngoài Các nước lớn thừa cơ can thiệp, khiến cho các cuộc xung đột này mang sắc thái đối

đầu Đông - Tây, trong đó nhiều cuộc xung đột khu vực thực sự bị thổi bùng lên, do

Mỹ và Liên Xô đều tham vọng duy trì, mở rộng ảnh hưởng toàn cầu của họ Các cuộc chiến tranh giữa Ixraen với các nước Arập ở Trung Đông, chiến tranh giữa ấn

Độ và Pakixtan ở Nam á, chiến tranh ở Ăngôla, ở Môdămbích v.v…là những minh chứng rõ nét Các cuộc xung đột này xảy ra liên tiếp, tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế Đa số các cuộc xung đột này đều có liên quan tới việc can thiệp của các nước lớn Cuộc chiến tranh Triều Tiên lúc đầu là nội chiến, nhưng có sự can thiệp của nước lớn và nhanh chóng phát triển thành cuộc xung đột quân sự Đông - Tây Mỹ núp dưới danh nghĩa LHQ, trực tiếp đưa quân đến tham chiến Liên Xô ủng hộ Triều Tiên về quân sự, gián tiếp đọ sức với Mỹ Trung Quốc đưa quân chí nguyện tới trực tiếp chiến đấu ở Triều Tiên Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, Mỹ trực tiếp can thiệp vào chiến tranh, đồng thời Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ, cung cấp viện trợ quân sự cho Việt Nam Đông Dương trở thành nơi thách thức, đối đầu giữa phe XHCN và

3

Trong đó 11 quốc gia đã xảy ra trên 10 lần đảo chính/nước, nhất là từ sau khi các nước này giành được độc lập

Trang 32

phe ĐQCN [20, tr.14] Tại châu Phi, màu sắc đối đầu Đông - Tây khá rõ nét ở

Ăngôla, Liên Xô ủng hộ và quân đội Cuba viện trợ Phong trào Nhân dân Giải phóng

Ăngôla (MPLA) Nam Phi ủng hộ Liên minh Dân tộc vì Độc lập hoàn toàn của

Ăngôla (UNITA) Mỹ viện trợ cho Mặt trận Dân tộc giải phóng Ăngôla (FNLA), thông qua Zaire Cũng như Ăngôla, Môdămbích đã trở thành cuộc xung đột mang tính chất ý thức hệ Đông - Tây Liên Xô và các nước XHCN tích cực giúp phong trào cách mạng FRELIMO về quân sự, chính trị và phần nào về kinh tế Trong khi

đó Mỹ, phương Tây, Nam Phi giúp đỡ, huấn luyện lực lượng đối lập RENAMO thành công cụ chống CNCS ở Môdămbích, tiến hành chiến tranh phá hoại, ngăn chặn sự ủng hộ đối với Đại hội Dân tộc Phi của Nam Phi (ANC) Những cuộc chiến tranh đó làm cho quan hệ giữa các nước lớn càng thêm phức tạp Mỹ và Liên Xô thường sử dụng quyền phủ quyết tại HĐBA để ngăn cản nhau lợi dụng LHQ can thiệp hoặc chỉ trích, lên án các đồng minh của bên kia Vì thế HĐBA không thể thông qua được nghị quyết liên quan đến những vấn đề xung đột trong nội bộ mỗi khối (ví dụ vấn đề Hungari năm 1956, vấn đề Tiệp Khắc năm 1968) vì đây là các nước thuộc khối do Liên Xô lãnh đạo Tương tự, HĐBA không thể thảo luận các vấn

đề về Trung Mỹ, Caribê (như cuộc chiến tranh giữa En Xanvađo và Hônđurát năm 1969), vì đây là khu vực sân sau của Mỹ Chiến tranh lạnh đã phá hỏng nguyên tắc

"nhất trí giữa các nước lớn", làm cho LHQ khó phát huy tác dụng ngăn chặn xâm lược và cơ chế "an ninh tập thể" trong việc giải quyết xung đột quân sự Về cơ bản, LHQ bất lực, không giải quyết được những cuộc chiến tranh cục bộ mang đậm màu sắc xung đột Xô - Mỹ, như việc phong tỏa và khủng hoảng Berlin, khủng hoảng tên lửa ở Cuba, chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, nội chiến ở Ăngôla, ở Apganixtan Nhiều vấn đề liên quan đến hòa bình, an ninh quốc tế đã không được giải quyết theo cách thức mong muốn của những người sáng lập LHQ

1.1.3- Sự ra đời của lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc

Như đã trình bày trên, quan hệ Xô - Mỹ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động gìn giữ hòa bình, an ninh thế giới Mức độ thăng trầm trong quan hệ Xô- Mỹ quyết

định thành bại của các chiến dịch gìn giữ hòa bình do LHQ tổ chức Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Chương VII Hiến chương LHQ hầu như không được áp dụng Mặc

Trang 33

dù vậy, trong những cuộc xung đột khu vực không liên quan tới cuộc đấu tranh Xô -

Mỹ hoặc không rõ nét màu sắc xung đột Đông - Tây, không nằm trong khu vực an ninh trực tiếp của Mỹ hoặc Liên Xô, thì LHQ vẫn phát huy tác dụng duy trì hòa bình, bằng cách tổ chức các chiến dịch gìn giữ hòa bình

Cuối thập niên 1940, LHQ đã có sáng kiến lập các phái đoàn quan sát viên quân sự (QSVQS) để giám sát các khu vực xung đột Phái đoàn QSVQS đầu tiên là phái đoàn giám sát ngừng bắn ở Trung Đông (UNTSO), ra đời từ năm 1948

Vùng đất nơi những người Palextin và người Do Thái chung sống cho tới đầu Công nguyên rộng khoảng 36.000km2, là một bộ phận của Trung Đông Hơn 4.000 năm trước, đây là nơi người Do Thái sinh sống Khoảng 2.000 năm sau đó, người Palextin đến sống chung với người Do Thái trên vùng đất này Từ năm 135 sau Công nguyên cho đến đầu thế kỷ XX, các đế quốc Ba Tư, Ôttôman và chủ nghĩa phát xít lần lượt xâm chiếm, xua dân Do Thái đi sống lưu vong ở khắp nơi Người Do Thái di cư nhiều nhất là sang châu Âu và châu Mỹ Đầu thế kỷ XX, khi gần như hầu hết người Do Thái bị xua đuổi, thì toàn bộ vùng đất này là nơi người Palextin sinh sống dưới quyền cai trị của thực dân Anh Ngày 2-11-1917, Ngoại trưởng Anh Balfor gửi thư (sau này gọi là “Tuyên ngôn Balfor”) cho Phó Chủ tịch Liên minh những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái; bức thư tuyên bố Chính phủ Anh ủng hộ thành lập ở Palextin một gia đình dân tộc Do Thái Ngay trước Chiến tranh thế giới thứ II, Anh sửa đổi chính sách giúp Do Thái chống Arập, chống Palextin Ngày 17-5-1939,

Anh công bố “Sách trắng”, hạn chế người Do Thái di dân về Palextin và “mua đất” Người Do Thái chống lại “Sách trắng” của Anh, từ đó xảy ra rạn nứt Anh - Do Thái

Người Do Thái quay sang tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ Năm 1945, Mỹ ép Anh cấp thị thực cho 100.000 người Do Thái về đây sinh sống, đưa tổng số người Do Thái lên khoảng 1 triệu người Mặc dù vậy, người Do Thái vẫn là thiểu số so với người Palextin [28, tr.30-31]

Ngày 29-11-1947, trước sức ép của Mỹ, được Liên Xô ủng hộ (ở Liên Xô cũng đông người Do Thái sinh sống), Đại hội đồng LHQ ra nghị quyết số 181, chấm dứt chế độ thác quản của Anh tại Palextin, thành lập Nhà nước Ixraen (diện tích lãnh thổ rộng 9.000 km2) trên vùng đất người Palextin đang sinh sống Theo đó,

Trang 34

thành phố Jerusalem (lãnh địa của ba tôn giáo lớn là Do Thái giáo, Hồi giáo và Thiên chúa giáo) được hưởng quy chế quốc tế, đặt dưới sự quản thác của LHQ Thực chất nghị quyết này là phân chia Palextin và hợp pháp hóa sự thống trị của chủ nghĩa phục quốc Do Thái

Lúc ấy, người Arập ở khu vực Palextin có khoảng 1,2 triệu, chiếm hơn hai phần ba dân số, nhưng lãnh thổ “nước Arập” trong nghị quyết 181 chỉ chiếm 43% diện tích Palextin, gồm những mảnh đất to nhỏ không liền nhau, phần lớn là gò đồi

và khu vực cằn cỗi Trong khi đó, người Do Thái chỉ có 60 vạn, không đến một phần

ba tổng số dân, nhưng lãnh thổ “nước Do Thái” được quy định chiếm 57% diện tích Palextin, phần lớn là những dải đất ven biển màu mỡ Người Palextin và các nước Arập không chấp nhận nghị quyết 181 của Đại hội đồng LHQ

Bản đồ Ixraen – Palextin

Nguồn: CIA World Factbook 2004

Ngày 15-5-1948, tám tiếng đồng hồ trước khi Anh kết thúc quyền thác quản tại Palextin, được Mỹ giúp đỡ, Ixraen tuyên bố độc lập Nhà nước Ixraen ngay sau

Trang 35

đó được Mỹ và Liên Xô công nhận Ixraen lập đội quân 70.000 người, vũ trang cho toàn dân bằng vũ khí của Mỹ và của Tiệp Khắc [9, tr.432] Trước tình hình đó, Liên quân các quốc gia Arập (Ai Cập, Xyri, Libăng, Gioócđani, Arập Xêut và Yêmen) đã tiến vào Palextin, tiến công Ixraen, gây nên cuộc chiến tranh Trung Đông lần thứ I (1948-1949)4

Không phải ngẫu nhiên mà cả Mỹ và Liên Xô đều không trực tiếp can thiệp quân sự để giải quyết vấn đề Trung Đông Sau Chiến tranh thế giới thứ II, Liên Xô tiến hành phong tỏa Berlin, nhằm ép Mỹ - Anh - Pháp rời khỏi Berlin Mỹ - Anh - Pháp cố giữ và mở rộng ảnh hưởng ở Berlin, lập cầu hàng không tiếp tế cho Tây Berlin Tình hình đó làm cho quan hệ Xô - Mỹ căng thẳng tới mức có người cho rằng có thể xảy ra cuộc chiến tranh thế giới mới [9, tr 296-297] ở Viễn Đông, Liên Xô mâu thuẫn gay gắt với Mỹ xung quanh cách thức giải quyết vấn đề Nhật Bản [9,

tr 386] Đây là một trong những lý do khiến Liên Xô và Mỹ không thể tạo thêm sự

đối đầu ở khu vực địa lý khác

Với hơn 65% trữ lượng dầu mỏ thế giới (90 tỷ tấn), Trung Đông có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với nhiều nước, nhất là các nước lớn Mỹ có lợi ích trọng yếu ở Trung Đông ưu tiên hàng đầu của Mỹ là đảm bảo cho nguồn dầu mỏ của khu vực này phục vụ nền kinh tế Mỹ Ngoài nhu cầu về dầu mỏ, Trung Đông là cửa ngõ

đi vào Địa Trung Hải, vào châu Phi Ưu tiên thứ hai của Mỹ là tranh giành đồng minh với Liên Xô, ngăn chặn Liên Xô tiến xuống phía Nam, mở rộng ảnh hưởng ở khu vực này Cuối cùng, ưu tiên thứ ba của Mỹ là góp phần bảo vệ Ixraen, nuôi dưỡng Ixraen làm người thay mặt Mỹ ở Trung Đông để gạt bỏ thế lực của Anh - Pháp, từng bước mở rộng ảnh hưởng của Mỹ; đồng thời Mỹ giữ cho cuộc xung đột Arập - Ixraen không leo thang thành cuộc chiến ác liệt5 Các công ty dầu mỏ của

Mỹ có quyền lợi kinh tế với thế giới Arập, nên Mỹ không công khai ủng hộ Ixraen

Đồng thời Mỹ cũng không ra mặt ủng hộ thế giới Arập, vì khi xảy ra chiến tranh Trung Đông lần thứ I gần với cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ (tháng 11-1948) Tổng

Trang 36

thống Mỹ Truman cần tranh thủ lá phiếu của đông đảo cử tri cộng đồng Do Thái cho cuộc bầu cử này6

Đối với Liên Xô, Trung Đông ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh sườn phía Nam Trung Đông là con đường để Liên Xô xuống châu Phi, ra ấn Độ Dương Trong thập

kỷ 50-60 của thế kỷ XX, Liên Xô mượn uy tín của Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser, tiếp cận các nước Irắc, Xyri nhằm làm suy yếu thế lực của Mỹ, giành ảnh hưởng với Mỹ Một số nước Arập cũng muốn lợi dụng cả hai nước Mỹ và Liên Xô

để phục vụ lợi ích của họ

Đối với Anh, Pháp và các nước Tây Âu khác, Trung Đông là khu vực có nhiều lợi ích chiến lược quan trọng Sau Chiến tranh thế giới thứ II, phong trào giải phóng dân tộc ở Trung Đông phát triển mạnh, lại bị Mỹ và Liên Xô xâm nhập, các

“thực dân già” dần bị đẩy khỏi địa bàn này Để chống lại phong trào giải phóng dân tộc, ngăn chặn ảnh hưởng của CNXH và bảo vệ quyền lợi của mình, các nước Mỹ, Anh, Pháp một mặt phối hợp với nhau để ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô, mặt khác giành giật nhau và tìm cách mở rộng ảnh hưởng của mình

Xét riêng hai nước Mỹ và Liên Xô, cả hai đều tìm cách tranh thủ thế giới Arập và Nhà nước Ixraen Khi xảy ra cuộc chiến tranh Trung Đông lần thứ I, Liên Xô và Mỹ chưa nước nào chiếm ưu thế tuyệt đối trong quan hệ với các nước khu vực Trong khi đó Liên Xô phải lo đối phó với vấn đề Berlin, vấn đề Viễn Đông,

đồng thời phải lo khôi phục kinh tế sau chiến tranh Nếu Liên Xô can thiệp quân sự vào Trung Đông, không những ảnh hưởng xấu tới việc giải quyết vấn đề Berlin, vấn

đề Viễn Đông, mà còn có nguy cơ tạo ra một lò lửa mới ở Trung Đông Trong trường hợp ấy, Liên Xô chẳng những không giành thêm đồng minh, mà an ninh sườn phía Nam Liên Xô cũng sẽ bị uy hiếp nghiêm trọng

Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ II, Mỹ từng bước thay thế Anh ủng

hộ phong trào phục quốc của người Do Thái Hoàn cảnh của Anh ở Palextin ngày càng khó khăn, nên tháng 2-1947, Anh tuyên bố trao vấn đề Palextin cho LHQ giải quyết

6

ở Mỹ, cộng đồng Do Thái lên tới 6 triệu người, nắm giữ nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng

Trang 37

Cho nên, khi xảy ra chiến tranh Trung Đông lần thứ I, Liên Xô và Mỹ đều không trực tiếp can thiệp vũ trang, tránh đối đầu quân sự Hai nước tìm cách giải quyết vấn đề thông qua việc ngầm giúp đỡ hai nước đối lập để có thể tiếp tục đứng chân ở khu vực, tranh thủ, lôi kéo đồng minh và tìm cách chi phối tình hình theo hướng có lợi nhất cho mình

Ngày 28-5-1948, trước tình thế hết sức nguy hiểm, bị quân Arập bao vây bốn

bề, Thủ tướng Ixraen David Ben Gurion đánh điện khẩn cấp đến LHQ yêu cầu thu xếp ngừng bắn, đồng thời cử bà Golda Meir, Đặc phái viên của Thủ tướng, sang Mỹ cầu viện Một mặt Mỹ viện trợ cho Ixraen 75 triệu đôla Mỹ để mua vũ khí, mặt khác thông qua HĐBA, Mỹ thu xếp ngừng bắn trong bốn tuần để Ixraen có thời gian củng

cố lực lượng

Trong bối cảnh Hiến chương LHQ không có điều nào đề cập cụ thể đến tổ chức các hoạt động gìn giữ hòa bình và trong điều kiện Chiến tranh lạnh làm cho hệ thống an ninh tập thể theo Chương VII không thể thực hiện được; hơn nữa "quân đội LHQ" theo dự liệu tại Điều 43 Hiến chương LHQ chưa thành hiện thực, LHQ đã sử dụng vị trí “trung lập”, cố gắng đóng vai trò hạn chế xung đột và duy trì hòa bình Ngày 29-5-1948, HĐBA thông qua nghị quyết 50 (1948), kêu gọi hai bên chấm dứt chiến tranh và quyết định lập giới tuyến ngừng bắn do các nhà hòa giải LHQ giám sát, thành lập một lực lượng do LHQ chỉ huy để giám sát quá trình đình chiến tại Palextin, viết tắt là UNTSO

Khi hai bên Arập - Ixraen đạt được Hiệp định ngừng bắn, Công tước Bernadotte - nhà hòa giải LHQ, quốc tịch Thụy Điển - đã yêu cầu LHQ khẩn cấp gửi một nhóm QSVQS tới Trung Đông để giúp ông thúc đẩy thực hiện ngừng bắn

Đáp lại yêu cầu trên, Tổng Thư ký LHQ Trygve Lie đã đề nghị các thành viên của

“Uỷ ban Palextin” (trong đó có Bỉ, Pháp và Mỹ) đề xuất những nước có thể đóng góp QSVQS [58, tr.47] Tháng 6-1948, Phái đoàn QSVQS tới Trung Đông, đánh dấu sự ra đời lực lượng gìn giữ hòa bình đầu tiên của LHQ

Như vậy, trước nguy cơ đối đầu Đông - Tây có thể lan sang Trung Đông; trước yêu cầu thực tế phải ngăn chặn cuộc chiến tranh Arập – Ixraen, LHQ đã đưa ra sáng kiến, lập lực lượng gìn giữ hòa bình [65, tr.8] Trong bối cảnh sau Chiến tranh

Trang 38

thế giới thứ II, uy tín chính trị của cả Mỹ lẫn Liên Xô đều rất lớn, do cả hai đều là nòng cốt trong liên minh chống phát-xít Việc bên này tấn công quân sự bên kia trước sẽ làm cho uy tín của mình suy giảm Mặt khác, so sánh quân sự thông thường thì hai nước tương đương nhau về khả năng không quân, Mỹ nhỉnh hơn Liên Xô đôi chút về hải quân Liên Xô trội hơn Mỹ về lục quân với nhiều vũ khí hiện đại và kinh nghiệm chiến đấu dày dạn hơn Đây chính là cản trở lớn nhất cho cuộc đối đầu quân

sự trực diện Bên cạnh đó, sau Chiến tranh thế giới thứ II, dư luận thế giới càng mong mỏi hoà bình và hiểu rằng chiến tranh đồng nghĩa với hủy diệt Bất cứ một ý

đồ nào về một cuộc chiến tranh nóng ở quy mô lớn vào thời điểm sau Chiến tranh thế giới thứ II đều có khả năng vấp phải sự phản đối của cộng đồng quốc tế và sẽ bị cô lập

Lực lượng giám sát đình chiến tại Palextin (gọi tắt là UNTSO) ra đời, mang tính trung lập, không có quân đội các nước liên quan trực tiếp đến cuộc xung đột, nhất là hai nước lớn Liên Xô và Mỹ, tham gia Lúc đầu, UNTSO bao gồm 168 QSVQS, 103 nhân viên dân sự quốc tế và 113 nhân viên địa phương, do Trung tướng Lục quân Ôxtrâylia Timothy R Ford làm Tư lệnh Sở chỉ huy lực lượng UNTSO đặt tại Jerusalem7 Đây là đơn vị đầu tiên của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ.Lực lượng UNTSO hoạt động trên lãnh thổ các nước Ai Cập, Ixraen, Gioócđani, Libăng, Xyri từ tháng 6-1948 cho tới ngày nay8 Hiện nay, các nhóm QSVQS thuộc lực lượng UNTSO được biệt phái tham gia các lực lượng gìn giữ hòa bình trong khu vực, như lực lượng UNDOF tại khu vực biên giới Ixraen - Xyri trên cao nguyên Goland, lực lượng UNIFIL tại khu vực biên giới Ixraen - Libăng, một nhóm khác hoạt động

ở khu vực biên giới Ixraen - Ai Cập trên bán đảo Sinai Kể từ khi ra đời tới nay, lực lượng UNTSO đã hoàn thành nhiệm vụ do HĐBA giao phó, bao gồm giám sát thực

hiện Thỏa thuận Ân xá năm 1949 Tuy kế hoạch thành lập Nhà nước Palextin do

7

Lực lượng UNTSO lúc đầu chỉ có 15 nước tham gia, đó là Achentina, Ôxtrâylia, áo, Bỉ, Canađa, Chilê, Đan Mạch, Phần Lan, Ailen, Italia, Na Uy, Niu Dilân, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ Đó là những nước trung lập, nước nhỏ, hoặc ủy viên không thường trực HĐBA Không có quân đội của bất kỳ cường quốc nào

8

Đến cuối thời kỳ Chiến tranh lạnh, do tình hình thế giới có những chuyển biến mới, một số nước khác như Liên Xô (tháng 11-1973), Trung Quốc (tháng 4-1990), Pháp, Mỹ, Extônia, Nêpan, Xlôvắc, Xlôvênia… đã gửi QSVQS tham gia lực lượng UNTSO

Trang 39

LHQ đưa ra không thành công, nhưng lực lượng UNTSO đã đảm bảo thực hiện ngừng bắn, duy trì hòa bình giữa Ixraen và các nước láng giềng trong một thời gian khá dài, cho tới khi xảy ra cuộc chiến tranh Trung Đông lần thứ II (ngày 29-10-1956), quan sát thực hiện ngừng bắn ở vùng kênh đào Suez và cao nguyên Goland sau cuộc chiến tranh Arập - Ixraen lần thứ III (tháng 6-1967)

Như vậy, UNTSO ra đời là sáng kiến của LHQ, cũng là kết quả thỏa hiệp giữa hai nước lớn Liên Xô và Mỹ Hai cường quốc này muốn tận dụng vai trò “trung lập”của LHQ để giải quyết một cuộc xung đột quốc tế Lực lượng này do LHQ điều hành Lực lượng gìn giữ hòa bình đã hạn chế đối đầu Đông - Tây lây lan sang cuộc xung đột ở khu vực, tránh cuộc chiến tranh nóng trực tiếp giữa hai nước lớn tại Trung Đông

UNTSO trở thành lực lượng gìn giữ hòa bình đầu tiên của LHQ Trên cơ sở hoạt động của UNTSO, LHQ tổ chức nhiều chiến dịch gìn giữ hòa bình khác Đây là một sáng kiến của LHQ nhằm thúc đẩy việc giải quyết các cuộc tranh chấp, hạn chế

và tránh để các nước lớn trực tiếp can thiệp quân sự vào cuộc xung đột

1.2- Cơ sở pháp lý, cơ cấu tổ chức của lực lượng gìn giữ hòa bình

Các nhà sáng lập LHQ nhận thấy rằng LHQ không thể thủ tiêu chiến tranh,

họ tin rằng LHQ có thể duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, nhưng họ không trù tính cách thức LHQ thực hiện chức năng đó Hiến chương LHQ đề cập đến quân đội LHQ, thậm chí quy định thành lập Ban tham mưu quân sự LHQ, nhưng không nêu

cụ thể cách thức hoạt động gìn giữ hòa bình Hiến chương LHQ chỉ ghi rõ nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của LHQ là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế nhằm ngăn ngừa, loại trừ mối đe dọa hòa bình và thủ tiêu hành động xâm lược bằng cách sử dụng các biện pháp tập thể

1.2.1- Cơ sở pháp lý hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ

Trên cơ sở Hiến chương LHQ và tập hợp những nguyên tắc, thông lệ quốc tế, LHQ vừa tiến hành hoạt động trên thực tế, vừa xây dựng, hoàn chỉnh và củng cố cơ

sở pháp lý cho hoạt động của lực lượng gìn giữ hòa bình

1.2.1.1- Hiến chương LHQ

Trang 40

Hiến chương LHQ ghi rõ nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của LHQ là duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Mục tiêu này đã có từ lâu Sau Chiến tranh thế giới thứ

I, Hội Quốc liên được thành lập đề ra nhiệm vụ cơ bản là duy trì hòa bình thế giới Tuy nhiên, Hội Quốc liên đã không làm được việc gì có ý nghĩa để thực hiện sứ mệnh trên Khi LHQ được thành lập năm 1945, với kinh nghiệm của quá khứ, nhất

là sau Chiến tranh thế giới thứ II, LHQ thấy cần phải có nỗ lực quốc tế chung mạnh

mẽ hơn, cụ thể hơn nhằm duy trì hòa bình, ngăn ngừa cuộc chiến tranh mới LHQ đã quy định hai phương thức để thực hiện chức năng trên là: thông qua giải quyết hoà bình các cuộc tranh chấp và được sử dụng biện pháp cưỡng chế (bao gồm biện pháp quân sự hoặc phi quân sự để trừng phạt các hành vi xâm lược) Hiến chương LHQ tạo ra khuôn khổ pháp lý quốc tế cho việc tiến hành các hoạt động gìn giữ hòa bình

Chương VI cho phép triển khai nhân viên quân sự, nhưng không được sử dụng vũ lực; nói cách khác, Chương VI cho phép tiến hành các hoạt động hòa bình như các nỗ lực ngoại giao phòng ngừa, hành chính và luật pháp Theo Chương VI, trên thực tế muốn tiến hành một hoạt động gìn giữ hòa bình, phải thỏa mãn các điều kiện như: phải được các bên liên quan tới cuộc xung đột đồng ý

Khi hoạt động phi vũ lực không đạt kết quả mong muốn, hoặc khi có tình trạng đe dọa hòa bình, HĐBA căn cứ Chương VII Hiến chương LHQ để ra nghị

quyết cưỡng chế, tiến hành các biện pháp cấm vận hoặc sử dụng vũ lực Sau này, khi

hoạt động gìn giữ hòa bình ngày càng mở rộng, HĐBA đã dựa vào Chương VII Hiến chương LHQ để triển khai các hoạt động cưỡng chế và phối hợp các chiến dịch gìn giữ hòa bình do LHQ tổ chức với các chiến dịch gìn giữ hòa bình do các tổ chức khu vực tiến hành

Tiêu chí nổi bật trong Chương VII là trừng phạt Hình thức trừng phạt ở mức thấp là bao vây, cấm vận Sử dụng vũ lực là biện pháp trừng phạt ở mức cao Theo

Điều 42, nếu xét thấy các biện pháp phi vũ lực không đạt được mục đích, HĐBA sẽ cho phép sử dụng lực lượng quân sự để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế Hành động này có thể bao gồm cả việc bao vây, phong tỏa và hoạt động tác chiến trực tiếp của lực lượng vũ trang các nước thành viên LHQ Điều 51, Chương VII, Hiến chương LHQ nhấn mạnh:

Ngày đăng: 23/03/2015, 07:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15– Hà Mỹ H−ơng (2003), Quan hệ Nga - Mỹ sau Chiến tranh lạnh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Nga - Mỹ sau Chiến tranh lạnh
Tác giả: Hà Mỹ H−ơng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2003
16- Hoàng Liên (2005), “SNG đang đứng trước những thử thách khắc nghiệt”, Báo Nhân Dân, số ra ngày 26-4-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SNG đang đứng trước những thử thách khắc nghiệt”, "Báo Nhân Dân
Tác giả: Hoàng Liên
Năm: 2005
17- Lưu Văn Lợi (2004), Ngoại giao Việt Nam (1945-1995), Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam (1945-1995)
Tác giả: Lưu Văn Lợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2004
18- Trần Đức L−ơng (2003), Phát biểu tại Hội nghị cấp cao lần thứ 13 Phong trào Không liên kết, ngày 24/2/2003, Báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 25-2-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát biểu tại Hội nghị cấp cao lần thứ 13 Phong trào Không liên kết", ngày 24/2/2003, "Báo Quân đội nhân dân
Tác giả: Trần Đức L−ơng
Năm: 2003
19- Nguyễn Dy Niên (2001), “Ngoại giao Việt Nam phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước”, Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam, Trung tâm thông tin - Th− viện, Học viện Quan hệ quốc tế , (2001), Hà Nội, quyển II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước”, "Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Dy Niên (2001), “Ngoại giao Việt Nam phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước”, Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam, Trung tâm thông tin - Th− viện, Học viện Quan hệ quốc tế
Năm: 2001
20- Vũ D−ơng Ninh (2004). "Về nhân tố quốc tế trong hội nghị Genève", Tạp chí khoa học, Khoa học & nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, T.XX. số 3-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nhân tố quốc tế trong hội nghị Genève
Tác giả: Vũ D−ơng Ninh
Năm: 2004
21- Nguyễn Xuân Sơn (1997), Trật tự thế giới thời kỳ chiến tranh lạnh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trật tự thế giới thời kỳ chiến tranh lạnh
Tác giả: Nguyễn Xuân Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1997
22- Nguyễn Anh Thái (chủ biên) (2002), Lịch sử thế giới hiện đại, 1917-1995, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới hiện đại, 1917-1995
Tác giả: Nguyễn Anh Thái (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
23- Nguyễn Cơ Thạch (1998), Thế giới trong 50 năm qua (1945-1995) và thế giới trong 25 năm tới (1996-2020), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới trong 50 năm qua (1945-1995) và thế giới trong 25 năm tới (1996-2020)
Tác giả: Nguyễn Cơ Thạch
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1998
24- Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Xuân Linh (1998), Những nội dung cơ bản của Công pháp và T− pháp quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cơ bản của Công pháp và T− pháp quốc tế
Tác giả: Nguyễn Tiến Trung, Nguyễn Xuân Linh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1998
25- Tiêu Thi Mỹ ( 2000), Mưu lược Đặng Tiểu Bình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mưu lược Đặng Tiểu Bình
Tác giả: Tiêu Thi Mỹ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
26- Thông tấn xã Việt Nam (2002), Cuộcxung đột Israel & Arập, Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộcxung đột Israel & Arập
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tấn
Năm: 2002
27- Từ Thiên Tân, L−ơng Chí Minh ( chủ biên) (2002), Lịch sử thế giới, tập 5- Thời hiện đại ( 1900-1945), Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới, tập 5- Thời hiện đại ( 1900-1945)
Tác giả: Từ Thiên Tân, L−ơng Chí Minh ( chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
28- Từ Thiên Tân, L−ơng Chí Minh ( chủ biên) (2002), Lịch sử thế giới, tập 6- Thời đương đại ( 1945-2000), Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới, tập 6- Thời đương đại (1945-2000)
Tác giả: Từ Thiên Tân, L−ơng Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
29- Trần Trọng (2003), “Cải tổ Liên hợp quốc- Vấn đề cấp thiết, bức xúc của cả thế giới”, Tạp chí Cộng sản, số 29/10-2003, tr.59-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tổ Liên hợp quốc- Vấn đề cấp thiết, bức xúc của cả thế giới”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Trọng
Năm: 2003
31- ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Luật học (1985), Liên hợp quốc – Tổ chức - Những vấn đề pháp lý cơ bản, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên hợp quốc – Tổ chức - Những vấn đề pháp lý cơ bản
Tác giả: ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Luật học
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1985
32-Viện Quốc tế Nghiên cứu các vấn đề chiến l−ợc (Luân Đôn) (2005), “Trung Quốc đẩy mạnh chính sách can dự toàn diện ở châu Phi”, Tài liệu tham khảo đặc biệt, Thông tấn xã Việt Nam, ngày 13-4-2005, tr.15-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc đẩy mạnh chính sách can dự toàn diện ở châu Phi
Nhà XB: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2005
33-Viện Thông tin Khoa học xã hội – Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (2001), Trật tự thế giới sau Chiến tranh lạnh: Phân tích và dự báo, Tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trật tự thế giới sau Chiến tranh lạnh: Phân tích và dự báo
Tác giả: Viện Thông tin Khoa học xã hội, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
34-Viện Thông tin Khoa học xã hội – Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (2001), Trật tự thế giới sau Chiến tranh lạnh: Phân tích và dự báo, Tập 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trật tự thế giới sau Chiến tranh lạnh: Phân tích và dự báo
Tác giả: Viện Thông tin Khoa học xã hội
Nhà XB: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia
Năm: 2001
35- Vụ Quốc tế - Ban T− t−ởng – Văn hóa Trung −ơng (2002), Những điểm nóng trên thế giới gần đây, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.TiÕng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm nóng trên thế giới gần đây
Tác giả: Vụ Quốc tế - Ban T− t−ởng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w