Trí thức với vai trò là sản phẩm của giáo dục đồng thời cũng là những người đủ khả năng cất lên tiếng nói để góp phần hoàn bị cho một nền giáo dục quốc dân đã có những cuộc tranh biện kh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ HUYỀN TRANG
TIẾP XÚC VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY TRÊN LĨNH VỰC GIÁO DỤC
QUA NAM PHONG TẠP CHÍ (1917- 1934)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội-2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ HUYỀN TRANG
TIẾP XÚC VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY TRÊN LĨNH VỰC GIÁO DỤC
QUA NAM PHONG TẠP CHÍ (1917 - 1934)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Quang Hưng
Hà Nội-2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Giáo sư, Tiến
sĩ Đỗ Quang Hưng, người thầy đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến những người thầy, người bạn, gia đình, đồng nghiệp đã hỗ trợ về mặt tư liệu, góp thêm ý kiến và khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Bản luận văn này chắc hẳn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được đón nhận thêm những góp ý của các thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Lê Thị Huyền Trang
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài: 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 5
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 5
5 Đóng góp của luận văn 5
6 Bố cục nghiên cứu 6
Chương 1: NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ NHÓM NAM PHONG 7
1.1 Vài nét về tờ Nam Phong tạp chí 7
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời 7
1.1 2 Mục đích ra đời của Nam Phong tạp chí 14
1.1.3 Diện mạo của tờ Nam Phong tạp chí 18
1.2 Về nhóm trí thức Nam Phong 20
1.2.1 Phạm Quỳnh, người chủ bút của tờ Nam Phong 20
1.2.2 Các biên tập biên chính của tờ Nam Phong 24
Chương 2: TIẾNG NÓI CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC QUA NAM PHONG TẠP CHÍ 29
Trang 52.1 Chính sách giáo dục của thực dân Pháp và phản ứng của trí thức
Nam Phong 29
2.1.1 Chính sách giáo dục của thực dân Pháp 29
2.1.2 Phản ứng của nhóm Nam Phong với chính sách giáo dục thực dân 34
2.2 Thái độ của nhóm Nam Phong với thực trạng giáo dục nước nhà 42
2.2.1 Nhóm Nam Phong với cuộc tranh luận về vấn đề Quốc học 43
2.2.2 Thái độ của nhóm Nam Phong về hai nền học “cũ” và “mới” 55
Chương 3: TƯ TƯỞNG ĐIỀU HOÀ, KẾT HỢP GIÁ TRỊ VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY TRÊN LĨNH VỰC GIÁO DỤC QUA NAM PHONG TẠP CHÍ 58
3.1 Tư tưởng về giáo dục Đông - Tây 58
3.2 Xây dựng nền quốc văn làm nền tảng cho quốc học 62
3.3 Đề xuất mô hình giáo dục mới 72
KẾT LUẬN 79
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ngay sau khi vừa chiếm xong toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, một trong những công việc đầu tiên thực dân Pháp tiến hành là bắt tay vào xây dựng một nền giáo dục thuộc địa Quá trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân đồng thời cũng đưa đến cuộc gặp gỡ lịch sử giữa hai nền văn mình Âu - Á Xã hội Việt Nam gần như bị xáo động hoàn toàn trong cuộc giao lưu, tiếp biến ấy
Hàng loạt vấn đề nảy sinh từ những sản phẩm của cuộc tiếp xúc Á - Âu Giáo dục Việt Nam nằm trong sự nửa vời của cái cũ và cái mới Trí thức với vai trò là sản phẩm của giáo dục đồng thời cũng là những người đủ khả năng cất lên tiếng nói để góp phần hoàn bị cho một nền giáo dục quốc dân đã có những cuộc tranh biện khá sôi nổi trên một loại hình phương tiện đậm chất
Âu châu - báo chí
Nam Phong tạp chí là một trong những nơi trí thức tân học gửi gắm
nhiều nỗi trăn trở nhất với thời đại, khi xã hội Việt Nam bước sang một giai đoạn mới dưới sự thống trị của thực dân Pháp Nhu cầu canh tân trở thành xu hướng chung của thời đại và giáo dục trở thành một trong một trong những
chủ điểm quan trọng Các bài viết về vấn đề giáo dục trên Nam Phong đã
phản ánh phần nào nhu cầu ấy
Tác giả tập trung đi vào ba vấn đề chính:
- Thái độ của nhóm trí thức Nam Phong, nhóm trí thức mang tư tưởng điều
hoà Đông - Tây, với các chính sách giáo dục thực dân và thực trạng giáo dục nước nhà
Trang 7- Tư tưởng giáo dục của nhóm trí thức Nam Phong: không phủ nhận hoàn
toàn nền giáo dục Nho học, hướng tới sự kết hợp các giá trị văn hóa Đông - Tây, những mô hình chủ yếu được họ quan tâm…
- Một số giải pháp, đề xuất của nhóm trí thức Nam Phong về phương pháp
dạy và học, về mô hình chung cho giáo dục Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nam Phong tạp chí là tờ báo cận đại được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu Khi tiếp cận Nam Phong, có hai hướng được quan tâm nhất và đã
có những công trình ghi dấu sự thành công trên hướng tiếp cận này:
- Về hướng tiếp cận tổng thể phải kể đến công trình nghiên cứu của Nguyễn Khắc Xuyên “Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong” (NXB Thuận Hóa, 2002), Phạm Thị Ngoạn với luận văn “Tìm hiểu Nam Phong tạp chí”…
- Hướng tiếp cận ngôn ngữ và văn học: “Tìm hiểu văn trên Nam Phong tạp chí” – Luận án tiến sỹ của Nguyễn Đức Thuận, Phạm Thị Thu với đề tài nghiên cứu cấp trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn “Đông Dương tạp chí” & “Nam Phong tạp chí” với sự phát triển chữ Quốc ngữ và giáo dục bằng chữ Quốc ngữ hồi đầu thế kỷ XX”… cùng một số khóa luận, luận văn văn học và báo chí
Nhiều bài báo trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu văn học… và một số trang web cũng khai thác nhiều khía cạnh khác của Nam Phong cũng như người chủ bút tên tuổi - Phạm Quỳnh
Trang 83 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
Trong bài viết của mình, tác giả chỉ thực hiện khảo cứu về những tranh biện giáo dục ở phương diện giáo dục trường học như phương pháp dạy và học, nội dung các môn học…
Vấn đề giáo dục gia đình và giáo dục đối với nữ giới tạm đưa ra ngoài khuôn khổ này Vấn đề giáo dục đạo đức ít nhiều được đề cập đến vì nó liên quan đến chủ trương duy trì nền tảng phương Đông trong đó Nho học là một trong những giá trị cốt lõi
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Bên cạnh những phương pháp cơ bản như phương pháp lịch sử, phương pháp logic, đề tài sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ như thống kê, so sánh…
Nguồn tài liệu chính là những bài viết được khảo trực tiếp từ bộ đĩa DVD Nam Phong tạp chí được Trung tâm Việt học phát hành Các bài viết liên quan vấn đề giáo dục đã được tác giả thống kê lại ở phần phụ lục
Nguồn tài liệu bổ sung là các công trình liên quan đến lịch sử cận đại
về giáo dục, báo chí, văn hoá… Đặc biệt là những tài liệu liên quan đến vấn
đề tiếp xúc văn hoá Đông - Tây
5 Đóng góp của luận văn
Từ góc độ lịch sử, tác giả tiếp cận đề tài từ những tranh biện của trí thức Việt Nam trên Nam Phong tạp chí để làm rõ những vấn đề liên quan đến giáo dục Qua những nghiên cứu các bài viết trên Nam Phong tạp chí, tác giả
Trang 9muốn đi vào tìm hiểu những suy tư của một thế hệ trí thức trong giai đoạn còn manh mún Bộ mặt của giáo dục Việt Nam hiện lên qua những suy tư ấy và tầm nhìn của trí thức cũng qua đó mà càng rõ nét
Từ những phân tích trên, luận văn sẽ đi tìm vai trò của tiếng nói tranh biện tri thức về vấn đề giáo dục, những giá trị cần tiếp thu trong công cuộc cải cách giáo dục hiện nay Luận văn hi vọng sẽ góp một phần trong việc nghiên cứu lịch sử báo chí và lịch sử Việt Nam cận đại
6 Bố cục nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu trong ba chương chính với nhiều tiểu mục nhỏ:
Chương 1: Nam Phong tạp chí và nhóm Nam Phong Trong chương này,
tác giả tập trung nêu rõ hoàn cảnh ra đời, mục đích, diện mạo của tờ Nam Phong tạp chí, những nhân vật chính của nhóm Nam Phong, quá trình tồn tại của tạp chí Nam Phong
Chương 2: Tiếng nói của trí thức Việt Nam về vấn đề giáo dục qua Nam Phong tạp chí Đây là chương tập trung khai thác những nội dung nghiên cứu
chính Tác giả tập trung làm rõ những phản ứng của nhóm Nam Phong trước chính sách giáo dục thực dân, thái độ của nhóm Nam Phong với nền giáo dục Việt Nam đương thời
Chương 3: Tư tưởng điều hoà, kết hợp giá trị văn hoá Đông - Tây trên
lĩnh vực giáo dục qua Nam Phong tạp chí Chương này nêu rõ các tư tưởng
điều hoà, kết hợp giá trị văn hoá Đông – Tây trên lĩnh vực giáo dục của nhóm Nam Phong qua việc đề xuất việc nâng cao vai trò của chữ quốc ngữ, đề xuất
mô hình giáo dục mới
Trang 10Chương 1: NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ NHÓM NAM PHONG
1.1 Vài nét về tờ Nam Phong tạp chí
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời
Từ nửa cuối thế kỉ XVIII, thực dân Pháp bắt đầu đặt nền bảo hộ trên lãnh thổ Việt Nam Đầu tiên là sáu tỉnh miền Nam trở thành thuộc địa Pháp từ năm 1874
Mười năm sau, Trung và Bắc Kỳ bị Pháp bảo hộ Tuy nhiên, ở Trung
Kỳ, người Pháp vẫn duy trì bộ máy chính trị cùng các cơ quan hành chính cũ của triều đình Huế Do vậy, việc bảo hộ có tính cách gián tiếp Riêng Bắc Kỳ,
từ năm 1897, viên thống sứ Pháp trực tiếp nắm quyền cai trị nên Bắc Kỳ theo chế độ bảo hộ trực tiếp
Ngay khi Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ, các cuộc khởi nghĩa của người Việt Nam liên nổ ra, nhưng đều thất bại Sang đầu thế kỷ XX, những nhà yêu nước Việt Nam thay đổi chiến lược, mở cuộc vận động văn hóa chính trị Từ
đó, gần như cùng một lúc xuất hiện hai phong trào Đông du và Duy tân năm
Trang 111904 Phong trào Đông du do Phan Bội Châu lãnh đạo Tuy nhiên, sau những cuộc biểu tình chống thuế của dân chúng miền Trung và cuộc đầu độc lính Pháp ở Hà Nội xảy ra năm 1908, cả hai phong trào Đông du và Duy tân đều
bị dập tắt
Cùng năm năm 1908, Pháp đóng cửa Viện Đại học Hà Nội mà Pháp mới thành lập năm trước (1907) Vào tháng 4-1913, Việt Nam Quang Phục hội đã tổ chức hai cuộc tấn công tại Hà Nội, đều bị Pháp triệt tiêu ngay Nhân
cơ hội này, Pháp lên án tử hình vắng mặt những nhà lãnh đạo Quang Phục Hội
Lúc này trên thế giới, Thế chiến I bùng nổ tại Âu Châu năm 1914 Dân chúng Việt Nam phải chia sẻ gánh nặng chiến tranh với Pháp về cả nhân lực lẫn tài chính Cuộc khởi nghĩa chống Pháp quan trọng nhất trong thế chiến I xuất phát từ Huế Việt Nam Quang Phục Hội Trung Kỳ liên lạc với vua Duy Tân (1907-1916) và mời nhà vua lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Cuộc khởi nghĩa bùng nổ đêm 3-5-1916 bị thất bại Pháp truất phế và lưu đày vua Duy Tân qua đảo Réunion, gần Châu Phi và xử tử hình nhiều người trong đó có Thái Phiên
và Trần Cao Vân
Vụ vua Duy Tân vừa yên, thì tại Thái Nguyên, Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn khởi nghĩa năm 1917 Lương Ngọc Quyến là con Lương Văn Can (nguyên hiệu trưởng Đông Kinh Nghĩa Thục) Trịnh Văn Cấn là đội Khố
đỏ Tối ngày 30-8-1917, Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn đã cùng các binh sĩ Khố đỏ ở Thái Nguyên nổi lên khởi nghĩa Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại Lương Ngọc Quyến mất trên đường rút lui Trịnh Văn Cấn tự sát vài tháng sau đó
Trang 12Sau khi đánh dẹp những cuộc khởi nghĩa liên tục, Pháp bắt đầu ổn định nền thống trị Toàn quyền Albert Sarraut mở một loạt các trường cao đẳng, như trường Cao đẳng Thú y Đông Dương (15-9-1917), trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương (15-10-1917), trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp (10-12-1917), và chuẩn bị mở cửa lại Đại học Hà Nội trong năm sau Chính trong
khoảng thời gian tạm thời lắng dịu đó, Nam Phong tạp chí xuất bản số đầu
tiên ngày 1-7-1917
Là một tạp chí khoa học, văn hoá chuyên ngành, xét đến sự ra đời của
Nam Phong tạp chí không thể bỏ qua nền tảng tư tưởng của xã hội Việt Nam Những nhà báo hoạt động trong Nam Phong sau này là những người thấm
nhuần tinh thần dân tộc và đề cao những giá trị văn hoá truyền thống
Văn hoá Việt Nam dựa nền tảng trên đạo Thờ cúng ông bà và ba tôn giáo chính là Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo Đạo Thờ cúng ông bà thể hiện niềm tin của dân tộc Việt rằng đời sống con người kéo dài sau khi chết, nghĩa
là sau khi chết, thể xác con người bị tiêu hủy, nhưng linh hồn vẫn tồn tại quanh người sống Phật giáo là phần tâm linh của đời sống, dạy con người đường lối giải thoát khỏi những khổ não của đời nười, chủ trương diệt dục, từ
bi hỷ xã và bất bạo động Lão giáo hướng dân con người sống hòa đồng với thiên nhên và vũ trụ Nho giáo là cái nền của cấu trúc xã hội Việt Nam, từ gia đình đến tổ chức xã thôn, luật pháp, chế độ chính trị Nho giáo dạy con người những nguyên tắc sống theo tam cương (vua tôi, cha con, chồng vợ), ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín)
Từ thế kỷ 17, các giáo sĩ Tây phương đến truyền bá Ki-tô giáo Nền văn hóa châu Âu bắt đầu xâm nhập vào xã hội Việt Nam Sự xâm nhập nầy gặp nhiều phản ứng, nhất là từ giới cầm quyền và những thành phần Nho giáo
Trang 13bảo thủ Nho giáo là một triết thuyết chính trị hậu thuẫn mạnh mẽ cho chế độ quân chủ Giới cầm quyền của triều đình lo ngại nền văn hóa có tính cách dân chủ và tôn trọng nữ quyền của Tây phương sẽ làm lung lay nền tảng xã hội Nho giáo và ảnh hưởng đến quyền lực của họ Các nho sĩ bảo thủ chủ trương rằng chỉ có văn hóa Á Đông, hay đúng hơn là văn hóa Trung Hoa, là tối thượng Họ cho rằng văn hóa châu Âu là văn hóa của lũ “Bạch quỷ” Phản ứng này cũng được bắt gặp trong xã hội Trung Hoa đương thời Do sự thiếu hiểu biết, thiếu thông cảm, không hiểu nhau, nên không thân thiện và đi đến chỗ chống đối, hận thù, rồi quyết liệt triệt tiêu nhau Triều đình Huế đưa ra những đạo dụ cấm đạo với hình phạt nặng nề, tạo nên những vụ án tử đạo, trong khi các nho sĩ quá khích tấn công và đốt phá những làng đạo Những phản ứng gay gắt này tạo ra một trong những nguyên cớ để người Pháp tấn công Việt Nam
Khi chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa, rồi bảo hộ Trung và Bắc Kỳ, Pháp bãi bỏ việc học chữ Nho và các kỳ thi Nho học, thiết lập hệ thống giáo dục tân học Chẳng những Pháp nhắm mục đích đào tạo một lớp nhân viên mới cho chế độ mới, mà Pháp còn nhắm mục đích cắt đứt hiện tại với quá khứ, cắt đứt dòng tư tưởng của người Việt với mạch văn hóa dân tộc cổ truyền, cắt đứt luôn người Việt với nền văn hóa Trung Hoa (trước năm 1949) và Nhật Bản Tuy nhiên, đại đa số người Việt không chấp nhận điều đó Mặt khác, người Việt, với kinh nghiệm hòa đồng tôn giáo vốn có (Đạo Thờ cúng ông bà, Phật, Lão, Nho), đã nhanh chóng hòa nhập văn hóa Việt - Pháp hay văn hóa Á -
Âu Hòa nhập văn hóa (acculturation) có tính cách chọn lựa, khác với đồng hóa (assimilation), có tính cách áp đặt Trong hòa nhập văn hóa, người Việt vẫn lưu giữ những tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa Á Đông, đồng thời
Trang 14tiếp thu những nét hay đẹp của văn hóa châu Âu, để làm phong phú văn hóa dân tộc
Nam Kỳ là thuộc địa, nền văn hóa Tây phương xâm nhập sớm hơn, nên
sự hòa nhập văn hóa cũng sớm hơn Tại Trung và Bắc Kỳ, phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh đề xướng từ năm 1905, kêu gọi cải cách văn hóa, được giới trí thức cấp tiến hưởng ứng mạnh mẽ Phong trào Duy tân chú trọng nhiều đến những vấn đề chính trị, nên khi những biến động chính trị năm
1908 xảy ra, Pháp nhân cơ hội đó, bắt giam và lưu đày hầu hết những nhà trí thức cấp tiến trong phong trào Duy tân, kể cả Lương Văn Can và Nguyễn Quyền của Đông Kinh Nghĩa Thục Phong trào Duy tân là một quá trình vận động văn hóa, chứ không phải là một tổ chức chính trị, một đảng phái hay một hội kín Vì vậy, tuy những người đề xướng bị bắt, nhưng cuộc cải cách văn hóa vẫn âm thầm tiếp tục trong dân chúng
Trong giai đoạn giao thời văn hóa này, Nam Phong Tạp Chí được xuất bản bằng hai thứ chữ: chữ nho và chữ Quốc ngữ, tiếp tục cải cách nhẹ nhàng con đường hòa nhập văn hóa Á Âu, như lời của Phạm Quỳnh trong Nam Phong số 1, tháng 7-1917:
“Cái mục đích của bản báo là muốn gây lấy một nền học mới để thay vào cái nho học cũ, cùng đề xướng lên một cái tư trào mới hợp với thời thế cùng trình độ dân ta Cái tính cách của sự học vấn mới cùng cái tư trào mới ấy
là tổ thuật các học vấn tư tưởng Thái tây, nhất là của nước Đại Pháp mà không quên cái quốc túy trong nước”
Tạp chí Nam Phong xuất bản số đầu tiên ngày 1-7-1917 Đây là thời
điểm chữ Nho, văn tự chính thức của triều đình đã được sử dụng hàng ngàn năm qua, sửa soạn bị thay thế Tại Nam Kỳ, sau khi ba tỉnh miền Đông mất
Trang 15vào tay Pháp năm 1862, kỳ thi Hương năm 1864 được tổ chức tại Cần Thơ
Ba tỉnh miền Tây lọt tiếp vào tay Pháp nên sau đó, Nam Kỳ hoàn toàn không còn kỳ thi Nho học Từ đây Nam Kỳ hoàn toàn không còn các kỳ thi Nho học Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định ngày 6-4-1878, theo đó kể từ 1-1-1882, ở Nam Kỳ, tất cả các giấy tờ như công văn, nghị định, quyết định, bản án, lệnh… đều viết bằng mẫu tự la-tinh, tức chữ Pháp hay Quốc ngữ, chứ không còn viết bằng chữ Nho, nghĩa là chữ Nho chính thức hoàn toàn chấm dứt và được thay thế bằng chữ Pháp hay Quốc ngữ Tại Trung và Bắc Kỳ, ngày 21-12-1917, toàn quyền Albert Sarraut công bố “Quy chế chung về ngành giáo dục công cộng ở Đông Dương” (Règlement général de l‟instruction publique
en Indochine), thường được gọi là “Học chính tổng quy”, áp dụng cho toàn cõi Đông Dương, trong đó phần cuối tổng quy này định rằng các trường chữ Nho của tư nhân hay của triều đình, kể cả Quốc tử giám, đều được xếp vào loại trường tư và phải tuân theo quy chế của chính quyền Pháp Nói cách khác, bộ Học chính tổng quy đã dẹp bỏ luôn chương trình Nho học
Do tổng quy Sarraut, sau kỳ thi hương tại Nam Định năm 1915, Bắc Kỳ ngưng tổ chức các kỳ thi Nho học Tại Trung Kỳ, các khoa thi hương năm
1918 và thi hội năm 1919 là những khoa thi Nho học cuối cùng Từ đây, hoàn toàn chuyển qua tân học với hai loại chữ viết chính thức là Pháp ngữ và Quốc ngữ
Ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) bị nhượng cho Pháp bằng hòa ước năm 1862, thì Gia Định Báo phát hành tại Sài Gòn ngày 15-4-1865 Gia Định Báo là tờ báo Quốc ngữ đầu tiên trên toàn
quốc, mỗi tháng ra một số, vào ngày 15 hàng tháng Sau Gia Định báo, ở
Nam Kỳ lần lượt xuất hiện những tờ báo kế tiếp là: Nhật Trình Nam Kỳ (1883), Phan Yên Báo (1898), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Nhật Báo Tỉnh
Trang 16(1905), Lục Tỉnh Tân Văn (1907), Nam Kỳ Địa Phận (1908, Ki-tô giáo), Tân Đợi Thời Báo (1916, cải danh thành Công Luận Báo), Nam Trung Nhật Báo (1917), An Hà Báo (1917 ở Cần Thơ), Đại Việt Tạp Chí (1918 ở Long Xuyên), Nữ Giới Chung (1918)… Những nhà báo nổi tiếng lúc đó ở Nam Kỳ
là Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương…
Sau báo chí Nam Kỳ, đến báo chí Bắc Kỳ Tờ báo đầu tiên tại Hà Nội
là Đại Việt Tân Báo, vừa có chữ Nho vừa có chữ quốc ngữ, do Ernest Babut
thành lập năm 1905, và Đào Nguyên Phổ làm chủ bút Tờ báo vừa chữ Nho
vừa quốc ngữ thứ hai là Đăng Cổ Tùng Báo do Đào Nguyên Phổ đảm nhiệm
phần chữ Nho, Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách phần quốc ngữ, ra đời năm 1907
Tờ báo thuần túy quốc ngữ đầu tiên ở Bắc Kỳ là Đông Dương Tạp Chí, ra mắt
ngày 15-5-1913, do F H Schneider làm giám đốc và Nguyễn Văn Vĩnh giữ làm chủ bút Cũng trong năm 1913, Schneider còn phát hành Trung Bắc Tân Văn và cũng giao cho Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách Khi Schneider bán hẳn Trung Bắc Tân Văn cho Nguyễn Văn Vĩnh, ông cải tiến thành nhật báo, cho đến năm 1940 mới đình bản
Về tiểu thuyết, tác phẩm đầu tiên do người Việt sáng tác, được xuất bản Việt Nam là Truyện thầy Lazaro Phiền của P J B Nguyễn Trọng Quản do nhà xuất bản J Linage ấn hành năm 1887 tại Sài Gòn, nghĩa là đúng 30 năm trước khi tạp chí Nam Phong xuất hiện tại Hà Nội (1917) Sau Nguyễn Trọng Quản, là các tác giả Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Liên Phong, trong đó người có sức viết bền bỉ và đều đặn nhất là Hồ Biểu Chánh (1884-1958) Ngoài những tác phẩm về thơ, dịch thuật, tùy bút, phê bình, hồi ký, tuồng hát, biên khảo, truyện ngắn, Hồ Biểu Chánh in thành sách tất cả 64 tiểu thuyết Những truyện của Hồ Biểu Chánh mang sắc thái Nam Bộ rất rõ nét dù đôi khi tác giả phóng tác theo các cốt chuyện Tây phương, biểu lộ rõ ràng đặc
Trang 17điểm hòa nhập văn hóa Á - Âu trong giai đoạn giao thời này Trước khi tạp chí Nam Phong được xuất bản năm 1917, ở Bắc Kỳ chưa có tiểu thuyết Sau khi tạp chí Nam Phong xuất hiện năm 1917, thì mãi đến năm 1925, tại Hà Nội, tiểu thuyết đầu tiên ở Bắc Kỳ là truyện “Tố Tâm” của Song An Hoàng Ngọc Phách, mới được xuất bản
1.1 2 Mục đích ra đời của Nam Phong tạp chí
Trong những năm đầu của cuộc xâm lược, người Pháp mải mê với các cuộc bạo động nổi lên không ngớt của nhân dân Việt Nam Một nền hành chính chung được thiết lập trên toàn cõi Đông Dương để gò nhân dân ba nước vào khuôn khổ định sẵn Họ tạm thành lập được một quốc gia gọi là Đông Pháp ở miền Đông Nam Á Sau khi tình hình trong nước đã ổn định, người Pháp bắt đầu vào công cuộc khai thác thuộc địa hay nói theo ngôn ngữ của họ
là “khai hóa văn minh” Mặt khác, người Pháp còn nghĩ đến việc đào tạo ra những quan lại mới để phục vụ cho họ trong các cơ quan hành chính: Chính phủ Pháp đã cải tổ lại hoàn toàn chế độ học vấn Họ khuyến khích người Việt học hỏi nền văn hóa Tây phương với một tinh thần hết sức thiển cận và làm cho họ quên lãng những cuộc nổi dậy chống Pháp trong những năm 1914-
1918
Sự gặp gỡ giữa hai nền văn hóa Đông - Tây bắt đầu Sự kiện đáng chú
ý đầu tiên của giao lưu và tiếp biến văn hóa Việt Nam và phương Tây là sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của nền báo chí Việt Nam từ 1865 đến giữa thế kỉ
20
Sau khi Gia Định báo, tờ báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam, , báo chí Việt Nam xuất hiện phong phú, sôi nổi chưa từng thấy từ Nam ra Bắc vào Trung gắn liền với tên tuổi của những nhà báo, nhà văn, học giả Tây học
Trang 18xuất sắc: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Thuật, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Tản
Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Văn Ngọc…
Sự ra đời của báo chí chỉ trong một thời gian ngắn đã thể hiện sức mạnh của một công cụ truyền thông hoàn toàn thuộc về thế giới phương Tây Lúc này, chính phủ Pháp coi giáo dục là công cụ quan trọng nhất để chinh phục thuộc địa Họ mở các trường đào tạo công chức cho bộ máy cai trị, các
cơ sở kinh doanh… Tuy nhiên, số trường học và số người đi học ngày càng ít hơn Mặc dù thực dân Pháp rất nỗ lực nhưng kết quả đưa lại vẫn không như mong đợi Lúc này, người Pháp nhận ra rằng, công cụ giáo dục dường như đã kém hiệu quả hơn trước rất nhiều
Trước tình hình đó, chính phủ Pháp có sáng kiến lập ra một tạp chí bằng tiếng bản xứ là cơ quan ngôn luận để dễ dàng tuyên truyền và thực thi các chính sách văn hóa, giáo dục của họ
Tháng 7-1917, Nam Phong tạp chí ra đời do Loius Marty đứng tên sáng lập, Phạm Quỳnh làm chủ bút phần quốc ngữ và Nguyễn Bá Trác làm chủ bút phần chữ Nho
Tên Nam Phong vừa thể hiện quan niệm Khổng Mạnh vừa tinh thần của những người sáng lập Theo Phạm Thị Hoài trong luận văn “Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong”: “Đặt tên như vậy, tạp chí đã tỏ rõ ý muốn: độc giả Nam Phong phải thuộc hàng trí thức chớ không thể là giới bình dân Thời đó quan niệm thường tình là dân chúng phải được các nhà trí thức dìu dắt và uy tín này là do quá khứ để lại Như vậy thực tế cũng không gây chướng ngại cho mục đích của tạp chí, vì Nam Phong nhằm giao hoà dân chúng, tạo điều kiện
Trang 19thuận tiện cho công cuộc mà theo tập quán, các nhà trí thức vừa là bảo đảm, vừa là có trách nhiệm.” (tr.24)
Theo lời Phạm Quỳnh trên Phụ nữ Tân văn thì tiền thân của Nam Phong Tạp Chí chính là tờ Âu châu chiến sử bằng chữ Hán Tờ báo này được phủ Toàn Quyền Pháp xuất bản và phát không tại Trung Quốc nhằm chống lại thế lực và tố cáo tội ác của phát xít Đức Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác là những cây viết chủ lực cho báo này Về sau phủ Toàn quyền bàn với Phạm
Quỳnh mở ra một bản tiếng Việt Từ đó, Nam Phong tạp chí mới xuất hiện
Như vậy, ngay từ đầu, việc Nam Phong ra đời đã nằm trong chính sách của thực dân Pháp Đó một cứu cánh văn hoá cho thực dân Pháp khi công cụ giáo dục - một trong những công cụ văn hoá sắc bén nhất khi xâm nhập vào các nền văn hoá - đã trở nên kém sức Đây cũng có lẽ là nguyên nhân sâu xa cho việc ra đời của Nam Phong tạp chí Trong toan tính của những nhà cầm quyền, cơ quan ngôn luận này sẽ góp phần tích cực vào việc Pháp hoá giới trí thức Việt Nam, dần dần đưa những giá trị văn minh Pháp ăn sâu vào đời sống văn hoá tinh thần của người Việt Nam
Mục đích chính của tạp chí cũng đã được A.Sarraut nói rõ trong bản tường trình của ông gửi cho Tổng trưởng Thuộc địa Pháp ngày 15-9-1917:
“Mục đích của tạp chí này là cung cấp cho giai cấp sĩ phu và trí thức An Nam những bài chính xác ngõ hầu họ quan niệm được cái vai trò của nước Pháp trên thế giới về phương diện văn hóa, khoa học và kinh tế Tạp chí mới này, lấy tên là Nam Phong, sẽ đăng những bài phân tích chính xác về những tác phẩm khoa học và văn chương hay nhất, tiểu sử những nhà bác học danh tiếng nhất của chúng ta, những sự mô tả đẹp đẽ về nước Pháp, những bài phiên dịch những truyện ngắn hay tiểu thuyết… Ngay sau khi phát hành, tạp chí này đã hoàn toàn thành công trong giới độc giả trí thức mà nó muốn chinh
Trang 20phục và nhóm người này lần đầu tiên đã tìm thấy được một cái gì tương đương với những sách vở mà họ đã gởi mua từ bên Tàu trước đây…”
Tuy nhiên, sự tồn tại của tờ tạp chí này suốt 17 năm (1919-1934) cùng hoạt động tích cực của những cây bút Nam Phong đã vượt ngoài những toan
tính hết sức kĩ càng của thực dân Pháp Nam Phong tạp chí không chỉ góp
phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển của văn học mà còn góp phần vào việc định hình, chuẩn hóa tiếng Việt, thông qua việc truyền bá chữ quốc ngữ Báo chí có thể đem lại cho đời sống hàng ngày của mọi người những tri thức văn hóa của phương Đông lẫn phương Tây Đó là trường
hợp Nam Phong tạp chí, một trong những tạp chí có tác động mạnh mẽ đến
tinh thần, ý thức xã hội của nước ta từ những năm đầu thế kỷ XX
Nam Phong tự nhận mình là cơ quan giáo dục quốc dân Và thực vậy
“Có nhiều người không biết đọc văn Tây, văn Tàu, chỉ nhờ Nam Phong hun đúc mà cũng có được cái trí thức phổ thông, tạm đủ sinh hoạt ở đời Có nhiều ông đồ Nho chỉ coi Nam Phong mà cũng hiểu qua được tinh thần văn hóa
Đông Á” [24, tr.20] Nhờ tạp chí Nam Phong mà nhiều nhà tư tưởng, nhà văn,
nhà thơ Pháp đã đến với trí thức, thanh niên, sinh viên Việt Nam trong nửa
đầu thế kỉ XX Khi Tự Lực Văn Đoàn ra tờ báo Phong Hóa để phê phán
những hủ tục, tệ nạn xã hội, nết hư tật xấu của chế độ thuộc địa ở thành thị và nông thôn qua những hình tượng Bang Bạnh, Lý Toét, Xã Xệ thì nhóm văn sĩ
này đã tìm thấy ở Nam Phong một nguồn cảm hứng, một mẫu mực báo chí
châm biếm trào phúng Đó là tờ Le Canard Enchainé nổi tiếng của Pháp
Nếu gạt bỏ những xung khắc về chính trị, thì không thể phủ nhận tầm
vóc của một tạp chí nghiên cứu khoa học mẫu mực Nam Phong tạp chí xứng
đáng là bộ bách khoa toàn thư của người Việt lúc bấy giờ
Trang 21Xét ở một góc độ nào đó, Nam Phong tạp chí còn thúc đẩy niềm tự hào
về văn hóa dân tộc, đặc biệt là những giá trị văn hóa cổ truyền trong các trí thức người Việt yêu nước Đồng thời, nhiều tinh hoa tri thức thế giới được rót vào Việt Nam, góp phần hình thành và bổ sung quan niệm về mỹ học, tư tưởng, học thuật chưa từng có trong tư duy Á Đông
1.1.3 Diện mạo của tờ Nam Phong tạp chí
Tạp chí ra mỗi tháng một kỳ, khổ lớn, khoảng 100 trang, được trình bày làm 2 cột dày chữ, trình bày với các hoa văn, họa tiết khá đẹp Trên mục Thời đàm đăng trên Nam phong số 57, Louis Marty viết: “Tạp chí Nam Phong đăng những bài có tư tưởng, có học thức, lại nhờ có cách in khéo đẹp của nhà Đông Kinh ấn quán thì Nam Phong có thể tỉ với những tạp chí lớn hơn ở các nước văn minh.”
Trên bìa báo, dòng chữ Nam Phong được in lớn dòng chữ Pháp được
trình bày kín đáo “L‟information” (Thông tin Pháp) Dòng chữ phụ đề Pháp
in cỡ chữ nhỏ “La France devant le monde Son roole dans la guerre des nations” (Nước Pháp trước thế giới Vai trò của nước Pháp trong trận chiến tranh giữa các nước) Ngoài ra, còn có một dòng chữ Pháp in chữ rất nhỏ:
“Publication autorise par arrêté du 30-12-1916 de M.le Gouverneur Général
de l‟Ibdochine” (ấn phẩm do nghị định ngày 30-12-1916 của Toàn quyền
Đông Pháp cho phép) Ngay dưới dòng chữ Nam Phong in cỡ lớn là dòng chữ
quốc ngữ: “Văn học – Khoa học – Tạp chí” với đề từ bằng tiếng Pháp và tiếng Việt Đây là một câu nói của Rossevlt “Có đồng đẳng mới bình đẳng được.” (Il n‟y a que ceux qui sont des égaux qui sont égaux)
Phía dưới dòng tên tạp chí và lời đề từ là tên của hai nhà chủ bút:
Trang 22Phần quốc ngữ: Phạm Quỳnh
Phần chữ nho: Nguyễn Bá Trác
Phần trang 2 của tờ báo dần dần được bổ sung chi tiết hơn Kể từ số 20, năm 1919, ngoài tên các nhà sáng lập, Nam Phong còn đề thêm những nhân vật lớn ủng hộ cho toà báo: hoàng đế Khải Định, Toàn quyền Saurraunt…
Trang 3 ghi bằng chữ Hán danh sách các nhà sáng lập và bỉnh bút, bảng yếu mục
Nội dung bài vở nghiêm trang, phong phú, thiên về biên khảo, được trình bày trên các mục cụ thể của báo Phần nội dung gần như không thay đổi qua các năm, bao gồm các đề mục:
Trang 23Phần bìa của Tạp chí lại có nhiều lần thay đổi:
- Kể từ số 27 (tháng 9 năm 1919), Phạm Quỳnh đứng tên một mình với vai trò chủ bút
- Kể từ số 33 (tháng 3 năm 1920), biểu tượng chú gà trống Gô-loa đã được thay thế bằng một hình bầu dục, trong có dấu hiệu A.F.I.M.A (chữ viết tắt bằng tiếng Pháp của hội Khai Trí Tiến Đức) ghi lối chữ triện
- Kể từ số 39 (tháng 9 năm 1920), không còn những đề mục và phụ đề bằng tiếng Pháp
- Kể từ số 64 (tháng 10 năm 1924), trên tờ Nam Phong xuất hiện phụ trương bằng Pháp văn
- Kể từ số 92 (tháng 3 năm 1925), dấu hiệu bằng chữ triện của hội Khai Trí Tiến Đức nhường chỗ cho tên tạp chí Nam Phong bằng chữ Hán
Những thay đổi trên bìa báo đã cho thấy xu hướng Việt Nam hoá và ngày càng tiến bộ của tờ báo Nam Phong
1.2 Về nhóm trí thức Nam Phong
1.2.1 Phạm Quỳnh, người chủ bút của tờ Nam Phong
Người sáng lập ra tờ báo hai tháng một kì này là Louis Marty, Chánh mật thám Đông Dương, chủ bút là Phạm Quỳnh (1892-1945) Phạm Quỳnh chính là linh hồn của Nam Phong tạp chí
Phạm Quỳnh sinh số 17 Hàng Trống, Hà Nội Theo bà Phạm Thị Ngoạn, cháu của Phạm Quỳnh thì ông người “có tính dè dặt và có thể nói là
Trang 24rất kín đáo, tự ý thu mình trong một nếp sống thu hình trong khuôn khổ gia đình” (tr.43) Ông chịu khó học chữ Hán và có một vốn Hán học khá uyên thâm Ông tốt nghiệp Thủ khoa trường Trung học bảo hộ năm 1908
Có thể nói Nam Phong tạp chí là một trường học, quy tụ một số môn
sinh Phạm Quỳnh đóng vai trò như một Hiệu trưởng dẫn dắt ngôi trường đó Mỗi biên tập viên như một người thầy và độc giả chính là những môn sinh
“Ngôi trường” Nam Phong do Phạm Quỳnh dẫn dắt mang một ước vọng lớn
lao là rèn luyện một nền văn hoá mới cho dân tộc Những người thầy có nhiệm vụ truyền bá “lời đẹp” “Lời đẹp” đó phù hợp với thuần phong mỹ tục
và luân lý của người Việt Giở số đầu tiên của Nam phong (1917), có thể thấy
rằng một mình Phạm Quỳnh viết cả số báo:
“Mấy nhời nói đầu” từ trang 1 đến trang 7 ký tên Phạm Quỳnh; bài
“Bàn về văn minh học thuật nước Pháp” ở mục “Luận thuyết” từ trang 9 đến trang 18 ký tên Phạm Quỳnh; bài “Một bộ tiểu thuyết mới: “Nghĩa cái chết”” (viết về tiểu thuyết của Paul Bourget) ở mục “Văn học bình luận” từ trang 19 đến trang 27 ký tên Phạm Quỳnh; bài “Cái vấn đề về sự tiến bộ” ở mục “Triết học bình luận” từ trang 29 đến trang 41 là một bản dịch, người dịch ký tên
PH Q., tức Phạm Quỳnh; bài “Tầu ngầm tầu lặn” ở mục “Khoa học bình luận” từ trang 43 đến trang 50 ký tên Phạm Quỳnh; các mục nhỏ như “Tạp trở”, “Thời đàm” đều của Phạm Quỳnh; mục “Tiểu thuyết” đăng bản dịch
trích đoạn cuốn sách “Cái vinh cái nhục của nhà quân” (Grandeur et servitude militaires) của Alfred de Vigny từ trang 71 đến trang 75 cũng do Phạm
Quỳnh thực hiện
Toàn số báo hơn 80 trang chỉ có vỏn vẹn bốn trang mục “Văn uyển” đăng hai tản văn của Nguyễn Bá Trác và Tuyết Huy (Dương Bá Trạc) Khác
Trang 25với Nguyễn Văn Vĩnh khi chống Nho giáo, Phạm Quỳnh là Tống Nho “đặc sệt Ông cực lực đã chống lại tư tưởng Trung Quốc từ sau Nha phiến chiến
tranh, ghét Phong trào Ngũ Tứ… Con đường hành động của Nam Phong kết
hợp tài tình chủ nghĩa cơ hội về chính trị (lặp lại và phổ biến các bài nói của các “tư tưởng gia” của chế độ thực dân như A Sarraut và A Varenne kèm theo những lời bình giải tán dương) và chủ nghĩa bảo thủ về văn hóa tiêu biểu cho cách tiếp cận về văn hóa trong lĩnh vực này
Phạm Quỳnh tự biện hộ cho mình bằng chủ nghĩa nhân đạo trữ tình của một Sarraut hay chủ nghĩa tự do tùy thời của một Varenne chống lại đầu cơ hẹp hòi và phản động của những người theo “điều ước thuộc địa” (pacte colonial) Ông nhận thấy trong chủ nghĩa tự do chân chính hay giả định là chân chính, của cả hai bên bấy nhiêu chỗ hở để bênh vực một sự hợp tác văn hóa giữa các dân tộc nhằm đạt đến về lâu về dài một sự hợp tác chính trị thực
sự
Phạm Quỳnh tiếp thu chủ nghĩa dân tộc và thái độ bảo thủ về văn hóa của mình không phải ở các nhà tư tưởng phái tả (châu Âu hay Trung Quốc, như Phan Châu Trinh đã làm trước ông) mà ở phái hữu của Pháp Các tác giả
ông viện dẫn tên là Pierre Loti (Nam Phong số 84, 1924 có bài tiểu truyện người chết, kí tên L.Barthou), P Bourget (tác giả tiểu thuyết Kẻ môn đệ), P
Deroulède, M Barrès, Leson Baudet, bài “Chủ nghĩa nhân văn và văn chương
Có thể thấy trong nhóm bút Nam Phong, nổi bật lên là vai trò chủ bút
của Phạm Quỳnh Trong bài “Nam Phong ngày trước”, Nguyễn Tiến Lãng đã bình luận: “Cho nên trước đây cái tên Nam Phong gần như lẫn với tên Thượng Chi, đó cũng là đích đáng vậy” (tr.9) Phạm Quỳnh vừa là chủ bút
Trang 26vừa là cây bút chủ lực của Nam Phong Đối với nền giáo dục nước nhà, băn
khoăn vì một nỗi hàng mấy mươi thế kỷ nước ta chưa có quốc học, ông đã có đóng góp tích cực cho việc gây dựng, vun đắp một nền học mới Ông chủ trương bảo tồn những giá trị của nền Nho học và thâu thái những giá trị của văn minh Âu châu Nếu như thời kỳ trước, trí thức Việt Nam “nghinh tân” trong tư tưởng chung chung thì Phạm Quỳnh đã vạch ra, chúng ta cần học những gì từ nền văn minh ấy Tư tưởng của Phạm Quỳnh không những là ảnh
hưởng chủ đạo của tờ Nam Phong mà còn có tác động mạnh mẽ đến lớp trí
thức trẻ bấy giờ
Cùng với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh là một trong hai đại diện tiêu biểu nhất cho phe “Quốc gia cải lương” ở Bắc Kỳ Ở miền Nam, phong trào Quốc gia cải lương phát triển rất mạnh mẽ và có tổ chức tương đối chặt chẽ trong những năm 1919-1924 Đảng Lập hiến (của Bùi Quang Chiêu), đại diện cho tầng lớp tư sản dân tộc, lấy cơ quan ngôn luận tờ “Diễn đàn bản xứ” Diễn đàn bản xứ xuất bản hoàn toàn bằng tiếng Pháp, đối tượng độc giả hướng đến của họ là tầng lớp trí thức Tây học và người Pháp
Ở miền Bắc, khuynh hướng “Quốc gia cải lương” biểu hiện rõ nhất
trong hoạt động báo chí của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh Tờ Nam Phong tạp chí của Phạm Quỳnh cũng hướng đến đối tượng là tầng lớp trí thức
thượng lưu Mục đích của Phạm Quỳnh là xây dựng một tầng lớp trí thức tinh hoa để định hướng, dẫn dắt xã hội Từ đó phát triển nâng cao dân trí cho toàn
xã hội Trong một thời gian dài, tư tưởng này của Phạm Quỳnh đã lôi cuốn một lớp thanh niên Việt Nam đang háo hức thực hiện một công cuộc canh tân, thay đổi xã hội cũ kĩ, mang nhiều chướng ngại cho sự phát triển chung
Trang 271.2.2 Các biên tập biên chính của tờ Nam Phong
Cùng với Phạm Quỳnh, các biên tập viên chính của tạp chí đã hoạt động tích cực trong việc truyền bá những tư tưởng canh tân, trong đó trọng tâm là luyện thành một nền quốc căn, xây dựng một nền quốc học cho nước nhà
Nam Phong tạp chí gồm ba phần, phần tiếng Pháp chủ yếu cho Phạm
Quỳnh và các quan thuộc địa đảm nhiệm Phần chữ Hán do các nhà Nho như
Lê Dư, Nguyễn Bá Trác… thực hiện Quan trọng nhất là phần tiếng
Việt, Nam phong làm nhiệm vụ giới thiệu thơ văn cổ, dịch các tài liệu cổ
Phần này có sự tham gia những nhà Nho học uyên thâm như Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Đỗ Mục… Sau đó, là những bài bàn về văn học, giới thiệu tư tưởng văn hóa Đông và Tây, đặc biệt những bài dịch
Theo từng giai đoạn chính của báo, những cây bút chủ lực của Nam
Phong có sự thay đổi rõ rệt
- Giai đoạn thành lập, phát triển và mở rộng (1917-1922): Nguyễn Bá Trác,
Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Học, Trần Văn Ngoạn, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Khôi, Tản Đà, Trần Mỹ, Thân Trọng Huề, Hoàng Yến, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Mạnh Bổng Bài vở trong giai đoạn này nặng về phần Hán văn Thời
kì này, Phạm Quỳnh đang hợp tác chặt chẽ với Nguyễn Bá Trạc
- Giai đoạn đề cao mục đích giáo huấn, khai hóa quốc dân (1922-1925):
Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Triệu Luật, Hoàng Ngọc Phách, Đoàn Tử Thuật, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn,
Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam Thời gian này, phần Hán văn được giao
Trang 28cho Lê Dư, thêm phần chữ Pháp Nam Phong lúc này đang dựa vào Hội Khai
Trí Tiến Đức để thi hành mục đích khai hóa quốc dân
- Giai đoạn hoạt động thiên về chính trị (1925 - 1932): Nguyễn Hữu Tiến,
Nguyễn Trọng Thuật, Lê Dư, Bùi Ký, Tương Phố, nhóm Trí đức Hà Tiên: Đông Hồ - Nguyễn Văn Kiêm - Mộng Tuyết, Nguyễn Thúc Khiêm, Trúc Hà,
Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam Nam Phong bấy giờ không còn đăng Kỷ yếu của Hội Khai Trí Tiến Đức nữa “Phạm Quỳnh đã mạnh dạn dám ăn nói, nhất là phần Pháp văn Ông đưa ra chủ nghĩa quốc gia, thuyết lập hiến, bút chiến với Nguyễn Văn Vĩnh.” [Phạm Thế Ngũ…, trang 153]
- Giai đoạn suy yếu 1932-1934: Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Hữu Tiến,
Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Tiến Lãng, Đỗ Đình Thạch Quyền chủ bút được giao cho Nguyễn Trọng Thuật, Lê Văn Phúc canh tân được vài số, mời nhiều nhà Tây học ra trợ bút Phần Pháp văn tăng thêm, phần Hán văn bị bỏ hẳn Tạp chí lúc này có thêm nhiều tranh ảnh hơn trước
Có thể thấy, trong giai đoạn đầu, nhóm tác giả Nam Phong hầu hết là
các nhà nho cựu học Giai đoạn thứ hai và thứ ba là giai đoạn đặc sắc nhất bao gồm những trí thức bán cựu, bán tân Giai đoạn cuối cùng, cây bút chủ
lực ở lại Nam Phong phần lớn là những người Tây học
Sự thay đổi trong thành phần tham gia nhóm bút có tác động đến các tư
tưởng được đưa ra tranh biện trên Nam Phong tạp chí trong đó có vấn đề giáo
dục
Những cộng sự tích cực với Phạm Quỳnh trong giai đoạn đầu là Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Bá Học… đều là những nhà nho có tinh thần cấp tiến Trong giai đoạn này, trên lĩnh vực giáo dục, Nguyễn Bá Học là cây bút
Trang 29của những bài giảng luân lý đạo đức của thầy, trò, Nguyễn Hữu Tiến nổi tiếng với những bài khảo cứu về học thuật Tàu trong nền Hán học suy vong
Trong những giai đoạn tiếp theo, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục, Lê Dư là những tên tuổi quen thuộc trong tranh luận về vấn đề quốc học
Nam Phong tạp chí là một trong những nơi trí thức tân học gửi gắm
nhiều nỗi trăn trở nhất với thời đại, khi xã hội Việt Nam bước sang một giai đoạn mới dưới sự thống trị của thực dân Pháp Từ “Mấy nhời nói đầu”, Phạm
Quỳnh đã nhấn mạnh vào trọng tâm giáo dục của Nam Phong: “Cái mục đích
của bản báo là muốn gây dựng một nền học mới để thay thế vào cái nho học
cũ, cùng đề xướng lên một cái tư trào mới hợp với thời thế cùng trình độ dân
ta Cái tính cách của của sự học vấn cùng với cái tư trào mới ấy là tổ thuật cái học vấn tư tưởng của Thái Tây, nhất là của Đại Pháp mà không quên cái quốc túy trong nước.” (tr.5)
Trải trên 210 số báo Nam Phong, tiếng nói của trí thức về vấn đề giáo
dục vẫn đều đặn cất lên Đó là những trăn trở về hiện trạng của nền giáo dục đương đại, lúc Nho học đã hết thời và Tây học cũng chẳng thành hình Nó là những đóng góp xây dựng cho nền quốc văn, quốc học bằng việc xây dựng các bộ từ điển, tạo danh từ mới, luyện thành câu văn quốc ngữ Tờ tạp chí cũng chuyển tải những kiến nghị, đề xuất để xây dựng một nền giáo dục dân tộc cho người Việt
Tư tưởng của trí thức Việt Nam trên Nam Phong tạp chí thể hiện sự
điều hòa mối quan hệ Đông - Tây “Nếu không kể một số bài viết ca ngợi lợi
ích của chế độ thuộc địa, thì tờ Nam Phong đóng vai trò quan trọng trong đời
sống văn hóa ở Hà Nội trong vòng gần hai mươi năm Tờ tạp chí này đăng
Trang 30những bài viết có chất lượng cao nhằm phổ biến kiến thức văn học, lịch sử, tôn giáo, ngôn ngữ, bản dịch các tác phẩm văn học nước ngoài và những bài
thơ mang phong cách mới Nam Phong cũng là nơi gặp gỡ những nhà nho
theo tư tưởng tiến bộ và các trí thức Tây học Là cầu nối giữa hai thế hệ trí thức này” [22, tr.261] Những giá trị của Nho học truyền thống chưa bao giờ
bị chối bỏ và những yếu tố tích cực của giáo dục phương Tây, nhất là vấn đề phương pháp được giới trí thức đón nhận rất nhiệt thành
Theo nhà sử học Nhật Tsuboi thì một trong những đòi hỏi cấp bách nhất đặt ra với nhiều nước ở phương Ðông hồi cuối thế kỷ XIX là phải “tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một kiểu tư duy khả dĩ thức tỉnh ý thức dân tộc trước sự bành trướng của phương Tây” Và để đáp ứng đòi hỏi đó, ở Nhật Bản người ta đã đưa ra khẩu hiệu “Hoà hồn dương tài”, ở Triều Tiên có
“Ðông đạo tây khí”, ở Trung Quốc có “Trung thể tây dụng” Bằng cách diễn
tả khác nhau, các khẩu hiệu đó có phần cốt lõi giống nhau: đó là những cố gắng của trí thức mỗi nước nhằm tìm cách hoà hợp văn hoá Ðông - Tây và tạo cho đất nước một sự thích ứng với hoàn cảnh Trong khi đó ở Việt Nam, một mặt do Việt Nam bảo thủ hơn các nước theo Nho giáo khác nên đã không thấy có một khẩu hiệu tương tự Đây chính là một trong những lý do khiến đất nước ta rơi vào tay bọn xâm lược, còn xã hội thì trượt dài trong một cuộc khủng hoảng tồi tệ
Mặt khác, một trong những đặc điểm của văn hoá Việt Nam là thói
quen dung hoà, tức là khả năng chấp nhận những ảnh hưởng xa lạ với mình,
thích ứng với hoàn cảnh mới để tồn tại Bởi vậy, tuy không có những khẩu hiệu rõ ràng tức là không được đưa lên phương diện ý thức, song sự tiếp nhận văn minh phương Tây vẫn cứ ngấm ngầm xảy ra, dần dà tự phát mà xảy ra, cái tinh thần thấy ở các khẩu hiệu nói trên ở Nhật Bản, ở Trung Hoa, vẫn là
Trang 31điều được thực hiện ở Việt Nam Những nỗ lực “tuỳ tâm Âu hoá” khởi đi từ
các nhà nho trong Ðông Kinh Nghĩa Thục và Phan Chu Trinh, đến những
năm sau, càng được nhiều người thấy là phải và thành tâm tin theo Nói như Trần Văn Giàu “Tư tưởng về sự điều hoà đạo đức phương Ðông với khoa học phương Tây để tạo cho Việt Nam một lớp thượng lưu mới, tạo cho Việt Nam điều kiện đi tới phú cường - tư tưởng đó trong những năm 20 và 30 khá là phổ biến trong các báo chí chứ không riêng gì trên Nam Phong ”
Hơn 10 năm sau, nhóm Thanh Nghị còn đưa ra những nhận xét khái
quát hơn Trong bài viết mang tên “Nay và Mai” in trên báo Thanh Nghị số
Tết 1944, Ðinh Gia Trinh cho rằng trong sự kết hợp Ðông - Tây, chính thái
độ Nam Phong là ôn tồn và phải chăng hơn cả Qua thời Tự lực, vẫn theo
Ðinh Gia Trinh, người ta đột ngột đi tới sự khinh miệt cái di sản tinh thần của nước nhà sự ca tụng quá đáng và thiết tha những cái gì Âu Tây mang lại (thời
kỳ Phong hoá, Ngày nay) Về phần mình nhóm Thanh Nghị không giấu diếm
ý đồ trở lại sự tôn trọng những di sản của đất nước, những tinh tuý của văn minh Á Đông Đồng thời, họ tin tưởng mạnh mẽ rằng cần phải học nhiều ở Tây phương để đi tới sự thành công trong việc xây dựng một nền tư tưởng và một nền nghệ thuật Việt Nam xứng đáng Có thể là Thanh Nghị vẫn không phục gì Phạm Quỳnh (nhất là lúc này Phạm Quỳnh đã vào triều làm quan)
nhưng vô hình chung họ đã đến rất gần các mục tiêu của Nam Phong
Trong khuôn khổ một nước bị trị, mặc dù các tư tưởng giáo dục tiến bộ được đề xuất công khai trên mặt báo nhưng ngành giáo dục vẫn không thể phát triển đường lối của một quốc gia chân chính
Trang 32Chương 2: TIẾNG NÓI CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ
GIÁO DỤC QUA NAM PHONG TẠP CHÍ
2.1 Chính sách giáo dục của thực dân Pháp và phản ứng của trí thức Nam Phong
2.1.1 Chính sách giáo dục của thực dân Pháp
Sau khi chiếm xong toàn bộ Việt Nam, việc tổ chức giáo dục của thực dân Pháp ở Đông Dương mới bắt đầu được mở rộng Thực dân Pháp luôn coi giáo dục là công cụ hàng đầu để cai trị thuộc địa Vấn đề đặt ra là dạy thế nào
và dạy tiếng gì Hai cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành nhằm giải quyết vấn đề trên
Năm 1906, người Pháp cho tiến hành công cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất Nội dung của cuộc cải cách lần này là tăng giờ dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ Hệ thống giáo dục lúc này gồm ba bậc: tiểu học, trung học, cao đẳng và dại học Trong nền giáo dục ấy, hai hệ thống giáo dục được duy trì song song nhau: giáo dục Pháp - Việt và giáo dục phong kiến Mục đích của cuộc cải cách này là trong một thời gian ngắn đào tạo được đội ngũ công nhân
Trang 33viên chức phục vụ chính quyền Hệ thống Hán học được cải cách nhằm đào tạo ra đội ngũ quan lại vừa có kiến thức Tây học lẫn Hán học
Sự bất cập của hai hệ thống giáo dục trong cuộc cải cách lần thứ nhất
đã đặt ra yêu cầu đổi mới Chính quyền thực dân đã tiến hành cải cách lần nữa
Sau khi huỷ bỏ kì thi Nho giáo, ngày 16 tháng 3 năm 1916, Sở Học chính Bắc Kỳ đã trình một báo cáo dài 15 trang lên Toàn quyền Đông Dương
về việc tổ chức giáo dục bản xứ ở Bắc Kỳ Hội đồng nhận định rằng trong hai
kỳ thi Hương 1909 và 1912, các thí sinh đã thi thêm một số môn cần thiết như tiếng Pháp, quốc ngữ để chuẩn bị tinh thần cho một nền giáo dục kiểu mới Sau kỳ thi Hương cuối cùng năm 1915, chính quyền Pháp cho xây dựng mô hình giáo dục bản xứ gồm hai cấp học, đặt dưới sự quản lý của Sở Học chính Bắc Kỳ là bậc Ấu học và Tiểu học
Các thí sinh có bằng Khóa sinh (Tốt nghiệp Tiểu học) có thể thi vào các trường Trung học Pháp - Việt Hội đồng cũng chủ trương các học trò có bằng Tuyển sinh có thể được dự thi vào các lớp Sơ học của trường Pháp - Việt, tức là không phải qua bậc học Dự bị của chương trình Tiểu học Pháp - Việt nữa Mặc dù không có sự giống nhau hoàn toàn giữa trường bản xứ và trường Pháp - Việt, nhưng Hội đồng đã tạo ra những cấp học tương đương giữa hai nền giáo dục này: Ấu học của giáo dục bản xứ tương đương Dự bị của giáo dục Pháp - Việt; Tiểu học của giáo dục bản xứ tương đương Tiểu học của giáo dục Pháp - Việt (gồm ba khóa học là Sơ đẳng, Trung đẳng, Cao đẳng) Chỉ có một khác biệt nhỏ giữa hai hệ thống là trong khi các trường bản
xứ phải học 6 năm mới qua bậc Tiểu học thì các trường Pháp - Việt chỉ cần 4 năm Ngoài ra, Hội đồng nhấn mạnh rằng, giáo dục Pháp - Việt phải bao gồm
Trang 34cả các trường học nghề để đào tạo thợ lành nghề và nhân viên cho khu vực kinh tế công nghiệp và thương mại Hội đồng thừa nhận rằng các trong khi các trường Pháp - Việt chưa thỏa mãn được toàn bộ dân chúng về giáo dục thì các trường Tiểu học ở các tổng có thể đáp ứng được nguyện vọng của đông đảo người dân
Như vậy, kể từ năm 1906, cùng với việc thành lập Hội đồng hoàn thiện giáo dục bản xứ, hệ thống các trường công bản xứ đã được đổi mới nhằm mục tiêu cuối cùng là cung cấp nguồn nhân lực chuẩn bị cho sự phát triển của các trường Pháp - Việt Ngoài các trường tư Nho giáo là các trường của thầy đồ ở làng xã, các trường công bản xứ bao gồm trường Ấu học, Tiểu học và Trung học Chương trình của các trường đều có thêm phần chữ quốc ngữ, một số môn khoa học như toán, sử, địa, đặc biệt còn có thêm phần tiếng Pháp tự chọn Ngoài việc lập các trường bản xứ công lập (nằm dưới sự giám sát của Nha Học chính), hệ thống thi cử bản xứ cũng có nhiều thay đổi Để tốt nghiệp các trường bản xứ, học sinh phải thi qua các kỳ Tuyển, Khảo khóa, Hạch (tương ứng với ba bậc Ấu học, Tiểu học, Trung học) Đặc biệt, kể từ kỳ thi Hương năm 1909, ngoài kỳ thi văn sách và luận chữ Hán còn có thêm các kỳ thi luận quốc ngữ, toán, khoa học, và tiếng Pháp (tự chọn) Trong kỳ thi Hương cuối cùng năm 1915, thí sinh bắt buộc phải thi tiếng Pháp
Sự tồn tại song song của hai hệ thống giáo dục đã gây ra nhiều bất cập Sau một thời gian thăm dò, thực dân Pháp đã xóa bỏ nền giáo dục cũ cùng hệ thống khoa cử của nó
Sau khi Bộ Học chính tổng quy ban hành ngày 21 tháng 12 năm 1917
và được hiện thực hóa từ năm 1918, tất cả các trường Tổng trong hệ thống bản xứ đều chuyển thành các trường Sơ học nhà nước trong hệ giáo dục Pháp
Trang 35- Việt (năm 1918 số trường chuyển đổi này là 1.133) Hệ thống giáo dục và đào tạo mới đã thực sự hoàn chỉnh với cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai do Toàn quyền Sarraunt khởi xướng vào cuối năm 1917 với bộ Học chính Tổng quy.”
Nội dung cụ thể của bộ Học chính Tổng quy được đăng trên tờ Nam Phong số 12, tháng 6-1918 Theo đó, giáo dục vẫn được chia là ba cấp: tiểu
học, trung học, cao đẳng và đại học
Hệ tiểu học:
Mỗi xã có một trường tiểu học Trường tiểu học chia làm hai loại: tiểu học bị thể và sơ đẳng tiểu học Tiểu học bị thể gồm đồng ấu, dự bị, sơ đẳng, lớp nhì, lớp nhất Sơ đẳng tiểu học chỉ có 2 hoặc 3 lớp, chủ yếu mở ở các làng
xã “học trò phần nhiều chỉ có thể học mấy năm cho biết đọc, biết viết rồi về làm ruộng, không có chí học đến lấy bằng tốt nghiệp tiểu học thì chỉ đặt các trường sơ đẳng mà thôi Hoặc như có đứa nào đủ sức theo đuổi được hơn nữa thời lên trường bị thể nào gần đó mà học cho đến khi thi tốt nghiệp” (tr.331)
Về chương trình đại lược có tiếng Pháp, toán, tập đọc, luân lý, vệ sinh, thủ công…
Hệ trung học:
Chia làm hai loại Cao đẳng có 4 năm, trung học có 2 năm Hệ trung học được kết thúc bằng kỳ thi lấy bằng tú tài Những năm đầu chưa có trung học nên học sinh tốt nghiệp cao đẳng tiểu học có thể thi lên cao đẳng trung học (trừ nông nghiệp, điện)
Hệ thực nghiệp:
Trang 36Tiểu học có các nghề mộc, rèn, trường gia chánh, canh nông, mỹ thuật,
Y học Đông Dương và Thú y vẫn tiếp tục học
Trường Công chính thuộc Giám đốc Đại học Đông Dương
Bỏ các lớp dạy luật đặt ra theo Nghị định 2913/1910
Các khoa thi gồm có: tốt nghiệp tiểu học và tốt nghiệp trung học Theo chương trình Pháp có các kỳ thi: sơ học, cao đẳng, tú tài Tây
Bên cạnh đó, bộ Học quy cũng quy định các vấn đề liên quan đến quyền hạn của Nha học chính, Hội đồng cố vấn, quy chế ngạch bậc giáo viên, lương giáo viên, thăng trật giáo viên
Sau khi bộ Học quy ban hành, Saraunt cho mở nhiều trường hơn nhưng tuyệt đại đa số là trường tiểu học
Chủ trương của chính quyền thực dân là phát triển giáo dục theo chiều ngang Họ đặt ra nhiều bậc học: sơ học, tiểu học, cao đẳng tiểu học, trung học
Trang 37kéo dài 13 năm, qua 8 kỳ thi Bậc đại học vô cùng ít ỏi cả về số lượng trường lẫn số lượng sinh viên theo học
Kinh phí giáo dục chủ yếu dựa vào đóng góp của dân địa phương
Như vậy, hệ thống giáo dục của chính quyền thực dân ngày càng được cải cách phù hợp với mục đích cai trị của chính quyền Giáo dục Việt Nam đã chính thức từ bỏ hệ thống Nho học tồn tại hàng trăm năm và bước vào chặng đường hiện đại hóa theo hướng Tây phương Dưới triều Nguyễn, nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ đề đạt canh tân đã có lần đề xuất phương hướng đổi mới giáo dục theo mô hình này Thực dân Pháp đã thực sự đổi mới được nền giáo dục Việt Nam nhưng không phải để canh tân, đổi mới mà hoàn toàn phục vụ cho chính sách nô dịch của chúng
2.1.2 Phản ứng của nhóm Nam Phong với chính sách giáo dục thực dân
Nam Phong tạp chí là cơ quan ngôn luận của chính phủ Pháp ở Bắc Kì,
quan điểm của báo không thể hiện thái độ chống đối lại nhưng luôn đưa ra được những đóng góp quan trọng để tăng tính dân tộc trong nền giáo dục lúc bấy giờ, nhiều khi trái ngược với chủ đích giáo dục của thực dân
Đối với chính sách của thực dân Pháp muốn hướng giáo dục Việt Nam đến mục đích đào tạo hệ thống viên chức phục vụ cho chính quyền, Phạm Quỳnh ít nhiều cũng đã có phản ứng Khi bàn về thể chế trường Hậu bổ, ông phê phán cách đào tạo cho những người sắp ra cai trị dân mà chương trình chẳng khác gì lớp nhất, lớp nhì các trường Pháp - Việt Dùng cách học thuộc dành cho trẻ em để dạy người lớn Từ đó, Phạm Quỳnh đưa ra kiến nghị cho trường Pháp chính sắp đi vào hoạt động Ý kiến của ông được đăng trong bài
“Trường Hậu bổ với trường Pháp chính mới” (Nam Phong tạp chí, số 3):
Trang 38“Thứ nhất là trường Pháp chính không dạy làm quan nữa
Thứ nhì là trường Pháp chính sẽ gồm các học trò Bắc Trung Nam kỳ đề đạt cho tư cách nhà hành chính, nhà tư pháp
Thứ ba là học trò Bắc kỳ muốn ra làm quan phải tốt nghiệp nhà trường rồi vào Kinh ứng thí.” (tr.155)
Mục đích của Phạm Quỳnh là muốn hướng cho trường Pháp chính dạy cho người Việt tri thức về pháp lý chứ không đơn thuần là đào tạo những kỹ năng để họ bước vào quan trường
Các tác giả khác thuộc nhóm Nam Phong cũng nhiều lần nhắc đến một
nền giáo dục quốc dân, tức là giáo dục phổ thông, giáo dục dành cho tất cả mọi người Điều này rõ ràng đi ngược với ý muốn của người Pháp trong tham vọng nô dịch văn hóa nước ta Trên thực tế, Pháp có lập các trường gọi
“trường phổ cập” nhưng thực chất chỉ là biện pháp đối phó với sự xuất hiện trở lại của các trường Hán học ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ Theo đó, ở Bắc Kỳ,
mở mỗi làng 1 trường, Trung Kỳ thì 2-3 làng một trường Chương trình học
có ba năm với mục đích cho người học đọc thông, viết thạo, biết một số kiến thức cơ bản trong vệ sinh, sinh hoạt hàng ngày
Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai (1917-1929) nằm trong khoảng thời
gian hoạt động của Nam Phong tạp chí Giáo dục do đó hẳn nhiên luôn là vấn
đề thời sự nóng bỏng trên mặt báo
Tạp chí Nam Phong xuất bản số đầu tiên ngày 1-7-1917 Đây là thời
điểm chữ Nho, văn tự chính thức của triều đình đã được sử dụng hàng ngàn năm sửa soạn bị thay thế Nam Kỳ hoàn toàn không còn các kỳ thi Nho học Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định ngày 6-4-1878, theo đó kể từ 1-1-1882, ở
Trang 39Nam Kỳ, tất cả các giấy tờ như công văn, nghị định, quyết định, bản án, lệnh… đều viết bằng mẫu tự la tinh, tức chữ Pháp hay Quốc ngữ, chứ không còn viết bằng chữ Nho, nghĩa là chữ Nho chính thức hoàn toàn chấm dứt và được thay thế bằng chữ Pháp hay Quốc ngữ Tại Trung và Bắc Kỳ, ngày 21-12-1917, toàn quyền Albert Sarraut công bố “Quy chế chung về ngành giáo dục công cộng ở Đông Dương” (Règlement général de l‟instruction publique
en Indochine), thường được gọi là Học chính tổng quy, áp dụng cho toàn cõi Đông Dương Phần cuối của bản tổng quy định rằng các trường chữ Nho của
tư nhân hay của triều đình, kể cả Quốc tử giám, đều được xếp vào loại trường
tư và phải tuân theo quy chế của chính quyền Pháp Nói cách khác, tổng quy này đã dứt bỏ hẳn chương trình Nho học
Bộ Học chính tổng quy có hiệu lực từ năm 1917 hướng vào việc Pháp hoá nền giáo dục bản xứ, đưa môn học tiếng Pháp vào chương trình ở bậc học tiểu học, không những giới hạn tối đa lớp học chữ nho mà còn đặt lớp học này dưới sự kiểm sát giám thị Mục đích cuối cùng của tổ chức giáo dục theo bộ Học chính tổng quy vẫn là đánh bạt ảnh hưởng Hán học, đồng thời khai hoá tạo ra một lớp người mới chịu ảnh hưởng văn hoá Pháp
Chủ trương này trên thực tế đã gặp phải sự chống đối mạnh mẽ và dẻo
dai của các trường học cổ truyền hay chữ nho Ngay cả Nam Phong, tờ báo đã
giới thiệu và ca tụng bộ Học chính Tổng quy, vẫn còn nêu điều thắc mắc qua việc đăng bài “Bàn về việc học của quốc dân Chữ nho có bỏ được
không?” của Nguyễn Tất Tế, tri phủ Mĩ Đức, Hà Đông, viết năm 1915, in trong Nam Phong số 19 (trang 197- 201) Dưới đây là những đoạn trích dẫn:
“Từ khi khởi ra cái nghị lấy chữ Pháp đổi hẳn chữ Nho, thì ngoài đồn rằng Chánh phủ sợ dân học nho rồi lại theo Tàu nên phải đổi.”
Trang 40“Nhiều người thấy các trường Đốc học, Giáo, Huấn, hầu không có nghe tiếng đọc sách, mà nghĩ lầm rằng: chữ nho là số liệt bại ( ) nghĩ thế là chưa
xét kỹ Trường Đốc học, Giáo, Huấn không học trò là vì thơ, phú, sách, luận không thi nữa, có phải dân không học nho đâu; chúng ta nên biết chữ
nho trong nước ta, cha đủ sức dạy con, anh đủ sức dạy em, không cần mượn thầy, tôi thường đi chơi các làng, chẳng ngõ nào không nghe tiếng tiếng
học Luận, Mạnh, thành ra mỗi xóm có một trường, mà mỗi làng có năm bảy
trường, trước hợp lại học các trường công, chẳng được bao, nay ta về học các trường riêng càng nhiều lắm Hoa nho tàn hay chửa, hãy xin xem chốn nhà quê.”
“Không phải dân nhà quê cố ý thủ cựu, bởi vì ngôn ngữ phong tục trong nước, hết thảy là đạo nho, nếu ai không học, đối với người thì khế khoán không tường, đối với nhà thì phổ chúc không biết, như mù, như điếc, thành một người ngu ngốc ở đời, vậy nên không cứ giàu nghèo, ai có con cũng phải cho học.”
“Nhiều khi tôi bảo các tổng sư dạy trẻ thuần bằng quốc ngữ, cho trẻ chóng khôn, không cần học nho, thì bố mẹ đem con ngay về tìm thầy khác dạy ; hỏi cớ sao thế ? Người ta đáp rằng : „Quốc ngữ mất dấu, chữ nọ ra chữ kia, nếu không học nho, chắc sau con cháu lẫn cả tên ông vải.‟ Thế mới biết chữ nho có nhiều mối vướng vít, làm cho dân gỡ không ra.”
“Chữ nho bỏ không xong, chữ Tây thay cũng khó nước nào chẳng thế,
mà nước ta càng hơn nữa, trăm người đến 99 người nghèo, bới đất vạch cỏ cả đời, hai tay không đủ vun vào lỗ miệng, nom thấy trường Pháp Việt Chánh phủ mở cửa, cũng biết cho con học đó thì dễ kiếm ăn, mà ngặt về nỗi nghèo
không sẵn đồng tiền, một quyển Lecture giá 7 hào, đắt hơn 4 quyển Tứ