1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt

111 767 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu không kể đến những quan điểm cho rằng toàn cầu hóa được khởi đầu với việc loài người tỏa ra chiếm lĩnh các vùng đất khác nhau trên thế giới, giới nghiên cứu có xu thế cho rằng quá tr

Trang 1

QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP ĐÔNG Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới

Mã số: 60 22 50

Người hướng dẫn: TS Hoàng Anh Tuấn

Hà Nội, 2011

Trang 2

CHƯƠNG I: PHƯƠNG TÂY VÀ PHƯƠNG ĐÔNG TRONG BỐI CẢNH

1.1 Vài nét về Tây Âu đến thế kỷ XVI-XVII 11

1.1.1 Vị trí của Bồ Đào Nha ở Tây Âu thời kỳ trung đại 17

1.1.2 Thương mại Tây Âu cuối thời kỳ trung đại 22

1.1.3 Bồ Đào Nha và sự thành lập Estado da India 25 1.2 Phương Đông thế kỷ XVI - XVII 29

CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP ĐÔNG Á CỦA NGƯỜI BỒ

2.5 Mậu dịch tơ lụa Macao-Nagasaki 56

CHƯƠNG III: NHỮNG MỐI LIÊN HỆ GIỮA NGƯỜI BỒ ĐÀO NHA VÀ

3.2 Những cuộc tiếp xúc Bồ - Việt đầu tiên trong thế kỷ XVI 70 3.3 Quan hệ Bồ Đào Nha - Đàng Trong 72 3.4 Quan hệ Bồ Đào Nha - Đàng Ngoài 81

Trang 3

Page | 3

Trang 4

Page | 4

THUẬT NGỮ - ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG - CHỮ VIẾT TẮT

- Estado da India: Chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha ở Đông Ấn

- Não do Trato: Tàu có trọng tải lớn, được Bồ Đào Nha khởi hành từ Macao

tới Nhật Bản, với trọng tải 1200-2000 tấn

- SJ: Sociéte de Jésuit - Dòng Tên Bồ Đào Nha

- MEP: Mission Étrangere de Paris-Hội Truyền giáo nước ngoài Paris

- BĐN: Bồ Đào Nha

- Cruzado: Đơn vị tiền tệ của Bồ Đào Nha, đồng tiền vàng Bồ Đào Nha, là

đơn vị tiền tệ được người Bồ Đào Nha và một số thương nhân quốc tế sử dụng trong buôn bán quốc tế thế kỷ XV-XVII

- Tael: Đơn vị tiền bạc, tương đương với 37,5 gram

- Reis: Đơn vị tiền tệ Bồ Đào Nha, 60 Reis tương đương với 1 Tael

- Peso: Đơn vị tiền tệ Bồ Đào Nha, 1 Peso tương đương với 0,8 Tael (bằng

- ĐNA: Đông Nam Á

- NCTG: Nghiên cứu Tôn giáo

- C.C.s.R: The Congregatio Sanctisimi Redemptoris - Dòng Chúa Cứu thế

- Tp HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 5

Xét trên bình diện sử học thế giới, cho đến nay đã và đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm toàn cầu hóa và hội nhập trong lịch sử Nếu không kể đến những quan điểm cho rằng toàn cầu hóa được khởi đầu với việc loài người tỏa

ra chiếm lĩnh các vùng đất khác nhau trên thế giới, giới nghiên cứu có xu thế cho

rằng quá trình toàn cầu hóa đầu tiên (the first globalization) đã diễn ra trong khoảng

các thế kỷ XVI-XVIII, thông qua một tập hợp các sự kiện quan trọng như: các phát kiến địa lý của người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Hiệp ước Tordessilas, sự hình thành các mạng lưới thương mại, truyền giáo… Sự hội nhập này đã kéo khu vực phương Đông rộng lớn vào guồng máy toàn cầu đang chuyển động mạnh mẽ, qua

đó, phương Đông có điều kiện giao lưu và tiếp nhận những giá trị mới và hiện đại của thế giới Tây Âu Ngược lại, thế giới Tây Âu cũng trải qua một quá trình tiếp nhận chọn lọc các giá trị phương Đông

Bồ Đào Nha, một trong những đại diện tiêu biểu của thế giới Tây Âu thời kỳ này, đã tiến hành công cuộc thâm nhập xã hội phương Đông một cách năng động nhằm tìm kiếm những giá trị được phản ánh trong các tác phẩm đầy mê hoặc như

cuốn“Viễn du” của Marco Polo về thế giới phương Đông (đặc biệt là văn minh Trung Hoa), hay tác phẩm“Nghìn lẻ một đêm” về nền văn minh Ả rập Công cuộc

tìm kiếm đó đã mang lại cho Bồ Đào Nha những giá trị thặng dư mới, nhất là trên

Trang 6

Page | 7

lĩnh vực thương mại Những giá trị đó đã đưa Bồ Đào Nha phát triển lên một tầm cao mới, tầm cao của một dân tộc mang trong mình dòng máu của “Chủ nghĩa trọng

thương” (Mercantilism), khiến cho họ trở nên dũng mãnh hơn trong các cuộc hành

trình xuyên đại dương

Vào thời điểm của sự bành trướng của người Bồ Đào Nha, khu vực Đông Á vẫn là một khu vực hải thương sôi động bậc nhất ở phương Đông Các mạng lưới buôn bán liên vùng vẫn được duy trì, đặc biệt là tuyến buôn bán từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á và sang khu vực Nam – Tây Á Trong bối cảnh đó, sự thâm nhập của người Bồ Đào Nha từ đầu thế kỷ XVI không những không làm suy giảm truyền thống thương mại, ngược lại, còn kích thích sự hưng thịnh của một số tuyến thương mại chính yếu Trong số các trung tâm thương mại quan trọng của thế giới Đông Á thời kỳ này, có thể kể đến các thương cảng nổi tiếng, mang tầm thế giới như Malacca, Patani, Macao, Nagasaki… và hàng loạt các cảng thị quan trọng khác như Ayutthaya, Hội An, Manila, Bantam…

Sự xuất hiện của nhân tố mới Bồ Đào Nha đã khuấy động khu vực Đông Á truyền thống, biến khu vực này trở thành một trong những thị trường hấp dẫn và lợi nhuận bậc nhất trên thế giới Bên cạnh thương mại, các hoạt động truyền giáo và văn hóa khác cũng song hành diễn ra Nhiều vị trí thương mại đã được người Bồ Đào Nha chiếm lĩnh, đầu tư xây dựng để biến thành những trung tâm buôn bán quốc tế, những mắt xích trong mạng lưới thương mại liên vùng, liên châu lục và liên thế giới Trong dòng chảy chung đó, Đại Việt - một trong số các quốc gia truyền thống

và lâu đời ở phương Đông – cũng sớm trở thành điểm đến khá hấp dẫn của các đoàn thương thuyền ngoại quốc Từ nhiều thế kỷ trước, các triều đại phong kiến Việt Nam

đã có những bước dự nhập nhất định vào mạng lưới thương mại và giao lưu văn hóa khu vực Đến nay, với sự xuất hiện của yếu tố Bồ Đào Nha (sau đó là các yếu tố Hà

Lan, Anh, Pháp…) – một “gam màu mới” trong bức tranh kinh tế - xã hội truyền

thống của Đại Việt cũng dần chuyển hiện hữu, có tác động nhất định đến thể chế

Trang 7

Page | 8

quân chủ chuyên chế đang trong giai đoạn“chuyển mình” trước những diễn biến nội

tại cũng như các tác động ngoại lai, đưa Đại Việt hội nhập vào dòng chảy lịch sử Đông Á giai đoạn cận đại sơ kỳ Bên cạnh những tác động kinh tế - thương mại, khía cạnh tôn giáo - xã hội cũng được khắc họa khá rõ nét Thiên Chúa giáo đã “hòa mình vào xã hội Việt Nam” [10] như một thực thể văn hóa, tôn giáo bản địa và “hạt giống đức tin” đã được “ươm mầm tươi tốt” trong một xã hội đang “khao khát chuyển mình” như Đại Việt

Có thể nói, không chỉ có những tác động thương mại, quá trình thâm nhập khu vực Đông Á của người Bồ Đào Nha còn tạo ra những hệ giá trị văn hóa – tín ngưỡng mới trong diễn trình giao lưu và tiếp xúc văn hóa Á - Âu Dưới ảnh hưởng của nhân

tố Bồ Đào Nha, khu vực Đông Á nói chung, Đại Việt nói riêng, đã đứng trước rất

nhiều những thay đổi Đề tài luận văn “Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ

Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt” hướng đến mục tiêu

bước đầu làm sáng tỏ những vấn đề lịch sử nói trên Trên cơ sở tập hợp tư liệu, người viết cố gắng phân tích để đưa ra một cái nhìn tương đối toàn cảnh về hai thế giới phương Đông và phương Tây để từ đó làm rõ quá trình thâm nhập của Bồ Đào Nha vào thế giới Đông Á truyền thống như thế nào? Quá trình đó đã tạo ra những chuyển biến mới trong quan hệ thương mại và tiếp xúc văn hóa Đông-Tây ra sao? Ảnh hưởng của nhân tố Bồ Đào Nha trong xã hội Đại Việt như thế nào? Ý nghĩa, tác động của nhân tố Bồ Đào Nha trong các xã hội Đông Á truyền thống ra sao?

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình thâm nhập của người Bồ Đào Nha vào khu vực Đông Á

là một chủ đề nghiên cứu rộng, cho đến nay đã thu hút được sự quan tâm nhất định của giới sử học quốc tế Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề này còn chưa được quan tâm nghiên cứu tương xứng do những hạn chế về mặt tư liệu; một số công trình nghiên cứu liên quan đến người Bồ Đào Nha còn tản mạn Vì vậy, người viết sẽ cố gắng

Trang 8

Page | 9

khai thác triệt để các nguồn tư liệu đó Qua khảo cứu và phân tích, có thể phân chia thành các nhóm cơ bản sau:

2.1 Các nguồn tư liệu nước ngoài được chuyển ngữ sang tiếng Việt

Trước hết, phải kể đến các ghi chép, mô tả, du ký… của các thương nhân, nhà

du hành, nhà truyền giáo phương Tây đến Đại Việt như: W Dampier [82], A Rhodes [63], [64], C Bori [4], Louis Gaspar [14], … Các tài liệu này cung cấp những mô tả, tường thuật chi tiết về tình hình Đại Việt thế kỷ XVI-XVII Chẳng hạn, các ghi chép của A Rhodes không chỉ mô tả về xã hội Đại Việt (nội chiến Đàng Trong - Đàng Ngoài, đời sống vật chất và tinh thần của người Việt, thói quen, tập tục, tín ngưỡng… mà còn có những chi tiết về các cộng đồng người ngoại quốc ở Đại Việt [63], [64]; hoặc những mô tả của C Borri và Louis Gaspar phản ánh một cách khá chi tiết và tường tận về xứ Đàng Trong những năm đầu thế kỷ XVII, đặc biệt nhấn mạnh ảnh hưởng của người Âu ở đây đã tạo ra thế ứng xử của những người đứng đầu chính quyền Đàng Trong là lựa chọn một “đối tác” mới cho việc hợp tác để chống lại chính quyền chúa Trịnh ở Đàng Ngoài từ nhu cầu về vũ khí và tiền tệ

Bên cạnh nguồn tài liệu gốc là các công trình nghiên cứu hiện đại Trong nhiều thập kỷ, cuối của thế kỷ XX, cuốn chuyên khảo “Lịch sử Đông Nam Á” của D.G.E Hall là công trình nghiên cứu được trích dẫn khá nhiều về hoạt động của người Âu tại Đông Nam Á, trong đó có hoạt động của người Bồ Đào Nha ở Đại Việt và các quốc gia Đông Nam Á khác [15] Bên cạnh đó là hàng loạt những công trình nghiên cứu của các học giả tên tuổi như Yves Manguin [47], Li Tana [65], Roland Jacques [30]… Thông qua những khảo cứu tư liệu gốc phương Tây, Manguin đã phục dựng lại hải trình và họat động của người Bồ Đào Nha ở Đại Việt và Đông Á Cuốn chuyên khảo của Li Tana làm nổi bật hoạt động của cộng đồng người ngoại quốc ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII, trong đó hoạt động thương mại và truyền giáo của người Bồ Đào Nha được thể hiện khá sắc nét Những nghiên cứu của chuyên gia R

Trang 9

Page | 10

Jacques những năm gần đây lại góp phần soi sáng vai trò của cộng đồng người Bồ Đào Nha trong quá trình sáng lập chữ quốc ngữ ở Việt Nam

2.2 Các công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt

Trong số các công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về lịch sử thương mại nói chung và ngoại thương nói riêng phải kể đến cuốn chuyên khảo của tác giả Thành Thế Vỹ [81] Đây là một trong những công trình mang tính khai phá trong nghiên cứu về lịch sử ngoại thương Việt Nam và vẫn được trích dẫn khá nhiều cho đến hiện nay Trong cuốn chuyên luận trên, Thành Thế Vỹ đã khái quát về tình hình ngoại thương, quá trình phát triển và suy tàn, tính chất của nền ngoại thương… đồng thời đưa ra cái nhìn toàn diện về ngoại thương nước ta giai đoạn thế kỷ XVII- đầu thế kỷ XIX

Các công trình nghiên cứu của học giả Nguyễn Văn Kim [33], [34], [37]…có giá trị khoa học rất lớn trong nghiên cứu lịch sử thương mại và quan hệ giữa Đại Việt với các cộng đồng người ngoại quốc Các công trình trên đã đưa ra những luận điểm khoa học, những kiến giải sâu sắc về quan hệ thương mại của một số quốc gia Đông Á (tiêu biểu nhất là Nhật Bản) với các quốc gia khu vực cũng như các thế lực thương mại và truyền giáo phương Tây Những công trình của học giả Nguyễn Văn Kim đã được tác giả tham khảo triệt để trong phần viết về khu vực Đông Á nói chung và Đại Việt nói riêng

Trên phương diện hoạt động truyền giáo, nghiên cứu của các học giả Nguyễn Văn Kiệm [41], [42], [43]; Nguyễn Hồng [17], [18]; Trương Bá Cần [7]…là những chuyên khảo có giá trị khoa học cao trong việc tìm hiểu quá trình truyền bá Thiên Chúa giáo vào Việt Nam, đặc biệt là vai trò của Dòng Tên (SJ) giai đoạn đầu của lịch sử Công giáo ở việt Nam và những hoạt động của các giáo sĩ ở cả Đàng Trong

và Đàng Ngoài, vai trò và vị trí của Công giáo Việt Nam đối với Công giáo phương Đông Các công trình nghiên cứu về Giáo sử cho thấy vị trí của Công giáo trong đời sống tư tưởng, văn hóa Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVI-XVII Các chuyên luận này

Trang 10

2.3 Các tài liệu ngoại văn

Nguồn tư liệu ngoại văn viết về quá trình thâm nhập của người Bồ Đào Nha vào Đông Á tương đối đa dạng, dù tản mạn, dưới nhiều thứ tiếng khác nhau Do những hạn chế về khả năng khai thác, trong luận văn này tác giả chủ yếu sử dụng các tư liệu tiếng Anh

Được giới nghiên cứu đánh giá là tập đại thành nghiên cứu về thương mại

Đông Nam Á thời kỳ này, cuốn chuyên khảo “South East Asia in the Age of

Commerce, 1450-1680” của A.Reid [98] được tác giả luận văn tận dụng khai thác ở

những phần liên quan đến hoạt động của người Bồ Đào Nha ở Đông Á Bên cạnh

đó, các công trình của các học giả tên tuổi như: Tien T’se Chang [92]; C Boxer [84], [85]; G Scammell [100]; J Boyjian [90]; Subrahmanyam [103]; Hoang Anh

Trang 11

Page | 12

Tuan [105]; G Souza [101], [102]; R Wood [108], [109]; L Blussé [84]; M Cooper [91]… là những công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ đề nghiên cứu Các công trình trên phản ánh lịch sử hoạt động của người Bồ Đào Nha ở phương Đông nói chung, khu vực Đông Á nói riêng trên cả các phương diện thương mại, bang giao, truyền giáo

Xin đơn cử một số dẫn dụ: trong công trình nổi tiếng “Fildagos in the Far

East, 1550-1770” của mình, sử gia Charles Boxer đã làm nổi bật lịch sử hoạt động

của cộng đồng người Bồ Đào Nha, nhất là cộng đồng giáo sĩ, ở một số khu vực tiêu biểu ở Đông Á như Macao và Nhật Bản trong hơn hai thế kỷ Sự tồn tại và hoạt động của họ đã có những tác động sâu sắc đến văn hóa – xã hội của các cộng đồng

người bản địa Đông Á [87] Còn trong chuyên khảo dưới tựa đề “Sino-Portuguese

Trade from 1514-1644”, học giả Tien T’se Chang đã phác họa một cách chi tiết và

sinh động quá trình lịch sử hơn một thế kỷ hoạt động thương mại của người Bồ Đào Nha ở Trung Quốc lục địa Theo Tien T’se Chang, sự tồn tại của cộng đồng người

Bồ Đào Nha ở Ma Cao đã có những tác động không nhỏ đến tình hình chuyển biến kinh tế - xã hội Trung Quốc, góp phần đưa quốc gia này đến sự hội nhập khu vực và

toàn cầu trong thế kỷ XVIII [92] Bên cạnh đó, những chuyên luận như “The

Mechanics of Macao-Nagasaki Silk Trade” của M Cooper [91], “Brief Encounter

at Macao” của Leonard Blussé [84]… góp phần phục dựng lại quá trình thâm nhập

và xây dựng vị thế của người Bồ Đào Nha tại Ma Cao cũng như quá trình thiết lập

và duy trì mạng lưới buôn bán tơ lụa giữa Ma Cao và Nagasaki trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVI và những thập kỷ đầu của thế kỷ XVII

Một cách khái quát, các nguồn tư liệu trong và ngoài nước về quá trình thâm nhập và hoạt động của người Bồ Đào Nha ở Đông Á và Đại Việt khá phong phú Tuy nhiên, các tư liệu trên nhìn chung còn tản mạn, thường chỉ đề cập đến những khía cạnh nhất định hoặc những giai đoạn cụ thể của hoạt động trên Mặc dù vậy,

đây vẫn là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho việc nghiên cứu“Quá trình

Trang 12

Về không gian: trước đây khái niệm Đông Á được nhiều người sử dụng theo nghĩa hẹp, tức là chỉ bao gồm Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản Giới nghiên cứu gần đây quan niệm Đông Á theo nghĩa rộng, bao gồm cả khu vực Đông Bắc Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) và khu vực Đông Nam Á (cả khu vực lục địa và hải đảo) Trong luận văn này, khái niệm Đông Á được sử dụng theo nghĩa rộng Tuy nhiên, do những mối liên hệ lịch sử mang tính hữu cơ trong hoạt động của người Bồ Đào Nha ở phương Đông, trong một số phần viết nhất định, người viết chủ trương

đề cập vắn tắt đến khu vực Nam Á (chủ yếu là Ấn Độ)

Trên phương diện thời gian: quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha diễn ra chủ yếu trong hai thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII Theo cách phân kỳ truyền thống của sử học Việt Nam, hai thế kỷ này vẫn nằm trong giai đoạn trung đại Tuy nhiên, theo quan điểm phân kỳ của giới sử học phương Tây (và không ít các nền sử học phương Đông thời gian gần đây), giai đoạn từ sau các phát kiến địa lý đến khoảng Cách mạng Công nghiệp ở Tây Âu thường được định danh là giai đoạn

Cận đại sơ kỳ (Early Modern Period).* Trong bản luận văn này, cả hai khái niệm

*

Thuật ngữ Trung đại (trung cổ hay trung thế kỷ) vốn dùng để chỉ một thời kỳ tương đối dài ở châu

Âu Các sử gia tư sản thường quan niệm thời kỳ trung đại kết thúc vào khoảng thế kỷ XIV-XV, trước khi có các phát kiến địa lý, có sự phát triển của thành thị trung đại và nền văn hóa mới Các sử gia Mac-xit xác định nội dung cơ bản của thời kỳ trung đại là sự tồn tại của chế độ phong kiến, căn bản là chế độ phong kiến Tây Âu Với sự phôi thai của nền sản xuất mới, chế độ đó chưa thể coi là chấm dứt Phải đến cuộc cách mạng tư sản đầu tiên nổ ra và thắng lợi mới thực sự điểm tiếng chung cáo chung của chế độ phong kiến và mở đầu thời kỳ Cận đại [55]

Trang 13

4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài: “Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ

XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt”, luận văn chủ yếu sử dụng các phương

pháp sau:

Phương pháp lịch sử và lô gíc được coi là những phương pháp chính của sử học nhằm đạt được một cái nhìn toàn cảnh và xuyên suốt quá trình khoảng hai trăm năm thâm nhập và hoạt động của người Bồ Đào Nha ở Đông Á: nội dung và đặc điểm của quá trình lịch sử đó

Bên cạnh đó, luận văn đồng thời sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ hơn lịch sử phát triển của chính thể Bồ Đào Nha ở Đông Á, nhất là những mối liên hệ thương mại và tôn giáo với quốc gia Đại Việt

5 Đóng góp của Luận văn

Luận văn phục dựng lại bức tranh chung về quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha, từ đó làm nổi bật vị thế, ảnh hưởng của yếu tố Bồ Đào Nha đối với xã hội Đông Á thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt Qua đó, luận văn cung cấp một cái nhìn khái lược về phương Đông - phương Tây giai đoạn cận đại sơ kỳ, vị trí của Đông Á trong nền thương mại thế giới, vai trò của người Bồ Đào Nha với tư cách là những người phương Tây đầu tiên có mặt ở Đại Việt Ngoài

ra, luận văn còn phác dựng lại quá trình người Bồ Đào Nha tiến hành thiết lập hệ

Trang 14

Page | 15

thống thương mại độc quyền cũng như các đặc quyền trong truyền giáo ở khu vực Đông Á

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục; Luận văn gồm 3 chương chính:

Chương 1: Phương Đông và phương Tây trong bối cảnh kinh tế - xã hội thế kỷ

XVI-XVII

Chương I trình bày khái quát tình hình kinh tế-xã hội, bối cảnh chính trị và đời sống văn hóa của phương Tây trong đó có Bồ Đào Nha và phương Đông trong

đó có Đông Á Thông qua hoạt động của Chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha (Estado

da India), người Bồ đã từng bước tham gia vào các hoạt động thương mại và truyền giáo ở khu vực Viễn Đông

Chương 2: Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ

XVI-XVII

Chương II tập trung phân tích quá trình người Bồ Đào Nha thâm nhập vào các xã hội Đông Á, xây dựng các địa bàn thương mại và truyền giáo trọng yếu (Malacca, Macao, Nagasaki…) cũng như ảnh hưởng của nhân tố Bồ Đào Nha tới bức tranh hải thương và truyền giáo ở khu vực

Chương 3: Những mối liên hệ của người Bồ Đào Nha với Đại Việt thế kỷ

XVI-XVII

Chương III trình bày và phân tích quá trình tiếp xúc, thiết lập quan hệ bang giao và thương mại giữa Bồ Đào Nha và Đại Việt, từ hoạt động thương mại đến hoạt động truyền giáo và khẳng định vai trò của Dòng Tên (SJ) trong hơn một thế kỷ phát triển của Thiên Chúa giáo ở Đại Việt, cùng với đó là sự biến đổi của tình hình văn hóa, tư tưởng trong xã hội Đại Việt giai đoạn thế kỷ XVI-XVII

Trang 15

Page | 16

CHƯƠNG I

PHƯƠNG TÂY VÀ PHƯƠNG ĐÔNG TRONG BỐI CẢNH

KINH TẾ - XÃ HỘI THẾ KỶ XVI–XVII

Dưới quan điểm địa-chính trị, địa-kinh tế, địa-văn hóa và địa-quân sự, phương Tây được hiểu là toàn bộ khu vực châu Âu Cho đến trước thế kỷ XVI, nhận thức của thế giới phương Tây, nhất là của khu vực Tây Âu, về thế giới phương Đông còn hết sức mơ hồ Trong các bản đồ cổ cũng như ghi chép của người phương Tây, phương Đông bao gồm toàn bộ những khu vực ngoài châu Âu Tuy nhiên, từ sau các phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV, nhận thức về phương Đông ngày càng hoàn chỉnh, trong đó phương Đông giờ đây được hiểu theo nghĩa hẹp hơn nhưng cụ thể hơn:

toàn bộ khu vực châu Á

1.1 Vài nét về Tây Âu đến thế kỷ XVI-XVII

Lịch sử phương Tây thời kỳ trung đại chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của hàng loạt các quốc gia ở khu vực Tây Âu Theo quan niệm truyền thống, thời kỳ trung đại Tây Âu trải dài trong khoảng 10 thế kỷ, từ khi đế chế Tây La Mã sụp đổ vào thế kỷ thứ V đến khoảng cuối thế kỷ XV – sau khi diễn ra hàng loạt các phát kiến địa lý quan trọng làm thay đổi cục diện quan hệ Âu - Á và Âu - Mỹ trong các thế kỷ tiếp theo

Tuy nhiên, lịch sử Tây Âu trung đại không phải được định hình từ chân không mà là sự phát triển kế tục của những giai đoạn văn minh cổ đại trước đó Sự phát triển thịnh đạt của các thời kỳ văn minh Crét và Mixen (thiên niên kỷ III-II TCN) trong không gian văn minh Hy Lạp và sau này là văn minh La Mã chính là tiền đề cho sự phát triển của Tây Âu giai đoạn trung đại Ngay từ thời kỳ Hy – La, các mối quan hệ và giao lưu với các vùng đất phương Đông khác qua các tuyến đường bộ đã diễn ra hết sức cụ thể Thông qua đó, các sản phẩm hàng hóa cũng như

Trang 16

Phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ ở châu Âu nói chung và ở Roma nói riêng dựa trên nền tảng là nền kinh tế Đại điền trang Latiphunđia Đó là sự tập trung cao độ ruộng đất vào tay giai cấp chủ nô-cơ sở ra đời của các Đại điền trang, một sự đảm bảo về kinh tế để tồn tại một chế độ chiếm nô hùng mạnh Một đặc trưng điển hình của chế độ chiếm hữu nô lệ ở châu Âu.*

Từ giữa thế kỷ I, chế độ Đại điền trang bắt đầu có những dấu hiệu khủng hoảng-hiện tượng quý tộc chủ nô xé nhỏ các Latiphunđia, làm các đại điền trang rộng lớn xưa kia dần dần tan vỡ Sự tan rã của các Latiphunđia không những thể hiện sự khủng hoảng và suy vong của chế độ chiếm nô Roma, mà còn kéo theo hàng loạt sự thay đổi trong phương thức canh tác, phương thức bóc lột và tính chất của nền kinh tế Cơ sở kinh tế cơ bản là các Latiphunđia bị sụp đổ, đẫn đến sự sụp đổ của thể chế chính trị rộng lớn, những giai cấp mới chưa xuất hiện trong lòng xã hội

và người nô lệ được giải phóng tương đối

Vào thế kỷ V, ở ngoài địa vực của đế quốc Roma có các bộ lạc người Xentơ, Giecmanh, Slavơ cư trú Những tộc người đó bị người Roma gọi là các “man tộc”

*

Latiphunđia là hình thái sản xuất cơ bản của nền kinh tế Roma Vận mệnh của nhà nước Roma gắn với vận mệnh những Đại điền trang Khi các Đại điền trang phát triển cực thịnh thì cũng là lúc nhà nước Roma, phát triển đến đỉnh cao, ngược lại khi các Đại điền trang suy yếu và tan rã thì cũng là lúc đế quốc Roma đi vào giai đoạn khủng hoảng và suy vong

Trang 17

Page | 18

Các bộ lạc Giecmanh đã liên kết thành nhiều liên minh bộ lạc và dần xâm nhập vào lãnh thổ của đế quốc Roma Đó là cuộc thiên di lớn để hình thành những vương quốc nhỏ như vương quốc Frăng, Đông Gốt, Tây Gốt…mà đây là tiền đề để hình thành nên những nước lớn ở châu Âu sau này là: Pháp, Đức, Italia

Những vương quốc nhỏ đó thành lập cũng đồng nghĩa là sự sụp đổ của đế chế

La Mã Đó là sự thống nhất của các “man tộc” chịu ảnh hưởng, lệ thuộc đế chế La

Mã, đã biết đứng lên chống lại người thống trị mình Tuy nhiên, cũng có một khoảng cách lớn giữa hai nền văn minh (một nền văn minh Hy-La rực rỡ và một nền văn minh nhỏ bé của các “man tộc”) Sự sụp đổ của đế chế Tây La Mã vào năm 476 SCN là thời kỳ chấm dứt của chế độ chiếm hữu nô lệ Bắt đầu một phương thức sản xuất mới kéo dài khoảng hơn 10 thế kỷ - phương thức sản xuất phong kiến

Để duy trì quyền lực, chế độ phong kiến phải tìm kiếm một bệ đỡ về tư tưởng, văn hóa Trong khi chưa tự sản sinh ra hệ tư tưởng mới cho mình, trên nền có sẵn họ đã tìm được bệ đỡ tư tưởng, bệ đỡ tư tưởng không phải là cái gì khác mà là Kitô giáo Ra đời vào khoảng thế kỷ I SCN ở phía đông đế quốc Roma (thuộc lãnh thổ Palestin) Lúc đầu, đạo Kitô là tôn giáo của quần chúng bị áp bức, công khai lên

án sự giàu có, lên án sự bóc lột, nên bị giai cấp thống trị Roma thẳng tay đàn áp Dần dần, đạo Kitô biến chất, trở thành một tôn giáo có lợi cho giai cấp chủ nô, đến thế kỷ IV (313) được công nhận là quốc giáo của đế quốc Roma

Các thủ lĩnh “man tộc” do nắm được chính quyền và trở thành giai cấp trung tâm của xã hội (dù có uy quyền nhưng nền tảng văn hóa rất thấp kém, họ đã hình thành liên minh với các giai cấp khác để bổ sung về văn hóa và kiến thức) Vì họ chưa tự sản sinh ra hệ tư tưởng của mình, họ tìm đến bệ đỡ tư tưởng là Kitô giáo, đó

là bức hào quang để bảo vệ thể chế đó (Lịch sử đã chứng minh một quy luật: Không

có một triều đại nào có thể tồn tại được nếu không dựa vào các hệ tư tưởng, tôn giáo)

Trang 18

Page | 19

Về cấu trúc và bản chất của các thủ lĩnh quân sự vừa là thủ lĩnh, vừa là chủ đất Các thế lực nhà thờ ra sức bảo vệ cho chế độ phong kiến đang lên Qua đó, các thủ lĩnh quân sự phải chia cấp cho nhà thờ những không gian ruộng đất lớn và Kitô giáo được tôn vinh vào giai đoạn cuối của chế độ chiếm hữu nô lệ Trở thành bệ đỡ

tư tưởng chính thống và cao nhất của chế độ phong kiến

Khi chế độ phong kiến được xác lập ở châu Âu, tính trên mức độ ảnh hưởng của một sự kiện đối với toàn nhân loại hoặc một châu lục, thì sự sụp đổ của nền kinh

tế Đại điền trang và chưa xác lập được các công cụ mới thì sự xâm lược của người Ả rập vào châu Âu năm 638 như một cú huých lịch sử, tạo ra tầm nhìn của người châu

Âu ra thế giới bên ngoài, mở ra một cánh của mới với kẻ thù tới từ Ba Tư Người châu Âu tiếp nhận sự giao hòa của châu Á trong khoảng 300 năm, và họ đã bắt đầu hiểu rõ ý thức về dân tộc, về truyền thống văn hóa, hình thành chủ nghĩa dân tộc, ý thức quốc gia Cũng từ đó, từ vương quốc Frăng được thành lập, các quốc gia trung tâm như Đức, Ý, Pháp…đã ra đời trong bối cảnh đó

Đến thế kỷ VIII, Sác-lơ Mác-ten tiến hành cuộc cải cách quân sự và chính sách ban cấp ruộng đất Những người đứng ra ban cấp ruộng đất là các lãnh chúa, ruộng đất bị chia thành nhiều mảnh gọi là các lãnh địa

Tư liệu sản xuất tập trung trong tay các lãnh chúa, chế độ phong kiến ở châu

Âu trung đại là chế độ phân quyền, hình thành trên cơ chế phân chia quyền lực, luôn

có sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các quý tộc, hoàng đế, lãnh chúa Chính quyền trung ương là một lãnh chúa lớn, nắm quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, lớn hơn bất kỳ lãnh chúa nào ở địa phương Chính quyền trung ương thường xuyên duy trì quyền lực đối với các lãnh chúa địa phương Dù có quyền tự chủ nhưng không phải là tuyệt đối mà chỉ trong khuôn khổ lãnh địa mà thôi

Về tinh thần: Thề trung thành với người phân phong Chính quyền trung ương có sự tiếp nối của các dòng họ, là lực lượng duy nhất có thể ban tước vị phong

Trang 19

là các thị dân Trên nền tảng là nền kinh tế công thương, đối lập với nền kinh tế địa

tô Đó là thách thức với chế độ phong kiến và đó cũng là một trong những điều kiện phá hoại ngầm chế độ phong kiến

Trên cơ sở sự khủng hoảng và suy vong của chế độ phong kiến Từ thế kỷ XVI, châu Âu bước sang một giai đoạn phát triển mới-sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong lòng xã hội phong kiến

Xét trên bình diện chung, chế độ phong kiến ở phương Tây có những đặc điểm sau:

Đó là sự tồn tại của hai giai cấp cơ bản là lãnh chúa và nông nô, trong đó giai cấp nông nô là giai cấp trung tâm, giai cấp điển hình của hình thái kinh tế-xã hội

Quyền sở hữu tư liệu sản xuất (ruộng đất) tập trung trong tay các lãnh chúa, ruộng đất được chia thành nhiều mảnh nhỏ, được gọi là các lãnh địa và lãnh chúa chính là những người đứng đầu lãnh địa

Hình thức bóc lột cơ bản bằng địa tô Do cày cấy ruộng đất của lãnh chúa, nông nô phải nộp địa tô cho chủ Hình thức địa tô được áp dụng phổ biến nhất là tô lao dịch.*

*

Hình thức của loại tô này là, mỗi tuần, mỗi hộ phải cử một ngươi khỏe mạnh đem theo nông cụ, súc vật đến làm việc trên ruộng đất của lãnh chúa 3 đến 4 ngày, thời gian còn lại nông nô làm việc trên phần đất của mình

Trang 20

Page | 21

Là chế độ chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Kitô giáo: Phải nói rằng, tuy chế độ phong kiến đã hình thành một thời gian tương đối dài song trình độ phát triển thấp kém về kinh tế và văn hóa của các nước Tây Âu lúc bấy giờ chính là cơ sở để các loại mê tín tồn tại và phát triển Bởi vậy, những luận điệu bịp bợm do giáo hội Kitô truyền bá càng được các tầng lớp cư dân tin tưởng Giáo lý của đạo Kitô thời trung đại chủ yếu nhấn mạnh sự cứu vớt linh hồn sau khi chết, khuyên quần chúng nhân dân phải an phận, cam chịu sự cực khổ ở đời, do đó đã có vai trò rất lớn trong việc làm tê liệt ý chí đấu tranh của quần chúng, bảo vệ đắc lực cho giai cấp phong kiến

Đó là đặc trưng của chế độ phong kiến ở châu Âu trong hơn mười thế kỷ đầu sau khi hình thành và phát triển Từ thế kỷ XVI, châu Âu bước sang một giai đoạn phát triển mới-sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong lòng xã hội phong kiến

Từ sự tiến bộ về kỹ thuật, dẫn tới sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và sự tích lũy ban đầu của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu, thể hiện trên hai mặt: Phong trào rào đất cướp ruộng và cướp bóc thuộc địa Qua phong trào này, đa số những người nông dân bị biến thành những người vô sản, làm thuê cho các nhà tư sản

Các công trường thủ công trong công nghiệp được thay thế cho các phường hội trong nền sản xuất của tư bản chủ nghĩa Đó là sự phát triển mang tính quy luật của nền kinh tế hàng hóa, đã phá vỡ cơ chế kinh tế lãnh địa và nền nông nghiệp

“thuần túy” Là một trong những điều kiện dẫn đến sự nhanh chóng sụp đổ của chế

độ phong kiến Tây Âu trung đại

Do sự phát triển của sức sản xuất, do mâu thuẫn về kinh tế-xã hội, nảy sinh trong quá trình phát triển của sức sản xuất, trong hoàn cảnh lịch sử của Tây Âu bước vào giai đoạn quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa Nguyên nhân quan trọng nhất là do nguy cơ bế tắc trong việc buôn bán trực tiếp với phương Đông của người châu Âu

Trang 21

Page | 22

Trước đó, giai cấp phong kiến ở châu Âu đã tiêu thụ một khối lượng lớn hàng hóa xa xỉ của phương Đông Từ cuối thế kỷ XV, đối với châu Âu hàng hóa phương Đông trở nên khan hiếm, giá cả cao vọt Một con đường buôn bán của người châu

Âu với phương Đông là con đường qua Địa Trung Hải đã nằm trong tay người Ý và người Ả rập Người Ả rập trở thành người lũng đoạn hàng hóa Ấn Độ với giá đắt đỏ Trong tình thế đó cuộc thám hiểm để tìm đường sang phương Đông đã trở nên có ý nghĩa vô cùng quan trọng và những người đi đầu trong việc tìm ra thiên đường phương Đông là hai thế lực Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của Luận văn chỉ tập trung vào những hoạt động của Bồ Đào Nha nên ở đây chúng tôi chỉ trình bày về vị trí của Bồ Đào Nha ở Tây Âu thời kỳ trung đại

Như vậy, cho đến cuối thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI, ở châu Âu là thời kỳ hình thành của chế độ tư bản chủ nghĩa trên nền tảng chính trị bất hòa của một xã hội phong kiến đang trong giai đoạn khủng hoảng và suy vong Từ sự phát triển của một xã hội mới với các giai cấp đang lên, nhu cầu về đời sống và sự tích lũy của chủ nghĩa tư bản đã làm cho đời sống của các nước phương Tây nói chung bước sang một giai đoạn phát triển mới mà mỗi quốc gia ở Tây Âu là một trong những thành phần tạo nên một nền văn minh Tây Âu trung đại với những thành tựu vô cùng rực

rỡ

1.1.1 Vị trí của Bồ Đào Nha ở Tây Âu thời kỳ trung đại

Trên bản đồ Tây Âu, Bồ Đào Nha nằm ở điểm cực Tây Nam, trên bán đảo Iberia nhô ra biển Từ vị trí đó, người Bồ Đào Nha có thể đi lên phía Bắc, đi xuống phía Nam để xuống châu Phi hoặc đi vào eo biển Gibralta để đi vào khu vực Trung Cận Đông Tuy nhiên, có một thực tế là nguồn lợi từ hàng hóa phương Đông mà khu vực Trung Đông và Địa Trung Hải mang lại cho người Bồ tương đối hạn chế bởi sự cạnh tranh của các thương nhân châu Âu khác, đặc biệt là người Ý Họ là những thương nhân nắm độc quyền về thương mại ở châu Âu trong nhiều thế kỷ với các

Trang 22

Page | 23

cảng thị sầm uất như Venice, Genoese…Từ vị trí địa lý thuận lợi đó, Bồ Đào Nha trở thành nước tiên phong trên con đường tiến sang phương Đông

Suốt 10 thế kỷ đầu tiên của thời kỳ phong kiến, tầm mắt của người châu Âu

và cả người Bồ Đào Nha hầu như chỉ bó hẹp trong khu vực Địa Trung Hải Đại Tây Dương mà họ sống kề bên chỉ làm cho họ sợ hãi hơn là gợi cho họ trí tò mò Nhưng đến cuối thế kỷ XV, những điền kiện mới đã tạo ra tất cả khả năng để người châu

Âu tìm những con đường mới, thị trường mới

Với những thành tựu về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật hàng hải, đóng tàu thuyền (phát minh ra bánh lái thuyền thay cho mái chèo, kỹ thuật đóng tàu Caraven…) là những cơ sở đảm bảo cho sự thành công của các phát kiến địa lý

Những phát kiến địa lý lớn nhất thế giới cũng được tiến hành trong thời kỳ này bởi người Bồ Đào Nha Adam Smith-nhà kinh tế học nổi tiếng của thế giới sống

ở thế kỷ XVIII, trong cuốn “Của cải của các dân tộc” đã viết: “Việc tìm ra châu

Mỹ và khám phá con đường sang Đông Ấn bằng cách dong thuyền qua Mũi Hảo Vọng là hai sự kiện lớn nhất và quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại” Phát kiến địa lý của hai dân tộc trên bán đảo Iberia đã mở ra một trang mới cho lịch sử nhân loại Đó là sự ra đời của hệ thống buôn bán đường dài (long-distance trade)

Từ thế kỷ XIII, sự khao khát về nguồn vàng, gia vị và hương liệu của phương Đông đã kích thích sự ham muốn của người phương Tây trong việc tìm ra những

vùng đất mới ở phương Đông Đặc biệt từ sau khi xuất hiện tập Viễn du của Marco Polo (Travel of Marco Polo) - người đã có thời gian sinh sống và làm quan ở Trung Quốc dưới triều Nguyên thế kỷ XIII Những miêu tả trong tập Viễn du là điều kiện

thôi thúc người châu Âu chinh phục các vùng nguyên liệu giàu có ở phương Đông

Từ đầu thế kỷ XV, nền kinh tế phong kiến châu Âu bắt đầu đi vào thế yếu, các phường hội không còn ý nghĩa lớn, bắt đầu có những biểu hiện manh nha của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thay vào đó là các công trường thủ công mà đại diện

là các thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực

Trang 23

Page | 24

Lúc này, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang đòi hỏi một sự “tích lũy nguyên thủy tư bản”-nguyên liệu mới và vươn tới những vùng đất giàu tài nguyên, hàng hóa quý hiếm Đặc biệt trong quá trình đó, việc đạt được lợi nhuận cao nhất, nhanh chóng xác lập địa vị chính trị và tôn giáo của giai cấp tư sản và sự định hình của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là những đòi hỏi bức thiết đối với các nước Tây Âu thời kỳ này

Muốn đạt được những thuận lợi trong kinh tế xác lập địa vị chính trị cần tìm

ra những nguyên liệu mới và những vùng đất giàu tài nguyên, hàng hóa quý hiếm và tất nhiên không đơn thuần là khu vực Địa Trung Hải và Đại Tây Dương mà việc tiến lên phía Bắc thì chắc chắn do thương nhân Anh, Hà Lan nắm giữ Vì vậy, tiến xuống phương Nam là một trong những điều cần làm với Bồ Đào Nha Và cùng với Tây Ban Nha, cả hai nước này đều trở thành những đế quốc tiên phong trên mặt biển, nhằm tìm kiếm những vùng đất mới, thiên đường mới

Người Bồ Đào Nha là một trong những người đầu tiên và tích cực nhất tham gia vào các hoạt động thám hiểm Trong thời kỳ diễn ra những hoạt động thám hiểm, nền kinh tế hàng hóa của hai nước này khá phát triển, nhất là ở các thành thị ven biển Bồ Đào Nha có những đội hạm thuyền vào loại mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã từng tiến hành cuộc đấu tranh mấy trăm năm với người Ả rập, đồng thời chống lại sự lũng đoạn của người Ý Vì vậy, các phát kiến địa lý đều do người Bồ Đào Nha tiến hành để đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu và thị trường

Cuối thế kỷ XV (1494), có một sự kiện quan trọng diễn ra trên thế giới Theo

đó, cùng với quá trình phát kiến những vùng đất mới dưới sự thúc ép của Giáo hoàng Alexander IV, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã cùng nhau ký một bản hiệp ước nhằm phân chia phạm vi thế giới của hai nước này - hiệp ước Tordesillas Qua

đó, hiệp ước phân định phạm vi ảnh hưởng của hai nước trên địa cầu: Bồ Đào Nha bành trướng về hướng đông, qua châu Phi, Ấn Độ cho tới Việt Nam và Trung Quốc

Trang 24

Page | 25

lục địa; còn Tây Ban Nha bành trướng về phía Tây qua lục địa châu Mỹ tới vùng quần đảo Philippins

Tuy nhiên, sự phân chia của Giáo hoàng đã gây ra sự bất đồng giữa hai nước

có trong nội dung hiệp ước này: “Trên các bản đồ của Tây Ban Nha, toàn bộ Đông Nam Á nằm trong vùng của Bồ Đào Nha, nhưng những người Bồ Đào Nha lại cũng tính vùng này (trừ Miến Điện) thuộc vào vùng mà Giáo hoàng ban cho họ Thực ra thì Đông Nam Á và nhất là nguồn gia vị là mục tiêu số một với cả Tây Ban Nha và

Bồ Đào Nha” [3] Với sự phân chia có sự tranh cãi này, việc tranh chấp phạm vi ảnh hưởng nhất là Đông Nam Á và Tân Thế Giới, giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng trở nên gay gắt

Cùng với Hiệp ước Tordessilas (1494), Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai thế lực đi tiên phong trong việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra toàn thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thương

Tiếp theo thời kỳ này, ở châu Âu xuất hiện một trào lưu mới trong lĩnh vực

kinh tế là Chủ nghĩa trọng thương (mercantilism).* Trên phương diện tổng quan, Chủ nghĩa trọng thương hình thành và phát triển mạnh ở châu Âu, nhất là ở Anh và Pháp từ giữa thế kỷ XV Tiêu biểu cho học thuyết này là Jean Bodin, Melon, Jully, Colbert…

Chủ nghĩa trọng thương ra đời trong bối cảnh thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến, thời kỳ tích lũy nguyên thủy tư bản của chủ nghĩa tư bản, khi kinh tế hàng hóa

và ngoại thương phát triển Đó là sự phát triển của lực lượng sản xuất trong lòng xã hội phong kiến dẫn đến sự phân công lao động xã hội Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp và trở thành nền kinh tế độc lập Sự xuất hiện của các thành thị, thúc đẩy quá trình trao đổi mua bán đã tác động đến sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa

*

Thuật ngữ “mercantilism” ra đời năm 1763 bởi Bá tước Mirabeau, đến năm 1776 đã được Adam

Smith phổ biến rộng rãi

Trang 25

đó, nhằm thực hiện phương châm: Dân tộc này làm giàu bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc kia

Chủ nghĩa trọng thương là sản phẩm tất yếu của giai đoạn tích lũy nguyên thủy tư bản, chuyển dần từ kinh tế hàng hóa giản đơn sang kinh tế thị trường - là hệ

tư tưởng đầu tiên của giai cấp tư sản

Với điểm xuất phát từ nước Anh và nước Pháp, chủ nghĩa này đã lan ra toàn châu Âu Đó là động lực để các công ty Đông Ấn châu Âu ra đời Trên cơ sở đó, với

**

Luận điểm cơ bản của chủ nghĩa này chú trọng một số vấn đề cơ bản sau:

Ngoại thương là con đường mang lại sự phồn thịnh cho mọi quốc gia, phương châm của trường phái này

là xuất siêu vì một số quốc gia chỉ có thể thủ lợi do ngoại thương nếu xuất khẩu vượt nhập khẩu Ngoại thương là nguồn gốc thực sự của của cải

Từ đó, Chủ nghĩa trọng thương áp dụng các chính sách độc quyền mậu dịch với các nước thuộc địa và mua rẻ bán đắt, ngăn cản các nước thuộc địa sản xuất, chỉ được xuất khẩu nguyên liệu thô với giá rẻ và nhập khẩu các sản phẩm tiêu dùng cuối cùng từ chính quốc với giá cả cao hơn nhiều lần VD: Bồ Đào Nha ở Đông Ấn, Pháp ở Ấn Độ, Hà Lan ở vùng nguyên liệu…

Tiền vàng được coi trọng quá mức, xem tiền vàng hơn hàng hóa Là tiêu chuẩn cơ bản của của cải, dân tộc nào có càng nhiều tiền vàng dân tộc đó càng giàu có

Lợi nhuận trong thương mại là kết quả của việc trao đổi không ngang giá, là sự lường gạt Lợi ích từ thương mại mà quốc gia này thu được là sự hy sinh, mất mát của các dân tộc khác Thương mại không xuất phát từ việc trao đổi ngang giá, đôi bên cùng có lợi mà bảo vệ lợi ích cho dân tộc mình

Vai trò của nhà nước trong việc can thiệp sâu vào các hoạt động kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thương Trong quan điểm về ngoại thương chính sách dân tộc được thể hiện rất rõ Ở tất cả các nước Tây Âu, đại biểu của chủ nghĩa trọng thương đều đòi hỏi nhà nước phải có biện pháp bảo vệ thị trường nội địa, tránh sự xâm nhập cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài, đều chủ trương tìm mọi cách để vàng bạc của nước mình không chảy ra nước ngoài bằng những hình thức lập hàng rào thuế quan, khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu…

Trang 26

Đào Nha

1.1.2 Thương mại Tây Âu cuối thời kỳ trung đại

Trước khi có những cuộc phát kiến lớn về địa lý, Ai Cập, Bắc Phi, Địa Trung Hải là khu vực hải thương sôi động bậc nhất thế giới, các hoạt động chủ đạo của thương mại thế giới đều nằm ở khu vực này Trong đó, các thương nhân Ả rập, Ý là những người có vai trò chính và là động lực giúp thương mại thế giới phát triển Khu vực Trung Đông và Địa Trung Hải trở thành trung tâm thương nghiệp lớn nhất thế giới, phân phối hàng hóa cho toàn châu Âu cho đến trước khi có các phát kiến địa lý lớn của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha cuối thế kỷ XV

Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là những nước mới trỗi dậy, vị trí địa lý thuận lợi ở phía Tây Nam châu Âu là điều kiện thuận lợi để hai thế lực này phát triển mạnh hải thương, trở thành những quốc gia tiên phong tìm đường sang phương Đông

Hàng hóa xa xỉ phẩm của phương Đông luôn là động lực để người châu Âu tiến sang phương Đông, đặc biệt là khu vực Đông Ấn Tơ lụa, gia vị, hương liệu…luôn là động lực và điều kiện của quá trình “Đông tiến” Cho đến thế kỷ XV, hàng hóa của phương Đông chủ yếu được thương nhân Ả rập, Ý, Ai Cập phân phối cho toàn bộ châu Âu Khu vực Trung Đông, Địa Trung Hải là nơi thu hút mạnh nhất thương nhân châu Âu

Địa Trung Hải-cửa ngõ của châu Âu, là con đường đi vào thế giới văn minh (trước đó đã từng tồn tại của văn minh Hy-La cổ đại) Trong khi đó, vùng Cận

Trang 27

Page | 28

Đông, Ai Cập là khu vực cầu nối của hai thế giới phương Đông và phương Tây Địa Trung Hải là thủ đô thương nghiệp của châu Âu và thế giới trong thời gian dài, hàng hóa của thế giới muốn vào châu Âu phải qua khu vực Địa Trung Hải và Bắc Phi là điều càng làm cho ý nghĩa về vị trí địa lý và lãnh thổ của khu vực này với thế giới càng trở nên quan trọng

Vào những thế kỷ trước khi Vasco da Gama đến Ấn Độ, tàu buôn Ả rập đã có

cơ sở buôn bán là hương liệu của Malaba ở Calicut và tàu buôn của Gujarat ở tây bắc Ấn Độ đã vận chuyển hồ tiêu, gừng của Ấn Độ; đinh hương, nhục đậu khấu từ đảo Moluccu đến vịnh Ba Tư và Biển Đỏ, chuyển qua đất liền tới Ai Cập, Siry, phân phối cho Địa Trung Hải và xuyên suốt châu Âu Qua các hoạt động đó, tàu buôn Ả rập và Venice đã gặt hái được những lợi nhuận lớn từ thương mại [90, 1]

Trước khi có các phát kiến địa lý, người châu Âu muốn sử dụng hàng hóa của

Ấn Độ phải qua tay lái buôn Ả rập và bị đắt gấp nhiều lần con đường buôn bán với phương Đông qua Biển Đỏ đã bị thương nhân Ả rập chiếm độc quyền Vàng của Trung Quốc, Nhật Bản dù có sức hấp dẫn bao nhiêu đi nữa, khi đi qua Ba Tư cũng

bị người Thổ Nhĩ Kỳ khống chế

Nếu như trước đây, việc buôn bán giữa phương Đông và phương Tây chủ yếu được tiến hành thông qua cửa ngõ Địa Trung Hải thì từ sau những phát kiến địa lý của người Bồ Đào Nha, hàng hóa của phương Đông có thể theo đường biển qua Mũi Hảo Vọng để về châu Âu Trung tâm thương mại, kinh tế ở châu Âu cũng vì thế thay đổi Các thành thị của Ý sầm uất một thời dần sa sút, trái lại các thành thị của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Hà Lan trở nên phồn thịnh hơn bao giờ hết

Phát kiến địa lý cũng là một sự kiện làm thay đổi thế giới, một tuyến thương mại biển quốc tế xuyên đại dương đã dần dần được hình thành Người Bồ Đào Nha được đánh giá là thế lực hùng mạnh bậc nhất trên con đường sang phương Đông và Tân Thế Giới Quá trình thay đổi, chuyển mình của hai dân tộc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã đưa họ lên hàng cường quốc hải thương thế giới Vàng, bạc từ Tân Thế

Trang 28

Lợi nhuận mà thương mại mang lại cho Bồ Đào Nha trong thế kỷ XVI là rất

ấn tượng: Cứ ba hay bốn năm một lần có những chuyến tàu chở những hàng hóa về Lisbon Lợi nhuận mà những hàng hóa đó mang lại đôi khi có thể lên đến 700-800% [46] Lisbon trở thành cái chợ lớn buôn bán gia vị cho toàn châu Âu Những lợi nhuận đó làm cho họ càng có động lực để tiếp tục tìm kiếm và thiết lập những tụ điểm thương mại ở phương Đông và thiết lập một hệ thống hành lang thương mại ở châu Á

Việc tìm ra con đường sang phương Đông của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha

đã phá vỡ thế độc quyền của cảng Mác-xây (Pháp), Venice (Ý)…thời kỳ trung đại, khai thông thế bế tắc của thương mại Tây Âu cuối thời trung đại Trung tâm thương nghiệp thế giới trong khoảng mười thế kỷ đã dần dần bị thay đổi, chuyển từ Ý sang

Bồ Đào Nha - thế giới thương mại mới và trung tâm phân phối hàng hóa ở châu Âu Trung tâm thương mại và cầu nối của châu Âu đã đổi chủ, là điều kiện tạo ra những tiềm năng mới của Bồ Đào Nha ở phương Đông

Tuy nhiên, cũng cần phải nói thêm rằng giai đoạn đầu, thương mại châu Âu chưa bị xáo trộn mạnh, Địa Trung Hải vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền thương mại châu Âu ở thế kỷ XVI Song, vai trò quan trọng đó cũng không duy trì được trong một thời gian dài sau đó và được chuyển sang cho Bồ Đào Nha và thương mại châu Âu bước sang một giai đoạn phát triển mới - giai đoạn độc quyền thương mại ở

xứ Đông Ấn

Trang 29

Page | 30

1.1.3 Bồ Đào Nha và sự thành lập Estado da India

Phát kiến của người Bồ Đào Nha tìm ra con đường qua Hảo Vọng Giác để sang Ấn Độ đã mở ra một giai đoạn phát triển mới cho người Bồ Đào Nha Sau khi phá thế độc quyền của những đối thủ thương mại truyền thống ở phương Đông, vị thế của Bồ Đào Nha dần dần được xác lập không chỉ ở châu Á mà cả ở Tây Âu trong phần lớn thế kỷ XVI Trung tâm thương nghiệp của thế giới phương Tây dần chuyển từ khu vực Cận Đông - Địa Trung Hải sang cho Tây Nam châu Âu, tiêu biểu

là Lisbon

Trong 20 năm sau khi đoàn thám hiểm của Vasco da Gama đi vào Ấn Độ Dương, người Bồ đã gần như làm chủ được các đại dương và là chìa khóa để củng

cố một tuyến hải thương dài kết nối bờ biển Đông Phi ở Sofala (1505), dọc bờ biển

ở phía Tây của Ấn Độ ở Cochin (1503) và Goa (1510), Malacca (1511), vịnh Ba Tư

ở Hormuz (1515), quần đảo Moluccu (1522) để từ đó tiến lên khu vực Đông Bắc Á [90, 3]

Địa điểm thương mại người Bồ lập đầu tiên là Goa - nằm ở phía Tây của Ấn

Độ, một trung tâm chính trị, một chính quyền của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Cuộc tiếp xúc đầu tiên ở Ấn Độ - thế giới hương liệu chính là bàn đạp để tiến đến các tụ điểm khác và thiết lập tụ điểm về thương mại Quá trình thâm nhập ấy cũng đồng nghĩa

với việc thiết lập một chính thể dưới một tên gọi là Estado da India

Estado da India (chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha ở Đông Ấn) được đặt tên

bởi Quốc vương Bồ Đào Nha Đó không phải là một nhà nước mà là sự tập hợp của những pháo đài, những hạm đội và những cộng đồng người Bồ kéo dài từ Đông Phi đến Nhật Bản [101, 13]

Mục tiêu cơ bản của chính thể Estado da India ở phương Đông là chi phối

nền hải thương châu Á trong lĩnh vực buôn bán hương liệu, đặc biệt là hồ tiêu – vốn

là động lực cho sự tồn tại và phát triển của nền hải thương năng động ở Ấn Độ

Trang 30

Page | 31

Dương nhiều thế kỷ trước đó Cho đến thời điểm này, nền thương mại hương liệu có giá trị lớn hơn giá trị kinh tế của các loại hàng hóa xa xỉ phẩm Những lợi ích mà

Estado da India mang lại là những lợi ích rõ ràng, dưới sự bảo trợ của Quốc vương

Bồ Đào Nha thì những điều đó được bảo đảm là rất rõ ràng

Sự thành lập Estado da India đã vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của những

người theo Hồi giáo Tuy nhiên, không lâu sau đó sự phản ứng của người theo đạo

Hồi đã bị dẹp bỏ Vị thế của Quốc vương và chức năng của Estado da India đồng

nghĩa với việc hoạt động thương mại và hoạt động truyền giáo ở châu Á

Xuyên suốt nền thương mại thế giới ở châu Á trong thế kỷ XVI là hiện thực

về sức mạnh của cộng đồng người Bồ Đào Nha đã lấn lướt những người châu Âu khác đang tìm cách thâm nhập phương Đông Những trung tâm quan trọng của Bồ Đào Nha ở Đông Ấn như Goa, Malacca là tượng trưng cho quyền lực của Quốc vương và họ đã gắng chiếm lấy để làm của cải cho hàng ngàn người - trước hết là

cho bản thân chính thể Estado da India ở phương Đông

Việc thiết lập Estado da India trước hết là làm lợi cho Bồ Đào Nha Đã có

những mối liên hệ giữa người Bồ với thương nhân địa phương trong việc thu mua hương liệu về châu Âu và thương mại biển từ phía đông Địa Trung Hải, Biển Đỏ, vịnh Ba Tư và sự trợ sức từ con đường đến Mũi Hảo Vọng Với châu Á, những người Bồ Đào Nha tìm kiếm độc quyền trong thương mại bằng cách chiếm độc quyền con đường đó và điều khiển lại sự tồn tại thương mại trong việc chi phối các cảng thị bởi lực lượng Bồ Đào Nha Đến cuối thế kỷ XVI, những người Bồ Đào Nha

có liên quan trong nền hải thương quốc tế ở châu Á đã có những giá trị thương mại giữa Cochin - Goa và Lisbon qua Mũi Hảo Vọng [101, 14]

Trong suốt thế kỷ XVI, đặc biệt là vào nửa sau thế kỷ XV (1570), người Bồ Đào Nha đã có mặt ở hầu hết các khu vực ở phương Đông Từ những sự kiện thiết lập được vị trí của mình ở châu Á, có thể thấy đây là giai đoạn Bồ Đào Nha bành trướng ở châu Á, đánh dấu một khu vực địa lý mà người Bồ đã thiết lập được mở

Trang 31

Page | 32

rộng thêm, quá trình khai thác khu vực địa lý rộng lớn đó đã được thực thi một cách sâu rộng vào thập niên 70 của thế kỷ XVI Những thuộc địa nhỏ của Bồ Đào Nha, những đoàn truyền giáo, những tư thương hoặc những người đại diện của Quốc vương đã có mặt ở Nhật Bản, Trung Quốc, Đông Nam Á lục địa và hải đảo, Nam Á rộng lớn, Iran, đế chế Ôttôman Đông Phi

Sự có mặt ở hầu khắp phương Đông cho thấy uy quyền và sức mạnh của Bồ Đào Nha đã trải khắp lục địa châu Á Sự có mặt này cho thấy một sự thật hiển nhiên

về sự đại diện của Công ty kinh doanh thương mại Bồ Đào Nha-Estado da India

Trong thế kỷ XVI, Bồ Đào Nha là quốc gia chiếm thế thượng phong trên biển,

Lisbon là cái chợ lớn ở châu Âu và Estado da India giữ chức năng chính là công ty phân phối (Redistributive Enterprise) các sản phẩm gia vị, hương liệu, tơ lụa, vàng

bạc của Tân Thế Giới và Phương Đông cho thị trường châu Âu

Công cuộc mở rộng lãnh thổ được đánh dấu bằng mốc mở đầu từ cực nam châu Phi – Mũi Hảo Vọng, xuyên qua Etiopia, Biển Đỏ, Iran, Gujarat và Goa, Kanara và bờ biển Malaba, Coromadel, Orissa, Bengal, Buram và thế giới Malay, Sumatra, Java, quần đảo Moluccu và sự kết thúc ngẫu nhiên của cuộc phiêu lưu dài ngày là ở Trung Hoa Công ty Hoàng gia Bồ Đào Nha đã tồn tại dưới sự chỉ huy của nền thương mại hàng hải Nhận thức được điều này, vào những năm 1560, chính quyền Hoàng gia Bồ Đào Nha tiếp tục đảm nhiệm thêm công cuộc bành trướng và xâm lược [103, 106]

Một lý do khá truyền thống của cuộc bành trướng và xâm lược của Bồ Đào Nha là nhằm kiểm soát nguồn thương mại và hương liệu của châu Á Sự có mặt của

Estado da India ở châu Á là khâu trung gian trong việc thu mua và phân phối, song

chức năng chính vẫn là phân phối

Trong các thế kỷ XVI và XVII, châu Á (phạm vi toàn thế giới nói chung) chứng kiến một sự chuyển biến mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu: quá trình “Toàn cầu hóa” cận đại sơ kỳ, trong đó Manila (Philippins) là một trong những mắt xích của

Trang 32

Page | 33

quá trình đó Manila là cầu nối cung cấp nguồn bạc khổng lồ từ Tân Thế Giới chảy

về qua các đội tàu của người Tây Ban Nha vượt Thái Bình Dương sang Đông Á Từ Manila, bạc theo các thuyền buôn đến các thị trường châu Á Bên cạnh bạc Tân Thế giới qua Manila, một lượng bạc khác từ Tân Thế Giới cũng theo tàu buôn Bồ Đào Nha chảy từ châu Âu qua châu Á Nguồn bạc này kết hợp với nguồn bạc Nhật Bản

mà người Bồ Đào Nha thu mua được từ Nagasaki đã trở thành huyết mạch của mạng lưới thương mại của người Bồ tại phương Đông, nhất là thị trường Đông Á Mạng lưới buôn bán Nội Á của người Bồ (bạc-lụa-vàng-hương liệu…) đã được người Bồ khai thác triệt để trong phần lớn thế kỷ XVI [101, 15]

Như vậy, việc thành lập Estado da India vào nửa đầu thế kỷ XVI là một nét

đặc thù, một điều tất yếu khi người Bồ thiết lập mạng lưới thương mại liên hoàn ở

châu Á Estado da India là trung gian thương mại từ châu Á đến Lisbon, là động cơ

chính để biến Lisbon thành trung tâm thương mại cung cấp hàng hóa phương Đông

cho toàn châu Âu Estado da India là một chính quyền bảo hộ của đế chế Bồ Đào

Nha được thiết lập trên một khu vực địa lý rộng lớn trên các vùng bờ biển của châu

Á Người Bồ Đào Nha đã có mặt ở khắp châu Á, những hạm đội, pháo đài, công sự của người Bồ được thiết lập để tạo nên sự hậu thuẫn trong công cuộc bành trướng thương mại và truyền giáo Có thể nói, việc phân phối các sản phẩm thương mại của

châu Á đối với Estado da India là một trong những điển hình của chính thể Hoàng

gia Bồ Đào Nha

Như vậy, cho đến đầu thế kỷ XVI, sau các phát kiến lớn về địa lý, Bồ Đào Nha là một trong những quốc gia tiên phong trong sứ mệnh tìm kiếm những thiên

đường mới ngoài châu Âu Quốc vương Bồ Đào Nha đã cho thiết lập Estado da

India - một thể chế bảo hộ thương mại và truyền giáo cho người Bồ ở Đông Ấn Từ

đó, vị trí của Bồ Đào Nha trong thương mại Tây Âu giai đoạn cận đại sơ kỳ đã thay đổi, những vị trí trọng yếu trước đây của châu Âu đã có một thay đổi Chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha là chính quyền được bảo trợ về thương mại đầu tiên xuất hiện ở châu Á và đã giành được những thành công bước đầu, mang lại cho Bồ Đào

Trang 33

Page | 34

Nha những lợi nhuận lớn và làm thay đổi vị trí của họ trong nền thương mại thế

giới

1.2 Phương Đông thế kỷ XVI - XVII

Lịch sử khu vực phương Đông giai đoạn thế kỷ XVI-XVII chứng kiến sự phát triển huy hoàng của chế độ phong kiến, trong đó nổi lên các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Đại Việt và các nước ở khu vực Trung Cận Đông…toàn bộ phương Đông giai đoạn này là một trong những khu vực phát triển mạnh nhất thế giới Với truyền thống phát triển hải thương từ khá sớm, phương Đông trở thành điểm hẹn của giới quý tộc phương Tây đang dong buồm trên đường tìm kiếm những nơi cung ứng các mặt hàng có giá trị về thương mại

1.2.1 Khu vực Đông Bắc Á

Khu vực Đông Bắc Á bao gồm các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản Tuy nhiên, Luận văn chỉ tâp trung nghiên cứu và giới thiệu về bối cảnh của Trung Quốc và Nhật Bản trong thế kỷ XVI-XVII, là những nước có mối liên hệ mật thiết với Bồ Đào Nha trong giai đoạn này và giai đoạn sau đó

Lịch sử Nhật Bản cho đến cuối thế kỷ XV-đầu thế kỷ XVI là thời kỳ xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giữa các thế lực cát cứ Đó là thời kỳ Chiến quốc (Lịch sử

gọi là Sengoku, 1490-1600) Đây là thời kỳ xung đột giữa các thế lực phong kiến cát

cứ diễn ra trên phạm vi cả nước, kéo theo đó là sự tham gia của tất cả các tầng lớp

xã hội

Giai đoạn tiếp sau đó là sự nổi lên vai trò của Toyotomi Hideyoshi, một lãnh chúa có thế lực rất mạnh và lớn nhất ở Nhật Bản lúc này Đến 1590, về cơ bản Hideyoshi đã thống nhất được đất nước Tình trạng cát cứ kéo dài trong lịch sử Nhật bản đến đây kết thúc Thay vào đó là một thiết chế chính trị phong kiến quân phiệt thống nhất có khuynh hướng tập quyền

Trang 34

hệ ngoại thương

Là lãnh chúa lớn nhất có thế lực mạnh, lực lượng chính trị trung tâm ở Nhật Bản, Ieyasu đã thâu tóm quyền lực về tay mình Đồng thời hướng tới xây dựng một thiết chế ổn định, tái thiết nền hòa bình thống nhất quốc gia Thời kỳ này được gọi là thời kỳ Edo-thời kỳ phát triển cuối cùng và cao nhất của chế độ phong kiến ở Nhật Bản

Đặc biệt từ năm 1592 đến năm 1635, chính quyền Nhật Bản thực hiện chính

sách Châu ấn thuyền (Shuin Shen), theo đó các thuyền mang tính chất thương mại

chỉ có thể được xuất dương khi có sự cho phép của chính quyền trung ương Song, việc cấm của chính quyền không làm cho các hoạt động thương mại chậm lại mà trái lại các hoạt động thương mại phi quan phương lại càng diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là các giai đoạn sau đó

Đây là giai đoạn phát triển toàn diện của Nhật Bản, đặc biệt là kinh tế thương mại, mở ra quá trình giao lưu của Nhật Bản với các nước trong khu vực Sự năng động của giới cầm quyền Nhật Bản dưới triều đại Tokugawa và của nhân dân

là những tiền đề tiên quyết tạo ra bối cảnh mới, cùng với đó là cuộc xâm thực của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào Nhật Bản và các nước ở khu vực Đông Á ở thế

kỷ XVI-XVII

Trung Quốc từ cuối thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII là thời gian thống trị của nhà Minh, Ra đời năm 1368, sau khi giành thắng lợi trước quân Mông Cổ; Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế, lập ra triều Minh, một trong những triều đại hùng mạnh nhất trong lịch sử Trung Hoa phong kiến

Trang 35

Page | 36

Sau khi lên ngôi, ông tiếp tục tiêu diệt các thế lực cát cứ để xây dựng chế độ trung ương tập quyền Cùng với đó, ông đã xây dựng một nền chính trị của một nhà nước quân chủ tập quyền

Dưới thời Minh Thái tổ Hồng Vũ Hoàng đế, với những chính sách khuyến khích phát triển kinh tế, nền kinh tế Trung Quốc giai đoạn này đã có những bước phát triển đáng kể, diện tích trồng trọt vượt xa so với trước, hàng hóa xuất khẩu mang tính thương nghiệp khá rõ nhằm phục vụ cho việc trao đổi buôn bán

Đến đầu thế kỷ XV, dưới thời Minh Thành tổ Vĩnh Lạc Hoàng đế, chế độ phong kiến Trung Quốc đã đạt dược một số thành tựu về kinh tế, ông đã nhiều lần

cử sứ giả đến các nước Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á để phô trương thanh thế, sự giàu mạnh của Trung Quốc và làm cho các nước này phải thuần phục nhà Minh Trong các hoạt động đó, rầm rộ nhất là những chuyến đi biển của Trịnh Hòa xuống các nước phía Nam từ năm 1405 đến năm 1433, những hoạt động đó vừa khuyếch trương thanh thế của nhà Minh vừa nhằm đặt mối quan hệ hòa hiếu với các nước láng giềng, trao đổi hàng hóa, thiết lập quan hệ thương mại

Có thể nói, dưới thời Minh Thành tổ, chế độ phong kiến trung ương tập quyền Trung Quốc phát triển mạnh đến mức toàn thịnh Biểu hiện của một quốc gia hùng cường đó vẫn là việc mang trong mình tư tưởng của chủ nghĩa bá quyền Đại Hán xâm lược và mở rộng lãnh thổ các nước trong khu vực

Các cuộc viễn chinh của Trịnh Hòa xuống vùng biển Đông Nam Á nhằm tạo

ra mối giao thương với các nước trong khu vực Trong vòng 28 năm (1405-1433), Trịnh Hòa đã thực hiện 7 cuộc thám hiểm và có đến gần 100 lần đi đến các trung tâm thương mại của khu vực châu Á, châu Phi như: Champa, Malacca, Java, Xiêm, Calicut, vịnh Ba Tư, Somali… Từ sau những cuộc thám hiểm này của Trịnh Hòa mở

ra mối quan hệ, trao đổi hàng hóa giữa Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực

mà thực chất là kiểm soát tất cả những hoạt động thương mại với Trung Quốc và thiết lập quyền kiểm soát khu vực buôn bán ở biển Nam Trung Hoa, trên hết là thiết

Trang 36

Page | 37

lập quan hệ “Tôn chủ”-“Bồi thần” và quan hệ triều cống của các quốc gia trong khu vực

Chính sách Hải cấm (Haichin) được ban hành dưới triều Minh năm 1371,

chính sách này nhằm chủ yếu không cho người Trung Quốc ra biển mà không được

sự cho phép của nhà nước Song, việc thực hiện này cũng không triệt dể, vì với việc cấm đoán của chính quyền thì các hoạt động kinh tế phi quan phương vẫn diễn ra Đến năm 1567, dưới thời Minh Mục tông, chính sách này đã được dỡ bỏ và đây là điều kiện để một số lượng lớn Hoa thương mở rộng hoạt động thương mại với các nước trong khu vực, đặc biệt là với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á hải đảo như Malacca, Java, Philippin…tạo ra một thị trường khu vực năng động, là địa bàn hoạt động mang lại hiệu quả cho các thương nhân phương Tây và trong số đó người

Bồ Đào Nha là không ngoại lệ

Sự phát triển vượt trội trong nông nghiệp, thương nghiệp là sự toàn thịnh của chính quyền trung ương là những thành tựu mà nhà Minh đạt được Với kỹ thuật đóng tàu, kỹ thuật đi biển cộng với tiềm lực kinh tế, triều Minh đã tiến hành một sự

mở rộng về hàng hải xuống các vùng biển khu vực, thiết lập các mối quan hệ chặt

chẽ của Trung Quốc với Đông Nam Á

1.2.2 Khu vực Đông Nam Á

Ở khu vực Đông Nam Á, trên bình diện chung cũng có sự thay đổi lớn, với nhiều biến động chính trị Dưới tác động của điều kiện chủ quan và khách quan, nhiều quốc gia bị sa sút nghiêm trọng, tình hình kinh tế-xã hội của nhiều quốc gia trở nên trì trệ hơn bao giờ hết Một kết cục chung cho các nước này là tan rã hoặc nội chiến hoặc rơi vào tay chủ nghĩa thực dân phương Tây

Ở Đông Nam Á hải đảo, Hồi quốc Malacca ở bán đảo Malay được thành lập năm 1400, sau hơn một thế kỷ tồn tại đã bị sụp đổ dưới tay của những người Bồ Đào Nha vào năm 1511, chia rẽ thành một loạt các Hồi quốc nhỏ và trở thành miếng mồi

Trang 37

Ấn Hà Lan Đây là nguyên nhân quan trọng tạo điều kiện cho chủ nghĩa thực dân phương Tây thâm nhập vào “vùng đất thánh” của Hồi giáo nhằm khai thác nguồn lợi của vùng quần đảo với lợi nhuận thương mại hấp dẫn

Ở Đông Nam Á lục địa, dòng sông Chaophraya đã tạo dựng nên một quốc gia hùng mạnh Đó là sự phát triển đến mức toàn thịnh của vương triều Ayutthaya (1351-1767) ở Xiêm, cho đến giai đoạn đầu thế kỷ XVI, vương triều này vẫn có một

uy lực rất lớn trong khu vực, trong khi các quốc gia khác ở Đông Nam Á hoặc sụp

đổ hoặc suy yếu Với vị trí cầu nối của Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, vai trò của Xiêm là hết sức quan trọng khi vào nửa sau thế kỷ XVII (1664), Công ty Đông Ấn Pháp (CIO) được thành lập thì vai trò của Xiêm có thể sánh ngang với vai trò của Pondicherry ở Ấn Độ về tiềm năng và lợi nhuận thương mại mà hai quốc gia này mang lại

Ở Việt Nam, đến cuối thế kỷ XV-đầu thế kỷ XVI, vương triều Lê sơ đi vào giai đoạn suy yếu, tình hình kinh tế-xã hội trở nên rối loạn, nội bộ triều đình chia rẽ thành nhiều phe cánh Từ bối cảnh đó, năm 1527, Mạc Đăng Dung thâu tóm quyền lực, lập ra nhà Mạc Trong hơn bảy thập kỷ, dưới vương triều mới, kinh tế Đại Việt, nhất là kinh tế thương nghiệp có những khởi sắc nhất định, tạo tiền đề để nước ta giao lưu với các nước trong khu vực

Trang 38

Page | 39

1.2.3 Khu vực Tây Á

Tây Á ở thế kỷ XVI cũng bước vào giai đoạn cận đại sơ kỳ Từ đầu thế kỷ XVI, với sự chi phối mạnh mẽ của đế chế Ôttôman (thành lập năm 1290) Từ giữa thế kỷ XV, một dòng họ phong kiến thần quyền-dòng Safavid giàu có, bước đầu nổi lên và thiết lập ảnh hưởng ở khu vực Năm 1501, vương triều Safavid theo giáo phái Shiit-Hồi giáo hùng mạnh được thành lập (1501-1736), (trung tâm là vùng vịnh Pecxich, trên lãnh thổ Iran) Vị trí địa-kinh tế, địa-chiến lược ở sườn đông Địa Trung Hải đã tạo điều kiện để Safavid trở thành cầu nối trung chuyển giữa nền văn minh Tây Âu với các nước phương Đông, nhất là trong việc luân chuyển hàng hóa

trong các tuyến thương mại trên thế giới cho nhau

1.2.4 Khu vực Nam Á

Đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII, ở Ấn Độ là sự tồn tại của vương triều Môgôn Là nước có nguồn hương liệu, gia vị nổi tiếng và những mặt hàng thủ công truyền thống Ngay từ trước thế kỷ XV, những mặt hàng của Ấn Độ được người phương Tây biết đến qua việc buôn bán của người Ả rập và người Ý về châu Âu, những mặt hàng nổi tiếng đó là điều kiện để Ấn Độ là điểm đến của các nước phương Tây Vùng bờ biển của Ấn Độ đã trở thành các cảng thị sầm uất để người châu Âu (trước hết là người Bồ Đào Nha) đến buôn bán Nơi đây trở thành điểm đến đầu tiên để người châu Âu tiến vào khu vực Đông Á, các vị trí trung tâm trên bờ biển như Goa, Malaba, Cochin…trở thành địa điểm thương mại lý tưởng để người

Bồ Đào Nha xây dựng và hình thành nên một chuỗi các tụ điểm thương mại độc quyền ở phương Đông, cuối thế kỷ XVI-đầu thế kỷ XVII

Trong bối cảnh đó, Bồ Đào Nha trở thành thế lực hàng hải đi tiên phong sang phương Đông, tạo ra bước phát triển mới cho thương mại hàng hải thế giới và khu vực Phương Đông trở thành điểm đến, cơ sở trọng yếu của Bồ Đào Nha trong việc phân phối các sản phẩm thương mại của phương Đông cho châu Âu

Trang 39

Page | 40

Trong thời gian này, Đông Nam Á cũng bước vào kỷ nguyên thương mại

(Age of Commerce) Toàn khu vực Đông Ấn nói chung, với điều kiện tự nhiên và sự

thay đổi về kinh tế-xã hội đã trở thành đối tượng xâm thực của chủ nghĩa thực dân phương Tây mà đi đầu là thế lực hàng hải hùng mạnh nhất thời bấy giờ là Bồ Đào Nha, dần trở thành đối tượng khai thác những nguồn lợi thương mại của phương Đông, hình thành thế dây chuyền mà mỗi vị trí được xem như một mắt xích quan trọng trong quá trình thiết lập quan hệ thương mại của Bồ Đào Nha ở phương Đông

1.3 Tiểu kết

Như vậy, trong bối cảnh kinh tế xã hội của cả hai khu vực phương Đông và phương Tây đều đang bước vào giai đoạn mới-giai đoạn của chế độ phong kiến đang trên đà phát triển Tính trên bình diện phân kỳ lịch sử thế giới thì tuy là hai khu vực hoàn toàn khác nhau song về lịch đại thì cho đến thời điểm thế kỷ XVI-XVII cả hai khu vực đều đang trong giai đoạn trung đại, là sự thống trị của chế độ phong kiến và đều có những phát triển mạnh về kinh tế-xã hội, đặc biệt là nền kinh tế ngoại thương

Trong bối cảnh thương mại Tây Âu thời kỳ trung đại, Bồ Đào Nha trở thành một trong những nước trung tâm ở Tây Âu, với vị trí địa lý thuận lợi hướng ra Đại Tây Dương, Bồ Đào Nha đã trở thành thế lực tiên phong trong lĩnh vực hàng hải ở Tây Âu Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha được coi là hai “ông hoàng” trên mặt biển thời kỳ trung đại, là thế lực độc quyền trong nền thương mại thế giới

Đối với Bồ Đào Nha, việc thành lập Chính thể Hoàng gia ở Đông Ấn đã trở thành Công ty thương mại phân phối các sản phẩm của phương Đông cho xã hội phương Tây đang khao khát có được những hàng hóa xa xỉ của phương Đông và mang lại lợi nhuận, giá trị thương mại rất lớn trong việc lưu thông hàng hóa, phân phối cho toàn thế giới

Trong bối cảnh đó, toàn bộ phương Đông đang trong giai đoạn chuyển mình của những nhà nước phong kiến thời Hậu kỳ trung đại và Sơ kỳ cận đại, đã trở thành

Trang 40

Page | 41

cầu nối, điểm trung chuyển của con đường buôn bán, giao lưu buôn bán Đông-Tây Trên con đường đó, người Bồ Đào Nha đã từng bước thâm nhập vào Đông Á và thiết lập một hệ thống thương mại xuyên lục địa từ Lisbon đến Nhật Bản và làm chủ được tuyến thương mại độc quyền lớn nhất thế giới

Ngày đăng: 23/03/2015, 07:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Bang (1996), “Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII”, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII”
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1996
2. Đỗ Bang, Đỗ Quỳnh Nga (2002), “Ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên”, Tạp chí NCLS, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ngoại thương Đàng Trong thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên”
Tác giả: Đỗ Bang, Đỗ Quỳnh Nga
Năm: 2002
3. E.O. Becdin (1966), “Giáo hội Thiên Chúa bắt đầu xâm nhập vào Đông Nam Á”, Nxb. Khoa học, Mát-cơ-va, TL Viện Đông Nam Á Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo hội Thiên Chúa bắt đầu xâm nhập vào Đông Nam Á”
Tác giả: E.O. Becdin
Nhà XB: Nxb. Khoa học
Năm: 1966
4. Cristophoro Borri (1998), “Xứ Đàng Trong năm 1621”, Nxb, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xứ Đàng Trong năm 1621”
Tác giả: Cristophoro Borri
Năm: 1998
5. Buch. W. J. M, “Công ty Nam Dương và Đông Dương”, TL Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công ty Nam Dương và Đông Dương”
6. Bùi Hạnh Cẩn (1978), “Ý đồ và hoạt động của các giáo sĩ nước ngoài trên đất Việt Nam thế kỷ 17-18”, Tạp chí NCLS, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ý đồ và hoạt động của các giáo sĩ nước ngoài trên đất Việt Nam thế kỷ 17-18”
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Năm: 1978
7. Lm Trương Bá Cần (chủ biên) (2008), “Lịch sử phát triển Công Giáo ở Việt Nam”, Tập 1-thời kỳ khai phá và hình thành (từ khởi thủy cho tới cuối thế kỷ XVIII), Nxb. Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử phát triển Công Giáo ở Việt Nam”, Tập 1-thời kỳ khai phá và hình thành (từ khởi thủy cho tới cuối thế kỷ XVIII)
Tác giả: Lm Trương Bá Cần (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2008
8. Việt Chương (2001), “Thời Nam-Bắc triều (Trịnh-Nguyễn phân tranh)”, Nxb. Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thời Nam-Bắc triều (Trịnh-Nguyễn phân tranh)”
Tác giả: Việt Chương
Nhà XB: Nxb. Phụ nữ
Năm: 2001
9. Đỗ Quang Chính (SJ) (2008), “Hai giám mục đầu tiên tại Việt Nam”, Nxb. Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hai giám mục đầu tiên tại Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Quang Chính (SJ)
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2008
10. Đỗ Quang Chính (SJ) (2008), “Hòa mình vào xã hội Việt Nam”, Nxb. Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hòa mình vào xã hội Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Quang Chính (SJ)
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 2008
11. Nguyễn Mạnh Dũng (2010), “Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX-Nguyên nhân và hệ quả”, Luận án Tiến sĩ Lịch Sử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quá trình xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX-Nguyên nhân và hệ quả”
Tác giả: Nguyễn Mạnh Dũng
Năm: 2010
12. “Đại Việt Sử ký toàn thư” (1978), Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đại Việt Sử ký toàn thư”
Tác giả: “Đại Việt Sử ký toàn thư”
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1978
13. Lê Quý Đôn (1977), “Phủ biên tạp lục”, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phủ biên tạp lục”
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1977
15. D. G. E. Hall (1997), “Lịch sử Đông Nam Á”, Nxb. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử Đông Nam Á”
Tác giả: D. G. E. Hall
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
16. “Phố Hiến”-Kỷ yếu hội thảo khoa học (1994), Sở văn hóa thông tin Hải Hƣng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phố Hiến”
Tác giả: “Phố Hiến”-Kỷ yếu hội thảo khoa học
Năm: 1994
17. Nguyễn Hồng (1959), “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam”, quyển 1-Các thừa sai Dòng Tên, 1615-1665, Nxb. Hiện tại Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Hồng
Nhà XB: Nxb. Hiện tại
Năm: 1959
18. Nguyễn Hồng (2009), “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam”, quyển 2, Nxb. Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Hồng
Nhà XB: Nxb. Từ điển Bách khoa
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Hàng hóa lưu thông trong thế giới Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII - Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt
Bảng 2.1 Hàng hóa lưu thông trong thế giới Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII (Trang 41)
Bảng 2.2: Giá trị hải quan thu được tại Malacca (1542 – 1586) - Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt
Bảng 2.2 Giá trị hải quan thu được tại Malacca (1542 – 1586) (Trang 47)
Bảng 2.3: Khởi hành của Não do Trato *  từ Ma Cao đến Nhật Bản (1546-1617) - Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt
Bảng 2.3 Khởi hành của Não do Trato * từ Ma Cao đến Nhật Bản (1546-1617) (Trang 63)
Bảng 3.1: Số giáo hữu ở Đàng Ngoài qua các năm từ 1632 đến 1646 - Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt
Bảng 3.1 Số giáo hữu ở Đàng Ngoài qua các năm từ 1632 đến 1646 (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm