Để phát huy lợi thế của nước ta về tiềm năng thiên nhiên, tính cần cù lao động sáng tạo của người dân, phải xây dựng một nền nông nghiệp phát triển mạnh và bền vững trên cơ sở áp dụng cô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC SƠ ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1: MỘT VÀI NÉT VỀ XÃ VĨNH SƠN, HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC 13
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 13
1.1.1 Vị trí địa lý 13
1.1.2 Thời tiết, khí hậ u 14
1.1.3 Địa hình, đất đai 15
1.2 Tình hình kinh tế- xã hội 18
1.2.1 Tình hình hộ khẩu và lao động của xã Vĩnh Sơn 18
1.2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Vĩnh Sơn 20
1.3 Nghề nuôi rắn 22
1.3.1 Một số khái niệm 22
1.3.2 Vai trò của ngành chăn nuôi nói chung và nghề nuôi rắn nói riêng trong phát triển kinh tế 23
Chương 2: NGHỀ NUÔI RẮN Ở XÃ VĨNH SƠN TRONG NHỮNG NĂM 1986- 2008 26
2.1 Tình hình nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trước 1986 26
2.2 Sự phát triển của nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trong những năm 1986- 2008 28
2.2.1 Điều kiện để nuôi rắn 28
2.2.2 Sự phát triển của nghề nuôi rắn sau 20 năm tiến hành đổi mới 30
2.3 Những sản phẩm tiêu biểu được chế biến từ rắn 43
2.3.1 Rượu rắn 43
Trang 42.3.2 Thịt rắn 44
2.3.3 Bào chế thuốc 45
2.4 Hệ thống tiêu thụ sản phẩm rắn Vĩnh Sơn 46
2.4.1 Cấu trúc hệ thống tiêu thụ sản phẩm rắn ở xã Vĩnh Sơn 48
2.4.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn 50
2.5 Hiệu quả kinh tế nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn 52
2.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn 52
2.5.2 Hiệu quả kinh tế nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn 54
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP ĐỂ TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 56
3.1 Những tác động của nghề nuôi rắn 56
3.1.1 Tác động tích cực 56
3.1.2 Những hạn chế 58
3.2 Thuận lợi và thách thức hiện tại của nghề nuôi rắn ở Vĩnh Sơn 61
3.3 Một số kiến nghị giải pháp để tiếp tục phát triển làng nghề 66
3.3.1 Về chính sách và nguồn vốn 67
3.3.2 Về mặt bằng xây dựng cơ bản 69
3.3.3 Về thị trường 69
3.3.4 Về kỹ thuật và quy mô chăn nuôi 72
3.3.5 Về an toàn lao động 74
3.3.6 Về vấn đề môi trường 75
3.3.7 Về phát triển sản phẩm và nguồn nhân lực 76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 89
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
KH-KT : Khoa học kỹ thuật TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
CM – KT : Chuyên môn – kỹ thuật KH- CN : Khoa học công nghệ ĐVT : Đơn vị tính
UBND : Uỷ ban nhân dân HTX : Hợp tác xã
TM – DV : Thương mại – dịch vụ ĐVHD : Động vật hoang dã
DT : Diện tích
GT : Giá trị
BQ : Bình quân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã qua 3 năm
2006 – 2008 16
Bảng 1.2 Tình hình hộ khẩu và lao động xã Vĩnh Sơn qua 3 năm (2006 – 2008) 19
Bảng 1.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã tính đến tháng 12 năm 2008 21
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2006 – 2008) 32
Bảng 2.2: Tình hình chăn nuôi của xã qua 3 năm 2006 – 2008 33
Bảng 2.3 Thông tin chung của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn năm 2008 36
Bảng 2.4 Kết quả sản xuất của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn năm 2008 37
Bảng 2.5 Tình hình nuôi rắn của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn năm 2008 40
Bảng 2.6 Tình hình chi phí chăn nuôi rắn của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn năm 2008 42
Bảng 2.7 Tổng giá trị sản xuất một số loại sản phẩm rắn của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn năm 2008 47
Bảng 2.8 Kết quả và hiệu quả kinh tế nghề nuôi rắn của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn năm 2008 55
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Cấu trúc hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm rắn của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn 49
Sơ đồ 3.1 Mô hình liên kết bốn nhà trong sản xuất 72
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử, Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp trồng lúa nước Hiện nay, nông thôn chiếm 74,8% dân số, 72% lực lượng lao động xã hội, tạo
ra 40% GDP của cả nước, thời gian lao động không được sử dụng (nông nhàn) chiếm tới gần 21%, khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị ngày càng rộng, trong khi đó công nghiệp nông thôn mới chỉ chiếm khoảng 23% giá trị công nghiệp toàn ngành [5, tr.2] Thu nhập bình quân trên đầu người từ nông nghiệp còn thấp Vì vậy vấn đề phát triển kinh tế nông thôn càng trở nên quan trọng và cấp thiết
Để phát huy lợi thế của nước ta về tiềm năng thiên nhiên, tính cần cù lao động sáng tạo của người dân, phải xây dựng một nền nông nghiệp phát triển mạnh và bền vững trên cơ sở áp dụng công nghệ cao, công nghệ mới, hiện đại hoá ngành nông nghiệp trở thành một ngành sản xuất hàng hoá lớn có sức cạnh tranh ngày càng cao trong tiến trình hội nhập
Mục tiêu mà đảng và nhà nước ta đề ra trong giai đoạn hiện nay là phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thờig ra sức xoá đói, giảm nghèo, tạo điều kiện về hạ tầng và năng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể phát triển
Hiện nay khu vực nông nghiệp, nông thôn lực lượng lao động chưa có việc làm và lao động dôi dư theo mùa vụ rất lớn Do vậy, hướng giải quyết hiệu quả nhất là từng địa phương phải xác định lợi thế sẵn có của mình để trồng cây
gì, nuôi con gì, sản xuất như thế nào để có lợi nhất trên cơ sở tạo công ăn việc làm tại chỗ cho người dân nhằm nâng cao thu nhập góp phần xoá đói, giảm ngheo, tăng hộ giàu Phát triển công nghiệp nông thôn nói chung, làng nghề nói riêng không những góp phần phát triển ngành công nghiệp mà còn tạo ra nhiều việc làm tăng thu nhập nông thôn, từ đó giảm bớt sự chênh lệch về phát triển
Trang 8kinh tế, thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở nông thôn, tăng thêm lượng hàng hoá và gia tăng tốc độ phát triển của nền kinh tế
Nghị quyết TW5 khoá 9 về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001- 2005 đã đề ra nhiều giải pháp phát triển công nghiệp nông thôn, trong đó chỉ rõ “ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp…” và nhấn mạnh “Nhà nước
hỗ trợ, khuyến khích phát triển mạnh các nhàng công nghiệp ở nông thôn, nhất
là công nghiệp chế biến Nông- Lâm- thuỷ sản và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ cần nhiều lao động như sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác mỏ, dệt may, da giầy, có khí lắp ráp, sửa chữa…” [5, tr 2]
Như vậy, đẩy mạnh phát triển công nghiệp ở khu vực nông thôn trong
đó có làng nghề là khâu mấu chốt trong việc thúc đẩy nền kinh tế
Làng nghề trong lịch sử nước ta có nhiều: làng thuần nông, làng buôn, làng thủ công…phát triển làng nghề sẽ góp phần củng cố kinh tế hộ gia đình, đồng thời góp phần giải quyết nguồn nhân lực dư thừa tại chỗ (hạn chế sự lưu động dân cư) Do vậy, phát triển nông thôn có vai trò hết sức quan trọng và có
ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế- xã hội nói chung của cả nước, việc nghiên cứu làng nghề thực sự có ý nghĩa thời sự và thực tiễn
Đất nước ta sau hơn hai mươi năm đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế
kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Các ngành kinh tế đã phát huy được tính năng động và tiềm lực sẵn có để tạo nên một bức tranh kinh tế toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Với mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, trước hết nước ta cần phải đẩy nhanh công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Đặc biệt là phát triển các
Trang 9làng nghề trong kinh tế nông thôn nhằm đưa các sản phẩm truyền thống của nông nghiệp nông thôn ra thị trường trong và ngoài nước Từ đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch
vụ nông thôn, giải quyết việc làm cho lao động nhàn dỗi và dư thừa trong nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân làng nghề, nâng cao mức thu nhập của người lao động, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội trong khu vực nông thôn và thúc đẩy quá trình hình thành kinh tế thị trường
Vĩnh Sơn là một làng nuôi rắn có lịch sử lâu đời, sản phẩm rắn của làng
đã có mặt ở nhiều nơi trong và ngoài nước Sản phẩm từ rắn rất đa dạng và phong phú Rắn không những là nguyên liệu của các món ăn ngon ở nhiều nhà hàng nổi tiếng, các loại đồ uống bổ dưỡng như rượu rắn, cao rắn mà rắn còn là nguyên liệu cho thủ công mỹ nghệ như dây lưng, giày… Tuy việc nuôi rắn ở khu vực Vĩnh Tường nói chung và xã Vĩnh Sơn nói riêng bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn các ngành chăn nuôi và sản xuất khác Tuy nhiên quá trình nuôi và tiêu thụ sản phẩm rắn còn gặp rất nhiều khó khăn vất vả và nguy hiểm, có khi người nuôi rắn phải đánh cược cả mạng sống của mình Hơn nữa,
để có được hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện thị trường nhiều biến động như hiện nay thì vấn đề tìm ra một số biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi rắn là rất cần thiết Không những nâng cao thu nhập cho người dân chăn nuôi rắn mà còn gây dựng được một thương hiệu tập thể “ Rắn Vĩnh Sơn”
Nhận thức được vấn đề quan trọng của việc phát triển nghề nuôi rắn đối với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong khu vực nông nghiệp nói chung và địa bàn xã Vĩnh Sơn nói riêng Để quá trình chăn nuôi rắn ở địa phương ngày càng đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn, đáp ứng được nhu cầu trong
và ngoài nước, đồng thời góp phần đưa vùng Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc trở thành
vùng nuôi rắn quan trọng, tôi chọn “ Tìm hiểu về làng nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh
Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc (1986- 2008) ” làm chủ đề luận văn
thạc sĩ sử học của mình
Trang 10Do điều kiện có hạn và với phạm vi yêu cầu của một đề tài luận văn thạc sĩ, chúng tôi đi sâu nghiên cứu làng nghề nuôi rắn Vĩnh Sơn giai đoạn
1986- 2008 Đây là làng nghề chăn nuôi tiêu biểu ở tỉnh Vĩnh Phúc
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp những thông tin, tư liệu, những hiểu biết cụ thể, đúng đắn về làng nghề
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở trình bày sự phát triển của nghề nuôi rắn tại xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó góp phần xây dựng nông thôn mới
ở địa phương
+ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trong thời gian qua
+ Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nghề nuôi rắn
ở xã Vĩnh Sơn trong thời gian tới
+ Nghiên cứu làng nghề nuôi rắn ở Vĩnh Sơn sẽ góp thêm tư liệu và có cơ
sở khoa học cho việc biên soạn lịch sử địa phương, địa chí của huyện, trước mắt phục vụ công tác phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay
- “ Nghiên cứu hiệu quả kinh tế gây nuôi rắn của các hộ ở huyện Vĩnh Tường – tỉnh Vĩnh Phúc”, luận văn Thạc sĩ kinh tế Đàm Thị Ánh Tuyết,
Trang 112008, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Nghiên cứu nêu lên được quy
mô và hình thức gây nuôi, nhất là đã tính được hiệu quả kinh tế của việc gây nuôi rắn của các hộ gây nuôi rắn ở huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh phúc Tác giả cũng đưa ra một số định hướng, giải pháp tháo gỡ khó khăn của các hộ nuôi rắn, tuy nhiên các giải pháp còn chung chung chưa sát với thực tế
- “ Tìm hiểu hoạt động gây nuôi và kinh doanh rắn ở xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” Khóa luận tốt nghiệp Đại học Trần Thị Hương, 2010 Nghiên cứu này nêu lên tình hình gây nuôi rắn, hiệu quả kinh tế của việc gây nuôi rắn mang lại và một số giải pháp để phát triển nghề rắn Tuy nhiên giải pháp chưa cụ thể và đầy đủ, thực trạng còn có điểm chưa xát với thực tế địa phương
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
a Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu do địa phương cung cấp, ngoài ra chủ yếu do quá trình đi điền
dã, hỏi trực tiếp những người đã từng làm cán bộ xã và những người dân trong xã
b Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp…Trong đề tài này chúng tôi đã thu thập các tài liệu được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng có liên quan đến hoạt động gây nuôi rắn như đài phát thanh, truyền hình, mạng Internet, các sách tham khảo; các ấn phẩm, báo chí Các số liệu và thông tin đã công bố sử dụng trong luận văn này bao gồm các chủ trương, chính sách của huyện, xã liên quan đến đề tài
Mặt khác, luận văn còn kế thừa các kết quả, thông tin công bố trên các báo cáo và tạp chí, cùng với các số liệu ở phòng ban các cấp như phòng nông nghiệp, phòng tài nguyên và môi trường, phòng kinh tế huyện, ban thống kê huyện - xã, ban địa chính của huyện
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương
Trang 12Chương 1: Một vài nét về xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Chương 2: Nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trong những năm 1986- 2008 Chương 3: Nhận xét và một số kiến nghị giải pháp để tiếp tục phát triển
làng nghề
Trang 13Giống như một xã trong huyện, Vĩnh Sơn cũng có những tên gọi khác nhau qua các thời kỳ
Từ xưa, sau khi lập tỉnh Vĩnh Yên (1889) thì Sơn Tang, Lương Trù nằm trong tổng Lương Điền gồm: Sơn Tang, Lương Trù, phương Viên, Đông Viên, Lương Điền, Lach Trung, Phong Doanh, Thổ Tang, Vân Ổ, Xuân Húc, thuộc phủ Vĩnh Tường
Năm 1927, làng Lương Trù nhập vào Sơn Tang và từ đây tên Sơn Tang vừa là tên làng, vừa là tên xã Sơn Tang còn có “tên tục” gọi là “Hai nước” vì
từ đầu xã đến cuối xã có 3 dãy ao song song với 3 dãy nhà ở của dân, nước trong các dãy ao ấy chảy quanh từ đầu đến cuối xã và ngược lại, tạo nên 2 dòng, vì thế, từ xưa đã có câu: “Tên gọi Hai nước cũng kỳ, có 2 dòng nước chảy về ngược xuôi”[17, tr.6] Và có lẽ như vậy mới có tên làng Hai nước
Sau cách mạng tháng Tám, năm 1946 xã Sơn tang hợp với Phương Viên thành xã Đức Thắng Năm 1949 xã Đức Thắng lại ghép với Thổ Tang thành xã Thái Học Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, vào năm
1955, căn cứ vào tình hình đặc điểm về địa lý, dân cư và lịch sử, cấp trên đã
Trang 14cho tách Thổ Tang với Phương Viên thành xã Thổ Tang Sơn Tang tách thành
xã riêng gọi là xã Vĩnh Sơn cho đến hiện nay (Vĩnh là lấy tiếng đầu của tên tỉnh và tên huyện, Sơn là lấy tiếng đầu của tên xã cũ)
1.1.2 Thời tiết, khí hậu
Khí hậu một năm có 4 mùa: Xuân, hạ, thu, đông Mùa hạ thì nóng bức
và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình khoảng 33- 360C, mùa đông thì lạnh và khô hanh, nhiệt độ trung bình 14- 170C Vĩnh Sơn có con sông Phan nằm ở phía Tây Nam xã chảy theo hướng Tây- Đông gần như song song với huyện lộ, ngăn cách khu dân cư với đồng làng Là một xã thuần nông nên sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước là chủ yếu Một năm 2 vụ lúa và một vụ màu, vụ màu chủ yếu là trồng ngô, đậu tương Trước cách mạng, sản xuất nông nghiệp trồng trọt bấp bênh, vụ chiêm thì khô hạn, vụ mùa thì úng lụt do không có hệ thống kênh mương tưới tiêu
Sau cách mạng, hệ thống kênh mương được chú trọng hơn, hiện nay, đã
có hệ thống kênh mương dẫn nước từ Liễn Sơn về và hệ thống kênh mương từ
3 trạm bơm điện từ sông Phan lên do vậy toàn bộ diện tích gieo trồng được tưới và 1 trạm bơm tiêu úng cho cánh đồng Từ đó, toàn bộ diện tích được tưới tiêu chủ động, không bị úng, hạn, năng suất cây trồng tăng nhanh
Xã Vĩnh Sơn chịu ảnh hưởng chủ yếu của đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa Có hai đợt gió mùa chính: Mùa Đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc tràn về mang theo hơi lạnh, mùa hè lại chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam tạo ra khoảng thời gian nắng nóng Nhiệt độ cao trung bình hàng năm là 24,9oC, nhiệt độ trung bình thấp là 17,9 oC Tháng có nhiệt độ thấp nhất là vào tháng 12, có lúc nhiệt độ xuống tới 14oC Tháng có nhiệt độ cao là vào tháng 9 – 10, nhiệt độ trung bình là 22,4 oC Độ ẩm trung bình hàng năm
là 80%, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.526mm, số ngày mưa trung bình một năm là 133 ngày Bên cạnh đó, đây cũng là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của mưa bão (vào tháng 7 - 8) như đổ nhà cửa, tàn phá hoa màu gây thiệt hại không chỉ tới kinh tế mà tới cả đời sống người dân
Trang 151.1.3 Địa hình, đất đai
Xã Vĩnh Sơn là một xã thuộc vùng đồng bằng nên có địa hình bằng phẳng, đất đai của xã tương đối màu mỡ thuận lợi cho phát triển trồng trọt không những đáp ứng nhu cầu của người dân mà còn góp phần cung cấp thức
ăn cho phát triển ngành chăn nuôi của xã
Xã Vĩnh Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là 327,34 ha, trong đó diện tích nuôi rắn là 9,1 ha chiếm 14,41% diện tích đất thổ cư (số liệu năm 2008) Tình hình phân bổ và sử dụng đất của xã trong 3 năm 2006 – 2008 được thể hiện ở bảng 1.1
Trang 16Bảng 1.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã qua 3 năm 2006 – 2008
Nguồn: Ban Địa chính xã Vĩnh Sơn
Trang 17Qua bảng 1.1, chúng ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên không đổi qua 3 năm tuy nhiên các diện tích khác thì có sự biến đổi cho nhau Năm 2006 diện tích đất nông nghiệp là 231,45 ha, chiếm 70,7% tổng diện tích đất tự nhiên, đến năm 2008 diện tích này là 236,27 ha chiếm 72,18% Bình quân trong 3 năm diện tích đất nông nghiệp tăng 1,1%/ năm Tuy nhiên, năm 2007 diện tích đất nông nghiệp giảm đi do các cấp ủy chính quyền địa phương đã quy hoạch 20,87 ha đất nông nghiệp để xây dựng khu làng nghề nhằm tạo điều kiện cho các hộ có địa điểm chăn nuôi, sản xuất kinh doanh ổn định nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bụi bẩn độc hại trong khu dân cư Năm 2006 tổng diện tích đất canh tác là 210,53 ha, đến năm 2008 diện tích đất canh tác tăng lên 226,42 ha, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước, bình quân mỗi năm tăng 3,7% Diện tích đất canh tác tăng lên là do xã đã chuyển các loại đất nông nghiệp khác sang để nông dân có thêm đất sản xuất nâng cao diện tích đất nông nghiệp Năm 2008, diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 9,85 ha, giảm 23,8% so với năm 2007, diện tích nuôi trồng thủy sản giảm do giá mồi nuôi rắn cao các hộ cho ăn tiết kiệm và ít sử dụng con mồi kém hiệu quả hơn,vì vậy lượng phụ phẩm thừa ít các hộ thu hẹp diện tích nuôi cá ao
Tổng diện tích đất phi nông nghiệp năm 2008 là 91,07 ha giảm 6% so với năm 2007, bình quân mỗi năm giảm 2,5% Trong đó đất thổ cư giảm từ 66,9 ha xuống còn 63,14 ha (năm 2008), diện tích đất thổ cư giảm do xã tiến hành xây dựng 5 nhà văn hóa thôn và các công trình phúc lợi xã hội Bên cạnh đó các hộ vẫn mở rộng diện tích gây nuôi rắn nên diện tích gây nuôi rắn hàng năm vẫn tăng lên Năm 2006, diện tích gây nuôi rắn là 8,6 ha đến năm
2008 diện tích gây nuôi rắn là 9,1 ha, bình quân mỗi năm tăng 2,9% Điều này chứng tỏ nghề nuôi rắn truyền thống vẫn được các hộ dân trong xã duy trì và phát triển với quy mô ngày càng được mở rộng
Trang 181.2 Tình hình kinh tế- xã hội
1.2.1 Tình hình hộ khẩu và lao động của xã Vĩnh Sơn
Lao động là một nhân tố quan trọng trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho
xã hội trong sản xuất cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Tình hình biến động về nhân khẩu và lao động của xã Vĩnh Sơn được thể hiện
ở bảng 1.2
Trang 19Bảng 1.2 Tình hình hộ khẩu và lao động xã Vĩnh Sơn qua 3 năm (2006 – 2008)
Nguồn: Ban Thống kê xã Vĩnh Sơn
Trang 20Qua bảng 1.2 ta thấy tổng số nhân khẩu của xã năm 2008 giảm đi so với năm 2007, nhưng số lao động năm 2008 lại tăng so với năm 2007 Năm
2007 số lao động là 3970 lao động, năm 2008 tăng lên là 4055 lao động, bình quân mỗi năm tăng 2% Cùng với đó là sự tăng lên của lao động làm nghề rắn Năm 2006 số lao động làm nghề rắn là 1842 lao động chiếm 47,3 % tổng
số lao động, năm 2008 là 2145 lao động chiếm 52,9% tổng lao động toàn xã, bình quân mỗi năm tăng 7,9% Điều này chứng tỏ hơn một nửa số lao động của xã Vĩnh Sơn tập trung vào nghề nuôi rắn và chế biến các sản phẩm từ rắn truyền thống Nghề nuôi rằn truyền thống đã giúp cho người dân đảm bảo và
ổn định cuộc sống
Bên cạnh đó là sự tăng lên của các hộ nuôi rắn Năm 2006, số hộ nuôi rắn là 750 hộ chiếm 61,1% tổng số hộ thì tới năm 2008 số hộ nuôi rắn đã tăng lên tới 950 hộ chiếm 72,9%, bình quân mỗi năm tăng 12,5% Các hộ nuôi rắn tăng lên chủ yếu là các hộ nuôi rắn thương phẩm, vì nuôi rắn thương phẩm đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ
Do nghề nuôi rắn truyền thống đang có chiều hướng phát triển tốt, kỹ thuật chăn nuôi của người dân được nâng lên vì vậy hiệu quả nghề rắn đem lại rất lớn, thu hút được nhiều hộ tham gia vào nghề truyền thống này Nhiều hộ gia đình đạt mức doanh thu hàng năm lên tới hàng tỷ đồng Trong số đó, có nhiều gia đình đã giàu lên vì rắn, xây nhà, sắm xe hơi đắt tiền…bộ mặt nông thôn cũng vì thế mà thêm phần khởi sắc
1.2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Vĩnh Sơn
Để kinh tế phát triển thì cở sở hạ tầng phải được đi trước một bước Hiện nay ở các vùng nông thôn, hệ thống cở sở hạ tầng chưa được chú trọng phát triển Hệ thống cở sở hạ tầng nhìn chung còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của quá trình sản xuất Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Vĩnh Sơn được thể hiện ở bảng 1.3
Trang 21Bảng 1.3 Tình hình cơ sở hạ tầng của xã tính đến tháng 12 năm 2008
Nguồn: Ban Thống kê xã Vĩnh Sơn
Giao thông: Nhìn chung hệ thống giao thông của xã tương đối hoàn
chỉnh Đường liên xã đã được xã đầu tư rải nhựa phục vụ nhu cầu đi lại, trao đổi, buôn bán của người dân trong xã được thuận lợi Hầu hết đường liên thôn, nội thôn đã được lát gạch và bê tông hóa phục vụ nhu cầu đi lại của người dân Các đoạn đường cấp phối còn lại cũng đang được xã chỉ đạo nâng cấp và sửa chữa
Công trình thuỷ lợi: Toàn xã có 2 trạm bơm, đảm bảo cung cấp đủ
nước tưới kịp thời cho 100% diện tích đất gieo trồng Hệ thống mương máng luôn được chỉ đạo nạo vét, sửa chữa, từng bước được nâng cao Đến năm
2010, số kênh mương cứng hóa của xã lên tới 4235 m, còn lại vẫn là kênh mương đất Đây cũng là nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng của các trạm bơm
Trang 22Công trình điện: hệ thống điện của xã đầy đủ, đáp ứng 100% nhu cầu
sử dụng điện để sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong toàn xã Hiện nay xã
có 2 trạm biến áp phục vụ nhu cầu điện cho toàn xã
Xã có một chợ nhỏ phục vụ nhu cầu trao đổi mua bán của nhân dân trong xã Hiện nay xã chỉ mới có 1 trại rắn trung tâm, 3 HTX rắn, tuy hoạt động rất có hiệu quả nhưng vẫn chưa thể đáp ứng tối đa các nhu cầu của các
hộ nuôi rắn trong xã
Các công trình phúc lợi:
Giáo dục là vấn đề luôn được xã quan tâm và chú trọng Năm 2008 đã nghiệm thu và đi vào sử dụng trường mầm non Hiện nay xã tiếp tục triển khai xây dựng 9 phòng học bộ môn và nhà điều hành trường trung học cơ sở,
8 phòng học trường tiểu học Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác giáo dục của các nhà trường từng bước được đầu tư nâng cấp Phương pháp giáo dục luôn được cải tiến Đội ngũ giáo viên thường xuyên được đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ, đến nay 100% giáo viên của cả 3 trường đề đạt chuẩn và trên chuẩn Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên
Bên cạnh đó xã cũng đang tiến hành hoàn thiện và đi vào sử dụng 5 nhà văn hóa thôn phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của nhân dân trong toàn xã
Xã có 1 trạm y tế đảm bảo tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân Công tác tiểm chủng mở rộng luôn được coi trọng, tỷ lệ tiêm chủng cho các đối tượng đều đạt 100%
1.3 Nghề nuôi rắn
1.3.1 Một số khái niệm
Nuôi rắn là hoạt động thuần hóa và nuôi dưỡng rắn hay là mang các loại rắn có nguồn gốc từ tự nhiên về nuôi dưỡng trong gia đình với mục đích phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong gia đình hay bán ra ngoài thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội và đem lại thu nhập cho gia đình
Tiêu thụ sản phẩm theo nghĩa rộng là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau như: nghiên cứu thị trường, xác
Trang 23định nhu cầu khách hàng và tổ chức sản xuất thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng…nhằm mục đích đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
Tiêu thụ là việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
đã thực hiện cho khách hàng, đồng thời thu được tiền hàng hóa hoặc được quyền thu tiền
Tiêu thụ sản phẩm đơn giản được cấu thành từ người bán người mua hàng hóa, tiền tệ, khả năng thanh toán, sự sẵn sàng mua và bán…
Có rất nhiều cách phân loại rắn, trong đề tài nghiên cứu chúng tôi sử dụng hai cách phân loại chính:
- Phân loại rắn theo quá trình sinh trưởng của rắn
+ Rắn con: Là rắn mới nở (rắn tuổi 1)
+ Rắn bán trưởng thành: Là rắn đang phát triển nhưng chưa có khả năng sinh sản (rắn tuổi 2)
+ Rắn trưởng thành: Là rắn bắt đầu có khả năng sinh sản (rắn tuổi 3)
- Phân loại rắn theo trọng lượng xuất bán
+ Rắn loại 1: là rắn có trọng lượng từ 1,5kg trở lên
+ Rắn loại 2: là rắn có trọng lượng từ 1 – dưới 1,5kg
+ Rắn loại 3: là rắn có trọng lượng dưới 1 kg
1.3.2 Vai trò của ngành chăn nuôi nói chung và nghề nuôi rắn nói riêng trong phát triển kinh tế
Trong nền kinh tế quốc dân, chăn nuôi đóng vai trò khá quan trọng, nó góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế và góp một lượng hàng hóa cho xuất khẩu.Tùy theo lợi thế so sánh của mình mà mỗi nước có thể xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp mà trong đó có một phần là sản phẩm chăn nuôi để thu ngoại tệ hay trao đổi để lấy các sản phẩm công nghiệp đầu tư lại cho ngành nông nghiệp và các ngành kinh tế khác Vì vậy sự phát triển của ngành chăn nuôi sẽ ảnh hưởng tới sự phân bổ và phát triển của các ngành sản xuất khác
Chăn nuôi không những cung cấp nguốn sản phẩm hàng hóa cho thị trường trong nước và cho xuất khẩu mà còn giúp sử dụng một cách đầy đủ
Trang 24hợp lý lực lượng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp nông thôn Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, hơn nữa lao động trong nông nghiệp lại chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng số lao động của nước
ta và các nước đang phát triển khác Lực lượng lao động này có một thời gian nhàn rỗi quá lớn do tính chất thời vụ trong sản xuất sinh ra Vì vậy việc phát triển ngành chăn nuôi đã tạo công ăn việc làm cho người nông dân và giúp họ tăng thêm thu nhập nâng cao chất lượng cuộc sống
Đối với ngành sản xuất nông nghiệp chăn nuôi có một vai trò rất quan trọng Trong sản xuất nông nghiệp thì hai ngành chính cấu thành nên nó là trồng trọt và chăn nuôi Hai ngành này có mối liên hệ mật thiết với nhau thúc đẩy nhau cùng phát triển
Một nền nông nghiệp phát triển bền vững và ổn định là nền nông nghiệp có sự phát triển một cách cân đối giữa hai ngành trồng trọt và chăn nuôi Trồng trọt cung cấp thức ăn cho ngành chăn nuôi phát triển, ngược lại chăn nuôi cung cấp phân bón, sức kéo cho ngành trồng trọt Nguồn phân hữu
cơ mà ngành chăn nuôi cung cấp cho ngành trồng trọt có vai trò hết sức quan trọng Do vậy để có một nền nông nghiệp bền vững thì không thể coi nhẹ vai trò của ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, hộ nông dân đã được coi là là một đơn vị kinh tế tự chủ thì vai trò của ngành chăn nuôi ngày càng được coi trọng Một thực tế không thể phủ nhận được đó là ngành chăn nuôi chiếm một vai trò quan trọng trong thu nhập của người nông dân, sản phẩm hàng hóa của nông hộ chủ yếu là sản phẩm thu được từ quá trình chăn nuôi Chăn nuôi đã gắn bó mật thiết đối với đời sống của người dân, giúp tận dụng những sản phẩm dư thừa trong sinh hoạt hàng ngày, tận dụng lao động nhàn rỗi và làm tăng thu nhập, cải thiện bữa ăn hàng ngày của nông hộ
Từ những phân tích trên cho thấy chăn nuôi có một vai trò rất to lớn không chỉ trong nông nghiệp mà còn kể cả trong nền kinh tế quốc dân cũng như trong đời sống xã hội Chăn nuôi không ngừng đóng góp một phần đáng
Trang 25kể vào tổng thu nhập quốc dân mà còn sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân lực, từ đó làm tăng thu nhập cho người lao động góp phần ổn định và cải thiện đời sống cho các hộ nông dân nói riêng và xã hội nói chung
Ngành chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chính của sản xuất nông nghiệp Nuôi rắn là một nghề mới được chú trọng phát triển trong những năm gần đây, việc phát triển nghề nuôi rắn có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Chất lượng đời sống ngày càng cao thì nhu cầu của con người ngày càng tăng, trong khi đó các loại rắn bị bắt nhiều có nguy cơ cạn kiệt Việc phát triển nghề nuôi rắn không những đáp ứng được nhu cầu của con người như rượu rắn, cao rắn, thực phẩm, làm nguyên liệu cho thủ công nghiệp mà
nó còn có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển và cải thiện đời sống cho nhân dân
Rắn là giống không khó nuôi, thời gian nuôi quay vòng không quá dài nên có thể áp dụng nuôi ở các hộ gia đình, các trang trại, nhằm góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình, cải thiện đời sống nhân dân, đồng thời phát triển nền kinh tế quốc dân
Trang 26Chương 2:
NGHỀ NUÔI RẮN Ở XÃ VĨNH SƠN TRONG
NHỮNG NĂM 1986- 2008 2.1 Tình hình nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trước 1986
Vĩnh Sơn là một xã nhỏ nằm ở gần trung tâm thị trấn Vĩnh tường, huyện Vĩnh tường, tỉnh Vĩnh Phúc Diện tích tự nhiên khoảng trên 327 ha với 1.153 hộ và khoảng trên 5.167 nhân khẩu
Đến nay, chưa tìm thấy một nguồn tài liệu nào nói về sự ra đời của làng nghề này Trong quá trình đi điều tra thực tế, tôi đã có điều kiện được tiếp xúc, trao đổi với cụ Kim Văn Học (Nguyên bí thư đảng uỷ xã Vĩnh Sơn) được biết, trước đây, thời kỳ nông nhàn, người dân Vĩnh Sơn thường đi bắt rắn độc
về bán, kiếm thêm thu nhập, là một nghề vất vả, nguy hiểm, nhưng vì cuộc sống mưu sinh, người dân ở đây đã bất chấp sự nguy hiểm đó
Xuất phát từ nghề bắt rắn độc để trang trải cuộc sống, trải qua thời gian, người Vĩnh Sơn đã đúc rút cho mình nhiều am hiểu về loài rắn cũng như những kinh nghiệm trong nghề bắt rắn độc Nhưng một thực tế là nếu cứ khai thác rắn trong tự nhiên thì đến một lúc nào đó, nguồn rắn sẽ cạn kiệt
Năm 1964, ông Kim Văn Học được đại hội xã viên HTX Nông nghiệp bầu làm chủ nhiệm Sau đó, vào ban chấp hành Đảng uỷ làm Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ xã kiêm chủ nhiệm HTX Nông nghiệp Đến năm 1971 làm Bí thư Đảng uỷ xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc
Từ ngày nhận cương vị mới, điều trăn trở nhất đối với ông là tìm cách nuôi và thuần dưỡng được con rắn bởi quê hương Vĩnh Sơn có nghề bắt rắn từ nhiều đời nay Ông đưa ý nghĩ của mình ra ban chấp hành Đảng uỷ bàn kĩ lưỡng Ban chấp hành Đảng uỷ xã quyết định lập trại nuôi rắn ngay tại Vĩnh Sơn và phân công ông trình bày nguyện vọng của nhân dân Vĩnh Sơn với Uỷ ban khoa học nhà nước, được ủng hộ, giới thiệu ông đến trường Đại học Sư phạm I gặp giáo sư Trần Kiên Nhà trường cử giáo sư Trần Kiên đi giúp Vĩnh Sơn kĩ thuật nuôi rắn theo kiểu trang trại
Trang 27Năm 1979 được sự giúp đỡ của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Vĩnh Lạc (nay là huyện Vĩnh Tường) và Trung tâm sinh lý hoá người và động vật (nay là Viện Công nghệ sinh học), Vĩnh Sơn đã khánh thành trung tâm nhân rắn giống gọi tắt là Trại rắn Vĩnh Sơn Trại rắn Vĩnh Sơn đi vào hoạt động là sự kết hợp giữa kinh nghiệm cổ truyền và tiến bộ khoa học kỹ thuật mới giúp nhân dân trong xã nâng cao hiệu quả trong việc chăn nuôi rắn
Bước đầu đã thành công, nuôi tại trại của HTX Nông nghiệp được 500 con rắn các loại Năm đầu, thu được 1 triệu đồng lãi, tiếp các năm sau lãi từ
5 đến 10 triệu đồng Giáo sư Đỗ Tất Lợi đã về trại rắn hướng dẫn cách chế biến thuốc từ con rắn; chiết xuất nọc rắn để bán cho các xí nghiệp dược phẩm Tiền thu nhập từ con rắn gấp ba lần cấy lúa nên đời sống của xã viên
đã được cải thiện Nhưng cái được nhất là: Dân Vĩnh Sơn đã biết nuôi rắn theo đúng kĩ thuật
Đến cuối năm 1979, quy mô trại rắn trở nên chật chội và bà con đã nắm được kĩ thuật nuôi, ông Kim Văn Học đã đề xuất ý kiến đưa con rắn về hộ gia đình nuôi, theo kiểu gia công HTX xuất rắn giống, cấp thuốc, trị bệnh; gia đình tự kiếm mối đầu ra; thu nhập phân phối theo cơ chế gia đình 60%, HTX thu 40% BCH Đảng đã nhất trí với ý kiến đó, triển khai xuống HTX Nông nghiệp và cho 10 hộ làm thí điểm, mỗi hộ 100 con [47]
Từ 1980 trại rắn Vĩnh Sơn đã bán cho bà con xã viên tự nuôi, tự bán
Từ đây xã Vĩnh Sơn là làng nghề nuôi rắn có thương hiệu trong nước Đến Vĩnh Sơn ngày nay thấy đời sống các gia đình đều thay đổi rất lớn
Trước 1986, người dân Vĩnh Sơn nuôi rắn hổ mang chủ yếu là hổ mang phì vì giống này đã được ấp nở thành công, được phép vận chuyển, buôn bán
Hổ mang chúa thì chăn nuôi ít hơn do không cho sinh sản được mà hoàn toàn bắt từ tự nhiên Vì đây là loại động vật quý hiếm nên bị cấm
Trên thực tế thì hổ mang chúa có thể nuôi để cho sinh sản được nhưng rất khó vì nguồn thức ăn chủ yếu của rắn hổ mang chúa là thằn lằn con, nguồn
Trang 28thức ăn này rất khó tìm và hiếm nên khó có thể chủ động được nguồn thức ăn cho hổ mang chúa nếu giải quyết được vấn đề nguồn thức ăn cho hổ mang chúa thì hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn rất nhiều
Như vậy, trước 1986 nghề nuôi rắn ở Vĩnh Sơn đã được đặt nền móng, tuy đây chỉ là bước khởi đầu vì số hộ nuôi còn hạn chế, song là cơ sở để nghề nuôi rắn tiếp tục phát triển sau này
2.2 Sự phát triển của nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh Sơn trong những năm 1986- 2008
2.2.1 Điều kiện để nuôi rắn
2.2.1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chăn nuôi nói chung và nghề nuôi rắn nói riêng
Yếu tố về điều kiện tự nhiên: Nhân tố tự nhiên bao gồm các yếu tố về
vị trí địa lý, địa hình, điều kiện khí hậu, thời tiết thuỷ văn, môi trường sinh thái điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến gây nuôi Trong mấy năm gần diễn biến thời tiết có nhiều bất thường, rét thường đến muộn hơn và kéo dài, mưa đầu mùa bất thường, nhiệt độ cao, thời tiết nắng nóng Chính vì vậy, yếu
tố về thời tiết có tác động rất lớn năng suất và chất lượng của vật nuôi Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ có tác động tích cực tới quá trình gây nuôi và ngược lại Do đó việc bố trí con vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên sẽ quyết định đến kết quả của quá trình gây nuôi, mang lại hiệu quả kinh tế cao
Yếu tố con người: Con người là yếu tố quan trọng nhất có tính quyết định đến kết quả và hiệu quả của gây nuôi bởi vì quá trình gây nuôi có thể diễn
ra được đều xuất phát từ nhu cầu của con người và do con người chỉ đạo Việc tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật và áp dụng những kỹ thuật tiến bộ đó vào trong gây nuôi đòi hỏi các hộ gây nuôi rắn phải có một trình độ hiểu biết nhất định Chính vì thế, chúng ta cần thiết phải nâng cao trình độ dân trí, tăng cường công tác khuyến nông, phổ biến những tiến bộ kỹ thuật mới phù hợp với điều kiện của từng địa phương từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế trong gây nuôi
Trang 29Yếu tố thị trường: Đầu ra của sản phẩm luôn là mối quan tâm, lo lắng đối với người nuôi rắn Nguyên nhân là do trong gây nuôi thường gặp rủi ro lớn hơn so với các ngành khác vì nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Việc mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân yên tâm phát triển gây nuôi, lựa chọn hướng đầu tư
có hiệu quả, hạn chế mức thấp nhất những rủi ro thường gặp trong gây nuôi
từ đó mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Như vậy các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế xã hội nói chung
và kinh tế hộ nuôi rắn nói riêng Mỗi hộ gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình có phát triển thì xã hội mới phát triển và ngược lại Khi xã hội càng phát triển tạo điều kiện môi trường, nền tảng cho gia đình phát triển
2.2.1.2 Đặc điểm kỹ thuật của gây nuôi rắn
Đây là vấn đề hết sức khó khăn của các hộ gây nuôi rắn hiện nay vì kỹ thuật gây nuôi chủ yếu do kinh nghiệm được truyền từ đời này qua đời khác và một vài nhà khoa học bước đầu đi vào nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm gây nuôi kết hợp với khoa học hiện đại để xây dựng quy trình gây nuôi rắn hổ mang bành
Trước nhu cầu ngày càng tăng, các loài rắn bị đào bắt nhiều có nguy
cơ cạn kiệt, nhiều hộ mạnh dạn thử cho trứng nở nhưng do chưa có kỹ thuật chăm sóc, phòng và trị bệnh, môi trường sống chưa đảm bảo nên hiệu quả chưa cao Năm 2004, Phòng Nông nghiệp huyện Vĩnh Tường đã nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao hiệu quả kỹ thuật nhân giống và nuôi rắn sinh sản tại xã Vĩnh Sơn và các xã trong huyện
Gây nuôi rắn không khó, nhưng phải biết áp dụng đúng quy trình kỹ thuật như phun thuốc khử trùng, thuốc chống kiến, chống mối, dán, luôn giữ nhiệt độ ổn định trong suốt quá trình ấp bằng cách thắp bóng điện, phun nước giữ độ ẩm Chuồng nuôi rắn xây dựng trên diện tích từ 10 đến 20
m2, mật độ phù hợp 14 con/m2, bố trí ụ hang ở giữa trại, ụ nuôi gồm nhiều tầng, mỗi tầng nhiều ô ngăn nhỏ; đồng thời thay đất định kỳ từ 15 ngày đến 1 tháng/lần lên ụ hang và môi trường nuôi Chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, tỷ lệ rắn nở đạt trên 90%, rắn sinh trưởng và phát triển khỏe [8, tr.22]
Trang 30Có 4 mô hình gây nuôi chủ yếu hiện này là: Các khu bảo tồn, vườn quốc gia, khu du lịch; các trại nuôi trồng lớn thuộc các công ty, doanh nghiệp; các trại vệ tinh của các công ty và các trại có quy mô nhỏ tại các hộ gia đình
Phần lớn các hệ thống chuồng trại, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất gây nuôi sinh sản còn thô sơ, mang tính tận dụng, do thiếu đầu tư, thiếu hiểu biết về điều kiện nuôi dưỡng các loài ĐVHD Vì vậy hơn 90% số chuồng nuôi ĐVHD chưa đáp ứng được cho gây nuôi, sản xuất công nghiệp Nguồn cung cấp thức ăn cho các loài động vật nói trên chủ yếu chuột, cóc, ếch, thịt gà và thức ăn chế biến sẵn do viện công nghệ sinh học nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chế biến cho làng nghề rắn Vĩnh Sơn Nhìn chung nguồn gốc thức
ăn rất thuận lợi vì nguyên liệu chủ yếu là thịt gà mà lại rất sẵn, hơn nữa giá cả
ít biến động do đó chủ động được nguồn thức ăn cho rắn [1, tr 25] Thu nhập
từ gây nuôi rắn cao gấp 3 - 5 lần so với trồng lúa, rau màu và gấp vài chục lần
so với nuôi bò, lợn Dựa trên tình hình gây nuôi sinh sản tại các vùng có thể thấy rõ ở những vùng có tỷ lệ nghèo đói thấp là những vùng đang phát triển hoạt động gây nuôi ĐVHD, những vùng có tỷ lệ nghèo đói cao lại là những vùng kém phát triển hình thức sản xuất kinh doanh này Vì vậy việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình nghiên cứu, phát triển mạnh nghề gây nuôi sinh sản ĐVHD, vừa đạt được hiệu quả bảo tồn cao, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế hộ gia đình[3, tr.5]
2.2.2 Sự phát triển của nghề nuôi rắn sau 20 năm tiến hành đổi mới
Tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã họp tại thủ đô Hà Nội Đây là đại hội có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta Đại hội của sự đổi mới toàn diện
Sau Đại hội VI, một loạt chính sách đổi mới kinh tế của nhà nước đã ra đời, làm cho tình hình sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp nước ta có sự chuyển biến mới Trên lĩnh vực nông nghiệp, sự chuyển biến khá rõ nét và mạnh mẽ hơn cả
Cuối năm 1987, với tinh thần đổi mới, Sở nông nghiệp Vĩnh Phú (nay
là Sở nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc) đã hướng dẫn các hợp tác xã trong tỉnh
Trang 31thực hiện một bước cải tiến về khoán, gọi là “Khoán thanh toán gọn” Tháng 4 năm
1988, Tỉnh uỷ Vĩnh Phú (Nay là tỉnh Vĩnh Phúc) ra nghị quyết 10 về đổi mới quản
lý nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghị quyết 10 của Tỉnh uỷ là Nghị quyết cụ thể hoá Nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới quản lý nông nghiệp- vốn là mặt trận hàng đầu trong nền kinh tế nước ta
Căn cứ vào Nghị quyết hướng dẫn trên, đảng bộ Vĩnh Sơn đã có sự đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, đó chính là cơ sở để nghề nuôi rắn của xã có
sự thay đổi rõ rệt Trại rắn đã trở thành trung tâm hướng dẫn hộ nông dân nuôi rắn và làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm cho người dân Quy mô chăn nuôi ngày càng được mở rộng, số hộ nuôi tăng lên nhanh chóng, các tiến bộ khoa học - kỹ thuật được áp dụng Vì vậy, rắn phát triển tốt, tỷ lệ rắn chết hạn chế nhiều so với những năm trước do áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, các sản phẩm chế biến từ rắn ngày càng đa dạng hơn, phù hợp với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường Thị trường tiêu thụ được mở rộng hơn so với trước năm 1986 Mồi ăn truyền thống cũng được người dân chú trọng thay thế bằng mồi ăn khác đảm bảo cho sự phát triển của rắn Từ vài chục hộ nuôi rắn lúc đầu, sau năm 1986 số hộ nuôi tăng lên đáng kể Đặc biệt trong ba năm (2006 – 2008), tình hình sản xuất kinh doanh của xã có sự phát triển rõ rệt Nếu năm
2006 tổng giá trị sản xuất của xã là 48,9 tỷ đồng thì đến năm 2007 đã lên tới 60,5 tỷ đồng và năm 2008 là 72,1 tỷ đồng Tốc độ tăng trung bình là 21,4%
Ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất là ngành chăn nuôi Năm 2008, tổng giá trị ngành chăn nuôi đạt 26,5 tỷ đồng chiếm 36,8% tổng giá trị sản xuất và có
xu hướng ngày càng tăng, tốc độ tăng bình quân qua ba năm là 15,1%/ năm Trong đó các sản phẩm từ các hoạt động chăn nuôi chế biến rắn đã đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngành chăn nuôi Năm 2006, nghề nuôi rắn thu được 13,4 tỷ đồng chiếm 67 % tổng giá trị ngành chăn nuôi, tới năm 2008 nghề nuôi rắn thu được 19,2 tỷ đồng chiếm 72,5 % tổng giá trị ngành chăn nuôi, bình quân mỗi năm tăng 19,7 % Điều này chứng tỏ nghề nuôi rắn ngày càng đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển (28, tr 46)
Trang 32Bảng 2.1: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2006 – 2008)
Nguồn: Ban thống kê xã Vĩnh Sơn
Trang 33* Tình hình chăn nuôi của xã Vĩnh Sơn
Bảng 2.2: Tình hình chăn nuôi của xã qua 3 năm 2006 – 2008
VI Rắn
1 Rắn thương phẩm Tấn 100 120 110 120,0 91,7 104,9
2 Rắn con 1000con 380 450 520 118,4 115,6 117,0
Nguồn: Ban Thống kê xã Vĩnh Sơn
Tình hình chăn nuôi của xã biến động lớn qua các năm Biểu hiện cụ thể trong bảng 2.2 Tổng đàn trâu bò giảm qua các năm, bình quân mỗi năm giảm 10,8% Trong khi đó thì đàn lợn, đàn gia cầm, đàn chim cút và cá thì lại tăng mạnh Đàn lợn tăng bình quân 38,8%/ năm, đàn chim cút tăng bình quân 76,4%/ năm Nhất là năm 2008, đàn chim cút tăng 341,5% so với cùng kỳ năm trước Năm 2008, sản lượng rắn thương phẩm giảm hơn so với năm trước, tuy nhiên số lượng rắn con lại tăng lên Bình quân mỗi năm số lượng rắn con tăng 17% Điều này chứng tỏ nghề nuôi rắn truyền thống cũng được người dân quân tâm và mở rộng
Như đã trình bày ở phần trước, dựa vào đặc điểm tự nhiên, lợi thế so sánh của các vùng trong xã, chúng tôi tiến hành điều tra các hộ nuôi rắn theo tiêu chí quy mô đầu con
Việc ra quyết định trong sản xuất, chăn nuôi chủ yếu phụ thuộc vào chủ
hộ Vì vậy, người chủ gia đình và trình độ cũng như sự hiểu biết của chủ hộ ảnh hưởng tới khả năng đem lại thu nhập cao hay thấp cho nông hộ Một
Trang 34người chủ hộ giỏi phải đạt cả trình độ chuyên môn và kinh nghiệm sản xuất chăn nuôi Thông thường các chủ hộ trẻ tuổi là những người có trình độ văn hóa cao nhưng kinh nghiệm chăn nuôi lại ít, họ là những người dám nghĩ dám làm nên có rất nhiều cơ hội làm giàu nhưng rủi ro cũng rất cao Tuy nhiên nghề nuôi rắn lại là nghề đòi hỏi sự hiểu biết và kinh nghiệm rất lớn Qua bảng 2.3 cho thấy, hộ nuôi rắn với quy mô nhỏ có tuổi bình quân thấp 41,7 tuổi,
hộ nuôi rắn với quy mô vừa có tuổi bình quân là 42,6 tuổi và những hộ có quy
mô nuôi rắn lớn thì có tuổi bình quân cao nhất là 48,4 tuổi Chứng tỏ quy mô nuôi rắn càng lớn thì người chủ hộ có thâm niên trong nghề càng cao
Nhìn chung, ở nông thôn hiện nay phổ biến là các chủ hộ ở tuổi 47 – 50 tuổi, họ vừa có khả năng trau dồi hiến thức, áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới, có kinh nghiệm lâu dài Vì thế, cơ hội làm giàu cao và phòng tránh khỏi rủi ro cũng rất cao
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp nhất là với nông hộ Diện tích nuôi ở hộ có quy mô nhỏ là 31,6 m2, hộ nuôi với quy mô lớn là 178,7 m2, ở làng Vĩnh Sơn chỗ nào cũng rặt những hang rắn Lao động là yếu tố cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của hoạt động sản xuất chăn nuôi Sử dụng lao động hợp lý trong quá trình sản xuất ra sản phẩm là yêu cầu của bất kỳ ngành sản xuất nào Đối với chăn nuôi đây là điều kiện quan trọng để tăng khối lượng sản phẩm cung cấp cho các lĩnh vực phi nông nghiệp, công nghiệp chế biến và xuất khẩu Tính thời
vụ trong sản xuất nông nghiệp, tình trạng dư thừa lao động khiến các hộ nông dân chăn nuôi phải có kế hoạch phân công lao động một cách hợp lý, đảm bảo yêu cầu của tính thời vụ vừa thỏa mãn duy trì chăn nuôi trong hộ Yếu tố lao động nói lên hai khía cạnh của lao động là số lượng và chất lượng lao động
Số lượng lao động của hộ bao gồm các thành viên trong gia đình có khả năng lao động Chất lượng lao động thể hiện trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, nhận thức về chính trị, xã hội thông qua các kỹ năng, kinh nghiệm sản xuất được tích lũy từ lâu đời của người dân
Trang 35Qua bảng 2.3 cho thấy, chỉ tiêu lao động làm nghề rắn bình quân/ hộ cao nhất ở nhóm hộ nuôi rắn với quy mô lớn (3,7 lao động), thấp nhất ở nhóm
hộ nuôi rắn với quy mô nhỏ (2,2 lao động) Do đó có thể thấy quy mô nuôi rắn càng lớn thì số lượng lao động nuôi rắn bình quân trong hộ càng tăng Tuy nhiên quy mô lao động lớn không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả cao hơn trong chăn nuôi nếu như hộ không có kế hoạch sử dụng lao động một cách hợp lý Lao động của các nhóm hộ nuôi rắn ở Vĩnh Sơn hầu hết là lao động trong gia đình chỉ có nhóm hộ nuôi với quy mô lớn thì có lao động thuê ngoài (chiếm 17,9%) Số lao động thuê ngoài cũng đều là lao động trong xã,
vì đây là một nghề truyền thống đòi hỏi lao động phải có kinh nghiệm nếu không sẽ rất nguy hiểm vì vậy lao động ngoài xã khó có thể đáp ứng được
Qua bảng số liệu cũng cho thấy chỉ có 41,1% số chủ hộ nuôi rắn có trình độ cấp III Sản xuất ngày càng tiến bộ đòi hỏi lao động quản lý trong hộ phải có trình độ học vấn nhất định để nắm bắt cách quản lý ngày càng cao, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong sản xuất Tỷ lệ chủ hộ có trình độ cấp III cao nhất là ở nhóm hộ nuôi với quy mô lớn, chiếm 46,3%, thấp nhất là nhóm hộ nuôi quy mô nhỏ, chỉ đạt 34,2%, nhóm hộ nuôi quy mô vừa là 41% Vậy có thể nói trình độ học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng nhất định đến sản xuất và quy mô chăn nuôi của hộ
Trang 36Bảng 2.3 Thông tin chung của các nhóm hộ điều tra
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2008
Trình độ học vấn cao hơn các nhóm hộ khác nên ở nhóm hộ nuôi với quy
mô lớn, số chủ hộ thành thạo và có kinh nghiệm về kỹ thuật chăn nuôi cũng đạt
tỷ lệ cao hơn Do Việt Nam chưa có chuyên ngành đào tạo về nghề nuôi rắn, nên việc nuôi rắn ở Vĩnh Sơn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm được truyền lại Vì vậy quy mô chăn nuôi rắn cũng phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của chủ hộ Chủ
hộ có càng nhiều kinh nghiệm thì quy mô nuôi của hộ càng lớn
Bên cạnh đó thì việc tìm hiểu thị trường sẽ càng đem lại hiệu quả cao trong chăn nuôi Do chu kỳ sản xuất kinh doanh của hộ thường kéo dài, đồng vốn quay vòng chậm để có thể chủ động trong quá trình sản xuất tiếp theo thì
Trang 37hộ phải phụ thuộc nhiều vào việc có tiêu thụ được sản phẩm hay không Phần lớn các hộ nuôi rắn xã Vĩnh Sơn có tìm hiểu thị trường chỉ có một số hộ có quy mô nhỏ và vừa tiêu thụ được dựa vào các khách hàng truyền thống và sự may mắn
Cùng với khoa học công nghệ và thị trường thì vốn cũng là một yếu tố quyết định để phát triển sản xuất chăn nuôi Vốn là điều kiện quan trọng thể hiện khả năng sản xuất của hộ Để mở rộng quy mô chăn nuôi thì đòi hỏi người dân phải có vốn Số vốn nuôi rắn bình quân/ hộ ở Vĩnh Sơn là 254,4 triệu đồng Trong đó nguồn vốn chủ yếu là vốn vay, chiếm tới 63,8%, tuy nhiên nhóm hộ nuôi với quy mô lớn lại có tỷ lệ vốn vay ít nhất 25,7%, đó là
do nhóm hộ này có khả năng tích lũy vốn cao
Qua bảng 2.4 ta thấy, thu nhập của nhóm hộ nuôi với quy mô lớn và vừa chủ yếu là từ nghề rắn, thu nhập từ trồng trọt chiếm tỷ lệ nhỏ, với hộ nuôi quy mô lớn thì không làm nông nghiệp Chăn nuôi chiếm 73,03% trong tổng thu nhập của nhóm hộ nuôi với quy mô vừa, trong đó nghề rắn chiếm tới 97,04% Hộ nuôi với quy mô lớn thì thu nhập từ rắn chiếm 97,73% tổng thu
từ chăn nuôi, bên cạnh đó nhóm hộ này cũng thu được một phần không nhỏ từ
TM – DV nghề rắn Vì vậy, các hộ nuôi với quy mô lớn và vừa có tỷ lệ vốn vay ít hơn nhóm hộ còn lại
Bảng 2.4 Kết quả sản xuất của các nhóm hộ điều tra
CC (%)
GT (tr.đ)
CC (%)
GT (tr.đ)
CC (%)
Trang 38Vĩnh Sơn là xã có nghề nuôi rắn truyền thống, người dân chủ yếu nuôi rắn hổ mang phì, loại rắn này chiếm gần 90% tổng lượng rắn trong toàn xã
Vì đây là loại rắn dễ nuôi, tăng trưởng nhanh, được nhà nước cấp phép vận chuyển nên được người dân phát triển nhiều và đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân Ngoài ra, người dân xã Vĩnh Sơn cũng nuôi thêm một số loại rắn như rắn rắn hổ mang châu, rắn chúa, rắn cạp nong cạp nia… Tuy nhiên rắn hổ mang chúa là loại rắn chưa được cấp phép khai thác và vận chuyển vì vậy khó có thể thống kê được Hiện nay, xã Vĩnh Sơn đang tiến hành dự án nuôi rắn sinh sản thí điểm rắn hổ mang chúa Ông Nguyễn Văn Quyết đã tham dự “ Hội thảo nhân nuôi, phát triển bền vững động vật có nguồn gốc hoang dã” tại thành phố Hồ Chí Minh Tại đây, ông đã có bài thuyết trình về việc nuôi rắn hổ mang đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân và để phát triển động vật có nguồn gốc từ hoang dã Tới đây, Vĩnh Sơn sẽ sớm được cấp phép khai thác và vận chuyển rắn hổ mang chúa Rắn hổ mang châu là loại rắn rất khỏe nếu chuồng trại không đảm bảo chắc chắn thì rắn hổ mang châu có thể phá ra bất kỳ lúc nào Vì vậy chỉ những hộ có quy mô lớn mới
có đủ điều kiện nuôi loại rắn này, những hộ có quy mô nhỏ và vừa thường không nuôi loại rắn này
Qua bảng 2.5 cho thấy nhóm hộ nuôi rắn với quy mô lớn có số lượng rắn thương phẩm là 486 con trong đó rắn hổ mang phì là 389 con chiếm 80,7% tổng số rắn thương phẩm Rắn hổ mang châu chỉ có 97 con chiếm 19,3% Tuy nhiên nhóm hộ có quy mô nhỏ và vừa không nuôi rắn hổ mang châu chủ yếu là hổ mang phì Hộ chăn nuôi với quy mô nhỏ chỉ nuôi trung bình 89 con gần bằng một phần năm của nhóm hộ có quy mô lớn, nhóm hộ có quy mô vừa thì trung bình mỗi hộ nuôi 128 con gần một phần tư nhóm hộ có quy mô lớn
Với loại rắn sinh sản thì hộ có quy mô nhỏ trung bình chỉ nuôi 26 con
hổ mang phì, còn trung bình mỗi hộ có quy mô vừa thì nuôi 72 con Nhóm hộ
Trang 39nuôi với quy mô lớn thì có số lượng rắn hổ mang phì sinh sản lớn gấp sáu lần
hộ nuôi với quy mô nhỏ, bên cạnh đó các hộ này còn nuôi 35 con rắn hổ mang trâu, chiếm 18,1 % số rắn sinh sản
Rắn bán trưởng thành là rắn tuổi hai và chưa thể bán được Thời gian từ lúc trứng nở đến lúc có thể xuất bán rắn thịt của các hộ dân ở xã Vĩnh Sơn hầu hết là ba năm Vì vậy trong một năm, một hộ có cả rắn con, rắn bán trưởng thành và rắn trưởng thành Tổng số rắn bán trưởng thành của hộ nuôi quy mô lớn là 561 con trong đó thì số lượng nuôi rắn hổ mang châu là 136 con, chiếm 24,2 % tổng số rắn bán trưởng thành nhiều hơn ở các loại rắn thương phẩm và sinh sản, còn rắn hổ mang phì là 425 con Ở hộ nuôi với quy
mô nhỏ chỉ nuôi 94 con rắn hổ mang phì, hộ quy mô vừa thì nuôi với số lượng nhiều gấp hai lần hộ có quy mô nhỏ
Trang 40Bảng 2.5 Tình hình nuôi rắn của các nhóm hộ điều tra ở xã Vĩnh Sơn năm 2008