1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công ty Đông Ấn Anh ở Vương quốc Xiêm nửa đầu thế kỷ XVII

98 591 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, với sự thâm nhập của người châu Âu vào Đông Á thế kỷ XVI, cấu trúc hải thương của khu vực Biển Đông cũng dần bị phá vỡ, thay thế bởi một cấu trúc mới mang đậm dấu ấn của các

Trang 1

` ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN VĂN VINH

CÔNG TY ĐÔNG ẤN ANH Ở VƯƠNG QUỐC XIÊM

NỬA ĐẦU THẾ KỶ XVII

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch Sử Thế Giới

Mã số: 60 22 50

Người hướng dẫn khoa học: TS HOÀNG ANH TUẤN

Hà Nội-2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Cao Học tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến TS Hoàng Anh Tuấn - người Thầy đã dìu dắt, giúp đỡ Tôi trong suốt thời gian qua Những chỉ dẫn quý báu của Thầy đã giúp ích cho Tôi rất nhiều trong cuộc sống, công việc và học tập Ở Thầy, tôi luôn học hỏi được một tinh thần làm việc khoa học, nghiêm túc và một trái tim nhân hậu luôn hết lòng thương yêu, giúp đỡ học trò Từ đáy lòng mình Tôi luôn rất đỗi tự hào và cảm thấy vô cùng may mắn vì đã gặp và được làm việc cùng Thầy Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo thuộc bộ môn Lịch Sử Thế giới - Khoa Lịch Sử, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi được học tập trong một môi trường học tập khoa học, nhân văn Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã ở bên động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập Cao học

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2012

Nguyễn Văn Vinh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Phạm vi nghiên cứu vấn đề 5

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Ý nghĩa khoa học của đề tài 10

6 Bố cục đề tài 10

CHƯƠNG 1: SỰ THÀNH LẬP CÔNG TY ĐÔNG ẤN ANH NĂM 1600 11

1.1 Nước Anh đến cuối thế kỷ XVI 11

1.2 Những nỗ lực thâm nhập phương Đông của thương nhân Anh cuối thế kỷ XVI 16

1.3 Sự thành lập Công ty Đông Ấn Anh năm 1600 23

1.4 Tiểu kết 26

CHƯƠNG 2: VƯƠNG QUỐC XIÊM ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XVI VÀ NHỮNG MỐI LIÊN HỆ ANH - XIÊM ĐẦU TIÊN (1587- 1611) 28

2.1 Vương quốc Xiêm cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII 28

2.1.1 Vài nét về quá trình lịch sử của vương quốc Xiêm 28

2.1.2 Tình hình bang giao và ngoại thương 36

2.2 Những mối liên hệ Anh - Xiêm đầu tiên (1587 - 1611) 47

2.3 Tiểu Kết 53

CHƯƠNG 3: CÔNG TY ĐÔNG ẤN ANH Ở VƯƠNG QUỐC XIÊM 1612-1623 55

3.1 Phái đoàn Thomas Essington - Lucas Antheunis và sự thiết lập quan hệ giữa Công ty Đông Ấn Anh và Xiêm (1612) 55

3.2 Thiết lập quan hệ bang giao và thương mại Anh - Xiêm (1613 - 1618) 65

3.3 Cạnh tranh thương mại Anh - Hà Lan (1618 - 1619) 77

3.4 Suy thoái và đóng cửa thương điếm Anh tại Xiêm (1620-1623) 80

3.5 Tiểu kết 84

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 4

MỞ ĐẦU

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài

Châu Âu trung cổ không có cuộc tiếp xúc nào với Đông Nam Á được

ghi lại cho đến cuối thế kỷ XIII, khi cuốn Viễn du của Marco Polo được xuất bản Những miêu tả về xứ đất vàng, đảo vàng, giàu hương liệu càng kích

thích trí tò mò của các thương nhân châu Âu đang khao khát các sản phẩm xa

xỉ từ phương Đông Nhưng cũng phải đợi đến cuối thế kỷ XV, sau những đại phát kiến địa lý của hai dân tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, quá trình giao lưu trao đổi thương mại Á - Âu mới thực sự có chuyển biến mới Trong đó,

Bồ Đào Nha trở thành những người tiên phong khai mở con đường hàng hải sang phương Đông qua mũi Hảo Vọng Vào cuối thời trung cổ, người Bồ Đào Nha rất thích hợp để lãnh đạo các cố gắng của người châu Âu khai thác nền thương mại của Ấn Độ Dương Vị trí của người Bồ Đào Nha ở Đại Tây Dương đã làm cho họ trở thành giống nòi thủy thủ có khả năng đối phó với những hiểm nguy trên biển cả [2, 377]

Đi tiên phong trong công cuộc khai phá con đường sang thế giới hương liệu phương Đông qua mũi Hảo Vọng, Bồ Đào Nha trong hơn một thế kỷ sau khi đặt trên đến châu Á, đã xây dựng cho riêng mình mạng lưới độc quyền thương mại hương liệu Sự thâm nhập của người Bồ Đào Nha vào phương Đông và quá trình xác lập mạng lưới thương mại liên Đông Á của Công ty

Hoàng gia Bồ Đào Nha (Estado da India) đã từng bước phá vỡ cấu trúc

thương mại truyền thống ở khu vực Biển Đông và Đông Á [25, 2] Tuy nhiên, sang thế kỷ XVII, sự hùng mạnh, vinh quang của người Bồ Đào Nha chỉ còn

là những kỷ niệm [13, 19] Một số quốc gia Tây Âu khác tiêu biểu là Anh, Hà Lan, Pháp có truyền thống hàng hải và tiềm lực kinh tế đã nỗ lực thử nghiệm nhiều con đường khác nhau nhằm thâm nhập vào phương Đông để phá vỡ sự độc quyền thương mại của Bồ Đào Nha Với ưu thế vượt trội, các

quốc gia này đã thành lập các công ty thương mại như VOC (Công ty Đông

Ấn Hà Lan), EIC (Công ty Đông Ấn Anh), CIO (Công ty Đông Ấn Pháp)

nhằm tăng cường sức mạnh của họ khi tham gia vào các hoạt động trao đổi buôn bán ở châu Á Trong khi nền thương mại tại châu Á của người Bồ Đào

Trang 6

Nha chỉ đơn thuần là một hãng buôn hoàng gia, thì những thương nhân Anh,

Hà Lan và những công ty thương mại thứ yếu khác đã tích lũy một số vốn khổng lồ và dùng nó vào việc tăng cường sức mạnh hàng hải ở miền Đông

Ấn Người Âu không chỉ kiểm soát con đường buôn bán liên lục địa Á - Âu

mà còn tham gia vào các tuyến thương mại Nội Á truyền thống

Bên cạnh đó, với sự thâm nhập của người châu Âu vào Đông Á thế kỷ XVI, cấu trúc hải thương của khu vực Biển Đông cũng dần bị phá vỡ, thay thế bởi một cấu trúc mới mang đậm dấu ấn của các thế lực thương mại và hàng hải phương Tây, góp phần làm nên thời đại hoàng kim trong trong nền thương

mại châu Á Với vị trí của một vùng biển được biệt đãi [63, 21], Đông Nam Á

sớm trở thành địa điểm buôn bán, trao đổi thương mại sôi động, tấp nập tàu

thuyền Hòa cùng những biến chuyển chung của thời đại thương mại, một loạt

các quốc gia Đông Nam Á cũng đã tích cực dự nhập vào dòng chảy của nền hải thương khu vực Vì vậy, nghiên cứu quá trình thâm nhập, xây dựng cơ sở thương mại của các thế lực hàng hải phương Tây ở Đông Nam Á là một phần không thể thiếu nhằm phục dựng bức tranh kinh tế - xã hội của khu vực trong giai đoạn phát triển đầy năng động này

Vào cuối thế kỷ XVI, cùng với những biến chuyển của bầu không khí chính trị và xã hội Anh, nền kinh tế của quốc gia đảo quốc cũng đứng trước thách thức và cơ hội phát triển mới Những phát kiến địa lý thành công của hai quốc gia trên bán đảo Iberia vào cuối thế kỷ XV, khiến cho công cuộc chạy đua hàng hải và thương mại ở một số dân tộc hàng hải truyền thống Tây

Âu như Hà Lan, Anh càng trở nên gay gắt Dù vậy, trong suốt nửa đầu thế kỷ XVI, người Anh không thể tạo ra một bước ngoặt nào trong quá trình khai phá con đường sang phương Đông do thiếu kiến thức bởi người Bồ Đào Nha

và Tây Ban Nha đã thiết lập “hàng rào kín”, quyết tâm bảo mật các thông tin

về những vùng đất mới

Phải đến cuối thập niên 70 của thế kỷ XVI, người Anh mới bắt đầu có được những kiến thức - dù còn hết sức tản mạn - về phương Đông sau các chuyến đi vòng quanh thế giới của Francis Drake và Thomas Cavendish

Trang 7

(1577-1580) Một làn sóng tìm kiếm con đường sang phương Đông buôn bán sôi sục ở thủ đô Luân Đôn; nhiều công ty ra đời để buôn bán với vùng Đông

Ấn Tuy nhiên, do ngại đối đầu với người Bồ Đào Nha trên con đường qua mũi Hảo Vọng, trong nhiều thập niên sau đó, người Anh đã nỗ lực tìm kiếm con đường đi sang phương Đông qua phía đông bắc (biển Ban Tích và Bắc Băng Dương) hoặc vượt đường bộ qua xứ Ba Tư

Sau nhiều thất bại, thương nhân Anh thấy rằng con đường duy nhất để Đông tiến chính là chấp nhận đương đầu với người Bồ Đào Nha để đi qua mũi Hảo Vọng Cùng với quyết tâm đó, năm 1591, thương nhân Luân Đôn đã tổ chức chuyến đi Đông Ấn đầu tiên Mặc dù vấp phải thất bại cay đắng, nhưng việc tàu của người Anh vượt qua mũi Hảo Vọng, đi vào Ấn Độ Dương và sang đến tận vùng quần đảo hương liệu Đông Nam Á đã tạo ra tiếng vang lớn đến giới thương nhân và hàng hải Anh Ở Luân Đôn, giới thương nhân và tài phiệt ráo riết vận động và đệ trình lên Nữ hoàng Elizabeth kế hoạch thành lập công ty Đông Ấn buôn bán sang phương Đông Ngày 31/12/1600, Nữ hoàng

Elizabeth phê duyệt kế hoạch trên, Công ty của các thương nhân Luân Đôn

buôn bán với miền Đông Ấn được phê chuẩn

Ngay sau khi được thành lập, Ban Giám đốc tích cực chuẩn bị cho những chuyến đi Đông Ấn đầu tiên dưới danh nghĩa Công ty, đánh dấu một thời kỳ mới của nền hải thương Anh trong lịch sử thương mại và hàng hải thế giới Theo số liệu lưu trữ của Công ty, từ năm 1620 đến năm 1700, trung bình mỗi năm có 8 tàu rời nước Anh đi phương Đông Nếu tính gộp cả giai đoạn 1600-1833, đã có khoảng 4.600 tàu rời Luân Đôn đi phương Đông Đặc biệt, sau năm 1800, trung bình mỗi năm có 42 tàu Anh đi phương Đông [47, 23] Tại phương Đông, ngoài Ấn Độ, nhiều khu vực thuộc Đông Nam Á hải đảo, Miến Điện, Cao Miên, Đài Loan, Nhật Bản Công ty Đông Ấn Anh cũng đã

có mối liên hệ thương mại, kinh tế từ khá sớm ở vương quốc Xiêm Cùng với

sự xuất hiện của các thương nhân phương Tây khác (Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp ), người Anh bước đầu đã xây dựng được thương điếm ở Pattani và Ayutthaya

Trang 8

Tuy không giành được nhiều thành công trong hoạt động buôn bán ở Xiêm trong khoảng 3 thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XVII Nhưng quan hệ thương mại thời kỳ này, dường như đã để lại nhiều hệ lụy cho mối quan hệ thương mại, chính trị rất đặc biệt giữa hai quốc gia Anh - Xiêm trong những

thế kỷ tiếp theo Đề tài luận văn “Công ty Đông Ấn Anh ở vương quốc Xiêm

nửa đầu thế kỷ XVII” cố gắng phục dựng bức tranh hoạt động bang giao và

thương mại của công ty Đông Ấn Anh ở Xiêm trong bối cảnh chung của khu vực Đông Á thời kỳ này

2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về hoạt động của công ty Đông Ấn Anh ở vương quốc Xiêm là một đề tài tương đối rộng, đòi hỏi cần nhiều thời gian, đầu tư công sức nghiên cứu Trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ chịu giới hạn về thời lượng, người viết xin tập trung làm sáng rõ một giai đoạn cụ thể của mối quan

hệ Anh - Xiêm, giai đoạn khởi động từ đầu thế kỷ XVII đến năm 1623, khi người Anh tạm thời đóng cửa thương điếm ở Xiêm nhằm chấn chỉnh lại hoạt động chung của Công ty ở Đông Á

Do tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau nên hoạt động của công

ty Đông Ấn Anh ở vương quốc Xiêm giai đoạn này không thực sự thành công Sự cạnh tranh khốc liệt của thương nhân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Trung Hoa cũng như sự độc quyền thương mại của hoàng gia Xiêm đã làm cho hoạt động trao đổi buôn bán của Công ty gặp rất nhiều khó khăn Trong thời gian này, bên cạnh Xiêm, Công ty cũng đã bước đầu xây dựng mối quan hệ thương mại với Nhật Bản, một số tiểu quốc ở khu vực Đông Nam Á hải đảo, vùng vịnh Bengal Vì vậy, nghiên cứu hoạt động thương mại của Công ty ở vương quốc Xiêm nửa đầu thế kỷ XVII cần được đặt trong bối cảnh chung của tình hình khu vực Luận văn sẽ cố gắng trình bày những nét cơ bản

về tình hình hoạt động của Công ty ở Xiêm, đồng thời luận giải những nguyên nhân khiến cho hoạt động của Công ty trong giai đoạn này chưa mang lại nhiều thành công, lợi nhuận như mong đợi

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trang 9

Nghiên cứu quá trình hình thành cũng như hoạt động của Công ty Đông Ấn Anh ở Đông Á nói chung không phải là đề tài quá mới mẻ trên bình diện sử học quốc tế Được hiểu là tiền thân của hệ thống chính quyền thuộc địa Anh ở phương Đông, Công ty Đông Ấn Anh đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều thế hệ sử gia phương Tây từ đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, xuất phát từ vai trò quan trọng của nền mậu dịch của Công ty với Trung Quốc trong sự bành trướng về thương mại và lãnh thổ của Công ty trong thế kỷ XVIII mà sự chú trọng của các sử gia đều hướng về mối quan hệ giữa Công ty Đông Ấn Anh với Trung Quốc Hàng loạt các công trình nghiên cứu quan trọng về mối quan hệ Anglo - Hoa được công bố trong nửa đầu thế kỷ XX

Đối với khu vực Đông Nam Á, những nghiên cứu của các sử gia phương Tây hạn chế hơn Trong thập niên 30 của thế kỷ trước, nhà sử học Anh, D G E Hall lần lượt cho công bố những nghiên cứu của mình về hoạt động của công ty Đông Ấn Anh tại Miến Điện và đến năm 1955, cuốn chuyên

khảo nổi tiếng A history of Southeast Asia của Ông được ấn hành Nhà nghiên

cứu D K Basset cho rằng, cho đến năm 1960, hiếm có một công trình nghiên cứu thực sự chuyên sâu nào về hoạt động của Công ty Đông Ấn Anh ở khu vực Viễn Đông thế kỷ XVII xuất phát từ hiện thực lịch sử là, đến khoảng năm

1700, kim ngạch buôn bán của Công ty Đông Ấn Anh với các quốc gia Viễn Đông, nhất là với Trung Quốc, quá khiêm tốn nếu so với kim ngạch của Công

ty trong phần lớn thế kỷ XVIII Nhằm soi sáng thêm lịch sử thâm nhập của Công ty vào khu vực Đông Nam Á, Basset cho công bố một số bài nghiên cứu chung về Công ty Đông Ấn Anh ở Viễn Đông, tập trung về Xiêm và Cao Miên Có thể kể đến như: K D Basset, “The Trade of the English East India

Company in the Far East, 1623-1684”, Journal of the Royal Asiatic Society ¼

(1960), pp 33-47 & 145-157; K D Basset, “English Relations with Siam in

the Seventeenth Century”, Journal of the Malayan Branch, Royal Asiatic

Society 34/2 (1961), pp.90-105; K D Basset, “The Trade of the English East

India Company in Cambodia, 1651-1656”, Journal of the Royal Asiatic

Society of Great Britain and Ireland, No ½ (1962), pp.35-61

Trang 10

Những nghiên cứu của Hall (1955) và Basset (1960) được coi là các tác phẩm quan trọng của các sử gia nghiên cứu Công ty Đông Ấn Anh trong

gần hai thập kỷ cho đến khi ra mắt công trình nghiên cứu The Trading World

of Asia and the English East India Company, 1660-1760 (Cambridge

University Press) của K N Chaudhuri vào năm 1978 Cuốn sách của Chaudhuri một mặt cung cấp những số liệu cập nhật về tình hình kinh doanh của Công ty, đồng thời phân tích một cách tổng thể các chiến lược phát triển thương mại và lãnh thổ trong giai đoạn bành trướng mạnh của Công ty Đông

Ấn Anh kể từ khoảng thập niên 60 của thế kỷ XVII Phải đến những năm cuối của thế kỷ XX, độc giả mới lại có dịp đón nhận những nghiên cứu mới về

công ty Đông Ấn Anh, tiêu biểu là The Honourable Company: A History of

The English East India Company (của John Keay, 1991), The East India Company: A History (của Philip Lawson, 1993)

Đối với hoạt động của Công ty Đông Ấn Anh ở vương quốc Xiêm, số lượng các công trình nghiên cứu đến nay còn tương đối ít ỏi Một trong số các công trình khảo cứu mang tính khai mở đầu tiên có liên quan trực tiếp đến hoạt động của Công ty Đông Ấn Anh ở Xiêm đã được John Anderson thể

hiện thành công qua tác phẩm “The English Intercouse with Siam in

Seventeenth Century” xuất bản năm 1890 Công trình là một nghiên cứu công

phu, nhiều tư liệu quý của Anderson’s đã góp phần làm nổi bật bức tranh về hoạt động thương mại của EIC ở Xiêm trong thế kỷ XVII

Gần đây nhất, trên cơ sở khai thác kho tư liệu liên đến hoạt động của

công ty Đông Ấn Anh ở Xiêm Hai tác giả Anthony Farrington và Dhiravat

na Pombeja đã công bố phần tư liệu gốc trong tác phẩm The English Factory

in Siam (1612-1685) Trong công trình này, các tác giả đã công bố một phần

tư liệu đã thu thập được về hoạt động của công ty Đông Ấn Anh ở Xiêm và một số khu vực khác Luận văn cố gắng khai thác hiệu quả các thông tin được phản ánh qua nguồn tư liệu gốc này

Bên cạnh đó, phải kể đến ghi chép của các tác giả khác có liên quan

đến Xiêm đã được xuất bản như E.W.Hutchinson, Adventures in Siam in the

Trang 11

Seventeenth century (Reprinted with permission of The Royal Asiatic society,

1985); Chris Baker, Dhinavat na Pombejra, Alfons van Der Kraan, David K

Wyatt, Van Vliet’s Siam (Silkworms Books, 2005), W J M.Buch, Công ty

Nam Dương và Đông Dương (BEFEO, 1936) Ngoài ra nghiên cứu của

David K Waytt, Thailand: A short History, 1982 cũng là nguồn tư liệu

tham khảo có giá trị cho luận văn

Trái ngược với phong phú trong các nghiên cứu của sử học quốc tế về

đề tài hoạt động của công ty Đông Ấn Anh Các nghiên cứu của giới sử học trong nước về đề tài này lại rất hạn chế Hầu như chưa có một chuyên khảo hay bài viết nào liên quan trực tiếp đến hoạt động của Công ty Đông Ấn Anh

ở vương quốc Xiêm Các nguồn tài liệu tiếng Việt thường đề cập một cách

gián tiếp và tản mạn, chẳng hạn: Vương quốc Thái Lan lịch sử và hiện tại (Vũ Dương Ninh, 1990), Lịch sử Thái Lan (Phạm Nguyên Long, Nguyễn

Tương Lai, 1998) Bên cạnh đó là một số bài viết của các nhà nghiên cứu trong nước khai thác các khía cạnh khác nhau của lịch sử Thái Lan

Các công trình nghiên cứu chuyên sâu của PGS.TS Nguyễn Văn Kim được xuất bản trong thời gian gần đây cũng gián tiếp cung cấp một phần tư

liệu quý giá cho bản luận văn, bao gồm: Chính sách đóng cửa của Nhật Bản:

Nguyên nhân và hệ quả (2000), Nhật Bản với Châu Á, những mối liên hệ lịch

sử và chuyển biến kinh tế xã hội (2003); Quan hệ Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỷ XV-XVII (2003) cùng một số bài viết đã đăng tải trên các tạp chí

nghiên cứu có uy tín trong nước

Tác phẩm: Lịch sử Đông Nam Á (2006) do giáo sư Lương Ninh chủ

biên cung cấp cho người viết những nét sơ lược nhất về lịch sử Đông Nam Á, trong đó có lịch sử Xiêm thế kỷ XVII Cùng với đó là một số kỷ yếu hội thảo

đã được xuất bản nhằm phục vụ cho những nghiên cứu chuyên ngành như: Sư

tử và Rồng: Bốn thế kỷ quan hệ Việt Nam - Hà Lan (2008); Đô thị cổ Hội An

(1991); Phố Hiến (1992); Quan hệ Việt - Nhật qua giao lưu gốm sứ (1998);

Việt Nam trong hệ thống thương mại Châu Á thế kỷ XVII (2007) Những

Trang 12

công trình này đã cung cấp nhiều bài viết có giá trị tham khảo cho những nghiên cứu về lịch sử thương mại Đông Nam Á

Các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành trong nước cũng trở thành kênh thông tin quan trọng giúp cho tác giả có thêm nguồn tư liệu phục vụ cho quá trình thực hiện đề tài Tiêu biểu trong số này là một loạt các bài viết của TS

Hoàng Anh Tuấn trên Nghiên cứu Lịch sử như: Kế hoạch Đông Á và sự thất

bại của công ty Đông Ấn Anh ở Đàng Ngoài thập niên 70 của thế kỷ XVII

(2005); Mậu dịch tơ lụa của công ty Đông Ấn Hà Lan ở Đàng Ngoài

(1637-1700) (2006); Gốm sứ Đàng Ngoài xuất khẩu ra Đông Nam Á thế kỷ XVII (tư liệu và nhận thức) (2007); Hải cảng miền Đông bắc và hệ thống thương mại Đàng Ngoài thế kỷ XVII (qua nguồn tư liệu phương Tây); Công ty Đông Ấn

Hà Lan ở Đàng Ngoài (tư liệu và vấn đề nghiên cứu); Vị trí của các cảng thị Việt Nam trong hệ thống thương mại thời cổ trung đại

Xuất phát từ tính mới mẻ của đề tài trong các nghiên cứu ở Việt Nam,

tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: Công ty Đông Ấn Anh ở vương quốc Xiêm

nửa đầu thế kỷ XVII cho bản luận văn Thạc sỹ Do giới hạn về thời gian và

phạm vi nghiên cứu của một luận văn, đề tài chỉ tập trung làm sáng rõ sự thành lập của công ty Đông Ấn Anh và hoạt động thương mại của họ ở vương quốc Xiêm trong nửa đầu thế kỷ XVII, cụ thể là giai đoạn 1611-1623

4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài Công ty Đông Ấn Anh ở vương quốc Xiêm nửa đầu thế kỷ

XVII người viết cố gắng sử dụng góc nhìn khu vực học, theo đó, mọi diễn

biến lịch sử được xem xét trên cả phương diện lịch đại và đồng đại Qua đó, chúng ta thấy được một cách chân xác và hoàn chỉnh nhất về sự phát triển sôi động của hải thương châu Á thế kỷ XVII, cả về động lực, nguyên nhân cũng như những đặc tính phát triển Trong quá trình hoàn thiện luận văn người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, tổng hợp để xem xét các sự kiện lịch sử cũng như mối tương tác

5 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Trang 13

Nghiên cứu về hoạt động thương mại của công ty Đông Ấn Anh ở

châu Á nói chung và ở Xiêm nói riêng vẫn còn là một chủ đề đáng quan tâm của nhiều nhà sử học Thế kỷ XVII, được xem là “kỷ nguyên thương mại” của châu Á với vai trò không thể phủ nhận của thương nhân và các thể chế hải thương châu Á bên cạnh sự hiện diện của các thế lực hàng hải châu Âu

Bên cạnh đó có thể thấy, thế kỷ XVII cũng được xem như là giai đoạn

“bản lề” đối với sự phát triển của nhiều quốc gia châu Á, với nhiều đặc tính

phát triển mang tính trội vượt Phát triển từ cội nguồn lịch sử, văn hóa, kinh tế

- xã hội Đông Nam Á, vương quốc Xiêm cũng cho thấy sự dự nhập của quốc gia này trước những biến chuyển chung của tình hình khu vực và quốc tế Do

đó, việc tìm hiểu về hoạt động của Công ty Đông Ấn Anh ở vương quốc Xiêm được xem như là một bộ phận tổng thể trong việc nghiên cứu lịch sử của quốc gia này

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn Thạc sĩ Công ty Đông Ấn

Anh ở vương quốc Xiêm nửa đầu thế kỷ XVII được chia làm ba chương:

Chương 1: Sự thành lập công ty Đông Ấn Anh năm 1600

Chương 2: Vương quốc Xiêm đến cuối thế kỷ XVI và những mối liên

hệ Anh - Xiêm đầu tiên (1587-1611)

Chương 3: Công ty Đông Ấn Anh ở vương quốc Xiêm (1611-1623)

CHƯƠNG I

SỰ THÀNH LẬP CÔNG TY ĐÔNG ẤN ANH NĂM 1600

Trang 14

1.1 Nước Anh đến cuối thế kỷ XVI

Trong số những quốc gia hình thành ở Tây Âu sau khi đế chế Tây La

Mã sụp đổ (476 CN), nước Anh ra đời khá muộn Những tiểu quốc của người Anh cùng chung ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo đã tồn tại từ khá sớm, nhưng phải đến cuối thế kỷ IX mới diễn ra sự thống nhất về mặt lãnh thổ và chính trị

để trở thành một quốc gia thống nhất Tuy nhiên, sự thống nhất trên không đưa lại sự phát triển trội vượt cho nước Anh Trong những thế kỷ tiếp theo đó, nước Anh luôn vướng phải những bất ổn chính trị và những cuộc chiến tranh Sau những xung đột với người Đan Mạch trong nửa cuối thế kỷ XI, Anh tiếp tục có những mâu thuẫn và chiến tranh với Pháp ở thế kỷ tiếp theo [71, 136- 224]

Những bất ổn về chính trị là nguyên nhân chính của sự trì trệ của nền kinh tế Anh thời kỳ này Nền nông nghiệp của đảo quốc không thực sự mạnh trong khi nền thủ công thương nghiệp cũng không cạnh tranh được với các trung tâm thương mại ở phía bắc và phía đông Địa Trung Hải - cửa ngõ thông thương chính của khu vực Tây Âu với thế giới phương Đông Tuy nhiên, trong trào lưu hình thành và phát triển của các thành thị Tây Âu từ sau thế kỷ

X, nước Anh cũng thực sự chuyển mình Mặc dù không thực sự nổi bật như

những thành thị-quốc gia của Ý như Venice hay Genoa…, những thành thị

của Anh như Luân Đôn, Oxford… ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng đối với sức mạnh của vương quốc Những nghiên cứu gần đây cho thấy,

từ thế kỷ XIII trở đi, các thành thị ở Anh ngày càng hội nhập mạnh vào hệ thống chính trị của vương quốc Nền thủ công nghiệp khởi sắc với những sản phẩm len dạ và vải sợi được xuất khẩu ra nhiều khu vực ở Tây Âu đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của nền hải thương Anh thời kỳ này Các thành thị ra đời đồng thời đưa đến sự phổ biến của đời sống kinh tế và văn hóa thị dân, sự ra đời của hệ thống giáo dục đại học, sự phát triển của những

hệ tư tưởng mới và, về sau, là phong trào cải cách tôn giáo ở Anh trong bối

Trang 15

cảnh những cuộc cải cách tôn giáo rầm rộ ở Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Hà Lan… nửa cuối thế kỷ XVI [55, 87-137].1

Luân Đôn cuối thế kỷ XVI

Giữa thế kỷ XV, xã hội phương Tây bắt đầu một cuộc bành trướng dài khoảng 250 năm giúp châu Âu khám phá gần hết thế giới Nếu không kể đến một số những cuộc viễn du đầy tính thần thoại của người Viking, đây có lẽ là lần đầu tiên người châu Âu vượt hẳn ra khỏi quỹ đạo Địa Trung Hải của họ để tiếp xúc với vô số những giống người, tôn giáo và văn hóa khác nhau, từ kẻ mọi rợ trần truồng đến người Trung Hoa học thức.2 Lịch sử Tây Âu đứng trước biến chuyển lớn của thời đại Những khoản đầu tư lớn về tiền bạc và công sức nhằm tìm ra con đường đi sang phương Đông của hai dân tộc trên bán đảo Iberia cuối cùng cũng thành công vào cuối thế kỷ XV với việc người Tây Ban Nha tìm ra châu Mỹ và người Bồ Đào Nha tìm ra con đường đi qua mũi Hảo Vọng để sang Ấn Độ Đánh giá về ý nghĩa của sự kiện này Adam

Smith viết: “Việc tìm ra châu Mỹ và việc khám phá ra con đường sang Đông

Ấn bằng cách dong thuyền qua mũi Hảo vọng là sự kiện lớn nhất và quan

Trang 16

trọng nhất trong lịch sử nhân loại”.1 Hơn thế, sau các cuộc phát kiến địa lý thành công không những đã đưa lịch sử Tây Âu bước sang giai đoạn phát

triển mới “giai đoạn Cận đại sơ kỳ” (1500-1789) mà còn ghi dấu một loạt những chuyển biến chung mang tính nội tại “Sự nổi lên của các trung tâm

quyền lực tập trung hóa cao độ sự khởi nguồn của các quá trình hình thành các quốc gia dân tộc, làm nền tảng cho các quốc gia hiện đại”.2

Trong suốt thế kỷ XVI, trong khi người Tây Ban Nha tìm cách độc quyền khai thác khu vực Tân thế giới, người Bồ Đào Nha cũng nhanh chóng thụ hưởng nền độc quyền buôn bán với phương Đông Mặc dù chưa đủ sức phá vỡ vị trí thương mại hàng đầu của các cảng thị nước Ý như Venice, Genoa, Florence, Milan trong buôn bán với phương Đông qua miền đông Địa Trung Hải…, những chuyến tàu chở đầy hương liệu của người Bồ Đào Nha

về Lisbon ngày càng thu hút được sự quan tâm của các thương nhân vùng bắc Tây Âu - những người trước đây phụ thuộc vào hàng hóa của các thương cảng Địa Trung Hải Thương thuyền Tây Âu đến Lisbon thu gom hàng hóa phương Đông ngày càng tăng Cùng với Lisbon, hàng loạt các trung tâm thương mại lớn ở phía bắc như Luân Đôn (Anh), Antwerp (Bỉ), Amsterdam (Hà Lan)… cũng trỗi dậy, cạnh tranh với các thương cảng truyền thống của Ý [59, 145]

Thế kỷ XVI đánh dấu một giai đoạn phát triển sôi động, với những biến cố có ý nghĩa thời đại đối với nền kinh tế của vương quốc Anh Là một quốc gia có truyền thống hàng hải từ lâu đời, thương nhân Anh khó có thể chấp nhận việc hai dân tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha độc quyền các tuyến buôn bán với miền Đông Ấn và Tây Ấn Mục tiêu thương mại luôn là động lực thôi thúc người Anh tìm đường sang buôn bán với phương Đông Tuy nhiên, thương mại không phải là động cơ duy nhất Trước năm 1600, những thứ tình cảm mang tính dân tộc chủ nghĩa luôn chiếm một vị trí đáng kể trong các chuyến đi sang phương Đông: lật đổ vị trí độc tôn của người Tây Ban Nha

1

Xem thêm từ: Adam Smith, Sự giàu có của các quốc gia, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr 325

2

Xem thêm từ: Merry E Wiesner-Hanks, Early modern Europe 1450-1789, (Cambridge Press:

NewYork and Cambridge, 2006), pp 145

Trang 17

và Bồ Đào Nha Một số chuyến đi thậm chí còn đề cao mục tiêu tôn giáo: truyền bá Thiên chúa sang châu Phi và Ấn Độ để bao vây đạo Hồi [69, 68] Bên cạnh đó, người Anh cũng hi vọng sử dụng vũ lực để cướp đoạt những đoàn thuyền buôn giàu có trên biển Cuối cùng, nhu cầu khám phá và niềm đam mê phiêu lưu cũng góp phần không nhỏ vào việc tổ chức tìm đường đi về phương Đông Vào đầu thập niên 80 của thế kỷ XVI, lòng khao khát buôn bán với phương Đông của người Anh được khích lệ mạnh mẽ sau khi nhà hàng hải Francis Drake thực hiện thành công chuyến đi vòng quanh thế giới trong các năm 1577-1580 Cùng với viễn cảnh tươi sáng về việc dong thuyền sang các vùng đất phương Đông, một lần nữa thứ tình cảm dân tộc chủ nghĩa lại trỗi dậy với người Anh khi họ nghĩ đến khả năng sức mạnh của Thanh giáo sẽ lật đổ sự độc quyền của các thế lực Cơ đốc giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha [56, 2]

Khát vọng là vậy, nhưng kiến thức của người Anh về hải trình sang phương Đông lại hết sức mơ hồ Từ nhiều thế kỷ trước, các sản vật nổi tiếng của phương Đông như tơ lụa, gốm sứ, hương liệu… đã phổ biến trong giới tiêu dùng Anh nhờ có tuyến trao đổi qua sườn đông Địa Trung Hải Những huyền thoại và những câu truyện ly kỳ về một xứ sở phương Đông giàu có luôn khơi dậy sự tò mò và thôi thúc người Anh thiết lập quan hệ trực tiếp với phương Đông, nhất là sau khi người Bồ Đào Nha đã thành công trong việc buôn bán với miền Đông Ấn Tuy nhiên, cho đến khoảng đầu thập niên 80 của thế kỷ XVI, những kiến thức về phương Đông của người Anh thường có xu thế bị lãng mạn hóa hơn là những kiến thức thực tế trên cơ sở nhận thức; người Anh thậm chí còn chưa biết rõ các hàng hóa phương Đông được đưa về châu Âu qua đường bộ hay đường biển [57, 113] Phải sau khi hai nhà hàng hải Anh Francis Drake và Thomas Cavendish hoàn thành chuyến đi vòng quanh thế giới (1577-1580), người Anh mới bắt đầu có được những thông tin chính xác - dù hết sức tản mạn về phương Đông Những kiến thức và lập luận được Drake và Cavendish ghi chép và truyền bá góp phần quan trọng vào việc hiệu chỉnh những kiến thức sai lạc của người Anh về phương Đông trước đây

Trang 18

Những nghiên cứu chuyên sâu của D.G.E.Hall cũng chỉ ra rằng: “Việc người

Anh khởi đầu một cách muộn màng việc khai thác con đường từ mũi Hảo vọng tới Ấn Độ Dương và các vùng xa hơn không phải là do thiếu quan tâm đến buôn bán ở phương Đông Do phát hiện ra châu Mỹ người ta đã hoãn thực hiện các mục tiêu này khoảng một thế kỷ Nhưng, những cố gắng để phát hiện con đường phương Bắc đi vòng qua châu Mỹ, hoặc qua nước Nga và Xiberi cho thấy người Anh luôn nghĩ đến mục tiêu ban đầu là thâm nhập vào buôn bán ở châu Á” [4, 442]

Trong hai thập niên 80 và 90 của thế kỷ XVI, việc nghiên cứu về thế giới phương Đông của người Anh được tổ chức một cách ráo riết và hệ thống Trong trào lưu này nổi lên vai trò và đóng góp quan trọng của một số nhân vật như cây bút Richard Hakluyt và nhà dịch thuật Thomas Hickock, John Dee, Richard Eden… Hakluyt thậm chí tin rằng tương lai và sự hùng mạnh của nước Anh phụ thuộc vào việc phát triển đế chế thương mại và thuộc địa ở hải ngoại Vì vậy, Ông tự đặt cho mình nghĩa vụ phổ biến kiến thức về phương Đông nhằm thúc đẩy mục tiêu đi sang Đông Ấn của nước Anh và sớm trở thành chuyên gia tư vấn của nhiều nhóm thương nhân và các công ty có chiến lược buôn bán với phương Đông Có thể nói rằng, đến năm 1600, người Anh

đã khá tường tận về con đường sang phương Đông qua mũi Hảo Vọng Tuy nhiên, kiến thức của họ về các vùng lãnh thổ cụ thể của phương Đông lại chưa thực sự tỏ tường; các tàu Anh sau khi vượt qua cực nam châu Phi thường không biết chắc những nơi sẽ ghé thăm Ngay cả sắc lệnh của Hoàng gia ban cho Công ty Đông Ấn Anh về đặc quyền ở các khu vực phương Đông

cũng hết sức chung chung, bao gồm: “vùng Đông Ấn, những quốc gia hoặc

các vùng thuộc châu Á và châu Phi và toàn bộ các đảo, hải cảng, bến, thành phố, lạch sông, thị trấn và các xứ sở ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ, hoặc bất

kỳ nơi nào kể từ mũi Bona Esperanza đến eo Magellan - nơi có hoạt động trao đổi và hàng hóa” [56, 3-4]

Trên phương diện kỹ thuật, người Anh có những hạn chế nhất định so với người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và người Hà Lan Từ thế kỷ XV, hai

Trang 19

dân tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã có những chính sách nghiên cứu hàng hải nghiêm túc và những khoản đầu tư rất lớn Trong thế kỷ XVI, khi hai dân tộc trên bán đảo Iberia nắm giữ độc quyền buôn bán với Đông Ấn và Tây

Ấn, người Hà Lan đã bắt đầu có những đầu tư ngày càng lớn cho mục tiêu phát triển đế chế hàng hải và thương mại Cho dù trong thế kỷ XVI, người Anh - cùng với người Hà Lan - là những lực lượng buôn bán chủ lực trong việc tái phân phối hàng hóa phương Đông từ các cảng tập kết của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đi các ngõ ngách của Tây Âu, Bắc Âu và biển Ban Tích, sức mạnh hải thương của người Anh nhìn chung thua xa đối thủ Hà Lan, chưa nói đến hai đối thủ trên bán đảo Iberia Nghiêm trọng hơn, trong phần lớn thế

kỷ XVI, thương nhân Anh không nhận được sự hỗ trợ thường xuyên và tích cực và trực tiếp từ phía Hoàng gia và nghị viện.[54, 38-114]

Cuối cùng, chính sách xuất khẩu của nhà nước cũng là một khó khăn lớn đối với thương nhân Anh lúc đó Hoàng gia khuyến khích xuất khẩu các loại thương phẩm nội địa như vải dạ và len nhằm kích thích ngành sản xuất len dạ trong nước Tuy nhiên, các thương phẩm này có giá quá cao, lại không hợp với khí hậu nóng ẩm của phần lớn các xứ sở phương Đông Trong khi đó, nhà nước lại cấm thương nhân xuất khẩu bạc - loại vốn duy nhất có thể đầu tư được cho hoạt động buôn bán ở phương Đông - đẩy thương nhân Anh vào tình thế tiến thoái lưỡng nan Nhiều người đã nghĩ đến việc lách luật bằng cách sử dụng các trạm trung gian buôn bán ở các quốc gia châu Âu khác (như Antwerp ở Bỉ) nhằm hợp thức hóa việc đưa bạc sang phương Đông.[56, 6-7] Nói tóm lại, vào cuối thế kỷ XVI, thương nhân Anh đối mặt với khá nhiều thử thách trong tham vọng khai mở tuyến buôn bán trực tiếp sang phương Đông

1.2 Những nỗ lực thâm nhập phương Đông cuối thế kỷ XVI

Để hiểu đúng hơn về những nỗ lực của người Anh trong quá trình thâm nhập phương Đông cũng cần phải thấy rõ những khó khăn đã cản trở họ khai thác con đường qua mũi Hảo Vọng trong một thời gian dài Không có bằng chứng cho thấy họ chủ tâm tự kiềm chế không thâm nhập vào khu vực cấm

Trang 20

của người Bồ Đào Nha vì tôn trọng phán quyết của giáo hoàng năm 1492 Trong nửa đầu thế kỷ XVI, việc Anh thiếu kiến thức về buôn bán và hàng hải

ở Ấn Độ Dương là một cản trở lớn Không có nhà hàng hải Bồ Đào Nha nào phục vụ trên tàu của Anh, và họ cũng không cho phép bất cứ người Anh nào làm việc trên các con tàu về phương Đông của họ nếu người Anh đó có học vấn đầy đủ để có thể nắm được các bí mật của họ Người Anh hầu như không sản xuất được những hàng hóa có thể bán được ở nước nhiệt đới Nhu cầu lớn nhất của người Anh là bán vải len và để làm được điều đó thì việc đi

về phía bắc dường như là điều cần thiết Mặt khác, phải đến cuối thế kỷ XVI, các thương nhân của Anh mới có đủ vốn lưu động để mạo hiểm tiến hành một chuyến đi biển dài 16.000 dặm để mua hương liệu Sự thực Anh đã có những chuyến đi biển dài ngày nhưng đó là đi về phía tây để cướp các tàu chở của cải Tây Ban Nha [4, 443]

Tuy nhiên những tiến bộ trong nhận thức về phương Đông trong nửa cuối thế kỷ XVI vẫn thôi thúc các thương nhân Anh tiến hành các chuyến đi tiên phong về miền Đông Ấn Nhưng, một rào cản mang tính quốc tế lại đặt ra những thử thách thực sự cho tham vọng của các thương nhân quốc đảo: sự độc quyền các tuyến đường hàng hải của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Sau khi lần lượt tìm ra các con đường đi sang Đông Ấn và Tây Ấn vào cuối thế kỷ XV, hai dân tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha dàn xếp để bảo vệ quyền lợi bằng cách phân chia phạm vi ảnh hưởng dưới sự bảo trợ của Giáo hoàng, thể hiện một cách chính thống qua bản hiệp ước Zaragossa năm 1529 Theo

đó, người Bồ Đào Nha độc quyền thương mại và tôn giáo từ sườn tây châu Phi, xuống mũi Hảo Vọng và sang phương Đông trong khi người Tây Ban Nha được phép mở rộng ảnh hưởng sang Tân Thế giới (tập trung ở vùng biển Caribbean), thậm chí vượt Thái Bình Dương sang tận Philippines

Sự xác lập phạm vi ảnh hưởng của hiệp ước Zaragossa đã loại bỏ khả năng tham dự của người Anh (và các dân tộc khác) vào mạng lưới hàng hải quốc tế do người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha tuyên bố độc quyền Trong bối cảnh nước Anh chưa đủ thực lực để đối đầu với hai dân tộc Iberia, nhà nước

Trang 21

chủ trương tránh gây chiến, đồng thời khuyến khích thương nhân tìm đường sang phương Đông qua đường biển tây bắc hoặc đông bắc châu Âu Thực ra,

ý tưởng đi sang phương Đông qua đường Bắc Băng Dương đã tồn tại ở nước Anh cả gần trăm năm trước Sau khi lên ngôi vào năm 1485, vua Henry VII thậm chí đã có chỉ dụ cho nhà hàng hải John Cabot đi sang phương Đông qua

đường tây bắc để tìm kiếm các “đảo, vương quốc, xứ sở hoặc các tỉnh bất

kỳ… chưa được dân tộc Thiên Chúa khác khám phá ra” Sang thế kỷ XVI,

nhằm tránh đương đầu với người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, người ta quyết định đi về hướng đông bắc, qua Na Uy và Nga để sang Trung Hoa Trong nửa đầu thế kỷ XVI, một loạt các chuyến đi lên phía bắc đã diễn ra, tiêu biểu trong số đó là chuyến đi của Hugh Willoughby và Richard Chancellor năm 1553 Có thể nói, cho đến giữa thế kỷ XVI, người Anh đã lãng phí vô số tiền tài, vật lực trong việc tìm kiếm con đường sang phương Đông qua Bắc Băng Dương [56, 8] Học giả D.G.E.Hall cũng đưa ra nhận

định tương tự trong nghiên cứu của mình: “Người Anh còn lưỡng lự chưa nỗ

lực phát triển con đường đi qua mũi Hảo Vọng chủ yếu vì thiếu kiến thức hàng hải ở Ấn Độ Dương và họ tập trung trong một thời gian dài vào các cố gắng nhằm phát hiện con đường miền Bắc - phương Đông” [4, 448]

Dưới thời nữ hoàng Mary I (1516-1558), quan niệm của người Anh về chiến lược phương Đông có một điều chỉnh hết sức quan trọng: từ bỏ nỗ lực

đi qua con đường đông bắc và tập trung phát triển con đường đông nam Tuy nhiên, do vẫn chủ trương tránh đối đầu với các thế lực Iberia nên Hoàng gia Anh khuyến khích thương nhân đi sang phương Đông bằng đường bộ qua khu vực đông Địa Trung Hải để tiến về xứ Ấn Độ và Đông Nam Á Năm 1555, bản thân nữ hoàng Mary I đã ban cho Công ty Muscovy dụ lệnh để buôn bán với phương Đông thông qua các vùng đất thuộc Nga hoặc dưới sự ảnh hưởng của Nga Dưới thời nữ hoàng Elizabeth (1558-1603), Hoàng gia Anh vẫn chủ trương phát triển quan hệ trực tiếp với phương Đông qua đường bộ khi tiếp tục gia hạn sự độc quyền của Công ty Muscovy trong buôn bán với Ba Tư, Armenia và khu vực biển Caspian vào năm 1566 Năm 1581, thêm Công ty

Trang 22

Levant được thành lập nhằm phát triển thêm tuyến buôn bán bằng đường bộ với phương Đông.1

Tuy nhiên, giải pháp buôn bán với phương Đông bằng đường bộ qua

Ba Tư sớm bộc lộ những hạn chế khó có thể khắc phục: không an toàn và kém lợi nhuận Công ty Levant không thể có đủ nhân lực nhằm đảm bảo an toàn cho việc vận chuyển hàng hóa phương Đông từ Đông Nam Á qua Ấn Độ

và qua đường bộ về Địa Trung Hải Trong khi đó, người Hà Lan thể hiện rõ quyết tâm đối đầu với người Bồ Đào Nha nhằm thâm nhập bằng đường biển sang phương Đông Nếu không nhanh chân, người Anh sẽ bị thất thế trong cuộc đua sang miền Đông Ấn Vì vậy, chính quyền Elizabeth buộc phải cân nhắc điều chỉnh chiến lược của mình trong việc ứng xử với các thế lực Bồ Đào Nha Gần một thế kỷ tìm kiếm trong vô vọng con đường đi qua phía bắc bán cầu và vùng đông Địa Trung Hải, người Anh cuối cùng cũng nhận ra rằng phương cách duy nhất để buôn bán được ở phương Đông là chấp nhận đương đầu với các thế lực Iberia

Thực ra, từ năm 1558 khi hải quân hoàng gia Anh đánh bại hạm đội Armada hùng mạnh của người Tây Ban Nha, thương nhân Anh đã nhận ra rằng con đường duy nhất để thoát khỏi cái bóng của hai dân tộc bán đảo Iberia là tự xây dựng hạm đội mạnh nhằm đương đầu trực tiếp với họ trong quá trình tiến sang phương Đông Sau chiến thắng vang dội năm 1558, bản thân hoàng gia Anh cũng đã hậu thuẫn cho các chuyến đi vòng quanh thế giới của Francis Drake (1577-1580) và Thomas Cavendish (1586-1588), đồng thời khuyến khích thương nhân Anh tổ chức buôn bán xuống châu Phi, vùng Địa Trung Hải và lập các khu đồn trú ở châu Mỹ Cũng vào năm 1587, Francis Drake bất ngờ đột nhập phía đông Đại Tây Dương, cướp được một thuyền lớn của Bồ Đào Nha chở đầy sản phẩm từ Đông Nam Á về, trị giá hàng hóa của con tàu này lên đến trên 100.000 bảng [51, 11] Từ một loạt những sự kiện này, thương nhân Anh bắt đầu kiến nghị Nữ hoàng khuyến khích việc buôn

1

Paul Kennedy, The Rise and Fall of British Naval Mastery (New York: Penguin Books, 2004), pp

13-35

Trang 23

bán qua con đường mũi Hảo Vọng Họ nêu rằng việc buôn bán có thể được mở

ra với các địa điểm giữa Nam Ấn Độ và Philippin mà không phải đến gần bất cứ căn cứ nào của Bồ Đào Nha hay Tây Ban Nha Không có tài liệu nào ghi nhận câu trả lời đối với bản kiến nghị ban đầu được họ đệ trình tháng 10/1589 Nhưng dự án đó được phục hồi năm 1590 và kết quả là năm 1591 một đội gồm ba chiếc tàu đã được phái

đi từ Plymouth dưới sự chỉ huy của George Raymond và James Lancaster đã đến Đông Ấn qua mũi Hảo Vọng [4, 44-445] Cả hai chuyến đi này mang lại

thành công còn khiêm tốn nhưng có thể coi việc “một tàu Anh đã đi lại ở Ấn

Độ Dương, can thiệp vào hoạt động thương mại của Bồ Đào Nha mà không

bị trừng phạt là điều đáng gây mầm phấn khởi” [4, 445] Như vậy, có thể nói

rằng nước Anh dưới thời nữ hoàng Elizabeth đã có những bước tiến quan trọng trong quyết tâm chen chân vào hệ thống thương mại quốc tế mà hai dân tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha từng tuyên bố độc quyền từ đầu thế kỷ XVI

Trong sự phát triển của hải thương Anh giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVI,

Nữ hoàng Elizabeth có những đóng góp không thể phủ nhận.1 Chính sách trọng thương cũng được đặc biệt đề cao dưới thời đại của Nữ hoàng Elizabeth

I như tăng thuế đối với thương nhân nước ngoài, khuyến khích các hoạt động viễn dương, phưu lưu mạo hiểm của thương nhân Anh Thậm chí, Elizabeth I còn cổ động cho các hoạt động cướp biển, vì Nhà nước cũng được chia phần

từ các hoạt động này Trong tác phẩm Ngoại thương - kho báu của nước Anh,

1

Từ cuối thế kỷ XIX, giới học giả Anh đã khẳng định vai trò của Nữ hoàng Elizabeth trong sự trỗi dậy của hàng hải Anh: “Chính dưới thời Elizabeth nước Anh lần đầu tiên hội được vóc dáng hiện đại như ngày nay và điều đó có nghĩa rằng trước tiên nó bắt đầu hướng sức mạnh ra biển và ra khu vưc Tân Thế giới Với điểm này chúng ta đánh dấu sự khởi đầu của quá trình bành trướng - dấu hiệu

đầu tiên của sự trỗi dậy của nước Anh” J.R Seeley, The Expansion of England, London, 1884, pp 107-108 Dẫn lại từ Kennedy, The Rise and Fall of British Naval Mastery, pp 13

Trang 24

Thomas Mun đã chỉ ra vị trí rất quan trọng của ngoại thương đối với sự phát triển của đế chế Anh như sau:

“Ngoại thương là sự giàu có của quốc vương, là danh dự của vương quốc, là sứ mệnh cao quý của thương nhân là sự tồn tại của chúng ta và là công ăn việc làm của người nghèo ở nước ta, là sự cải thiện đất đai của chúng ta, là động lực chiến tranh của chúng ta, là sự khủng khiếp của kẻ thù chúng ta”.1

Bên cạnh đó, những chuyển biến mang tính tích cực của xã hội Anh thời kỳ này đã có những tác động không nhỏ đến sự chuyển hóa chung của hải thương Anh Theo Philip Lawson: “lợi nhuận từ việc bành trướng thương mại thực sự có đóng góp cho dân tộc cũng như các nhóm thương nhân trong nửa cuối thế kỷ XVI - thường xuất phát từ sự may mắn và ngẫu nhiên hơn là sự

tính toán và trù liệu có chủ đích” [56, 9] Thứ nhất, sự lớn mạnh của đội ngũ

thương nhân Luân Đôn góp phần quan trọng vào việc gây dựng vốn đầu tư cho các chuyến đi được vũ trang tốt nhằm đương đầu với lực lượng Iberia

Thứ hai là vai trò của làn sóng kiến thức về hàng hải và phương Đông lan

rộng ở nước Anh trong những thập niên cuối của thế kỷ XVI nhờ hoạt động tích cực của những học giả lẫy lừng như Richard Hakluyt Những ấn phẩm mới không chỉ cung cấp kiến thức mà còn khơi dậy tinh thần dân tộc của giới thương nhân, thủy thủ, các nhà hàng hải Anh; thúc giục họ tiến lên phá vỡ thế

độc quyền của những người Iberia Thứ ba, sự suy yếu của người Bồ Đào Nha

ở phương Đông trong nửa cuối thế kỷ XVI, đặc biệt sau khi Bồ Đào Nha bị sát nhập vào Tây Ban Nha năm 1580, đã mở ra một cơ hội thực sự cho người Anh (cũng như người Hà Lan) thâm nhập vào phương Đông

Mặc dù vậy, thương nhân Anh vẫn chưa nhận được sự ủng hộ quyết liệt từ chính quyền Elizabeth như các đối thủ Hà Lan nhận được từ nền Cộng hòa mới được thành lập Sự dè dặt của hoàng gia Anh trong ứng xử với các thế lực Iberia, khiến cho giới thương nhân Anh, đặc biệt là thương nhân Luân Đôn, ngày càng bất mãn Những phản ứng của giới thương nhân trong giai

1

Michel Beaul, Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2002, tr 62

Trang 25

đoạn 1588-1600 tạo nên sức ép buộc hoàng gia Anh phải phần nào thay đổi chính sách đối với miền Đông Ấn Trong văn bản ban hành năm 1593 nhằm tái khẳng định hiệu lực hoạt động của Công ty Levant, Nữ hoàng cho phép Công ty này được phép tìm kiếm sản vật phương Đông bằng cả “đường bộ và đường biển” [56, 14] Đây có thể được coi là một bước chuyển quan trọng trong nhận thức và thái độ của Hoàng gia đối với vấn đề phương Đông: hợp thức hóa yêu cầu của các thương nhân và nhà hàng hải Anh trong việc đương đầu với các thế lực Iberia trong quá trình tiến sang miền Đông Ấn Các tài liệu lưu trữ cho thấy, trước khi Nữ hoàng chính thức ban bố sắc lệnh trên vào năm 1593, các nhà thương nhân và hàng hải Anh đã lặng lẽ tổ chức 2 chuyến

đi biển xuống phía nam để vòng sang phương Đông nhưng đều thất bại nặng nề: các tàu đều bị đắm, thủy thủ bỏ mạng giữa trùng khơi, vị chỉ huy James Lancaster bị dạt sang châu Mỹ và may mắn được tàu cướp biển của người Pháp cứu vớt Đến năm 1596, một đội tàu khác khởi hành đi phương Đông dưới sự điều hành của Robert Dudley cũng gặp nạn, duy chỉ một người duy nhất sống sót trở về trên tàu của người Hà Lan.1

Những thất bại nặng nề và liên tiếp trong nỗ lực tiến sang Đông Ấn khiến giới thương nhân và Hoàng gia Anh đặc biệt lo ngại Không khó để người ta nhận thấy sự non yếu và đơn độc của người Anh trên biển so với các dân tộc khác như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan…Thương nhân Anh nhận thấy đã đến lúc gây áp lực để Hoàng gia công khai ủng hộ họ thành lập Công ty buôn bán với phương Đông trong cuộc chạy đua giành giật nguồn lợi thương mại ở miền Đông Ấn và cạnh tranh trực tiếp với các dân tộc hàng hải Tây Âu khác Trong những năm cuối của thế kỷ XVI, với thế lực của mình và

sự ủng hộ của những nhân vật học giả có uy tín như Richard Hakluyt, thương nhân Luân Đôn tổ chức tiếp cận Hoàng gia một cách mãnh mẽ và quy mô Họ chỉ ra 2 lý do chính đưa đến nhu cầu cấp bách phải thành lập một công ty

chuyên buôn bán với phương Đông: Thứ nhất, nguồn lợi nhuận khổng lồ từ

1

J.A Williamson, A Short History of British Expansion: The Old Colonial Empire, London, 1961,

pp 122-123 Xem thêm từ John Keay, The Honourable Company: A History of The English East

India Company (London: HarperCollins, 1991), pp 3-23

Trang 26

buôn bán với phương Đông sẽ không chỉ mang lợi cho giới thương nhân mà còn đóng góp quan trọng cho cả vương quốc và đặc biệt là Hoàng gia Anh

Thứ hai, nguy cơ bị người Hà Lan lấn lướt (không chỉ ở phương Đông mà cả

tại Tây Âu một khi họ khống chế được các nguồn thương phẩm giá trị) ngày càng trở nên hiện hữu trong mắt người Anh Vì vậy, cùng với hoạt động của Công ty Levant chuyên buôn bán với phương Đông qua miền đông Địa Trung Hải, một công ty mới chuyên buôn bán đường biển với miền Đông Ấn qua mũi Hảo Vọng sẽ giải quyết được những khó khăn kinh tế cho vương quốc Anh lúc đó

1.3 Sự thành lập Công ty Đông Ấn Anh

Trong khi cuộc vận động thành lập Công ty Đông Ấn đang diễn ra mạnh mẽ ở Luân Đôn, tin tức về hạm đội Hà Lan từ phương Đông trở về với một khối lượng khổng lồ hương liệu và các sản vật quý hiếm khiến cho bầu

không khí ở Luân Đôn càng thêm sôi sục Đặc biệt “Tin tức về chuyến đi biển

của Houtman tới Bantam (1596-1597) đã làm cho dư luận một lần nữa tán thành đi bằng con đường qua mũi Hảo Vọng - sự thâm nhập của Hà Lan vào khu vực này được xem như là mối đe dọa đối với buôn bán ở vùng Đông Địa Trung Hải Do vậy, vào năm 1599, bốn chiếc tàu của Van Neck trở về Hà Lan không chỉ với hàng hóa phong phú mà trong thời gian kỷ lục, trên thị trường Luân Đôn đã có một cuộc quyên góp tiền lớn để tổ chức một chuyến đi biển nữa tới phương Đông Năm 1598, việc xuất bản cuốn sách Itineraro của Linshoten bằng tiếng Anh đã cung cấp thông tin tốt nhất về vấn đề buôn bán

và hàng hải ở Ấn Độ Dương, gây nên sự quan tâm lớn Việc này cùng với những thông tin về chuyến đi thành công của Van Neck đã làm cho dư luận dứt khoát ủng hộ việc thành lập một công ty để buôn bán với Đông Ấn qua con đường Mũi Hảo Vọng” [4, 446]

Tuy nhiên, tại thời điểm này chính quyền của nữ hoàng Elizabeth đang gặp những khó khăn về tài chính, cộng thêm các cuộc nổi dậy của người Ailen và chiến tranh với Tây Ban Nha Dự án đó đã bị gác lại chờ Nữ hoàng

Trang 27

thương lượng với Tây Ban Nha Nhưng khi những cuộc thương lượng thất bại, Hội đồng Cơ mật đã khuyên những người sáng lập Công ty hãy tiến hành

dự án và đảm bảo rằng nếu họ đệ đơn thì sẽ được chấp nhận Vì vậy, mùa thu năm 1600, với sự hậu thuẫn của thị trưởng thành phố Luân Đôn, đội ngũ thương nhân có thế lực đã nộp đơn thỉnh nguyện Nữ hoàng Elizabeth cho phép thành lập Công ty buôn bán với phương Đông nhằm cạnh tranh với người Hà Lan và bảo vệ quyền lợi hải thương của dân tộc Anh Vào thời điểm

đó, Hoàng gia Anh cũng đang gặp phải những khó khăn về kinh tế, tài chính, cộng thêm các cuộc nổi dậy của người Ailen và chiến tranh với Tây Ban Nha, khiến cho quá trình đàm phán diễn ra tương đối thuận lợi Ngày 31 tháng 12 năm 1600, Nữ hoàng Elizabeth và các bộ trưởng đã ban bố việc thành lập

“Công ty của các thương nhân Luân Đôn buôn bán với miền Đông Ấn” (The

Company of Merchants of London, Trading into the East Indies), gọi tắt là Công ty Đông Ấn.1

Tàu của Công ty Đông Ấn Anh thế kỷ XVII

Theo quy định của Nữ hoàng, Công ty bao gồm một thống đốc và 24

ủy ban, được bổ nhiệm để tổ chức chuyến đi buôn bán sang Đông Ấn và được

1

H Stevens (ed.), The Dawn of British Trade to the East Indies as Recorded in the Court Minutes of

the East India Company, 1599-1603, London, 1886, p 8 Về những khó khăn về kinh tế của nước

Anh vào thời điểm đó, xin xem thêm từ: Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận

đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr 9-19

Trang 28

trao độc quyền buôn bán trong khu vực giữa Mũi Hảo Vọng và eo Magellan trong thời gian 15 năm Trong chuyến đi biển đầu tiên công ty huy động được

số vốn 68.000 bảng Anh Người ta đặt mua 4 chiếc tàu với giá 41.000 bảng, dành 6.800 bảng mua hàng hóa để bán, mang theo 21.742 bảng bằng đồng xu

“tám rial” để mua hàng hóa đem về nước Anh Lancaster được giao nhiệm vụ phụ trách chuyến đi này, cùng với John Davis là hoa tiêu chính

So với những công ty được thành lập trước đó như Công ty Muscovy

và Levant, Công ty Đông Ấn nhận được những đặc quyền nổi bật: Thứ nhất,

văn bản của Nữ hoàng khẳng định Công ty Đông Ấn là một thể chế kinh doanh thương mại, chỉ tập trung vào hoạt động kinh doanh và tìm kiếm lợi

nhuận chứ không vướng bận vào các sứ mệnh chinh phạt và thuộc địa Thứ

hai, hình thức góp vốn của Công ty dựa trên mô hình cổ phần,1 thay vì những phương thức huy động vốn mang tính cá nhân điển hình của thời trung đại

Thứ ba, Công ty được đặc cách chuyển bạc nén và kim loại quý sang phương

Đông để trao đổi lấy thương phẩm - điều bị cấm nghiêm ngặt trong các dự

luật đã tồn tại ở Anh cho đến thời điểm đó Thứ tư, tổ chức của Công ty được

quy định bởi văn bản pháp quy, được điều hành bởi một vị Toàn quyền và một vị Phó Toàn quyền cùng với một Hội đồng gồm các nhà đầu tư Hội đồng

có quyền bỏ phiếu bãi nhiệm Toàn quyền trong trường hợp cần thiết Cuối cùng, Công ty được công nhận là doanh nghiệp độc quyền trong buôn bán với phương Đông Rõ ràng là, những chính sách mang tính ủng hộ của Hoàng gia đối với Công ty Đông Ấn Anh đã khiến các nhà đầu tư phấn chấn và có niềm tin vững chắc vào thành công của Công ty trong một tương lai gần Vì vậy, khi tổ chức chuyến đi đầu tiên sang phương Đông, Công ty đã dễ dàng thu hút được số vốn đầu tư lên đến 70.000 bảng - một con số không nhỏ đối với một thị trường tài chính chưa thực sự phát triển như Luân Đôn ở thời điểm đầu thế

kỷ XVII [56, 20-22]

1

Theo các nghiên cứu, hình thức cổ phần (joint-stock) của Công ty Đông Ấn Anh được xác định ngay

từ khi thành lập nhưng phải từ năm 1657, Công ty mới thực sự mang bản chất của một đơn vị cổ phần với việc các nhà đầu tư cam kết góp vốn lâu dài thay vì đầu tư cho 1 chuyến đi nhất định

Trang 29

1.4 Tiểu kết

Là một dân tộc hàng hải ở Tây Âu suốt thời kỳ trung đại, tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XV, trong khi các dân tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha tiến hành thành công các phát kiến địa lý và khai mở được các tuyến thương mại biển sang Đông Ấn và Tây Ấn, giới thương nhân và hàng hải Anh vẫn hoạt động chủ yếu trong phạm vi từ Địa Trung Hải qua Biển Bắc lên khu vực Ban Tích Những bất ổn chính trị cùng với sự dè dặt của Hoàng gia và Nghị viện Anh đã trì hoãn quá trình khám phá và phát triển thương mại của người Anh

về phương Đông Trong phần lớn thế kỷ XVI, trong khi hai dân tộc trên bán đảo Iberia đã xác lập và khai thác hiệu quả các tuyến hàng hải sang châu Á và châu Mỹ, giới cầm quyền Anh vẫn chủ trương thúc đẩy việc tìm đường sang phương Đông qua Bắc Băng Dương Không chỉ tiêu tốn nhân tài và vật lực,

sự dè dặt của Hoàng gia Anh còn làm chậm quá trình buôn bán của nước Anh với phương Đông lên đến cả trăm năm

Với sự phát triển về nhận thức và khát vọng buôn bán với phương Đông của tầng lớp thương nhân Anh, đến cuối thế kỷ XVI, nước Anh đã hội

đủ những tiền đề quan trọng cho sự ra đời của Công ty Đông Ấn Sau khi nhân nhượng để Công ty Levant được phép buôn bán với phương Đông qua

“cả đường bộ và đường biển” vào năm 1593, Hoàng gia Anh tiếp tục xuống thang trong vấn đề buôn bán với phương Đông trước sức ép ngày càng tăng từ tầng lớp thương nhân Luân Đôn, đưa đến việc thành lập Công ty Đông Ấn

Anh vào cuối năm 1600 “Công ty Đông Ấn Anh đã được thành lập năm

1600 Nó thể hiện tinh thần của chủ nghĩa trọng thương trong các thao tác của quyền lực chính trị và các đặc quyền cho mục tiêu thương mại Tuy nhiên EIC đã cố tìm cách tránh sự chi phối của triều đình hoặc tầng lớp quý tộc, thậm chí từ chối tư cách thành viên của vua Jame I năm 1624 Ngay từ đầu các chính sách của EIC đã có những quyết định của riêng mình hơn là của nhà nước” [72, 166] Bên cạnh đó, sự thành lập Công ty Đông Ấn còn đánh

dấu sự thắng thế của tầng lớp tư sản thương nghiệp Anh, đồng thời mở ra một

kỷ nguyên mới cho sự phát triển của nước Anh giai đoạn cận đại sơ kỳ

Trang 30

Sau những phát kiến lớn về địa lý, đã dẫn đến những thay đổi quan trọng trong hoạt động hải thương quốc tế và khu vực Địa Trung Hải một thời sôi động, sầm uất đã dần mất đi vai trò lịch sử của mình, khi trung tâm thương mại thế giới dịch chuyển về phía Đại Tây Dương với sự trỗi dậy của các thương cảng Lisbon, Rotterdam, London, Amterdam… Nhờ những điều kiện

vị trí địa lý thuận lợi, thương nhân Luân Đôn đã tích dự nhập vào hệ thống trao đổi thương mại thế giới ở nhiều khu vực, góp phần đưa nước Anh đã dần thoát khỏi tình trạng cô lập về kinh tế - thương mại với châu Âu lục địa, rồi từng bước vươn tỏa sức mạnh ra toàn thế giới Không phải ai khác chính công

ty Đông Ấn đã đặt những viên gạch đầu tiên cho sự thành công của đế chế

Anh ở phương Đông Điều này càng khẳng định “Lịch sử EIC chính là trung

tâm của quá trình phát triển thương mại và mở rộng lãnh thổ hải ngoại của nước Anh đầu thời cận đại” [56, 34]

Trang 31

CHƯƠNG 2 VƯƠNG QUỐC XIÊM ĐẾN CUỐI THẾ KỶ XVI VÀ NHỮNG MỐI

2.1 Vương quốc Xiêm cuối XVI - đầu thế kỷ XVII

2.1.1 Vài nét về quá trình lịch sử của vương quốc Xiêm

Người Trung Quốc đã dùng tên “Sien” để chỉ vương quốc Sukhothai

“Syam” là tên được người Khơme sử dụng để chỉ “những kẻ man rợ” đến từ

miền Trung sông Mênam mà hình vẽ còn để lại tại hành lang phía nam của đền Angkor Wat Từ này được sử dụng sớm nhất theo các phát hiện cho đến nay là ở trong văn bản khắc của người Chămpa vào thế kỷ XI có nói về những

nô tỳ, tù binh người “Syam”, bên cạnh những người Trung Hoa, An Nam, Cao

Miên, và Miến Điện.1 Tên đó dường như là biến thể của từ “Shan”, được

người Miến Điện dùng để chỉ các quốc gia đồi núi chạy từ Mogaung và Mohnyin ở miền Bắc xa xôi xuống phía Nam Sau khi vương quốc Ayutthaya được thành lập năm 1350, lãnh thổ thuộc quyền của các vị vua Ayutthaya

được gọi là Xiêm [3, 34-36]

Từ rất lâu trước khi những người nói tiếng Thái đầu tiên định cư ở lòng chảo sông Mênam - Chao Phraya, miền Trung nước Xiêm, quê hương của người Môn, đã chứng kiến sự hình thành của một quốc gia, được mọi người biết đến với tên gọi là Dvaravati Sau đó tên này trở thành một phần chính thức của vương quốc Ayutthaya của người Thái, đến năm 1782 được nhập vào tên của chính quyền Bangkok

Các bằng chứng khảo cổ học thu thập được ở Sitep, Nakorn Pat’om, Pong Tuk, U Thong… hiện này đều cho thấy sự tồn tại trên thực tế của vương quốc Dvaravati Vương quốc này xuất hiện vào khoảng thế kỷ VII, nhưng có thể vào lúc đó nó đã tồn tại được nửa thế kỷ Cũng trong giai đoạn này vương quốc Dvaravati đã có quan hệ gần gũi với trung tâm buôn bán quốc tế mà

1

Xem thêm từ: G Coedes, Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, Nguyễn Thừa Hỷ (dịch),

Nxb Thế giới, 2008, tr 340

Trang 32

người Trung Quốc đặt tên là “Tun-sun”, địa điểm quá cảnh của hầu hết các

hoạt động thương mại giữa Ấn Độ với Đông Nam Á lục địa, trong đó có quan

hệ thương mại với Óc Eo Cùng với sự khai mở “Con đường tơ lụa trên biển”

dưới thời nhà Đường (618-907), có thể nói sự trỗi dậy của vương quốc Dvaravati, có ảnh hưởng rất nhiều từ sự phát triển quan hệ thương mại giữa

Ấn Độ và Trung Quốc trong giai đoạn này Mặt khác, trong thời kỳ này eo Kra - một dải đất hẹp trên bán đảo Thái Lan tách vịnh Bengal về phía Tây và vịnh Xiêm về phía đông - cũng đóng vai trò quan trọng trong mối giao thương giữa Ấn Độ và Đông Nam Á, các luồng lan tỏa của văn minh Ấn Độ đọng lại sâu đậm ở trung tâm của vương quốc Dvaravati

Yếu tố địa lý có vai trò rất lớn đối với công cuộc bành trướng, chinh phục của người Thái Tiến xuống phương Nam dọc theo sông Menam, người Thái hầu như không gặp phải một trở ngại gì về mặt địa lý trong khi địa hình đồi núi chạy dọc theo hướng Bắc Nam khiến cho quân đội Khơme gặp phải rất nhiều khó khăn khi trấn giữ vùng đất phía Tây của vương quốc này Hơn nữa, những vùng đất người Thái mới chiếm được rất màu mỡ, phì nhiêu tạo ra rất nhiều của cải giúp cho họ có thể xây dựng một lực lượng quân đội hùng mạnh Có thể nói, sự sụp đổ của đế chế Khơme và yếu tố địa lý đã ủng hộ

người Thái trong các thế kỷ XII-XIII Đầu thế kỷ XII, các muang (mường)

của người Thái ở thượng lưu sông Mênam bắt đầu hình thành các quốc gia

nhỏ dưới sự lãnh đạo của các tù trưởng gọi là Chao và Chao-Phra

Bước sang đầu thế kỷ XIII, lịch sử của người Thái chứng kiến những chuyển biến nhanh chóng Quyền lực của người Khơme khi đó đã dần suy yếu dưới triều vua Jayavarman VII Năm 1215, quốc gia Mogaung của người Thái, phía bắc của Bhamo ở vùng Thượng Miến Điện đã ra đời Năm 1228, hai thủ lĩnh của người Thái đã tấn công và đánh bại viên chỉ huy người Khơme tại Sukhothai - khi đó là kinh đô của khu vực Tây Bắc của đế chế Angkor và thiết lập ở đó kinh đô của vương quốc Thái sau này sẽ trở thành một quốc gia hùng mạnh dưới thời vua Rama Khamheng, nửa cuối thế kỷ XIII Sukhothai có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn hẳn so với các công quốc

Trang 33

khác của người Thái (muang) Vị trí của Sukhothai nằm ở thượng nguồn của

các con sông, nhờ vậy mà nó có thể kiểm soát được lưu lượng nước của cả lòng chảo Menam cho tới Ayutthaya, thứ nữa từ đây có thể ra được vịnh Xiêm nếu đào một con kênh từ dòng sông Menam cắt ngang qua đồng bằng bao quanh Bangkok ngày nay.1

Sau cuộc chinh phạt của quân đội Nguyên Mông do Hốt Tất Liệt lãnh đạo đã dẫn đến sự sụp đổ của vương quốc Pagan năm 1287 Từ đây các thủ lĩnh người Thái phân chia hầu hết lãnh thổ của quốc gia này, các vương quốc của họ trở nên quan trọng hơn trước Ở Mangrai, khu vực thượng lưu sông Mênam, thủ lĩnh Chiengrai, người Thái đánh chiếm quốc gia lâu đời của người Môn là Haripujaya để lập lên vương quốc Chiengmai Giữa các năm

1283 và 1287, Rama Khamheng của vương quốc Sukhothai đã chinh phục người Môn sống ở khu vực sông Mênam và thay thế sự thống trị của người Khơme bằng sự thống trị của người Thái tại khu vực bao gồm phần lớn vùng thượng lưu sông MêKông Từ đây, chính sự sụp đổ của Pagan và Angkor đã khiến cho các vương quốc của người Thái có được một cơ hội bành trướng chưa từng có đối với các nước láng giềng Vào khoảng năm 1294, Rama Khamheng tiến hành chinh phục các vùng đất thuộc bán đảo Mã Lai Thậm chí các cuộc chinh phục của người Thái cũng gây ra ảnh hưởng rất lớn đến sự

tồn tại của Srivijaya Vì vậy, David Wyatt đã gọi thời kỳ (1200-1351) là “một

thế kỷ của người Thái” [73, 67]

Các thế kỷ XIII-XV, đánh dấu vai trò rất lớn của vương triều Ayutthaya trong lịch sử Đông Nam Á Thời kỳ này, người Thái có ba vị vua

vĩ đại là Rama Khamheng (1283-1317), Ramadhipati (1350-1369) và Trailok (1448-1488) Họ đều là những nhân vật có cống hiến quan trọng trong việc tạo dựng lên một nhà nước Thái hùng mạnh về chính trị và xã hội Những công lao đó in đậm dấu ấn trong ngôn ngữ, văn tự, tôn giáo và được biểu hiện trong văn hóa Thái Lan trong khi những thành tựu về mặt tổ chức hành chính

1

Yoshikazu Takaya, “An ecological Interpretation of Thai History” JSEAS 6, 2 (1975), pp 190-195

Trang 34

và luật pháp tồn tại ít nhất đến cuối thế kỷ XIX Thời kỳ này, Xiêm trở thành một trong những quốc gia ổn định nhất Đông Nam Á

Năm 1351, U Thong xây dựng Ayutthaya làm kinh đô cho mình và lấy

tên là Ramathibodi Giống nhiều quốc gia “Ấn Độ hóa” ở Đông Nam Á,

Ayutthaya được thành lập như một chính thể Mandala, gắn với 4 hoặc 8 vương quốc ngoại vi hướng đến 1 vương quốc trung tâm, trong đó Ayutthaya

có quyền ngự trị tối cao, và quyền lực tuyệt đối Xung quanh Ayutthaya là 4 thành phố quan trọng, điều này đã mang lại cho vương quốc trung tâm một sức mạnh lãnh thổ thực sự Họ Lopbori ở phía Bắc, Phrapradaeng - ngoại ô Bangkok ở phía Nam, Nakhon Nayok ở phía đông và Suphanburi ở phía tây

Bốn thành phố này được biết đến với cái tên là Muang luk luang, hoặc thành

phố của các hoàng tử Trong buổi đầu của lịch sử Ayutthaya, con trai của nhà vua hoặc các hoàng thân khác được bổ nhiệm cai trị các thành phố này Các thành phố này đủ gần để có thể chịu sự kiểm soát từ vùng lõi, nhưng cũng đủ

xa để giới hạn sức mạnh của vùng lõi.1

Trong thời gian này, việc chuyển trung tâm quyền lực chính của người Thái ở hạ lưu sông Mê Nam từ Sukhothai xuống phía nam tới Ayutthaya, đã tạo điều kiện cho quốc gia này sớm thể hiện được sức mạnh của mình, giành đoạt quyền kiểm soát miền Trung và hạ lưu Mê Nam, phần lớn bán đảo Malai, kể cả Tanasserim và Tavoy, tức Miến Điện ngày nay, và thực hiện quyền minh chủ đối với Sukhothai

Vị trí địa chiến lược (có thể tiến vào Angkor từ phía Đông, Hạ Miến Điện từ phía Tây, ra vịnh Xiêm và eo Kra từ phía Nam) cho phép người Thái vươn lên trở thành một thể chế mạnh ở Đông Nam Á lục địa Vì thế không ngạc nhiên khi trong vài thập niên đầu tồn tại, những người cầm quyền ở

1

Liên quan đến thời điểm ra đời của vương triều Ayutthaya, G Coedes đã có một liên hệ rất thú vị

“Do có một sự gặp gỡ lạ kỳ, việc lên ngôi vào năm 1350 của Hayam Wuruk, nhà vua vĩ đại nhất của

Mojopahit và đã từng mở rộng quyền bá chủ của nước này tới những giới hạn cực điểm, lại xảy ra cùng năm với sự lên ngôi của Ramadhipati, người sáng lập ra Ayutthaya, người thống nhất hai xứ Syam (Sukhothai) và Lavo (Lop’buri) Ayutthaya và Majapahit đã trở thành hai cực, một ở lục địa, một ở hải đảo ở miền ngoại Ấn mà phần lớn lớn nhất đã phân chia thành hai vùng ảnh hưởng, những danh mục các thuộc giới của Ayutthaya và Majapahit cùng bao trùm lên phần đất phía Nam của bán đảo Mã Lai G.Coedes, Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, tr 414

Trang 35

Xiêm đã tiến hành một loạt các cuộc chiến tranh và quản lý chặt chẽ, nhằm thu phục hai vương quốc quan trọng nhất của Đông Nam Á lục địa là Sokhothai và Angkor Sukhothai bị tấn công lần đầu tiên năm 1354/1355 và nằm dưới sự kiểm soát của Ayutthaya năm 1378/9, đồng thời buộc phải nhượng lại các huyện miền Tây, bao gồm cả Kamp’engp’et cho Xiêm Đến năm 1419/20, Sukhothai chính thức trở thành chư hầu của Xiêm

Hơn thế, việc chuyển trung tâm quyền lực chính của người Thái ở hạ lưu sông Mê Nam từ Sukhothai xuống phía nam tới Ayutthaya còn tạo ra một sức ép rất lớn đối với Angkor Cuộc chinh phục những miền đất mà người Khmer đã chiếm hữu trước đây trong lưu vực sông Mê Nam và MêKông là kết quả hiển nhiên của các cuộc chiến tranh mà vào năm 1296, Chu Đạt Quan, phái viên của triều đình Mông Nguyên ở Cao Miên đã nói đến như sau:

“Trong cuộc chiến tranh vừa qua với người Xiêm La, toàn thể nhân dân

Khmer đã buộc phải chiến đấu, và đất nước đã bị tàn phá hoàn toàn”.1 Đến năm 1431, Xiêm tiếp tục xâm chiếm Ăngco buộc người Khơme phải rời bỏ thành phố của họ vốn đã được thành lập ở phía đông nam Campuchia

Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ XVI, lợi dụng tình hình bất ổn ở Xiêm, sau khi nhà vua TraiLok băng hà, quân đội Burma (Miến Điện) bắt đầu thực hiện chính sách bành trướng quyết liệt nhằm thôn tính lãnh thổ của người Thái Ít nhất vào thế kỷ XVI, người Miến đã đưa ra lời biện minh chính thức cho việc tấn công Ayutthaya là do nơi này từ chối giao nộp một số voi trắng Bạch tượng, hay trên thực tế chỉ là những con thú trắng, được coi là vật thiêng mang mưa thuận gió hòa trong thế giới Hindu - Phật giáo.2 Nhưng các cuộc chiến tranh giữa Miến Điện và Xiêm diễn ra liên tiếp trong nhiều năm, cũng

là nhằm giành quyền minh chủ đối với tiểu quốc Chieng Mai

Tuy nhiên, sâu xa hơn có thể thấy mục tiêu kiểm soát thương mại đối với Tenasserim mới thực sự là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc chiến

tranh kéo dài giữa hai quốc gia này Thành phố của Tenasserim gần vùng

1

P.Pelliot, Meesmoires sur les coutumes du Cambodge, BEFEO,II, pp 173, Dẫn lại theo G.Coesdes,

Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn đông, tr 365

2

D.R SarDesai, Southeast Asia: Past and Present, 5th Edition, (Westview Press, 2003), pp 120

Trang 36

nước sâu thả neo ở Mergui từng là một cảng quan trọng trong chiến lược kiểm soát bờ biển phía đông của vịnh Belgan và biển Andaman [40, 104]

Nhận thức lại điều này trở nên quan trọng hơn vì trong quá khứ: Vai trò và

tầm quan trọng của Tenasserim đã bị loại ra bên lề trong lịch sử của cả Xiêm

và Miến Điện Ví dụ, Burma Gazetter miêu tả Tenasserim và Mergui chỉ đơn thuần như “chiến trường đối đầu giữa hai vương quốc Xiêm và Burma” trước khi Anh xâm chiếm [40, 116]

Năm 1563, quân đội Miến Điện vượt qua thung lũng Sittang đến Chiengmai và sau đó đi qua Kamp’engp’et và Sukhothai để đến Ayutthaya Sau cuộc tấn công quy mô lớn lần thứ hai của quân đội Miến Điện (1568-1569), người Thái đã trải qua giai đoạn 15 năm mất nước, hệ thống các quốc gia chịu thần thuộc cũng suy yếu Phải đến năm 1581, nhờ sự mưu trí, tài giỏi

của một lãnh tụ mới của người Thái là Pra Naret (Hoàng tử đen) mới giành lại

được độc lập cho Xiêm Pra Naret lên ngôi năm 1590-1605, lấy hiệu là Nareseun Năm 1593, Xiêm chiếm đóng Tavoy và Tensserim - những hải cảng thương mại ở miền Nam Miến Điện để thông thương với khu vực Ấn Độ Dương Đến năm 1595, tiểu quốc Chiengmai cũng phải chịu thần thuộc trước người Xiêm Với những cống hiến của mình, vai trò của nhà vua Neresuen đã

chiếm một vị trí danh giá trong lịch sử Xiêm: “Khó có thể hình dung lịch sử

Ayutthaya nếu không kể đến nhà vua Naresuan, ông là một nhân vật hiếm hoi trong lịch sử Xiêm, với đức tính của một nhà lãnh đạo năng động, cá nhân can đảm, quyết đoán, luôn thành công trong những nhiệm vụ hết sức nặng nề….” [73, 100]

Trang 37

Bước sang đầu thế kỷ XVII, quan hệ hòa bình đã được cả hai vương triều Miến Điện và Xiêm thiết lập, thủ đô của Miến Điện dời đến Ava ở miền Bắc, các quốc vương đều đi theo chính sách cô lập Vương quốc Xiêm kể từ khi nhà vua Naresuen lên cầm quyền dần đi vào ổn định cả về chính trị và kinh tế xã hội với mục tiêu vươn lên trở thành một cường quốc mạnh nhất

trong khu vực Thậm chí “Vua của các nước Cambodia, Johore, Patani,

Kedah và Jambi đã phải chịu cống nạp vua Xiêm và dâng nhà vua mỗi năm một bó hoa bằng vàng”.1

Cũng trong thời gian này, các thương nhân phương Tây đã có rất nhiều ghi chép sinh động về vương quốc Xiêm Có thể dễ dàng nhận

thấy những mĩ từ như “Quyền lực

tuyệt đối” và “sự huy hoàng” là các thuật ngữ thường được nhấn mạnh trong các mô tả của họ về vương quốc này trong thế kỷ XVII.2 Đặc

biệt từ sau 1605, khi nhà vua Naresuen qua đời, vị vua mới Ekat’otsarat lên nắm quyền đã rất quan tâm đến cải cách tài chính và thương mại Bên cạnh các mối quan

hệ truyền thống với các quốc gia châu Á, vương quốc Xiêm cũng tăng cường quan hệ ngoại giao thương mại với các thế lực phương Tây

Như vậy sau khi giành độc lập từ tay người Miến Điện, Xiêm bước vào một giai đoạn phát triển mới Hòa bình đã làm cho đất nước được hồi sinh, mang đến sự thịnh vượng và phát triển rực rỡ của vương quốc Xiêm trong thế

kỷ XVII và các thế kỷ tiếp theo Những địa phương chuyên môn hóa trong

Trang 38

việc sản xuất những sản phẩm đặc trưng được hình thành như: vùng đồng bằng miền Trung và Hạ lưu sông Menam cung cấp lúa; khu vực BangKok cung cấp hoa quả; khu vực phía bắc cung cấp da hươu, sáp ong; khu vực phía Tây cung cấp tô mộc và muối; khu vực phía Nam (bán đảo Malacca) cung cấp thiếc, chì, hồ tiêu… Điều này cho phép vương quốc Xiêm tăng cường, mở rộng các hoạt động buôn bán, trao đổi với các quốc gia trong khu vực và thế giới phương Tây

Sự hưng thịnh của vương quốc Xiêm trong thế kỷ XVII cũng cần được

đặt trong bối cảnh khu vực với nhiều chuyển biến quan trọng Là vùng bờ

biển được biệt đãi [63, 21] nên ngay từ rất sớm Đông Nam Á đã trở thành địa

bàn thu hút nhiều thương nhân khu vực đến buôn bán, trao đổi thương mại Đầu thế kỷ XVII, sự dự nhập mạnh mẽ của các thương nhân phương Tây đã góp phần làm cho hoạt động buôn bán quốc tế ở Đông Nam Á trở nên hết sức sôi động, với nhiều trung tâm trao đổi mới đã xuất hiện Ở Miến Điện, kinh

đô Pegu được thành lập dưới thời vua Tabinshwehti là nhằm tận dụng vị trí thuận lợi để tiến hành giao thương, bởi lẽ đây là một hải cảng ở miền nam Miến Điện, gần với vịnh Bengal và eo Malacca Campuchia rời đô về Lovek - một vị trí giao thông thuận lợi cho hoạt động ngoại thương với người châu Âu mới đến Ở Đông Nam Á hải đảo, nhiều trung tâm thương mại mới cũng ra đời xuất phát từ hoạt động buôn bán hương liệu quốc tế Vùng phía Tây quần đảo Indonesia, vốn trước đây còn qúa xa lạ đối với các trung tâm thương mại

ở khu vực Malay, nhưng nay đã thay đổi Do nhu cầu ngày càng lớn về nguồn hương liệu và gia vị nên thương nhân Trung Quốc, Malay, và Java đã trực tiếp tìm đến những vùng nguyên liệu phía tây, hình thành nên mạng lưới các trung tâm buôn bán mới Các trung tâm buôn bán mới ra đời góp phần hình thành một hệ thống liên kết giữa thị trường Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn

Độ và châu Âu Vì vậy, thế kỷ XVII vẫn thường được coi là “thời kỳ hoàng

Trang 39

kim”1 trong nền hải thương châu Á, hay “cuộc cách mạng thương mại của thế

kỷ XVII” như cách nói của học giả Van Leur (Hà Lan)

2.1.2 Tình hình bang giao và thương mại

Nước và rừng là những yếu tố chiếm ưu thế trong môi trường của khu

vực Đông Nam Á Trong đó Nước, đặc biệt là biển, có ảnh hưởng rất mạnh

đến cuộc sống và tương lai của các cư dân duyên hải, không chỉ giúp nuôi dưỡng một nền văn hóa hàng hải phương Đông mà còn cung cấp vị trí địa lý tuyệt vời cho sự hiểu biết các khu vực lịch sử…2 Từ việc xác định tầm quan trọng của “nước” hiện nay nhiều nhà sử học đã sử dụng khái niệm “biên giới nước” (Water frontier) để chỉ một khu vực trải dài từ đồng bằng sông Dương

Tử xuống phía Nam qua Việt Nam và một phần của Campuchia và Thái Lan đến vùng bờ biển bán đảo Mã Lai.3 Vương triều Ayutthaya ra đời năm 1351 trên một vùng đồng bằng trồng lúa rộng lớn nơi hợp lưu của ba con sông Chaophraya, Lopburi và Passak Mặc dù có phần bằng phẳng hơn so với miền Trung Việt Nam, đồng bằng Chaophraya - Menam nơi Ayutthaya được thành lập, với rất nhiều thủy lộ chằng chịt như sông suối, kênh rạch, cũng là một phần của biên giới nước Một số nhà sử học chịu ảnh hưởng từ những nghiên cứu rất sâu của Fernand Braudel’s về biển Địa Trung Hải, đã đặt cho biển Nam Hải, vịnh Xiêm, biển Java sau thế kỷ mười như là một bản sao của biển Địa Trung Hải.4 Dù những nghiên cứu còn nhiều tranh luận nhưng tất cả đều thống nhất nhấn mạnh đến ảnh hưởng của biển đối với sự phát triển của nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Biển không phải là một thứ rào chắn

Xem them Peter Boomgaard, “In a state of flux: Water as a Deadly and a life-giving force in

Southeast Asia” trong Peter Boomgaard, World of Water, p.1-3; Charles Wheeler, “Re-thinking the

Sea in Vietnamese history: Littoral society in the Integration of Thuan Quang,

Seventeenth-Eighteenth centuries”, Journal of Southeast Asian studies 37, no (1/2006); Barbara Watson Andaya,

“Oceans Unbounded: Transversing Asia across ‘Area studies’”, Journal of Asian studies 65, number

Trang 40

mà nó là “một gạch nối” - như cách nói thường dùng của nhà sử học Pháp Denys Lombard Vương quốc Xiêm trong thế kỷ XVI-XVII cũng trỗi dậy mạnh mẽ từ biển [42, 41-62]

Nằm ở phía Tây Nam của bán đảo Đông Nam Á, vương quốc Xiêm vừa gắn với lục địa châu Á vừa hòa nhập với môi trường kinh tế biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Từ những thế kỷ đầu sau Công nguyên, một

số quốc gia hình thành trên lãnh thổ Thái Lan hiện nay đã có những mối liên

hệ giao thương từ rất sớm với các quốc gia thuộc khu vực Đông Á, Tây Nam

Á cùng nhiều trung tâm kinh tế, văn hóa khác Do nằm ở vị trí bán đảo, nên Xiêm đã nhanh chóng trở thành điểm đến của nhiều đoàn thuyền buôn quốc

tế Từ thời Hán (203TCN-220) đặc biệt từ thời nhà Lương (502-557) các đoàn thuyền buôn Trung Hoa ngày một xuất hiện thường xuyên ở vịnh Xiêm cùng nhiều thị trường Đông Nam Á khác.1

Vào thế kỷ IX-X ở Xiêm đã hình thành một số trung tâm chuyên sản xuất chuỗi hạt và đồ trang sức Tiêu biểu trong số đó là trung tâm sản xuất - thương cảng Muang Thong với địa danh Ko Kho Khao nổi tiếng Phần lớn các đồ trang sức ở đây được chế tác bằng thuỷ tinh màu nhập từ Trung Đông Cùng với nguyên liệu thuỷ tinh người ta cũng đã phát hiện được cả cốc, bình, nậm thuỷ tinh từ vùng Arập do các thương nhân Tây Á đưa đến Các sản phẩm thuỷ tinh cùng đồ trang sức của Muang Thong đều là chế phẩm thương mại nổi tiếng Những sản phẩm đó đã được trao đổi với các thương nhân Laem Pho ở phía Đông để đổi lấy gốm sứ Trung Hoa Từ đây, thương cảng Muang Thong trở thành nơi xuất nhập nguyên liệu - xuất khẩu chuỗi hạt thuỷ tinh thành phẩm lớn của thế giới

Ngoài ra, với các phát hiện về khảo cổ học, chúng ta còn thấy gốm sứ Trung Quốc cũng như thuỷ tinh, đá trang sức từ Ấn Độ, Ba Tư cùng nhiều loại tiền bạc, vàng, đồng của các quốc gia đã được đưa đến các cảng, trung tâm sản xuất trên đất Thái Nhiều hiện vật có nguồn gốc ngoại nhập đã được

1

Martin Stuart-Fox: A Short History of China and Southeast Asia: Tribute, Trade and Influence,

(Allen & Unwin, 2003), pp 23-42

Ngày đăng: 23/03/2015, 07:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Buch, W. J. M, Công ty Nam Dương và Đông Dương, Tài liệu Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Khoa Lịch sử
Tác giả: Buch, W. J. M
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội
2. Nguyễn Mạnh Dũng (2007) “Hoạt động thương mại của Công ty Đông Ấn Pháp ở Siam nửa sau thế kỷ XVII”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (372), tr. 35-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thương mại của Công ty Đông Ấn Pháp ở Siam nửa sau thế kỷ XVII”, "Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử
3. Ferlus Michel (2007), “Về tên gọi của người Xiêm”, Tạp chí Xưa và Nay, số 289, tr. 34-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tên gọi của người Xiêm”, "Tạp chí Xưa và Nay
Tác giả: Ferlus Michel
Năm: 2007
4. Hall D.G.E (1997), Lịch sử Đông Nam Á, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á
Tác giả: Hall D.G.E
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
5. Đào Minh Hồng (2001), Chính sách đối ngoại của Thái Lan (Xiêm) nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại của Thái Lan (Xiêm) nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đào Minh Hồng
Năm: 2001
6. Nguyễn Hồng (2009), Lịch sử truyền giáo Việt Nam, quyển 1 và quyển 2, (Các Thừa sai dòng Tên, 1615 - 1665), Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử truyền giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng
Nhà XB: Nxb. Từ điển Bách Khoa
Năm: 2009
7. Kleinen, John (2008), Sư tử và rồng: Bốn thế kỷ Hà Lan - Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư tử và rồng: Bốn thế kỷ Hà Lan - Việt Nam
Tác giả: Kleinen, John
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2008
8. Nguyễn Văn Kim (2000), Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa: Nguyên nhân và hệ quả”, Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa: Nguyên nhân và hệ quả
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2000
9. Nguyễn Văn Kim (2003), Nhật Bản với Châu Á - Những mối liên hệ lịch sử chuyển biến kinh tế, xã hội, Nxb. Đại Học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản với Châu Á - Những mối liên hệ lịch sử chuyển biến kinh tế, xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb. Đại Học Quốc Gia
Năm: 2003
10. Nguyễn Văn Kim (2003), Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á, thế kỷ XV- XVII, Nxb. Đại Học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á, thế kỷ XV- XVII
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Nhà XB: Nxb. Đại Học Quốc Gia
Năm: 2003
11. Nguyễn Văn Kim (2009), “Mạng lưới giao thương Đông Á trước thời đại mở cửa và những hệ quả phát triển - trường hợp Hội An”, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á, số 3 (97), tr. 54 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng lưới giao thương Đông Á trước thời đại mở cửa và những hệ quả phát triển - trường hợp Hội An”, "Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2009
12. Nguyễn Văn Kim (2009), “Hoạt động thương mại của các vương quốc cổ Thái Lan, vị trí và những ảnh hưởng khu vực”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thương mại của các vương quốc cổ Thái Lan, vị trí và những ảnh hưởng khu vực
Tác giả: Nguyễn Văn Kim
Năm: 2009
13. Maybon, Charles B (2006), Những người châu Âu ở nước An Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người châu Âu ở nước An Nam
Tác giả: Maybon, Charles B
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 2006
15. Mary Somers Heidhuees (2007), Lịch sử phát triển Đông Nam Á, Nxb. VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phát triển Đông Nam Á
Tác giả: Mary Somers Heidhuees
Nhà XB: Nxb. VHTT
Năm: 2007
16. Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng (1999), Lịch sử thế giới cận đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Tác giả: Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
17. Vũ Dương Ninh (1990), Vương quốc Thái Lan lịch sử và hiện tại, Đại học Tổng hợp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vương quốc Thái Lan lịch sử và hiện tại
Tác giả: Vũ Dương Ninh
Năm: 1990
19. Phố Hiến, Kỷ yếu hội thảo khoa học, 1994, Sở Văn hóa Thông tin, Hải Hưng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố Hiến
20. Samson. G (1994), Lịch sử Nhật Bản, (tập 3), Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhật Bản
Tác giả: Samson. G
Nhà XB: Nxb. Khoa Học Xã Hội
Năm: 1994
21. Sakurai Yumio (1996), “Thử phác dựng cấu trúc lịch sử Đông Nam Á thông qua những mối liên hệ giữa biển và lục địa”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử phác dựng cấu trúc lịch sử Đông Nam Á thông qua những mối liên hệ giữa biển và lục địa”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Sakurai Yumio
Năm: 1996
22. Tana, Li (1999), Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVI- XVII, Nxb. Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVI- XVII
Tác giả: Tana, Li
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w