1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1954) qua một số công trình của người Pháp

118 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến thắng của nhân dân Việt Nam và nhân dân Đông Dương đối với chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược có sự giúp sức của đế quốc Mỹ để lại nhiều bài học quý báu cho sự nghiệp đấu tranh giải

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hoàng Văn Tuấn

Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1954) qua mô ̣t

số công trình của người Pháp Luận văn ThS Lịch sử: 60 22 50 Nghd : GS Vũ Dương Ninh

Trang 2

MỤC LỤC

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 6

Chương 1 VỀ NGUYÊN NHÂN BÙNG NỔ CHIẾN TRANH 8

1.1 Nước Pháp và mục tiêu tái chiếm Đông Dương 8

1.1.1 Đông Dương dưới ách thống trị Nhật - Pháp 8

1.1.2 Quan điểm thực dân của tướng De Gaulle về vấn đề Đông Dương 10 1.1.3 Tướng De Gaulle ráo riết chuẩn bị tái chiếm Đông Dương 12 1.2 Thực dân Pháp bước đầu tái xâm lược Đông Dương (9.1945 – 12.1946)

19

1.2.1 Thực dân Pháp gây chiến ở Nam bộ 19

1.2.2 Âm mưu và hoạt động của Pháp ở miền Bắc Hiệp định Sơ bộ 6.3.1946

24

1.2.3 Pháp ngăn cản và phá hoại việc thi hành Hiệp định Sơ bộ (6.3.1946 - 19.12.1946)

31

Chương 2 VỀ QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN CỦA CHIẾN TRANH 43

2.1 Hoạt động quân sự và chính trị của Pháp trong giai đoạn 1946-1950 43

2.1.1 Thực dân Pháp lao sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương 43

2.1.2 Về chiến dịch Việt Bắc năm 1947 47

2.1.4 Về chiến dịch Biên Giới 54 2.2 Những cố gắng không thành công của Pháp trong những năm 1951-1953 58

2.2.1 Về những nỗ lực giành lại quyền chủ động trong thời kỳ nắm quyền của tướng De Lattre (1951 - 1952)

58

2.2.2 Pháp nỗ lực bình định vùng chiếm đóng và đối phó với các

cuộc tiến công của quân đội Việt Nam (1952 - giữa 1953)

63

2.3.1 Sự điều chỉnh chiến lược mới của Pháp - Kế hoạch Navarre 68

Trang 3

2.3.2 Điện Biên Phủ được chọn làm điểm quyết chiến chiến lược 70

2.3.3 Về diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ 74

2.3.4 Về ý nghĩa, tác động của Điện Biên Phủ 76

Chương 3 VỀ QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA PHÁP VÀ SỰ KẾT THÚC CHIẾN TRANH

3.2.1 Vấn đề Đông Dương trong tính toán của các cường quốc 89

3.2.2 Nước Pháp và Hội nghị Genève về Đông Dương 90

3.2.3 Về kết quả, ý nghĩa của Hiệp định Genève 92 3.3 Về nguyên nhân thất bại của Pháp trong chiến tranh Đông Dương 94

3.3.1 Chính phủ Pháp không có đường lối thống nhất điều hành cuộc chiến

94

3.3.2 Binh lực Pháp không đủ, nhất là không quân và sự thiếu quan tâm của Chính phủ Pháp đến đội quân viễn chinh

95

3.3.3 Quân đội Pháp đã buộc phải chiến đấu trong những điều kiện

và theo chiến thuật cũng như chiến lược do phía Việt Nam đặt ra

97

3.3.4 Đánh giá không chính xác và coi thường đối phương 98

3.3.5 Tính chất xâm lược phi nghĩa của cuộc chiến đứng về phía Pháp 99

3.4 Về tác động của cuộc chiến tranh Đông Dương đối với nước Pháp 101

3.4.1 Tác động đến tình hình chính trị và sự phát triển kinh tế của nước Pháp sau chiến tranh thế giới thứ hai

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam mà người nước ngoài thường gọi là chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-1954) là một cuộc chiến kéo dài, ác liệt, chịu tác động và có ảnh hưởng không nhỏ đến quan

hệ quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai Chiến tranh Đông Dương không chỉ

là cuộc xung đột của hai bên tham chiến trực tiếp trên chiến trường mà đã trở thành cuộc đối đầu giữa hai thế lực phản ánh một phần tương quan lực lượng của hai hệ thống xã hội đối lập, “hai cực” trong trật tự thế giới được xác lập sau đại chiến Cuộc chiến đã kết thúc cách nay hơn nửa thế kỉ, nhưng vẫn để lại những dư âm, vẫn được nhắc đến như một thắng lợi vĩ đại của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân ở nửa sau của thế kỉ XX

Chiến thắng của nhân dân Việt Nam (và nhân dân Đông Dương) đối với chủ nghĩa thực dân Pháp xâm lược (có sự giúp sức của đế quốc Mỹ) để lại nhiều bài học quý báu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay

Về phía bên kia, những người Pháp nghĩ gì, họ đánh giá như thế nào về cuộc chiến tranh của nước Pháp ở Đông Dương? Đã có không ít công trình nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu và nhiều người Pháp từng tham gia chiến đấu ở Đông Dương Họ sưu tầm và khai thác nhiều nguồn tài liệu, phân tích, đánh giá từ nhiều quan điểm khác nhau, cung cấp cho người đọc nhiều thông tin và cách nhìn từ phía bên kia về cuộc chiến

Với mong muốn tìm hiểu một cách toàn diện về cuộc chiến tranh Đông Dương

(1945-1954), tôi đã lựa chọn đề tài “Chiến tranh Đông Dương (1945-1954) qua

một số công trình của người Pháp” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành

Trang 5

Về phía người Pháp, nhà sử học Ph.Devillers đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu để xác định nguyên nhân thực sự của cuộc

chiến tranh Đông Dương Tác phẩm “Paris - Sài Gòn - Hà Nội” dựa trên nhiều

nguồn tư liệu phong phú, nhất là những tư liệu mật lần đầu tiên được công bố ở Pháp năm 1987, đã chỉ ra nguyên nhân thực sự của cuộc chiến không phải do ngẫu nhiên, mà do tội lỗi, do sự “vụng về” hoặc “tính toán sai lầm” của giới chính trị và quân sự cao cấp của Pháp Đồng thời, qua đây tác giả cũng đi tới kết luận về tính chất của cuộc chiến tranh Đông Dương thực tế là một cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp

Cuốn kỷ yếu Hội thảo “Géneral De Gaulle et L’Indochine 1940-1946”

(Tướng De Gaulle và Đông Dương 1940-1946) tập hợp nhiều bài viết liên quan đến mối quan hệ Việt - Pháp trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai cho tới đầu năm 1946 Các bài viết phần nào chỉ ra những quan điểm, đường lối của nước Pháp trong vấn đề Đông Dương dưới thời De Gaulle Qua đó cũng cho thấy quá trình chuẩn bị và bước đầu quay trở lại xâm lược Đông Dương của quân đội Pháp

Cuốn “Sự mù quáng của tướng De Gaulle đối với cuộc chiến tranh Đông Dương” của tác giả P Quatrepoint góp phần làm sáng tỏ quan điểm sai lầm của

chủ nghĩa thực dân Pháp

Trong tác phẩm “Câu chuyện về một nền hoà bình bị bỏ lỡ” tác giả Sainteny

đã kể lại nhiều sự kiện về mối quan hệ Pháp - Việt trong thời gian từ chiến tranh thế giới thứ hai đến khi cuộc xung đột nổ ra trên toàn Đông Dương Là một nhân vật cao cấp của Pháp trong tiến trình dẫn tới cuộc chiến, Sainteny không tránh khỏi những nhận định thiếu khách quan, thậm chí xuyên tạc sự thật, song dẫu sao cũng là một tài liệu tham khảo cần quan tâm

Tướng Navarre, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương

(1953-1954), đã cho xuất bản 2 tác phẩm: “Đông Dương hấp hối” và “Thời điểm của những sự thật” Mặc dù viết ra với mục đích chủ yếu nhằm biện hộ trách nhiệm

và những thất bại của quân Pháp ở Điện Biên Phủ, nhưng đã cung cấp cho người đọc nhiều tư liệu, cách đánh giá tình hình, những khó khăn và sự bất đồng trong chính giới Pháp về vấn đề Đông Dương Qua đó, Navarre đưa ra ý kiến về nguyên nhân thất bại của Pháp Những nội dung này cũng được đề cập

Trang 6

trong cuốn “Tướng Navarre với trận Điện Biên Phủ” của Jean Pouget - sĩ quan

tuỳ tùng của Tổng chỉ huy Navarre ở Đông Dương

Cuốn “Cao-Bang la tragique épopée de la colonne Le Page” (Cao Bằng -

Sự nghiệp bi thảm của đại tá Le Page) của Marcel Le Page và cuốn hồi ký

“Con đường tử địa RC4-1950” của Charles Henri De Pirey là hai tác phẩm có

giá trị viết về những trận chiến diễn ra ở khu vực biên giới đông bắc Việt Nam

Là những người trực tiếp tham gia chỉ huy chiến đấu, các tác giả đã thuật lại một cách khá chi tiết và sinh động nhiều trận đánh trên đường số 4, nhất là những trận ác liệt ở vùng núi Cốc Xá trong chiến dịch Biên giới thu đông 1950; nêu lên những nhận định, đánh giá của họ về đối thủ, những suy ngẫm về thất bại của quân Pháp ở Biên giới Đông Bắc, về ý nghĩa và ảnh hưởng của sự kiện này đối với toàn bộ cuộc chiến tranh Đông Dương

André Teulieres trong cuốn “L’Indochine - Guerres et paix” (Đông Dương -

Chiến tranh và hoà bình) dành phần đầu thuật lại sự cai trị của Pháp ở Đông Dương, sự xâm nhập của phát xít Nhật vào Đông Dương, việc giành chính quyền của nhân dân Việt Nam, mối quan hệ Việt Nam - Pháp giai đoạn 1945-

1946, về cuộc chiến tranh Việt - Pháp (1946-1954) đặt trong bối cảnh hai cực

“giữa Đông và Tây”

Tác giả Gilles Férier đã dành phần I cuốn “Les trois guerres d’Indochine”

(Ba cuộc chiến tranh Đông Dương - Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), Chiến tranh Việt Nam (1960-1975), Chiến tranh ở Campuchia hay chiến tranh Đông Dương lần thứ ba (1975-1989)) viết về cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp (1945-1954) Trong 63 trang sách, tác giả đã trình bày một cách ngắn gọn

về lịch sử nền thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương từ năm 1858, sự thất bại của Pháp trong chiến tranh thế giới thứ hai, sự quay trở lại Đông Dương của quân đội Pháp, diễn biến của chiến tranh và sự ra đi của Pháp để nhường chỗ cho đế quốc Mỹ nhảy vào Đông Dương năm 1956

Một tác phẩm không thể không nhắc tới là cuốn sách của Françoise Joyaux

“Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất”

Với nguồn tư liệu phong phú, tác giả đã thuật lại khá chi tiết, đưa ra những đánh giá sắc sảo về những mối liên hệ chằng chéo giữa các bên tham chiến (Pháp - Việt Nam) với những “đồng minh” của mỗi bên, nhất là với các nước

Trang 7

lớn Người đọc có thể nhận thấy tính chất phức tạp, tính quốc tế hoá ngày càng bộc lộ rõ trong cuộc chiến tranh Đông Dương, nhất là trong cuộc đấu tranh ngoại giao ở Genève để đi tới chấm dứt cuộc chiến này

Ngoài các công trình nêu trên, còn có thể kể tới các tác phẩm: “Đông Dương nền thực dân nước đôi” của P.Brocheux và D.Hémery, “La guerre en Indochine 1945-1954” (Chiến tranh Đông Dương 1945-1954) của G.Pleury,

P.A.Poole Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi khai thác các cuốn sách này để làm rõ hơn cách nhìn nhận của thế giới đối với người Pháp trong chiến tranh Đông Dương

Về phía Việt Nam, trước hết phải kể đến những nghị quyết của Đảng, những bài nói và viết, những cuốn sách của các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam như

Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, và nhiều nhà chỉ huy quân sự Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954)

Cuốn “Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954” trình

bày một cách khá đầy đủ, chi tiết về cuộc chiến, từ nguyên nhân, tính chất, diễn biến và những bài học kinh nghiệm trong quá trình chỉ đạo của Đảng đưa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp Với nguồn tư liệu phong phú, cuốn sách đã cung cấp cho người đọc cái nhìn toàn diện về cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ở Đông Dương giai đoạn 1945-1954

Tác phẩm “Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học” là một bản tổng kết sâu sắc về sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của

Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng Tư lệnh đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ Tác phẩm rút ra

Trang 8

những bài học kinh nghiệm quý báu, đồng thời cũng thẳng thắn thừa nhận một

số thiếu sót trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến

Tác giả Trần Trọng Trung có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về

cuộc chiến Đông Dương, trong đó phải kể đến tác phẩm “Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu” Với nhiều tài liệu phong phú, nhiều trích dẫn từ các sách

báo nước ngoài, tác giả đã phân tích, trình bày về các hoạt động của thực dân Pháp ở Đông Dương từ khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ; Phác hoạ quá trình trở lại xâm lược Đông Dương của Pháp và diễn biến các trận đánh tiêu biểu, chỉ ra những nguyên nhân thất bại của thực dân Pháp

Các tác giả Lưu Văn Lợi - Nguyễn Hồng Thạch trong cuốn “Pháp tái chiếm Đông Dương và chiến tranh lạnh” tiếp cận cuộc chiến tranh Đông Dương trong

bối cảnh chiến tranh lạnh Cuốn sách đã chỉ ra quá trình Pháp quay trở lại Đông Dương và đế quốc Mỹ dính líu vào cuộc chiến, tính chất quốc tế của cuộc chiến, những ảnh hưởng của chiến tranh lạnh đối với Đông Dương Chín bản phụ lục về các hiệp định, hiệp ước giữa Pháp và các nước Đông Dương, tuyên

bố của Tổng thống Mỹ và phái đoàn Mỹ ở Genève, Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á (SEATO) là những nguồn tư liệu tham khảo có giá trị

Tác giả Nguyễn Đình Bin chủ biên công trình nghiên cứu “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000” dành hai chương đầu để phân tích cuộc đấu tranh trên mặt

trận ngoại giao của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong lĩnh vực nghiên cứu về mặt trận

ngoại giao trong kháng chiến chống Pháp còn phải kể tới cuốn “Ngoại giao Việt Nam 1945-1995” của nhà ngoại giao Lưu Văn Lợi

Ngoài ra, còn có rất nhiều bài nghiên cứu của nhiều tác giả viết về các khía cạnh của cuộc chiến

Nhiều bài viết, các tham luận trong các hội thảo về cuộc chiến tranh Đông

Dương, về chiến thắng Điện Biên Phủ được tập hợp trong hai cuốn “Điện Biên Phủ hợp tuyển công trình khoa học” và “Điện Biên Phủ dưới góc nhìn của các nhà khoa học Việt - Pháp”

Trong luận văn này, những tài liệu trên được sử dụng như những đối chứng làm rõ đúng sai trong quan điểm của người Pháp như đề tài của luận văn

đã xác định

Trang 9

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

- Mục đích của luận văn: Thực hiện đề tài luận văn, tác giả mong muốn tìm

hiểu sâu hơn về cuộc chiến tranh Đông Dương (1945-1954), qua đánh giá của những người Pháp về cuộc chiến tranh này Cách nhìn nhận của họ, tuy có nhiều điểm không phù hợp nhưng cũng là nguồn tài liệu nên khai thác để thấy được những khía cạnh của cuộc chiến

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là các công trình của người Pháp viết

về chiến tranh Đông Dương và cuộc chiến đấu của nhân dân Đông Dương chống Pháp, bảo vệ nền độc lập

- Phạm vi nghiên cứu:

Về mặt thời gian, chủ yếu tập trung vào thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh Đông Dương (1945-1954), song có mở rộng từ đầu những năm 1940 để thấy được mưu đồ và quá trình chuẩn bị tái chiếm Đông Dương của thực dân Pháp, đồng thời kéo dài đến đầu những năm 1960 để thấy được những tác động của cuộc chiến đối với sự tan rã hệ thống thuộc địa của Pháp

Về mặt không gian, là chiến trường Đông Dương, luận văn tập trung vào chiến trường Việt Nam, nơi diễn ra những sự kiện chủ yếu trong cuộc chiến tranh Ngoài ra, ở đôi chỗ giới hạn không gian được mở rộng để thấy được những mối quan hệ quốc tế phức tạp ảnh hưởng đến diễn biến và kết cục của cuộc chiến

- Nội dung nghiên cứu: Luận văn phân tích cách nhìn nhận, đánh giá của các nhà nghiên cứu Pháp về các vấn đề nguồn gốc, diễn biến, kết quả và tác động của cuộc chiến tranh Đông Dương (1945-1954) qua đó có sự phê phán theo quan điểm của Việt Nam

4 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu chính là các công trình nghiên cứu của các tác giả người Pháp (chủ yếu là các công trình đã được dịch sang tiếng Việt), bao gồm các cuốn sách, các bài báo, các tham luận tại các hội thảo về cuộc chiến tranh Đông Dương Ngoài ra còn tham khảo một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài có đề cập đến các khía cạnh của cuộc chiến trên bình diện quốc tế

Trang 10

Nguồn tài liệu của Việt Nam cũng có ý nghĩa quan trọng góp phần định hướng, đối chiếu để thấy được những điểm khác biệt trong cách nhìn của hai bên về cuộc chiến

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu sử dụng để thực hiện luận văn là thông qua các công trình của các tác giả người Pháp viết về chiến tranh Đông Dương (đã được công bố, chủ yếu là các công trình đã được dịch sang tiếng Việt) để thấy được những quan điểm nhận định, đánh giá của họ đối với các vấn đề liên quan đến cuộc chiến tranh Đông Dương Dựa trên quan điểm duy vật lịch sử và đường lối cách mạng của Đảng, đồng thời sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu tư liệu để luận văn có sự phê phán và đưa ra ý kiến của tác giả về các vấn đề được bàn tới

6 Đóng góp của luận văn

- Góp phần nghiên cứu cuộc chiến tranh Đông Dương thông qua việc khai thác tài liệu và phân tích quan điểm đánh giá của những người ở phía bên kia

về cuộc chiến

- Luận văn có thể được sử dụng làm một tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954)

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1 Về nguyên nhân bùng nổ chiến tranh: trình bày những quan điểm của người Pháp về tình hình Đông Dương trong thời gian chiến tranh thế giới thứ 2 và quá trình chuẩn bị trở lại xâm lược Đông Dương của Pháp

Chương 2 Về quá trình diễn biến của chiến tranh: Nêu lên cách nhìn nhận của người Pháp về những diễn biến chủ yếu của cuộc chiến

Chương 3 Về quan hệ quốc tế của Pháp và sự kết thúc chiến tranh: Trình bày những nhận định của người Pháp về các vấn đề liên quan đến sự quốc tế hoá chiến tranh Đông Dương, những mối quan hệ giữa các bên tham chiến với các nước lớn trên thế giới, về giải pháp kết thúc chiến tranh cũng như những đánh giá về tác động của cuộc chiến đối với nước Pháp

Trang 11

Chương 1

VỀ NGUYÊN NHÂN BÙNG NỔ CHIẾN TRANH

1.1 Nước Pháp và mục tiêu tái chiếm Đông Dương

1.1.1 Đông Dương dưới ách thống trị Nhật - Pháp

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát xít Đức nổ súng xâm lược Ba Lan, mở đầu cho chiến tranh thế giới thứ hai Sau khi chiếm đóng Ba Lan, Bỉ, Luxembourg, phát xít Đức tấn công Pháp Ngày 4 tháng 6 năm 1940, Paris thất thủ Ngày 22 tháng 6 năm 1940, Pháp đầu hàng Đức Đức chiếm đóng miền bắc nước Pháp

Ở miền nam, một chính quyền thân Đức được dựng lên, do Pétain cầm đầu, đóng trụ sở tại Vichy Chỉ có một bộ phận nhỏ do De Gaulle chỉ huy chạy ra nước ngoài tổ chức lực lượng, mua sắm vũ khí, tiếp tục chống phát xít Đức Lợi dụng sự thất bại của Pháp ở châu Âu, phát xít Nhật từng bước nhảy vào xâm lược Đông Dương Tháng 6/1940, Nhật đòi Pháp cắt đứt đường thông thương qua Vân Nam (và cả nước Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch) và đe doạ

sẽ dùng vũ lực can thiệp vào Đông Dương nếu Pháp không chấp thuận Chính phủ Pháp sợ rằng thái độ cứng rắn của Toàn quyền Catroux sẽ khiến quân Pháp phải đương đầu với cuộc tấn công của Nhật ở Đông Dương Ngày 26.6.1940, chính phủ Vichy cách chức Toàn quyền Đông Dương của Catroux, thay vào đó

là đô đốc Decoux theo phái Pétain

Sau khi tấn công Trân Châu Cảng (7.12.1941), mở đầu chiến tranh Thái Bình Dương, chỉ trong ba tháng, phát xít Nhật đã chiếm gọn cả miền Đông Nam Á và quét sạch các hệ thống cai trị của Mỹ (ở Philippin), Anh (tại Malai, Singapore, Miến Điện) và Hà Lan (tại Indonesia) Chỉ duy nhất còn lại Đông Dương vẫn dưới quyền cai trị của nước Pháp

Toàn quyền Decoux và các cộng sự của ông ta nuôi hy vọng có thể giữ vững được tình thế (tức nắm quyền kiểm soát hành chính trên danh nghĩa) cho đến khi kết thúc chiến tranh bằng cách hành động khéo léo, tránh khiêu khích Nhật Do sự nhân nhượng của Decoux ở Đông Dương cùng đường lối thân Đức của chính phủ Vichy, phát xít Nhật cho rằng chưa cần thiết phải ra tay đối với quân Pháp ở Đông Dương Vì thế, “trong cuộc đại chiến khủng khiếp ở Thái Bình Dương kéo dài tới 44 tháng đó, Đông Pháp (tức Đông Dương thuộc Pháp)

Trang 12

vẫn là một khu vực không hoạt động Nó như một hải cảng yên tĩnh giữa một cơn bão táp” [34, tr.274] Để có được sự “yên tĩnh” đó, chính quyền Pháp phải trả bằng hàng loạt hiệp ước nhân nhượng Nhật về kinh tế và quân sự

Ngày 22.9.1940, chính quyền Pháp ở Đông Dương phải “kí hiệp ước đầu tiên về quân sự, cho phép các đơn vị quân Nhật có thể đi qua lãnh thổ Đông Dương” [52, tr.47] Cụ thể, hiệp ước này “đã đặt 3 sân bay dưới quyền sử dụng của không quân Nhật Bản và cho phép 5000 đến 6000 lính Nhật được đồn trú tại phía bắc sông Hồng” [65, tr.413] Ngày 16.5.1941, chính phủ Vichy kí với Nhật Bản “văn bản đầu tiên về kinh tế, chấp nhận cung cấp cho Nhật lương thực thực phẩm và các sản phẩm khai mỏ với giá rẻ” [52, tr.49] Ngày 14.7.1941 Nhật đòi được quyền đi lại một cách dễ dàng ở miền Nam Tiếp đó, ngày 29.7.1941, chính quyền Pháp phải kí hiệp định “phòng thủ chung” (Hiệp định Kato-Darlan), cho phép quân Nhật được đóng trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương Như vậy, phát xít Nhật đã chiếm được Đông Dương, biến nơi đây thành căn cứ đóng quân và tiền đồn quan trọng để tiến xuống khu vực Đông Nam châu Á trong khi vẫn duy trì quyền cai trị của thực dân Pháp

Đối với chính quyền Pháp, “nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất, theo ông Decoux là giữ cho được quyền uy của nước Pháp và tôn trọng những điều đã cam kết trong các thoả ước Pháp - Nhật” Vì thế, “đô đốc và những cộng sự thân cận nhất của ông, như G.Gautier và C.De Boisanger, tiến hành một trò chơi tế nhị bằng cách thử giữ những cái mà các ông coi là quyền lợi của nước Pháp, trong khi vẫn tôn trọng các thoả ước đã ký với chính phủ Nhật Bản, nghĩa là nhượng bộ đến mức tối thiểu cho phép những yêu sách của Nhật” [65, tr.415] Như thế, sự yên tĩnh ở Đông Dương trong thời gian này chỉ là lớp phủ bên ngoài của những mâu thuẫn và đấu tranh quyết liệt Cả hai bên, Pháp và Nhật, đều lợi dụng nhau để đạt được mục tiêu của mình, đồng thời cũng chuẩn bị sẵn sàng các điều kiện để loại bỏ đối thủ Nhật Bản ra sức lôi kéo các tầng lớp trí thức nhằm tuyên truyền cho tư tưởng Đại Đông Á Chính quyền thực dân Pháp cũng đưa ra một số cải cách, như sử dụng nhiều hơn các công chức bản xứ, tăng lương và giảm bớt bất bình đẳng giữa công chức người Việt và người Pháp, tổ chức các hoạt động văn hoá, xuất bản nhiều ấn phẩm nhằm tuyên truyền tinh thần đoàn kết Pháp - Việt,

Trang 13

Cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương ngày càng quyết liệt Nhu cầu về lương thực, thực phẩm và các hàng hoá phục vụ cho chiến tranh của Nhật ngày càng cao Để đáp ứng những đòi hỏi đó của quân Nhật, chính quyền thực dân Pháp đã thi hành ở Đông Dương chính sách kinh tế chỉ huy, thu mua lương thực của nhân dân với giá rẻ Chúng còn bắt nhân dân ta nhổ bỏ diện tích lương thực chuyển sang trồng thầu dầu, lạc, bông để cung cấp dầu và quân trang cho quân đội Nhật1 Gánh nặng cuộc chiến tranh đổ lên đầu nhân dân Đông Dương, đưa tới nạn đói khủng khiếp vào năm 1945 Chỉ với một câu ngắn gọn, P.Brocheux

và D.Hémery đã đánh giá một cách đầy đủ nguyên nhân và mức độ của sự kiện này: “nạn đói miền Bắc cung cấp một tư liệu lý tưởng để tố giác sự thiếu trách nhiệm của chế độ thuộc địa và cả sự thông đồng Pháp - Nhật nhằm thanh toán bớt dân số Việt Nam”2

[65, tr.427] Đó cũng chính là hình ảnh khái quát nhất về đời sống của nhân dân Đông Dương dưới ách thống trị Nhật - Pháp

1.1.2 Quan điểm thực dân của tướng De Gaulle về vấn đề Đông Dương

Đông Dương là một trong những thuộc địa quan trọng nhất của đế quốc Pháp Vì thế, trong mọi tình huống, nước Pháp không bao giờ có ý định từ bỏ việc nô dịch vùng đất này

“Phong trào nước Pháp tự do”3

của phái De Gaulle mặc dù đang bị chi phối bởi nhiều nhiệm vụ cấp bách vẫn rất quan tâm đến số phận tương lai của xứ Đông Dương thuộc Pháp

Trái ngược với biện pháp thoả hiệp của chính quyền Pétain và Decoux, De Gaulle cho rằng nước Pháp chỉ có thể giữ được vai trò và bảo vệ được lập trường của mình trước mặt các Đồng minh nếu Pháp tham gia chiến tranh chống Nhật, lập lại chủ quyền toàn vẹn với tất cả quyền hành của mình trên đất Đông Dương bằng quân sự

1

Diện tích trồng thầu dầu và lạc tăng “từ 17.500 ha năm 1939 lên tới 59000 ha năm 1942 và 68000 ha năm 1944”, còn “diện tích dành để trồng bông từ 7000 ha năm 1939 lên tới 19000 ha năm 1942 và 52000 ha năm 1944” Số tiền mà chính quyền Pháp ở Đông Dương phải cung cấp cho quân Nhật cũng ngày càng lớn (58 triệu đồng năm 1941, 117 triệu đồng năm 1943, 363 triệu đồng năm 1944) [65, tr.425]

2

Theo P.Brocheux và D.Hémery, trong 7 tháng đầu năm 1944, chỉ có 8600 tấn gạo được bốc lên ở Sài Gòn để chở ra Bắc kỳ (năm 1940 là 80000 tấn) Vụ thất thu gạo mùa đông 1944-1945 đã dìm Bắc kỳ và Bắc An Nam vào một nạn đói khủng khiếp, số người chết ước chừng 1 triệu (thực tế là khoảng 2 triệu) Tháng 9.1945 khi quân Anh kiểm kê những kho gạo ở Chợ Lớn, họ đã đi đến những con số đánh giá như sau: 60.000 tấn trong các kho gạo của Nhật thuộc công ty Mitsui, 66.000 tấn tại các cửa hàng của uỷ ban lúa gạo Còn tại các kho của Nhật ở các tỉnh Nam kỳ, Cao Miên và Bắc

An Nam thì con số là 25.000 tấn; các kho gạo tư nhân Nam kỳ được ước lượng có 100.000 tấn, ở Cao Miên là 50.000 tấn [65, tr.426-427]

3 Là tên gọi tổ chức kháng chiến lưu vong của Pháp được thành lập ở London (Anh) bởi tướng De Gaulle 6.1940 Tập hợp những đội quân theo tổ chức này được gọi là Quân đội nước Pháp tự do (Forces français libres

- FFL) Ngày 14.7.1943, tổ chức này đổi tên thành “Nước Pháp chiến đấu”

Trang 14

Ngày 18.6.1940, từ London, De Gaulle phát đi lời kêu gọi phải bảo vệ Đông Dương trước tham vọng xâm lược của phát xít Nhật

Ngày 8 tháng 12 năm 1943, nhân kỉ niệm lần thứ hai ngày xảy ra cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Uỷ ban giải phóng dân tộc Pháp (C.F.L.N) công

bố một bản thông cáo về Đông Dương Bản thông cáo với nhiều lời lẽ hoa mỹ

đã đưa ra dự định về việc ban hành một quy chế chính trị mới với những quyền

tự do rộng rãi hơn cho Đông Dương Theo đó, De Gaulle hứa sẽ nới lỏng thể chế thuộc địa ở Đông Dương, nhưng đồng thời cũng khẳng định tái lập những quyền lợi của nước Pháp tại thuộc địa này

Ngay sau đó, C.F.L.N (đóng trụ sở tại Alger) gửi qua con đường Trung Quốc những chỉ thị cho mạng lưới quân sự kháng chiến Pháp tại Hà Nội Trong bức thư ngày 29.2.1944 gửi cho tướng Mordant, khi đó là chỉ huy tối cao quân đội Đông Dương, De Gaulle xác định rằng “chỉ có sự tham gia một cách thiết thực của chúng ta và bởi quân đội cho nền tự do của Đông Dương mới có thể phục hồi lại một cách trọn vẹn những quyền lực của chúng ta” De Gaulle cũng khẳng định “thời điểm đã tới để Đông Dương phụ thuộc vào quyền lực của Uỷ ban giải phóng quốc gia” De Gaulle yêu cầu Mordant nghiên cứu đề xuất tất cả những vấn đề liên quan đến cách tổ chức, chỉ đạo kháng chiến và đệ trình lên C.F.L.N Cuối cùng ông ta nói: “Kết quả chủ yếu nhất của cuộc kháng chiến này ở bên trong Đông Dương tuỳ thuộc sự quay trở lại một cách không bàn cãi

của Đông Dương vào Đế chế Pháp”[52, tr.59]

Có thể nói, cho tới lúc này, những người theo phái De Gaulle cũng như những người theo chính phủ Vichy dường như vẫn đặt niềm tin tưởng trọn vẹn vào “sự trung thành của người dân Đông Dương” đối với đế chế Pháp Quan điểm đó đã tồn tại ở Pháp từ cuối thế kỉ XIX, xuất phát từ tư tưởng “nước Pháp

là trung tâm”, cho rằng nước Pháp có một sứ mệnh vừa là giải phóng vừa là khai hoá văn minh cho nhân dân Đông Dương Họ cho rằng “Các dân tộc Đông Dương không có lý do chính đáng nào để mong muốn tách ra khỏi nước Pháp, đòi hỏi độc lập dân tộc, bởi vì độc lập sẽ làm cho các dân tộc ấy lại rơi vào

“những bóng tối của bên ngoài”… Người ta đòi hỏi người Annam phải tin tưởng (một cách mù quáng) vào nước Pháp, bởi vì nước Pháp, theo định nghĩa, chính là

Trang 15

sự độ lượng, sự trật tự và sự tiến bộ, và người ta chỉ có thể ngưỡng mộ nước

Pháp hơn tất cả các nước khác, có nghĩa là đi với Pháp mãi mãi” [63, tr47- 48]

Trong Hội nghị các nước châu Phi thuộc Pháp diễn ra từ ngày 1- 8.2.1944 tại Brazzaville, mọi tư tưởng giải phóng các dân tộc thuộc địa sau chiến tranh đều bị gạt bỏ Pleven, đại diện chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp tuyên bố không úp mở rằng “Trong khuôn khổ đế quốc Pháp, không hề có vấn đề dân tộc để giải phóng, cũng không hề có vấn đề phân biệt chủng tộc để thủ tiêu [ ] Các dân tộc hải ngoại (thuộc địa) không hề biết đến nền độc lập nào khác ngoài nền độc lập của nước Pháp” Tại Hội nghị này, De Gaulle cũng tuyên bố “Vị trí của nước Pháp ở Đông Dương rất đơn giản, nước Pháp có ý định thu hồi chủ quyền của mình trên toàn xứ, dĩ nhiên là sự khôi phục sẽ kéo theo một thể chế mới, nhưng đối với chúng ta, chủ quyền của nước Pháp là vấn đề hàng đầu” [Dẫn theo 17, 8]

Như thế, De Gaulle không hề nhận thấy những điều kiện ở Đông Dương đã hoàn toàn thay đổi và những quan điểm của ông ta về vấn đề Đông Dương đã trở nên hết sức lỗi thời so với những gì đang diễn ra tại vùng đất này

1.1.3 Tướng De Gaulle ráo riết chuẩn bị tái chiếm Đông Dương

Từ năm 1943, vấn đề đặt ra cho De Gaulle và Uỷ ban giải phóng dân tộc Pháp ở Alger là làm thế nào để giải phóng Đông Dương “Giải phóng Đông Dương” ở đây có nghĩa là giành lại Đông Dương từ tay phát xít Nhật để đặt lại ách thống trị của Pháp; “Giải phóng” còn có nghĩa là dùng bạo lực để buộc nhân dân Đông Dương phải chấp nhận những “quyền tự do theo kiểu Pháp” như hồi trước chiến tranh Nhưng lúc này trong tay phe kháng chiến Pháp không có lực lượng gì đáng kể Chỉ có thể trông chờ vào sự giúp đỡ của các Đồng minh (cụ thể là Mỹ và Anh) Nhưng việc này không hề dễ dàng Nước

Mỹ của Roosevelt đang lộ rõ ý muốn biến Đông Dương thành một vùng “quản thác quốc tế” mà thực chất là sẽ trở thành một vùng đặt dưới quyền kiểm soát của Mỹ Mối quan hệ Anh-Pháp cũng đang rất căng thẳng trong vấn đề Trung Đông Cuối cùng, De Gaulle đã quyết định nhượng bộ Anh ở Trung Đông, đổi lại Anh sẽ giúp Pháp chuẩn bị trở lại Đông Dương Tuy thế việc chuẩn bị lực lượng cho Pháp trở lại Đông Dương vẫn rất khó khăn Do đó, De Gaulle càng nhận thức rõ cần phải dựa vào các “Nhóm kháng chiến” và lực lượng có sẵn

Trang 16

của Pháp ở Đông Dương (khoảng 60.000 lính Pháp và lính thuộc địa chính quy đang có mặt tại Đông Dương) De Gaulle đặt hy vọng thực sự vào số quân này Vấn đề nhanh chóng bắt liên lạc trực tiếp với Mordant dần dần trở thành nhiệm

vụ cấp thiết và phương sách duy nhất để tránh cho Pháp khỏi bị gạt ra rìa, tụt hậu và khỏi lỡ thời cơ may mắn khi quân Đồng minh đổ bộ vào Đông Dương

Từ cuối năm 1943 đến giữa năm 1944, một số sĩ quan tình báo Pháp lần lượt được thả dù xuống vùng biên giới bắc Việt Nam Họ lẻn về Hà Nội, bí mật liên lạc với Mordant và “Nhóm kháng chiến” để truyền đạt chỉ thị hành động của De Gaulle Để chỉ đạo kịp thời, ngày 26.12.1944, De Gaulle quyết định tổ chức “Ban hành động”, đặt trụ sở tại Calcutta, dưới quyền chỉ huy của Crèvecoeur, nhiệm vụ trước mắt là tổ chức mạng lưới thu lượm tin tức về Đông Dương và làm cái cầu liên lạc giữa người Pháp ở Đông Dương với Paris Khi thời cơ đến, tức là khi đã có điều kiện tiến hành “các chiến dịch quy mô lớn”, Ban này sẽ do Blaizot trực tiếp chỉ huy để tiến hành các kế hoạch đưa quân đội Pháp trở lại Đông Dương Thông qua Ban hành động ở Calcutta, De Gaulle không ngừng chỉ thị cho Mordant phải chuẩn bị “sẵn sàng chiến đấu phối hợp” khi quân Pháp từ ngoài theo quân Anh – Mỹ đổ bộ vào De Gaulle đã nhiều lần nhấn mạnh với Mordant rằng trong bất kì trường hợp nào cũng không để quân

đội Pháp bị loại khỏi vòng chiến

Từ năm 1943, De Gaulle đã dự định thành lập “Đội quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông” (CEFEO) Tháng 9.1944, De Gaulle và giới cầm quyền Pháp trù tính việc tổ chức lại hai sư đoàn bộ binh thuộc địa Viễn Đông (1ere DICEO và 2eDICEO) để đưa sang chiến trường châu Á Nhưng do những khó khăn quá lớn của nước Pháp, nên ý định này chưa thể thực hiện Tại Calcutta, chừng 600 lính biệt kích được tổ chức thành binh đoàn ứng chiến nhẹ (CLI) Đây là những tên lính đầu tiên để tổ chức thành trung đoàn bộ binh thuộc địa thứ 5 (5e RIC) sau này Tại Madagascar, từ cuối năm 1944 Lữ đoàn Viễn Đông được tổ chức, với thành phần hầu hết là lính thuộc địa

Như vậy, đến cuối năm 1944, lực lượng quân Pháp dự định dành cho Viễn Đông bao gồm:

- “Lực lượng quân đội Pháp dành cho Viễn Đông” (gồm khoảng 15.000 người) dưới sự chỉ huy của tướng Blaizot Lực lượng này đã được gửi đến

Trang 17

Ceylan (Srilanca), nơi đặt Tổng hành dinh của quân Anh, chịu trách nhiệm chiến trường Đông Nam Á, và “Lữ đoàn hạng nhẹ Viễn Đông”, đến đầu năm

1945 được bổ sung thêm hai Lữ đoàn bộ binh;

- “Binh đoàn ứng chiến nhẹ” gồm các chuyên viên kĩ thuật và khoảng 20 viên chức chuyên môn Viễn Đông, sẽ đến Ceylan vào tháng 5 – 6.1945;

- “Nhóm đồng hoá đặc biệt cho Viễn Đông” bao gồm các nhân viên quân sự

và dân sự dành cho “sự hợp tác hành động của các cơ quan đại biện lâm thời để chuẩn bị các biện pháp an ninh chính trị và quân sự ở Đông Dương (và) bảo đảm việc đặt lại địa vị hành chính của Pháp và giải quyết tất cả các vấn đề về

lợi ích của dân chúng trong khi tác chiến”[52, 29]

Đầu năm 1945, trước sự chuyển biến của chiến trường Thái Bình Dương, Paris tăng cường đẩy mạnh những sự chuẩn bị quy mô lớn: gấp rút thành lập

“đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông” (CEFEO) đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Blaizot; thêm vào đó là những đơn vị ở Trung Hoa dưới sự điều khiển của tướng Alessandri (sau đó là tướng Sabattier) Vấn đề đặt ra lúc này là cần phải chuyển ngay đạo quân ấy sang Viễn Đông, bằng con đường Thái Bình Dương và tất nhiên là với sự giúp sức của Mỹ Đây là hai sư đoàn quân mà người ta hy vọng có thể trực tiếp tham gia trận đánh cuối cùng chống lại quân Nhật Với De Gaulle, đạo quân ấy phải có mặt khắp mọi nơi Chỉ có tham gia tích cực vào cuộc chiến cùng với các Đồng minh, nước Pháp mới mong có cơ hội được dự “bữa tiệc chiến thắng” Sau này J.Sainteny cũng khẳng định với toán quân của đại tá hải quân Commentri ở vịnh Hạ Long: “…Chúng ta phải có mặt ở khắp mọi nơi, ở bất cứ chỗ nào mà nhóm nhỏ nhất trong chúng ta có may mắn được chiến đấu Sẽ là những tài khoản ghi trong ngân hàng tín dụng của Pháp khi xảy đến thời điểm bắt bọn xâm lược (tức chỉ Nhật Bản) phải trả nợ”, bởi trên thực tế như Saiteny nói “các Đồng minh đã chiến đấu hoàn toàn không

có chúng ta (nước Pháp)”[37, tr51]

Ngày 15 tháng 6 năm 1945, GPRF (Chính phủ lâm thời Cộng hoà Pháp, thành lập ngày 10.9.1944) ấn định tổ chức “Đạo quân viễn chinh Pháp ở Viễn Đông” (CEFEO), đồng thời cử tướng Leclerc làm Tư lệnh CEFEO thay Blaizot Sau khi ổn định tổ chức, biên chế, chính phủ Pháp liền báo tin đặt CEFEO dưới sự chỉ huy của tướng Mỹ Mac Arthur - Tư lệnh lực lượng Đồng

Trang 18

minh ở Viễn Đông - để cùng tham gia chiến đấu chống Nhật Khi nhận được thông báo này, Chính phủ Mỹ chấp nhận trên nguyên tắc nhưng không cung cấp cho Pháp các phương tiện để chở quân Nhận thức rõ việc nước Pháp đang

bị các Đồng minh bỏ rơi, nhất là tại các hội nghị quan trọng như Cairo, Teheran, Potsdam đều không có đại diện Pháp, De Gaulle càng xúc tiến mạnh

mẽ việc cử đội quân viễn chinh tham gia chống Nhật Do Mỹ cố tình trì hoãn việc cung cấp phương tiện chở quân, De Gaulle phải cầu cứu Anh Lời đề nghị của Pháp được Anh chấp nhận Đô đốc Mounbatten - Tư lệnh lực lượng Anh ở Viễn Đông - đồng ý tiếp nhận lực lượng CEFEO của Pháp Một kế hoạch tác chiến được vạch ra: “lực lượng CEFEO của Pháp sẽ tập kết ở Ấn Độ, sau khi Anh chiếm lại Singapore, lực lượng này sẽ được “ưu tiên” đổ bộ lên bán đảo Đông Dương”[Dẫn theo 42, tr.80]

Kế hoạch của Pháp gặp rất nhiều khó khăn, nhất là về vấn đề vận chuyển số quân khoảng 70.000 lính từ Pháp sang Đông Dương, trong khi hầu hết các tàu của Pháp đều đang được trưng dụng để vận chuyển quân đội Đồng minh

Điều quan trọng nhất lúc này là, nước Pháp không thể hy vọng vào sự phối hợp hành động của các lực lượng kháng chiến của Pháp ở Đông Dương khi quân Pháp ở bên ngoài cùng quân Anh đổ bộ vào đây Ngày 9 tháng 3 năm

1945, nhằm ngăn chặn một cuộc tập kích của lực lượng Pháp ở Đông Dương đồng thời với cuộc tấn công của quân Đồng minh có thể xảy ra, phát xít Nhật

đã quyết định loại bỏ Pháp để độc chiếm Đông Dương Trước cuộc tấn công mạnh mẽ, đồng loạt của quân Nhật, toàn bộ lực lượng Pháp ở Đông Dương hoặc bị giết, bị bắt hoặc chạy trốn sang bên kia biên giới Trung Quốc (khoảng

6000 tên do Alessandri và Sabattier chỉ huy)

Cuộc đảo chính ngày 9.3.1945 của Nhật đưa đến tác động vô cùng to lớn

Nó tước bỏ hoàn toàn quyền cai trị của người Pháp trên toàn lãnh thổ Đông Dương Đây “là sự trừng phạt muộn mằn nhưng có tính chất quyết định đối với

sự suy tàn của nước Pháp với danh nghĩa là sức mạnh của đế chế”[65, tr.428]

Bất chấp sự thật ấy, ngày 24 tháng 3 năm 1945, nửa tháng sau cuộc đảo chính của Nhật, De Gaulle lại tung ra một bản tuyên bố về Đông Dương với những lời lẽ và nội dung mang nặng tính bảo thủ, ngoan cố Theo đó “ Liên bang Đông Dương sẽ cùng với nước Pháp và những nước khác của cộng đồng

Trang 19

lập thành một “Liên hiệp Pháp” mà lợi ích bên ngoài sẽ do nước Pháp đại diện Đông Dương sẽ được hưởng, trong phạm vi Liên hiệp, một quyền tự do riêng

Ngày 8.4.1945, “đại diện những người Đông Dương ở Paris đã lên án một cách mạnh mẽ quan điểm của De Gaulle về quy chế tương lai Đông Dương” Cũng ngày đó, “De Gaulle ra lệnh cho Sabattier phải giữ vững dù chỉ một phần nhỏ bé đất Đông Dương bằng bất cứ giá nào” [52, tr.65]

De Gaulle không nhận thấy (hay cố ý không nhận thấy) những thay đổi lớn lao đang diễn ra ở Đông Dương Bởi ngay sau ngày Nhật làm cuộc đảo chính, Mặt trận Việt Minh cùng với việc xác định kẻ thù của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật, đã đưa ra lời kêu gọi “nước Pháp Mới” cùng hợp tác chống Nhật Lời kêu gọi này của Việt Minh đã được Sainteny gửi cho D.G.E.R

ở Calcutta và sau đó được chuyển về Paris

De Gaulle và “nước Pháp Mới” tỏ rõ là không hề có bất kì một sự “nhượng bộ” nào đối với Đông Dương, càng không muốn để tuột khỏi tay một trong những “vùng trù phú và có thanh thế nhất” của đế chế Pháp Lúc này, mặc dù đất nước đã được giải phóng, nhưng nước Pháp đang gặp vô vàn khó khăn do hậu quả của chiến tranh Vị thế quốc tế với tư cách một cường quốc của Pháp đang ngày càng giảm, thậm chí bị các Đồng minh “coi thường” Nước Pháp chỉ có thể khôi phục địa vị cường quốc của mình bằng cách chiếm lại những vùng thuộc địa đã mất trong chiến tranh Bởi “không có đế chế, nước Pháp chỉ là một nước

được giải phóng, nhưng với đế chế nó sẽ trở thành một cường quốc”[65, tr.411]

Mong muốn tham gia vào trận đánh cuối cùng của Pháp không được thực hiện, do những khó khăn của Pháp Lúc này, trừ một trung đoàn đóng quân ở

Trang 20

căn cứ Srilanca, các tiểu đoàn đóng ở Trung Quốc và vài ba toán Commando, trong tay Pháp không hề có một đơn vị nào sẵn sàng sang Đông Dương; không

có phương tiện vận chuyển Hơn nữa, sau Hội nghị Potsdam (17.7 - 2.8.1945) Liên Xô đã tuyên chiến với Nhật ngày 8.8 và chỉ trong một tuần (8-14.8) Hồng quân Liên Xô đã tiêu diệt đạo quân Quan Đông gần một triệu tên của Nhật, góp phần buộc phát xít Nhật phải đầu hàng Đồng minh vô điều kiện Chiến tranh kết thúc Việc phát xít Nhật đầu hàng (15.8) khiến Pháp “hoàn toàn bất ngờ”4

, đồng thời cũng làm nước Pháp trở nên quá chậm

Trước diễn biến bất ngờ, ngày 16.8.1945 De Gaulle quyết định cử d’Argenlieu làm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương và cử tướng Leclerc làm Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh Pháp tại Viễn Đông (thay thế tướng Blaizot) Chỉ thị bổ nhiệm của De Gaulle đã chỉ rõ quyền hạn và trách nhiệm của Cao uỷ và Tổng chỉ huy là dùng mọi biện pháp để khôi phục chủ quyền của Pháp ở Đông Dương

Ngày 18.8, De Gaulle hối thúc Leclerc lên đường sang Đông Dương, giao cho ông ta được toàn quyền dùng mọi phương sách quân sự để đem bằng được

lá cờ ba sắc trở lại Đông Dương

Ngay sau khi Leclerc lên đường, ngày 19.8.1945, trong khi cuộc Tổng khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đang giành được thắng lợi quan trọng ở Hà Nội, thì De Gaulle gửi một bức điện sang Đông Dương với giọng điệu vừa đầy vẻ bề trên, vừa sặc mùi thực dân, lừa bịp: “Kẻ thù đã đầu hàng Ngày mai Đông Dương sẽ được tự do Trong giờ phút quyết định này, Mẫu quốc (!) gửi đến những đứa con trong Liên bang Đông Dương niềm hân hoan và lòng biết ơn Những đứa con Đông Dương đã tỏ ra xứng đáng với một thực thể quốc gia rộng rãi hơn và tự do hơn, do thái độ của họ trước đây đối với quân thù,

do lòng trung thành của họ đối với nước Pháp (!) ”[Dẫn theo 52, tr.67]

Tiếp đó, ngày 22.8.1945, De Gaulle bay sang Washington để thuyết phục Truman thừa nhận cho Pháp có vị trí trong việc tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật Bản và yêu cầu Mỹ can thiệp để quân đội Pháp được trở lại bán đảo Đông Dương Đề cập đến số phận của các dân tộc thuộc địa trên thế giới, De Gaulle nói “thế kỉ 20 phải là thế kỉ của nền độc lập của họ Nhưng các dân tộc thuộc địa phải tiến tới độc lập cùng với phương Tây, chứ không được chống lại

4 Các nhà chiến lược Mỹ-Anh đều dự đoán phải đến năm 1946, Chiến tranh thế giới mới kết thúc

Trang 21

phương Tây ” Về vấn đề Đông Dương, De Gaulle nói rằng lúc này ông ta chưa xác định được chế độ tương lai của Liên bang Đông Dương, nhưng ý định của nước Pháp là “sẽ dàn xếp với các nước Đông Dương, miễn sao thoả mãn được ý nguyện của dân chúng các nước đó”[Dẫn theo 52, tr.68]

Hoàn toàn không phải De Gaulle không nắm được sự thay đổi sâu sắc trong tình hình chính trị ở Đông Dương Ngay sau cuộc đảo chính của Nhật, ngày 11.3.1945 Bảo Đại đã phát đi một bản tuyên ngôn nêu rõ: “Căn cứ tình hình thế giới và đặc biệt trên tình hình châu Á, chính phủ nước Việt Nam tuyên bố công khai rằng kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ kí kết với nước Pháp bị xoá bỏ

và nước Việt Nam khôi phục lại quyền độc lập của mình ”[Dẫn theo 63,

tr.89] Tuy nhiên, nền độc lập đó chỉ là giả tạo do phát xít Nhật bày đặt ra Vậy mà tới lúc đó, nước Pháp vẫn “chưa xác định được chế độ tương lai của Liên bang Đông Dương”(!) Tất nhiên, nhân dân Đông Dương không cần chờ, cũng như không cho phép nước Pháp có quyền xác định, áp đặt chế độ tương lai cho mình Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã đứng lên tự quyết định vận mệnh tương lai của mình Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, nhân dân ta đã đánh đổ phong kiến, phát xít Pháp – Nhật, “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”

Lúc này, De Gaulle vẫn hy vọng, với bản tuyên bố 24.3 cùng các “quan cai trị” được thả dù xuống và nhất là với đạo quân viễn chinh đang được cấp tốc đưa sang, ông ta có thể nhanh chóng “lập lại trật tự” ở Đông Dương De Gaulle và chính quyền thực dân Pháp vẫn giữ thái độ ngoan cố, không chấp nhận đứng nhìn các dân tộc thuộc địa trước đây tuột khỏi sự thống trị của mình, càng không muốn mất đi cơ hội trở lại vị trí một “cường quốc thứ tư” Vì thế, trong buổi họp báo ngày 24.8 sau khi hội đàm với Truman tại Washington, De Gaulle khẳng định: “Quan điểm của nước Pháp về Đông Dương rất đơn giản Nước Pháp khẳng định thu hồi lại chủ quyền của mình ở Đông Dương” [52, tr.68]

Trong lúc đó, khi đến Viễn Đông, Leclerc thực sự nhận thấy những tin tức

mà Paris nhận được hồi giữa tháng 8 nay đã trở nên “những chuyện hoang đường” Leclerc cho người về Pháp báo cáo với De Gaulle “tình hình Đông Dương trở nên rất nghiêm trọng Nước Pháp không thể cố gắng làm những gì

để trở lại Việt Nam như xưa” và đề nghị De Gaulle “phải bổ sung vào những

Trang 22

thông điệp đã ban hành, bằng những lời hứa hẹn chung chung về độc lập, cũng không cần nói rõ từ độc lập Nhưng lời hứa hẹn phải vượt xa tầm của những lời tuyên bố ngày 24.3” Nhưng De Gaulle khẳng định sẽ “không đi xa hơn, mọi tuyên bố khác sẽ làm yếu đi thế của nước Pháp” Thậm chí ông ta tỏ rõ sự bức mình “Nếu chỉ có những người như Leclerc, thì chúng ta sẽ mất Đông Dương”

[Dẫn theo 67, tr.109-110]

Thái độ thực dân bảo thủ, ngoan cố của De Gaulle thể hiện một cách rõ ràng Nhà nghiên cứu Henri Azeau đặt vấn đề: “phải chăng so với năm 1944, De Gaulle chưa hiểu thêm được điều gì và cũng chưa hề quên đi điều gì vì ông ta đã

cố tình khoác cho quá khứ trọng trách của tương lai ”[Dẫn theo 75, tr.52]

Như thế có thể nhận thấy, mặc dù tình hình đã thay đổi rất nhiều, song thực dân Pháp vẫn không hề thay đổi về nhận thức đối với vấn đề thuộc địa, trong

đó có Đông Dương Các giới cầm quyền Pháp vẫn luôn theo đuổi ý định đặt lại ách thống trị ở Đông Dương Họ hy vọng nhờ vào việc tăng cường bóc lột thuộc địa, bù đắp những thiệt hại do chiến tranh gây ra, tạo đà cho nước Pháp trở lại tư thế của một cường quốc

1.2 Thực dân Pháp bước đầu tái xâm lược Đông Dương (9.1945 – 12.1946)

1.2.1 Thực dân Pháp gây chiến ở Nam bộ

Ngày 19.8.1945 Tổng khởi nghĩa thành công ở Hà Nội, ngày 23.8 ở Huế và ngày 25.8 ở Sài Gòn Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, long trọng thông báo cho toàn thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Kể từ đây, trên trường chính trị châu Á đã có một nước Việt Nam mới - Chính phủ Việt Nam đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam Phối hợp cùng với cách mạng tháng Tám ở Việt Nam, nhân dân Lào đã nổi dậy giành chính quyền và ngày 12.10.1945, nước Lào tuyên bố độc lập Ở Campuchia, Chính phủ Sơn Ngọc Thành thân Nhật tiếp tục tồn tại cho tới tháng 10.1945

Cùng lúc đó, nước Pháp vẫn ráo riết chuẩn bị cho việc trở lại chiếm đóng Đông Dương Cao uỷ d’Argenlieu và Tổng tư lệnh Leclerc đang trên đường sang Đông Dương Các phái viên khác (Cédile, Messmer, Pignon) được thả dù xuống Đông Dương và Sainteny đã tới Hà Nội ngày 22.8.1945 Những người này trong tay chỉ có bản Tuyên bố Brazzaville và Tuyên bố ngày 24.3.1945 của

Trang 23

De Gaulle, với ý định dựng nên một “chế độ mới” cho Đông Dương là Liên bang Đông Dương Đó là những quan điểm, theo chính Messmer, đã lỗi thời, không phù hợp với những biến động chính trị ở Đông Dương, giờ đây đã là những nước độc lập

Cédile, Messmer, Pignon ngay sau khi nhảy dù xuống đã bị bắt và chỉ riêng Cédile sau đó được người Nhật thả ra Trong khi đó ở Hà Nội, sau khi hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm chiều 22.8, Sainteny được đưa về ở trong Dinh Toàn quyền cũ Trên đường từ Gia Lâm về đây, Sainteny đã cảm nhận được những khó khăn mà ông ta cũng như nước Pháp sẽ gặp phải trong cuộc “khôi phục lại chủ quyền” mà họ sắp thực hiện Sainteny đã nhận được những “lời chào mừng vượt quá mức bình luận (!)”5 Ông ta còn giật mình hơn khi nhận thấy “chỗ nào cũng chỉ có cờ đỏ sao vàng Tuyệt đối không thấy một lá cờ duy nhất nào tiêu biểu cho đế quốc Pháp” [37, tr.98] Trong bức điện đầu tiên gửi đi Calcutta sau khi tới Hà Nội, Sainteny cho biết: “Tình hình chính trị Hà Nội xấu hơn dự kiến

Đã nhìn thấy Hà Nội chỉ treo một lá cờ duy nhất của Mặt Nạ (tức Mặt trận Việt

Minh) ” [37, tr.106]

Trong bức điện ngày 28.8, Sainteny tỏ rõ sự lo lắng Ông ta cảnh báo:

“Cuối cùng phải làm cho mọi người hiểu rằng, Bắc Đông Dương trong giờ phút này không còn là của Pháp nữa”[37, tr.124] (chúng ta cũng cần nói thêm, thực

tế toàn bộ Đông Dương đã không còn là “của Pháp” từ sau ngày 9.3.1945) Ngày 2.9.1945, Sainteny được chứng kiến khí thế của nhân dân ta trong một

sự kiện trọng đại – nước Việt Nam tuyên bố độc lập Sự kiện này đã khẳng định chủ quyền hoàn toàn của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là sự kiện sẽ giữ

vị trí quan trọng bậc nhất trong mối quan hệ Việt – Pháp thời gian tới

Không chịu nhìn nhận tất cả những gì đã và đang diễn ra tại Việt Nam, nước Pháp vẫn tiếp tục theo đuổi quyết tâm chiếm lại Đông Dương

Ngay từ ngày 2.9.1945, trong cuộc mít tinh chào mừng nền Độc lập của nhân dân ta ở Sài Gòn – Chợ Lớn, những tên thực dân Pháp đã núp trong một nhà thờ bắn lén vào đoàn người, làm “5 người chết và nhiều chục người bị thương” [35, tr.29]

Trang 24

Theo quyết định của Hội nghị Potsdam, ngày 11.9.1945, tướng Lư Hán dẫn theo hai mươi vạn quân Trung Quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở Bắc Đông Dương, đã tiến vào Hà Nội Ở phía Nam vĩ tuyến 16, ngày 6.9.1945 phái bộ quân sự Anh đến Sài Gòn, mang theo 150 tên biệt kích thuộc Trung đoàn thuộc địa số 5 (5e RIC) của Pháp mặc quân phục Anh Đây là số quân viễn chinh Pháp đầu tiên đưa tới Đông Dương nhằm thực hiện sứ mệnh tái lập “chủ quyền” của nước Pháp Ngay sau đó, quân Pháp được Anh cho thay thế quân Nhật chiếm đóng một số vị trí quan trọng: cảng, xưởng đóng tàu, kho thuốc súng…

Ngày 12.9.1945 tướng Anh Gracey cùng Lữ đoàn Ấn Độ (thuộc Sư đoàn 20) đến Sài Gòn, thì hành động can thiệp của Anh nhằm giúp quân Pháp càng trắng trợn hơn Chúng cho thêm hai đại đội thuộc Trung đoàn 5eRIC đổ bộ lên Sài Gòn và cho bọn này chiếm đóng thêm nhiều vị trí quan trọng Chúng trang

bị cho kiều dân Pháp và dung túng cho bọn này khiêu khích ngoài đường phố Theo P.Brocheux và D.Hémery, “Những hành động có tính chất cảnh sát” mà người Pháp thực hiện tại Sài Gòn với sự trợ giúp của người Anh đã thể hiện rõ

ý đồ không hề che dấu của Chính phủ Đệ Tứ Cộng hoà là giành lại quyền kiểm

tra Đông Dương”[65, tr.434]

Ngày 22.9.1945, Cédile đã thuyết phục được tướng Anh- Gracey, cho phép tái vũ trang số 1400 cựu tù thuộc trung đoàn 11 bộ binh Pháp đang bị giam giữ trong trại lính trên đại lộ Norodom ở Sài Gòn

Với một tiểu đoàn lính biệt kích thuộc trung đoàn 5eRIC, 1400 tù binh được Anh thả ra, hàng ngàn kiều dân được Anh trang bị súng (tổng số khoảng 4000 người), được sự dung túng của Gracey, bọn Pháp liên tiếp khiêu khích ngày càng trắng trợn trên các đường phố Sài Gòn

Những hành động khiêu khích của quân Pháp và thái độ của quân Anh đã bị nhân dân ta phản đối kịch liệt Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình yêu nước đã diễn

ra ở Sài Gòn, tiêu biểu là ngày 20.9

Sau khi trang bị lại cho bọn tù binh vừa được Anh thả ra, Cédile cho rằng có thể nhanh chóng “vãn hồi trật tự, khôi phục chủ quyền của Pháp” và sau đó tập hợp bọn tay sai để lập lại chế độ cai trị của chúng Chúng cho rằng “dân An nam chỉ là những kẻ hèn nhát Khi Pháp tỏ ra cương quyết, khi chiếc gậy đã được

giơ lên thì chúng (chỉ người Việt Nam) sẽ tan tác như đàn chim sẻ”(!) [Dẫn theo

Trang 25

75, tr.56] Cédile quả thực vẫn giữ cái nhìn thiển cận, lệch lạc và bảo thủ không

khác cái nhìn của bọn thực dân ở Paris, vẫn không hề nhận thấy hoặc cố tình không thừa nhận (dù đã được chứng kiến tận mắt) những sai lầm đó Vì thế, ngay sau khi trang bị cho bọn cựu tù, quân Pháp đã lợi dụng tình trạng giới nghiêm được đưa ra một cách bất hợp pháp của Anh trong thành phố, nổ súng chiếm thêm một số công sở và bị lực lượng vũ trang Việt Nam chống lại

Cédile quyết định dựa vào quân Anh để nhanh chóng làm chủ thành phố Sài Gòn Từ 4 giờ sáng 23.9 quân Pháp đánh chiếm Sở cảnh sát, kho bạc, trụ sở Uỷ ban hành chính lâm thời Tác giả Devillers khẳng định: “Ngày 23.9, nhờ vũ khí của Anh, người Pháp ở Sài Gòn đã giành lại quyền kiểm soát thành phố Tất cả cháy bùng lên Chiến tranh” [63, tr.140] Vậy là, từ ngày 23.9.1945, cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của Pháp ở Việt Nam chính thức bắt đầu

Thực dân Pháp đã tìm mọi cách để đánh lừa dư luận Chúng tung tin vu khống rằng quân đội Việt Nam đã tấn công người Pháp Nhưng những gì đưa ra sau đây sẽ bác bỏ hoàn toàn luận điệu xuyên tạc đó

Thiếu tá Patti, chỉ huy OSS (Cục công tác chiến lược - tiền thân của Cục tình

báo trung ương Mỹ - CIA) ở Đông Dương, trong cuốn “Tại sao Việt Nam?” cho

biết: “Sáng sớm ngày 22, Anh lặng lẽ thay thế quân Nhật tiếp quản khám lớn và thả một số lính tù Pháp đã bị bắt giữ trong các cuộc rối loạn tuần lễ trước Số này

đi thẳng tới trại 11RIC và tổ chức mười bốn ngàn (có lẽ là 1400 - HVT) tù binh Pháp phần lớn là lính lê dương thành đơn vị chiến đấu, rồi đưa về các địa điểm

đã được quy định để chờ lệnh Nhưng để chứng tỏ giá trị và lòng trung thành với

“nước Pháp mới”, số lính này toả ra khắp trung tâm thành phố và chộp lấy bất kỳ người Việt Nam vô tội nào mà chúng bắt gặp”[40, tr.515-516]

Có lực lượng vũ trang trong tay, Cédile thực hiện kế hoạch lợi dụng đêm tối

22 rạng ngày 23 đánh chiếm cơ sở hành chính thành phố: các đồn cảnh sát, kho bạc, nhà bưu điện, toà thị chính (nơi Uỷ ban hành chính lâm thời đóng)

Ph.Devillers đã dành nhiều công sức nghiên cứu và khẳng định rằng cuộc chiến ấy bắt nguồn “do tội lỗi”, “do sự vụng về” hoặc “tính toán sai lầm của một vài người một nhóm nhỏ những quan chức và nhà quân sự cao cấp Pháp đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa nước Việt Nam và nước Pháp” [63, tr.31]

Trang 26

Chính thực dân Pháp là thủ phạm đã gây ra cuộc chiến tranh, âm mưu đặt lại ách cai trị thực dân của chúng lên đất nước ta Đó là sự thực khách quan không thể chối cãi được

Cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của Pháp không dễ dàng như chúng tưởng Ngay từ sáng sớm ngày 23.9, nhiều tên lính Pháp đã phải đền tội Suốt

hạ tuần tháng 9, các trận đánh liên tiếp diễn ra ở nhiều nơi

Những gì diễn ra đã đập tan mọi ảo tưởng của Cédile và quân Pháp Trong khi đó, những hành động của quân Anh – Pháp đã gây phản ứng trong dư luận thế giới Vì thế, ngày 1.10, Gracey phải đứng ra làm trung gian cho một cuộc ngưng chiến tạm thời nhằm xoa dịu dư luận, đồng thời giúp quân Pháp thoát khỏi tình trạng bị bao vây trong thành phố Chính Leclerc đã phải thừa nhận tình hình khó khăn của Pháp lúc đó Trong một bức thư ngày 15.10.1945, Leclerc khẳng định: “Sài Gòn đã được cứu nguy nhờ tài giải quyết của tướng Anh - Gracey, người đã sử dụng mọi quyền lực cần thiết trong tay để đưa

chúng ta đến (Sài Gòn)”[52, tr.161]

Ngày 5.10.1945, Leclerc đến Sài Gòn Ông ta cho rằng chừng nào người Việt Nam chưa ý thức được sức mạnh của Pháp thì sẽ chẳng có chuyện gì thành Trong bức thư gửi De Gaulle (ngày 13.10), Leclerc bày tỏ: “sẽ là một điểm sai lầm tuyệt đối nếu chúng ta điều đình với đại diện Việt Minh trước khi chỉ cho họ thấy sức mạnh của chúng ta” Ngay sau đó (27.10), Leclerc nhận được trả lời của De Gaulle: “Bạn thân mến, chúng ta chẳng có gì phải kí kết với người dân bản xứ, chừng nào chúng ta không có sức mạnh Cho đến lúc đó chúng ta có thể, thận trọng và tuỳ thời cơ thuận lợi mà có vài cuộc tiếp xúc với họ nhưng chỉ vậy thôi

[…] Những người Pháp ở Đông Dương phải ở lại đó” [26, tr.27]

Các cuộc thương lượng giữa Việt Nam và Pháp diễn ra trong thời gian ngưng chiến, vào các ngày 2, 6 và 8.10, không đạt được kết quả do quan điểm trên của Leclerc và lập trường của hai bên rất khác nhau Hơn nữa, “rõ ràng là người Pháp và người Anh đã không nghiêm chỉnh trong việc tìm kiếm một cơ sở cho việc thoả thuận với người Việt Họ tiến hành thương lượng chỉ nhằm một mục đích trong đầu: lấy lại sự yên ổn và làm giảm nhẹ cuộc phong toả Sài Gòn, duy trì cuộc ngừng bắn cho đến khi quân tiếp viện tới ”[40, tr.528-529]

Trang 27

Trong thời gian đó, sư đoàn Ấn Độ của Gracey đã được bổ sung đầy đủ số quân, tàu Triomphant của Pháp đã lặng lẽ cho đổ bộ xuống 10.000 người (ngày 3.10) Ngày 9.10, Anh và Pháp đã ký hiệp ước, theo đó Anh ủng hộ Pháp trong việc cai trị toàn miền Đông Dương, nam vĩ tuyến 16 Vì vậy, Leclerc đã cắt đứt các cuộc thương lượng Ông ta muốn chỉ cho người Việt Nam thấy sức mạnh của nước Pháp Cuộc chiến lại tiếp tục

Ngày 23.10, binh đoàn xe bọc thép Massu đến Sài Gòn Những đơn vị đầu tiên của sư đoàn 9eDIC cũng sắp cập bến Dựa vào binh lực tăng viện, địch ra sức phá vây, trước hết là trên các hướng bắc và đông bắc thành phố Tuy nhiên, quân Pháp đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của quân dân ta Ngay trong Sài Gòn, quân Pháp đã bị đánh mạnh ở nhiều nơi

Cuộc chiến đấu của quân dân Nam bộ đã gây cho Pháp nhiều thiệt hại Điều này được chính Leclerc nêu ra trong bản báo cáo của ông ta gửi chính phủ Pháp ngày 27.3.1946 Trong báo cáo này, sau khi trình bày ngắn gọn tình hình Nam kỳ từ 20.10.1945 đến 25.3.1946, ông ta đưa ra các con số cho thấy những khó khăn của Pháp thời kì này: “- Số chết trong 5 tháng: 620 …; Số bị thương (không kể bị thương nhẹ): 1600; Số trận đánh trung bình: 3 trận một ngày; Khoảng cách trung

bình mỗi tiểu đoàn phải đảm nhiệm: 80 Km” [26, tr.17-18]

1.2.2 Âm mưu và hoạt động của Pháp ở miền Bắc Hiệp định Sơ bộ 6.3.1946

Ở miền Bắc, quân Pháp gặp rất nhiều khó khăn Miền Bắc là khu vực do lực lượng quân đội Tưởng Giới Thạch làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật Quân Tưởng (phía sau là Mỹ) không ưa gì Pháp, thậm chí xung đột với Pháp về quyền lợi Đặc biệt, đây là nơi phong trào quần chúng có điều kiện phát triển mạnh Chúng ta đã sớm giành được chính quyền và xây dựng được lực lượng quân sự khá mạnh

Nếu như ở Sài Gòn Cédile tự do hoạt động dưới cái ô bảo trợ của quân Anh

và lớn tiếng khẳng định rằng có thể nhanh chóng vãn hồi trật tự, lập lại chủ quyền của Pháp thì tại Hà Nội, Messmer, ngay sau khi nhảy dù xuống vùng Tam Đảo đã bị bắt giam Đại diện cho nước Pháp lúc đó chỉ có J.Sainteny - chỉ huy Phái đoàn 5 của Pháp, và một số tên vừa đến Hà Nội từ 22.8, nhưng đang bị giam chân trong “lồng vàng”- tức trong phủ Toàn quyền trước đây và bị cách ly với bên ngoài Cho dù dưới cái nhìn hằn học của tên thực dân đang âm mưu đặt

Trang 28

lại nền thống trị lên đất nước ta, Sainteny cũng phải thừa nhận thực tế không thể nào chối cãi: miền Bắc Đông Dương không còn là thuộc Pháp nữa

Nước Việt Nam vừa mới ra đời đã phải đứng trước muôn vàn khó khăn, trong tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã ứng phó nhanh chóng và hiệu quả Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ và nhân dân ta gửi tới những người đứng đầu các nước lớn, đề nghị công nhận nền độc lập của Việt Nam Đối với nước Pháp, Người khẳng định, nước Việt Nam sẵn sàng nhân nhượng, nhất là về kinh tế, nếu nước Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam Đáp lại những lời kêu gọi đầy thiện chí đó, Chính phủ Pháp vẫn ngoan cố giữ lập trường thực dân, muốn đặt lại ách thống trị ở nước ta Họ cho rằng nhân dân Đông Dương vẫn luôn giữ lòng trung thành không hề lay chuyển đối với nước Pháp, rằng cuộc cách mạng tháng Tám của nhân dân ta chỉ là một hành động phiến loạn, gây rối và Việt Minh không đại diện cho toàn dân Việt Nam mà chỉ là “một phe phái ngổ ngáo nhất của dân chúng” [Dẫn theo 63, tr.135] Chúng phủ nhận hoàn toàn thực tế là nước Việt Nam giờ đây đã độc lập Vì thế, De Gaulle chỉ thị cho d’Argenlieu về cách hành xử đối với Việt Nam: “đừng cam kết và đừng để ai cam kết bất cứ điều gì

đối với người của Việt Minh”[Dẫn theo 63, tr.137] Với De Gaulle, chỉ có một

chủ trương: “Phải đánh tan mọi sức kháng cự của đối phương trước khi thương lượng, trước khi đạt được mục đích chính trị” [Dẫn theo 67, tr.106]

Tuy nhiên, những diễn biến ở Hà Nội hoàn toàn không giống với những gì

mà De Gaulle và các quan chức cao cấp Pháp tưởng tượng Các đại diện của nước Pháp ở đây đã buộc phải tiến hành những cuộc thương lượng với Chính phủ Việt Nam Ngày 28.8.1945, Alessandri và Pignon gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, họ nhận thấy “đó là một nhân vật hùng mạnh và được kính nể”[37, tr.219] Sau khi gặp d’Argenlieu và được chính thức chỉ định làm Uỷ viên Cộng hoà Pháp ở Bắc Đông Dương, Sainteny đã tiến hành các cuộc tiếp xúc với lãnh tụ của Việt Quốc, Việt Cách và nhận ra rằng họ là những con người hoàn toàn “không có uy thế nào mà cũng chẳng có lực lượng nào” [37, tr.220]

Vì thế, Sainteny phải tiếp tục duy trì các cuộc thương lượng với Chính phủ Việt Nam và Hồ Chí Minh, “nhân vật hàng đầu nhanh chóng nổi bật rõ nét trên sân

Trang 29

khấu chính trị châu Á, không ai sánh kịp”[37, tr.221] Sainteny khẳng định:

“Những lời nói của ông (HCM), những cử chỉ của ông, thái độ của ông, con người thật của ông, tất cả đều khẳng định ông không muốn giải quyết vấn đề bằng biện pháp bạo lực” [37, tr.225] Trong các cuộc gặp ấy, Hồ Chí Minh đã tái khẳng định rằng Việt Nam sẵn sàng giành cho nước Pháp một quy chế đặc biệt và rộng rãi, nhất là về kinh tế, với điều kiện Pháp phải công nhận nền độc lập của Việt Nam

Các đại diện của Pháp phải thừa nhận uy tín và sức mạnh của Hồ Chí Minh cũng như phải thừa nhận một thực tế “chỉ có Chính phủ Hồ Chí Minh và Việt

Minh là đủ tư cách đại diện cho dân tộc Việt Nam” [63, tr.162] Song họ lại cho

rằng Chính phủ ấy khó lòng mà đứng vững, sẽ nhanh chóng bị đánh đổ do sự chống phá của các phe phái đối lập (Việt Quốc, Việt Cách) dưới sức ép của người Trung Quốc Vì thế trong khi tiếp xúc, thương lượng với Chính phủ Việt Nam, người Pháp vẫn tìm kiếm ở các phe phái nói trên nhằm thành lập một đảng thân Pháp Họ hy vọng đảng này sẽ gây ảnh hưởng để làm giảm sức mạnh của Chính phủ Việt Nam và Việt Minh

Trong khi tiến hành thương lượng với Chính phủ Việt Nam ở miền Bắc thì

ở phía Nam quân đội Pháp tiếp tục đẩy mạnh các cuộc hành binh để mở rộng địa bàn chiến sự, tích cực chuẩn bị cho việc đưa quân ra miền Bắc Leclerc cho rằng ông ta chỉ có thể kết thúc nhiệm vụ của mình sau khi đã chiếm lại toàn bộ phần lãnh thổ Đông Dương ở phía bắc vĩ tuyến 16 và chủ yếu là chiếm lại Hà Nội Nhưng Leclerc cũng hiểu rõ những mối nguy nếu đưa quân ra Bắc Vì thế ông ta thúc giục Sainteny phải đẩy mạnh các cuộc thương lượng để tạo điều kiện thuận lợi cho quân Pháp

Cuộc thương lượng ở Hà Nội tiếp tục lâm vào bế tắc do thái độ ngoan cố của Pháp Phía Pháp “do không hiểu biết gì và do đánh giá quá thấp sự phát triển về mặt tinh thần và về mối tương quan lực lượng, nên từ Độc lập, ngay cả khi nó phải mất một thời gian dài mới được thực hiện, chưa bao giờ được nói tới” [65, tr.437] Cái “cẩm nang” duy nhất chỉ dẫn họ vẫn là bản Tuyên bố ngày 24.3 của De Gaulle Trước sau họ vẫn không chịu từ bỏ quyền lực ở Đông Dương và dự định sẽ làm cho Đông Dương trở thành một Liên bang các quốc gia tự trị

Trang 30

Một trong những nguyên do lý giải cho cách xử sự trên đây của phía Pháp chính là thái độ ngoan cố thực dân Họ cố tình không chịu hiểu, không chịu chấp nhận thực tế cũng như quyết tâm xâm chiếm lại nước ta De Gaulle và các quan chức Pháp đã không hiểu được sức mạnh của dân tộc Việt Nam vừa mới đứng lên làm cách mạng, giành được quyền làm chủ về tay mình P.Quatrepoint nhận xét rằng “De Gaulle đã phạm sai lầm trên hai mặt: một là ông không hiểu

gì về ý chí chống xâm lược của nhân dân Việt Nam; hai là lòng quyết tâm của

Hồ Chí Minh ” [67, tr.106]

Đối với người Pháp (cả ở Pháp và ở Đông Dương) lúc đó, điều làm cho họ

lo lắng nhất, không phải là chính quyền Việt Nam, mà là đội quân Trung Hoa Quốc Dân của Tưởng Giới Thạch Dưới nhãn quan của kẻ thực dân, quân Tưởng mới là người nắm được quyền kiểm soát miền bắc Việt Nam (cũng như bắc Đông Dương), mới là “người chủ thực sự” ở đây Sự nhận thức ngoan cố

và sai lầm đó đã dẫn đến những hành động ngoan cố và sai lầm Trong hồi ký của các tướng tá, các nhân vật người Pháp trong thời kì này ở Đông Dương, họ luôn nhấn mạnh những khó khăn do quân Tưởng gây ra, đồng thời lại luôn đánh giá thấp vai trò, khả năng của chính phủ Việt Nam Vì thế, trong cuộc họp ngày 17.12.1945 ở Sài Gòn, bộ chỉ huy Pháp nhận định rằng trở ngại lớn nhất cho việc đưa quân ra Bắc vẫn là sự có mặt của quân Tưởng

Vấn đề đầu tiên đặt ra với Pháp là phải tiến hành thương lượng ngay để quân Pháp có thể thay thế quân Tưởng vào cuối tháng hai đầu tháng ba năm

1946 Salan được cử sang Trùng Khánh để thực hiện nhiệm vụ này Ngày 8.1.1946, Salan có cuộc gặp đầu tiên với đại diện Tưởng Cuộc mặc cả giữa Pháp và Tưởng về chủ quyền Việt Nam bắt đầu Trong cuộc gặp đầu tiên này, Salan đưa ra các đề nghị với phía Tưởng: Cho số lính Pháp ở Vân Nam trở lại Đông Dương qua hướng Lai Châu; Quân Pháp được phép trang bị cho số tù binh hiện đang bị giam giữ ở Hà Nội ; Cho phép quân đội Pháp được thường xuyên sử dụng các sân bay ở Bắc Đông Dương

Ngày 16.1 phía Tưởng trả lời chấp nhận cho phép số quân Pháp ở Vân Nam trở về Thượng Lào qua hướng Lai Châu Các vấn đề khác chưa chấp nhận Phía Pháp nhận định quân Tưởng sớm muộn cũng phải rút về nước nhằm đối phó với lực lượng của Đảng cộng sản Vì thế, Pháp quyết định để đại tá

Trang 31

Crépin làm đại diện Pháp ở lại Trùng Khánh tiếp tục thương lượng Cuối cùng, ngày 28.2.1946, hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết Theo đó, Tưởng chấp nhận

để quân Pháp ra miền Bắc Đông Dương làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thay thế quân Tưởng, đổi lại Pháp chấp nhận trả lại cho Tưởng các vùng đất trước đây là nhượng địa của Pháp ở Trung Quốc, cam kết nhường cho Tưởng một số quyền lợi ở Đông Dương,

Ngày 27.2.1946, Leclerc bắt đầu chiến dịch H (chiến dịch Bentré), cho quân tiến ra miền Bắc bằng đường biển Lực lượng này bao gồm: tập đoàn quân Massu của 2e DB và 9e DIC của tướng Valuy Đội quân này sẽ tới ngoài khơi Hải Phòng vào sáng ngày 5.3.1946 Theo dự tính, do vấn đề thuỷ triều, quân Pháp chỉ có thể đổ bộ lên Hải Phòng vào 5.3 hoặc 6.3.1946

Tuy Tưởng đã chấp nhận cho quân Pháp thay thế quân Trung Hoa, song cả hai phía đều không dám đơn phương thực hiện việc này khi chưa có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Họ đều hiểu rằng, Việt Nam sẽ không thể làm ngơ, để mặc cho quân Pháp tiến vào miền Bắc Nhận thức được điều đó, nên ngay từ đầu, Leclerc đã đưa ra điều kiện để cuộc đổ bộ có thể thực hiện được là tiến hành song song hai cuộc thương lượng với Trung Quốc và với chính phủ Việt Nam ở Hà Nội

Từ ngày 6.1.1946, trả lời nhà báo P.M Dessinges, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã khẳng định: “Chúng tôi không hề thù ghét gì nước Pháp và nhân dân Pháp Chúng tôi rất khâm phục họ và chúng tôi không muốn cắt đứt những mối quan

hệ chặt chẽ nối liền hai dân tộc chúng ta Nhưng ông nên biết rằng: Chúng tôi quyết tâm chiến đấu đến cùng, nếu người ta bắt chúng tôi phải chiến đấu”[Dẫn

theo 63, tr.179 - 180]

Ngày 8.2.1946 Salan gặp Hồ Chí Minh, định dùng áp lực để buộc chúng ta chấp nhận cho Pháp đổ bộ lên miền Bắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời thẳng thắn rằng Việt Nam muốn giữ mối quan hệ hữu nghị và bình đẳng với nước Pháp Nhưng Việt Nam cũng quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc, quyết không lùi bước nếu phía Pháp muốn dùng vũ lực Người khẳng định: “ dù cho cả thế giới có chống lại chúng tôi, chúng tôi cũng quyết không trở lại đời

nô lệ” [Dẫn theo 67, tr.134]

Trang 32

Thái độ thẳng thắn của Hồ Chí Minh khiến Leclerc và quân Pháp hiểu rằng: nếu muốn dùng sức mạnh vũ khí để khôi phục lại chủ quyền Pháp thì phải sẵn sàng đương đầu với một cuộc xung đột vũ trang quy mô lớn Nhưng nước Pháp hồi đó liệu đã có những phương tiện “để lao vào một cuộc phiêu lưu có nguy cơ dẫn nước Pháp “định cư” trong một cuộc chiến tranh kéo dài vô tận?”[63, tr.235] Đạo quân của Leclerc sẽ gặp phải sự chống cự quyết liệt và sẽ phải trả giá đắt nếu đổ bộ lên Hải Phòng mà không có sự đồng ý của chính phủ Việt Nam Cho nên, Leclerc đã yêu cầu Sainteny nhanh chóng ký kết một hiệp định với Chính phủ Hồ Chí Minh, vì ngày đổ bộ đã được ấn định và không thể thay đổi được, trong khi quân Tưởng vẫn không dám đơn phương cho Pháp đổ bộ

Về phía Việt Nam, nhận rõ ngay từ đầu kẻ thù chính của nhân dân ta vẫn là thực dân - đế quốc Pháp đang quyết tâm trở lại xâm lược nước ta, chúng ta đã tạm hoà hoãn với Tưởng để tập trung kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ Song lúc này (sau 28.2), Pháp và Tưởng đã câu kết với nhau Do đó, nếu chúng ta không đồng ý thì cũng không thể ngăn quân Pháp đổ bộ Trong khi đó, thực lực của chúng ta còn chưa đủ mạnh để cùng lúc đối phó với cả quân Pháp và quân Tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương đã đi đến quyết định

ký hiệp ước với Pháp để đuổi nhanh quân Tưởng về nước và tranh thủ thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến

Cuối cùng, vào chiều ngày 6.3.1946, Hiệp định Sơ bộ đã được ký kết tại Hà Nội giữa một bên là Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh đại diện cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với một bên là J.Sainteny đại diện cho Cộng hoà Pháp

Bản Hiệp định Sơ bộ 6.3.1946 là bước ngoặt trong mối quan hệ Việt – Pháp Tuy thế nó cũng đưa đến nhiều nhận định, đánh giá và phản ứng khác nhau Sau khi biết tin Sainteny ký hiệp định với chính phủ Việt Nam, nhiều người Pháp đã khẳng định đó là một thắng lợi lớn của nước Pháp Một bức điện

từ Paris tỏ rõ nỗi vui mừng: “Được khởi đầu ngày 18.6.1940 sự nghiệp giải

phóng toàn bộ Liên hiệp Pháp đã hoàn tất ngày 7.3.1946” [63, tr.227]

D’Argenlieu thì điện về cho Thủ tướng Félex Gouin (Chính phủ De Gaulle

đã đổ từ 20.1.1946): “Chúng tôi đã ký với chính phủ Hà Nội, với sự quan tâm không bỏ lỡ mất một cơ hội thuận tiện, một bản Hiệp định đã được chuẩn bị từ bốn tháng nay và ngày càng trở nên cần thiết” và nhấn mạnh rằng “Cân nhắc

Trang 33

kỹ, tôi thấy đây là một hiệp định tốt nếu nó được đánh giá về cả ba phương diện

quốc tế [ ], khu vực [ ] và quốc gia ”[Dẫn theo 63, tr.228]

Tướng Leclerc, người phải chịu trách nhiệm việc đổ bộ quân Pháp vào Hải Phòng, đánh giá rất cao “thắng lợi” này của nước Pháp Trong bản báo cáo của ông ta gửi cho chính phủ Pháp ngày 27.3.1946, thậm chí ông ta khẳng định Sainteny, với sự trợ giúp đắc lực của Salan, đã “đánh lừa” được Hồ Chí Minh Vậy có phải Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam đã bị Sainteny “đánh lừa”? Thực tế lịch sử đã chứng minh việc ký Hiệp định Sơ bộ là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo, một mẫu mực về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và sự nhân nhượng có nguyên tắc của Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam Hiệp định đã tạo điều kiện để nhân dân ta củng cố thành quả cách mạng đã giành được, chuẩn bị điều kiện đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc tiến lên bước phát triển mới Ký hiệp định là tạo thêm cơ sở pháp lý quốc tế buộc quân Tưởng phải rút nhanh khỏi miền Bắc Đối với miền Nam, trước tình thế cuộc kháng chiến đang đứng trước những thử thách gay gắt, Hiệp định tạo điều kiện cho lực lượng kháng chiến trở lại bám trụ thôn xã, tạo thế tạo lực để cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc với tư thế và sức mạnh mới Điều này đã được Hồ Chí Minh khẳng định trong cuộc nói chuyện với nhân dân ta ngày 7.3.1946: “Chúng ta trên thực tế đã độc lập từ tháng 8.1945, nhưng cho đến nay chưa có cường quốc nào công nhận nền độc lập của chúng

ta Bản hiệp định ký với nước Pháp này mở đường cho sự công nhận của quốc

tế Bản Hiệp định sẽ dẫn chúng ta đến một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng,

và đó là một thắng lợi chính trị lớn lao ”[Dẫn theo 63, tr.218]

Điều quan trọng nữa là đi kèm theo văn bản Hiệp định còn có một bản thoả thuận phụ quy định về thể thức của việc thay quân Thoả thuận phụ nêu rõ việc thay quân sẽ do một lực lượng gồm 10.000 quân Việt Nam và 15.000 quân Pháp tiến hành, và “những quân đội này sẽ được quân đội Việt Nam thay thế mỗi năm 1/5 trong vòng năm năm” Phải chăng Sainteny đã “đánh lừa” Hồ Chí Minh ở điểm này! Sainteny và các đại diện Pháp chắc chắn không nghĩ tới việc

sẽ thi hành những điều khoản này, song dẫu sao cũng gây nên sự nghi ngại về việc rút quân D’Argenlieu đã ghi trong nhật ký: “Hiệp định sơ bộ: ấn tượng tốt Trái lại hết sức dè dặt về hiệp định phụ[ ]

Trang 34

“Hiệp định này, đến cuối cùng, tôi coi như chứa chất bao nhiêu ràng buộc quân sự đã đè nặng lên nước Pháp và có lợi cho cái “Quốc gia tự do” trẻ tuổi (tức VNDCCH) Chúng ta đứng trước một “việc đã rồi” Làm sao ta lại lâm

vào tình trạng này nhỉ? Sự việc khá nghiêm trọng ” [Dẫn theo 63, tr.228]

D’Argenlieu cũng không dám báo cho Chính phủ Gouin biết ngay về bản thoả thuận phụ cùng với bản Hiệp định chính thức, mà phải quyết định “tiến

hành một cuộc điều tra cấp tốc trước khi nó được phổ biến” [63, tr.228]

Leclerc trong bức điện ngày 8.3 gửi cho d’Argenlieu thì khẳng định: “ Tôi không nói đến Hiệp định sơ bộ, nó chẳng phải là trách nhiệm của tôi Ngược lại, hiệp định phụ về các vấn đề quân sự thì rõ ràng là chưa hoàn hảo chút nào”

[Dẫn theo 63, tr.229]

Đó là những phản ứng của những người đại diện Pháp ở Sài Gòn và Hà Nội Còn ở Paris, người ta “vô cùng ngạc nhiên và dần đi tới giận dữ” khi được biết thêm về bản thoả thuận phụ này6

1.2.3 Pháp ngăn cản và phá hoại việc thi hành Hiệp định Sơ bộ (6.3.1946 - 19.12.1946)

Sau khi ký Hiệp định Sơ bộ 6.3.1946, Chính phủ Việt Nam tập trung mọi

cố gắng nhằm đấu tranh để cùng phía Pháp thi hành những điều khoản hai bên

đã thoả thuận và chuẩn bị điều kiện tiến tới cuộc đàm phán chính thức tổ chức

ở Paris

Trong khi đó phía Pháp cho rằng, sau khi quân đội của Leclerc đổ bộ lên Bắc

kỳ thì cuộc tái chiếm Đông Dương đã giành thắng lợi Giờ đây, người Pháp sẽ

“nói chuyện” với người Việt Nam bằng xe tăng và máy bay! Vì thế, khi bản hiệp định vừa ký còn chưa ráo mực, thì phía Pháp, tiêu biểu nhất là d’Argenlieu và Valluy, đã tìm đủ mọi cách để xuyên tạc và phá hoại những điều đã cam kết7 Ngày 12.3.1946 (chưa đầy 1 tuần sau khi ký hiệp định), d’Argenlieu đã tuyên bố: Hiệp định 6.3 “chỉ có tính chất địa phương” và còn trắng trợn nói rằng “Nó được ký bởi ông Uỷ viên Cộng hoà (Pháp) tại Bắc kỳ với Chính phủ Việt Nam đóng tại Hà Nội; nó ghi rõ ràng bằng văn bản là việc thống nhất ba

kỳ sẽ do nhân dân Nam kỳ và Trung kỳ quyết định” Ông ta đi đến một kết luận

6 Xem thêm: Ph.Devillers, sđd, tr.234-237

7 Theo Réne Liégeas, một sĩ quan Pháp thuộc Sư đoàn 2 đã tiến vào Hà Nội sau khi ký Hiệp định Sơ bộ, trong khi Leclerc muốn thi hành thoả thuận với Chính phủ Việt Nam, thì trái lại, tướng Valluy lại tìm cách để kích động tình hình [35, tr.34]

Trang 35

mang đầy sự lừa lọc: “Do bản chất của nó, nó chẳng khác biệt gì so với bản hiệp định đã ký kết với chính phủ Campuchia (trong tháng 1)8” [Dẫn theo 63,

tr.232] D’Argenlieu và Cédille cũng tiết lộ thêm rằng, trong thời gian tới Nam

kỳ cũng sẽ có một chính phủ riêng, quốc hội riêng, tài chính riêng

Vậy là, như nhận xét của Ph.Devillers, “ngay từ ngày 12.3, ý định của ông

đô đốc (d’Argenlieu) đã bộc lộ rất rõ ràng” [63, tr.233]

D’Argenlieu tìm mọi cách để ngăn không cho chính phủ Việt Nam điều đình thẳng với Paris Mặc dù Sainteny và Leclerc lo lắng, yêu cầu d’Argenlieu chấp nhận chọn Paris làm nơi tiến hành hội nghị để cách ly chính phủ Việt Nam, Cao uỷ đã không chấp nhận Trong bức điện ngày 18.3 gửi Paris, ông ta cho rằng địa điểm tốt nhất cho cuộc Hội nghị là Đà Lạt - nơi mà theo ông ta, đã được dự tính chọn làm thủ đô của Liên bang Đông Dương

Ý đồ của d’Argenlieu tìm cách trì hoãn cuộc đàm phán ở Paris nhằm có thời gian tiếp tục những “việc đã rồi”, đồng thời giúp Sài Gòn có thời gian tìm những tên tay sai đứng ra cầm đầu “chính phủ tự trị” mà họ dự định nặn ra ở Nam kỳ Được sự khuyến khích của Paris, ngay sau cuộc hội kiến ở vịnh Hạ Long với Chủ tịch Hồ Chí Minh (24.3) trở về, d’Argenlieu đã quyết định: tại Nam

kỳ, cứ phải tiến mạnh lên phía trước Ngày 26.3, Hội đồng tư vấn Nam kỳ đã chỉ định Nguyễn Văn Thinh đứng đầu “Chính phủ lâm thời Cộng hoà Nam kỳ”

và ngày 30.3, d’Argenlieu thông báo cho Hội đồng biết về dự án thành lập một chính phủ lâm thời Nam kỳ gồm những thành viên bản xứ

Ngày 7.4.1946, d’Argenlieu chỉ thị cho Valluy - tạm thay Sainteny: “Trong tương lai gần kề, một chính phủ lâm thời của Nam kỳ sẽ thành lập Tôi dự đoán trước một tình hình phản kháng quyết liệt sẽ xảy ra ở Bắc kỳ Dứt khoát không thể nào tránh khỏi một sự lên án gay gắt việc vi phạm hiệp định của chúng ta” Ông ta nói thêm: “ Để giảm bớt khó khăn cho ngài (Valluy), tôi nghĩ nên đợi ngày họp Hội nghị trù bị tại Đà Lạt hoặc ngày các nhà đàm phán lên đường đi Paris để cho phép tuyên bố ra mắt Chính phủ lâm thời Nam kỳ ”

8

Ngày 7.1.1946, Pháp và Campuchia đã kí một Tạm ước (Modus-vivendi), đặt lại quyền lực của Pháp ở Campuchia, đồng thời thiết lập chế độ tự trị nội bộ của Campuchia [1, tr.115-116]

Trang 36

Trong bức giác thư ngày 26.4 với tựa đề “Bước ngoặt chính trị tại Đông Dương” của Cao uỷ gửi về Paris, ông ta khẳng định “Mục đích chính sách của chúng ta, mục tiêu đầu tiên và xác định của sứ mệnh của tôi là lập lại chủ quyền của nước Pháp [ ]

“Đối với Nam kỳ thì nguy cơ của cuộc trưng cầu dân ý đang đè nặng Khả năng may mắn đạt được đa số tán thành chế độ tự trị – chủ yếu sẽ phụ thuộc, tại

xứ này, vào sự minh bạch trong đường lối chính trị của chúng ta ” Nhưng “từ ngày 6.3, sự minh bạch ấy không còn nữa” Từ đó ông ta đi đến kết luận rằng:

“Nếu như sau một cuộc trưng cầu dân ý không được chuẩn bị cẩn thận theo một chính sách rõ ràng, quyền lực của nước Pháp bị loại bỏ ra khỏi Nam kỳ, thì thế

là cả Liên bang Đông Dương, và nói gọn là Đông Dương “đi đời” ” [Dẫn theo

ở miền Nam Mưu đồ mở cuộc hội nghị trù bị ở Đà Lạt, trước khi tiến hành hội nghị chính thức ở Paris, nhằm đặt cuộc thương lượng chính thức vào “việc đã rồi” Song âm mưu đó của thực dân Pháp đã bị phía Việt Nam bóc trần Vì thế, Hội nghị trù bị Đà Lạt đã hoàn toàn tan vỡ

Ở Đông Dương, các hành động vi phạm, phá hoại hiệp định 6.3 của Pháp diễn ra trắng trợn và ngày càng gia tăng Tiếp tục âm mưu tách Nam kỳ ra khỏi Việt Nam, ngày 1.8, trong khi Hội nghị Fontainebleau đang tiến hành, thì tại

Đà Lạt, d’Argenlieu triệu tập Hội nghị với sự tham gia của các đại biểu Lào, Campuchia, Cộng hoà tự trị Nam kỳ

Trước sự phản ứng của phái đoàn Việt Nam, chính phủ Pháp trở nên lúng túng Ngày 3.8, Bidault gửi điện yêu cầu d’Argenlieu “nên tránh quan trọng hoá công việc của Hội nghị Đà Lạt” Nhưng ngay từ ngày 2.8, d’Argenlieu đã gửi thư cho chính phủ Pháp và một vài nhân vật khác, trong đó “ông bắt đầu

Trang 37

bộc lộ những mưu kế của mình” Ông ta biện bạch rằng phải củng cố thêm lòng tin ở nước Pháp của “những đám dân chúng Pháp và thổ dân Đông Dương”, bởi vì, theo ông ta, “một khi lòng tin tưởng đó bị lung lay hoặc mất đi, thì chúng ta chỉ còn việc là sửa soạn cuốn gói hoặc nghĩ đến một cuộc chinh phục mới bằng vũ lực” D’Argenlieu đề nghị “nếu Chính phủ (Pháp) thấy không thể nào đảo ngược một cách cương quyết tiến trình sự việc, thì tốt hơn là nên tạm ngưng công việc của Hội nghị Fontainebleau ”[Dẫn theo 63, tr.287]

Trong khi đó, các phái viên của d’Argenlieu ở Paris đẩy mạnh việc phá hoại Hội nghị Ngày 5.8, Torel trình bày trước Uỷ ban Liên bộ Đông Dương bản báo cáo của Pignon, trong đó kết luận rằng: Việt Minh chuyển thành chính phủ Hà Nội, không phải là một người đối thoại đủ tầm cỡ và nên giữ gìn, không nên cam kết gì với họ

Những báo cáo, kèm những lời “cảnh giác” của d’Argenlieu và các phụ tá của ông đã chinh phục được các lãnh tụ chính trị tại Paris

Hội nghị Fontainebleau không đem lại kết quả do những bất đồng về quan điểm giữa hai bên Sự bất đồng đó thể hiện ở chính sách thuộc địa của thực dân Pháp luôn nhấn mạnh đến sự đồng hoá, sự phụ thuộc hoàn toàn của Việt Nam vào Pháp

Mặc dù đã căn bản đồng ý với d’Argenlieu, nhưng chính phủ Pháp cũng nhận thấy việc cắt đứt mọi thương lượng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng Trong bức thư cá nhân gửi d’Argenlieu, Moutet khẳng định: “ một sự đình chỉ hội nghị có thể mang lại những hậu quả đáng sợ trong tình hình hiện nay Mọi tin tức đều chỉ ra cho tôi thấy tình thế của chúng ta hiện nay chẳng sáng sủa gì cho lắm ”[63, tr.302] Vì thế, Thủ tướng Bidault và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Moutet đồng ý với gợi ý của Pignon về việc ký kết với Chủ tịch Hồ Chí Minh (khi đó đang ở Pháp) những hiệp định hạn chế giải quyết một vài vấn đề cấp bách

Để cứu vãn tình hình, nhằm có thêm thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chắc chắn sẽ xảy ra, Hồ Chí Minh đã ký với Moutet bản Tạm ước 14.9.1946, nhân nhượng cho Pháp một số điểm về kinh tế và các vấn đề khác

Đó cũng là giới hạn nhân nhượng cuối cùng của Việt Nam

Trang 38

Sau khi ký Tạm ước 14.9, phía Việt Nam cố gắng thực hiện một cách nghiêm túc Điều này đã được chính d’Argenlieu thừa nhận trong báo cáo gửi Moutet sau cuộc gặp Hồ Chí Minh ở vịnh Cam Ranh (18.10) Ông đô đốc nhận xét: “

Dù sao tôi vẫn có cảm tưởng rằng ông Hồ chân thành mong muốn, ít ra là trong một thời gian, sẽ tìm thấy ở sự giao hoà với nước Pháp một sự củng cố lại các

kết quả đã giành được và bước đầu của những tiến bộ mới”[Dẫn theo 63, tr.321]

Ngày 6.11, d’Argenlieu nhấn mạnh rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công khai xác định lập trường của mình là thực hiện Tạm ước và sự cần thiết phải đổi mới và củng cố tình hữu nghị Pháp – Việt

Chính phủ Pháp, do những khó khăn ở trong nước và Đông Dương, đã chấp nhận ký Tạm ước, thấy rõ những lợi ích từ việc ký kết này9, nên đã chỉ thị cho d’Argenlieu thi hành Chỉ thị ngày 21.9 của Moutet cho D’Argenlieu cũng nói

rõ thêm vì sao cần phải thi hành Tạm ước: “Thực tế, chúng ta không được phép tính đến một chính sách vũ lực với hy vọng thành công vì khả năng quân sự hiện nay và sau này của ta có hạn”[ Dẫn theo 45, tr.98]

Dù Paris đã quyết định tạm thời hoà hoãn, nhưng đô đốc và êkíp của ông ở Đông Dương vẫn không chịu chấp nhận Ngày 14.10, tướng Valluy gửi báo cáo cho d’Argenlieu, đề nghị: “ đừng bằng lòng với việc chế ngự các cuộc tấn công của bọn phiến loạn (chỉ VNDCCH), mà trái lại phải thực hiện một áp lực thật căn bản đối với bọn phiến loạn ấy bằng cách chủ động mở những chiến dịch quy mô tại Hà Nội và tại Trung kỳ”[Dẫn theo 63, tr.323]

Đề nghị của Valluy được d’Argnlieu đồng tình và ngay ngày 19.10 liền gửi cho Bidault và tướng Juin một bức điện mật Ông nêu giả thiết về một hành động bạo lực của chính phủ Hà Nội, từ đó yêu cầu chính phủ Pháp cần chuẩn bị phương tiện (thành lập sư đoàn 10.000 người) để sẵn sàng một sự “trả đũa” tức thời tại Hà Nội và Trung kỳ [Dẫn theo 63, tr.325-327]

Được sự đồng ý của Cao ủy, Valluy cấp tốc bắt tay vào chuẩn bị thực hiện

cú “trả đũa” Ngày 21.10.1946, tại Hải Phòng, quân Pháp lợi dụng buổi tiếp đón Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pháp trở về và sự thiếu cảnh giác của ta, bất ngờ chiếm đóng các công sở, mặc dù lực lượng quân đội Việt Nam đã được lệnh đề phòng để tránh xảy ra khiêu khích

9 Xem: Ph.Devillers, sđd, tr 317 - 320

Trang 39

Ngày 25.10, d’Argenlieu gửi một bức thư cho các chỉ huy của Pháp tại Đông Dương, nói rõ không che dấu mưu đồ của ông ta: “Chúng ta hãy chuẩn bị sẵn sàng để đối phó khi cần, kể từ tháng giêng năm 1947, với một sự tái diễn chiến sự, bằng một hành động bạo lực nhằm vô hiệu hóa Chính phủ Hà Nội về chính trị cũng như về tinh thần, và nhờ đó tạo thuận lợi cho công cuộc bình

định miền Nam”[Dẫn theo 63, tr.329]

Ngày 30.10, một “đặc lệnh” của chỉ huy Trung đoàn thuộc địa Maroc (RICM) tại Bắc kỳ nêu rõ: “Tình hình vẫn không ổn định, nên chúng ta có thể bắt buộc phải can thiệp một cách khẩn trương và chủ động bất cứ lúc nào” [63, tr.328] Kết quả bất lợi của cuộc bầu cử ở Pháp càng thúc đẩy d’Argenlieu và êkip của ông ta đẩy mạnh hành động nhằm chi phối được chính phủ mới, buộc chính phủ phải nhúng tay vào vấn đề Đông Dương và tránh khỏi bị khiển trách, đồng thời phải hành động làm sao để tạo ra được ở Việt Nam một sự “căng thẳng tích cực” Nói cách khác là tạo ra cái cớ để “trả đũa” Việt Nam và đặt chính phủ mới của Pháp vào thế đã rồi Màn kịch “cuộc đảo chính” được các giới chức Pháp ở Đông Dương cấp tốc thực thi, mở đầu bằng kế hoạch đánh chiếm Hải Phòng

Ngày 20.11 xảy ra vụ xung đột thuế quan ở Hải Phòng Các nhà nghiên cứu Pháp đều có đề cập đến sự kiện này Hầu hết trong số họ đều giữ quan điểm cho rằng vụ rắc rối ấy là do việc tự vệ Việt Nam đã nổ súng vào một tàu tuần tra của Pháp đang bắt giữ một thuyền buôn lậu của Trung Quốc, và quân Pháp

đã nổ súng đánh trả

Sự thực, đó là một chiếc tàu của Trung Quốc đã được phía Việt Nam cấp phép hoạt động Hành động của quân Pháp (khám xét tàu) là vi phạm trắng trợn chủ quyền thuế quan của Việt Nam cũng như những điều khoản đã ghi trong Hiệp định 6.3 và Tạm ước 14.9

Ngay khi sự việc xảy ra, phía Việt Nam đã thi hành mọi biện pháp để thực hiện việc ngừng bắn Thứ trưởng Bộ Nội vụ, trưởng ban liên kiểm Việt – Pháp, Hoàng Hữu Nam - đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn với Lami (Cố vấn chính trị của Morlière) và sau đó là đại tá Heckey (Chỉ huy khu vực Hà Nội) Tuy nhiên, những cố gắng đó của phía Việt Nam đã bị phá tan bởi đại tá Dèbes, chỉ huy quân Pháp ở Hải Phòng, có sự hậu thuẫn của Valluy và d’Argenlieu P.Devillers khẳng định rằng: “người ta sẽ điều đình và khó khăn lắm mới đạt tới một quyết định ngừng bắn Nhưng việc thi hành lệnh ngưng bắn tỏ ra khó

Trang 40

lòng thực hiện do thái độ rất láo xược của viên sỹ quan chỉ huy căn cứ Hải Phòng, đại tá Dèbes Ông ta (Dèbes) cảm thấy được sự che chở của Sài Gòn, tức là của tướng Valluy”[63, tr.345]

Tướng Morlière, quyền Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc kỳ, cũng thừa nhận rằng trong sự kiện Hải Phòng, có mặt những kẻ “chuyên phát động những vụ rắc rối” Báo cáo của Morlière ngày 10 tháng giêng năm 1947, khi nói về vụ việc ở Hải Phòng ngày 20.11.1946, đã khẳng định “Trong vụ này hình như ngẫu nhiên người ta nhận thấy sự có mặt của ba nhân viên Phòng Nghiên cứu

và Tư liệu, một cơ quan không bao giờ không gây sự”[23, tr.47] Điều đó cho

thấy, đây là một âm mưu có chuẩn bị của Pháp

Rõ ràng quân Pháp đã khiêu khích, chủ động “gây rối” để chuẩn bị cho việc chiếm lấy Hải Phòng Những chỉ thị của Valluy sau đó, càng chứng tỏ điều này Valluy một mặt lớn tiếng vu cáo phía Việt Nam “khiêu khích”, rằng sự kiện Hải Phòng “là một cuộc tấn công có mưu tính trước và chuẩn bị hết sức cẩn thận” của Việt Nam Mặt khác, ông ta chỉ thị cho Dèbes, ngày 22.11, “cần thiết phải lợi dụng sự việc xảy ra để cải tiến vị trí của chúng ta ở Hải Phòng”, đồng thời chỉ thị cho Morlière (và Dèbes) đòi “1- toàn lực lượng Việt Nam chính quy và bán chính quy rút khỏi Hải Phòng; 2- quân đội Pháp được hoàn toàn tự do đóng trong thành phố”[23, tr.52] Điều kiện này, như chính Morlière khẳng định, là những đòi hỏi quá mức Trong bức điện của Morlière gửi Valluy ngày 22.11, ông ta cảnh báo rằng, việc đó có nghĩa là “quyết xâm chiếm toàn thành phố, mà thôn tính thành phố thì trước hết muốn tránh thiệt hại nặng nề, phải dùng trọng pháo phá hủy một phần thành phố Làm như vậy là đi đến chỗ hoàn toàn hủy bỏ hiệp định 6.3 và tạm ước 14.9 và mở rộng gần như chắc chắn, chiến sự đến tất cả mọi đồn bốt doanh trại của chúng ta trên đất Bắc kỳ” [23, tr.55]

Trước những lời cảnh báo đầy lo lắng của Morlière, Valluy chỉ thị thẳng cho Dèbes: “Đã đến lúc phải dạy một bài học đích đáng cho những con người

đã phản bội tấn công chúng ta Bằng mọi điều kiện có trong tay, ông phải hoàn

toàn làm chủ Hải Phòng”[23, tr.56]

Cũng trong ngày 20.11, quân Pháp gây hấn ở Lạng Sơn Phía Pháp cho rằng

sự kiện này là do quân đội Việt Nam đã phục kích và làm hơn 10 người Pháp thiệt mạng khi “một đơn vị có nhiệm vụ bốc hài cốt những binh lính Pháp bị

Ngày đăng: 23/03/2015, 07:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. André Teulières (1985), L’Indochine - Guerres et Paix (Đông Dương-Chiến tranh và hoà bình), Nxb Charles – Lavauzelle, Paris-Limoges Sách, tạp chí
Tiêu đề: L’Indochine - Guerres et Paix
Tác giả: André Teulières
Nhà XB: Nxb Charles – Lavauzelle
Năm: 1985
2. Ban Tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban Tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
3. Bernar Fall (2004), Điện Biên Phủ một góc địa ngục, (Vũ Tiến Thủ dịch), Nxb CAND và Công ty văn hoá Phương Nam, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện Biên Phủ một góc địa ngục
Tác giả: Bernar Fall
Nhà XB: Nxb CAND và Công ty văn hoá Phương Nam
Năm: 2004
4. Bộ Quốc phòng -Viện Lịch sử quân sự (1995), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp1945-1954, Nxb QĐND, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp1945-1954
Tác giả: Bộ Quốc phòng -Viện Lịch sử quân sự
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 1995
5. Cao Văn Lượng (1986), Ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, TC NCLS, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Tác giả: Cao Văn Lượng
Năm: 1986
6. Charles - Henry de Pirey (2004), Con đường tử địa, (Đặng Văn Việt dịch), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường tử địa
Tác giả: Charles - Henry de Pirey
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2004
7. Cục văn thư lưu trữ nhà nước - Trung tâm lưu trữ Quốc gia I (2004), Chiến tranh Đông Dương qua tiếng nói của binh lính Pháp, Nxb QĐND, HN 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, NxbCTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh Đông Dương qua tiếng nói của binh lính Pháp, "Nxb QĐND, HN 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), "Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Cục văn thư lưu trữ nhà nước - Trung tâm lưu trữ Quốc gia I (2004), Chiến tranh Đông Dương qua tiếng nói của binh lính Pháp, Nxb QĐND, HN 8. Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2001
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 13, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb CTQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
16. Đặng Văn Việt (1990), Đường số 4 con đường lửa, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường số 4 con đường lửa
Tác giả: Đặng Văn Việt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1990
17. Đinh Xuân Lâm (1987), Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và những hoạt động phối hợp đấu tranh của Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp, TC LSQS, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và những hoạt động phối hợp đấu tranh của Đảng Cộng sản và nhân dân Pháp
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Năm: 1987
18. Đỗ Thiện - Đinh Kim Khánh(1974), Tiếng sấm Điện Biên Phủ, Nxb QĐND, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng sấm Điện Biên Phủ
Tác giả: Đỗ Thiện - Đinh Kim Khánh
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 1974
19. Erwan Bergot (2004), Điện Bên Phủ - 170 ngày đêm bị vây hãm, Nxb CAND, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện Bên Phủ - 170 ngày đêm bị vây hãm
Tác giả: Erwan Bergot
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2004
20. Fran Kland (1989), Âm vang Điện Biên Phủ, TC LSQS, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm vang Điện Biên Phủ
Tác giả: Fran Kland
Năm: 1989
21. Franỗoise Joyaux (1981), Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, (sách dịch), Nxb Thông tin lý luận, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Tác giả: Franỗoise Joyaux
Nhà XB: Nxb Thông tin lý luận
Năm: 1981

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w