1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự tác động của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam

146 566 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho tới nay đó cú khụng ớt cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về TTCK trờn tất cả mọi lĩnh vực: lịch sử ra đời, cỏch thức tham gia vào TTCK, cỏch phõn tớch cỏc chỉ số chứng khoỏn, thực trạng phỏt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN THỊ KIM THƠ

SỰ TÁC ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Danh mục viết tắt 3

Lời mở đầu 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 13

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán (TTCK) 13

1.1.1 Lịch sử hình thành TTCK 13

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản 18

1.2 TTCK Việt Nam (1996 - 2008) 29

1.2.1 Quá trình hình thành và phỏt triển của TTCK Việt Nam (1996 - 2008) 29

1.2.2 Phương thức quản lý của Nhà nước đối với TTCK Việt Nam 42

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA TTCK TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM (1997 - 2008) 49

2.1 TTCK - kênh huy động vốn cho nền kinh tế 49

2.1.1 Nhu cầu về vốn của nền kinh tế Việt Nam 49

2.1.2 TTCK tạo ra sự dịch chuyển nguồn vốn đầu tư trong nước 53

2.1.3 TTCK mở ra khả năng thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài 61

2.2 TTCK thúc đẩy chương trỡnh cổ phần hoỏ doanh nghiệp Nhà nước 73

2.3 TTCK từng bước thúc đẩy tiến trỡnh hội nhập quốc tế 82

2.4 TTCK thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn đồng thời là cụng cụ đánh giá hoạt động kinh doanh, là phong vũ biểu của nền kinh tế 88

CHƯƠNG 3: TTCK VIỆT NAM - NHỮNG TỒN TẠI VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 95

3.1 Những tồn tại 95

3.1.1 Sự phát triển của TTCK Việt Nam đang cũn ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm 95

3.1.2 Hoạt động của TTCK không ổn định 97

3.1.3 Kinh doanh chứng khoán mang thuộc tính “bầy đàn” và cũn mang nhiều yếu tố đầu cơ, rủi ro 99

3.1.4 Môi trường pháp lý và cơ chế quản lý thị trường cũn thiếu sự nhất quỏn, chưa có tác dùng thúc đẩy TTCK Việt Nam 104

3.2 Một số khuyến nghị 105

3.2.1 Hoàn thiện chớnh sỏch kinh tế vĩ mụ 106

3.2.2 Giải pháp tác động tới điều tiết quan hệ cung - cầu của TTCK Việt Nam 111

3.2.3 Giải pháp thúc đẩy tiến trỡnh hội nhập quốc tế của TTCK Việt Nam 113

Kết luận 117

Tài liệu tham khảo 120

Phụ lục 125

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CTCP Cụng ty cổ phần

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

FII Vốn đầu tư giỏn tiếp nước ngoài

HASTC Trung tâm giao dịch chứng khóan Hà Nội

HOSE Sở giao dịch chứng khoỏn thành phố Hồ ChíMinh IPO Chào bỏn cổ phần lần đầu ra cụng chỳng

UBCKNN Uỷ ban chứng khoán nhà nước

Vn-Index Chỉ số chứng khoỏn Việt Nam

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đó cú những biến đổi sõu sắc và mạnh mẽ trờn tất cả mọi lĩnh vực Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng lờn một cỏch đỏng kể so với nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoỏ tập trung trước đõy Tiến trỡnh hội nhập quốc tế được thỳc đẩy nhanh, mạnh hơn bao giờ hết Đõy là điều kiện thuận lợi cho sự phỏt triển của thị trường tài chớnh và cũng là mảnh đất “màu mỡ” làm nảy mầm một thị trường hoàn toàn mới ở nước ta: Thị trường chứng khoỏn (TTCK)

TTCK ra đời và phỏt triển là hệ quả tất yếu của nền kinh tế thị trường Đối với cỏc nước phỏt triển trờn thế giới như Mỹ, Anh, Phỏp, Nhật Bản, Trung Quốc… TTCK khụng cũn là một khỏi niệm mới mẻ, thậm chớ

đó cú một vị thế quan trọng trong nền kinh tế quốc dõn Với chức năng cơ bản là huy động nguồn vốn cho sản xuất, TTCK đó và đang chiếm một vai trũ quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế ở bất kỳ một quốc gia nào và kinh

tế Việt Nam khụng là ngoại lệ Chớnh vỡ thế, TTCK được coi là phong vũ biểu cho nền kinh tế, là thước đo sự phỏt triển hay suy giảm của nền kinh tế mỗi nước ở từng thời kỳ khỏc nhau Thậm chớ, TTCK phỏt triển đến một mức độ nào đú cũn mang tớnh toàn cầu, cú ảnh hưởng mạnh mẽ tới cỏc TTCK nhỏ hơn, cú thể làm chững lại hoặc hồi sinh chỉ số chứng khoỏn của cỏc TTCK đú

Với vai trũ quan trọng như vậy, việc xõy dựng và phỏt triển TTCK Việt Nam đó được Đảng và Chớnh phủ hết sức quan tõm Cho đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX, ở nước ta đó xuất hiện những tiền đề cần thiết để xõy dựng và phỏt triển TTCK Từ năm 1992, Chớnh phủ đó đặt ra yờu cầu phải xõy dựng một TTCK trong nước Đến ngày 28/11/1996,

Trang 5

TTCK Việt Nam chớnh thức bước đầu được xõy dựng, đỏnh dấu bằng sự thành lập Uỷ ban chứng khoỏn Nhà nước (UBCKNN)

TTCK ra đời đó tạo ra những tiền đề mới để đẩy mạnh và phỏt huy những tiềm lực kinh tế, là kờnh huy động vốn hữu hiệu nhất cho cỏc doanh nghiệp núi riờng và cho nền kinh tế núi chung Quan trọng hơn nữa, TTCK cũn thỳc đẩy nhanh hơn quỏ trỡnh hội nhập quốc tế, mở rộng giao lưu hợp tỏc về mặt tài chớnh với cỏc quốc gia trờn thế giới, là điều kiện thuận lợi đưa kinh tế Việt Nam hướng mạnh ra bờn ngoài

Rừ ràng, TTCK ra đời đó tạo ra một bước ngoặt trong việc xõy dựng

và phỏt triển thị trường tài chớnh ở nước ta Sự tỏc động mạnh mẽ của TTCK đối với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước trong những năm gần đõy là một thực tế khụng thể phủ nhận được mặc dự đú là một thị trường

cũn non trẻ Để tỡm hiểu rừ hơn về sự tỏc động đú, tụi xin chọn đề tài: “Sự

tỏc động của Thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam (1996 - 2008)” cho luận văn thạc sĩ của mỡnh

2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề

Nếu được hiểu theo nghĩa rộng, TTCK là thị trường tài chớnh núi chung vỡ thế xung quanh TTCK cú rất nhiều vấn đề cần được nghiờn cứu nhất là khi thị trường này mới được hỡnh thành và xõy dựng Cho tới nay

đó cú khụng ớt cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về TTCK trờn tất cả mọi lĩnh vực: lịch sử ra đời, cỏch thức tham gia vào TTCK, cỏch phõn tớch cỏc chỉ

số chứng khoỏn, thực trạng phỏt triển của TTCK núi chung… Tuy nhiờn chưa cú một cụng trỡnh nào nghiờn cứu một cỏnh toàn diện về sự tỏc động của TTCK tới nền kinh tế Việt Nam từ khi thị trường được xõy dựng và phỏt triển tới ngày nay

Cú thể thấy khối lượng sỏch hướng dẫn chơi chứng khoỏn xuất hiện khắp nơi Những cuốn sỏch này chủ yếu tập trung phõn tớch những vấn đề

cơ bản về chứng khoỏn và cỏch thức tham gia thị trường Để người chơi cú

Trang 6

kiến thức cơ bản như khỏi niệm chứng khoỏn, cỏc chức năng của TTCK,

cơ cấu thị trường và cỏch thức tham gia thị trường cú cỏc cuốn: “Thị

trường chứng khoỏn - Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Đăng Dờn, Bựi Kim Yến…Nxb Thống Kờ, 2004”, “Thị trường chứng khoỏn và cụng ty cổ phần – Bựi Nguyờn Hoàn, Nxb Chớnh thị quốc gia, 1998”, “Phũng trỏnh rủi ro trong đầu tư chứng khoỏn – Vũ Ngọc Hiền, NXB Thanh Niờn,

2000”

Khụng chỉ dừng lại ở việc trỡnh bày những vấn đề cơ bản về TTCK, một số cuốn sỏch cũn nhỡn nhận, đỏnh giỏ TTCK trong một quỏ trỡnh phỏt

triển cụ thể Cuốn sỏch: “Tài chớnh với sự hỡnh thành và phỏt triển thị

trường chứng khoỏn Việt Nam – Đinh Văn Nhó, Hoàng Hải, Nxb Tài

chớnh, 2000” chỳ ý tập trung vào vấn đề tài chớnh Tỏc giả đưa ra cỏc giải

phỏp tài chớnh nhằm thỳc đẩy sự hỡnh thành và phỏt triển TTCK Việt Nam thụng qua cỏi nhỡn tổng quan về TTCK ở cỏc nước chõu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc), từ đú rỳt ra những bài học kinh nghiệm trong việc phỏt

triển TTCK của nước mỡnh Hay ở cuốn “Thị trường chứng khoỏn ở Việt

Nam - Nguyễn Văn Luõn, Trần Quốc Tuấn, Ngụ Minh Chõu, Nxb Thống

Kờ, 1995” cỏc tỏc giả cũng đó khỏi lược lại lịch sử ra đời của TTCK lớn ở

một số quốc gia phỏt triển cũng như đang phỏt triển, rỳt ra cỏc kinh nghiệm

tổ chức TTCK ở cỏc nước đú và đưa ra cỏc bài học cho sự phỏt triển của

TTCK nước mỡnh Đặc biệt là cuốn sỏch “Thị trường chứng khoỏn Việt

Nam – 5 năm hỡnh thành và phỏt triển, Bộ tài chớnh, UBCKNN, Nxb Tài

chớnh, 2005” thực chất là sự tập hợp cỏc bài viết của cỏc đồng chớ lónh

đạo bộ, ngành của UBCKNN viết về quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển TTCK Việt Nam cũng như những suy nghĩ và định hướng cho thời gian tới

Là sự đỏnh giỏ, tổng hợp cỏc vấn đề của TTCK Việt Nam trong suốt thời gian hỡnh thành và phỏt triển, cỏc tỏc giả của cỏc cuốn sỏch trờn đều đó phần nào đưa ra được những tỏc động quan trọng của TTCK tới nền kinh tế

Trang 7

đất nước Như tiến sỹ Lờ Thị Băng Tõm, Thứ trưởng bộ tài chớnh trong

bài viết của mỡnh đó phần nào nờu lờn tầm quan trọng của TTCK đối với quỏ trỡnh hội nhập quốc tế, tiến sỹ đó khẳng định phỏt triển TTCK là cơ sở

để mở rộng và phỏt huy quỏ trỡnh hội nhập về tài chớnh, từ đú mở rộng hội nhập trờn nhiều lĩnh vực khỏc Hay trong bài viết của tiến sỹ Phạm Viết

Muụn, Phú trưởng ban Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phỏt triển doanh nghiệp,

TTCK được đỏnh giỏ là chất xỳc tỏc để đẩy nhanh hơn quỏ trỡnh cổ phần hoỏ cỏc doanh nghiệp nhà nước Tiến trỡnh cổ phần hoỏ phải gắn liền với việc củng cố và phỏt triển thị trường vốn và TTCK…

Tuy nhiờn, cỏc nhận xột, đỏnh giỏ trờn chỉ mang tớnh chất chung chung dưới dạng một bỏo cỏo mà chưa được phõn tớch một cỏch hệ thống, toàn diện sự tỏc động của TTCK đối với nền kinh tế quốc dõn trong suốt quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển

Ngoài việc đề cập tới cỏc hoạt động của TTCK, việc làm cỏch nào

để sử dụng đồng vốn một cỏch hiệu quả, cỏch tham gia giao dịch trờn sàn chứng khoỏn, kiến thức đầu tư… cỏc cuốn sỏch cũn đề cập tới việc xõy dựng một mụi trường phỏp lý để TTCK phỏt triển hoàn thiện hơn

TTCK là một thị trường mới nổi ở nước ta, cũn nhiều điều mà nhà đầu tư chưa thể nắm rừ, đặc biệt là những rủi ro mà chứng khoỏn mang lại

Vỡ thế yờu cầu xõy dựng một bộ luật hoàn bị càng trở nờn cấp thiết Do

đú, phải tới năm 2005, Luật chứng khoỏn mới được thụng qua nhưng cỏc chuyờn gia kinh tế, chuyờn gia chứng khoỏn đó hết sức quan tõm tới vấn

đề phỏp luật, mong muốn xõy dựng một mụi trường phỏp lý chặt chẽ và hoàn thiện để TTCK cú thể phỏt triển nhanh, mạnh và bền vững Cỏc tỏc

phẩm: “Toàn cảnh thị trường chứng khoỏn - Nguyễn Ngọc Bớch, Nxb

TP.Hồ Chớ Minh, 1999”, “Triển vọng thị trường chứng khoỏn Việt Nam nhỡn từ gúc độ phỏp lý - Trịnh Văn Quyết, Đào Mạnh Khỏng, Nxb Tư Phỏp, 2007” là vớ dụ Đặc biệt là cuốn sỏch “Hỡnh thành thị

Trang 8

trườngchứng khoỏn ở Việt Nam trong bốI cảnh tỏc động của cuộc khủng hoảng tài chớnh ở chõu Á – Lờ Văn Chõu, Lờ Đỡnh Thu, Nxb

Thống Kờ, 1999” gồm những bài viết phõn tớch cuộc khủng hoảng tài

chớnh, tiền tệ chõu Á, trờn cơ sở đú rỳt ra những kinh nghiệm để xõy dựng TTCK Việt Nam, trong đú tỏc giả đó đưa ra nhiều luận điểm, ý kiến nhằm xõy dựng một mụi trường kinh tế và phỏp lý để phỏt triển TTCK bền vững hơn

Bờn cạnh số lượng sỏch đồ sộ, đó xuất hiện nhiều Luận ỏn tiến sỹ kinh tế nghiờn cứu về TTCK Như Trần Thị Minh Chõu, trong Luận ỏn

tiến sỹ của mỡnh: “Những điều kiện kinh tế - xó hội để hỡnh thành và

phỏt triển TTCK ở Việt Nam”, 2002 đó đi sõu vào nghiờn cứu những yếu

tố căn bản cấu thành TTCK, những nhõn tố ảnh hưởng tới thị trường này

và những điều kiện kinh tế - xó hội cú tớnh tất yếu khỏch quan chi phối quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển TTCK Việt Nam

Cũng giống như Trần Thị Minh Chõu, trong Luận ỏn tiến sỹ kinh tế

của Nguyễn Huỳnh Thanh: “Thị trường chứng khoỏn và hướng xõy dựng

thị trường chứng khoỏn ở Việt Nam”, tỏc giả cũng đó hết sức quan tõm

tới những tiền đề, những yờu cầu và thực trạng xõy dựng TTCK ở Việt Nam Nhưng trong cụng trỡnh nghiờn cứu của mỡnh, tỏc giả Nguyễn Huỳnh Thanh đó đề ra những phương hướng, giải phỏp cụ thể nhằm khắc phục những rủi ro cho cỏc cụng ty cũng như cho cỏc nhà đầu tư, đồng thời tỡm hướng đi cho TTCK trong những giai đoạn tiếp theo, cụ thể là giai đoạn 2001 - 2010 Đõy là điều mà khụng phải chỉ cỏc doanh nghiệp, cỏc nhà đầu tư quan tõm mà ngay cả Đảng và Chớnh phủ cũng hết sức lưu ý

Nếu như hai Luận ỏn tiến sỹ trờn tập trung vào cỏc vấn đề lý luận nhằm làm sỏng rừ những tiền đề cần thiết để xõy dựng một TTCK Việt Nam, đồng thời đưa ra một hệ thống cỏc giải phỏp nhằm khắc phục những hạn chế, những vấn đề cũn tồn tại trong quỏ trỡnh phỏt triển TTCK thỡ

Trang 9

Hoàng Trung Trực lại chỉ đi sõu nghiờn cứu, luận giải về sự tỏc động của cỏc giải phỏp tài chớnh tới sự phỏt triển của TTCK ở nước ta thời gian qua Đồng thời luận ỏn cũn chỉ ra tầm quan trọng của cỏc giải phỏp tài chớnh,

đú là một yếu tố thỳc đẩy sự phỏt triển của TTCK Việt Nam trong những

năm tới Luận ỏn: “Cỏc giải phỏp tài chớnh nhằm thỳc đẩy sự phỏt triển

TTCK Việt Nam”, 2004 của tỏc giả thực sự là một đúng gúp quan trọng đối

với việc hoạch định tài chớnh cho nền kinh tế

Cũng giống như cỏc tỏc giả trờn, Luận ỏn tiến sỹ của Trần Thị Mộng Tuyết đó cú sự khỏi quỏt toàn cảnh TTCK Việt Nam từ khi được thành lập

và phỏt triển đến năm 2004, bờn cạnh đú tỏc giả cũng hết sức quan tõm tới những biện phỏp căn bản nhằm hạn chế những vấn đề cũn tồn tại trong hoạt động, giao dịch chứng khoỏn; những đề xuất, giải phỏp để khắc phục những hạn chế đú Tuy nhiờn, điểm khỏc biệt của Luận ỏn này là tỏc giả đó phần nào đề cập tới vai trũ của TTCK đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam Ở một số tiểu mục, tỏc giả đó đỏnh giỏ sự tỏc động của TTCK tới nền kinh tế Việt Nam Song, sự đỏnh giỏ đú mới chỉ dừng lại ở mức độ trỡnh bày mang tớnh khỏi quỏt, tỏc giả chưa thực sự đặt mục đớch phõn tớch sự tỏc động của TTCK tới nền kinh tế làm mục đớch cho Luận ỏn Việc phõn tớch sự tỏc động này chỉ là cơ sở để tỏc giả phỏt triển rộng hơn nội dung chớnh của Luận ỏn: phương hướng, mục tiờu, cơ sở để phỏt triển

TTCK tới năm 2020, đỳng như tờn đề tài: “Phỏt triển thị trường chứng

Trang 10

tỡm hiểu cỏc vấn đề cơ bản của TTCK Hay núi đỳng hơn, cỏc tỏc giả chỉ tập trung làm rừ cơ cấu vận hành của TTCK núi chung, phõn tớch cỏc tiền

đề cần thiết, cỏc yếu tố kinh tế - xó hội mang tớnh khỏch quan, quy luật làm xuất hiện TTCK tại Việt Nam đồng thời đưa ra những biện phỏp căn bản nhằm xõy dựng một TTCK ngày càng hoàn thiện, phỏt triển hơn ở Việt Nam Chưa cú một tỏc phẩm, cụng trỡnh nghiờn cứu nào tập trung đi sõu phõn tớch sự tỏc động của TTCK tới nền kinh tế Việt Nam một cỏch hệ thống và toàn diện Chớnh vỡ thế, tụi xin chọn việc nghiờn cứu sự tỏc động của TTCK tới nền kinh tế Việt Nam làm đề tài cho Luận văn của mỡnh

3 Mục đớch nghiờn cứu và nhiệm vụ

Cú thể thấy số lượng sỏch về TTCK Việt Nam đó được xuất bản rất nhiều nhưng những nghiờn cứu một cỏch hệ thống về vai trũ và sự tỏc động của TTCK tới nền kinh tế Việt Nam chưa cú nhiều Cỏc tỏc phẩm đú mới chỉ nhỡn nhận TTCK như một thực thể cú quỏ trỡnh phỏt sinh, phỏt triển, cú cơ chế hoạt động riờng và đề xuất những giải phỏp để xõy dựng TTCK trong thời gian tiếp theo Do đú, mục đớch của Luận văn là đi sõu vào phõn tớch vai trũ của TTCK trong nền kinh tế và những tỏc động của TTCK tới nền kinh tế nước ta từ khi hỡnh thành cho tới hiện nay

Núi tới nền kinh tế quốc dõn là núi tới một vấn đề mang tớnh chất vĩ

mụ Bất cứ một ngành nghề kinh tế nào cũng cú những tỏc động nhất định tới sự phỏt triển hay suy vong của nền kinh tế núi chung, TTCK khụng phải

là ngoại lệ Thậm chớ, sự ra đời và phỏt triển của TTCK đó làm biến đổi bộ mặt của nền kinh tế trong một thời gian nhất định TTCK đó thỳc đẩy nhanh quỏ trỡnh cổ phần hoỏ cỏc doanh nghiệp tư nhõn cũng như cỏc cụng

ty nhà nước, làm biến đổi cơ cấu vốn đầu tư, mở rộng hội nhập quốc tế…

Vỡ thế, nhiệm vụ của Luận văn là: trờn cơ sở tỡm hiểu về TTCK, đặc biệt là thời kỳ phỏt triển mạnh của TTCK, từ đú tỡm ra những tỏc động của TTCK tới nền kinh tế núi chung Đú là những thay đổi về nguồn vốn,

Trang 11

là sự dịch chuyển cơ cấu ngành, là phương tiện giỳp cho Chớnh phủ thực hiện cỏc chớnh sỏch kinh tế tài chớnh…

4 Phạm vi nghiờn cứu

TTCK hiện nay đó và đang thu hỳt rất nhiều sự quan tõm từ mọi phớa: Đảng - Chớnh phủ, cỏc tổ chức kinh tế, cỏc cỏ nhõn trong nước và cả giới đầu tư nước ngoài Chớnh vỡ thế, tất cả những gỡ liờn quan tới chứng khoỏn đều được khai thỏc một cỏch triệt để Đó xuất hiện rất nhiều cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về: quỏ trỡnh hỡnh thành TTCK tại Việt Nam, cỏch phõn tớch cỏc chỉ số chứng khoỏn, cỏc biểu bảng chứng khoỏn nhằm mục đớch giỳp cỏc nhà đầu tư sỏng suốt hơn trong lựa chọn danh mục đầu tư của mỡnh… Tuy nhiờn, chưa thực sự cú một cụng trỡnh nghiờn cứu nào phõn tớch một cỏch hệ thống sự biến đổi của nền kinh tế khi TTCK ra đời

Vỡ thế trong Luận văn tụi chỉ tập trung vào phõn tớch, đỏnh giỏ sự tỏc động của TTCK tới nền kinh tế Việt Nam núi chung Từ đú cú thể khẳng định vai trũ của TTCK trong nền kinh tế Việt Nam là vụ cựng quan trọng Đảng và Nhà nước cần phải xõy dựng và phỏt triển thị trường đú một cỏch toàn diện hơn

5 Phương phỏp nghiờn cứu

Phương phỏp chung được sử dụng mang tớnh xuyờn suốt và chỉ đạo

là phương phỏp duy vật biện chứng, xem xột và giải quyết cỏc vấn đề liờn quan trong mối quan hệ biện chứng, trong trạng thỏi vận động và phỏt triển, cú tớnh chất hệ thống

Ngoài ra, tỏc giả cũn sử dụng cỏc biện phỏp thống kờ, thu thập thụng tin, từ đú phõn tớch, đỏnh giỏ, so sỏnh để đưa ra những kết luận chớnh xỏc, mang tớnh khỏch quan nhất Đặc biệt trong nghiờn cứu về TTCK, liờn

Trang 12

quan tới rất nhiều bảng biểu và số liệu nờn phương phỏp thống kờ, điều tra chọn mẫu luụn là phương phỏp được ưu tiờn

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về Thị trường chứng khoán

1.1 Một số vấn đề cơ bản về TTCK

1.2 TTCK Việt Nam (1996 - 2008)

Chương 2: Tác động của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam

2.1 TTCK – Kờnh huy động vốn cho nền kinh tế

2.2 TTCK thỳc đẩy chương trỡnh cổ phần hoỏ doanh nghiệp Nhà nước

2.3 TTCK từng bước thỳc đẩy tiến trỡnh hội nhập quốc tế

2.4 TTCK thỳc đẩy cỏc doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn đồng thời là cụng cụ đánh giỏ hoạt động kinh doanh, là phong vũ biểu của nền kinh tế

Chương 3: Thị trường chứng khoán - Những tồn tại và một số khuyến nghị

3.1 Những tồn tại

3.2 Một số khuyến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN

1.1 Một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán (TTCK)

1.1.1 Lịch sử hỡnh thành TTCK

Cựng với quỏ trỡnh đi lên của nền kinh tế thế giới là sự phát triển mạnh mẽ của TTCK Không một ai có thể phủ nhận vai trũ to lớn của thị trường vốn đặc biệt này đối với nền kinh tế quốc dân Trên thực tế, TTCK

ra đời từ rất sớm, như một hệ quả tất yếu của nền kinh tế công nghiệp, ra đời trước cả khi các công ty cổ phần (CTCP) xuất hiện

* TTCK trước CTCP

Từ thời trung cổ, Tây Phương đó bắt đầu manh nha những dấu hiệu

hỡnh thành TTCK Tại những thành phố có vị trí địa lý thuận lợi, và khi

thương nghiệp đó bắt đầu phát triển, các lái buôn và thương gia tụ họp lại trong các buổi chợ để thương lượng trao đổi hàng hoá Điều đặc biệt là những cuộc thương lượng này chỉ có sự trao đổi miệng với nhau, không cần có giấy tờ cũng như không cần có hàng hoá hoặc mẫu mó trước mặt Ban đầu đó chỉ là những cá nhân lẻ tẻ thoả hiệp với nhau, ngồi riêng ra một nơi nào đó để thương lượng Dần dần sự việc này được mở rộng thờm và

cú nhiều người tham gia Và những nơi toạ đàm, thương lượng đó đó trở thành một thị trường đặc biệt với phộp tắc và quy luật riờng, thị trường đó từng có tên gọi là “thị trường hè phố”, hay “chợ hè phố” [8, tr.17]

Những buổi chợ đầu tiên của các nhà buôn từ năm 1453 ở Bỉ vẫn cũn được người ta nhớ đến, người tham dự những cuộc giao dịch ở đó đến từ nhiều quốc gia khác nhau, đặc biệt là từ Italia [37, tr.26] Mục tiờu chủ yếu của họ là mua bỏn chứng khoỏn hoặc thoả thuận về những hợp đồng thương mại Trên quảng trường gần ngôi nhà một nhà buôn, nhà môi giới

Trang 14

Van Ber Buezo tại Bruges (Bỉ) các thương gia từ nhiều nước, chủ yếu là người Ý đó thường xuyên gặp gỡ để mua kỳ phiếu nước ngoài và trao đổi thông tin buôn bán kinh doanh

Huy hiệu dũng họ của nhà mụi giới này nằm trên đỉnh ngôi nhà và mang hỡnh ba cỏi “tỳi da” Tiếng Latin, cái ví tiền (túi da) là Bursa, tiếng Pháp là Bourse Cái tên Boerse cũng có nghĩa là Bourse (mậu dịch thị trường) được xem như xuất xứ từ bấy giờ Các thương gia họp nhau tại Bourse để bàn bạc, thương lượng về những món hàng họ muốn bán hoặc muốn mua Chỉ cần nói một tiếng mua là dịch vụ đó kết thỳc Năm 1547, thị trấn Bruges mất đi sự phồn vinh vỡ eo biển Eva dẫn tàu bố vào thị trấn này bị cỏt lấp mất Tuy nhiên, mầm mống về một TTCK được hỡnh thành

từ Bỉ đó bắt đầu lan rộng ra các nước phát triển thương nghiệp khác [4, tr.57]

Năm 1531, tại Antverpen người ta đó triển khai cỏc nghiệp vụ về chứng khoỏn (mua bỏn cỏc khoản nợ của Chớnh phủ Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha và Pháp) Mậu dịch thị trường này phát triển đến nỗi Theme.SS Geshan, tài chánh đại thần của Anh Quốc đó phải đến tận nơi quan sát trước khi thiết lập một mậu dịch thị trường tại Luân Đôn vào giữa thế kỷ XVI mà ngày nay được gọi là Stock Exchange (hay cũn gọi là Sở giao dịch chứng khoỏn)1

Khi Tây Ban Nha xâm chiếm và tước đoạt Antverpen, vua Tây Ban Nha đó khụng cho phộp buụn bỏn chứng khoỏn và cỏc khoản nợ tiền tệ dài hạn của họ thỡ TTCK Antverpen đó ngừng hoạt động cho đến cuối thế kỷ XVI Theo mẫu thị trường này người ta lập ra được các TTCK khác ở Lion (năm 1545), London (năm 1566) [37, tr28] Như vậy, cho tới thế kỷ XVI

1 Sở giao dịch chứng khoỏn: là một tổ chức tự quản của cỏc nhà mụi giới chứng khoỏn, cú tư cỏch phỏp

nhõn, tự chủ về tài chớnh, cú nhiệm vụ tổ chức mua bỏn, trao đổi chứng khoỏn Đây là thị trường chớnh

Trang 15

TTCK đó được hỡnh theo đúng nghĩa của nó và đó là các TTCK trước công ty cổ phần (CTCP)

Dù mới ra đời nhưng TTCK đó nhanh chóng khẳng định được vị trí của mỡnh, giữ vai trũ quan trọng trong thương mại thế giới Năm 1608, thị trường được lập ra ở Amsterdam, do kinh tế Hà Lan là một trong những nền kinh tế phát triển nhất Châu Âu lúc bấy giờ, phần lớn các chứng khoán được mua bán tại đây Chứng khoán được đem ra mua bán chủ yếu là những hối phiếu, tín phiếu, trái phiếu Chính phủ… của Hà Lan, Vương quốc Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp… Đến thế kỷ XVII, thị trường chứng khoán Amsterdam đó cú 44 loại chứng khoỏn (cổ phiếu và trái phiếu) Cho đến đầu thế kỷ XXI, Sở giao dịch chứng khoỏn (SGDCK) Amsterdam vẫn cũn giữ được tính chất TTCK tổng hợp: thị trường vốn, thị trường tiền tệ và ngoại tệ trong khi đó ở Mỹ - Anh các thị trường vốn đó được tách biệt khỏi thị trường hàng hoá [12, tr.37]

Có thể nói TTCK đó ra đời từ rất sớm, phát sinh một cách tự phát và

là kết quả trực tiếp của phân công lao động xó hội Từ những đũi hỏi về tớch tụ, tập trung tư bản cho sản xuất và tỏi sản xuất nền kinh tế hàng hoỏ

mà TTCK đó dần được hỡnh thành Trong buổi đầu sơ khai đó, Nhà nước không can thiệp và không tham gia trực tiếp vào quá trỡnh hỡnh thành của TTCK Vai trũ của nhà nước chỉ hạn chế thông qua việc huy động các phương tiện tài chính phục vụ các mục tiêu kinh tế - xó hội Đó là đặc trưng của TTCK trước CTCP

Trang 16

hội, một sỏng kiến mới trong kinh doanh là thành lập CTCP Đây được coi

là bước đột phá vĩ đại của kỷ nguyên công nghiệp trên toàn thế giới

CTCP được thành lập do một nhóm người có cùng chung ý tưởng

đầu tư, kiếm lời trong một hoạt động kinh doanh đó cựng nhau gúp vốn cựng thành lập Tất cả số vốn gúp trong cụng ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Mỗi người giữ một hoặc nhiều văn tự chứng thực cho sự đóng góp cổ phần của mỡnh, cỏc văn tự này gọi là cổ phiếu Những người có cổ phần đóng góp là những cổ đông

Trước khi có CTCP, việc bán trái phiếu và thương phiếu chỉ xuất hiện khi các chủ sở hữu chúng có nhu cầu tiền mặt Việc di chuyển đầu tư kiếm lời từ công trái hay thương phiếu khác là rất hón hữu vỡ mức lói suất cỏc loại trỏi phiếu về cơ bản là tương đương nhau và độ an toàn cũng vậy TTCK do đó chỉ hoạt động ở quy mô nhỏ

Với việc xuất hiện của CTCP, việc giao dịch mua bán chứng khoán

đó bựng nổ và bước sang một giai đoạn hoàn toàn mới CTCP có ảnh hưởng mang tính cách mạng là làm thay đổi toàn bộ hoạt động TTCK Nếu như trước đây TTCK chỉ là nơi giao dịch các trái phiếu, thương phiếu thỡ giờ đây nó bao gồm thờm cả một loạt chứng khoỏn cú sức hấp dẫn hơn nhiều lần, đó là các cổ phiếu

Ở Anh, sở giao dịch vốn đó xuất hiện năm 1773; ở Mỹ cơ sở của sở giao dịch vốn được coi là thoả thuận của 24 môi giới chứng khoán (giao dịch viên) năm 1792 về mức hoa hồng [37, tr.28] Ở Paris, Berlin, Viờn, TTCK đó xuất hiện vào thế kỷ XVIII Sự hưng thịnh của TTCK vào thế kỷ XIX liờn quan tới sự phỏt triển rộng rói của nội ngoại thương trên cơ sở sử dụng cả phương tiện hiện đại về giao thông và liên lạc các sở giao dịch hàng hoá

Trang 17

Từ thế kỷ XX, TTCK New York chiếm vai trũ quan trọng nhất, năm

1980 các chứng khoán lưu hành ở đây lên đến 397,7 tỷ USD Tiếp theo là cỏc Sở giao dịch chứng khoỏn lớn ở London, Paris, Frankfurt …[37, tr.29]

Hiện nay, TTCK đó phỏt triển mạnh mẽ ở hầu hết trong cỏc nước công nghiệp hàng đầu: Mỹ, Anh, Nhật, Đức, Pháp … Bên cạnh đó, hơn 40 nước đang phát triển đó thành lập TTCK

Như vậy, TTCK được hỡnh thành và phỏt triển do yờu cầu khỏch quan của nhu cầu về vốn trong nền kinh tế Trong sự phỏt triển của thị trường tài chính (TTTC), thị trường tiền tệ đó được hỡnh thành trước, chủ yếu nhằm giải quyết nhu cầu về vốn ngắn hạn Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất xó hội, nhu cầu bức thiết về một thị trường vốn trung và dài hạn đó đũi hỏi hỡnh thành thị trường vốn và TTCK đó ra đời TTCK phát triển khá mạnh vào nửa cuối thế kỷ XIX trong mối liên hệ chặt chẽ với nội thương và ngoại thương trên cơ sở các phương tiện hiện đại về giao thông, liên lạc thông tin giữa các thị trường Lịch sử phát triển các TTCK trên thế giới đó trải qua những thời kỳ biến động khác nhau, lúc thăng, lúc trầm Thời kỳ huy hoàng nhất là vào những năm 1875 – 1913, TTCK phát triển mạnh mẽ đồng thời với sự tăng trưởng của nền kinh tế Nhưng đến năm 1929, cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới đó làm cho cỏc TTCK New York, TTCK Tõy Âu, TTCK Bắc Âu, Nhật Bản… lõm vào khủng hoảng, làm mất lũng tin của cỏc nhà đầu tư [38, tr.16] Sau chiến tranh thế giới thứ 2, các TTCK được phục hồi và phát triển Nhưng cuộc khủng hoảng tài chính năm 1987 một lần nữa làm TTCK chao đảo và hậu quả của nú cũng khụng thua kộm gỡ cuộc khủng hoảng năm 1929 mang lại Sau đó, TTCK tiếp tục phục hồi và phát triển cho tới thời gian gần đây, vào cuối năm 1997 đầu năm 1998, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á lại một lần nữa làm cho TTCK các nước trong khu vực khủng hoảng trầm trọng và phải đóng cửa Cuộc khủng hoảng này cũn tác động mạnh tới các

Trang 18

TTCK hùng mạnh trong và ngoài khu vực như ở New York, Nhật Bản… hậu qủa đến nay vẫn chưa khắc phục được hết [38, tr.17]

Trải qua cỏc cuộc khủng hoảng, cuối cựng TTCK tiếp tục được phục hồi và phỏt triển, dần trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu trong đời sống kinh tế của các nước vận hành theo cơ chế thị trường Hiện nay, TTCK đó phỏt triển ở hầu khắp các nước công nghiệp châu Âu, châu Mỹ, cỏc nước có nền kinh tế mới phát triển ở các châu lục trên thế giới và ngày càng chứng tỏ vai trũ to lớn trong việc huy động các nguồn lực xó hội để phát triển kinh tế đất nước và hướng ra hội nhập với bên ngoài

1.1.2 Một số vấn đề cơ bản

a, Những khỏi niệm chung

TTCK thế giới đó tồn tại và phỏt triển hàng trăm năm, trải dài trên phạm vi 160 nước và vùng lónh thổ Mặc dự phải trải qua nhiều thăng trầm lịch sử song cho đến nay, TTCK luôn vượt qua được mọi thử thách để tồn tại và phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn Đối với bất cứ một quốc gia phát triển và đang phát triển nào, TTCK cũng đó và đang chiếm một vị trí quan trọng, không thể thay thế Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, TTCK được coi như thước đo phản ánh sự phát triển hay suy thoỏi của nền kinh tế của một quốc gia, thậm chí phản ánh trực tiếp những biến động hàng ngày của nền kinh tế đó

TTCK là bộ phận chủ yếu của TTTC đồng thời xuất phát từ phương thức thoả món nhu cầu về tư bản, TTCK đó trở thành một trong những phương thức huy động vốn hữu hiệu và chứng khoán trở thành đối tượng kinh doanh chủ yếu trên thị trường vốn Do đó, trong thực tế, người ta hiểu rằng “thị trường vốn” và “TTCK” về cơ bản là trùng nhau (thị trường vốn cũng chính là TTCK) Thực chất TTCK bao gồm những nhân tố của cả thị

Trang 19

trường tiền tệ lẫn thị trường vốn1, mà ở đó việc huy động, phân phối và phân phối lại những nguồn dự trữ tài chính tiền tệ dưới hỡnh thức chứng khoỏn được thực hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động đầu tư, tính dụng, bảo hiểm … Có thể xác định vị trí của TTCK trong co cấu của TTTC theo

sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: Mụ hỡnh cấu trỳc của TTTC

(Nguồn: Nguyễn Minh Đức, Thị trường chứng khoán trong nền kinh tế

chuyển đổi, Nxb Tài chính, Hà Nội, 2006, Tr.29)

Sơ đồ trên đây chỉ rừ mối quan hệ giữa TTCK với những bộ phận khác nhau của TTTC Đó cũng chính là mối quan hệ với thị trường vốn, thị trường tiền tệ - những nhân tố chủ yếu của TTTC

Cấu thành nên TTCK có rất nhiều yếu tố Những yếu tố đó được coi

là các công cụ của TTCK, bao gồm: cổ phiếu, trỏi phiếu, chứng chỉ quỹ, chỉ số chứng khoỏn

Từ những cơ sở phân tích trên có thể rút ra những khái niệm cơ bản sau:

1 Thị trường tiền tệ: là thị trường vốn ngắn hạn, hoạt động của thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông

qua hoạt động của hệ thống Ngõn hàng và cỏc tổ chức tớn dụng

Thị trường vốn: là thị trường cho các khoản vốn dài hạn Thị trường này cung cấp tài chính cho các

khoản đầu tư dài hạn của Chính phủ, của các doanh nghiệp và của các hộ gia đỡnh Thị trường vốn gồm

Trang 20

Chứng khoỏn là giấy tờ chứng nhận quyền về tài sản hoặc quyền ghi

nợ Đây cũng là loại giấy tờ hợp pháp chứng nhận người nắm giữ chứng khoán có quyền sở hữu về tài sản và quyền thu nợ, bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán và các chứng chỉ khác theo quy định của pháp luật Theo tiêu chuẩn pháp lý thỡ chứng khoỏn được chia thành 2 loại, chứng khoán vô danh và chứng khoán ghi danh

Chứng khoỏn vụ danh là loại chứng khoỏn khụng ghi rừ họ tờn của chủ sở hữu Việc chuyển nhượng loại chứng khoán này rất đơn giản, dễ dàng, không cần phải có những thủ tục rườm rà mà có thể trao tay

Chứng khoỏn ghi danh là loại chứng khoỏn cú ghi rừ họ tờn của chủ

sở hữu Việc chuyển nhượng loại chứng khoán này được thực hiện bằng thủ tục đăng ký tại cơ quan phát hành, nhiều khi cần có sự xác nhận trước

TTCK theo nghĩa rộng được gọi là thị trường vốn (Capital market),

là thị trường tạo lập và cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Một cách cụ thể hơn, TTCK là nơi giao dịch mua bán các chứng khoán trung và dài hạn, bao gồm chủ yếu là cổ phiếu và trái phiếu đó được phát hành và đang lưu hành trên thị trường

Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần trong một công ty, thể hiện sự

sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với thu nhập và tài sản của công ty đó Cổ phiếu có thể được phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất hoặc bút toán ghi

Theo tớnh chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông thỡ cú hai loại cổ phiếu cơ bản: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đói

Trang 21

Cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu mà lợi tức của nó phụ thuộc vào mức lợi nhuận thu được của công ty, tức là công ty không cố định mức số lói sẽ được chia vào cuối năm quyết toán Mỗi cổ phiếu thường thể hiện quyền lợi sở hữu của cổ đông trong công ty Số lượng cổ phiếu mà cổ đông nắm càng nhiều thỡ quyền lợi sở hữu của cổ đông trong công ty càng lớn

Cổ phiếu ưu đói hay cũn gọi là cổ phiếu đặc quyền: là loại cổ phiếu

được hưởng những quyền ưu tiên Những quyền ưu tiên đó là: được hưởng một mức cổ tức riêng biệt có tính cố định hàng năm (thông thường cổ tức này được in trên cổ phiếu); được ưu tiên chia lói cổ phần trước loại cổ phiếu thường và được ưu tiên phân chia tài sản cũn lại của cụng ty khi cụng

ty phỏ sản trước loại cổ phiếu thường Tuy nhiên, không giống với cổ phiếu thường, người mua cổ phiếu ưu đói khụng được hưởng quyền bỏ phiếu để bầu ra Hội đồng quản trị, ban kiểm soát công ty

Trỏi phiếu là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát

hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, trái phiếu thường có kỳ hạn nhất định Khi đến hạn, nhà phát hành sẽ hoàn trả tiền gốc Tiền lói sẽ được trả định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm trong suốt kỳ hạn của trái phiếu Trái phiếu niêm yết có thể tự do mua bán trên TTCK suốt kỳ hạn của trái phiếu Trái phiếu được phát hành ở các thị trường vốn khác nhau bởi các tổ chức công như: các tổ chức đa quốc gia, Chính phủ của một nước, các công ty … Dựa vào đó người ta chia trái phiếu thành: Trái phiếu chính phủ (công trái), trái phiếu công ty, trái phiếu tài chính, trái phiếu quốc tế…

So với cổ phiếu, trái phiếu có những đặc điểm khác biệt cơ bản về thu nhập định kỳ, lói suất trỏi phiếu được ấn định ngay từ khi phát hành trong khi cổ tức của cổ phiếu lại biến động tuỳ theo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành Bên cạnh đó, trái phiếu thường có mức độ rủi

ro thấp hơn nên giá cũng ít bị biến động hơn

Trang 22

Chứng khoán có thể chuyển đổi là loại chứng khoán cho phép người

nắm giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác Thông thường cổ phiếu ưu đói và trỏi phiếu chuyển đổi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường trong những điều kiện nhất định

Cỏc cụng cụ phỏi sinh: là những công cụ được phát hành trên cơ sở

những công cụ đó cú như: cổ phiếu, trái phiếu nhằm nhiều mục tiêu khác nhau: phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận Những công cụ phát sinh có thể là quyền lựa chọn, quyền mua trước, chứng quyền, hoạt động kỳ hạn, hợp đồng tương lai

Chứng chỉ quỹ (CCQ) đầu tư chứng khoán là sự xác nhận khoản vốn

đóng góp vào quỹ và quyền được hưởng các thu nhập từ hoạt động của quỹ Hiện nay ở Việt Nam có 4 quỹ đầu tư như vậy: Công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VietFun Management), CTCP quản lý quỹ đầu tư Thành Việt; công ty TNHH Quản lý quỹ đầu tư Prudential Việt Nam và Công ty TNHH Quản lý quỹ Manulife Việt Nam

Chỉ số chứng khoỏn (Index) chỉ số chứng khoán có thể hiểu đơn giản

là thước đo bỡnh quõn giỏ cỏc chứng khoỏn giao dịch trờn thị trường Các nhà đầu tư có thể căn cứ vào các chỉ số chứng khoán để xác định hiệu quả đầu tư của mỡnh Lấy vớ dụ, hụm nay chỉ số chứng khoán Việt Nam (VN Index) tăng từ 150 điểm lên 152 điểm, tức là tăng 1,3% trong ngày Nếu 1

cổ phiếu ABC cụ thể tăng từ 50.000 VNĐ/cổ phiếu lên 52.000VNĐ/cổ phiếu, tức tăng 4% cao hơn mức tăng 1,3% của giá cổ phiếu chung trên thị trường thỡ cú thể núi cổ phiếu ABC đó hoạt động tốt hơn so với bỡnh quõn thị trường trong ngày hôm nay [25, tr.97]

Nhỡn chung, chỉ số chứng khoỏn rất nhạy cảm với những biến động

về kinh tế, chính trị, xó hội của từng nước Vỡ thế việc xõy dựng chỉ số chứng khoỏn của một nước phải phản ánh được mọi trạng thái dao động

Trang 23

của thị trường Thông thường, người ta xây dựng chỉ số chứng khoán trên

cơ sở so sánh giá chứng khoán (cổ phiếu) bỡnh quõn hiện tại với giỏ chứng khoỏn (cổ phiếu) bỡnh quõn thời kỳ gốc của những cụng ty cú cổ phiếu chất lượng cao và được mua bán với số lượng lớn

b) Chức năng của TTCK

Chức năng cơ bản đầu tiên của TTCK là chức năng huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, đây cũng được coi là chức năng quan trọng nhất của TTCK Thông qua các công cụ tài chính của mỡnh (cổ phiếu, trái phiếu, CCQ), TTCK sẽ thu hút và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để tài trợ cho các dự án đầu tư dài hạn; cho các nhu cầu tạo vốn, tăng vốn của các doanh nghiệp và chính phủ Bên cạnh đó thông qua TTCK Chính phủ và chớnh quyền ở các địa phương cũng huy động vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ nhu cầu chung của xó hội TTCK cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đây là yếu tố đảm bảo cho sự phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong quốc gia cũng như trên phạm vi quốc tế

Chức năng quan trọng nữa của TTCK là cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường luôn có những đặc thù khác nhau như: tính chất, khả năng sinh lời, độ rủi ro … Qua đó, nhà đầu tư (NĐT) có thể lựa chọn các loại hàng hoá phù hợp với khả năng tài chính, nhu cầu, mục tiêu đầu tư của mỡnh Chớnh vỡ vậy, TTCK đó gúp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia

TTCK cũn cú chức năng tạo tính thanh khoản1

cho các chứng khoán Thông qua TTCK, các NĐT có thể dễ dàng chuyển đổi các chứng khoán sở hữu thành tiền khi có nhu cầu Khả năng thanh khoản là một trong những

1 Tớnh thanh khoản: Là khả năng chuyển đổi từ chứng khoán sang tiền mặt Tính thanh khoản càng cao

Trang 24

đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư Một TTCK hoạt động năng động và hiệu quả thỡ càng cú khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường

Một chức năng quan trọng khỏc của TTCK là đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp Giá của chứng khoán là thước đo hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp một cách tổng hợp và chính xác Thông qua giá thị trường của chứng khoán, NĐT có thể đánh giá, so sánh hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, khuyến khích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm Ngược lại, TTCK hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo sẽ góp phần định giá chứng khoán được chính xác hơn

Ngoài ra, TTCK cũn cú chức năng tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Sự tăng hay giảm giá chứng khoán cho thấy dấu hiệu tăng trưởng hoặc suy thoái của kinh tế quốc gia Vỡ thế TTCK được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế,

là một công cụ quan trọng giúp Chớnh phủ thực hiện cỏc chớnh sách kinh

tế vĩ mô như: chính sách thuế, chính sách lói suất, quản lý lạm phỏt, thu chi ngõn sỏch Bờn cạnh đó Chính phủ có thể tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế

Trên đây là những chức năng cơ bản của TTCK - phản ỏnh mặt tớch cực mà TTCK cú thể mang lại cho bất kỳ một nền kinh tế nào Tuy nhiên, các chức năng của TTCK có được phát huy tác dụng hay không cũn phụ thuộc nhiều vào sự quản lý, giỏm sỏt của Nhà nước và vai trũ của cỏc chủ thể tham gia thị trường ở mỗi quốc gia

c) Nguyên tắc hoạt động của TTCK

Trang 25

TTCK bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành do đó cũng giống như các thị trường khác, TTCK có những nguyên tắc hoạt động của riêng mỡnh Bất kỳ một chủ thể nào khi tham gia vào cũng phải tuõn theo những nguyờn tắc đó

Nguyên tắc đầu tiên cơ bản nhất là nguyờn tắc cạnh tranh Theo nguyên tắc này: giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty Trên TTCK sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mỡnh cho cỏc NĐT, các NĐT được tự do lựa chọn chứng khoỏn theo cỏc mục tiờu của mỡnh Trờn thị trường thứ cấp, các NĐT cũng cạnh tranh để tự do tỡm kiếm cho mỡnh lợi nhuận cao nhất Giỏ cả chứng khoỏn trờn thị trường được hỡnh thành theo phương thức đấu giá

Đồng thời với nguyờn tắc cạnh tranh là nguyên tắc công bằng, đảm bảo cho tất cả mọi người tham gia thị trường Điều này đũi hỏi mọi người khi tham gia đều phải tuân theo những quy định chung do Chính phủ và Nhà nước ban hành Người tham gia thị trường được bỡnh đẳng trong việc chia sẻ thông tin đồng thời phải chịu các hỡnh phạt nếu vi phạm những quy định của thị trường

TTCK là nơi cung cấp mọi thông tin cần thiết về nền kinh tế, về các loại cổ phiếu, chứng khoán cũng như khả năng sinh lợi của chúng Vỡ vậy, TTCK cũn cú nguyờn tắc cụng khai, chứng khoán là các hàng hoá trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm tra trực tiếp được chứng khoán như các hàng hoá thông thường mà phải dựa trên cơ sở các thông tin liên quan

Vỡ vậy, TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt Nguyên tắc này nhằm bảo vệ người đầu tư, song đồng thời nó cũng hàm nghĩa rằng: một khi đó cung cấp thụng tin đầy đủ, kịp thời chính xác thỡ NĐT phải chịu trỏch nhiệm về cỏc quyết định của mỡnh

Trang 26

Chứng khoỏn là một loại hàng hoá đặc biệt đồng thời lại rất phong phú, đa dạng Điều này quyết định một nguyờn tắc nữa của TTCK: nguyên tắc trung gian Theo nguyên tắc này, các giao dịch được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, các NĐT thường không mua trực tiếp của nhà phỏt hành và mua từ cỏc nhà bảo lónh phỏt hành Trờn thị trường thứ cấp, thụng qua cỏc nghiệp vụ mụi giới, kinh doanh, cỏc cụng ty chứng khoỏn, mua bỏn chứng khoỏn giỳp cỏc khỏch hàng giao dịch trờn cỏc tài khoản của khỏch hàng

Như vậy, với những chức năng cú tớnh chất thỳc đẩy sự phát triển của nền kinh tế và những nguyên tắc đảm bảo sự công khai, tính công bằng cùng với sự ràng buộc của các tổ chức trung gian, TTCK đang ngày càng xác định được vị trí quan trọng của mỡnh đối với bất kỳ một nền kinh tế hiện đại nào

d) Cơ cấu tổ chức của TTCK

Từ những góc độ khác nhau của TTCK như chức năng, đặc điểm mà

có thể nhỡn nhận cơ cấu tổ chức của TTCK một cách khác nhau Trên thực

tế, TTCK thường được hiểu theo hai cách đơn giản nhất:

Xột về quỏ trỡnh luân chuyển, vận động của chứng khoán thỡ TTCK bao gồm: thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Nếu căn cứ vào phương diện pháp lý thỡ TTCK được chia làm hai loại: TTCK chớnh thức và TTCK phi chớnh thức

Về quỏ trỡnh luõn chuyển, TTCK bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp:

* Thị trường sơ cấp cũn gọi là thị trường cấp một hoặc thị trường phát hành Đây là nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán những chứng khoán mới phát hành lần đầu, kéo theo sự tăng thêm quy mô đầu tư vốn Trên thị trường này, vốn từ NĐT sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc NĐT mua các chứng khoán mới phát hành Thị trường này giữ vai

Trang 27

trũ quyết định, trực tiếp huy động vốn cho các chủ thể phát hành chứng khoán và trực tiếp huy động vốn cho việc phát triển sản xuất - xó hội Giỏ chứng khoỏn trờn thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành quy định và thường được in ngay trên chứng khoán Những người bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp thường là Kho bạc Nhà nước, ngân hàng Nhà nước, tập đoàn bảo lónh phỏt hành

TTCK sơ cấp là tiền đề và cơ sở của TTCK thứ cấp; TTCK thứ cấp chỉ có thể phát sinh và phát triển trên cơ sở của TTCK sơ cấp Vỡ vậy, việc phỏt hành chứng khoỏn của cỏc cụng ty, tổ chức cần phải thực hiện theo những yờu cầu của thể chế tài chớnh chặt chẽ

* TTCK thứ cấp cũn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu thông, là nơi diễn ra hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán đến tay thứ hai, tức là việc mua đi bán lại các loại chứng khoán đó được phát hành qua thị trường sơ cấp Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các NĐT và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành Như vậy, các luồng tiền không chảy vào những nhà phát hành chứng khoán mà luân chuyển giữa những người đầu tư chứng khoán trên thị trường Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp

do cung - cầu quyết định chứ không phải do bất kỳ cá nhân nào Vỡ vậy, cú thể coi thị trường thứ cấp là không gian tài chính và là môi trường kinh tế - luật pháp mà nhờ nó các nguồn vốn đầu tư dưới dạng chứng khoán được điều tiết, phân phối lại một cách hợp lý căn cứ vào nhu cầu của thị trường tài chính [14, tr.18] Sự phát triển của thị trường thứ cấp sẽ thúc đẩy việc củng cố và phát triển của thị trường sơ cấp, đồng thời thị trường này cùng với thị trường sơ cấp cấu thành nên TTCK – môi trường đầu tư kinh doanh

và là kênh huy động vốn, tập trung tư bản với quy mô ngày càng lớn và hữu hiệu

Trang 28

Về phương diện phỏp lý, TTCK bao gồm thị trường giao dịch tập trung và thị trường không tập trung (OTC):

* Thị trường giao dịch tập trung là kết quả tất yếu của quá trỡnh phỏt triển lõu dài của thị trường vốn Trong đó Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) là hỡnh thức tổ chức hoạt động của nó SGDCK được tổ chức rất khoa học trên cơ sở những nguyên tắc nghiêm ngặt Tại SGDCK, chứng khoán đem ra niêm yết đều được bỡnh chọn, đấu giá chất lượng, phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro đối với từng loại chứng khoán cụ thể Giá cả chứng khoán được hỡnh thành trên cơ sở đấu giá cạnh tranh và công khai hoá mọi thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của các tổ chức phát hành SGDCK là khu vực đặc biệt và là thành phần quan trọng nhất của thị trường giao dịch tập trung Tại đây diễn ra sự tập trung tư bản, phân phối và phân phối lại vốn đầu tư thông qua quá trỡnh thiết lập và quản trị cỏc danh mục đầu tư chứng khoán

* TTCK khụng tập trung hay cũn gọi là thị trường OTC (the Over the Counter) là thị trường mua bán chứng khoán bên ngoài SGDCK, không

có địa điểm tập trung những người môi giới, những người kinh doanh chứng khoán như ở SGDCK Trên thị trường này không có sự kiểm soát từ bên ngoài (Hội đồng chứng khoán), không có sự quy định chặt chẽ về thời gian cũng như những thủ tục nhất định mà chủ yếu hoạt động trên thị trường là do sự thoả thuận giữa người mua và người bán chứng khoán Thông thường, chứng khoán được giao dịch trên thị trường này là chứng khoán thuộc những công ty chưa niêm yết trên SDGCK

Ngoài hai cách phân loại trên đây, TTCK cũn được phân chia theo nhiều cách khác tuỳ thuộc vào những góc độ khác nhau như: căn cứ vào chủ thể phát hành, TTCK được chia thành TTCK chính phủ (Nhà nước) và TTCK doanh nghiệp hay căn cứ vào phương thức tổ chức hoạt động của thị trường, người ta phân chia TTCK thành thị trường không có tổ chức và thị

Trang 29

trường có tổ chức … Tuy nhiên, sự phân chia nào cũng chỉ mang tính chất tương đối Trên thực tế, không tồn tại một ranh giới rừ rệt nào giữa cỏc thành phần cấu thành TTCK Giữa cỏc thị trường luôn luôn có mối quan hệ đan xen, tác động lẫn nhau để tạo nên một thị trường chung là TTCK

và các NĐT trong và ngoài nước Đõy là một quỏ trỡnh lõu dài, bền bỉ từ khi nền kinh tế của nước ta bước vào nền kinh tế thị trường

Năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, khi nền kinh tế kế hoạch hoỏ tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường thỡ nhu cầu về nguồn vốn ngày càng trở nên bức thiết và đây cũng được coi là sự khởi đầu

về TTCK

a, Những tiền đề về kinh tế, xó hội để hỡnh thành và phỏt triển TTCK Việt Nam

Sự ỏp dụng mụ hỡnh nền kinh tế thị trường đó kớch thớch việc phỏt triển mạnh mẽ của sản xuất kinh doanh trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, cựng với sự ổn định chính trị và ổn định kinh tế vĩ mô … Từ giữa những năm 90 đến nay, hệ thống Ngân hàng trong cả nước đó phỏt huy được vai

Trang 30

trũ trong quỏ trỡnh chuyển đổi kinh tế Việc cải cách hệ thống Ngân hàng

đó củng cố được các quan hệ tín dụng tiền tệ Vỡ vậy, việc huy động các nguồn vốn trong nước đó và đang diễn ra khá thuận lợi Tuy nhiên, để có được thị trường tài chính cần phải đa dạng hoá phương thức huy động vốn, phân phối và sử dụng nguồn vốn xó hội

Thực trạng kinh tế - xó hội nước ta trong những năm 80, 90 của Thế

kỷ XX đó khẳng định: để phát triển kinh tế và thực hiện việc cải cách sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam cần phải huy động các nguồn vốn đầu tư không chỉ ở trong nước mà cũn phải huy động được các nguồn vốn đầu tư nước ngoài với khối lượng lớn Để thực hiện điều này, nhất thiết phải thiết lập được thị trường vốn quốc gia và TTCK với tất cả những đặc điểm và chức năng vốn có đó trở thành mụ hỡnh đáp ứng được yờu cầu sống cũn đó của đất nước

Trước thực trạng kinh tế - xó hội như vậy, Bộ tài chính và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam theo định hướng của Chính phủ đó triển khai rất sớm, từ những năm 1993 - 1994 các chương trỡnh nghiờn cứu

về TTTC nói chung và TTCK nói riêng Bộ trưởng Bộ tài chính được Chính phủ giao nhiệm vụ Trưởng ban soạn thảo phỏp lệnh về chứng khoỏn,

cú sự tham gia của NHNN, Bộ tư pháp; ở NHNN đó lập ra Ban thị trường vốn (1994), tổ chức tiền thân của UBCKNN sau này, để nghiên cứu và chuẩn bị các điều kiện vật chất, kỹ thuật và tổ chức cho sự ra đời của thị trường chứng khoán [43, tr.10] Những hoạt động chuẩn bị cho việc xây dựng TTCK, đặc biệt là công việc nghiên cứu của NHNN và Bộ tài chính tiến hành trong nửa đầu thập niên 90 đó gúp phần đáng kể vào sự ra đời của ngành chứng khoán ở nước ta

Tuy nhiên, đó mới chỉ là những tiền đề về lý luận cũn trờn thực tế dự những tiền đề về kinh tế - tài chính cho sự vận hành TTCK ở nước ta vẫn

Trang 31

chưa đồng bộ nhưng đó cú những yếu tố cơ bản góp phần mở đường cho việc tạo lập một TTCK trong nước

Những năm đầu thập niên 90 của Thế kỷ XX, một nền kinh tế thị trường đó được xác lập với sự phát triển tương đối ổn định và hướng mạnh

ra bên ngoài là tiền đề đầu tiên, cơ bản nhất để nước ta hướng tới một thị trường vốn trung và dài hạn: đó là TTCK Trên cơ sở nền kinh tế thị trường, cỏc nền tảng thể chế của TTCK cũng dần được xác lập như: các thị trường yếu tố đầu vào (thị trường đất đai và bất động sản, thị trường lao động, thị trường tiền tệ …) và các chủ thể thị trường (doanh nghiệp, các công ty cổ phần, nhà đầu tư - công chúng …) và các định chế tài chính nền (ngân hàng thương mại, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư …) Trong cơ chế thị trường cùng sự quan tâm của Nhà nước, các nền tảng thể chế trên ngày càng được củng cố, xây dựng và phát triển vững chắc: Thị trường lao động dần được tạo lập, mở rộng ra bên ngoài; thị trường tiền tệ hoạt động ổn định; thị trường tín dụng đó cú những bước phát triển khá; hệ thống tín dụng, ngân hàng đó phỏt hành một khối lượng lớn tín phiếu và trái phiếu; quá trỡnh cổ phần hoỏ tuy cũn khỏ mới mẻ so với tiến trỡnh xõy dựng nền kinh tế đất nước nhưng cũng đó tạo được nhiều CTCP với một khối lượng

cổ phiếu nhất định Có thể coi đó là những yếu tố cơ bản đầu tiên để chúng

ta tiến hành xây dựng TTCK

Một nền tảng quan trọng khác để ngành chứng khoán ra đời và hoạt động là khuôn khổ pháp lý và cỏc điều kiện về tổ chức Đây là cơ sở để các thể chế chứng khoán khẳng định được tư cách pháp lý của mỡnh trong quan hệ với cỏc chủ thể liờn quan (cỏc thiết chế Nhà nước, các doanh nghiệp và công chúng) Tuy nhiên, đây cũng là đặc điểm làm cho quá trỡnh hỡnh thành TTCK ở Việt Nam khỏc với nhiều nước khác Thông thường,

ở các nước, TTCK ra đời theo logic tự nhiên, tự phát của thị trường trên cơ

sở đó Nhà nước thiết lập bộ máy quản lý và điều hành nó Nhưng ở nước ta

Trang 32

vỡ nhiều lý do đặc thù (vai trũ chủ động tổ chức quá trỡnh chuyển đổi sang kinh tế thị trường của Nhà nước, mục tiờu xõy dựng sớm TTCK, yờu cầu quản lý một thể chế thị trường bậc cao nhằm giữ vững định hướng xó hội chủ nghĩa …) mà Uỷ ban chứng khoỏn – cơ quan có chức năng chính là quản lý Nhà nước đối với TTCK, lại ra đời trước cả đối tượng quản lý của mỡnh là TTCK Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đảm nhiệm vai trũ chuẩn bị cỏc điều kiện cần thiết, trong đó bao gồm các điều kiện tổ chức để TTCK sớm ra đời và vận hành có hiệu quả Theo nghĩa như vậy, UBCKNN chính là tiền đề tổ chức cơ bản của TTCK Việt Nam Từ tiền đề này, cấu trúc khung tổ chức của ngành chứng khoán Việt Nam dần dần được tạo dựng

Bên cạnh đó, việc xây dựng mở rộng các mối quan hệ quốc tế để có được sự hỗ trợ tích cực từ bên ngoài được coi là một trong những điều kiện tiền đề đặc biệt quan trọng để thực hiện sứ mệnh tạo lập TTCK ở Việt Nam Với sự quan tâm của chính phủ cùng với sự giúp đỡ tận tỡnh của NHNN và Bộ tài chính cùng với nhiều ngành hữu quan khác, bộ máy chuẩn

bị xây dựng TTCK đó kết nối “mạng toàn cầu” rất sớm Ngay khi được thành lập, UBCKNN đó thiết lập mối liờn hệ với Cơ quan Nhà nước quản

lý hoạt động kinh doanh chứng khoán và với TTCK của một số Tổ chức quốc tế như: Công ty Tài chính Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á, Quỹ tiền tệ Quốc tế và một loạt quốc gia như: Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Cộng hoà liên bang Đức, Hàn Quốc, Thái Lan …[43, tr.65] Chúng ta đó nhận được từ các tổ chức cũng như những quốc gia đó

sự hỗ trợ tích cực cả về phương diện vật chất, kỹ thuật, tổ chức lẫn đào tạo nhân lực, tri thức và kinh nghiệm Ở một tầm nhỡn xa hơn, sự liên kết này cũn hướng tới một tương lai nối mạng kinh doanh chứng khoán giữa các thị trường liên quốc gia Điều đó khiến cho TTCK Việt Nam ngay từ đầu đó

Trang 33

tạo được sức hấp dẫn quốc tế và việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài trở nờn

dễ dàng, thuận lợi hơn

Như vậy, đến những năm 90 của thế kỷ XX, những tiền đề cơ bản về kinh tế - xó hội cho sự xuất hiện TTCK ở Việt Nam đó được tạo lập Mặc

dù trong những năm đầu tiên, TTCK chưa thực sự xác lập được vị trí theo đúng chức năng của mỡnh trong nền kinh tế nhưng đó tạo ra một bước phát triển mới cho thị trường vốn của đất nước Theo thời gian, TTCK ngày càng được củng cố và phát triển đó cú những tỏc động lớn tới nền kinh tế đất nước, ở một mức độ nào đó TTCK khiến cho kinh tế Việt Nam trở nên sôi động hơn trong những năm gần đây

b, Sự xỏc lập và hoạt động của TTCK Việt Nam (1996 - 2008)

* Sự xỏc lập TTCK Việt Nam (1996 - 2008)

Xõy dựng và phỏt triển TTCK là mục tiờu đó được Đảng và Chớnh phủ Việt Nam định hướng từ những năm đầu thập kỷ 90 (thế kỷ XX) nhằm xỏc lập một kờnh huy động vốn mới cho đầu tư phỏt triển Việc nghiờn cứu, xõy dựng đề ỏn thành lập TTCK đó được nhiều cơ quan Nhà nước, cỏc Viện nghiờn cứu phối hợp đề xuất với Chớnh phủ

Một trong những bước đi đầu tiờn cú ý nghĩa khởi đầu cho việc xõy dựng TTCK ở Việt Nam là việc thành lập Ban Nghiờn cứu xõy dựng và phỏt triển thị trường vốn thuộc Ngõn hàng Nhà nước (Quyết định số 207/QĐ-TCCB ngày 6/11/1993 của Thống đốc NHNN) với nhiệm vụ nghiờn cứu, xõy dựng đề ỏn và chuẩn bị cỏc điều kiện để thành lập TTCK theo bước đi thớch hợp [54] Theo sự uỷ quyền của Chớnh phủ, NHNN đó phối hợp với Bộ Tài chớnh tổ chức nghiờn cứu về cỏc lĩnh vực liờn quan đến hoạt động của TTCK, đề xuất với Chớnh phủ về mụ hỡnh TTCK Việt Nam, đào tạo kiến thức cơ bản về chứng khoỏn và TTCK cho một bộ phận nhõn lực quản lý và vận hành thị trường trong tương lai; nghiờn cứu, khảo sỏt thực tế một số TTCK trong khu vực và trờn thế giới Tuy nhiờn, với tư

Trang 34

cỏch là một tổ chức thuộc NHNN nờn phạm vi nghiờn cứu, xõy dựng đề ỏn

và mụ hỡnh TTCK khú phỏt triển trong khi TTCK là một lĩnh vực cần cú

sự phối hợp, liờn kết của nhiều ngành, nhiều tổ chức

Vỡ vậy, thỏng 9/1994, Chớnh phủ quyết định thành lập Ban soạn thảo Phỏp lệnh về chứng khoỏn và TTCK do một đồng chớ Thứ trưởng Bộ Tài chớnh làm Trưởng Ban, với cỏc thành viờn là Phú Thống đốc NHNN, Thứ trưởng Bộ Tư phỏp Trờn cơ sở Đề ỏn của Ban soạn thảo kết hợp với

đề ỏn của NHNN và ý kiến của cỏc Bộ, ngành liờn quan ngày 29/6/1995, Thủ tướng Chớnh phủ đó cú Quyết định số 361/QĐ-TTg thành lập Ban chuẩn bị tổ chức TTCK giỳp Thủ tướng Chớnh phủ chỉ đạo chuẩn bị cỏc điều kiện cần thiết cho việc xõy dựng TTCK ở Việt Nam Sau khi những điều kiện cần thiết được hoàn thiện, Chớnh phủ đó thành lập UBCKNN với chức năng “đỡ đầu” cho TTCK Việt Nam [54]

Ngày 28/11/1996, UBCKNN được thành lập theo Nghị định số 75/CP của Chớnh phủ, là cơ quan thuộc Chớnh phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoỏn và TTCK Việc thành lập cơ quan quản lý TTCK trước khi thị trường ra đời là bước đi phự hợp với chủ trương xõy dựng và phỏt triển TTCK ở Việt Nam và cú ý nghĩa quyết định cho sự ra đời của TTCK

Ngay sau khi UBCKNN được thành lập, mọi cụng tỏc đưa TTCK vào hoạt động đó được tiến hành mạnh mẽ Ngày 10/7/1998, Thủ tướng Chớnh phủ đó ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoỏn và TTCK cựng với Quyết định thành lập hai Trung tõm giao dịch chứng khoỏn (TTGDCK) tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chớ Minh [52]

Ngày 20/7/2000 TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh đó được thành lập Việc thành lập của TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh được coi là sự kiện đánh dấu sự ra đời của TTCK ở Việt Nam Nhưng như trên đó núi, sự

ra đời của TTCK Việt Nam có sự khác biệt so với nhiều quốc gia trờn Thế

Trang 35

giới, đó là UBCKNN được thành lập tương đối sớm so với đối tượng quản

lý của nú là TTCK hơn 3 năm Vỡ vậy, dự TTCK chỉ thực sự chớnh thức đi vào hoạt động vào tháng 7 năm 2000 nhưng có thể coi năm 1996 là năm khởi đầu cho sự ra đời của TTCK Việt Nam

Sau 7 năm với sự tăng trưởng của thị trường và hội nhập với TTCK thế giới, TTGDCK thành phố Hồ Chớ Minh đó chớnh thức được Chớnh phủ ký Quyết định số 599/QĐ-TTg ngày 11/5/2007 chuyển đổi thành Sở giao dịch chứng khoỏn (SGDCK) thành phố Hồ Chớ Minh Ngày 8/8/2007 SGDCK được khai trương, tờn giao dịch quốc tế là: Hochiminh Stock Exchange (viết tắt là HOSE) [52]

TTGDCK Hà Nội được Quyết định thành lập cựng với TTGDCK thành phố Hồ Chớ Minh vào ngày 10/7/1998 nhưng phải đến năm 2005 mới chớnh thức đi vào hoạt động Theo chủ trương của Chớnh phủ, TTGDCK Hà Nội sẽ phỏt triển theo hướng trở thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) Theo đó, TTGDCK Hà Nội sẽ phỏt triển theo hai

giai đoạn: Giai đoạn đầu, từ 2005 đến 2007: thực hiện đấu giỏ cổ phiếu cỏc

DNNN cổ phần hoỏ và đấu thầu trỏi phiếu Chớnh phủ đồng thời tổ chức

giao dịch chứng khoỏn chưa niờm yết theo cơ chế đăng ký giao dịch Giai

đoạn sau 2007, phỏt triển TTGDCK Hà Nội thành thị trường phi tập trung

phự hợp với quy mụ phỏt triển TTCK Việt Nam Việc xõy dựng mụ hỡnh hoạt động cụ thể cho TTGDCK Hà Nội cú một ý nghĩa quan trọng, vừa đáp ứng nhu cầu cấp thiết của nền kinh tế, vừa phự hợp với quy mụ và lộ trỡnh phỏt triển của TTCK Việt Nam [51]

Như vậy, với sự ra đời và hoạt động của hai TTGDCK, TTCK Việt Nam đó chớnh thức đi vào hoạt động Tuy nhiờn, để hoàn thiện hơn nữa TTCK, ngày 29/6/2006 Luật chứng khoỏn đó được Quốc hội khoỏ XI thụng qua và cú hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2007 [26, tr.150] Với sự ra đời của Luật chứng khoỏn, TTCK Việt Nam về cơ bản đó được hoàn thiện

Trang 36

Hệ thống cơ sở phỏp lý đặt nền tảng cho sự phỏt triển ổn định và bền vững của thị trường Cú thể núi, Luật chứng khoỏn ra đời đó hoàn tất những bước đi cơ bản cho quỏ trỡnh hỡnh thành TTCK Việt Nam

Chỉ sau 8 năm hoạt động, TTCK Việt Nam đó được mở rộng mạnh

về quy mụ và tăng nhanh về giỏ trị vốn hoỏ thị trường Trong những năm đầu mới chỉ cú một vài cổ phiếu được giao dịch với tổng số vốn 27 tỷ đồng

và 6 cụng ty chứng khoỏn thành viờn Hơn 6 năm hoạt động, mức vốn hoỏ của thị trường mới chỉ tăng lờn 0,5 tỷ USD Đến năm 2007, mức vốn hoỏ của TTCK Việt Nam đó tăng đột biến, thỏng 12/2006 đạt 13,8 tỷ USD (chiếm 22,7% GDP) và đến cuối thỏng 4/2007 đạt 24,4 tỷ USD (chiếm 38% GDP), tăng hơn 1.400 lần so với năm 2000 và nếu tớnh trỏi phiếu thỡ đạt mức 46% GDP [55]

Số lượng doanh nghiệp niờm yết tăng 704% so với năm 2000 Vốn đầu tư giỏn tiếp nước ngoài (FII) đổ vào TTCK Việt Nam cũng cú sự gia tăng đáng kể Tớnh đến cuối năm 2007, cỏc NĐT nước ngoài đó đầu tư vào TTCK nước ta khoảng 4 tỷ USD [55]

Chỉ số VN-Index cũng đó chứng minh sự tăng trưởng nhanh chúng của thị trường Nếu trong phiờn giao dịch đầu tiờn ngày 28/7/2000, VN-Index ở mức 100 điểm thỡ thỏng 3/2007 chỉ số này đó đạt mức kỷ lục trờn 1.170 điểm, trong suốt những quý đầu năm 2007, chỉ số này luụn dao động xung quanh ngưỡng 1.000 điểm (giữa thỏng 5/2007 đó lờn 1.060 điểm), tăng hơn 10 lần so với năm 2000 Đặc biệt, số lượng cỏc NĐT mới tham gia thị trường ngày càng đông Tớnh đến cuối thỏng 12/2006, cú trờn 120.000 tài khoản giao dịch chứng khoỏn được mở, trong đó gần 2.000 tài khoản của NĐT nước ngoài Đến năm 2008, số lượng tài khoản giao dịch của cỏc NĐT đó lờn tới khoảng 300.000 tài khoản, trong đó cú trờn 7.000 tài khoản của NĐT nước ngoài Số lượng cỏc NĐT cú tổ chức cũng tăng lờn đáng kể, đến năm 2007 đó cú 35 Quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt

Trang 37

Nam, trong đó cú 23 quỹ đầu tư nước ngoài và 12 quỹ đầu tư trong nước Ngoài ra, cũn cú gần 50 tổ chức đầu tư theo hỡnh thức uỷ thỏc qua cụng ty chứng khoỏn [55]

Cú thể núi, dự mới ra đời nhưng TTCK Việt Nam đó thu hỳt được sự quan tõm của đông đảo cụng chỳng và toàn xó hội Do vậy, chỉ trong một thời gian ngắn TTCK đó đạt được những con số ấn tượng, nhanh chúng trở thành thị trường vốn quan trọng cho nền kinh tế đất nước

* Hoạt động của TTCK Việt Nam (1996 - 2008)

Ngày 28/7/2000, TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh chính thức hoạt động phiên đầu tiên, chỉ với hai loại cổ phiếu của hai công ty REE (CTCP

Cơ điện lạnh) và SAM (CTCP Cáp và vật liệu viễn thông) có vốn điều lệ tổng cộng khoảng 270 tỷ đồng Thị trường lúc đó chỉ có hai loại trái phiếu chính phủ với tổng giá trị niêm yết 600 tỷ đồng Nếu trong những ngày đầu, thị trường chỉ họp 3 phiên giao dịch/ tuần và giá trị mỗi phiên giao dịch chỉ vài chục triệu đồng thỡ cho tới năm 2005, TTCK đó hoạt động tương đối ổn định và tăng trưởng khá Tính đến ngày 30/4/2005, trên thị trường đó cú 28 cổ phiếu và một chứng chỉ quỹ đầu tư niêm yết với tổng giá trị vốn hoá (tính theo thị giá cổ phiếu) đó lờn tới 4.500 tỷ đồng và 227 loại trái phiếu với gần 27.000 tỷ đồng Tuy nhiên, với quy mô như vậy, dung lượng thị trường vẫn là quá nhỏ, chỉ khoảng 2% GDP [26, tr.121] vào thời kỳ đó nên sự vận động của chỉ số chứng khoán (VN Index) chưa phản ánh đúng trạng thái vận động của nền kinh tế

Trong 5 năm đầu tiên, TTCK Việt Nam đó cú những tăng trưởng nhất định song nhỡn chung vẫn cũn gặp nhiều khú khăn Chỉ số VN-Index không ổn định, khoảng cách dao động quá lớn Ví như: khi khai trương TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh, VN-Index là 100 điểm vào tháng 12/2000 thỡ đến ngày 25/06/2000 chỉ số đó tăng vọt lên 571,04 điểm rồi lại giảm liờn tục xuống cũn 130,91 điểm (ngày 24/10/03) Sau đó thỡ dao

Trang 38

động ở mức 250 điểm [11, tr.35] Tuy nhiờn, với sự nỗ lực của Chính phủ

và Nhà nước, sự biến động thất thường và quá lớn của chỉ số chứng khoán

đó được khắc phục UBCKNN đó chỉ đạo TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh áp dụng nhiều biện pháp để kích cầu trên thị trường Đến năm 2005, TTGDCK Hà Nội được khai trương, cổ phiếu cũng quyết định chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành CTCP … Các biện pháp này đó tỏc động tích cực tới tăng lượng cầu chứng khoán trên thị trường Nhờ đó, TTCK Việt Nam đó hỡnh thành xu hướng tăng trưởng mới, kéo VN-Index nhanh chóng vượt ngưỡng 320 điểm và đạt mức cao nhất trong năm là 322,59 điểm vào phiên thứ 1.162 ngày 7/11/2005 [48, tr.62] Đồng thời đây cũng là bước khẳng định của Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực mở cửa TTCK theo cam kết tiến trỡnh gia nhập WTO

Năm 2006, cầu chứng khoán tăng nhanh và mạnh là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cổ phiếu của các công ty niêm yết tăng giá liên tục Mức tăng giá cổ phiếu niêm yết trên các TTGDCK là khoảng 2,5 lần làm cho VN-Index tăng từ 305,28 điểm (vào 31/12/2005) lên 751 điểm (vào 31/12/06), tăng hơn 2,46 lần; HASTC-Index tăng từ 91,3 điểm (vào 31/12/2005) lên 242,89 điểm (vào 31/12/2006), tăng hơn 2,66 lần Khối lượng giao dịch cuối năm tại hai TTGDCK tăng đột biến, trung bỡnh đạt

600 đến 700 tỷ đồng/ phiên tại TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh và khoảng 100 tỷ đồng tại TTGDCK Hà Nội trong tháng 12/2006 so với 79,5

tỷ đồng/ phiên trước năm 2005 Điều đó cho thấy TTCK đó thu hút mạnh

mẽ các NĐT trong và ngoài nước tham gia giao dịch [40, tr.24]

Bên cạnh thị trường niêm yết, các NĐT cũn tớch cực tham gia đấu giá cổ phiếu của các doanh nghiệp Nhà nước đó cổ phần hoỏ ở thị trường thứ cấp Những tháng cuối năm 2006, các đợt đấu giá cổ phần của các doanh nghiệp cổ phần hoá tại các TTGDCK đó tạo ra lượng cầu lớn gấp nhiều lần lượng cung cổ phiếu Do đó, tổng giá trị vốn hoá thị trường của

Trang 39

cổ phiếu vào ngày 31/12/2006 là 221.156 tỷ đồng, đây chính là lượng cầu thực của TTCK về cổ phiếu tại thời điểm đó [26, tr.127]

Bước sang năm 2007, TTCK trở thành điểm quan tâm hàng đầu không chỉ của Chính phủ, Nhà nước, các NĐT mà cũn của đông đảo công chúng trong cả nước Vào quý II năm 2007, TTCK Việt Nam bước vào thời

kỳ phát triển sôi động và núng bỏng nhất Tính đến cuối tháng 3/2007, Index tăng trên 200% so với đầu năm 2006, điều này cho thấy quy mô của thị trường đó được mở rộng không chỉ về số lượng các công ty niêm yết mà cũn tăng nhanh về giá trị giao dịch Vào tháng 11/2006, chỉ số này là 660 điểm thỡ đến ngày 12/03/2007 đạt đỉnh 1.170,67 điểm (cho tới thời điểm hiện nay, chưa có một phiên giao dịch nào vượt qua được ngưỡng đó), đến cuối tháng 03/2007 vẫn ở mức 1.100 điểm Vào tháng 04/2007, chỉ số này bắt đầu giảm và đến ngày 31/12/2007 chỉ cũn 927,02 điểm Và kể từ thời gian này trở đi, TTCK bắt đầu có dấu hiệu suy giảm, đặc biệt từ tháng 6 - 7/2007 cho tới cuối năm 2008, TTCK vẫn chưa cú dấu hiệu phục hồi [50]

VN-Tuy nhiên, trong khoảng thời gian tháng 6/2007 đến tháng 6/2008 TTCK mới chỉ bắt đầu bộc lộ những bất ổn của mỡnh Tõm lý cỏc NĐT dao động, giá chứng khoán mất ổn định, chỉ số VN-Index giảm mạnh, đầu tiên là phá vỡ mức 1.000 điểm (ngày 16/07/2007) Từ đó đến nay, VN-Index liên tục thiết lập những đáy mới, có thể thấy diễn biến của TTCK trong những phiên giao dịch ảm đạm qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 1.2: Biểu đồ Vn-Index từ ngày 23/7/2007 đến ngày

3/8/2007

Trang 40

(Nguồn SSC)

Mặc dù Chính phủ đó đưa ra rất nhiều biện pháp nhằm phục hồi lại thị trường, song do TTCK của Việt Nam cũn non yếu lại chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới nên đó rơi vào suy thoái nghiêm trọng, đến nay vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục

Những quý cuối của năm 2007 khép lại với niềm hy vọng TTCK năm 2008 sẽ khởi sắc hơn Song năm 2008 vẫn là một năm “buồn” của TTCK và phiên giao dịch cuối cùng của năm là một phiên giao dịch giảm điểm Hàn thử biểu kết thúc phiên chỉ đạt 315,62 điểm, một con số mang lại nhiều thất vọng cho các NĐT

Thời gian suy thoái của TTCK kéo dài đó cú những tỏc động lớn tới nền kinh tế nói chung, tuy nhiên theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế thỡ TTCK Việt Nam cũn rất nhiều triển vọng và tiềm năng phát triển Trong thời gian tới TTCK chắc chắn sẽ sớm lấy lại quy mô cũng như tốc độ tăng trưởng thực sự của mỡnh Cú thể tổng kết quy mụ phỏt triển của TTCK Việt Nam theo bảng sau:

Ngày đăng: 23/03/2015, 07:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bớch, Toàn cảnh thị trường chứng khoán, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cảnh thị trường chứng khoán
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
2. Nguyễn Ngọc Bớch, Đi mua chứng khoán, Nxb Trẻ, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi mua chứng khoán
Nhà XB: Nxb Trẻ
3. John Boik, Vũ Việt Hằng dịch, Giàu từ chứng khoỏn: Bài học từ những nhà kinh doanh chứng khoỏn thành cụng nhất của mọi thời đại, Nxb Tri Thức, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giàu từ chứng khoỏn: Bài học từ những nhà kinh doanh chứng khoỏn thành cụng nhất của mọi thời đại
Nhà XB: Nxb Tri Thức
4. Lê Á Châu, Lê Đỡnh Thu, Hỡnh thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong bối cảnh tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á, Nxb Thống kờ, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỡnh thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong bối cảnh tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á
Nhà XB: Nxb Thống kờ
5. Trần Thị Minh Chõu, Những điều kiện kinh tế - xó hội để hỡnh thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam, LATS kinh tế , 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều kiện kinh tế - xó hội để hỡnh thành và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
6. Phạm Chớ Dũng, Tự sự chứng khoỏn: Những gam màu ỏm ảnh, Nxb Thông tấn, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự chứng khoỏn: Những gam màu ỏm ảnh
Nhà XB: Nxb Thông tấn
7. Nguyễn Anh Dũng, Tạ Văn Hùng, Nguyễn Thị Thiện Hảo, Thị trường chứng khoán: Dành cho những người mới bắt đầu, Nxb Tài chớnh, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán: Dành cho những người mới bắt đầu
Nhà XB: Nxb Tài chớnh
8. Nguyễn Minh Đức, Thị trường chứng khoán trong nền kinh tế chuyển đổi, Nxb Tài chính, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán trong nền kinh tế chuyển đổi
Nhà XB: Nxb Tài chính
9. Nguyễn Minh Đức, Thị trường chứng khoán - nhân tố của môi trường kinh doanh trong những điều kiện của nền kinh tế chuyển đổi, Luận ỏn TS, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán - nhân tố của môi trường kinh doanh trong những điều kiện của nền kinh tế chuyển đổi
10. Nguyễn Duy Gia, Một số vấn đề cần biết về thị trường chứng khoán Việt Nam, Nxb Chớnh trị, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cần biết về thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chớnh trị
11. Trần Xuõn Hà, Thị trường chứng khoán Việt Nam - 5 năm hỡnh thành và phỏt triển, Nxb Tài chớnh, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán Việt Nam - 5 năm hỡnh thành và phỏt triển
Nhà XB: Nxb Tài chớnh
12. Phan Thế Hải, Chứng khoỏn và con đường làm giàu, Nxb Thanh niờn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng khoỏn và con đường làm giàu
Nhà XB: Nxb Thanh niờn
13. Nghiờm Quý Hào, “Đột phá trong sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2006 - 2010, cổ phần hoá các tập đoàn, tổng công ty: Một tất yếu khách quan”, Tạp chớ chứng khoỏn Việt Nam, số 11, thỏng 11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đột phá trong sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2006 - 2010, cổ phần hoá các tập đoàn, tổng công ty: Một tất yếu khách quan”
14. Vũ Ngọc Hiền, Phũng trỏnh rủi ro trong đầu tư chứng khoán, Nxb Thanh niờn, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phũng trỏnh rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Nhà XB: Nxb Thanh niờn
15. Bựi Nguyờn Hoàn, Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần, Nxb Chớnh trị quốc gia, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần
Nhà XB: Nxb Chớnh trị quốc gia
16. Ngô Hướng, Thị trường tài chính và thị trường chứng khoán, Nxb Mũi Cà Mau, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường tài chính và thị trường chứng khoán
Nhà XB: Nxb Mũi Cà Mau
17. Jeffrey B.Little, Lucien Rhodes, Vừ Thanh Hương dịch, Tỡm hiểu phố U-ễn: Tỡm hiểu thị trường chứng khoán, Nxb Khoa học và kỹ thuật, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỡm hiểu phố U-ễn: Tỡm hiểu thị trường chứng khoán
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
18. Phan Lan, Cẩm nang đầu tư chứng khoán, Nxb Văn hoá thông tin, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang đầu tư chứng khoán
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
19. Trần Thị Thuỳ Linh , Phỏt triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hội nhập đến 2010, LA TS kinh tế, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phỏt triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hội nhập đến 2010
20. Nguyễn Văn Luân, Trần Quốc Tuấn, Ngô Minh Châu, Thị trường chứng khoán ở Việt Nam, Nxb Thống kờ, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hị trường chứng khoán ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kờ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mụ hỡnh cấu trỳc của TTTC - Sự tác động của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam
Sơ đồ 1.1 Mụ hỡnh cấu trỳc của TTTC (Trang 19)
Bảng 1.3: Quy mụ TTCK qua cỏc năm 1 - Sự tác động của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam
Bảng 1.3 Quy mụ TTCK qua cỏc năm 1 (Trang 41)
Sơ đồ 1.4: Mụ hỡnh TTCK Việt Nam - Sự tác động của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam
Sơ đồ 1.4 Mụ hỡnh TTCK Việt Nam (Trang 44)
Bảng 2.2: Những Quỹ đầu tư (QĐT) nước ngoài thành lập sau năm - Sự tác động của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam
Bảng 2.2 Những Quỹ đầu tư (QĐT) nước ngoài thành lập sau năm (Trang 65)
Bảng 2.3: Nguồn vốn của một số Quỹ đầu tư lớn nước ngoài tại Việt - Sự tác động của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam
Bảng 2.3 Nguồn vốn của một số Quỹ đầu tư lớn nước ngoài tại Việt (Trang 66)
Sơ đồ 2.1: Vị trí của TTCK trong thị trường tài chính - Sự tác động của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam
Sơ đồ 2.1 Vị trí của TTCK trong thị trường tài chính (Trang 72)
Sơ đồ 2.4: Mụ hỡnh phương thức huy động vốn phục vụ cổ phần hoỏ - Sự tác động của thị trường chứng khoán tới nền kinh tế Việt Nam
Sơ đồ 2.4 Mụ hỡnh phương thức huy động vốn phục vụ cổ phần hoỏ (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w