1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng lãnh đạo quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam với tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (1989 - 1998

223 570 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức sâu sắc sự cần thiết phải cải thiện và thiết lập quan hệ với các nước châu á - Thái Bình Dương, trực tiếp là với Tổ chức Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình Dương nhằm

Trang 1

ĐINH XUÂN LÝ

ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH THIẾT LẬP QUAN HỆ VIỆT NAM VỚI TỔ CHỨC DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG

(1989 - 1998)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI 2002

Trang 2

ĐINH XUÂN LÝ

ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUÁ TRÌNH THIẾT LẬP QUAN HỆ VIỆT NAM VỚI TỔ CHỨC DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG

Trang 3

quan hệ Việt Nam - APEC

17

1.1 Bối cảnh thế giới, khu vực (1989-1998) và nhận thức của Đảng ta 17

1.2 Sự thành lập APEC và vai trò, vị trí của APEC đối với quốc tế và

1.3 Nhu cầu tăng cường đối ngoại của nước ta với các nước khu vực

châu á - Thái Bình Dương

49

Chương 2 Quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC theo đường lối chủ

ý nghĩa và kinh nghiệm của quá trình thiết lập quan hệ

Việt Nam - APEC

124

3.1 ý nghĩa của quá trình Việt Nam tham gia APEC 124

Kết luận 157

Trang 4

danh mục các chữ viết tắt

1 adb Ngân hàng phát triển châu á

2 anzerta Hiệp định Mậu dịch tự do giữa ôxtrâylia và Niu Dilân

3 apec Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình Dương

6 asem Diễn đàn Hợp tác á - Âu

7 arf Diễn đàn khu vực ASEAN

8 ec Cộng đồng Kinh tế châu Âu

9 eu Liên minh châu Âu

10 fdi Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài

11 gatt Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại

12 gdp Tổng sản phẩm trong nước

13 gnp Tổng sản phẩm quốc dân

14 imf Quỹ tiền tệ Quốc tế

15 jim1 Hội nghị không chính thức Giacacta về Cămpuchia lần thứ nhất

16 jim2 Hội nghị không chính thức Giacacta về Cămpuchia lần thứ hai

17 mia Mất tích trong chiến tranh

18 nafta Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ

19 nic s Các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới Đài Loan, Hàn

Quốc, Hồng Kông, Xingapo

20 oda Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

21 pow Tù nhân chiến tranh

22 wb Ngân hàng Thế giới

23 wto Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 5

danh mục các bảng biểu

Bảng 3.1 Đồ thị diễn biến kim ngạch buôn bán Việt – Trung (1991-2000)

Bảng 3.2 Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ (1993 - 1999)

Bảng 3.3 Kim ngạch buôn bán Việt Nam – APEC (1991 - 2000)

Trang 6

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến hành các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, hoạt động đối ngoại Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, góp phần làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc

Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, trước những biến động to lớn và toàn diện của tình hình thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, Đảng

và Nhà nước ta đã kịp thời có những đổi mới nhận thức về thế giới, khu vực

và quan hệ chính trị quốc tế, từ đó "điều chỉnh chiến lược đối ngoại sáng suốt đề ra đường lối, chủ trương đối ngoại thích ứng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp đổi mới thắng lợi" [44, tr 14] Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại theo tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, Nhà nước ta đã phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, tham gia tích cực vào đời sống quốc tế Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đánh giá cao hoạt động đối ngoại trong sự nghiệp đổi mới là đã “phá được thế bị bao vây cấm vận, mở rộng được quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế" [73, tr 19] Thành tựu của hoạt động đối ngoại là một trong những nhân tố quan trọng đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, củng cố và nâng cao

vị thế của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (the Asia Pacific Economic Cooperation - APEC) được thành lập tháng 11/1989 Trong một thời gian ngắn, APEC đã phát triển nhanh chóng về mọi mặt Từ 12 thành

Trang 7

viên (1989)* lên 21 thành viên (năm 1998)**, bao gồm các nước phát triển; các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới; các nước đang phát triển Về thực lực, APEC là thị trường sản xuất và tiêu thụ rộng lớn với “tổng sản phẩm quốc dân (GNP) chiếm khoảng 1/2 tổng sản phẩm của toàn thế giới, tổng kim ngạch mậu dịch hàng hoá chiếm tới 46% tổng kim ngạch mậu dịch toàn cầu APEC

là một đối tác quan trọng trong hệ thống kinh tế - thương mại quốc tế” [34, tr 7], và là một thực thể của khu vực châu á - Thái Bình Dương đi đầu trong việc thúc đẩy tự do hoá mậu dịch, đầu tư và hợp tác kinh tế - kỹ thuật

Nhận thức sâu sắc sự cần thiết phải cải thiện và thiết lập quan hệ với các nước châu á - Thái Bình Dương, trực tiếp là với Tổ chức Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình Dương nhằm tạo môi trường khu vực thuận lợi và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta đã coi việc phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực này là một định hướng quan trọng trong chính sách đối ngoại đổi mới của mình

Hoạt động đối ngoại của Việt Nam với khu vực châu á - Thái Bình Dương ngày càng thu được những kết quả tốt đẹp Cho đến giữa thập kỷ 90, Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ với tất cả các thành viên APEC, khép lại quá khứ nặng nề, thù địch, ra khỏi thế bị biệt lập với khu vực Sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trên con đường Việt Nam hội nhập quốc tế

là việc Việt Nam được kết nạp làm thành viên chính thức của tổ chức APEC (11/1998)

Trang 8

Chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là một chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, là con đường tất yếu của tiến trình phát triển đất nước Những thành công trong việc mở rộng quan hệ với các nước nói chung, thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC nói riêng, đã khẳng định sự đúng đắn của đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng lần thứ VI, đồng thời là những kinh nghiệm quý báu, những cơ sở quan trọng cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong thời gian tới

Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng là rất cần thiết, vừa mang

ý nghĩa khoa học, vừa có giá trị thực tiễn lâu dài, nhất là trong thời điểm hiện nay, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của APEC và đang phấn đấu để gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), tiếp tục hội nhập nền

kinh tế thế giới Với lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Đảng lãnh đạo quá

trình thiết lập quan hệ Việt Nam với tổ chức Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu

á - Thái Bình Dương (1989-1998) làm luận án tiến sĩ Lịch sử

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những năm trước đổi mới, vấn đề quan hệ song phương và đa phương giữa Việt Nam với khu vực châu á - Thái Bình Dương hầu như chưa được giới nghiên cứu quan tâm

Từ cuối thập kỷ 80, khu vực châu á - Thái Bình Dương ngày càng được

dư luận chú ý bởi tiềm năng phát triển và vai trò, vị trí to lớn của nó đối với đời sống kinh tế, chính trị và an ninh thế giới Xuất phát từ nhu cầu tìm hiểu

về khu vực, các học giả trong và ngoài nước đã công bố những công trình nghiên cứu về các nước, các nhóm nước hoặc các tổ chức khu vực Đáng chú

ý là một số công trình như: Vương quốc Thái Lan lịch sử và hiện tại, do

Giáo sư Vũ Dương Ninh biên soạn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ấn

Trang 9

hành năm 1990; Năm 1994, Cơ quan Thông tin Hải ngoại Hàn Quốc xuất bản

bằng tiếng Anh cuốn Hàn Quốc lịch sử và văn hoá Cuốn sách này được

Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội phối hợp với nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia dịch và xuất bản năm 1995 Năm 1997,

Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cho ra mắt bạn đọc cuốn Lịch sử Đông Nam

á của tác giả D.G.E.Hall, Giáo sư danh dự trường Đại học Luân Đôn

Các cuốn sách trên đã giới thiệu những nét cơ bản về đất nước, con người, và các giai đoạn lịch sử của một số quốc gia thuộc châu á - Thái Bình Dương Đồng thời có đề cập đến mối quan hệ giữa các nước trong khu vực

Từ khi quan hệ Việt Nam - ASEAN được cải thiện, nhất là thời kỳ nước

ta trở thành thành viên chính thức của tổ chức này, việc nghiên cứu về ASEAN và quan hệ Việt Nam - ASEAN ngày càng khởi sắc: năm 1993, Nhà

xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành cuốn sách Một số vấn đề về sự phát

triển của các nước ASEAN của Giáo sư Vũ Dương Ninh; Năm 1996, Nhà

xuất bản Khoa học Xã hội phát hành cuốn Việt Nam - ASEAN do Phó tiến sĩ

Phạm Đức Thành chủ biên Đáng chú ý là, trong năm 1998, có nhiều cuốn

sách, bài báo viết về quan hệ Việt Nam -ASEAN: ASEAN và sự hội nhập

của Việt Nam do Đào Huy Ngọc chủ biên; Việt Nam-ASEAN: cơ hội và thách thức, Phạm Đức Thành chủ biên Hai cuốn sách này đều do Nhà xuất

bản Chính trị Quốc gia xuất bản

Các công trình trên, ngoài việc cung cấp những thông tin về tổ chức ASEAN - quá trình ra đời, phát triển và các vấn đề đặt ra, còn giúp người đọc hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khối ASEAN và

Trang 10

và cơ hội của Viện Nghiên cứu Đông Nam á (Xingapo) năm 1997; năm 1998,

Bộ Thương mại và Bộ Ngoại giao đã biên soạn hai cuốn sách có cùng một tiêu

đề APEC Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình Dương Cũng trong năm 1998, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành cuốn: APEC với

Trung Quốc và các thành viên chủ yếu khác, do Giáo sư Lục Kiến Nhân,

Tổng thư ký Trung tâm nghiên cứu chính sách APEC thuộc Viện Khoa học

Xã hội Trung Quốc chủ biên Những ấn phẩm trên đã làm rõ sự ra đời, mục tiêu, nguyên tắc hoạt động và tiến trình vận động phát triển của tổ chức APEC

từ khi thành lập đến năm 1998 Đặc biệt hơn, tác giả Lục Kiến Nhân còn giới thiệu những nét cơ bản về chính sách APEC của các thành viên chủ yếu thuộc

tổ chức này, giúp người đọc hiểu được thực trạng hoạt động và chiều hướng phát triển tương lai của APEC

Vấn đề quan hệ giữa Việt Nam với các thành viên APEC cũng được giới nghiên cứu ngày càng quan tâm hơn, được phản ánh qua những công trình chuyên khảo đăng tải trên các báo, tạp chí, luận văn, luận án và các đề tài

khoa học Có thể kể đến một số bài viết tiêu biểu như: 25 năm quan hệ Việt

Nam - Nhật Bản của Dương Phú Hiệp, đăng trên tạp chí nghiên cứu Nhật

Bản số 1/3, năm 1993; Vài nét về quan hệ kinh tế, văn hoá Việt Nam - Đài

Loan của Nguyễn Thị Cẩm, Nghiên cứu Quốc tế số 3, 9/1994; Quan hệ Việt

- Mỹ: điều gì đang ở phía trước của Tiến sĩ Allan E.Goodman, giáo sư khoa

Đối ngoại Trường Đại học George Town, in trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế

số 4/6, tháng 12/1994; Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc của Hoa Hữu

Lân, Tạp chí Những vấn đề Kinh tế Thế giới số 6, tháng 6/1995; Bạn đọc còn có thể tìm thấy những thông tin về quá trình quan hệ ngoại giao và quan

hệ kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam với các thành viên APEC qua các cuốn

sách: Việt Nam và các nước châu á - Thái Bình Dương các quan hệ kinh

tế hiện nay và triển vọng của Nguyễn Xuân Thắng, Nhà xuất bản Khoa học

Trang 11

Xã hội ấn hành năm 1996; Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam, tập 2, của Lưu Văn Lợi, Nxb Công an Nhân dân, H.1998; Ôxtrâylia ngày nay do Vũ

Tuyết Loan chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1998

Trong khi quan hệ song phương Việt Nam với các thành viên APEC đã được nhiều ấn phẩm đề cập, thì cho đến nay hầu như chưa có công trình nào chính thức viết về quan hệ đa phương Việt Nam - APEC Mối quan hệ đa phương Việt Nam - APEC chỉ mới được bàn đến trong một số bài viết về APEC và chủ yếu được bàn dưới góc độ những thuận lợi và thách thức khi

Việt Nam tham gia tổ chức này, ví dụ như: Đánh giá chung về APEC:

Những thuận lợi và khó khăn trong tiến trình hội nhập của Việt Nam của

Bùi Thanh Sơn, Nghiên cứu Quốc tế số 5, (20), 10/1997; APEC: Một số vấn

đề cơ bản của Lê Thu Hằng, Tạp chí Kinh tế châu á - Thái Bình Dương, số 3

(20), 9/1998

Việc nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước thời kỳ đổi mới nói chung, về quan hệ Việt Nam với tổ chức APEC nói riêng còn rất hạn chế Vấn đề này được đề cập trong các bài tạp chí, dưới dạng giải thích, hoặc phân tích một số quan điểm, chủ trương, chính sách đối

ngoại của Đảng Cụ thể như các bài: Trên đường triển khai chính sách đối

ngoại theo định hướng mới, Nguyễn Mạnh Cầm, Tạp chí Cộng sản 4/1993; Mười năm đổi mới trên lĩnh vực công tác đối ngoại, Nguyễn Mạnh Cầm,

Tạp chí Cộng sản 9/2000; Châu á - Thái Bình Dương - một hướng lớn

trong chính sách đối ngoại của Nhà nước ta, Vũ Khoan, Tạp chí Cộng sản

7/1993; Đường lối đối ngoại của Đảng ta, Vũ Hiền, Tạp chí Cộng sản

12/1996 Tháng 7/2001, Nghiên cứu sinh: Nguyễn Đình Thực đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về đề tài: “Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ đối ngoại với ASEAN (1967-1995)” tại Học viện Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh Các tài liệu này góp phần làm rõ đường lối đối ngoại của Đảng

Trang 12

ta và hoạt động đối ngoại Việt Nam nói chung với các nước trong khối ASEAN nói riêng và những thành tựu, kinh nghiệm của lĩnh vực hoạt động này trong thời kỳ đối mới

Có thể nhận thấy một thực tế là, cho đến nay gần như chưa có công trình,

ấn phẩm nào được công bố nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam - APEC

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

Nhiệm vụ:

Xuất phát từ mục đích trên, nhiệm vụ trọng tâm của luận án là đi sâu phân tích quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về quá trình: giải quyết những trở ngại trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước châu á - Thái Bình Dương; Giải toả những mặc cảm lịch sử với các nước láng giềng, khu vực, đặc biệt với những nước lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật; từng bước cải thiện quan hệ song phương với các nước Đông Nam á, mở cửa giao lưu hợp tác với khu vực, hội nhập tổ chức ASEAN; tạo tiền đề để cải thiện căn bản quan hệ giữa Việt Nam với các thành viên của tổ chức APEC, mở đường cho nước ta gia nhập tổ chức này

Trang 13

Trình bày các bước phát triển trên thực tế quan hệ giữa Việt Nam với một số thành viên APEC thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới; phân tích ý nghĩa và một vài kinh nghiệm của quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam – APEC

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận án là quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quá trình giải quyết các mặc cảm, trở ngại để cải thiện quan hệ giữa Việt Nam với các thành viên APEC, tạo tiền đề

để Việt Nam thiết lập quan hệ với tổ chức APEC Ngoài ra, luận án còn đề cập đến một số hoạt động đối ngoại song phương và đa phương Việt Nam - APEC, nhằm làm rõ kết quả thực tiễn của quá trình triển khai đường lối đối ngoại của Đảng đối với khu vực

- Phạm vi, thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung giải quyết các vấn đề trên từ năm 1989 - thời điểm Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình Dương ra đời, đến khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này - năm 1998 Đây là giai đoạn thể hiện tập trung bản lĩnh, trí tuệ, sự nhạy cảm và khôn khéo của Đảng ta trong việc hoàn thiện đường lối đối ngoại và phát triển khoa học, nghệ thuật ngoại giao, giành thắng lợi Nghiên cứu sâu giai đoạn này, có thể rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu cho hoạt động đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới

5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Cơ sở lý luận của luận án là những quan điểm lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ quốc tế

Nguồn tài liệu

Trang 14

Để thực hiện luận án, tác giả sử dụng các nguồn tài liệu:

- Nguồn tài liệu liên quan đến đường lối đối ngoại của Đảng nói chung,

về quan hệ Việt Nam – APEC nói riêng, bao gồm:

Các Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Trung ương các khoá đã được công bố và các Nghị quyết Trung ương, Bộ Chính trị khác chưa được công bố Chỉ thị, ý kiến của Bộ Chính trị và Thường trực Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương

Các tác phẩm, bài viết hoặc phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước về lĩnh vực đối ngoại

Các báo cáo, tờ trình của các Ban Đảng Trung ương, Ban Cán sự Đảng

Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại về đối ngoại (tài liệu chưa được công bố của Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng)

Trên đây là nguồn tài liệu cơ bản không chỉ trang bị về mặt nhận thức luận, mà còn cung cấp nội dung quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam với các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế để tác giả sử dụng trong quá trình thực hiện luận án

- Nguồn tài liệu liên quan đến hoạt động đối ngoại của Nhà nước nói chung, trong quan hệ Việt Nam – APEC nói riêng

Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước viết về APEC; về quan hệ Việt Nam với các nước, các tổ chức khu vực châu á

- Thái Bình Dương; về cơ hội và thách thức của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã được in thành sách, được công bố trên báo, tạp chí hoặc trong các hội thảo quốc tế

Các Kỷ yếu Hội nghị khoa học, luận án Tiến sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài luận án đều được tác giả trân trọng kế thừa

- Phương pháp nghiên cứu

Trang 15

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu để thực hiện luận án là phương pháp lịch sử, lôgích, kết hợp với các phương pháp chuyên ngành như phân tích, tổng hợp, thống kê và đối chiếu so sánh Những phương pháp này được sử dụng phù hợp với yêu cầu của từng chương, tiết luận án

Đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước về quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam với Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình Dương được phân tích một cách có hệ thống theo trình tự thời gian, được nhìn nhận theo quan điểm lịch sử cụ thể và được đánh giá trên cơ sở đối chiếu với thực tiễn quan

hệ Việt Nam với một số thành viên APEC và với tổ chức APEC

Hoạt động đối ngoại của Nhà nước Việt Nam trong quan hệ với APEC được trình bày theo trình tự thời gian Những sự kiện đối ngoại tiêu biểu được phân tích, so sánh để làm rõ vị trí, ý nghĩa của nó trong tiến trình quan hệ Việt Nam - APEC

6 Đóng góp của luận án

- Về tư liệu: Luận án đã khai thác một khối lượng tư liệu khá phong phú,

đa dạng (có cả những tư liệu chưa được công bố) về đường lối, chủ trương, chính sách đối ngoại và những ý kiến chỉ đạo cụ thể của Đảng và Nhà nước ta trong quan hệ quốc tế và khu vực; mối bang giao và những kết quả đạt được trong quá trình thiết lập, mở rộng quan hệ Việt Nam với các thành viên APEC

và tổ chức APEC Nguồn tài liệu tham khảo và phụ lục của luận án có thể đóng góp tư liệu cho công tác nghiên cứu về mảng đề tài đối ngoại của Việt Nam với khu vực châu á - Thái Bình Dương

- Về nội dung khoa học: Kết qủa của Luận án góp phần làm sáng tỏ đường lối đổi mới trong chính sách đối ngoại nói chung và về chủ trương, chính sách thiết lập quan hệ Việt Nam -APEC nói riêng của Đảng và Nhà nước ta

Trang 16

Một vài kinh nghiệm được rút ra từ quá trình Đảng lãnh đạo việc thiết lập quan hệ Việt Nam - ASEAN và những kiến nghị của luận án, hy vọng góp một phần nhỏ vào việc hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong giai đoạn mới

Luận án cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập các môn học liên quan đến đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

7 Kết cấu luận án:

Ngoài danh mục công trình của tác giả, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận

án có 161 trang gồm: phần mở đầu, 3 chương, 8 tiết và phần kết luận

Trang 17

Chương 1

những cơ sở để đảng cộng sản việt nam quyết định thiết lập quan hệ

việt nam - apec 1.1 bối cảnh thế giới, khu vực (1989 - 1998) và nhận thức của đảng ta

1.1.1 Khái quát tình hình thế giới, khu vực

Từ cuối thập kỷ 80, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Sang đến đầu thập kỷ 90, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, đã dẫn đến những biến đổi cơ bản nền chính trị thế giới và quan hệ quốc tế Trật tự thế giới được hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trên cơ sở hai khối đối lập do Liên Xô và Mỹ đứng đầu (trật tự hai cực) tan rã, mở ra thời kỳ quá độ hình thành một trật tự thế giới mới

Một đặc điểm lớn trên chính trường quốc tế sau khi Liên Xô tan rã là việc

Mỹ, với vị trí siêu cường duy nhất về kinh tế, chính trị và quân sự, có ý đồ muốn thiết lập một trật tự thế giới mới dưới sự chi phối của họ (thế giới một cực).Các nước lớn (kể cả những đồng minh của Mỹ) đấu tranh mạnh mẽ nhằm xác lập vai trò, vị thế của mình đối với khu vực và thế giới nhằm ngăn cản Mỹ thực hiện ý đồ xây dựng trật tự thế giới đơn cực Xu hướng đa cực hoá chính trị đang trở thành xu thế phổ biến của thế giới đương đại

Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, các quốc gia, đặc biệt là các nước vừa và nhỏ, các tổ chức và lực lượng chính trị quốc tế đều thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ bên trong và xu thế phát triển của thế giới, nhằm giành được những lợi ích cao nhất, hạn chế sự thua thiệt, sự đối xử bất bình đẳng Biểu hiện nổi bật của xu thế điều chỉnh chiến lược là các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ và tự lực tự cường, chủ động trong việc tìm kiếm con đường phát triển của mình

Trang 18

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, thế giới tồn tại những điểm nóng, những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp Sau chiến tranh lạnh tình trạng này vẫn còn, nhưng xu thế chung của thế giới là hoà bình, hợp tác và phát triển Từ năm 1988, Đảng ta đã dự đoán đúng diễn biến của tình hình thế giới, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị khoá VI (5/1988) nhận định:

Các nước lớn, kể cả những nước có tiềm lực mạnh, buộc phải giảm chạy đua vũ trang hạt nhân và chi phí quốc phòng, giảm cam kết về quân

sự ở bên ngoài và dàn xếp với nhau về các vấn đề khu vực để tập trung vào củng cố bên trong, chạy đua ráo riết về kinh tế và khoa học kỹ thuật nhằm tạo ra một nền kinh tế phát triển cao vào cuối thế kỷ này Xu thế đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau ngày càng phát triển [143, tr 7]

Thời kỳ chiến tranh lạnh, sự phân biệt, đối đầu, thù địch về ý thức hệ, về chế độ chính trị - xã hội là cơ sở cho sự tồn tại của thế giới hai cực và là nhân

tố chi phối lớn đến quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ Bắc - Nam Sau chiến tranh lạnh, việc tập hợp lực lượng không còn cơ bản dựa trên lăng kính ý thức

hệ tư tưởng, chính trị mà chủ yếu dựa trên lợi ích chung của các quốc gia, của khu vực và toàn cầu Những vấn đề như ô nhiễm môi trường, buôn bán ma tuý, hiểm hoạ SIDA và khủng bố quốc tế, đều ảnh hưởng đến an ninh, phát triển của các nước, không kể là nước lớn hay nhỏ Để giải quyết những vấn đề toàn cầu, các quốc gia phải nỗ lực hợp tác cùng hành động Cuộc chạy đua phát triển kinh tế khiến các nước, nhất là những nước đang phát triển phải đổi mới

tư duy đối ngoại, thực hiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế; mở rộng và tăng cường liên kết, hợp tác với các nước tư bản phát triển phương Tây để tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh

Trang 19

Trên lĩnh vực kinh tế, việc Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiến hành cải tổ, đổi mới, từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, xây dựng nền kinh tế thị trường Như vậy, cho đến đầu thập kỷ 90, kinh tế thị trường toàn cầu hoá dựa trên công nghệ cao ngày càng trở thành xu thế phổ biến của nền kinh tế thế giới, là hành trang của nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới

Sau chiến tranh lạnh, các nước đã đổi mới tư duy về quan niệm sức mạnh,

vị thế quốc gia Thay thế cách đánh giá cũ, chủ yếu dựa vào sức mạnh quân sự bằng các tiêu chí tổng hợp, trong đó sức mạnh kinh tế và khoa học công nghệ được đặt ở vị trí quan trọng nổi bật Và vì vậy, cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia chuyển từ hình thức chạy đua vũ trang, tăng cường sức mạnh quân sự trong chiến tranh lạnh sang hình thức cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia Quan hệ quốc tế từ thế đối đầu chuyển dần sang đối thoại, hợp tác và cạnh tranh

Khu vực châu á - Thái Bình Dương sau sự kiện Liên Xô tan rã và các

Vài nét về khu vực châu á - Thái Bình Dương

Theo các công trình nghiên cứu thì thuật ngữ châu á - Thái Bình Dương mới được sử dụng rộng rãi từ cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, để chỉ một khu vực bao gồm các nước thuộc vành đai Thái Bình Dương*

Trang 20

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng châu á - Thái Bình Dương là khu vực gồm tất cả các nước châu á và các quốc gia thuộc lòng chảo Thái Bình Dương, với tổng số 80 nước và vùng lãnh thổ [98, tr 3] và [107, tr 354-356] Như vậy trên thực tế, khái niệm châu á - Thái Bình Dương gắn liền với những biến động về kinh tế, chính trị, nên có phạm vi rộng, hẹp khác nhau tuỳ theo góc độ xem xét trên các lĩnh vực địa tự nhiên, địa kinh tế hay địa chính trị Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi cho rằng việc xác định khái niệm khu vực châu á - Thái Bình Dương bao gồm các quốc gia và lãnh thổ thuộc vùng vành đai và vùng lòng chảo Thái Bình Dương là hợp lý

Châu á - Thái Bình Dương là khu vực địa lý rộng lớn với đại dương Thái Bình Dương chiếm trên một nửa diện tích biển của trái đất Biển Đông và Thái Bình Dương có tiềm năng lớn về khoáng sản và hải sản, đặc biệt là về dầu mỏ

và khí đốt Có trên một ngàn loài cá, có các ngư trường nước nóng (chiếm một nửa ngư trường nước nóng thế giới) Đây là khu vực rất đa dạng về địa lý, diện tích, dân số, và các điều kiện tự nhiên khác

Các nước khu vực châu á - Thái Bình Dương, đặc biệt là các quốc gia châu

á thuộc vành đai Thái Bình Dương, thời cổ đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của những nền văn minh lớn: Trung Hoa, ấn Độ Nơi đây sớm có mặt các tôn giáo lớn: Phật giáo, ấn Độ giáo, sau đó là Hồi giáo (đạo ixlam), Thiên chúa giáo và các tôn giáo ấy trở thành Quốc giáo ở một số nước như Thái Lan (Phật giáo); Brunây (Hồi giáo); Philippin (Thiên chúa giáo) Sự tác động mạnh mẽ của tôn giáo đã ghi dấu ấn sâu đậm vào đời sống cư dân, góp phần tạo nên sự thống nhất trong đa dạng về văn hoá khu vực

Đông Nam Thái Bình Dương có các nước thuộc Trung và Nam Mỹ là Mêhicô, Nicaragoa, Goatêmala, ondurat, ensanvado, Panama, Côlômbia, Ecuado, Pêru, Chilê [89, tr 9].

Trang 21

Vào thời cận đại, phần lớn quốc gia trong khu vực bị các nước tư bản châu

Âu xâm lược Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ và nhiều quốc gia độc lập ra đời

Về thể chế chính trị trong khu vực gồm hai nhóm sau: nhóm nước Xã hội chủ nghĩa như: Việt Nam, Trung Quốc; nhóm nước Tư bản chủ nghĩa như:

Mỹ, Canađa, ôxtrâylia

Trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực châu á - Thái

Bình Dương hết sức đa dạng Có những nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới như: Mỹ, Nhật Bản, Canađa; các nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới như: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Xingapo; những nước đang trong quá trình công nghiệp hoá như: Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan, Philippin, Trung Quốc, và có những nước trình độ phát triển thấp như các nước Đông Dương và Mianma Bởi vậy, GDP bình quân đầu người giữa các quốc gia trong khu vực cũng rất khác nhau

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, châu á - Thái Bình Dương là nơi hội tụ các mâu thuẫn lớn của thế giới, là khu vực nóng bỏng và xung đột vũ trang kéo dài Bước vào thập kỷ 80, khu vực châu á - Thái Bình Dương đi dần vào trạng thái hoà bình, ổn định, được dư luận thế giới coi là khu vực tương đối yên tĩnh,

có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, xu thế hợp tác trong khu vực ngày càng phát triển Trên cơ sở đó vai trò, vị trí của khu vực châu á - Thái Bình Dương ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế

Sự đa dạng về địa lý, tộc người, tôn giáo, văn hoá; sự khác nhau về lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực châu á - Thái Bình Dương, là cơ sở để các nước hoạch định chính sách đối

Trang 22

ngoại thích hợp nhằm bảo đảm hiệu quả cho tiến trình hợp tác kinh tế, giao lưu văn hoá, xã hội với khu vực

Trang 23

Khu vực châu á - Thái Bình Dương trong thập kỷ 90

Bước vào thập kỷ 90, tình hình khu vực châu á - Thái Bình Dương có những diễn biến mới:

Trước hết là sự nổi lên của tam giác chiến lược mới Mỹ - Trung - Nhật trở

thành nhân tố chủ yếu chi phối an ninh chính trị của khu vực châu á - Thái Bình Dương

Hai là, Trong khu vực tuy vẫn tồn tại nhiều nguy cơ bùng nổ xung đột như

vẫn đề hạt nhân ở Bán đảo Triều Tiên; vấn đề Đài Loan; vấn đề tranh chấp lãnh hải thuộc vùng biển Đông và việc các nước trong khu vực tăng cường vũ trang, nhưng châu á - Thái Bình Dương sau chiến tranh lạnh vẫn được đánh giá là khu vực yên tĩnh và ổn định nhất của thế giới

Ba là, châu á - Thái Bình Dương trở thành khu vực có tiềm lực lớn và

năng động nhất về phát triển kinh tế Xu thế hoà bình và hợp tác trong khu vực phát triển mạnh, sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng Tuy nhiên, quá trình hợp tác phát triển kinh tế của khu vực cũng đang gặp phải những khó khăn trở ngại Đó là: sự chênh lệch về trình độ và tốc độ tăng trưởng kinh tế giữa các nền kinh tế; khoảng cách quá lớn giữa nước giàu và nước nghèo Sau chiến tranh lạnh đã xuất hiện những nhân tố mới có thể gây mất ổn định khu vực, trong đó có nhân tố xuất phát từ sự tranh giành lợi ích kinh tế, ảnh hưởng chính trị giữa một số nước lớn (chủ yếu là giữa Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc) Nhận định về tình hình khu vực châu á - Thái Bình Dương sau khi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô tan rã, Đảng ta đã chỉ rõ: “Khu vực châu á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động và tiếp tục phát triển với tốc độ cao Đồng thời khu vực này cũng tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định” [71, tr 77]

Trang 24

Trước những động thái mới của thế giới, các nước và nhóm nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương đã điều chỉnh chiến lược đối nội và đối ngoại của mình cho phù hợp với tình hình và xu thế quốc tế

Về một số nước thành viên của APEC (1989 – 1998)

Các nước ASEAN

Từ cuối thập kỷ 80, trước xu thế khu vực hoá, quốc tế hoá và chạy đua về phát triển kinh tế, ASEAN trong khi vẫn coi trọng hợp tác an ninh, chính trị đã chú trọng hơn đến vấn đề hợp tác kinh tế ASEAN khuyến khích việc tìm đối tác bên ngoài, nhất là đối với các cường quốc kinh tế và những tổ chức kinh tế lớn của thế giới Hợp tác giữa các thành viên ASEAN ngày càng thoát ra khỏi

Trang 25

Cùng với việc tăng cường hợp tác khu vực, ASEAN rất coi trọng việc mở rộng quan hệ với các nước và các tổ chức ngoài khu vực Chính vì vậy, đã nâng cao vị thế của Hiệp hội các nước Đông Nam á trong cộng đồng quốc tế

Hoa Kỳ

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc và đặc biệt là sau sự thất bại của Irắc trong chiến tranh vùng vịnh, Tổng thống Mỹ George Bush tuyên bố về trật tự thế giới một cực (cực đó là Mỹ) Tuy nhiên, mong muốn về thế giới một cực của Tổng thống Bush đã không trở thành hiện thực, bởi Mỹ không còn đủ sức mạnh cả về chính trị và kinh tế để các nước, kể cả các nước đồng minh chịu sự chỉ huy của Mỹ như trong chiến tranh lạnh Về kinh tế, vào thập kỷ 90, tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ chỉ còn chiếm từ 23-25% GDP thế giới (so với 40%, sau chiến tranh thế giới lần thứ 2) Mặt khác, sau khi chủ nghĩa xã hội sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, các đồng minh Mỹ đều cho rằng mối đe doạ cộng sản đã không còn nặng nề như trước, vì vậy, sự hấp dẫn về sức mạnh quân sự, sức mạnh hạt nhân và sự bảo hộ của Mỹ cũng bị suy giảm đáng kể Tuy nhiên, tham vọng xác lập địa vị lãnh đạo thế giới của Mỹ vẫn rất lớn Trong tuyên bố nhận chức ngày 20/1/1993, Clintơn đã khẳng định lại mục tiêu nhất quán của nước Mỹ là "Mỹ vẫn có trách nhiệm trên khắp thế giới Dân tộc chúng ta (Mỹ) sẵn sàng lãnh đạo một thế giới đang bị thách thức ở khắp

mọi nơi" [162, tr 35]

Về quân sự, Mỹ đã bố trí một lực lượng lớn nhằm bảo đảm sẵn sàng chiến đấu và tiếp tục ký kết các hiệp ước an ninh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin, Thái Lan, ôxtrâylia và Niu Dilân

Về kinh tế, Mỹ chủ trương thúc đẩy việc thành lập các tổ chức kinh tế, thương mại như: NAFTA ở Bắc Mỹ, FTAA cho toàn châu Mỹ và APEC cho châu á - Thái Bình Dương Thông qua các tổ chức này, Mỹ muốn mở rộng thị

Trang 26

trường khu vực cho hàng hoá và dịch vụ của họ, trong đó, Mỹ coi APEC là tổ chức hết sức quan trọng

Khi tái đắc cử nhiệm kỳ hai, Tổng thống Mỹ B Clintơn đã thực hiện chuyến công du ra nước ngoài đầu tiên là châu á - Thái Bình Dương Tại đó, Tổng thống Mỹ đã khẳng định: "Khu vực châu á - Thái Bình Dương có tầm quan trọng ngày càng tăng về mặt chiến lược và kinh tế Mỹ cam kết sẽ tiếp tục là một lực lượng duy trì hoà bình và ổn định tại khu vực và duy trì khoảng 100.000 quân tại đây [2, tr 24]

Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (1/1994) đã nhận định chính sách của Mỹ tại khu vực như sau:

Mỹ duy trì các liên minh quân sự và cơ chế tay đôi đã có, duy trì sức mạnh quân sự đủ để chi phối việc xây dựng cơ chế an ninh ở khu vực

Mỹ vừa duy trì, phát triển quan hệ với Trung Quốc vừa gây sức ép kiềm chế Trung Quốc Mỹ vừa cạnh tranh gay gắt với Nhật bản về kinh tế và thương mại, vừa sử dụng Nhật Bản và ASEAN làm đối trọng với Trung Quốc, kiềm chế Nhật Bản đang tìm cách vươn lên Mỹ đẩy mạnh diễn biến hoà bình, âm mưu gây bạo loạn, lật đổ, tìm cách áp đặt các vấn đề dân chủ, nhân quyền kiểu Mỹ để chống các nước xã hội chủ nghĩa và một

số nước khác trong khu vực [69, tr 18]

Nhật Bản

Vào những năm 80, Nhật Bản đã trở thành một cường quốc kinh tế đứng sau Mỹ Năm 1992, kinh tế Nhật Bản bằng 60% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân của Mỹ; thu nhập quốc dân tính theo đầu người của Nhật bản khoảng 38.750 USD (Mỹ khoảng 25.900 USD); tài sản nước ngoài của Nhật hơn 600

tỷ USD; Nhật là nước xuất khẩu tư bản, và là chủ nợ lớn nhất thế giới Năm

1993, viện trợ phát triển (ODA) của Nhật là 13 tỷ USD Nhật là nước cung cấp

Trang 27

viện trợ phát triển lớn nhất thế giới Thủ tướng Thái Lan cho rằng, Nhật Bản

đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh kinh tế [100, tr 31]

Sau khi Liên Xô sụp đổ, vai trò của Mỹ đối với khu vực bị suy giảm, Nhật Bản tận dụng cơ hội này để thể hiện vị trí, vai trò độc lập hơn của mình trong quan hệ với Mỹ và phương Tây đối với việc giải quyết các vấn đề của khu vực

và quốc tế như, tham gia giải quyết vấn đề Cămpuchia; tham gia chiến tranh vùng Vịnh; tích cực tham gia các hoạt động của Liên hợp quốc và muốn giành chiếc ghế Uỷ viên Thường trực ở Hội đồng Bảo an của tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới này

Để thực hiện mục tiêu của mình về chính trị và an ninh, Nhật Bản đặc biệt chú ý tăng cường ảnh hưởng của họ đối với khu vực châu á - Thái Bình Dương không chỉ thông qua quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư mà cả việc tăng cường cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Nga, ASEAN Nếu như trong chiến tranh lạnh, Nhật Bản tự coi mình là một nước phương Tây, thì vào hậu chiến tranh lạnh, Nhật chủ trương "tái châu á hoá" để bảo đảm vị trí, vai trò một cường quốc châu á

Nhận định của Đảng ta về chính sách của Nhật Bản như sau:

Nhật Bản triển khai thực hiện "học thuyết Mi-a-da-oa", ra sức phát huy vai trò chính trị tương xứng với sức mạnh kinh tế, tăng cường viện trợ kinh tế, mở rộng đầu tư, mở rộng ảnh hưởng kinh tế, chính trị, quân sự ở khu vực, chủ yếu là mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá và khai thác tài nguyên, Nhật Bản tham gia tích cực tiến trình hoà bình ở Cămpuchia và diễn đàn an ninh châu á - Thái Bình Dương Nhật Bản vừa hợp tác vừa cạnh tranh với Mỹ, Trung Quốc và Cộng đồng kinh tế châu Âu

ở khu vực, đồng thời tìm cách mở rộng ảnh hưởng ở khu vực khác, [69,

tr 19]

Trung Quốc

Trang 28

Tình hình thế giới từ cuối thập kỷ 80, đã tạo cơ hội quốc tế thuận lợi để Trung Quốc đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch 4 hiện đại hoá Đại hội 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (1992) quyết định thực hiện chiến lược "tăng tốc"

do Đặng Tiểu Bình đề xướng, trong 5 năm sẽ đưa Trung Quốc phát triển lên giai đoạn mới, phát huy vai trò nước lớn của Trung Quốc đối với thế giới Điều đáng chú ý là cùng với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, Trung Quốc tiến hành hiện đại hoá quốc phòng Từ năm 1988 - 1993, ngân sách quân

sự của Trung Quốc tăng 98% và "chi phí quốc phòng của Trung Quốc trong năm 1995 là 7,48 tỷ đô la, tăng 21% so với năm 1994, mức tăng này gấp hơn hai lần so với mức tăng chi ngân sách nhà nước" [129, tr 45]

Trung Quốc rất coi trọng khu vực châu á - Thái Bình Dương và tích cực tham gia hội nhập vào các diễn đàn chính trị, kinh tế, an ninh khu vực, bởi lẽ

sự nghiệp mở cửa và 4 hiện đại hoá của Trung Quốc phụ thuộc rất lớn vào vốn, khoa học - công nghệ, đầu tư và thị trường của khu vực, trong đó đặc biệt

là của Mỹ và Nhật Bản

Nhận định về chính sách của Trung Quốc, Đảng ta cho rằng:

Trung Quốc đẩy mạnh thực hiện đường lối cải cách, mở cửa nhằm mục tiêu 4 hiện đại hoá, trở thành cường quốc không chỉ ở khu vực mà cả trên thế giới Trung Quốc cố gắng giữ ổn định bên trong và tạo môi trường xung quanh thuận lợi; bình thường hoá quan hệ, mở rộng sự hợp tác với các nước láng giềng, các nước Đông Nam á, tăng cường quan hệ với Nhật Bản, giữ quan hệ tốt với Mỹ; đẩy mạnh phát triển kinh tế với tốc

độ cao và mở rộng ảnh hưởng kinh tế, chính trị ra toàn khu vực, tăng cường sức mạnh quân sự, nhất là hải quân [69, tr 18-19]

Một số nước khác

Trang 29

Đối với các nước tầm trung như: ôxtrâylia, Canađa và các nước ASEAN, Hàn Quốc, trong chiến tranh lạnh, các nước này bị lôi kéo vào cuộc đối đầu quyết liệt về ý thức hệ, và thực tế, phần lớn trong số họ trở thành đồng minh của Mỹ Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, cục diện thế giới thay đổi tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả các nước có nền kinh tế phát triển với trình độ cao ngày càng có vị trí và vai trò lớn hơn trong quan hệ quốc tế Nhận thức được điều đó, các nước tầm trung ở châu á - Thái Bình Dương tìm cách phát huy ảnh hưởng của mình trong công việc của khu vực và tìm chỗ đứng độc lập hơn trong chính sách đối ngoại với các nước lớn, đặc biệt là với Mỹ Vai trò tích cực và quan trọng của các nước tầm trung ở châu á - Thái Bình Dương sau chiến tranh lạnh được thể hiện một cách rõ ràng qua việc Canađa, ôxtrâylia nối lại viện trợ cho Việt Nam trong năm 1990-1991, khi Mỹ đang thi hành cấm vận đối với Việt Nam; việc ôxtrâylia đưa ra những sáng kiến cho giải pháp về Cămpuchia; việc các nước lớn đều tham gia ARF do ASEAN chủ đạo bàn về

an ninh châu á - Thái Bình Dương

Phân tích sâu sắc diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) nhận định, có năm xu thế chủ yếu nổi lên trong quan hệ quốc tế:

Thứ nhất, hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành

đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới Các nước đều coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia

Thứ hai, Các quốc gia lớn nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp

tác, liên kết khu vực và quốc tế Hợp tác ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt

Thứ ba, các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đấu

tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài

Trang 30

Thứ tư, các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng cộng sản và công nhân, các

lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới đang kiên trì đấu tranh vì mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Thứ năm, các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa

đấu tranh cùng tồn tại hoà bình [71, tr 77-78]

Từ việc phân tích tình hình thế giới và các xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế, Đại hội Đảng lần thứ VIII kết luận: "Các đặc điểm và xu thế nêu trên

đã làm nảy sinh tính đa phương, đa dạng trong quan hệ quốc tế và trong chính sách đối ngoại của các nước Tình hình thế giới và khu vực tác động sâu sắc đến các mặt đời sống xã hội nước ta, đưa đến những thuận lợi đồng thời cũng làm xuất hiện những thách thức lớn" [71, tr 78], đòi hỏi, Đảng và Nhà nước ta phải nắm bắt và kịp thời có chủ trương phù hợp với đặc điểm mới của quốc tế

1.1.2 Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá

Toàn cầu hoá và khu vực hoá là xu thế quốc tế nhằm liên kết, hợp tác, trao đổi những giá trị, những hoạt động, về chính trị, kinh tế, thương mại, khoa học

kỹ thuật và văn hoá trên phạm vi khu vực, thế giới

Trong những thập kỷ gần đây, toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế trở thành xu hướng nổi bật Xu hướng này phản ánh bản chất của nền kinh tế thị trường yêu cầu ngày càng cao về độ mở cửa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, không bị giới hạn bởi các biên giới quốc gia, chủng tộc, tôn giáo và gần đây là không phân biệt giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau

Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá kinh tế bắt nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc, trên cơ sở đó thúc đẩy hình thái quan hệ liên kết, hợp tác và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc

Từ giữa thập kỷ 80 trở lại đây, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, trong

Trang 31

đó hai nhân tố rất quan trọng tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến sự gia tăng tốc

độ và chiều sâu của quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá Trước hết là sự đổi mới tư duy về lợi ích dân tộc, quan hệ quốc tế, an ninh và phát triển của các quốc gia, về sự nhận thức vai trò, vị trí của kinh tế trong việc xác lập vị thế của các quốc gia, dân tộc Tiềm lực và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia có vai trò quan trọng trong việc giữ vững nền độc lập dân tộc và ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế mỗi nước trong cộng đồng quốc tế Từ đó tạo ra bước chuyển từ chạy đua vũ trang sang chạy đua kinh tế Các nước đều coi chiến lược mở cửa với bên ngoài là một trong những động lực chủ yếu để phát triển kinh tế Nhu cầu liên kết, hợp tác để phát triển ngày càng gia tăng Nhân tố thứ hai là cục diện chiến tranh lạnh kết thúc, các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung tan vỡ ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, chuyển sang nền kinh tế thị trường mở cửa, hướng ngoại Các nước xã hội chủ nghĩa khác như Trung Quốc, Việt Nam tiến hành cải cách, đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc)

và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Việt Nam) Như vậy, trận địa của kinh tế thị trường đã được mở rộng hơn so với thời kỳ chiến tranh lạnh đã đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá

Cho đến nay, trên thế giới có các tổ chức, các thể chế mang tính toàn cầu như: Liên hợp quốc (thành lập ngày 24/10/1945) là tổ chức đa phương toàn cầu đầu tiên trên thế giới; Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ra đời 27/12/1945; Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) ra đời năm 1948 đến năm

1995 được cải tổ thành WTO - Tổ chức Thương mại Thế giới; Ngân hàng thế giới (WB)

Cùng với quá trình toàn cầu hoá là khu vực hoá, cả hai đều là xu thế khách quan của thế giới Nhìn chung, theo quan điểm hiện nay, chủ nghĩa khu vực vừa như là đối tượng cản trở quá trình toàn cầu hoá, lại vừa như là sự chuẩn

Trang 32

bị, tập dượt, là "giai đoạn quá độ", bước đi cần thiết của các quốc gia trước khi bước vào hành trình hội nhập kinh tế quốc tế

Thời kỳ chiến tranh lạnh, liên kết hợp tác khu vực chủ yếu giữa các nước

có cùng chế độ chính trị dưới hình thức liên minh chính trị - quân sự Từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, xu hướng hợp tác khu vực không phân biệt chế

độ chính trị - xã hội ngày càng nổi trội Về số lượng, các tổ chức khu vực ra đời ngày càng nhiều Theo các số liệu thống kê, trong thập kỷ 60 có 19 tổ chức, thập kỷ 70 có 28, thập kỷ 80 có 32, những năm cuối của thế kỷ 20 các tổ chức khu vực đã lên tới con số khoảng 50 [140, tr 17] Nội dung của hợp tác khu vực được mở rộng toàn diện hơn, trong đó hợp tác kinh tế, kỹ thuật, giao lưu về văn hoá trở thành xu hướng chủ đạo

ở châu á - Thái Bình Dương, sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, sự gia tăng mậu dịch và đầu tư trong nội bộ khu vực đã thúc đẩy các hình thức hợp tác song phương và đa phương trên các lĩnh vực kinh tế Các tổ chức hợp tác kinh tế tiểu khu vực lần lượt ra đời: năm 1966, ôxtrâylia và Niu Dilân ký Hiệp ước Mậu dịch tự do ôxtrâylia - Niu Dilân Nhằm thắt chặt hơn nữa quan hệ kinh tế giữa hai bên, năm 1982, hai nước ký Hiệp định thương mại và quan hệ kinh tế ôxtrâylia - Niu Dilân với mục đích xây dựng một khu vực mậu dịch tự

do hoàn toàn; năm 1967, Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) ra đời; năm 1989, Khu vực Mậu dịch tự do Mỹ - Canađa được thành lập; vào tháng 11/1989, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình Dương - tổ chức hợp tác kinh tế liên châu lục thuộc khu vực châu á - Thái Bình Dương chính thức được thành lập

Cho đến thập kỷ 90, toàn cầu hoá và khu vực hoá đã phát triển rất đa dạng, với các loại hình: liên kết, hợp tác về kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa học kỹ thuật như Cộng đồng châu Âu (nay là Liên minh châu Âu); liên kết hợp tác kinh tế, giao lưu văn hoá như: Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) ;

Trang 33

loại hình liên kết hợp tác về kinh tế - thương mại và đầu tư như APEC Và cho đến nay, các loại hình trên đã phát triển theo các qui mô khác nhau, từ liên kết hợp tác tiểu khu vực cho đến các tổ chức kinh tế, thương mại toàn cầu Hội nhập khu vực và quốc tế là sự tham gia của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ vào các tổ chức khu vực hoặc các tổ chức quốc tế Các nước lớn, nhỏ, giàu, nghèo; các nước phát triển, đang phát triển ở những mức độ khác nhau đều tìm thấy lợi ích của dân tộc mình khi tham gia vào quá trình hội nhập khu vực và quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích, các quốc gia cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức to lớn

Chính vì vậy, trước xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, ở các nước đang phát triển diễn ra ba xu hướng: một là, cường điệu hoá mặt tích cực của toàn cầu hoá, khu vực hoá, coi đây là liều thuốc vạn năng cho sự phát triển của quốc gia Hai là, chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực, khó khăn, thách thức, từ đó tìm cách né tránh, quay lưng lại với toàn cầu hoá, khu vực hoá Xu hướng thứ ba là

“chủ động hội nhập” trên cơ sở nhận thức sâu sắc những tác động tích cực của

xu thế khách quan này cùng những tác động tiêu cực của nó để tìm cách hạn chế

Thực tế cho thấy rằng, các nước muốn tránh khỏi nguy cơ bị biệt lập, tụt hậu, kém phát triển thì phải tích cực, chủ động nhanh chóng tham gia hội nhập khu vực và quốc tế, đồng thời phải có bản lĩnh cân nhắc một cách cẩn trọng các yếu tố bất lợi để vượt qua

Đến thập kỷ 90, đã có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ do tận dụng được

cơ hội của toàn cầu hoá, khu vực hoá đã gặt hái được những lợi ích to lớn Nhiều nước và vùng lãnh thổ đang phát triển, nhanh chóng trở thành các nền kinh tế công nghiệp mới, thành những con rồng như: Xingapo, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Braxin…, và một số quốc gia Đông Nam á sắp trở thành

Trang 34

những nước công nghiệp như: Thái Lan, Malaixia, Trung Quốc cũng là ví dụ điển hình

Thực tiễn thời gian qua chứng minh rằng, không có quốc gia nào đóng cửa, quay lưng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế mà đạt được sự phát triển Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trở thành yêu cầu khách quan của quá trình phát triển các quốc gia dân tộc trên thế giới

Với Việt Nam, Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về xu thế khách quan của toàn cầu hoá, khu vực hoá với những cơ hội, thách thức của nó và sự cần thiết phải tham gia vào quá trình này Chính vì vậy, Báo cáo chính trị của Đảng tại Đại hội lần thứ VIII (6/1996), đã khẳng định việc “xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới” [71, tr 84-85] Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khoá VIII) 12/1997 chủ trương “tích cực chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế” [72, tr 60] tham gia quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá

1.2 Sự thành lập APEC và vai trò, vị trí của APEC đối với quốc tế và Việt Nam

1.2.1 Sự thành lập APEC

Vào đầu thập kỷ 80, trên lĩnh vực quan hệ quốc tế diễn ra nhiều xu thế mới, trong đó, xu thế đối thoại hợp tác, chạy đua phát triển kinh tế trở nên phổ biến Thương mại thế giới ở giai đoạn này phát triển nhanh: "nếu như vào năm

1950, xuất khẩu của thế giới mới đạt 69,7 tỷ đô la thì năm 1990 đã vượt 3000

tỷ đô la và hiện nay là trên 6000 tỷ đô la" [38, tr 5] Tình hình trên đã tác động mạnh mẽ thúc đẩy quá trình liên kết, hợp tác khu vực gia tăng nhanh chóng

ở châu á - Thái Bình Dương, "Từ năm 1980 - 1991, mức tăng trưởng bình quân hàng năm về mậu dịch trong nội bộ khu vực châu á - Thái Bình Dương cao tới 9,51%, cao hơn tốc độ bình quân 5,61% hàng năm của mậu dịch thế giới cùng thời gian đó Đồng thời đầu tư trong nội bộ khu vực châu á - Thái

Trang 35

Bình Dương cũng tăng nhanh, đến năm 1992, tổng số vốn đầu tư của Mỹ vào khu vực châu á - Thái Bình Dương đã chiếm 1/3 đầu tư trực tiếp của Mỹ ra nước ngoài" [122, tr 17-18]

Sự tăng trưởng nhanh về kinh tế, mậu dịch và đầu tư trong khu vực châu á

- Thái Bình Dương làm gia tăng nhu cầu về một thị trường ổn định, rộng mở

và hạn chế đến mức tối đa những hàng rào cản trở thương mại, và đầu tư trong khu vực Nhu cầu này đã thúc đẩy sự liên kết, hợp tác kinh tế giữa các nước để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và sự phát triển bền vững của khu vực Trong khi đó, cuộc đàm phán thứ 8 về thương mại đa biên của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) tại uruguay với 108 nước tham gia, bắt đầu từ 1986 đang lâm vào sự bế tắc, và có nguy cơ sụp đổ do các nước bất đồng sâu sắc về quyền lợi, nghĩa vụ trong đàm phán về thương mại, dịch

vụ và đầu tư  Trước sự suy thoái của chủ nghĩa toàn cầu, các nước phát triển tìm cách tăng cường các biện pháp bảo hộ, tạo điều kiện cho sản xuất trong nước phát triển Tình trạng này dẫn đến việc các nước có điều kiện địa lý và lợi ích gần nhau có nhu cầu liên kết hợp tác nhằm tăng cường sức mạnh kinh

tế đối phó với cạnh tranh bên ngoài

Khu vực châu á - Thái Bình Dương là một khu vực năng động, nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, nhưng lại chưa có một hình thức liên kết, hợp tác mang tính toàn khu vực để bảo đảm lợi ích cho các quốc gia trước sự phát triển của chủ nghĩa bảo hộ khu vực ở Tây Âu và Bắc Mỹ Chính vì vậy, nhu cầu cần phải có một cơ chế hợp tác kinh tế khu vực càng trở nền cần thiết và cấp bách Trên đây là những nhân tố khách quan thúc đẩy quá trình ra đời tổ chức APEC

 Hiệp đàm phán thứ 8 của GATT (Hiệp Urugoay) về thương mại đa biên thực hiện mục tiêu tháo gỡ hàng rào thuế và phi thuế, mở đường cho thương mại toàn cầu phát triển Theo dự kiến, Hiệp Urugoay kéo

Trang 36

Xuất phát từ lợi ích chính trị, kinh tế và an ninh của mình, các nước và nhóm nước thuộc khu vực châu á - Thái Bình Dương đều có những toan tính, ý

đồ trong việc thúc đẩy tiến trình thành lập và tham gia vào cơ chế hợp tác khu vực

Về ôxtrâylia, với vị trí địa lý rất thuận tiện về giao thông vận tải với các nước châu á - Thái Bình Dương, khu vực này lại là thị trường có tầm quan trọng thiết yếu, chiếm tỷ lệ cao trong kim ngạch xuất khẩu của ôxtrâylia nên nước này đã chủ động đề xuất sáng kiến thành lập APEC Mục đích của họ muốn sớm thể chế hoá tổ chức này trở thành một cơ chế chặt chẽ như Liên hiệp châu Âu nhằm ngăn chặn sự bành trướng kinh tế và giành giật thị trường khu vực của hai cường quốc kinh tế Mỹ và Nhật Bản

Đối với Nhật Bản, ngoại thương được coi là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và là cầu nối để mở rộng ảnh hưởng về chính trị Châu á - Thái Bình Dương - một thị trường kinh tế, thương mại và đầu tư quan trọng của Nhật Bản, nơi người Nhật có thể xác lập địa vị chính trị của mình trước khi mở rộng ảnh hưởng ra thế giới Vì vậy, Nhật Bản không những ủng hộ tích cực việc thành lập APEC mà còn muốn thông qua cơ chế APEC ràng buộc

Mỹ, Trung Quốc và lôi kéo ASEAN vào khuôn khổ hợp tác khu vực nhằm ngăn ngừa xu hướng khép kín của tổ chức này

Người Mỹ nhận thức rất rõ lợi ích kinh tế, chính trị của mình ở khu vực châu á - Thái Bình Dương Tham gia APEC, Mỹ sẽ củng cố được những lợi ích của mình với các nước NICs, ASEAN và các đồng minh khác Thông qua APEC, Mỹ có thể tiếp xúc thuận lợi với các nước để giải quyết các mâu thuẫn cũng như kiềm chế Nhật Bản và Trung Quốc, qua đó khôi phục, củng cố địa vị cường quốc kinh tế của Mỹ Như vậy, sự ra đời của APEC là phù hợp với những tính toán chiến lược của Mỹ về an ninh, chính trị và kinh tế của họ ở khu vực châu á - Thái Bình Dương

Trang 37

Kể từ những năm cuối thập kỷ 80, nền kinh tế các nước ASEAN tăng trưởng nhanh và liên tục Vị trí, uy tín của ASEAN ngày càng cao trong khu vực và trên thế giới Các nước ASEAN có nhu cầu tăng cường quan hệ đối ngoại và hợp tác kinh tế với bên ngoài mà trước hết là các nước châu á - Thái Bình Dương để phát triển kinh tế và phát huy vai trò của mình đối với khu vực Sự ra đời của APEC sẽ tạo diễn đàn quốc tế rộng rãi và thuận lợi để ASEAN thực hiện các mục tiêu trên Vì vậy, ngay từ buổi đầu ASEAN đã là thành viên tích cực sáng lập nên APEC Tuy nhiên trong khi đặt nhiều hy vọng vào APEC, các nước ASEAN cũng tỏ ra lo ngại sự phát triển của APEC sẽ làm

mờ nhạt vai trò, lợi ích của ASEAN đối với khu vực và quốc tế…

Những động cơ trên của các nước là những tác nhân quan trọng thúc đẩy quá trình hình thành tổ chức APEC

Từ những năm 60, đã có một số ý kiến thăm dò nhằm xây dựng cơ cấu hợp tác kinh tế khu vực châu á - Thái Bình Dương Năm 1961, ba quan chức kinh

tế của ấn Độ, Thái Lan và Nhật Bản thuộc nhóm chuyên gia hợp tác kinh tế khu vực châu á - Thái Bình Dương đưa ra chủ trương xây dựng “cơ cấu hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (OAEC)”

Năm 1965, học giả Nhật Bản Kiyoshi Kojima đề nghị thành lập: Khu vực thương mại tự do Thái Bình Dương (PAFTA) Do đề nghị này không thực hiện được, nên sau đó Kojima lại đưa ra đề nghị thành lập Tổ chức Thương mại và Phát triển Thái Bình Dương (OPTAD)

Năm 1967, nhóm nghiên cứu Nhật Bản đề nghị thành lập Uỷ ban hợp tác kinh tế lòng chảo khu vực Thái Bình Dương (PBEC) Đầu năm 1968, các học giả Nhật Bản tổ chức "Hội nghị mậu dịch và phát triển Thái Bình Dương" (PAFTAD) Hội nghị chủ trương lấy Nhật Bản, Mỹ, Canađa, ôxtrâylia, Niudilân làm trung tâm nhằm lập một cơ cấu hiệp thương tương đối lỏng lẻo giữa các nước để thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực Năm 1979, Thủ tướng

Trang 38

Nhật Bản Nakasone đưa ra "ý tưởng hợp tác vòng cung Thái Bình Dương" Tại cuộc hội thảo phi chính phủ do Nhật Bản và ôxtrâylia bảo trợ (9/1980) đã khuyến nghị thành lập một Uỷ ban hợp tác Thái Bình Dương (PCC)

Cũng trong thời gian này, nhân chuyến thăm ôxtrâylia của Thủ tướng Nhật Bản Ohira, Thủ tướng Nhật Bản và thủ tướng ôxtrâylia đã tổ chức hội thảo về cộng đồng Thái Bình Dương, kết quả là "Hội đồng hợp tác kinh tế Thái Bình Dương" (PECC) được thành lập, thành viên chính thức gồm Mỹ, Canađa, ôxtrâylia, Niudilân, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và các nước ASEAN Thực tế cho thấy hoạt động của PECC đã mở đường và thúc đẩy tiến trình liên kết hợp tác khu vực

Tháng 1/1989, Thủ tướng ôxtrâylia, La Bob Hawk đề nghị tổ chức Hội nghị Ngoại trưởng các nước châu á - Thái Bình Dương nhằm thảo luận để thiết lập một cơ chế hợp tác kinh tế cấp chính phủ trong khu vực Đề nghị của Thủ tướng ôxtrâylia đã được các nước trong khu vực hoan nghênh Trong hai ngày, 6 và 7/11/1989, tại Canberra (ôxtrâylia), 12 nước thuộc khu vực châu á - Thái Bình Dương là Mỹ, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brunây, Inđônêxia, Xinggapo, Malaixia, Philippin, Thái Lan, ôxtrâylia và Niudilân đã nhóm họp Hội nghị cấp Bộ trưởng quyết định thành lập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu á

- Thái Bình Dương (APEC)

Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động và cơ cấu tổ chức của APEC

Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ 3 tại Xơun (Hàn Quốc) ngày 14/11/1991 đã ra Tuyên bố APEC, Xơun*

(thường gọi tắt là Tuyên bố Xơun) xác định mục tiêu của APEC là:

1 Duy trì sự tăng trưởng và phát triển vì lợi ích chung của nhân dân trong khu vực, qua đó đóng góp vào sự tăng trưởng, phát triển nền kinh tế thế giới

*

Xin xem thêm phụ lục 3

Trang 39

2 Củng cố các thành quả tích cực đã đạt được đối với khu vực và nền kinh

1 Nguyên tắc cùng có lợi, có tính đến sự khác biệt trong các giai đoạn phát triển kinh tế trong các hệ thống chính trị - xã hội

2 Nguyên tắc đối thoại cởi mở, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau

3 Nguyên tắc nhất trí, những quyết định của APEC phải trên cơ sở nhất trí chung, tôn trọng những quan điểm của tất cả các thành viên một cách bình đẳng [35, tr 154]

4 Nguyên tắc tự nguyện, APEC không đưa ra những chỉ thị, mệnh lệnh hoặc các quyết định có tính chất bắt buộc với các thành viên Mọi hoạt động của APEC đều trên cơ sở tự nguyện

5 Mọi hoạt động của APEC phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

6 APEC là một diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực mở, không phân biệt đối

xử giữa APEC với các nền kinh tế bên ngoài khu vực

Về tổ chức, APEC có trụ sở thường trực nhằm hỗ trợ các hoạt động của APEC, có Chủ tịch điều hành, ban thư ký, các ban và tiểu ban khác*

Trang 40

Cơ quan quyết định chính sách cao nhất của APEC là Hội nghị Thượng đỉnh của APEC (APEC Summit Meeting) họp mỗi năm một lần, thành phần hội nghị là các nhà lãnh đạo kinh tế của các quốc gia và nền kinh tế thành viên APEC

Hội nghị Bộ trưởng (Ministerial Meeting) - được tổ chức định kỳ hàng năm

Hội nghị các quan chức cao cấp (Senior official Meeting - SOM) được tổ chức thường kỳ giữa hai Hội nghị Bộ trưởng hàng năm

Ban thư ký APEC (APEC Secretariat), đứng đầu Ban Thư ký là một giám đốc điều hành do nước đương nhiệm Chủ tịch APEC cử ra, nhiệm kỳ 1 năm Các uỷ ban chuyên môn của APEC bao gồm uỷ ban về thương mại và đầu tư; uỷ ban kinh tế; uỷ ban về ngân sách và quản trị hành chính; uỷ ban về hợp tác kinh tế và kỹ thuật

Nhóm các danh nhân (Eminent persons Group - EPG), là một nhóm tư vấn chính phủ, nhằm đóng góp ý kiến tư vấn và khuyến nghị cho các Hội nghị thượng đỉnh và Hội nghị Bộ trưởng APEC

Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC (The APEC Business Advisory Council - ABAC) được thành lập năm 1995 với mục tiêu là tăng cường sự tham gia hợp tác của giới doanh nghiệp đối với các hoạt động của APEC Các nhóm công tác và các nhóm đặc trách APEC, có 10 nhóm công tác phụ trách các lĩnh vực của APEC và 3 nhóm đặc trách về chính sách đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạ tầng cơ sở và hợp tác kỹ thuật công nghiệp

Tình hình hoạt động của APEC (1989-1998)

Từ khi ra đời cho đến năm 1992, APEC đã tổ chức 4 Hội nghị cấp Bộ trưởng Hội nghị Bộ trưởng lần thứ nhất họp tại Canberra, ôxtrâylia vào

Ngày đăng: 23/03/2015, 07:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[163] Hà Xuân Vấn (6/1997), "Vấn đề đánh giá nguồn lực có lợi thế so sánh trong phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta", Nghiên cứu Quốc tế, (18), tr. 33-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đánh giá nguồn lực có lợi thế so sánh trong phát triển kinh tế đối ngoại ở nước ta
[164] Viện nghiên cứu Đông Nam á (Xingapo)(1997), APEC những thách thức và cơ hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: APEC những thách thức "và cơ hội
Tác giả: Viện nghiên cứu Đông Nam á (Xingapo)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[165] Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương (1998), Báo cáo kinh tế Việt Nam 1998, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh tế Việt Nam "1998
Tác giả: Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương
Năm: 1998
[166] Viện Thông tin Khoa học Xã hội (1998), Châu á - Thái Bình Dương tìm kiếm một hình thức hợp tác mới cho thế kỷ XXI, Thông tin Khoa học Xã hội - chuyên đề, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu á - Thái Bình Dương tìm "kiếm một hình thức hợp tác mới cho thế kỷ XXI
Tác giả: Viện Thông tin Khoa học Xã hội
Năm: 1998
[167] William J.Clinton (1997), Chiến lược an ninh quốc gia: Sự cam kết và mở rộng 1995-1996, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược an ninh quốc gia: Sự cam kết và mở rộng 1995-1996
Tác giả: William J. Clinton
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
[168] Khong Kim Hoong (1991), The politis of Japan - Viet Nam relations, Institute of Strategic and International studies, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: The politis of Japan - Viet Nam relations
Tác giả: Khong Kim Hoong
Năm: 1991
[169] APEC Secretariat (1995), Deregulation and Liberalization Initiatives of the APEC Member Economies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Deregulation and Liberalization Initiatives of
Tác giả: APEC Secretariat
Năm: 1995
[170] APEC Secretariat (1996), Update on Activite winthin APEC Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.1. Đồ thị diễn biến kim ngạch buôn bán Việt Trung - Đảng lãnh đạo quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam với tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (1989 - 1998
3.1. Đồ thị diễn biến kim ngạch buôn bán Việt Trung (Trang 133)
Bảng 3.2. Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ (1993-1999) - Đảng lãnh đạo quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam với tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (1989 - 1998
Bảng 3.2. Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ (1993-1999) (Trang 134)
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của APEC - Đảng lãnh đạo quá trình thiết lập quan hệ Việt Nam với tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (1989 - 1998
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức của APEC (Trang 222)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w